Từ làng Ngọc Anh đến Đà Lạt

 Từ làng Ngọc Anh đến Đà Lạt 


Đà Lạt là một thành phố được xây dựng hoàn toàn bởi người Pháp vì trước khi người Pháp khám phá ra vùng đất này thì vùng này chỉ là hoang vu đồi hạ đôi bờ cỏ xanh. Khi xây dựng thì họ cần người Việt và người Tàu để phục vụ cho họ, giúp xây dựng thành phố nghỉ dưỡng với giấc mộng là thủ đô của Đông-Dương của Pháp quốc. Trong số những người đến thật đầu là 100 người Việt khởi đầu. Ông ngoại của một anh bạn gần xóm Công Chánh Hai Bà Trưng, được xem là một trong số 100 người Việt đã đến định cư tại Đà Lạt. Nghe anh ta kể là có giấy khen chi đó của thị trưởng Đà Lạt khi xưa.

Tiệm Vĩnh Hưng của ông bà Võ Quang Tiềm, bên cạnh là tiệm vàng của ông bà Tư Bổ (Huỳnh Ngọc). Dãy phố này được ông Võ Đình dung xây cất.

Đa số là những người đến đầu tiên là từ miền Trung, người Tàu từ Sàigòn, Chợ Lớn đến. Mình có tấm ảnh ở khu vực ấp Ánh Sáng ngày nay, có mấy tiệm tàu tạp hoá. Sau năm 1932, có lũ lụt cuốn trôi mất tiêu nhà cửa ở khu vực này vì nằm dưới cái đập, khiến 15 người dân bị lũ cuốn trôi. Sau này thì có ông Hoàng Trọng Phu, tổng đốc Hà Đông, đưa người từ Hà Đông, Nghệ An và Hà Tỉnh vào Đà Lạt để trồng rau cải cho người Pháp. Thời chiến tranh, các vùng xôi đậu, mất an ninh ở các xứ Quảng, người dân bỏ vào Đà Lạt rất đông. Tóm lại Đà Lạt có người đến từ miền trung đông nhất, sau đến miền bắc vì năm 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm có đưa lên Đà Lạt một số đồng bào di cư từ miền bắc. Đặc biệt là vùng Bảo Lộc, Đức Trọng,..


Hình này chụp trước tiệm Hiệp Thạnh số 11 Duy Tân. Chụp khi cậu Võ Quang Tri về Đà Lạt, đến dượng Ân, rể ông Phúng, cạnh ông Phúng là bà Võ Quang Tiềm, cũng là chị ruột, đến bà phúng, dì Thanh, hình như vợ cậu Tri rồi đến dì Bá.

Trong số những người gốc Huế đến Đà Lạt những đợt đầu tiên có ông Võ Quang Tiềm. Ông Võ Quang Tiềm sinh năm 1902 tại làng Ngọc Anh, Phú Vang, Thừa Thiên. Dạo mình về Huế với mẹ mình, xe có chạy ngang làng nên mẹ mình chỉ đây là làng của Ôn Tiềm. Theo cậu Võ Quang Tri, con trai đầu của ôn Tiềm, kể cho mình thì là tên ông có nghĩa là “ánh sáng tiềm ẩn”. Cậu Tri mình chỉ gặp mặt có hai lần ở Paris khi cậu nghỉ hè về Paris thăm gia đình vì dạo ấy cậu làm việc cho cơ quan quốc tế ở Châu Phi. Sau này nhờ mạng xã hội nên cậu cháu có trao đổi tin tức gia đình cho nhau. Sau này, khám phá ra cậu đã qua đời trong mùa dịch covid. Còn cậu Miên thì dọn về miền nam nước pháp gần Nice, nghỉ hưu.

Gia phả của ông bà Võ Quang Tiềm


Thật ra mà nói những người khi xưa, bỏ làng ra đi để mong đổi đời, kiếm miếng ăn, tương tự ngày nay, người Việt đi lao động quốc tế chính thức hay đi chui. Ông bà mình cũng bỏ làng đi vào Sàigòn kiếm cơm hết. Còn không thì chỉ có cách đi theo cách mạng để có cơm ăn và đợi ngày cách mạng thành công về phố, tịch thu tài sản thiên hạ. Chán Mớ Đời 


Mình nghe trong gia đình kể thì ông Tiềm đi với một người anh vào Đà Lạt lập nghiệp, khởi đầu làm nghề thợ may. Ông Tư, anh của mệ ngoại mình vào Sàigòn kiếm cơm làm nghề thợ may, sau này nổi tiếng may áo dài cho tổng thống Ngô Đình Diệm. Viết đến đây mình mới nhớ khi xưa mấy người Huế làm thợ may ở Đà Lạt khá nhiều như bác Đoàn Mừng, hay ông Thi ở đường Duy Tân hình như tên tiệm may Đặng Thi, đối diện đền An Lạc, Khu Phố I, nhìn xéo qua, bên cạnh tiệm bi-da.


Sau này về Huế, lấy được người vợ, tên Nguyễn Thị TUyết, làng An Lưu, sinh năm 1906. Em hay chị bà con cô cậu với mệ ngoại mình, đem vào Đà Lạt. Từ đó bà Tiềm đem cả gia đình vào như người chị tên Dụ, ông Phúng và ông Đàng là hai người em trai vào Đà Lạt. Ông Phúng và ông Đàng cũng khởi nghiệp làm thợ may chắc được ông Tiềm dạy nghề. Dạo đó, người Pháp đang xây tuyến đường xe lửa từ Phan Rang lên Đà Lạt nên mấy anh em may áo quần sẵn rồi gánh xuống chỗ họ làm đường rày xe lửa để bán cho nhân công ở đây. Nghe nói phải đi bộ 3 ngày 3 đêm, chắc đêm ngủ lều. Từ từ mới có tiền và buôn bán thêm mấy thứ mà nhân công cần.


Mình nhớ khi xưa mỗi lần vào nhà ông bà Tiềm, tiệm Vĩnh Hưng (Vĩnh viễn Hưng thịnh do cậu Tri, con trai ông Tiềm giải thích cho mình) mình thấy mấy cái lu to đùng đựng rượu để bán cho dân Đà Lạt. Hình như ông ta có một nhà kho chứa rượu ở đường Hàm Nghi. Nhớ có ông nào quên tên, hình như cháu của ông Tiềm, làm tài xế chở đồ đi giao hàng. Mình có đến 1, 2 lần chi đó, nồng mùi rượu. Nghe nói ông ta có môn bài do người Pháp cấp nên chỉ có ông ta có thể làm đại lý mấy vụ này nên từ từ giàu to vì có những nơi như Đơn Dương, Di Linh, Bảo Lộc,…lên lấy hàng hay làm đại lý cho ông. Mẹ mình kể là khi lấy chồng, ông Tiềm kêu xuống Di Linh làm đại lý cho ôn. Ông Tiềm thích ăn cá do mẹ mình kho nên lâu lâu kêu mẹ mình kho cho nồi cá. Mẹ mình mang ơn ôn Tiềm vì khi đi theo Việt MInh, bị bắt, ông Tiềm có tiếng tăm tại Đà Lạt, bảo lãnh mẹ mình ra tù và cam kết với thị trưởng Đà Lạt lúc đó ông Cao Minh Hiệu nên sau này hay kho cá cho ôn. Mẹ mình nấu ăn cực ngon.


Khi ông cụ mình giải ngủ, học thi vào công chức của ty công chánh Đà Lạt thì ông ta bắt ông cụ mình ra nhà ông ngủ để ông ta xem xét học hành. Sáng sớm ông đánh thức ông cụ dạy kêu học bài. Mới đậu. Nghe nói là nhờ ông ta nộp đơn dùm vì nộp trễ nên ông ta đưa thẳng cho trưởng ty công chánh. Mình nghe nói ông ăn đồ cao lương mỹ vị không được vì bệnh dạ dày hay chi đó. Chỉ thích cá kho của mẹ mình.


Ngoài ra ông còn mua thuốc lá từ Quảng Nam đem về Đà Lạt để bán cho người Huế hút. Người ta gọi quen thuốc Cẩm Lệ ở Huế. Hình như mình có kể vụ này rồi. Thuốc Cẩm Lệ Huế” thường là cách gọi một loại thuốc lá sợi nổi tiếng xưa của Huế, làm từ lá thuốc trồng ở vùng Cẩm Lệ (Quảng Nam – nay thuộc Đà Nẵng), rồi đem ra Huế chế biến theo bí quyết riêng. Năm ngoái mình có ghé làng Thanh Quýt, nơi một anh bạn sinh ra đời. Cũng là nơi trông thuốc lá cẩm lệ ngon cực.


Người Huế thời cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 rất chuộng loại thuốc này, từ giới lao động đến tầng lớp quý tộc. Thuốc được xắt sợi, vấn bằng giấy quyến thành điếu nhỏ hình “sâu kèn” để hút. Cậu Liễu, con bà Dụ, chị bà Tiềm, từ Huế vào giúp ông Tiềm buôn bán thuốc Cẩm Lệ , sau này cậu ra chợ mới, khu hàng guốc, có sập bán thuốc cẩm lệ và giấy quyến. Khi xưa, mình hay ra cậu để mua thuốc cẩm lệ cho mệ ngoại khi mệ ở nhà mình. Mệ mình hút thuốc cẩm lệ vui lắm. Lấy giấy quyến ra rồi quấn điếu thuốc hình sâu kèn. Hút dỡ thì tắt lửa rồi dán điếu thuốc hút dỡ lên tường. Khi nào hút tiếp thì lấy hai hay ba điếu thuốc hút dỡ quấn giấy quyến mới làm một điếu.


Mình nghe kể khi tây đổ bộ lại Việt Nam để giải giới quân đội Nhật Bản sau 1945 thì việt minh kêu gọi người Việt tản cư ra khỏi Đà Lạt nên thiên hạ sợ tây bỏ bom, càn quét nên nghe Việt Minh chạy tản cư hết. Ông Tiềm không đi nên ai tản cư thì họ bán rẻ nhà cửa lại cho ông. Lúc tây vào Đà Lạt, có vào tiệm ông hạch hỏi đủ trò, suýt giết. May sao thoát, đến khi dân Đà Lạt hồi cư thì cần nhà cửa nên mướn của ông để buôn bán làm ăn. Nghe bà cụ mình kể là đường Duy Tân khi xưa, phía bên tiệm bà Cửu Viện đi xuống đình An Lạc, khu phố I là toàn nhà của ông cho mướn. Ông Phúng và ông Đàng, em rể của ông Tiềm đều mướn nhà của ông để buôn bán. Sau này mua đất ở số 9 và 11 đường Duy Tân, xây nhà lầu rồi dọn về đó đến giờ. Tiệm đầu tiên đường Duy tân, cạnh tiệm Vĩnh Hoà là của ông Võ Quang Hàm, cháu của ông Tiềm.


Nghe nói ông ta có đâu 100 căn nhà trước khi Việt Cộng vào. Nhà ở Đà Lạt, ở Đơn Dương, Di Linh, Sàigòn thậm chí có mua nhà bên tây khi mấy người con đi học bên tây. Ông mua nhà ở Issy les MOulineaux. 1 căn cho cậu Tri, cậu Miên và dượng Ngô Viết Thụ ở và 1 căn để dì Tiếp và dì Út ở. Nên nhớ thời đó, 1 đồng bạc Đông-Dương có giá trị bằng 10 quan pháp nên mua nhà bên tây rẻ rề. Ngoài ra ông ta có mấy căn phố cho thuê để người ta làm khách sạn như Anh Đào, Mimosa,… Mình chỉ nhớ ông Tiềm và ông Đàng hùn nhau xây cái khách sạn bên cạnh chợ Đà Lạt, ngay bùng binh chợ mới. Nghe nói ông Đàng bỏ ra đâu 800 cây vàng, dượng Ngô Viết Thụ cũng bỏ một ít và thiết kế thì đùng một cái mấy ông Việt Cộng vào, mất hết.


Ông Tiềm vào Đà Lạt với hai bàn tay trắng để dựng nên sự nghiệp, 50 năm sau, mấy ông thần đi theo cách mạng về kêu ông ta là tư bản mại sản, có nợ máu với nhân dân nên tịch thu hết tài sản. Tiệm Vĩnh Hưng cũng bị lấy luôn, họ chỉ cho ông bà ở phía sau tiệm chỗ nhà bếp. Chán Mớ Đời 


Thật ra, dân Đà Lạt mà sung túc giàu có đều từ miền Trung, miền Bắc hay miền Nam đến lập nghiệp với hai bàn tay trắng. Sau vài cục năm chịu khó, họ tạo dựng được tài sản rồi bị Việt Cộng tố là tư bản mại sản, có nợ máu với nhân dân nên tịch thu hết tài sản của họ nên chỉ biết xuống tàu vượt biên. Ai ở lại cũng chết sớm.


Khi mình về Đà Lạt lần đầu thì ông đã qua đời. Mình có lên mả thánh thắp hương cho ông bà. Cái mộ của ông bà được xây hình tròn do người con rể là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Mình có chụp hình nhưng lười đi tìm, chỉ có tấm ảnh mộ của ông Phúng. Nay thì Việt Cộng họ dẹp bỏ mả thánh nên chả biết mồ mả nằm chỗ nào. (Còn tiếp)


mê tiềm tên là nguyên  thi thuyết  ỏ làng An  Lưu huyen phu vang tỉnh Thưa thiên Huế,ôn tiêm ở langf kế bên là Ngoc Anh 2 người luc vô Dalat con nghèo lăm mê ra chơ ngồi bán đồ khô con ôn  may quần đùi  đi bô theo đường ray xe lửa bán với ôn Phung ,bới cơm vắt theo ăn 3 ngày mới trỏ về nhà,luc mơi vô Dalat ai cing ngheo khổ hết cần kiêm và cố gắng làm mới giàu đươc

để di hỏi thêm dì Út còn sông ở  pháp ,dì biết nhiều chuyên hay lắm


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn 

Nguyễn Tài, tình báo khét tiếng của Hà Nội

 Nguyễn Tài, tình báo khét tiếng của Hà Nội 


Hôm nay đọc một bài của người Mỹ viết kể về một người làm phản gián cho Hà Nội, bắt hết các điệp viên hay lính Lôi Hổ nhảy Bắc để phá hoại thu thập tin tức như Đặng Chí bÌnh kể trong tập hồi ký Thép Đen. Sau này ông ta vào miền nam để cầm đầu hệ thống gián điệp ở miền Nam rồi tình cờ bị bắt. Việt Nam Cộng Hoà giao cho CIA khai thác và trước khi Hoa Kỳ rút lui, giao lại cho cảnh sát Việt Nam Cộng Hoà. Trước 30/4/ 75, ông Nguyễn Khắc Bình ra lệnh thủ tiêu ông ta nhưng lúc đó chả ai còn hồn để lo mấy vụ này nên khi Việt Cộng vào Sàigòn thì ông ta được thả và sau này làm lớn lắm nhưng cái kết khá buồn.



Ông ta tên Nguyễn Tài, tên khai sinh là Nguyễn Tài Đông, biệt danh Tư TrọngTư DuyBa Sáng, là con trai của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Ông nguyên là Cục trưởng Cục Bảo vệ Chính trị và bị CIA bắt tra khảo trong 5 năm, với biệt danh "The Man in the Snow White Cell"..hồi ký của một cựu nhân viên tình báo Mỹ. 


Nguyễn Tài không theo nghiệp văn giống cha, tham gia Việt Minh khi mới 18 tuổi cách mạng khá sớm, có khiếu nghề công an, khai thác tin tức. Tháng 9 năm 1945, ông bắt đầu công tác trong ngành an ninh. Khi mới 21 tuổi, ông là Trưởng ty Công an Hà Nội, rồi Giám đốc Sở Công an đặc khu Hà Nội. Tháng 9 năm 1951, dưới sự chỉ đạo của ông và lực lượng điệp báo bộ công an, một nữ điệp báo viên thành Hà Nội đã đánh bom cảm tử tàu chiến Pháp. Đây được xem là vụ đánh bom cảm tử đầu tiên trên thế giới bởi phụ nữ. Cô này vác 30 kí lô mìn trong Vali để lên tàu rồi làm nổ mìn và chết theo tiếng nổ của mìn. Được xem là người phụ nữ đầu tiên đánh bom cảm tử trên thế giới. Không biết nhạc sĩ Văn Cao có làm dưới quyền ông này hay không vì theo lời nhạc sĩ Văn Cao kể là khi xưa ông ta là đại uý biệt động, được lệnh giết mấy người thuộc đảng khác, đi hút thuốc phiện,…

Ông Nguyễn Tài và bộ trưởng Trần Công Hoàn


Được cái là ông ta như ông Trường Chinh, tố cáo bố ruột của mình là nhà văn Nguyễn Công Hoan là phản động, giúp đảng cộng sản tin tưởng và được thăng chức làm lớn. Hy sinh đời bố để củng cố đời con.


Tháng 9 năm 1958, ông là Cục trưởng Cục bảo vệ chính trị 2, mật danh KG2 (Bộ Công an). Đầu những năm 1960, ông là người được Lãnh đạo Bộ Công an giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy toàn diện cuộc chiến chống gián điệp - biệt kích, góp phần làm thất bại âm mưu phá hoại miền Bắc của CIA và Việt Nam Cộng Hoà qua Nhà Kỹ Thuật. Bao nhiêu toán biệt kích miền nam được gửi ra bắc bằng tàu hay nhảy dù thì đến nơi đã có Việt Cộng chờ sẵn. Ông Trần Quốc Hùng, tự  Đặng CHí BÌnh có kể lại qua hồi ký của ông ta “Thép Đen”.


Theo nguyện vọng của ông, ngày 21 tháng 3 năm 1964 ông được Trung ương cử vào miền Nam trực tiếp chiến đấu, được xem là "người có cấp cao nhất trong ngành công an từ trước đến lúc đó xâm nhập vào Nam". ông đã có công rất lớn trong việc xây dựng và phát triển Ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định thành một lực lượng vững mạnh, được chính quyền Hà Nội khen thưởng danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngay cả đối phương, trước thời gian ông bị bắt, cũng không nắm được đầy đủ về người lãnh đạo T4.


Sau Mậu Thân thì hệ thống nằm vùng của Việt Cộng tại Sàigòn bị banh ta lông nên họ phải dời ra ngoại ô của Sàigòn đẻ củng cố lực lượng lại. Ngày 23 tháng 12 năm 1970, trên đường đi dự một cuộc họp của Thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, ông bị chận xe và bị bắt trong địa phận tỉnh Bến Tre. Cảnh sát quốc gia chận xe hỏi theo giấy căn cước, ông tên Nguyễn Văn Lắm, sinh ở Định Thủy, Mỏ Cày, Bến Tre, tại sao nói giọng Bắc? Thế là ngọng. Ông giải thích: cha người Bắc, mẹ người Nam, sinh ở quê mẹ nhưng lớn lên ở quê cha, năm 1954 di cư vào Nam, sống ở Bến Tre. 


Để không ảnh hưởng tới tổ chức và nhân sự của Thành ủy (mà ông là ủy viên thường vụ) và Ban An ninh T4 (mà ông là trưởng ban), ông tạo ra một lý lịch giả, tự nhận là Nguyễn Văn Hợp, đại úy của Cục nghiên cứu, mới vào Nam tháng 11-1970 (một tháng trước khi bị bắt), bị bắt trên đường đi Hồng Ngự để được để được giao nhiệm vụ cụ thể, tạo dựng vỏ bọc hợp pháp nhằm qua Pháp hoạt động. (Lời khai này đã gây ra rắc rối cho ông sau năm 1975, trong vấn đề thẩm tra và đánh giá lại quá trình ông bị bắt). Sau này, đối phương phát hiện ra danh tính thật của ông nhờ chỉ điểm của những chiêu hồi viên.


Vào mùa thu năm 1971, cấp trên của ông nGuyễn Tài thay đổi chiến thuật để cứu ông ta. Ngày 9 tháng 10, họ thả thượng sĩ John Sexton bị Việt Cộng bắt với lá thư của ông Trần Bạch Đằng, đứng đầu Sàigòn-Gia Định. Lá thư yêu cầu thả ông Nguyễn Tài và một tù nhân Việt Cộng khác tên Lê Văn Hoài để đổi lấy một công chức toà đại sứ Hoa Kỳ tại Sàigòn tên Douglas Ramsey, bị bắt từ năm 1966 mà Việt Cộng tin ông ta là nhân viên tình báo của Hoa Kỳ. Như phép lạ, các cuộc tra tấn lấy khẩu cung được tạm ngưng. Tình báo mỹ đột phá tư duy là giá trị ông NGuyễn Tài quá lớn hơn họ tưởng trước đây. Mỹ từ chối lời đề nghị của Hà Nội vì cho rằng "Nguyễn Tài quá quan trọng để đánh đổi lấy Ramsey". Sau này, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn, nổi tiếng trong hồi ký của ông Vũ Thư Hiền, nói rằng đó là một hình thức ngăn cản Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thủ tiêu Nguyễn Tài.


Khác với các thẩm vấn viên của Thiệu, các chuyên gia CIA không dùng nhục hình làm biện pháp duy nhất. CIA sử dụng kết hợp các kỹ thuật cả về thể xác lẫn tâm lý trong một phương pháp cùng cực. Việc đầu tiên của CIA là cho xây cho ông Tài một xà-lim đặc biệt ngay trong khuôn viên Trung tâm thẩm vấn quốc gia của Thiệu, một xà-lim hình vuông, mỗi cạnh 2 mét. Các bức tường đều sơn trắng toát khiến tinh thần người tù luôn bị căng thẳng; trần gắn 5 ngọn đèn thắp sáng choang 24 trên 24 giờ nhằm làm cho người tù mất khái niệm về thời gian. Xà-lim kín mít khiến người tù "không bao giờ thấy ánh sáng bình minh của ngày mới", chỉ có một lỗ nhỏ trên cánh cửa ra vào để đưa thức ăn. Tường và cửa đều dày, cách âm, người bên trong không nghe tiếng động bên ngoài. Trên trần có gắn máy thu âm và thu hình ngày đêm truyền hình ảnh và âm thanh sang phòng bên cạnh để các cai ngục có thể bí mật theo dõi mọi hành động và cử chỉ của người tù. Ngoài ra, còn có hệ thống máy lạnh mở ở công suất cao vì CIA biết ông Tài chịu lạnh kém. Ông Frank Snepp gọi xà-lim đặc biệt đó là "môi trường làm mất phương hướng" (disorienting environment). 


Khi bị biệt giam ở đó trong thời gian dài, người tù bị "một sức ép tâm lý mãnh liệt" khiến nhận thức của họ bị rối loạn và có thể tiết lộ thông tin một cách vô ý thức. So với các nhục hình của các thẩm vấn viên của cảnh sát đặc biệt của Việt Nam Cộng Hoà, cách hỏi cung bằng tra tấn tinh thần và tâm lý của các chuyên viên CIA tinh vi hơn, độc ác hơn. Ai buồn đời thì đọc báo Hà Nội theo đường dẫn. Đọc báo Hà Nội và tài liệu của người Mỹ để đối chiếu. Chỉ có vấn đề là tài liệu Việt Nam Cộng Hoà thì không có cho nên cũng không biết bên nào đúng hơn.


Điệp viên Võ Văn Ba tự là X92, thì có thiếu tá Ngưu của Việt Nam Cộng Hoà, cảnh sát đặc biệt vùng Tây Ninh, có kể thêm ông Frank Snepp của CIA và tài liệu báo chí của Hà Nội nên mình có thể tổng hợp được. Còn đây thì hơi khó.


https://dantri.com.vn/thoi-su/anh-hung-nguyen-tai-tai-nang-duc-do-bat-khuat-kien-cuong-1345499681.htm


Ông Nguyễn Tài có tinh thần, ý chí cao thật. Do đó, sau này khi Hoa Kỳ xâm chiếm Iraq, sử dụng tra khảo để lấy cung thì ông frank Snepp chống đối vì đã sử dụng cách tra tấn để lấy khẩu cung với ông Nguyễn Tài. Kinh nghiệm cho thấy người ta đau quá nói bừa nhất là các thành viên sẵn sàng chết cho ISIS,….


Năm 2009, tức gần 40 năm sau, ông Frank Snepp thú nhận "vẫn còn bị ám ảnh bởi những gì tôi đã làm" trong thời gian thẩm vấn ông Tài. Nguyễn Tài tìm cách chống lại các thủ đoạn "làm mất phương hướng" của các thẩm vấn viên CIA. Theo kể rằng, "ông tự động thức dậy lúc 6 giờ sáng mỗi ngày. Lúc đó, ông hát thầm Quốc ca của Bắc Việt Nam, tập các động tác thể dục đơn giản, sáng tác các bài thơ, bài hát trong đầu, chào một ngôi sao mà ông vẽ trên tường xà-lim tượng trưng cho Quốc kỳ của Bắc Việt Nam. Ông lặp đi lặp lại những sinh hoạt đó trong ngày và đi ngủ vào lúc 10 giờ tối mỗi ngày". Mình đọc bài của Hà Nội viết về ông thì được biết ông làm thơ trữ tình nay nọ, chắc bị mất lập trường.


Cuối cùng, họ kết luận: "ông Tài đã đánh bại các phương pháp của KUBARK (mật danh của CIA) vì đã giữ vững thế chủ động cả về thể chất lẫn tinh thần". CIA thừa nhận điều đó: "Phần lớn những thông tin mà ông khai có lẽ chỉ là những thông tin bị làm sai lạc một cách có tính toán". Do đó, trong ba năm... các thẩm vấn viên CIA vật lộn với ông Tài nhưng không thu được hiệu quả". Ông Frank Snepp được giao thẩm vấn 8 tù nhân tại Trung tâm thẩm vấn quốc gia, nhưng ông thú nhận "thẩm vấn Nguyễn Tài là thẩm vấn nhiều thách thức nhất của tôi" và kết luận: cho đến 30-4-1975, "ông Tài đã trải qua hơn bốn năm bị biệt giam trong xà-lim nhưng ông chưa từng khai nhận một cách đầy đủ ông là ai".


Ngày 26-4-1975, khi 5 cánh quân của miền bắc sắp tiến vào Sài Gòn, "một viên chức cao cấp của CIA, gợi ý cho nhà cầm quyền Nam Việt Nam cần làm cho ông Nguyễn Tài biến mất" để tránh việc "ông Tài được giải thoát bởi các đồng chí chiến thắng của ông ta". Tướng Nguyễn Khắc Bình, tư lệnh Cảnh sát quốc gia kiêm đặc ủy trưởng Phủ đặc ủy trung ương tình báo, ra lệnh cho số cầm đầu Trung tâm thẩm vấn quốc gia thủ tiêu ông Tài theo lệnh của CIA. Tuy nhiên, theo ông Pribbenow, "lệnh đến quá trễ. Tất cả các viên chức cao cấp của Phủ đặc ủy trung ương tình báo đang tìm cách chạy trốn khỏi Nam Việt Nam". Bản thân các viên chức CIA trong đó có Frank Snepp cũng lo tháo chạy thoát thân sau khi đưa ông Nguyễn Văn Thiệu ra sân bay để phòng hờ bị ám sát. 


Hai năm sau, 1977, trong lúc quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ đang gián đoạn, ông Frank Snepp hoàn toàn không có tin tức gì về ông Tài, yên trí là ông Nguyễn Khắc Bình đã thi hành lệnh của CIA, nên ông ta viết trong cuốn Decent Interval (Khoảng cách thích đáng): "Tài bị đưa lên một máy bay và bị ném xuống biển Đông ở độ cao 1.000 feet". Sự thật không phải vậy. Ông Pribbenow cho biết: "Các nhân viên cấp dưới (của Trung tâm thẩm vấn quốc gia) sợ bị trừng phạt nếu những người Cộng sản chiến thắng biết họ đã giết Tài", do đó họ "không dám thi hành (lệnh thủ tiêu) vì sợ mang thêm tội với Cách mạng".


Trưa 30-4-1975, một tiểu đoàn thuộc Quân đoàn IV tiến vào Sài Gòn, chiếm Phủ đặc ủy trung ương tình báo. Ông Tài được giải thoát khỏi xà-lim trắng toát sau 4 năm 4 tháng 10 ngày bị biệt giam.



Sau khi ra khỏi nhà tù, ông Nguyễn Tài quay lại làm việc ở trong ngành Công an Việt Nam với chức vụ Ủy viên Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh, Giám đốc Sở Nội vụ TP Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, phụ trách điều tra xét hỏi nhân viên tình báo VNCH sau năm 1975. Rồi ông bị đình chỉ công tác vì có một tài liệu nói ông đã bị CIA sử dụng cùng với một số nội dung về ông trong hồi ký Decent Interval của ông Frank Snepp, chuyên gia CIA từng tham gia thẩm vấn ông. Sau chiến tranh thì quyền lợi đến nên các đồng chí đánh nhau để dành chức phận,….

(Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Chuyện nổ mìn tại rạp Ngọc Lan

 Chuyện nổ mìn tại rạp Ngọc Lan


Nhớ có lần về Đà Lạt, mấy cô bạn học Yersin xưa mời ăn bánh uống trà. Ngồi nói chuyện đời xưa, khi không có cô hỏi mình nhớ Nguyệt Thu không khiến mình ú ớ. Lý do là mấy cô ngồi trước mặt còn không nhớ huống chi nữ đặc công của Việt Cộng học Yersin Đà Lạt. Vụ nổ mìn ở rạp Ngọc Lan khiến mình nhớ đến nhà hàng xóm trên đường Thi Sách có người con chết trong vụ này.



Dạo sau Mậu Thân thì Đà Lạt hay có vụ Việt Cộng đặt mìn. Vụ đầu tiên nếu mình không lầm là vụ anh Paul và ông Thanh, ông bầu của đội túc cầu Đà Lạt. Nghe kể là hai người này vào nhà hàng Nam Sơn ăn rồi khi ra về, bước xuống mấy bậc thang cấp, mở xe thì ầm, lựu đạn hay mìn gì đó nổ tung khiến hai ông này chết queo tại chỗ. Anh Paul là thủ quân đội tuyển đá banh Đà Lạt dạo đó, hình như mới đoạt giải túc cầu, quân khu II, đá bại đội tuyển Phan Thiết, được xem là có nhiều cầu thủ hạng B của đội tuyển Việt Nam Cộng Hoà. Nhà ngay đường Phan đình Phèo, chỗ nhà hàng Cẩm Đô nhìn qua. Sau này qua Văn Học thì có học chung với em của anh ta. Mình đoán là hai ông này làm việc trong chiến dịch Phượng Hoàng.


Sau đó ở cây xăng Ngã Ba Chùa, chỗ cây xăng rồi chỗ quán cơm bên cạnh nhà chồng của bà dì mình, ngay tiệm hớt tóc. Rồi đâu chỗ khu phố I, đường Duy Tân, cũng banh ta lông cuộc đời. Và vụ nổ ở rạp Ngọc Lan. Đó là những vụ nổ mìn mà mình nhớ. 


Có lần con gái tiệm hủ tíu Nam Vang, nay ở Seattle, có liên lạc với mình và gửi tặng vài tấm ảnh của gia đình tại Đà Lạt trước lữ quán Sàigòn trên đường Minh Mạng, cạnh quán bi-da Hồng Ngọc. Họ thuê của ông bà Bùi Duy Chước. Con của bà tiệm hủ tíu kể là sau 75, có một ông nằm vùng nói với mẹ cô ta là lúc xưa, ông ta có lệnh phải đặt mìn ở quán hủ tíu Nam Vang. Lý do là cuối tuần mấy ông sĩ quan Võ Bị, gốc người Nam hay ghé lại đây ăn đông như quân Võ Bị. Hôm đó, ông ta đến ăn và đem gà men để mua về. Ông ta đặt mìn trong gà men, bỏ lại như quên trên bàn rồi đi ra cửa. Tại đây ông thấy một đám trẻ con đang chơi vui vẻ, hát vang như có tô hủ tíu trong ngày vui đại thắng. Nghĩ sao ông ta trở lại bàn và lấy cái gà mên đi. Nếu không là hôm ấy ông ta đạt chiến tích oai hùng giết được vài tên sinh viên nguỵ và một đám trẻ con vô tội tại Đà Lạt. Như nhà thơ Tố Hữu đã kêu gọi “giết , giết nữa, bàn tay không phút nghỉ”


Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ,

Cho ruộng đồng lúa tốt, thuế mau xong,

Cho đảng bền lâu, cùng rập bước chung lòng,

Thờ Mao Chủ tịch, thờ Sít-ta-lin bất diệt”


Nghe con bà bán hủ tíu Nam Vang kể khiến mình rùng mình vì khi xưa có lần mình bị một vố tương tự. Số là ông cụ mình là đoàn trưởng Nhân Dân Tự Vệ của nhà máy nước Đà Lạt. Nên được cấp công xa, chiếc xe Traction màu đen. Sáng mình có nhiệm vụ xuống đường Hai Bà Trưng vì ông cụ đậu xe ở dưới đường Hai bà Trưng, trước nhà ông Bửu Duy. Xe cũ nên không giữ nước nhiều nên mỗi sáng mình phải châm thêm nước vào bình làm giảm nhiệt độ, xem dầu nhớt, lấy cái manivelle quay máy cho nổ máy xe vì thường Đà Lạt buổi sáng lạnh nên khó đề xe. Chuẩn bị trước khi ông cụ chở mấy đứa em đi học nếu không lại mất thêm thời gian, quay xe.


Một hôm mình nghe tiếng Tíc tắc trong xe mà chả biết ở đâu, không thấy cái đồng hồ. Mò khắp nơi không thấy nên khi ông cụ xuống đường với mấy người em để ông cụ chở đi học ở trung tâm giáo dục Hùng Vương thì mình nói có tiếng đồng hồ mà không biết ở đâu. Hai cha con cứ mò mó trong xe trong khi tiếng Tíc tắc cứ kêu đúng quy trình. Mấy đứa em thì đứng ngoài đường, đợi lên xe. Bổng nhiên có một ông trẻ độ 25-30 chạy lại chả nói năng gì cả rồi đưa tay lên trần xe, mò mò dưới tấm vãi rồi rút ra cái đồng hồ con gà nhỏ thường để báo thức buổi sáng. Đến không nói nên đi ông thần cũng chả thốt ra một lời từ biệt, đem cái đồng hồ đi lên phía trường Đa Nghĩa. Mình và ông cụ đứng nhìn theo chỉ ú ớ trong miệng, chả ai lên tiếng hỏi ông thần một câu. Mình đoán là ông thần đặt chất nổ nhưng có lẻ là lần đầu tiên nên làm sai hay sao thấy không nổ nên bò lại lấy cái đồng hồ đi đỡ mất công ra tiệm Tiến Đạt lấy cái khác. Nghe nói ông Tiến Đạt là nằm vùng. Có thể ông thần thấy mấy đứa em mình nên động lòng trắc ẩn nên chạy ra lấy cái đồng hồ và quả mìn đi. Đó chỉ là giả định, ông thần nào lấy cái đồng hồ đi hôm ấy thì cho em biết để em hậu tạ. Chán Mớ Đời 

Đồng chí gái qua ChatGPT


Sau Mậu Thân, cứ đọc báo mỗi ngày là thấy Việt Cộng pháo kích vào nhà dân, thậm chí vào trường học như ở Cái Lậy, họ canh đúng lúc ra chơi nên trẻ em chết vô số kể. Trong phim Áo Lụa Hà Đông, hình như do đạo diễn Lưu Huỳnh thực hiện thì có cảnh cô bé đi học bận cái áo dài của mẹ bị Việt Cộng pháo kích trúng ngay lớp, nằm chết như mơ. Đà Lạt không bị pháo kích. Sau này mới biết là Việt Cộng có pháo kích một lần, đạn trúng xuống ruộng ngay gần bến xe đò cạnh ấp Ánh Sáng. Thiếu tá Lê Xuân Phong, tiểu đoàn trưởng 204 và đại đội trinh sát 302 kể Ông tỉnh trưởng Tuyên Đức mới nhờ Đại đội 302 đi hành quân đem vài xác Việt Cộng về, quăng nơi chỗ bị đạn pháo kích rơi. Mình đoán là để làm gương cho Việt Cộng nhất là đại đội trinh sát đi tuần, hành quân xung quanh Đà Lạt rất nhiều nên Việt Cộng khó đặt đại bác để pháo kích vào thị xã. 


Do đó người Đà Lạt yên vui, người lớn thì rất cảm ơn đại đội trinh sát 302, còn nằm vùng chửi kêu kiêu binh, đánh lộn đánh lạo này nọ. Cho nên ai ở Đà Lạt khi xưa mà ngủ ban đêm không sợ bị Việt Cộng pháo kích là nhờ đại đội trinh sát 302, đi lùng Việt Cộng trong Núi Voi, Cam Ly, mấy vùng thuộc cự ly pháo kích vào Đà Lạt nên không có Việt Cộng đóng ở những địa điểm có thể pháo kích vào Đà Lạt.


Mình chỉ nhớ có hai trận tấn công của nằm vùng; 1 là đồn Nhân dân Tự Vệ ở đường Thi Sách, phiá sau lưng trường Đa Nghĩa, chỗ nhà Tuấn Cao đi lên số 4 một tí. Nguyễn Anh Tuấn, ở trên đường Thi Sách, học chung với mình năm 11B được mấy tháng, rủ mình đi gác Nhân Dân Tự Vệ với hắn nhưng mình tuy ở ấp Đa Thuận, khu phố II nhưng lại có thẻ Nhân dân tự Vệ do ông Ngô LA, chủ tịch khu phố I, quen ông bà cụ mình cấp. Đêm đó, đâu năm 1973, nghe tiếng súng cóc cóc của AK Việt Cộng nổ rồi súng của Nhân dân Tự Vệ, Carbin M1, lâu lâu có tiếng ầm B40. Mình và ông cụ bò dậy đứng trên lầu nhìn qua cửa sổ về hướng số 4, thấy lâu lâu đạn lửa bắn chéo chéo. Kinh. Nên chả buồn đi gác nhân dân tự vệ nữa.


Nhớ ở ngã Ba Chùa có một hợp tác xã rau khi xưa, cạnh nhà bà Mười Võ sau được trưng dụng làm trụ sở Nhân Dân Tự Vệ cho khu vực đường Phan Đình Phùng. Có hai tên nào ở chỗ tiệm xe Tân Tiến cãi nhau, một tên về lấy súng nhân dân tự vệ, chạy qua nhà bắn tên kia cái đùng, chết tươi rồi thằng anh tên bị bắn chết, lấy súng qua nhà bắn lại chết cái đùng. Hai gia đình khi không làm đám ma cho hai đứa con trong một ngày. Chán Mớ Đời 


Nói đến nhân dân tự vệ và cậu Ngô La. Mình không biết có bà con chi với ông Ngô La hay không, bà cụ mình mỗi lần gặp ông Ngô La là kêu chào cậu đi con. Mình ở ấp Đa Thuận, khu phố 2 nhưng ông Ngô La, chủ tịch khu phố I lại ký giấy nhân dân tự vệ cho mình nhưng không phát súng. Có lần tên hàng xóm lớn hơn mình mấy tuổi, học Sàigòn rớt tú tài nên về Đà Lạt, làm khai sanh giả trụt tuổi đi học lại, rủ mình ra phố chơi ban đêm. Gặp giờ linh nên chạy qua trước rạp Hoà Bình bị tuần cảnh chận lại với cò Giao, cò Mạnh. Mình đưa giấy tờ có ông Ngô La đứng ngay đó ký. Mình chào cậu đàng hoàng, rất lịch sự trước mặt CÒ Giao và cò Mạnh, kiểu văn hoá người Việt ngày nay, vỗ ngực kêu biết bố mày là ai không. Cậu Ngô La kêu mi đi mô túi rứa.


Tên hàng xóm mặt xanh như đít nhái, hắn ríu ríu đưa giấy tờ ra nhưng thiếu thẻ học sinh vì chưa vào học, thêm không có giấy nhân dân tự vệ hay hoãn dịch, vì chưa đi học. Cò Giao kêu đứng qua một bên, mình thấy hắn rầu nên đột phá tư duy chạy lại ông Ngô La kêu tên hàng xóm là con ông T. Ông Ngô La ký giấy khai sinh mới cho hắn nên đến nói chi với cò Giao nên cò Giao ra hiệu cho hai thằng đi đi. Sáng hôm sau ông bố của tên hàng xóm la mình như tát nước vào mặt. Hắn rủ mình đi chơi, lớn tuổi hơn mình, mình đã cứu hắn mà còn bị la oan thị kính. Chán Mớ Đời 


Một đêm khác cũng nghe ầm ầm, sáng ra mới khám phá là đêm qua nằm vùng bò về tấn công trung tâm thẩm vấn Đà Lạt, chỗ nhốt nằm vùng trên đường Bá đa Lộc, đi vào trường Lasan Adran. Trưa đi học về thấy họ để mấy cái xác Việt Cộng bị bắn chết nằm trên đường đi xuống ấp Mỹ Lạc thì phải. Có hai người làm ở trung tâm thẩm vấn, là bác Lê Công Oai, bố Lê Công Hùng tập Thái Cực Đạo ở trường Lasan với mình và ông gì ở đường Hai Bà Trưng ngay dốc lên nhà Thương. Bác Oai là chuyên gia bắt nằm vùng như bắt thằng Vui, con bà Thủ trên đường Thi Sách, học sinh Trần Hưng Đạo. Mới ngày nào, còn đánh bi với mình thì được tin theo Việt Cộng bị bắt. Có lần đi tập Thái Cực Đạo ở Adran vào buổi chiều. Bác OAi đi sớm nên chở mình và thằng con bác lên trung tâm thẩm vấn. Bác dẫn mình đi vòng vòng, mở một ca hot thì thất tên Vui ngồi trong đó. Bác kêu khai đi rồi cho về. Khiến mình thất kinh hồn vía vì tên hàng xóm ngày nào còn chơi bắn bi với nhau. May sau 75, mình đi tây chớ ở nhà chắc bị hắn xử liền. Mẹ hắn với bà Thới đì gia đình mệt thở khi ông cụ bị bắt đi tù.


Nghe kể bố thằng Tiến học đại học Đà Lạt, người cao cao đâu 1.8 mét, chuyên gia khảo cung. Bỏ Việt Cộng vào thùng sắt rồi lấy dùi cùi gõ ban đêm. Không biết hai ông này sau 75 ra sao vì nghe Việt Cộng sau 75 đi lùng lính trinh sát 302 để giết. Có người kể là sau 75, Việt Cộng đi kiếm thiếu tá Lê Xuân Phong nói gặp là xử ngay không on đơ gì cả.


Khi mình về Đà Lạt lần đầu tiên thì có ghé thăm ông cậu họ, kêu ông ngoại mình bằng cậu. Ông cậu này kể mới đi Gia-nã-đại về khiến mình tò mò hỏi ông cụ. Lý do là trước 75, ông cậu mình làm trưởng ty hay phó trưởng ty cảnh sát ở Đà Lạt, bên cạnh nhà thờ COn Gà. Thấy cậu hay chạy chiếc xe Jeep xanh trắng kiểu Tuần Cảnh khi lên nhà mình. Mà sao sau 75, lại không đi tù như ông cụ mình. Ông cụ giải thích là cậu mày là nằm vùng rồi chiến dịch Phượng Hoàng khắp nơi, thì có người bị bắt khai là cậu mày cũng có chân trong tổ chức ở Đà Lạt. Thế là ông cậu thấy nguy hiểm nên kêu cấp trên cho đặt mìn để giải toả sự hoài nghi của phía “Nguỵ”. Thế là Việt Cộng nằm vùng cho đặt mìn xa xa nhà của cậu một tí.


Nghe kể chủ mưu vụ đặt mìn là ông thần tên Huỳnh Nhật Hải nhà ở cạnh rạp Ngọc Hiệp chỉ cách 1 con hẻm. Trước 75 nhà ông này cho người tàu thuê bán ăn sáng tên là nhất phẩm Thăng. Còn cô học chung khi xưa mà mình chả biết hay nhớ tên Nguyệt Thu thì phải, cũng là nằm vùng, chắc nhờ phát hiện ra mối tình hữu nghị cách mạng với ông thần Huỳnh Nhật Hải nên cũng dính dán vào vụ đặt chất nổ này. Vấn đề là Việt Cộng họ chơi rất có quy trình, bài bản như trong phim “người Mỹ thầm lặng”. Họ cho nổ một trái mìn nhỏ trước, kiểu cho dân Đà Lạt ăn khai vị trước rồi khi công lực, xe cứu hoả, xe nhà thương, dân tò mò đến thì họ mới cho ăn món chính, trái mìn to gấp mấy lần trái khai vị. Thế là chết nhiều. Nhà hàng xóm trên đường Thi Sách, có người con trai làm lính cứu hoả, đến để cứu người thì bị mìn thứ hai chết cùng 1 người phụ tá, cùng bà mẹ đang có bầu và 2 đứa bé chết cùng 1 lúc. Xem như Việt Cộng giải phóng họ trước 75, khỏi khổ cực như dân Đà Lạt sau 75. Nhớ khi xưa, ông cụ kêu ra đường nghe đặc ông đặt mìn thì đường bao giừo ghé lại tránh xa vì sẽ có mìn thứ 2 hay thứ 3.


Có anh bạn Yersin kể như sau: “Thằng chồng nó (Nguyệt Thu) là chủ tịch ủy ban nhân dân thành phố Đà Lạt tên là Huỳnh Nhật Hải. Thằng anh nó là Huỳnh Nhật Tân Hiệu trưởng trường đào tạo cán bộ tỉnh Lâm đồng. Mẹ nó làm kinh tế cho việt cộng. Hai anh em nó bỏ đảng rồi. Trước 75, 2 anh em nó vào rừng núi voi hoạt động cho cộng sản.”


Mình nghe thiếu tá Phong tiểu đoàn trưởng 204, đại đội 302 kể mỗi lần đi trận về là ghé tắm nước nóng chỗ Ngọc Hiệp, tắm xong anh đợi thằng Nghĩa cắt tóc. Hắn hỏi anh đi hành quân chỗ nào này nọ. Rồi cười kêu ai ngờ nó làm nằm vùng sau 75 mới biết. Mình nhớ ông Kim dưới Trại Hầm hay Trại Mát thầu khoán xây nhà cho bố mẹ mình với ông chi cũng người huế trên Số 4 làm thợ mộc. Sau 75 mới khám phá ra hai người này là nằm vùng. Kinh 


Một anh bạn học khác cho biết: “Có, nhưng chỉ nhớ là khoảng năm 1970, không nhớ ngày , tháng. Chiều tối hôm ấy vừa học xong Anh Văn Hội VMy ở trường ĐTĐiem thì nghe tiếng nổ rất gần và đèn điện trong lớp tẳt tối om. Ông thầy  ( My) ra đứng gần cửa dang bàn tay ra, trong lòng bàn tay có đeo sẵn một đèn pin nhỏ tí xíu nhưng sáng lắm, soi sáng cho mọi người đi ra khỏi lớp. Tớ thích và cứ ngắm cái đèn pin này, ra đường thấy mọi người chạy đi chạy lại nhưng không biết chuyện gì, sáng hôm sau ngủ mới biết !”


Có dạo Đà Lạt có chiến dịch thanh lọc thanh niên nhưng không thanh nữ. Đó là sai lầm của phe ta. Họ bắt hốt hết các thanh niên Đà Lạt đem vào trong Thao Trường để hỏi giấy tờ thanh lọc này nọ. Mình đoán là chương trình Phượng Hoàng. Ông cụ mình dặn mấy ngày không ra phố. (Còn tiếp)


Em phải lên vườn sớm.

Vợ ông Huỳnh Nhật Hải tên là Thúy Sơn ơi, ở đối diện nhà Anh .. 75 hắn báo bộ  đội  kèm mình đi nghỉ mát ngày 8.6.1975

Nguyễn Văn Hoà đúng vậy. Tôi từng học với cô Thuý này

Hôm nổ ở rạp Ngọc Lan, tụi và nhỏ bạn cúp cua đi coi ci nê. Thường tụi tui coi phim nào cũng 2 xuất vì permanent, hên sao bữa đó lại coi có một xuất rồi vừa về tới nhà nghe đồn nổ ở rạp Ngọc Lan mà xanh mặt. Từ đó không dám đi xem phim vì tụi nó ác ôn quá.
Có một vụ nổ ở đường Duy Tân chỗ cái văn phòng của ấp gì đó có bãi đất trống làm thằng bé khoảng 8 tuổi ở sau lưng nhà tui trúng mìn giăng xuống tiệm bún bò đường Phan đình Phùng.
Thật thương tâm.

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn