Tình báo mỹ trong chiến tranh Việt Nam

Trong chiến tranh Việt Nam, tình báo của Hà Nội rất mạnh, được cài đặt ngay trong phủ tổng thống, và khắp nơi, ngay cả quân đội như đại tá Phạm Ngọc Thảo hay vài ông tướng lộ hình sau 75. Ngược lại tình báo Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ thì rất hạn chế. Thêm các ngành an ninh tình báo của CIA và quân đội Hoa Kỳ không hợp tác nhau. Họ dấu nhau tin tức và ít có gián điệp trong hạ tầng cơ sở của guồng máy chiến tranh Hà Nội. Theo ông Snepp, cưu phân tích gia tình báo CIA tại Sàigòn, thì họ có một người ở Hà Nội.

Bao nhiêu điệp vụ, nhảy toán đưa người ra Bắc đều bị thất bại như điệp viên Đặng Chí BÌnh kể trong hồi ký Thép Đen. Sau này mới khám phá ra người tổ chức các cuộc nhảy toán là người của Hà Nội. Thậm chí các người huấn luyện tình báo cho các điệp viên như Đặng Chí Bình là người của Hà Nội cài vào. Theo hồi ký của ông này thì có hai điệp viên sống sót, ở tù ngoài Bắc, còn biệt kích thì đông như quân nguyên.

Được biết biệt kích của Đài Loan, của Tưởng Giới Thạch, được thả dù vào Trung Cộng nhưng không biết có thành công hay không. Chắc không, cùng chung số phận với các biệt kích Việt Nam Cộng Hoà. Vì trong lúc đầu, quân đội mỹ tham chiến tại Việt Nam, họ sử dụng các phi công đài loạn để thả các biệt kích tại Lào,… trong sự kiểm soát nghiêm chặt của chế độ cộng sản, có ai lạ đến là bị người dân báo cáo ngay.

Mình đọc đâu đó, các điệp viên của Việt Nam Cộng Hoà được thả ra Bắc. Có người mang bí danh Ayres, trở về vùng quê của ông ta để hoạt động. Được người em dấu nhưng hàng xóm, nông dân, phát hiện, báo cáo công an nên bị bắt. Hà Nội sử dụng ông này để báo tin giả nhưng một thời gian sau thì cũng phát giác là đã bị bắt nên cúp liên lạc.

Các thành phần chống đối chế độ cộng sản, đa số đều di cư vào nam hơn 1 triệu người. Hà Nội cài lại cán bộ của họ trong nam và có gia đình của trên 300,000 tập kết ra Bắc, làm nội ứng, hầu có tin tức của người thân đi tập kết.

Mình có xem phim tài liệu, phỏng vấn một ông mỹ, sĩ quan tình báo quân đội Hoa Kỳ. Ông ta kể không tin các tin tức do quân báo Việt Nam Cộng Hoà chia sẻ, ít khả tín vì thường được thổi phồng bởi các vị chỉ huy.

Có một phim tài liệu của một cựu CIA, nói về tình báo của Hoa Kỳ tại chiến trường Việt Nam tại đại học Washington. Ông ta cho biết là chính phủ Ngô Đình Diệm, được thành lập trong hoàn cảnh chính trị khá phức tạp tại miền nam. Các đám kiêu binh như giặc Bình Xuyên của Bảy Viễn, Ba Cụt,… Ông ta thay vì dùng các người chống cộng, lại theo văn hóa của người Việt, nhờ các người quen, thân tín trong gia đình, để giúp ông ta. Đưa đến sự chống đối chế độ gia đình trị của các giới trí thức miền Nam.

Nhìn lại thì thấy đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà, vẫn phát triển khá so với thời sau khi bị lật đổ. Chiến tranh có đó nhưng ở xa thành phố, cường độ thấp hơn sau này.

Phần người Mỹ thi hành chiếm lòng dân bằng cách viên trợ, thành lập các ấp chiến lược,… nhưng đưa đến thất bại vì hoàn cảnh, địa lý, văn hoá khác biệt với xứ MÃ Lai. Người dân trong làng, tin tưởng các trưởng ấp, trưởng thôn mà chính họ hay cha ông tín nhiệm từ lâu. Tây thực dân, đến Việt Nam, vẫn tiếp tục sử dụng các ông tổng, ông lý trong làng nên chính quyền ông Diệm thất bại khi áp đặt các trưởng ấp mới, không xuất thân tại địa phương khiến người trong làng, ấp không phục tòng, thêm có người thân tập kết. Giúp cán bộ của Hà Nội tuyên truyền, chiếm đất dành dân.

Mình nghe chị Lệ Lý Hayslip kể khi còn ở làng Kỳ Là. Ban ngày thì học chương trình giáo dục Việt Nam Cộng Hoà do các thầy cô dạy. Tối thì mấy ông kẹ về, dạy chống mỹ cứu nước. Chị ta có hát mấy bài hát ban ngày và ban đêm thấy khá đặc biệt, tương phản. Bắt chị ta đứng gác lính quốc gia vào buổi sáng, ngủ quên nên bị Việt Cộng lên án tử hình. Xem như ban ngày thì sống theo quốc gia, tối thì sống theo cộng sản.

Có một bác quen kể, khi xưa làm giáo sư đại học Văn Khoa Sàigòn, được một ông bộ trưởng sau 1963, mời làm cố vấn. Bác đề nghị, cho các thầy giáo miễn dịch. Trong làng người ta trọng nhất là các thầy giáo. Nếu cho các thầy giáo miễn dịch thì họ nhớ ơn, sẽ ra tay kêu gọi ủng hộ chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, khiến người trong làng nghe theo. Các ông thuộc hội đồng quân nhân cách mạng, không chịu nên bác từ chối chức vụ làm cố vấn. Ông bộ trưởng cũng làm việc được vài tháng thì bị thay đổi. Dạo đó các chính phủ thay nhau như chong chóng, các cuộc chỉnh lý,…

Nếu mình không lầm thì các giáo chức sau này đều đi quân dịch nhưng được biệt phái về để dạy học tại địa phương. Dạo còn đi học, đa số các thầy dạy các trường Võ Bị,…rồi được mướn dạy thêm tại Văn Học. Nếu không thì các thầy đã lớn tuổi, quá tuổi quân dịch. Không có vụ này thì trường học không có giáo sư,…

Mình có kể về ông Võ Văn Ba, điệp viên số 1 của Việt Nam Cộng Hoà, mang bí số X-92. Sau khi đọc bài của ông thiếu tá Phan Tấn Ngưu, cảnh sát đặc biệt trên trang nhà của Cảnh Sát Quốc Gia. Gần đây, ông Frank Snepp, cựu nhân viên CIA tại Sàigòn trước 30/4/75, có viết và nói về ông điệp viên này. Lý do là Hà Nội đã kê khai ra ông này.

 https://www.muctimsonden.com/2021/08/tinh-bao-vien-x92-cua-viet-nam-cong-hoa.html

Mình có đọc báo Hà Nội, họ cho biết là ông Ba này, đã phá hoại, gây tổn thất khá nhiều cho Hà Nội. Ông ta không muốn rời Việt Nam khi Sàigòn sắp thất thủ. Sau này bị bắt vì một người làm việc cho CIA khai. Ông này, người Bắc làm thông dịch viên cho CIA tại Tây Ninh. Sau thì phát hiện ra mối tình hữu nghị với một cô gái ở vùng này, và muốn cưới làm vợ. Để bảo đảm an ninh, CIA phải thuyên chuyển ông này lên Ban Mê Thuột. Khi vùng này bị thất thủ thì ông ta bị bắt, và khai ra tông tích của X92. Ông Ba bị bắt và tự tử trong tù. Đọc 1 trong những bài báo của Hà Nội sau đây. Hình như ông người Mỹ làm cho CIA cũng bị bắt tại đây. Không nghe nói đến người này có được trao trả hay bị giết.

https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Bai-1-Nguon-nuoc-khong-bao-gio-can-i362027/

Mình có xem cuộc phỏng vấn của Frank Snepp, phân tích gia chính của CIA tại Sàigòn sau 1969. Người thường xuyên báo cáo tin tình báo cho đại sứ mỹ dạo đó ông Martin. Mình có đọc cuốn sách của ông ta tại Pháp đâu năm 1978 thì phải, kể về sự thất thủ Sàigòn. Ông này bị CIA kiện và thua vì kể các dữ kiện bí mật hoạt động của CIA trong thời kỳ chiến tranh.

Ông này là một trong những người mỹ cuối cùng rời khỏi Việt Nam. Chiếc trực thăng thấy trên tầng lầu là của Air America, thuộc CIA. Theo ông này cũng như ông Phan Tấn Ngưu, thiếu tá cảnh sát đặc biệt kể thì có gặp ông Ba tại Sàigòn. Ông ta phải nói là đi bệnh viện rồi được đưa ra băng ca lên xe cứu thương, lên máy bay đến Sàigòn để gặp ông Snepp. CIA huấn luyện ông này những căn bản của tình báo. Nghe ông ta kể là X92 thích hút thuốc Salem và uống bia Budweiser. Ông Snepp cho biết là người trực tiếp liên lạc với ông Ba rất giỏi, không gây nghi ngờ cho phản gián của Hà Nội.

Thật ra thì họ đã cho người theo giỏi ông Ba, nhưng cảnh sát đặc biệt đã bắt bà này thêm kêu cảnh sát đi nhậu để đêm đó ông Ba và Việt Cộng đặt chất nổ đồn cảnh sát để khỏi bị nghi ngờ… sau đó lấy tiền CIA để xây lại.

Ông này đến Sàigòn sau Mậu thân. Ông Phan tấn Ngưu kể là ông Ba cho biết trước cuộc tổng công kích Mậu Thân. Toà đại sứ Mỹ nhận được tin này nhưng không tin. Mình đoán là tính kiêu ngạo của người Mỹ, xem thường đồng minh, thêm nội bộ phía Hoa Kỳ không tin tưởng lẫn nhau. Trong khi đó cảnh sát Việt Nam Cộng Hoà do đại tá Nguyễn Ngọc Loan chỉ huy, tin nên ra lệnh cắm trại 100% nên ít bị tổn thất.

Sự việc Mậu Thân xảy ra cho thấy tình báo của Mỹ rất kém. Họ không có người cài trong hàng ngủ cộng sản như bên cộng sản. Thiếu tá Phong của đại đội 302 kể; khi xưa đi hành quân về hay ra tiệm hớt tóc Đồng Tâm trước rạp Ngọc Hiệp, mình quên tên ông này. À Nghĩa, mình chỉ nhớ cô con gái, mỗi lần đến đây thâu băng nhạc. He he  Phải đợi ông thần nằm vùng này cắt gội. Ông này hỏi đi đánh trận chỗ nào,…rồi thiếu tá cười, kêu mình kể cho nó nghe. Ai ngờ nó là nằm vùng gộc. Hình như sau 30/4, ông này làm chủ tịch chi đó của Đà Lạt và ông Kim, dưới Trại Mát, xây nhà cho bố mẹ mình đứng thứ 2. Còn ông thợ mộc trên số 4, cũng nằm vùng.

Ông Ba này cho biết Hà Nội bị thất bại sau 2, 3 lần tổng công kích, mà người dân miền nam không nổi dậy như họ dự đoán. Nghe nói thiệt hại trên 300,000 người nên người Mỹ, qua tin tức này mới thì hành Việt Nam hoá chiến tranh  cho nhanh, vì nghĩ Hà Nội cần thời gian để phục hồi. Tướng Giáp có kể trong hồi ký của ông ta là mỗi đêm cho bộ đội chèo thuyền để chiếm lại QUảng Trị, có đến 100 bộ đội bị tử thương hàng đêm nhưng bên trên vẫn ra lệnh tiếp tục.

Ông Snepp có phỏng vấn ông Shockley, một sĩ quan tuỳ viên quân sự DAO Hoa Kỳ. Ông này kể là tin tức của quân đội Việt Nam Cộng Hoà chia sẻ nhiều khi được thổi phồng vì các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà không muốn mất mặt. Phóng đại các số tổn thất của Hà Nội. Hỏi xác người đâu thì họ giải thích thấy vết máu,… ngoài ra, ông ta nhận thấy có quân số ma, nạn lính kiểng. 

Nhớ khi xưa, mỗi lần nghe đài Sàigòn, tin chiến sự thì cứ thấy phe ta vô sự còn cộng quân thì chết và bị thương như rạ, bắt sống cũng nhiều. Cứ thấy Đà Lạt đưa đám ma những người tử trận.

Nhiều người đi quân dịch, rồi để vị chỉ huy lấy tiền lương của mình để được ở nhà, buôn bán. Nhất là người gốc Hoa. Khi nào cần thì vào đồn,… Tham nhũng khắp nơi. Một nước nghèo, bổng nhiên thấy tiền mỹ cho nhiều quá nên khó cưỡng lòng tham. Lo làm giàu thay vì chống cộng. Có người buôn bán cho Việt Cộng làm giàu như bán gạo đường,.. Hà Nội vào nam đánh trận nhưng chỉ đem theo vàng và đô la để đi mua nhu yếu phẩm, thậm chí do các sĩ quân Việt Nam Cộng Hoà bán. Ai tò mò đọc mấy bài của báo Hà Nội kể về vụ này. Mình có kể sơ sơ vụ này rồi. Nghe kể đại đội trinh sát 302 Đà Lạt, đi đánh trận bắt được một số tiền $500,000 đôla của Việt Cộng. Đọc mấy bài báo của Hà Nội kể về vụ này khá ly kỳ, từ Hà Nội qua HongKong, qua Pháp, rồi mấy ông hoa kiều Chợ Lớn chuyển về Sàigòn làm giàu rồi 1979, Hà Nội đuổi chạy mệt thở.

 Khi Hoa Kỳ thực hiện chương trình Việt Nam hoá chiến tranh, các cấp chỉ huy cứ phóng đại các quân dụng, đủ trò rồi đem bán, bỏ túi.

Có một điểm quan trọng, ông kể có nói chuyện với một nhân viên của ngoại trưởng Kissinger, đang đàm phán tại Paris. Ông ta nói ông Kissinger yêu cầu, cố gắng làm sao Việt Nam Cộng Hoà chống cự càng lâu càng tốt, để khỏi làm mất mặt người Mỹ. Kết cục thì đã định liệu trước. Người mỸ rút lui, mua bán với Trung Cộng làm giàu, giúp Trung Cộng phát triển, nay Trung Cộng quay lại chơi Hoa Kỳ. Chán Mớ Đời 

Mình có nghe buổi phỏng vấn ông Kissinger về Trung Cộng. Ông ta nói là không ngờ Trung Cộng tiến mau như vậy. Ông ta đoán Trung Cộng sẽ le te như các nước nghèo đang phát triển khác. Ông ta không bao giờ tưởng tượng trong vòng 30 năm, Trung Cộng phát triển nhanh như vậy.

Ông Ba cho biết Hà Nội sắp tấn công, vì Hà Nội không cần phải rút lui khỏi chiến trường miền nam khiến ông Thiệu nổi giận vì Kissinger đàm phán không báo cho Việt Nam Cộng Hoà biết. Hình như mình có đọc vụ này qua sách của ông cố vấn cho ông Thiệu. Vụ này khiến Hà Nội tỏ ra nghi ngờ thiện chí hoà đàm của Kissinger. Khiến ông Nixon phải bỏ bom Hà Nội liên tục để Hà Nội tiếp tục hoà đàm.

Có lẻ qua vụ này, Hà Nội mới khám phá ra có nội tuyến trong hàng ngủ của mình nên ông Ba bị theo dõi. Ông Snepp kể là ông Ba có trí nhớ rất tốt. Những tài liệu mật, ông đọc được nhớ rất nhiều và kể lại như được chụp hình.

Trong hồi ký của Kissinger, ông này kể là ông Hoàng Đức Nhã là tay không nghe lời. Ông Nhã là cựu học sinh Yersin, du học ở Hoa Kỳ nên anh ngữ rất khá. Mình nhớ xem truyền hình, thấy ông ta trả lời phóng viên ngoại quốc bằng anh ngữ, phục sát đất. Giỏi thơn mấy ông thầy dạy anh văn của mình. Ông ta dụ ông Nhã, muốn giới thiệu gái đẹp chi đó. Ông Nhã đưa ra điện thoại các người đẹp ông Kissinger muốn giới thiệu. 

Sau khi ông Nixon từ chức, ông Ford lên thế, Hà Nội tấn công thử để xem Hoa Kỳ phản ứng ra sao thì không thấy bỏ bom nên họ tràn qua biên giới và sông Bến Hải. Ông Shockley cho biết là Hà Nội cho phòng không và xe tăng vào miền nam. Quân đội Việt Nam Cộng Hoà được huấn luyện đánh giặc theo kiểu Mỹ, dùng trực thăng, máy bay bà già để thám thính thì bị bắn rơi như lá rụng nên không còn làm chủ tình hình trên không nữa. Máy bay không bay thám thính, giúp phản lực cơ bỏ bom để yểm trợ quân đội đang chiến đáu giải vây.

Trong mùa hè đỏ lửa, xe tăng của nga sô bị Việt Nam Cộng Hoà hạ rất nhiều khi sử dụng súng M82 thì phải. Nga sô cho độ lại để các hoả tiễn của Việt Nam Cộng Hoà không bắn lũng xe tăng bọc thép của họ nên 1975, xe tăng của họ càng quét dữ dội mà súng bắn xe tăng của Việt Nam Cộng Hoà không phá hủy được. Mình đọc đâu đó trên mấy trang nhà của quân đội Việt Nam Cộng Hoà.

Việt Nam Cộng Hoà cử các đại biểu sang Hoa Kỳ để xin viện trợ, ai ngờ 1 trong người cầm đầu phái đoàn là nội tuyến của Hà Nội, kêu các đại biểu quốc hội Hoa Kỳ nên chối từ viện trợ cho miền nam. Ông này từng là thị trưởng Đà Lạt. Ông ta kể trên báo Việt Cộng về thành tích của ông ta, bao nhiêu tin tức quân đội đều được báo cáo cho quốc hội, do ông ta cầm đầu, và chuyển lại cho Hà Nội. Chán Mớ Đời 

Ông Snepp cho biết là nhờ ông Ba cho biết tin tức của Hà Nội nên người Mỹ có thể cho di tản một số người Việt ra khỏi Việt Nam. Nếu không thì chắc ít ai được sang Hoa Kỳ.

Trong bài diễn thuyết về sự thất bại của CIA tại Việt Nam, ông cho biết là Hoa Kỳ không rõ về văn hoá của đồng minh, áp đặt cách đánh trận nhất là mặt trận tâm lý chiến vào Việt Nam Cộng Hoà, đưa đến sự thất bại. Khi người dân, vẫn tiếp tế cho Việt Cộng thì khó lòng mà thắng cuộc chiến. Tương tự ngày nay, quân đội Hoa Kỳ rút lui khỏi Á Phú Hãn, sau 20 năm. Từ sau 1945, Hoa Kỳ chưa thắng một cuộc chiến tranh nào khác trên thế giới. Quân đội của họ hiện diện trên 50 quốc gia trên thế giới.

Sau đó, họ sử dụng chiến dịch đốt nhà cửa của dân trong làng, rồi đem người dân ra thành thị, cô lập hoá binh lính của Hà Nội. Chương trình này càng khiến dân quê căm thù thêm, khi phải sống trong những trại tỵ nạn và làm nội tuyến cho Hà Nội trong thành phố. Nhà mình, khi xưa có nuôi một chị giúp việc, gốc quảng, sau này chị ta biến mất, mới khám phá ra nằm vùng. Cũng có thể bố tên bạn của mình làm công an, nghi ngờ nên bỏ trốn.

Ông Snepp kể chính ông là người đưa ông Thiệu ra phi trường Tân Sân Nhất để đi Đài Loan. Anh ông ta làm đại sứ ở Đài Bắc. Sự kiện này đã giải mã 16 tấn vàng mà thiên hạ kêu ông ta chở đi. Tại phi trường, nghe phong phanh, người ta muốn ám sát ông Thiệu nhưng có ông Mỹ Xịa đi cạnh nên không dám ra tay.

Ông Thiệu làm tổng thống, gây ra nhiều ân oán giang hồ lắm. Mình có đọc hồi ký của ông Nguyễn Tấn Đời, kể bị ông Thiệu bắt trước 75,… 

Qua những gì mình đọc về á phủ hãn thì tương tự như Việt Nam. Hoa Kỳ vẫn nuôi dưỡng theo kế hoạch như xưa. Chán Mớ Đời 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tiên học phí, hậu học văn

 Thời học sinh, mình bị nhà trường đuổi về vài lần. Lý do là đóng học phí chậm. Ông thư ký trường vào lớp, kêu tên ra cửa, bảo về kêu bố mẹ mày đóng tiền học phí tháng này rồi vào học lại. Từ đó mình thuộc nằm lòng câu của thánh hiền: “Tiên học phí, hậu học văn”. Đi bộ ra chợ, xin tiền mẹ. Mẹ mình chạy đi mượn thiên hạ, chiều đến, vào văn phòng đóng học phí. Nụ cười ông thư ký toả sáng như mặt trời cách mạng trong khi mẹ mình thì buồn như mất sổ gạo vì chợ đò, trời mưa ế ẩm như chùa bà Đanh.

Sau này, qua Văn Học, mình không bị cảnh này nữa. Thầy Chử Bá Anh cho học bổng 2 năm liền. Sang Tây, cũng được thực dân cho học bổng nên mình quên cụm từ “tiên đóng học phí, hậu học văn”. Không lo nghĩ gì cả về học phí. Ở đại học, mỗi năm đóng mấy chục quan tiền sử dụng thư viện.

Trường tây ở Việt Nam thì bắt đóng tiền, còn trường tây ở Pháp thì miễn phí. Hình như thời tây thực dân, trường học đều miễn phí. Chỉ khi tây về nước thì đám người Việt tiếp thu trường ốc của tây mới bắt đóng học phí. Dạo ấy, chỉ có trường tư mới lấy học phí còn những trường công lập thì miễn. Do đó, người ta cho thi tuyển vào trường công lập như Trần Hưng Đạo, Bùi Thị Xuân. Không đậu thì vòi tiền bố mẹ đóng học phí trường tư.

Cụm từ “học văn”, đến giờ cũng không hiểu học văn gì. Văn-phạm? Việt-văn, hay văn hoá… không ai giải thích cho mình. Thầy cô thì khuyến khích đóng học phí, tổ chức ngày thầy giáo như bọn con buôn, để được học trò, học được lễ nghĩa thánh hiền, biếu tặng quà hay tiền tươi. Khi xưa, đi học đâu có ngày thầy giáo. Mai mốt họ ra ngày gia đình của thầy cô, bắt hoc sinh đóng góp, bồi dưỡng cho gia đình thầy cô.

Mình học chương trình tây từ bé lên đến đại học, ngoại trừ 2 năm ở Văn Học. Có thể nói là mình không  rành việt ngữ lắm. Mấy từ Hán mà thiên hạ xổ ra là mình ngọng. Như tiên học “Lễ” là gì. Mình kiếm tự điển Hán-việt thì đa số từ “Lễ”  phải ghép với một từ khác. Từ lễ đứng một mình, nghĩa là sự biểu lộ lòng biết ơn. Chắc là biết ơn thầy cô, biếu tặng như mẹ mình khi xưa. Cuối năm hay đưa mình 6 cái tách để tặng thầy cô ở tiểu học. Lên trung học, nhiều thầy cô quá nên lờ luôn. Điểm không khá luôn từ độ đó.

Sau này, đọc chuyện tàu, nghe kể ông Khổng Khâu, lê lết đi khắp nơi, bao nhiêu nước lân cận, nộp Resumé để xin làm cán bộ nhưng không ai mượn hết vì xét lý lịch trích ngang, trích dọc mấy đời không đúng quy trình tuyển lựa nên cùng một số học trò, cùng một lứa bên trời, thầy trò lận đận, có cùng lý lịch tam đời hơi giống giống, đi lang thang, khắp nơi đến khi già đói, chịu không được phải về quê cũ, ăn tiền an sinh xã hội, hưu trí của nhà nước.

Hình như có lần, ông ta làm được chức quan Lễ, lo cúng kiếng mấy ngày giỗ tổ của vua chúa chi đó nên sau này ông ta chỉ biết môn Lễ LẠc này nên dạy học trò “tiên học lễ, hậu học văn”. 

Về quê dạy học. Ông ta chạy chọt, quà cáp mới được công an khu vực, cho đăng ký mở trường dạy học mang tên Cửa Khổng. Ông công an khu vực cho phép với điều kiện cho ông ta mướn người đi học và thi dùm tại chức. Lý do, bận công vụ, thi hành trách nhiệm hữu hạn. Nghe nói là trường đầu tiên lấy học phí để đào tạo cán bộ. Sau này, hình như có ông nào họ Trình, cũng bắt chước ông Khổng Khâu, mở trường nên đời sau gọi “Cửa Khổng Sân Trình”. 

Từ đó, ông Khổng Khâu kêu hai ông Hối, Lộ làm cái bảng to đùng viết câu “ tiên học phí, hậu học văn”, ký tên “hối lộ”, gắn trước cổng trường để nhắc nhở những tên học trò như mình khi xưa, nhắc bố mẹ đóng học phí đúng ngày, nếu không thì bị đuổi. Vì mua Một chữ cũng phải trả tiền, thầy Bán Một chữ cũng phải lấy tiền. (Nhất tự vi sư, bán tự vi sư).

Dạo đó đã có nhiều người làm quan nhưng không có khả năng tiếp thu lời thánh nhân nên đã nhờ thiên hạ đi học hộ, thi hộ. Dạo này, trên mạng thấy thiên hạ đang đánh ông nào kêu không mua bằng giả. Ông ta mướn người đi học và thi hộ, lấy bằng thiệt.

Ông này rất trung thực. Ông ta thú nhận là không có khả năng tiếp thu nên mướn người đi học và thi dùm, không có mua bằng giả. Mình không hiểu tại sao thiên hạ lại đánh phủ đầu ông ta. Bằng này là bằng mượn hay mướn. Ngày xưa, có nhiều người mướn bằng dược sĩ để mở tiệm thuốc tây, để làm ăn. Tương tự ngày nay, có nhiều tổ hợp bên mỹ, họ mướn, trả lương y sĩ để chẩn bệnh, chữa bệnh cho thiên hạ. Bác sĩ, nha sĩ, chỉ làm công, còn họ có tiền mở bệnh viện, tổ hợp y khoa, nha khoa,…tên mở nhà thương chưa chắc là y sĩ, có tiền thì mướn thiên hạ làm công cho mình.

Ở Đà Lạt xưa, mình thấy có đến 3, 4 tiệm thuốc tây, mướn bằng của dược sĩ đi lính, để bán thuốc. Đâu có thấy dược sĩ đứng bán đâu.

Hôm qua, con người bạn kể là sinh viên tàu, chúng mướn người học thi cho chúng. Con mấy cán bộ giàu có, đại gia sang đây trả $300 mỗi lần cho người khác làm bài tập, đi thi dùm rất nhiều. Đại học Harvard, đuổi hàng năm biết bao nhiêu sinh viên gốc tàu vì không nói được anh ngữ. Khi làm đơn xin nhập học, chúng mướn người, tổ chức làm hết giấy tờ giả hoành tráng để được nhận vào.

Mình có dự mấy buổi hội thảo về nạp đơn vào đại học. Họ có viết tiểu luận lấy tiền. Nếu họ viết tiểu luận thì chắc chắn làm bài tập, thi hộ bú xua la mua.

Về nước với bằng thật từ Harvard, …vì mướn thiên hạ học dùm, thi dùm, chỉ cần làm giám đốc cho công ty của bố mẹ là khoẻ re. Chỉ cần mánh mung, phe phái làm giàu, đâu cần phải học gì cả. Có cái bằng treo chơi cho vui. Như ông chủ công ty Tesla kêu; tôi không xuất thân đại học Harvard nhưng các người tốt nghiệp trường này làm cho tôi.

Nghe nói khi ông Khổng Khâu, mở trường huấn luyện làm cán bộ, có đến trên 3000 học sinh đến học, vào thời ấy chỉ một trường tư thục dạy học nên coi như độc quyền, chiếm trọn thị trường giáo dục. Do đó học phí rất cao vì không có cạnh tranh nên thầy trò Khổng Khâu sống an nhàn, bù lại những ngày gian lao khổ hạnh nhưng để giới hạn số lượng học trò, để được các thầy bồi dưỡng trí tuệ, tư duy đột phá nên cần phải thi tuyển vào. 

Như mình khi xưa, đi thi vào trường Yersin. Ông tây chỉ cái hình tròn, hỏi: “qu’est-ce que c’est ? “ mình trả lời : “c’est lơ cái mâm”. Ông tây kêu thằng này dốt có căn bản, mời ông cụ đem mình ra về. Trên đường về, ông cụ kêu “sao mày dốt thế! C’est lơ Cái mâm! Bố tiên sư mày, sao lại dốt thế”. Có lẻ có nhiều tên đi thi dốt hơn mình nên mấy tuần sau, nhận thư chấp nhận vào trường Petit Lycee. Thế là mình bắt đầu cuộc đời: “tiên đóng học phí, hậu học lơ cái mâm.”, đưa đến chủ nghĩa Chán Mớ Đời sau này.

Thầy trò ông Khổng Khâu khám phá ra một phương thức khác làm giàu thay vì phải thi đậu làm cán bộ như xưa. Khi xưa, tổ tiên họ nói “phi thương bất Phú”, không buôn bán thì đói, nay thì vì bán gạo muối ở chợ, chỉ cần buôn bán chữ thánh hiền là giàu có nên phân loại các giai cấp xã hội theo “sĩ nông công thương”. Cứ có chữ “Sĩ” là giàu như bác sĩ, nha sĩ, học sĩ, tăng sĩ, lòi sĩ,…

Khi xưa, muốn đi học thì người ta mua con gà, nải chuối đem đến nhà ông thầy đồ cúng tổ, ông thầy xem tướng, xem có phải thằng hiền lành, có đức độ mới thâu nhận làm đệ tử. Nay thì mở trường, bắt đóng học phí, không cần xem biết du côn du thực ra sao. Miễn là đóng tiền đều đặn, thêm làm chứng chỉ giả, văn bằng giả…. 

Dạo mình đi học, nhiều tên học chung, lớn tuổi hơn mình đâu 4 tuổi, giấy khai sinh thua mình đến 3 tuổi vì sợ đi lính. Chỉ có những tên nhà nghèo thì đi lính thôi, còn con nhà giàu thì mua bằng học bạ giả từ các trường ở miền Tây, xứ nào chưa bao giờ nghe tên trong giờ Địa Lý.

Sau này, học trò ông ta, noi theo, chúng ganh nhau, mở thêm trường, buôn bán sách, dành tác quyền nên chửi nhau như hàng cá. Nào là đạo văn của thầy, nào là bán văn mẫu, bú xua la mua, cứ như hàng cá ở chợ Đà Lạt.

Lúc đầu chỉ có những lời nói của ông dạy, sau này học trò nghĩ thêm cách làm tiền nên in ra sách, có 4 thằng lấy tựa đề khác nhau để khỏi bị mang tiếng chép của thầy: đại học, trung dung, luận ngữ và Mạnh tử. Sau đó chúng choảng nhau, thêm 5 thằng ra sách khác mà con cháu sau này bình dân học vụ cho Sơn Đen hiểu là Ngũ kinh: Kinh thi, Kinh thư, Kinh lễ, Kinh dịch, Kinh Xuân Thu rồi đến tên Sơn Đen lại cho ra lò Kinh Chán Mớ Đời .

Trở lại vụ thi vào trường thái giám của thầy trò Khổng chết.

Sau phần thi viết, ai khá đủ điểm trên trung bình, hồ sơ lý lịch 3 đời được duyệt thì được vào vấn đáp. Ông Khổng Khâu cho vài học trò xuất sắc nhất đảm trách phần này. Mấy tay thuộc loại giỏi, có chút tư duy và không ăn hối lộ cấp bằng tiến sĩ bú xua la mua.

Thầy giao cho 7 học trò giỏi nhất, biết tướng số, xem tướng coi thằng nào vênh váo không thuộc thành phần ngu lâu dốt sớm vì sợ mất danh tiếng của thầy nên thầy đặt tên “Tử” trước cái tên của họ để khai tử những mầm mống, cơ cấu có thể phát huy nhanh chóng làm hư danh của thầy. Thí dụ có ông tên Hối, ông tên Lộ thì kêu Tử Hối và Tử Lộ vì nếu để hai ông chung trở thành Hối Lộ,… bình dân học vụ cho SƠn đen để tiếp thu là Tử Hối tức là Chết Hối, Tử Lộ là Chết Lộ hay Chết đường.

Mỗi lần mình đến đài truyền hình Little Sàigòn, để thâu hình thì phải chào hai cô quản lý ở đây. Một cô tên Giang một cô tên Mai, cộng lại chào hai chị Giang Mai khiến mình tránh đụng chạm, sợ lây covid. Chán Mớ Đời 

Thầy thức trắng mấy đêm mới kêu 7 ông ra ban cho cái tên Tử gồm Tử Cống, Tử Nạp, Tử Hối, Tử Lộ, Tử Thâm, Tử Thượng, Tử Hạ và dặn phải thanh liêm như cán bộ, cần kiệm liêm chính. Để tránh lộn xộn mình dịch “Tử Hối” thành “Chết Hối Hận”, “Tử Lộ” là “Chết Đường”. Ông này có tật nấu cơm là xơi trước ông thầy nên kêu “Tiên ăn cơm hớt, hậu thầy ăn cháo trắng”. Từ đó người ta hay tát con nít như mình, khi xía mõm vào chuyện người lớn để tưởng nhớ đến ông Chết Đường này.

Trước khi cho các thí sinh vào vấn đáp thì phải duyệt xét lý lịch 7 đời ngang dọc, nhà có trâu bò, tiền của hay không vì nếu không đóng tiền học thì cho cán bộ đến nhà cưỡng chế đất đai, tịch thu bò heo trâu về mà bán trả nợ vì trước cửa Khổng có treo cái bảng to đùng: "Tiên học phí, hậu học văn". Lúc nạp đơn, có ký chứng nhận là nếu không trả học phí thì thầy có quyền cho công an đến nhà cưỡng chế đất đai, trâu bò,…

Hôm ấy là cuộc thi vấn đáp, người đầu tiên vào là 1 ông già, người điên điên tương tự nhà thơ Bùi Giáng, bước vào thì ông Chết Thâm (Tử Thâm) được giao nhiệm vụ ra interview thí sinh này. Ông Chết Thâm đọc hồ sơ lý lịch rồi hỏi ông lão, già rồi sao lại còn muốn đi học. Thí sinh già, chấp tay kính thầy con tuy già nhưng trước khi chết con muốn học Thầy cách nói thật 寔, sau này có chết cũng mãn nguyện đời giai.

Chết Thâm chau mày, ngạc nhiên vì câu nói của thí sinh già nên hỏi lý do anh đòi học nói thật. Thí sinh già; báo cáo thầy, em nghe người xưa kể rằng nếu ai mà nói thật một câu, sẽ làm kinh động đến cả trời đất, quỷ thần. Em sống đã trên lục tuần rồi mà chưa bao giờ thấy trời đất, quỷ thần động lòng nên đoán là cả thế gian ai nấy đều nói dối cả, kể cả em. Vì thế em muốn đến đây, xin học cái đạo nói thật, xin mong Phu Tử dạy cho, dẫu nói thật được một câu rồi chết thì em cũng cam, chui xuống hố, mãn nguyện đời giai.

Ông Chết Thâm, chậm rãi nâng tách trà lên, húp một ngụm rồi nói trường chúng tôi chỉ dạy 5 môn có hệ số 1: Nhân, Nghĩa, Lễ, Trí, Tín còn môn nói thật thì không có trong giáo trình của trường, anh vui lòng kiếm trường khác dạy môn này mà học. Lão thí sinh thất vọng nhưng xài nài hỏi thêm em nghe tiếng Phu Tử học rộng biết nhiều, vậy ngoài 5 môn kia Phu tử còn dạy môn gì thêm không. 

Ông Chết Thâm, vuốt râu, nhất chén trà Lypton ngửi ngửi rồi từ từ nuốt cái ực ly trà đá, rồi chậm rãi nói: thầy còn dạy 6 nghề. Từ làm chính trị đến đi buôn, tề gia trị quốc bình thiên hạ, làm hàng thật đến hàng nhái, nhờ đó mà ngày nay Trung Cộng làm hàng nhái số 1 trên thế giới … học đâu nhớ đấy, trên tinh thông vạn quyển, dưới nhìn thấy vàng trong đất, thấy trái trên cây. Học vua ra vua, học cán bộ ra cán bộ, học thầy ra thầy, học vợ ra vợ, học con ra con. Cứ xem môn nào Phu Tử đều tinh thông chỉ có cái nói thật ngay chính tôi chưa bao giờ nghe đến.

Nghe đến đây thì thí sinh già than thế mà tôi cứ tưởng bở. Cứ đến cửa Khổng là học được cách nói thật, thế thì tôi đây phải nói dối cho trọn kiếp người rồi vái ông Chết Thâm ra về. Chết Thâm lật đật chạy vào bếp, rót thêm ly trà đá, báo cáo, kể đầu đuôi câu chuyện cho Khổng Tử. Ông Khổng Khâu, vuốt râu, cầm chén trà lên nốc cái ực hết rồi lua lua xúc miệng, nghe rột rột rồi nuốt cái à. 

Sau khi chén xong một cái đùi gà Phờ Lai Chíc Cân. Ông đặt cái chén xuống, trầm tư vuốt râu có dính chút mỡ gà rồi nói: "người chưa nghe nói cái môn học Nói Thật là phải rồi vì chính ta cũng đang muốn tìm thầy để học môn này mà chưa tìm ra. Học thuyết của ta là chính trị mà chính trị thì đâu cần phải nói thật. Dạy con buôn của ta là Tiếp Thị, khuyến mại thì không nên bảo đảm chất lượng vì hàng cũ, quá date ". Gọi là mua rồi không được trả lại. No Exchange No Return. Nói xong ông Khổng Khâu, với lấy cái tăm, quẹt quẹt nghe rẹt rẹt trên hàm răng giả mới tậu ở phòng trồng răng ở Bolsa. Mua hàm trên tặng hàm dưới.

Phòng thi bên cạnh do ông Chết Thượng thì có một tên cán bộ đi xe xịn Bentley, có công an bảo vệ đi trước đi sau vào. Ông Chết Thương thấy cán bộ to nhớn, thì hoảng, mặt xanh như đít nhái, run run hỏi cán bộ làm ở cơ quan nào. Mà còn muốn đi học thêm trùng tu, bồi dưỡng văn hoá cấp 1. Cán bộ to lớn kia chậm rãi kể tôi làm cán bộ cao cấp nhất Bolsa nhưng vì xuất thân là nông dân nên bọn dưới cứ kêu ta là thượng đẳng vô học. Đời ta có tất cả mọi thứ chỉ cần thêm cái bằng Tiến sĩ để chúng không chửi ta là đồng chí vô học.

Ông Chết Thương không biết tính sao, nên chạy vào hỏi thầy. Khổng tử đang cầm cái đùi gà luộc chấm nước xì dầu gừng, để trả thù bao nhiêu năm đói rách đi xin làm cán bộ, nhai ồm oàm rồi chậm rãi nói: quan nhớn đâu cần học hành gì, hắn đến đây chỉ để cho thiên hạ thấy hắn cũng từ cửa trường học chúng ta mà đi ra như bao k sĩ khác đã đến Cửa Khổng hay Khổng Môn. 

Ông Chết Thương chạy ra gặp cán bộ to nhớn, bẩm cán bộ to, ông lo chăm trị dân chắc không có thì giờ học, thôi thì đây cái bằng tiến sĩ danh dự mà ngoại quốc hay trao tặng cho những người có công với đất nước, nhân loại. 

Quan Nhớn không có thì giờ đi học trùng tu tại chức, xin tặng ngài một cái, về làng xây cái Văn Miếu cho to rồi cắm cái bảng to đùng này để nhân dân nhớ ơn đời đời. Con cháu ghi trong gia phả làng ta có một tiến sĩ danh dự của trường “tiền học phí , hậu học văn”. Cán bộ to đầu cảm ơn rồi nháy mắt cho đệ tử đưa fong bì để lo chi phí in ấn cái bằng Tiến sĩ. Chết Thương, cầm bao fong bì dày cộm, đi vào đưa cho thầy, miệng lẩm bẩm. Ta ở trong nhà thầy, đọc sách thầy, nghe thầy giảng mà đến bây giờ mới hiểu ý nghĩa cụm từ: "Cửa Khổng" là Cờ ửa Khờ ông Hỏi.

Phòng bên thì có ông Chết Hạ làm giám khảo, có một thí sinh đội nón tơi, ăn bận như người nông dân trồng bơ vào. Ông Chết Hạ hỏi anh muốn học để làm gì? Thí sinh hỏi ông Chết Hạ, tại sao ông theo học Phu Tử làm gì? Chết Hạ cho tên này xất xược nhưng nghe lời thầy dặn, vẫn điềm tỉnh trơ trơ như hải quan phi trường Tân Sân Nhất, trả lời: Ta đây theo Phu Tử học để làm người. Thí sinh hỏi lại thế thầy đã thành người chưa? Chết Hạ muốn nổi điên nhưng vẫn cố nhịn trả lời: Chưa vì thế ta vẫn còn theo học thầy tư tưởng, và đạo đức cách mạng.

Thí sinh nói tôi muốn theo học thầy vì chỉ muốn ăn thịt khiến Chết Hạ như bò đội nón, hỏi anh muốn theo thầy học để ăn thịt. Là sao, xin nói rõ hơn. Thí sinh đáp; nghe nói Phu Tử, thịt thái không vuông thì không ăn. Gà vịt dê bò không có con nào vuông thế thì chắc chắn sẽ có những chỗ phải bỏ đi. Tôi chỉ xin theo thầy để được ăn những chỗ bỏ đi mà người quân tử không ăn. Nhờ ông Không Khâu mà ngươi ta chế biến ra cái kéo để cắt thịt sau này. Học trò của ông vào tiệm phở, kêu thịt gà chặt không vuông, thịt chó không ngay thẳng nên không trả tiền. Sau này người ta lấy kéo cắt bánh xe làm dép râu bộ đội, cắt thịt gà thịt chó rất đẹp.

Ông Chết Hạ không biết có nên đánh rớt tên thí sinh này hay không vì thấy hắn nói có lý nên chạy vào hỏi Phu Tử. Khổng tử vừa ăn xong nên đang xơi cái bánh mille feuille, nghe Chết Hạ kể thì bỏ ngay cái bánh xuống, kêu người này chính là thầy ta. Ta la cà giang hồ khắp nơi mấy chục năm để cố tìm nhưng không gặp đành trở về cố hương, mau chạy ra mời vào để ta bái làm sư phụ. Nhưng khi ông Chết Hạ chạy ra thì thí sinh ấy đã bỏ đi mất.

Chết Hạ đi vào, nói thưa thầy hắn đã đi mất đất nhưng có một tên nông dân, đưa thùng bơ này để biếu thầy. Hắn bảo bơ hữu cơ do chính hắn trồng, không có tẩm thuốc bảo quản. Ăn giúp thầy giảm cholesterol, và có nhiều HDL. Hắn chỉ xin hỏi thầy, lý do tại sao cái bảng trước trường đề “tiên học phí”.

Phủ tử nghe đến bơ hữu cơ thì mắt sáng lên, kêu cho tên nông dân vào. Tên nông dân phục người dưới đất, cảm ơn rối rít cá thầy, bận rộn mà vẫn tiếp đón hắn. Hắn họ biết là học trường Tây, đi ngang đây thấy là lạ cải bảng to đùng, gắn trước cổng trường “tiên học phí, hậu học văn”. Hắn nghe nói ở xứ người, học hành được xem là bắt buộc. Con nít phải học cho tới hết chương trình đệ nhất cấp như ở tây, sau đó dốt không học chữ thì được cho học cái nghề kiếm cơm. Như hắn học làm nông dân trồng bơ.

Tây không lấy học phí ở xứ họ nhưng qua xứ an nam thì lại bắt dân chúng đóng tiền học. Ở tây hay ở Mỹ , có những trường tư vì họ muốn dạy tư tưởng và đạo đức của ông Giê-Su hay ông Allah nên họ bắt đóng tiền. Còn con nghe người lớn hay nói “tiên học lễ, học học văn” nhưng không dám hỏi vì sợ bị chửi ngu lâu dốt sớm.

Ông Khổng Khâu, nâng chén trà lên uống một ngụm rồi từ từ bỏ xuống bàn, miệng đảo đảo trà trong mồm nghe rọt rọt, nuốt cái ực rồi mới chậm rãi nói. Sao mày ngu thế! Thầy trò tao đi giang hồ, kiếm cơm, đưa resume rất nhiều nhưng ai nhận cả vì họ thấy không cần. Một hôm, xin được bát gạo, ta sai thằng Tử Lộ, thằng chết đường, nấu cháo cho mọi người ăn. Hắn loay hoay sao lại làm bồ hóng rớt vào nồi cháo, rồi vớt ăn phần bồ hóng với cháo. Lúc đó ta mới giác ngộ cách mạng là “ có thực mới vực được đạo”.

Không có ăn thì chủ nghĩa gì cũng hoc không vào. Bụng đói thì nói kêu đói, phải ăn nếu không thì đầu óc không thể tiếp thu chữ Thánh hiền. Thời bao cấp, chúng ta ăn bo bo thì làm sao học được. Do đó, phải Đổi Mới tư duy, chúng ta thay đổi tư duy thành Kinh tế định hướng thị trường nên phải nhắc nhở học trò nhất là phụ huynh, phải đóng tiền hàng tháng vì thầy mà đói thì không thể nào dạy được. Do đó phải viết cái bảng to đùng: tiên học phí, hậu học văn” để nhắc nhở chúng bổn phận. Hiểu chưa?

Tên nông dân lạy Phủ Tử, kêu thầy đã giúp con giác ngộ cách mạng, rồi bước ra. Trong lòng hắn quá từ hào, đã giải nghĩa được câu hỏi đã đeo theo hắn từ 60 năm nay. Hắn đang cười tự mãn thì có ai tát vào mặt. Hoảng hồn, hắn thấy vợ hắn hỏi. Nằm mớ đến con nào mà kêu phu tử phu thê. Chán Mớ Đời 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo giang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Kung thê kung fu

  Đọc bài "tử vi" của thầy Phạm Kế Viêm, làm mình nhớ lại đoạn trường tìm vợ. Dạo ấy tìm vợ rất khó. Dân di tản 75 thì rất môn đăng hộ đối, mình lí lịch không ai biết nên khó mà đăng kí gửi gạo. Sau 79, có làn sóng người Việt vượt biển nhưng đa số là đàn ông, phụ nữ rất ít vì sợ cướp biển cho nên dạo ấy tìm vợ VN ở hải ngoại như thể tìm chim đa đa. 

Đi party, một cô dù xấu đến đâu cũng có nhiều anh bu quanh đen như ruồi. Nói theo kinh tế định hướng thị trường thì hàng hiếm dù chất lượng xấu vẫn có giá cao theo nhu cầu cung ứng. Sau này có chính sách Đổi Mới, có phong trào về VN cưới vợ thịnh hành, thêm có chương trình đoạn tụ ODP và H.O., giúp thị trường gái Việt hải ngoại bớt khan hiếm hơn xưa. Ngày nay, về VN lấy người đẹp chân dài lại thiên hạ được cấp thêm tiền tươi. Đời có cái lạ không bao giờ biết trước.

Nhiều người thắc mắc, không nhớ mặt Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo giang nắng Sơn đen khi còn tại Đà Lạt nên bỏ lại đây cho các bác học chung. 

Dạo mình mới sang Tây thì mê đầm lắm. Con gái tóc vàng tóc nâu, tóc đỏ, đồ phụ tùng, điện nước có đầy đủ không như các cô VN gầy như con mắm, cái bàn là như các người mẫu của nghệ sĩ Modigliani. Mình mê đầm nên khi ở Ý, Đức, Thụy Sĩ hay Luân Đôn cũng không chừa tật đó. Nhất là hồi ở Đan Mạch đầm tóc vàng mắt xanh làm mình ngất ngư không quay lại bến bờ. Cứ tưởng sau này lấy vợ đầm, nhất là lúc làm việc ở Ý.

Đùng một cái nhận tin mấy người em vượt biển sang Nam Dương nên phải quay về Paris lo cho mấy em sang định cư. Lúc đó mới ăn cơm và nói tiếng VN lại. Tiếng Việt thì mình cũng không rành vì hồi nhỏ học trường Tây, chỉ học chương trình Việt hai năm cuối của Trung học. Thơ Đường thì nhớ man mán cái chi bằng bằng trắc trắc rồi thơ lục bát cửu vạn tổ tôm chi đó mà thôi. Nói năng hàng ngày thì được chớ cao cao, đột phá tư duy thì chịu.

Sau 10 năm, Từ khi đi du học, gần như không nói tiếng việt, gặp lại mấy người em, dùng những từ ngữ sau 75 lại càng tăm tối, u mê. Khi sang Mỹ chơi, Tam Anh giới thiệu hai cô VN làm mình ngất ngư nên quyết định sang Mỹ kiếm vợ. Tam Anh nói con gái VN thích Thơ Văn nên mình mua báo Phụ Nữ Diễn Đàn của thầy CBA làm chủ bút, đọc mục gỡ rối tơ lòng để điều nghiên về đối tượng VN. 

Không ngờ cô nàng, dân di tản 75 lúc còn học tiểu học nên cũng i tờ tiếng Việt, đi chợ mua gạo, nhà dặn mua gạo ông Địa, ngon hơn. Ra chợ VN, lớ ngớ sao nói bán cho bao gạo ông Đĩ, khiến chủ tiệm mặt đực ra như bò đội nón. Mua hành lá thì hỏi hành lý ở đâu. Chán mớ đời. Hỏi sau này em thích làm nghề gì thì trả lời thích nghề Bán Bún. Ngồi nhìn cô nàng, đột phá tư duy mới hiểu rằng cô nàng thích nghề Buôn Bán. 

 Cứ mỗi lần cô nào hỏi tên tuổi ngày sinh của mình là coi như adieu jolie Candy! Không bao giờ gặp lại, không hiểu lí do. Có lần một cô buồn buồn nói là mẹ đi coi bói thầy 3 cầu Hoa, nói anh sinh năm 1956 là "tủi thân" không hạp. Dương Hạ Hoả thì số này nó phá tiền ở các sòng bài casino là tàn đời con luôn. Mình gạt lệ trách sao trời sinh ta lại còn sinh tử vi. 

Ngày xưa đọc Tam quốc chí thuê của nhà sách Minh Thu, ông Khổng Minh cải số để giúp Lưu Bị nhưng không nhớ làm sao. May dạo đó Tam Anh, không biết nghiên cứu tử vi hồi nào mà viết phần mềm tử vi nên gái bu đông như kiến nhờ ông thầy bói Tam Anh coi duyên phận. Anh này cũng khôn lắm, cứ cô nào mà thích là cứ nói tình duyên sau này sẽ gặp người tương tự như anh ta. Tam Anh nói con gái Bắc kỳ tin tử vi lắm cho nên sau này lấy vợ ăn cà cuống. 

Mình nhớ ông Thiệu ngày xưa làm tổng thống vì có Tam Tý nên sau này cô nào hỏi ngày sinh tháng đẻ là cứ phán đại là mình sinh năm Tý, giờ Tý, tháng Tý thì cái huông bị gái cho de của mình biến mất.

Khi đến nhà xin phép đưa mấy cô đi chơi thì bố mẹ không còn vẻ mặt hình sự, công an phi trường Tân Sơn Nhất như dạo trước. Đi coi bói thì bố mẹ biết mình có mạng đế vương cho nên quý mình như kẻ thân tình, lâu năm gặp lại, mời ăn bún bò rồi bới cho đem về. Có lần mình bị một đồng chí gái lôi đến nhà ông thầy 6. Nghe nói ông này có viết sách tử vi, nổi tiếng lắm. Sau khi xin xăm, xin quẻ rồi in bản tử vi điện toán mà mình có ở nhà cả lời giải thì ông thầy phán: "Anh tuổi Tý là tuổi con chuột. Chuột thì có nhiều loại như chuột đồng, chuột chù, chuột xù, chuột nhắc, chuột nhí,... Anh thuộc dạng chuột nhí nên sợ vợ như Lưu Bị, nghe sấm chớp là đã run không dám luận anh hùng với ai cả. Suốt ngày chỉ biết khóc lóc, hát ca trù cho Tào Tháo chết. Anh có số đào hoa nhưng bị triệt vì cô thần quả tú

Đàn bà họ mến anh nhưng không lấy anh vì vía anh là con chuột nhí. Phụ nữ chỉ lấy những người như Tiết Nhân Quý của nhà Đường, có vía con cọp. Số anh không ở với cha mẹ được, chỉ ở với vợ thôi. Ra về, mình man mác buồn, không lẻ kiếp trước mình là Thúc Sinh đầu thai lại mà vợ tương lai mình lại là Hoạn Thư. 

Ông Lưu Bị ngày xưa muốn thoát khỏi vòng tay lãnh đạo và quản lí của vợ, sai Quan Công ở nhà hầu bà vợ, ai ngờ bà vợ hiểu được ý nên bắt Quan Công đứng đốt đuốc sáng đêm để ông chồng không thể lấy cớ, dèm pha mà kiếm bồ nhí, đi bia ôm. Đau nhất là phải moi tiền trả cho thầy cho dù mình có bản in tử vi ở nhà. Không ngờ cô nàng lại tủm tỉm cười. Có lẻ phát hiện ra một tên có mạng đế vương. The charming prince! 

Đồng chí gái mời về nhà để ra mắt gia đình. Cô nàng dặn là phải cẩn thận, ăn nói nghiêm chỉnh, từ tốn, không được ăn nói phản cách mạng vì theo lí lịch thì gia đình mình thuộc hệ 13. Mình có tật là ăn nói bú xua, xuất khẩu không đúng không gian và thời gian. Tam Anh có nhắc là Bệnh tòng khẩu nhập, hoạ tòng khẩu xuất. 


Chưa bao giờ mà mình khổ sở như vậy, gặp ai cũng thưa gửi, nụ cười hàm méo, ngay con chó Kiki, sủa gầm gừ, ngửi mông dế mình vẫn hello! How are you? Khi thiên hạ ngồi vào bàn ăn cơm, nhà thì đông anh em lại thêm dâu rể nữa nên khúm núm, quay qua quay lại mời cha mời mẹ, mời anh, mời chị, mời tất cả, mời con ki ki xong thì mới dám cầm đũa. Nhìn lên bàn đồ ăn biến đâu mất đành nuốt cơm và cơm. 

 

Ông già đồng chí gái, trọ trẹ giọng Nghệ An hay Nghệ Tỉnh gì đó rất nặng khó nghe. Mình thì ăn nhỏ nhẻ như chuột nhí trong khi ông ấy vừa gắp vừa lua, vừa hỏi cung mình. Ông hỏi: " Nì! Rựa hai bạc bên nhà còn đụ khôn?". Mình nghe đến đây, tá hoả tam tinh không biết trả lời ra sao đành thú thật " dạ cháu không biết! Để cháu viết thư hỏi Bố Mẹ cháu. Bố cháu ở trại cải tạo 15 năm mới ra nên sức khoẻ còn yếu, nếu có làm chuyện ấy thì chắc cũng lai rai". 

 

Lúc đó, mình bị đồng chí gái đá cho 1 cái dưới bàn đau điếng. Cả nhà bổng cười rầm trời, ai nấy đều mếu máo đập bàn, đập ghế làm mình ngơ ngơ ngác ngác như ngỗng ị. Sau này, nghe đồng chí gái kể là ông cụ nói thằng ni thiệt thà, được. Rứa là mình lên xe bông về Nhà vợ. Lấy vợ rồi, mình mới thành khẩn khai báo là tuổi con khỉ chớ không phải tuổi con chuột. Số mình không có mạng đế vương, mạng mình chỉ làm đồng chí chuột nhí. Đồng chí gái bảo tui biết từ khuya rồi Ôn!

 

Đồng chí gái đẹp tương đương cô đào mình mê này


 Nguyễn Hoàng Sơn 12 B

 

Thời Trang Nhanh Fast Fashion

Khi dọn về nhà mới, mụ vợ, chỉ phòng đựng quần áo, to gấp 2 căn phòng ô-sin mình sống 8 năm trời tại Paris. Kêu bên ni là quần áo của tui, bên tê là quần áo của ôn. Dần dần mình phải đem áo quần ra ga-ra để vì áo quần mụ vợ đã chiếm đất dành chỗ hết. Xem như vùng tạm chiếm.

Mình rất ngạc nhiên vì khi đả thông tư tưởng, điều nghiên lý lịch trích dọc, trích ngang 3 đời, trước khi đăng ký quản lý đời nhau, mình thấy mụ vợ rất hào sản như người Huế, nghĩa là hà tằng hà tiện. Nay không hiểu quần áo đâu mà nhiều thế. 30 năm qua, mình không dám chọc mụ vợ giận vì mỗi lần mụ căm thù thằng chồng nhân dân là mụ bỏ đi shopping đến khi đóng cửa mới về. Tò mò mình tìm tài liệu đọc về vụ này thì thất kinh. Ghi lại cho mấy bác để hiểu thêm về vợ của mình. Mụ có cách doạ mình, muốn tui đi shopping không? Im lặng là vàng, nếu không mụ đi mua sắm tiêu tiền lại xót xa như mất sổ gạo.

Khi xưa, mình ở Âu Châu, nghe đến những nhà thiết kế thời trang như Yves Saint Laurent, Armani, ..hàng năm trình diễn thời trang đủ trò với mấy cô người mẫu đẹp cực xinh. Ai mà có tiền thì đợi bạn bè, làm việc ở mấy tiệm này, báo khi nào cuối mùa, bán hạ giá thì mua để sang năm bận. Có dạo mình, mình đi mua dùm cho du khách Nhật Bản ví ở tiệm Hermes. Mỗi lần mua được trả công 50 quan pháp, mua được 10 ổ baguette ăn trừ cơm được 4 ngày.

Nhà thiết kế thời trang Katharine Hamnett, nổi tiếng với tấm ảnh này, khi gặp bà thủ tướng Thatcher.

Khi mình làm việc ở Luân Đôn, cho công ty kiến trúc Norman Foster & Associates, có vẽ tiệm thời trang cho nhà thiết kế Katharine Hamnett, chuyên thiết kế các áo mang tính chính trị. Bà này nổi tiếng nhờ câu: “ chúng ta là những gì chúng ta bận”.

Hồi nhỏ, ở Đà Lạt. Mỗi năm mẹ mình sắm cho mỗi đứa con 2 bộ đồ ở Chợ Lầu Đà Lạt. Đi tây, mẹ mình may cho 4 cái quần, 4 cái áo sơ-mi. Sang tây, ăn bơ thừa sữa cặn của thực dân, đâm béo ra. 3 tháng sau, hết bận được, phải đi xin áo quần phát chẩn. Mình được người Pháp quen, lâu lâu gửi thư, báo mình đến hội của họ để xem có áo quần phát chẩn nào bận vừa thì lấy. 8 năm trời ở Pháp, mình chưa bao giờ mua áo quần, chỉ bận đồ phát chẩn của nhà thờ.

Qua Mỹ, thằng mỹ ở chung. Lâu lâu hắn về Cleveland thăm mẹ hắn, hỏi mình cần mua áo sơ-mi cũ giá $1/ cái ở chợ trời thì mình nhờ hắn mua, 7 cái, mỗi ngày thay một cái. Đến khi lấy vợ thì lâu lâu thấy đồng chí gái mua cho cái quần, cái áo chi đó, đại hạ giá. Có lẻ đi shopping, mụ vợ cảm thấy tội lỗi vì tiêu tiền nhiều nên mua cho mình cái áo. Mình cũng không bận, cứ lôi áo quần cũ ra bận theo truyền thống nông dân thêm cái tính hào sảng của cố đô.

Người ta cho biết vào những năm 1980, trung bình người Mỹ mua độ 12 áo hay quần mỗi năm. Ngày nay, người Mỹ mua trung bình là 68 áo hay quần hàng năm, gần gấp 6 lần. Thường họ chỉ bận có 2, 3 lần là quăn. Làm tính xem, 68 nhân cho $60/ cái là $4,080. Họ phải làm ra tối thiểu $7,000, đóng thuế mới được $4,080 để tiêu. Mấy bà lại sợ đụng hàng. Có cô ca sĩ dạo mới ra nghề, nghe kể cô ta mua đồ xịn bận đi trình diễn rồi đem trả lại.

Lâu lâu, mụ vợ, soạn áo quần cũ, bận một vài lần rồi đem ra mấy cái thùng quần áo từ thiện để gần chợ để cho, hay các cơ quan từ thiện. Sau đó, mụ cảm thấy hãnh diện, cứ vênh vênh cái mặt lên trời như mẹ Teresa, đoạt giải Nobel hoà bình, đã làm được việc thiện, bớt ấm ức cái lương tâm, xài phí tiền. Hy vọng ngày nào đó, đồng chí gái sẽ đoạt giải từ thiện về áo quần. Lâu lâu mình có đặt lại vấn đề thì mụ chửi tát gáo luôn, đành nín thinh.

Trong cuốn sách “những người triệu phú hàng xóm”, người ta cho biết các triệu phú, mua áo quần loại sang trọng vì bền lâu để bận. Mình xin mở ngoặc.

Từ khi những cuộc bạo loạn của những thập niên 60, 70, các chính phủ tây phương và Hoa Kỳ đã thực hiện một xã hội tiêu thụ, biến công dân của họ thành những nô lệ của thời trang, tiêu thụ. Họ ham mua sắm vì đồ rẻ, được sản xuất tại Trung Cộng, hay các nước nghèo khác. Họ mua ào ào với thẻ tín dụng. Mua trước trả sau. Khi con người bị tràn ngập bởi nợ nần, họ chỉ lo làm thêm, để kiếm tiền, trả nợ. Quên các sự bất công của xã hội. Chúng ta từ nô lệ của chủ ông, nay trở thành nô lệ của những gì mua sắm. Chúng ta cứ nghe quảng cáo đại hạ giá, rồi chạy đi mua dù không cần. Khi chỉ lo trả nợ, người ta sẽ không để ý gì đến công lý, tự do, nhân quyền bú xua la mua.

Xã hội được dân chủ hoá, ai cũng có thể mua cái ví hàng nhái của LV, dù là đồ giả, cũng vui vì có cảm tưởng như chúng ta thuộc thành phần cao cấp nào đó thay vì nông dân như sơn đen. Trung bình người Mỹ chỉ có $5,000 quỹ hưu trí. Mình đến nhà người mướn nhà, đài truyền hình của họ to gấp mấy lần nhà mình. Đi xe BMW. Người Mỹ sống theo lương hàng tuần, nếu mất việc là mất tất cả. Có cặp vợ chồng mướn nhà. Ông chồng bị thương, ăn tiền bảo hiểm, ngồi nhà đến 2 năm. Sau được bồi thường bao nhiêu không biết, thấy cô vợ chạy chiếc Lexus SUV. Thay vì mua căn nhà, họ mua chiếc xe. Chán Mớ Đời 

Có lần, ra Phước Lộc Thọ, thấy họ bán ví Louis Vuiton giả, mình tính mua một cái cho mụ vợ. Bà bán hàng chưa kịp hỏi, đã chỉ mặt kêu: “này này, sáng giờ chưa mở hàng, đừng có hỏi nhé, mặt anh làm vườn, đi chỗ khác phá dùm tôi”. Mặt mình xanh như đít nhái, bỏ chạy. Tình thật thì mặt mình rất gian gian. Từ bé, thiên hạ không dám cho vô nhà, sợ chôm chỉa. Ra chợ, thiên hạ chăm mình như công an.

Ngày nay, các công ty thời trang như H&M, Zara,… gần như chiếm lĩnh thị trường thời trang nhanh. Chủ công ty thời trang Zara, được xem là tỷ phú nhờ bán áo quần thời trang Fast Fashion. Giàu hơn các gia đình Louis Vuiton,…

Zara là một trong những công ty thời trang thành công nhất. Công ty được thành lập tại Tây Ban Nha. Khởi đầu lấy tên Zorba nhưng vì có một cái quán rượu gần đó cũng mang tên này, nên người chủ đổi thành Zara.

Các công ty thời trang lớn, mỗi lần ra một kiểu mẫu, mất độ 21 tháng. Trong khi công ty Zara kêu quá lâu, tốn tiền. Họ theo cách làm, tạo hình thiết kế, sản xuất độ 4 tháng. Nếu không ăn khách thì đổi cái khác. Họ bắt chước các kiểu mẫu của công ty nổi tiếng rồi chế lại hơi khác 1 tị và bán giá rẻ nên mấy bà mấy cô thích. Không ai nói đến ông chủ công ty Zara dù tài sản có lên 70 tỷ đôla.

Ông ta cho biết, chỉ thích sống cuộc đời bình thường, ngồi uống cà phê với vợ, không ai quấy rầy. Người giàu có thì chỉ muốn được thiên hạ để yên, không muốn ai biết. Trong khi chúng ta cứ mua ba đồ xịn, tạo dáng để được người ta chiêm ngưỡng. Bỏ lên mạng câu like. Chán Mớ Đời 


Họ bắt chước các kiểu mẫu. Điển hình khi cô Kim Kardashian, bận bộ đồ của nhà thiết kế thời trang Thierry Mugler thì hai ngày sau, Fashion Nova cho ra đời cái áo tương tự với giá $60. Trong hai ngày, phụ nữ bắt đầu bận áo ngược vì Kim K. Giày dép của các minh tinh bận đều được dân chủ hoá, bán rẻ khiến mấy bà xúm vào mua như điên. Ai cũng có thể trở thành Kim K với giá $60.

Họ bắt chước áo của Kim K trong vòng 48 tiếng

Lúc đầu mình nghĩ nếu bắt chước thì sẽ bị phạt, vi phạm bản quyền nhưng họ chỉ đổi chút chút và mang tên khác, người Mỹ gọi là “knock-off” thì không vi phạm bản quyền. Điển hình thay vì Louis Vuiton, họ ghi Louis Vutton, không có chữ “i” Yves Saint Larry, thay vì Laurent, Channel thay vì Chanel, 2 “n” thay vì chỉ có 1 “n”… mình thấy Gucci viết thành Guchi.

Nguy hiểm nhất là họ cho ra lò các loại thời trang rất nhanh. H&M cho ra các loại thời trang và thứ 2, thứ 4, thứ 6, và cuối tuần. Họ xem loại nào bán chạy thì sản xuất nhanh để bán. Thay vì 4 mùa thời trang, họ có đến 52 mùa thời trang, tóm lại mỗi tuần có một loại áo quần ra lò.

Chúng ta bị tràn ngập bởi thời trang. Năm vừa rồi trước đại dịch Inditex cho ra lò hơn 1.6 tỷ quần áo trên 7,500 tiệm thời trang khắp thế giới. Mỗi ngày, họ mở một tiệm bán thời trang. Xin nhắc lại công ty bán hamburger MacDonalds cho ra đời mỗi ngày 3 tiệm ăn này trên thế giới. Mình không biết nữa, dạo này mụ vợ, làm việc ở nhà. Mình thấy mụ bận quần áo ngủ làm việc nhưng vẫn cứ đi mua sắm áo quần rồi không bận. Không dám nhắc nhở vì sợ bị chửi.

Được cái mụ vợ mình không có cái bệnh lên mạng tạo dáng, khoe áo quần nếu không chắc mình chết quá. Ngày nay, các mạng xã hội đã giúp mấy bà mua áo quần, tạo dáng, chụp ảnh rồi bỏ lên mạng, đã giúp các công ty thời trang Nhanh, giàu có.

Mấy bà và giới trẻ kêu gào bảo vệ môi trường xanh bú xua la mua. Trên thực tế, chính các bà đã làm hỏng môi trường. Áo quần được làm bởi các chất hoá học, nguyên chất từ các dầu hoả. Cứ thấy toàn là Polyester,… Quần áo phát chẩn được bày bán trong các tiệm của các cơ quan từ thiện. Sau 3 tuần lễ, không bán được thì sẽ được đóng trong các container chở qua các nước nghèo như hàng SIDA, khi xưa tặng Việt Nam.

Người ta phỏng vấn các cơ quan nhận đồ phát chẩn từ các nước tây phương là 70% quần áo, gửi qua các nước nghèo, không bận được, người ta phải đem chôn hay đốt. Nhiều khi họ nhét ba đồ không tái sinh được trong mấy thùng đồ phát chẩn.

Người ta cho rằng, thay vì chúng ta mua quần áo mới, mua quần áo cũ sẽ giúp giảm phá hoại môi trường. Làm vườn nên mình mua quần áo cũ cho nó lành. Xem như số mình từ khi ra hải ngoại, đều bận quần áo cũ. Quần áo đồ vía lên truyền hình, đã mua từ khi sang Hoa Kỳ 35 về trước. Đâu ai biết là cũ đâu. Tiền áo quần dành gửi về Việt Nam hay cho các hội từ thiện ở Hoa Kỳ. Xong om.

Mấy bác cứ mua áo quần cũ như em là khoẻ. Bảo vệ túi tiền bảo vệ môi trường bú xua la mua. Cái khó là truyền tinh thần bảo vệ môi trường nhất là túi tiền cho mấy bà. Không xài tiền không phải đàn bà. Không tạo dáng không phải đàn bà. Không trả nợ thời trang cho vợ không phải người chồng nhân dân. Chán Mớ Đời 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Phim cao bồi spaghetti

 Mấy hôm nay, mình xem phim cao bồi Ý Đại Lợi mà người tây phương gọi “Spaghetti Western”. Loại phim cao bồi do các đạo diễn Ý Đại Lợi thực hiện vào những thập niên 60-70 của thế kỷ trước. Các loại phim này gây ảnh hưởng rất nhiều cho điện ảnh ngày nay. Bạo lực.

Mình nhớ mấy tài tử như Giuliano Gemma, Franco Nero, của Ý Đại Lợi, nổi tiếng nhất là tài tử mỹ như Clint Eastwood, Lee Van Cleef. Có một phim gồm các tài tử Nhật Bản, mỹ và pháp mang tên “mặt trời hồng” (Soleil rouge) mà mình có xem tại rạp xi-nê Ngọc Lan, hay phim Once upon in the west có Henry Fonda và Charles Bronson và cô đào bốc lửa Claudia Cardinal đóng. Charles Bronson, thổi khẩu cầm, bắn Henry Fonda để trả thù cho người anh.

Mình thích nhất ông thần Lee Van Cleef, có lỗ mũi khá đặc thù. Đóng vai ác, kép độc, luôn luôn bận đồ ủi thẳng tưng, bắn súng loại quái quái. Chỉ có tội là ông ta chết về sau.

Franco Nero có đóng cuốn phim, mà mình xem tại rạp Ngọc Lan. Ông thần kéo cái hòm đi lòng vòng, rồi đánh lộn, bắn nhau, cuối cùng, mở cái hòm, lấy khẩu đại liên ra bắn người chết như rạ. Các phim cao bổi thường được xem là khởi đầu các phim đấm đá, loại phim hành động sau này. Bên Hương Cảng, họ cũng ra mấy phim đánh võ như Vương Vũ, từ đầu phim cứ đấm đá, chả hiểu lý do vì sao.

Có lần mình mua cuốn Thuỷ Hử bằng anh ngữ cho thằng con đọc. Nó kêu sao người Tàu cứ gặp mặt là đám đá, chém giết nhau vô cớ.

Clint Eastwood, nổi tiếng qua mấy phim cao bồi. Sau này rất thành công trong vai đạo diễn.

Dạo này, bên Pháp họ đang tổ chức festival phim cao bồi spaghetti. Nghe nói có trên 500 phim, loại này. Đa số do Ý Đại Lợi thực hiện nhưng các nước khác như đức, pháp có làm loại này. Hình như do Alain Delon đóng, và Johnny Halliday. Phim loại thể này được thực hiện rất nhiều trong những thập niên 60-70 như phim “pour une poignet de dollars “ của đạo diễn Sergio Leone, được xem là 1 trong 10 phim thu hoạch nhiều tài chánh nhất trên thế giới.

Sau phim này, ông ta làm thêm 2 phim khác cũng do Lee Van Cleef, Client Eastwood, Gian MAria Volonte thủ vai. Từ ngày rời Việt Nam, không biết bao lần mình xem lại 3 phim này mà không chán. Khi mình còn sinh viên, ở Paris, có một rạp xi-nê rẻ tiền, ở khu Montparnasse, toàn chiếu phim cao bồi. Mình đi xem rất nhiều phim cao bồi loại thể này. Có mấy tài tử như Terence Hill rất vui trong phim “mon nom est Personne ” , đóng với Henry Fonda. Sau này ông ta hay đóng chung Bud Spencer.

Mình thích nhất tài tử Giuliano Gemma, đóng rất nhiều phim cao bồi. Có lần ông ta đóng trong “l’homme de Marrakech”, mình xem tại rạp Ngọc Lan.

Mấy phim xi-nê cao bồi của Hoa Kỳ thì thấy toàn anh hùng như John Wayne, John Ford, Gary Cooper, đánh mọi da đỏ, bắn chết mấy tên thảo khấu, gian tà. Trong khi phim cao bồi macaroni, thì không thấy anh hùng, Client Eastwood thì râu không cạo, Lee Van Cleef, không biết gian hay tà. Đóng những vai đi bắt hay bắn chết những kẻ bị truy nã, để lấy tiền thưởng, hay đấu súng. Mấy truyện cao bồi Lucky Luke đều được viết theo các phim cao bồi spaghetti. Chúng ta không biết rỏ chính tà của các nhân vật trong phim.

Franco Nero, mình nhớ ông ta kéo cái hòm, đấm đá như điên. Xem tại rạp Ngọc Lan

Nhưng mê nhất là nhạc phim của Ennio Moricone, được lồng vào mấy phim này. Các phim này tả lại các cảnh người Mỹ da trắng, chiếm đất người da đỏ. Phim cao bồi spaghetti cũng lấy cốt truyện từ mấy phim của đạo diễn Nhật Bản, Akira Kurosawa như phim “7 tên giết mướn” từ 7 hiệp sĩ đạo (7 samurai) hay Django với phim Yojimbo mà đạo diễn nổi tiếng Quentin Tarantino sau này làm lại phim Django Unchained.

Phim 7 tên giết mướn với các tài tử nổi tiếng như Yul Bruner, ông này người gốc Nga, phải đổi tên cho có vẻ Anh quốc một tí để được đóng phim, James Coburn, Charles Bronson, Horst Buchold,… mình xem tại rạp Hoà Bình.

Dạo mình ở Pháp, đài truyền hình Pháp hay chiếu các bộ phim “căn nhà ở đồng quê”, Gunsmoke, Bonanza,… dân tây đầm rất thích phim cao bồi nhưng dần dần cuộc cách mạng văn hoá năm 1968, đã thay đổi các chương trình thực tế hơn. Từ đó các phim cao bồi ít được sản xuất.

Các phim cao bồi spaghetti nói về Mễ Tây Cơ tại Hoa Kỳ nhiều hơn. Người Mỹ da trắng đuổi họ về nước, chiếm đất khi các tiểu bang như Texas, Cali trực thuộc Hoa Kỳ,…

Điểm lạ, theo mình là các phim cao bồi spaghetti được thực hiện vì nhu cầu của dạo áy. âu châu đang trải qua giai đoạn khủng hoảng văn hoá nên các phim nói rất nhiều về cuộc cách mạng tại Mễ Tây Cơ. Những cảnh, đại chủ bị cách mạng về bắn chết, tịch thâu đất dai. Chỉ khác là không có màn đáu tố. Cách mạng chỉ đem ra bắn chết dù là cùng dòng máu, người Mễ.

Dần dần, sau năm 1968, cuộc văn hoá nổi dậy tại các nước âu châu và Hoa Kỳ, khiến khán giả, bớt đi xem phim cao bồi. Phim cao bồi spaghetti, khởi đầu cho mấy phim hành động, bạo lực sau này như mấy phim về các tay buôn bán thuốc phiện, đám đá, tra tấn rất nhiều. Có lẻ mạnh bạo hơn khi xưa. Đạo diễn bao lực Quentin Tarantino, đã làm lại phim Django. Ông tuyên bố rất bị ảnh hưởng của các phim cao bồi spaghetti. 

Xem phim cao bồi mỹ thì đọa kết kẻ chính (người Mỹ da trắng) thắng còn kẻ tà thì bị treo cổ, bắn chết. Có những cảnh chiếu người Tàu như để chọc cười khán giả vì họ ngây ngô, nói giọng á châu. Người da đỏ thì được xem như gian ác vì bắn tên vào các đoàn di dân. Ngày nay thì lịch sử cho biết chính các người da trắng đã cướp đất và có chiến lược diệt chủng bằng cách giết bò rừng, một loại thịt mà người da đỏ sinh sống từ bao nhiều thế kỷ tước đây. Cuối cùng được đẩy vào các vùng tự trị dành riêng cho họ, đẻ bảo tồn văn hoá của họ.

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tìm lại bạn cũ sau 50 năm

 Hôm qua, mình nhận được cú điện thoại từ Gia-nã-đại, của một anh chàng ở xóm trên đường Thi Sách, gần bệnh viện Đà Lạt. Anh chàng cho biết mới nói chuyện được với Sang, bà con chi với anh chàng. Mình gọi cho Sang nhưng không thấy trả lời nên nhắn tin. Mình nói Phú ở Gia-nã-đại, không thấy Sang trả lời thì 1 tiếng sau Sang gọi. Nói chuyện gần 3 tiếng đồng hồ, vẫn chưa hết chuyện. Giọng hắn vẫn nhẹ nhàng như xưa. Hắn kêu thấy số lạ nên không dám bắt. Ở Hoa Kỳ có cái bệnh là họ gọi kêu bán buôn gì, quảng cáo nên thấy số lạ không dám bắt.

Khi về Đà Lạt lần đầu tiên, mình có đi tìm 3 tên bạn học cũ: Sang, Tài và Thuỷ nhưng không gặp. 3 tên này có chung một đặt tính là rất hiền, ăn nói nhỏ nhẹ, không ba trợn như mình, chửi thề đủ trò. Sau này, nhờ qua diễn đàn cựu học sinh Văn Học Đà Lạt, tìm và gặp lại được 2 tên còn Sang thì vẫn bặt tin đến hôm nay. Cuối năm 1972, khi hắn đi quân dịch sau mùa hè Đỏ Lửa.

Mình gửi điện thư cho nhóm Văn Học, báo tin đã tìm lại HKS, người đã khai thông lộ, khởi đầu quá trình ngắm gái, con đường vào tình yêu cho mình thì có tên bạn học cũ khác, kêu cho xin số điện thoại của Sang. Tên này, ở Dallas, chắc sẽ gặp Sang. Mình chắc sang năm mới bò sang Houston. Tên này có kể ngày xưa, kết một em tên Hồng, trong lớp. Mình về Sàigòn, có gặp cô nàng, chụp hình, gửi cho hắn. Vợ hắn gọi mình kêu, xem hình đối tượng 1 thời, hắn té xỉu, phải đái 1 trộ vào mặt hắn, mới tỉnh lại.

Tên Sang này và mình chơi với nhau từ bé trong xóm, bắn bi,…khi hắn học tiểu học với anh Bình ở cạnh nhà mình. Lớn lên thì chỉ chào nhau, cười cười khi gặp nhau, khi đụng mặt trong xóm. Đến khi mình sang Văn Học, lớ ngớ vào lớp 11B thì thấy hắn. Hắn kêu đến ngồi chung bàn. Lớp thì nhỏ mà có trên 150 mạng nhét vào ngồi như cá mòi. Được vài tháng thì hắn bị động viên, mất liên lạc từ đó.

Từ hắn, mình bắt đầu tập tành đi vào con đường cách mạng, thay đổi tầm nhìn, chân lý. Thay vì tập võ, đánh bóng bàn thì mình hủ hoá, mất lập trường cách mạng, bắt đầu ngắm gái. Ăn cơm trưa xong, hắn kêu mình chở hắn đi vòng vòng Đà Lạt, hắn biết cô này tên gì, nhà ở đâu. Cô kia họ chi, học trường nào. Trước đây, mình chạy xe một lèo tới trường hay về nhà, nay bổng nhiên phát hiện ra cuộc đời có những cô gái má hồng Đà Lạt, xinh đẹp. 

Hắn và tên em bà con, Bình, ăn bận rất cực đỉnh, đi học chải tóc láng cón trong khi mình chỉ húi cua từ bé đến nay.

Mình hỏi hắn nhớ Ri không, khiến hắn giật mình. Nói mày hỏi tao mới nhớ chớ mấy chục năm nay quên mẹ nó hết. Trong lớp dạo ấy, hắn thích Ri, người Chàm, lên Đà Lạt học, ở trọ nhà trên đường Thủ Khoa Huân. Hắn thân với tên Hiệp, lớp 11A, bắt gôn. Tên Hiệp này thích thị Đức, 11B nên hay viết thư rồi nhờ mình đưa lại. Một lần, sau ăn trưa, hai tên này rủ mình đến nhà Ri. Tại đây gặp Đức. 

Hai tên này nói chuyện với hai cô nàng, mình bỏ ra sân sau, nhìn xuống đường Cường Để và Hồ Xuân Hương. Đẹp thật. Có lẻ chỗ này nhìn về hồ Xuân Hương rất lạ, thấy Ấp Ánh Sáng, Grand Lycee,… không như mấy tấm ảnh thường thấy.

Lần sau chúng rủ, mình không đi nữa. Sau hai tên này đi lính, mình chấm dứt sự nghiệp, nghề đưa thư tình cho hai cặp này. Hắn có viết thư cho mình từ quân trường, nhờ tên em họ đưa lại. Tên này, có lần gặp mình, nói là có thư thằng Sang, gửi cho mình nhưng hắn quên đưa lại, sau bỏ xọc rác. Hắn kể khi xưa, mình nói chuyện hay chế những cụm từ rất đặc biệt như có lần đi sau cô nào, khi đi học về, mình nói cô này như “khoai lang lột vỏ” nên bị cô nàng quay lại nguýt một cái cực đỉnh.

Sau mùa hè Đỏ Lửa, Việt Nam Cộng Hoà đôn quân, thằng Sang và mấy tên khác sinh 1955, không được hoãn dịch, phải nhập ngủ, bỏ học, từ giả đời học sinh êm ái. Trong lớp bổng mất đi 10% học sinh nam. Cả lớp bàng hoàng được vài tuần rồi cuộc đời như dòng suối Cam Ly chảy qua thành phố Đà Lạt. Nhà tên nào có tiền thì chạy giấy tờ giả để tiếp tục học hay có em trai thì lấy giấy tờ của em để khỏi đi quân dịch. 

Hắn kể đi nhập ngủ, vào khám sức khoẻ, gặp lại Vĩnh, học chung, ngồi bàn sau tụi này. Tên này đi lính trước đó mấy tháng mà không ai biết. Anh chàng này đi Thuỷ Quân Lục Chiến, mới ra trận lần đầu, bị thương khiến Sang đâm hoảng. Kêu hắn vào lính trong khi tên bạn học cũ lại bị thương khi ra trận lần đầu. Thất kinh.

Học quân sự xong thì hắn được bổ nhiệm đi học tháo gỡ mìn và chất nổ, đóng quân ở phi trường Tân Sơn Nhất. Ai báo cho thấy các vật khả nghi, có mìn hay chất nổ thì hắn được cử đến tháo ngòi nổ. Lạng quạng nổ banh xác. Chỗ hắn học khi xưa, nay Việt Cộng làm viện bảo tàng tội ác mỹ ngụy. Còn em cô cậu nó, tên Tuấn, cũng học chung, đi lính cùng ngày với hắn. Tên này, ngày xưa hay chở Ngọ, mà trong lớp hay chọc, hát em tan trường về anh theo Ngọ về.

Gia đình hắn được xem là 1 trong 100 gia đình đầu tiên đến Đà Lạt lập nghiệp. Không biết trí nhớ hắn còn tốt hay không để mình hỏi thêm về lịch sử gia đình hắn lên Đà Lạt lập nghiệp ra sao. Anh hắn khi xưa là đệ tử của ông Sáu Trọng, thầy võ trên Số 4. Xóm mình được gọi là xóm Thái Cực Đạo vì có nhiều tên tập Thái Cực Đạo. Nhóm đi chơi tên Ngọc, đai đen thường được gọi là băng Thái Cực Đạo.

 Trong tấm ảnh này, biết đâu có hình ông ngoại của Huỳnh Kim Sang, lính khố đỏ sang tây đánh đức cứu Tây.

Ông ngoại hắn là lính khố đỏ, tây gọi là Tirailleur, bị tây chở qua xứ mẫu quốc, đánh giặc chống Đức vào đệ nhất thế chiến 1914-1918. May sao còn sống vì quân lính của tây chết như rạ vì họ dùng khí giới hơi ngạt. Về nước, Tây cho dẫn gia đình lên Đà Lạt lập nghiệp sinh sống. Mẹ hắn được gửi bằng khen, 1 trong những 100 gia đình đầu tiên di cư đến Đà Lạt. Thời Tây đổ bộ sau 1945, bị bố ráp, lính tây suýt bắn. May ông ta xổ một tràn tiếng tây bồi, cho quân số của lính pháp ngày xưa nên thoát chết.

Ông nội hắn, người Quảng Nam, làm thầu khoán, xây cầu gì ở Tháp Chàm, giàu có. Một hôm đi đâu về sao đó về bị té chết. Bố hắn với ông bác, còn bé, được mấy người bà con đem vào Đà Lạt nuôi. Ông cụ mình hay đến nhà hắn đánh bài. Bố hắn đánh bài, mèo chuột nên hắn lớn lên, không theo con đường của bố. Hèn gì bố hắn với ông cụ mình thân nhau vì có chung đặc tính. Bố hắn có bà Bồ nhí trên số 4 nên hay đi ngang nhà mình. Khi xưa có chiếc xe mô-tô. Chị hắn buôn bán giỏi lắm, có nhà chỗ đầu dốc Hai Bà Trưng. 1 trong 3 căn nhà xây sau Mậu thân, bên cạnh nhà ông tàu bán xắp xắp, chuyên môn bận áo quà màu đen ở bên cạnh rạp Ngọc Hiệp. Nhà có xe hàng. Sau này về Sàigòn buôn bán rau của Đà Lạt. Bị đổi tiền mấy lần te tua nhưng người tài giỏi thì vẫn làm lại được cuộc đời sau đó vì có nghề buôn bán.

Bố hắn mở tiệm làm nước đá Thuỷ Tinh, đối diện rạp Ngọc Hiệp. Sau này bán lại cho ai, họ mới làm thêm cà-rem cây với loại eskimo mà mình mê nhất thời ấy. Hắn cho biết cái cầu nhỏ từ xóm Địa dư qua Phan Đình Phùng, thường được gia đình hắn gọi là Cầu Quẹo. Không biết có phải vì vậy mà dân Đà Lạt xưa gọi đường Cầu Quẹo. Có người kêu là vì chiếc cầu ở cận nhà hàng Cẩm Đô nên họ gọi Cầu Quẹo. Theo mình thì không chính xác lắm vì cầu Cẩm Đô, trước đó được gọi là cầu Cửu Huần, do ông Cửu Huần đặc trách xây. Sau này, nhà hàng Cẩm Đô được xây lên, người ta gọi là cầu Cẩm Đô.

Hắn kể em gái hắn học Văn Học, dưới một lớp. Bạn gái xinh đến nhà , nhờ đó mà hắn biết mấy cô đẹp, nhà ở đâu. Kể có 2 chị em, tên Mỵ và Nương, đẹp nức nở, ở Cầu Đất, chắc nằm vùng, sau 75 làm lớn lắm. Mình không nhớ 2 cô này, chỉ nhớ em gái hắn khi đến nhà hắn.

Hắn kể sau 30/4, hắn trút bỏ quân phục rồi tìm đường về nhà. Hạ sĩ quan nên đi học tập đâu mấy tuần rồi về. Làm đủ nghề, Việt Cộng muốn đày đi kinh tế mới, không cho học, không cho làm xí nghiệp. Hắn di tứ xứ làm ăn, làm lơ xe, xuống Hà Tiên làm công nhân cho xi măng Hà Tiên, bị dân Miên rượt đủ trò. Hắn kể trước khi vượt biển, Cô Thuỷ có xuống Sàigòn, ghi danh cho hắn đi làm công nhân.

Cuối cùng, một hôm hắn đứng đón xe cuối tuần về nhà thì gặp ông cậu. Tối đó, hắn ngủ lại nhà ông cậu. Có người lạ đến bàn chuyện vượt biển trên gác. Hắn bò lên xem, nhớ mặt ông khách lạ rồi sau đó, đi theo ông ta như phim trinh thám. Ông ta lên xe buýt thì leo lên xe buýt, xe đò rồi đến Rạch Giá.

Mình có kể tên bạn học cũ, tổ chức vượt biển, bị chúa trùm công an vùng Kiên Giang bắt. Bảo lên Sàigòn, móc nối với dân vượt biển, kêu về Rạch Giá, mua bến của hắn. Tên này được hai công an Kiên Giang Kiên Cường, đi kè lên Sàigòn. Hắn móc nối, chở 4,000 cây vàng về Rạch Giá nộp cho chúa trùm công an. Dạo ấy, thiên hạ vượt biển từ Bà Rịa nhiều như vợ mình. Nên tên trùm công an Kiên Giang kêu dẫn dân vượt biển về Rạch Giá. Tên trùm công an thấy tên này giỏi, móc nối kiếm tiền cho hắn, không cho đi vượt biển, nó phải núp dưới tàu trốn. Lênh đênh qua đảo rồi định cư tại Cali. Nghe nói tên công an này sau bị tử hình hay sao, không nhớ rõ.

Ông này khám phá ra hắn đi theo, tưởng công an nên nói anh của hắn, xem có phải công an. Ông anh nhận ra nó, kêu em tui nên được đi theo diện canh-me. Anh nó tổ chức vượt biển nhưng không nói, sợ bị lộ. Ghe nhỏ, hôm đó bão cấp 6 nên cả ngàn thuyền ghe đánh cá, đậu neo trong bờ. Thuyền của hắn ra khơi, nhỏ bé. May thuyền nhỏ nếu không thì đã bị sóng đánh vỡ. Tàu chết máy, trôi dạt vào Thái Lan, rồi họ kéo xuống Pulau Bidon. Một năm sau, được định cư ở mỹ. Sống tại Houston từ 1981 đến giờ.

Cách đây, 20 năm, về lại Việt Nam, có tên bạn giới thiệu cô cháu ở Mỹ Tho. Hắn bò về miền nam xem mặt. Thấy nghèo khổ quá nên cưới cô nàng đem qua Mỹ. Hắn nói có vậy mới sống bền với nhau. Cô vợ sinh ra hai cô con gái, 18 và 14 nên chắc phải cày thêm, chưa về hưu được.

Mình hỏi gái Mỹ Tho chắc đẹp lắm. Hắn kêu thường thôi, đẹp thì nó bỏ tao từ lâu rồi. Vợ tao thấy tao hiền nên thương, thua 20 tuổi. Về già mới thấy tên này khôn, lấy vợ trẻ để khi về già nó hầu mình. Lấy vợ gần tuổi nhau, về già đau ốm, già phải lo đấm bóp, thuốc thang đủ trò. Chúc mừng hắn.

Anh chàng kêu sao mình nhớ họ của ”Bỏ tao”. Bỏ là bố đỡ đầu của giáo dân. Hắn chỉ nhớ tên của bác Oai. Mình kể về bố của thằng HÙng, tập Thái Cực Đạo với mình ở Lasan Adran. Hắn kể ăn thịt chó tại nhà này. Ông bố đỡ đầu của hắn, công an chìm của trung tâm thẩm vấn, vua bắt nằm vùng Đà Lạt. Mình nói cũng ăn thịt chó tại nhà nầy được hai lần. Một lần, mình xin con chó của ông Quyền cho nó, nhà nó làm réveillon. Xong om.

Qua hắn thì khám phá ra trong xóm trên nhà mình có rất nhiều giáo dân. Họ đi nhà thờ mà cô hàng xóm đi lễ mỗi ngày. Nhà thờ nằm cạnh nhà xác. Trên bệnh viện Đà Lạt, có 2 nhà xác: một dành cho tây và một dành cho người Việt. Nhà thờ do mấy bà sơ áo trắng trù trị. Theo mình thì là nhà nguyện, để ai có thân nhân nằm bệnh viện, đến đó cầu nguyện bề trên. Nhà thờ lãnh địa đức bà thì mấy bà sơ bận đồ xanh. Hoá ra mẹ nó là mẹ đỡ đầu của chị Lệ Khánh, con bác Mân. Cô này, nổi tiếng với tập thơ “em là con gái trời bắt xấu”. Thằng T, con bà 3 Q cũng đi nhà thờ này. Sau này đi 302, sau 75, đánh lộn bị đâm chết.

Qua hắn, mới nhớ lại chị Nga, người Nùng, 1 trong 4 cô học sinh Bùi Thị Xuân đậu ưu hay tối ư 1 thời. Cạnh nhà Dũng Đầu Bò, cũng người Nùng. Dòng họ này đi lính lực lượng đặc biệt của Mỹ, chạy xe Jeep mỹ thấp, mấy cái bánh xe bè ra ngoài để tránh bị lật… hay ông Lê, bà con hay anh em gì của ông Tô, ở ngay dốc Hai Bà Trưng, cạnh nhà hai chị em Thanh, Trúc, quen với mẹ mình. Mình có gặp khi cô còn ở Irvine, sau này bán nhà ra RiverSide thì mất liên lạc.

Hắn hỏi mình nhớ con khách sạn XXX, mình không nhớ nhưng khách sạn thì nhớ. Hắn cho biết có gặp con của gia đình này, sang đây một mình. Buồn đời ra sao, đi làm nghề giết mướn. Ai trả $10,000 dạo ấy là thịt liền. Sau này, qua Hạ Uy Di làm gì bị bắn chết. Chắc gia đình không biết.

(Còn tiếp)

Nguyễn Hoàng Sơn 


Lễ Tạ Ơn dưới góc nhìn khác

Hôm nay, lễ Tạ Ơn tại Hoa Kỳ nên mình kể về một góc nhìn khác về sự thành lập của nước Hoa Kỳ. Lễ Tạ Ơn được giảng dạy trong trường học, như một cách tạ ơn các người dân địa phương đã đón tiếp các người di dân đến từ Âu châu đến. Mình đã kể trong bài “con tàu lịch sử Mayflower”. Các người âu châu mới đến, te tua đã được các thổ dân tại đây giúp đỡ những ngày đầu khi mới đến, tạo ra một truyền thống cho người Mỹ, giúp đỡ những ai chạy giặc, đến tỵ nạn tại xứ này. Nhờ đó mà trên 2 triệu người Việt có mặt tại xứ sở này hôm nay.

 Mình học lịch sử về Hoa Kỳ năm 11 B, được biết Kha Luân Bố, tìm ra Châu Mỹ. Đó là một cách nói khá lạ hay định nghĩa rất đặc biệt. Lý do là khi ông ta đặt chân đến Mỹ Châu, đã có người sở tại sinh sống tại đây từ nghìn năm trước mà chúng ta thường gọi là người da đỏ. Người Mỹ có cách nói rất hay: người da đỏ, sinh sống từ bao nhiêu đời tại Mỹ châu thì họ gọi là “Native American”, người gốc Á Châu thì họ gọi là “Asian American”, người gốc Phi châu thì gọi là “Afro-American”, còn người da trắng thì gọi đơn sơ “American”. Cho thấy người Mỹ da trắng là người Mỹ hoàn toàn.

Cái hay của Hoa Kỳ là người Mỹ có quyền phát biểu tự do ngôn luận. Các sử gia Hoa Kỳ bắt đầu nghiên cứu về giai đoạn khi người âu châu sang Mỹ Châu. Người ta ước lượng có đến 12.5 triệu người bị bắt cóc tại Phi Châu, chở qua Mỹ Châu để làm nô lệ. Nay qua các thư từ, công văn mà người ta soạn lại được thì họ khám phá ra có từ 2.5 đến 5 triệu người Mỹ da đỏ, bị bắt cóc, chở về Âu Châu, bán cho các chợ nô lệ ở Tây BAn Nha.

Trong những lá thư của Kha Luân Bố gửi cho ông bạn ở Ý Đại Lợi. Bà hoàng hậu Isabella, hổ trợ tài chánh cho ông Kha Luân Bố đi về hướng Tây để đến Ấn Độ, để mua vàng, gia vị,…nhưng lại đến bờ Mỹ CHâu. Không tìm ra những gì mà họ mong tìm, ông Kha Luân Bố, đành gửi 5 chiếc tàu về âu châu với 550 người da đỏ để họ có thể bán nô lệ, rút vốn về.

Chúc các bác và gia quyến một mùa lễ Tạ Ơn yên lành

Trong một lá thư của ông bạn tên là Michelle da Cuneo, mình đoán ông này ở vùng gần Torino, vì mình có đến viếng một thành phố tên Cuneo, gần đó. Ông này kể là khi nhận được của Kha Luân Bố cô gái da đỏ như món quà tặng thì ông ta muốn giao hợp ngay. Từ đó, người ta tìm hiểu thêm thì khám phá ra các nô lệ người da đỏ được bán tại âu châu. Phụ nữ có giá từ 50-60% giá hơn đàn ông da đỏ. Người ta lý giải là bán nô lệ tình dục nhiều hơn là nô lệ lao động.

Người ta cho rằng, buôn người làm nô lệ tình dục thời đó. Qua các tài liệu được khám phá về Mỹ Châu trước khi ông Kha Luân Bố đến đây thì các bộ lạc đánh nhau, rồi bắt người của các bộ lạc khác để thay thế người chết của bộ lạc họ. Các dòng tộc cưới nhau, trao đổi nô lệ,..nên khi người âu châu đến, bắt họ đem về âu châu làm nô lệ, xem như hiển nhiên.

Vào thế kỷ 19, ông Brigham Young, đem một số đạo hữu đi về miền viễn tây, đóng đô tại tiểu bang Utah, thành lập đạo Mormon. Họ khám phá ra các con buôn Tây Ban Nha  hoạt động trong các vùng này. Họ bỏ đói các trẻ em ngoài trời đông lạnh, khiến nhà thờ Mormon này phải mua các nô lệ lại. Dần dần nhà thờ này, khuyên răn các tay buôn nô lệ, chấm dứt nạn buôn người.

Trong thời kỳ đi tìm vàng ở California, người ta bắt các người da đỏ làm nô lệ để làm các công việc đào vàng, đưa đến các vụ đánh phá của người da đỏ mà chúng ta xem phim cao bồi, thấy họ cướp xe đò,… sau đó người Mỹ dồn các người da đỏ vào một một vùng, lãnh thổ riêng do người da đỏ tự trị. Cuộc di chuyển người da đỏ đến vùng tự trị này được gọi là Long Walk, vạn lý trường chinh của người da đỏ, bị nhốt vào các vùng đặc biệt của họ. Nhưng các chủ nông trại vẫn tìm cách kiếm nhân công người da đỏ cho dù bị cấm.

Có luật của người âu châu cho phép buôn bán nô lệ từ phi châu nhưng năm 1542, hoàng gia Tây Ban Nha, ra lệnh cấm buôn bán nô lệ người da đỏ. Trên thực tế, các chủ đồn điền của các thực dân từ âu châu, vẫn cần sức lao động của người da đỏ. 

Khi mấy đứa con học về lịch sử các tu viện ở California, mình có đi viếng vài viện này, thấy mấy ông cố đạo, sử dụng các người da đỏ để xây cất, trồng trọt, nhốt họ lại vì họ hay trốn thoát.

Người ta cho biết, khi người âu châu bắt cóc người da đen đem qua mỹ châu làm nô lệ thì dân số ở phi châu bị giảm mất 20%. Nay người ta xét lại tại Tân Thế Giới , nhân số của người da đỏ, người địa phương, giảm đến 80%-90%. Mình có kể vụ người Mỹ cho giết bò rừng qua các chương trình được những người như ông Buffalo Bill thực hiện, giết mấy triệu con bò rừng. Người da đỏ, sống nhờ bò rừng nên họ phải di chuyển theo bò rừng, dần dần chết nhiều và trốn qua Gia-nã-đại.

Vùng Trung Mỹ, khi các người âu châu sang, đem theo các bệnh tật lan trường khiến người địa phương chết rất nhiều, giúp họ tấn công vào các thành phố của người địa phương, đưa đến sự giảm dân số khá nhiều.

Ngày hôm nay, chúng ta có cơ hội nhìn lại lịch sử của Hoa Kỳ. Chúng ta có nên lên án hay không? Lịch sử, đưa đẩy các người âu châu đến đây. Với khí hậu khắc nghiệt, họ phải chống trả, bảo vệ sự an toàn của họ, để thành lập một quốc gia hùng cường ngày nay. Chúng ta nên nghiên cứu lại lịch sử được dạy trong các lớp học khi xưa. Lịch sử thường được viết lại bởi người thắng cuộc.

Nhờ những nghiên cứu lịch sử, người Mỹ của các thế hệ sau, đã cưu mang các người đến từ các quốc gia khác như người Việt chúng ta, tỵ nạn cộng sản. Có một nơi để làm lại cuộc đời, sống an lành. Hy vọng chúng ta hay các thế hệ mai sau, sẽ đóng góp xây dựng đất nước này, và tiếp tục truyền thống, cưu mang các người tỵ nạn khác bất kỳ là chủng tộc nào.

Chúc các bác một mùa lễ tạ Ơn vui vẻ, bên cạnh gia đình.

Nguyễn Hoàng Sơn 

Những người đàn ông trong truyện Kiều

 Mình nhớ năm 3ème học Truyện Kiều vì khi thi bằng Brevet, có câu hỏi về ông Nguyễn Du. Mình thấy lạ một điều là các nhân vật nam lần lượt xuất hiện trong Truyện Kiều, toàn là những người đàn ông, không đáng để thiếu niên như mình, học tập noi theo đạo đức cách mạng. Ai ngờ, sau này mình cũng đi theo con đường của họ. Sợ vợ như Thúc Sinh, dại gái như Từ Hải, khốn nạn như Kim Trọng… nói chung là cứ dính vào đàn bà là theo gương một trong những nhân vật nam, ca khúc người đi qua đời Thuý Kiều của ông Nguyễn Du.

Nhân vật nam đầu tiên xuất hiện trong đời Thuý Kiều là Kim Trọng. Khi cô nàng gặp tên này, thốt lên “thằng kia gặp gỡ làm chi, 100 năm biết có duyên gì hay không” khi đi tảo mộ. Mỗi lần gần Tết, mình đi chạp mộ với người làng Dưỡng Mong ở Mả Thánh thì chán như con dán. Không hiểu sao ông Nguyễn Du lại tả thiên hạ đi đông, bận quần áo đẹp để cuốc đất nhổ cỏ, chưa kể đạp phân bò của mấy thằng chăn bò trên mả thánh.

 Nghe kể về cuộc đời xấu số của Đạm Tiên, Thuý Kiều bùi ngùi rồi tơ tưởng cuộc đời mình sẽ như cô ả đào này. Có lẻ vì vậy mà khi xưa mấy người lớn không cho con gái đọc tiểu thuyết, sợ mấy cô đọc xong cứ tưởng mình như nhân vật trong tiểu thuyết, để bắt chước theo.

Anh chàng này, con nhà giàu, học giỏi, biết thổi sáo để dụ dỗ gái vị thành niên như vài tên bạn học với mình khi xưa. Biết đánh đàn là gái bu như ruồi. Khi xưa, mình tập võ trong khi mấy tên bạn học học đàn. Được cái về già thì mình khoẻ hơn chúng. Hôm nay, gặp tên bạn ở Văn Học, nói tháng 4 tới, mình leo núi mạch pichu 7 ngày 6 đêm, cắm trại trên núi khiến hắn rùng mình.

Thúy Kiều, mê tiếng sáo của tên công tử nhà giàu, ban đêm leo tường qua nhà Kim Thị. Kim Trọng thỏ thẻ bên tai, kêu yêu Kiều như điên như bao thằng đi tán gái, chỉ muốn rà xét đồ phụ tùng của gái, thuộc loại hàng xịn hay đã bị tân trang nội thất toàn diện. Khi bố cô nàng bị nạn thì anh ta kêu Kiều cứ bán thân chuộc cha đi, để trọn đạo Hiếu tử, để anh lấy Thuý Vân cho xong đời. Ngồi thổi sáo: “này em hởi con đường em đi đó, sẽ đưa em sang đâu?”. Đưa đến động Tú Bà. Chấm còm.

Bố của hai chị em Kiều Vân, không biết làm chuyện gì mà mất tiêu gia sản. Mình đoán ông này binh xập xám chướng nên phải bán nhà cửa, con gái để trả nợ.

Kiều đi theo Mã Giám Sinh, khóc lóc bài tình chị duyên em như chị em bà hàng xóm nhà mình khi xưa. Bà chị lấy chồng, không con nên kêu cô em lấy chồng mình, sinh ra 4 người con theo chủ nghĩa tình chị sex em.

Cái mất dạy là sau 15 năm làm điếm trả nợ cho TÚ Bà xong, tên Kim Trọng này, gặp lại Kiều, kêu về làm vợ hắn. Chắc Thuý Vân, không giỏi việc chăn gối, hay hắn đã chán, muốn tìm của lạ nơi chốn bia ôm nên muốn thử nghệ tài của Thuý Kiều sau 15 năm ở lầu xanh, không bị bệnh SIDA. Hay ông thần này bị bệnh tiểu đường, lao phổi nên cần người chăm sóc, buôn bán mua thuốc thang. Có lẻ tác giả phải đặt tên Kim Trọng là Sở Khanh. Kiều đã qua tay biết bao nhiêu tên đàn ông nên từ chối, hiểu ngay, không ngây thơ như 15 năm về trước.

Mình đọc một bài tiểu luận của học sinh về Truyện Kiều ngày nay, khiến mình thất kinh. Học sinh cho biết, khi Thuý Kiều đã trả nợ xong cho Tú Bà, đại diện cho thành phần mỹ ngụy ác ôn. Chế độ phong kiến, tàn ác, phồn vinh giả tạo nên nhảy xuống Tiền Giang, thay vì sông Tiền Đường như mình đã học khi xưa. May mắn có một cán bộ cách mạng, đi công tác ngang qua, nhảy xuống sông Tiền Giang, cứu được Thuý Kiều, một nạn nhân của chế độ phong kiến, tàn ác của mỹ ngụy và đã giúp cựu gái lầu xanh, vào trại  phục hồi nhân phẩm. Kiều giác ngộ đi theo cách mạng làm hộ lý. Kinh

Mã Giám Sinh thì như bao đàn ông giàu có khác, mua gái, chơi hoa rồi bán lại, để rút vốn. Mình đọc đâu đó, ở Việt Nam, có người đem bồ đến các quan lớn để làm “con gái nuôi”. Có ông nào, viết kể vợ ông ta được mấy quan lớn thay phiên nhận làm con gái nuôi, ông ta đi đòi thì bị bỏ vào nhà thương điên. Lâu quá không thấy ông này viết bài nữa, chắc bị cho uống thuốc an thần nhiều. Khai toàn là các quan lớn Việt Nam bắt vợ ông ta làm con nuôi vì vợ đẹp là vợ người ta. Con nuôi thì không mang tội hủ hoá.

Thúc Sinh, cũng hứa hẹn đủ trò khi lên giường với Thúy Kiều rồi gặp bà vợ Hoạn Thư, không dám hó hé. Rồi đến tên tướng cướp Từ Hải, nghe lời cô Điếm để chết đứng. Ông Nguyễn Du, tả Tú Bà dạy Thuý Kiều, dùng hạt lựu, để lừa mấy tên mua hoa tưởng cô nàng là gái tân. Gặp ai, cũng e thẹn, che mặt với cái quạt, khe khẽ em còn bé lắm, anh ơi. Nam mô a di đà.

Có một nhân vật nam được ông thầy dạy việt văn, chửi bới, thoá mạ nhiều nhất là Hồ Tôn Hiến. Ông quan, dụ Thuý Kiều, bảo Từ Hải ra hàng, rồi cho quân mai phục, bắn chết Từ Hải. Ông thầy kêu Hồ Thị, nào là đạo đức giả, nhan hiểm, rắn hổ mang. Ông thầy bắt học sinh học thuộc lòng để khảo bài, mỗi tuần. Mình không thấy có câu nào ông Nguyễn Du chửi ông quan họ Hồ cả.

Lớn lên, thấy tên Hồ Tôn Hiến khá bản lĩnh mới làm lãnh đạo. Gặp gái, không hủ hoá như các quan tham. Dùng Kiều như con cờ để dẹp loạn, lên chức. Thuý Kiều khóc như mưa, khi thấy Từ Hải chết đứng. Khóc đây là vì tức tối, bị họ Hồ lừa. Một cô điếm từng lấy bao nhiêu chồng người ta, đâu có khóc dễ dàng.

Đi thi Brevet, vào vấn đáp thì họ hỏi lý do Nguyễn Du, viết truyện Kiều. Mình trả lời như ông thầy dạy là ông ta làm quan nhà Nguyễn nhưng vẫn nhớ đến nhà Lê,  vẫn thèm ăn rau muống và cà cuống bú xua la mua nên được đậu vớt. Cứ trả lời như vẹt theo ông thầy dạy, dù chả hiểu gì. Chớ hỏi về Từ Hải thì mình cũng sẽ a-dua theo ông thầy, chửi Hồ Thị nát nước.

Em rể mình ở Pháp, có gửi cho mình 7 đĩa nhạc của một ông kỹ sư ở Pháp, mê truyện Kiều nên phổ nhạc hết mấy câu thơ của truyện Kiều. Ông này tên Quách Vĩnh Thiện, khi đọc đến câu 890 “sống trên đất khách, thác chôn quê người”, xúc động vì đúng tâm sự của kẻ xa quê, nên sáng tác nhạc nguyên cuốn Truyện Kiều. Hình như có đến 77 nhạc phẩm, ông này không được về Việt Nam. Ông này đi du học lâu rồi. Lái xe, mình nghe lại truyện kiều qua các ca từ thì mới thấm được truyện Kiều.

Mình thấy trên Shark Tank có ông Mỹ, soạn thơ của Shakespeare thành nhạc để học sinh dễ học. Rất có lý. Nếu khi xưa, học Truyện Kiều mà có nhạc Truyện Kiều nghe thì dễ học thuộc lòng hơn.

Lớn lên, thấy lịch sử thế giới đều dùng mỹ nhân kế để thu phục đám tướng, khiến vua chúa mất nước. Ngô Phù Sai bị Phạm Lãi, đưa Tây Thi vào cung, làm ông ta say mê, bất chấp lời căn dặn của tể tướng Ngũ Viên. Ông này thấy rõ âm mưu của Việt Câu Tiễn nên kêu đem ra chém. Chỉ có những người tài giỏi mới nhận ra âm mưu của kẻ tài giỏi khác.

Ông thầy cứ khen Từ Hải, cho rằng anh ta chết vì dại gái là cái chết êm ái. Cứ cho ông họ Từ chết vì đàn bà là tay anh hùng, hảo hán. Đừng có nói đến làm chính trị hay gì. Những người quèn quèn như mình mà dính vào đàn bà cũng chết lây lất.

Ông thầy kêu Từ Hải là đại trượng phu, một tay chọc trời “trơ như đá vững như đồng/ ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng dời” để rồi Thuý Kiều, hát bản nhạc “khi người yêu tôi khóc” của Trần Thiện Thanh thì tướng cướp họ Từ này gục ngã, chửi cả đám giai cấp công nông. Ra hàng Hồ Tôn Hiến để được hát “trái tim ngục tù, ta yêu em đến ngày mai”. Ông ta chết vì Thuý Kiều; 1 cái chết vì gái là cái chết êm ái nên phải chết đứng, chống gươm.

Hoá ra, lớn lên mình cũng như Kim Trọng, một người mà mình từng chê khi xưa. Khi một đối tượng rủ mình qua Mỹ, để thực hiện những lời thề trên cát biển Normandie. Công ty ở New York mướn luật sư để lo giấy tờ cho mình, làm việc tại Mỹ. Bố của đối tượng một thời, gọi mình, bảo hát bài em xé đi, thư tình tôi đã viết thì mình bắt chước Kim Trọng. Thay vì đấu tranh cách mạng, quyết tranh đấu tới cùng để xây dựng hạnh phúc lứa đôi, kêu cô nàng hãy lấy chữ Hiếu làm đầu, rồi đi tìm đối tượng công nông khác.

Thuý Vân, dạo đó là giới công nông vì ông bố bị cướp hết tài sản như người Việt sau 1975. Cành vàng lá Ngọc gì đều đạp xe đạp, đi bán sữa đậu nành, hay đi thanh niên xung phong hết, nghĩa vụ quốc tế qua Cambuchia. Kim Trọng phản tỉnh, đi theo cách mạng, lấy giới công nông.

 Mình ăn theo diện vợ. Chuyện gì cũng đùn cho vợ làm. Cũng sợ vợ như Thúc Sinh, bạn bè rũ đi cà phê Lú đều từ chối. Tối tối phải bóp chân vợ, đấm lưng cho đồng chí gái, bạn bè xa lánh, khinh chê nên vẫn thấy cô đơn trong sa mạc. Phản tỉnh mình bỏ nghề kiến trúc sư, làm vườn, trở về giai cấp công nông của ngày xưa. Chán Mớ Đời 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo giang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn