Con sãi lại quét lá đa

Con thầy chùa quét lá đa

Nhà tâm lý học của đại học Stanford Lewis Terman


Vào thập niên 1920, một nhà tâm lý học của đại học Stanford đã theo dõi những đứa trẻ thiên tài trong suốt 50 năm. Tác giả cuốn sách “Blink” Malcolm Gladwell đã phân tích những gì ông phát hiện về thử nghiệm cảu viện đại học Standford như sau:

Con nhà giàu → thành công. 

Con nhà nghèo → thất bại.

https://en.wikipedia.org/wiki/Lewis_Terman


Không phải chỉ ở mức trung bình mà là thất bại thực sự. Những người có IQ thiên tài nhưng cuối cùng không tạo ra thành tựu đáng kể nào trong cuộc đời. Ông Gladwell từng nói chuyện 60 phút tại Microsoft để giải thích vì sao chúng ta đang hiểu sai về thành công. Ai buồn đời thì xem đường dẫn sau đây:


https://youtu.be/EcMKLwVlpJk?is=zyp7ezu6NiOaU5WU


Nhà tâm lý học của đại học Stanford, tên là giáo sư Lewis Terman. Ông đã cho 250.000 học sinh California làm bài kiểm tra IQ. Ông chọn ra nhóm đứng đầu 0,1%, những đứa trẻ có IQ từ 140 trở lên. Giả thuyết của ông rất đơn giản: những đứa trẻ này sẽ trở thành các nhà lãnh đạo trong học thuật, công nghiệp và chính trị. Ông theo dõi họ trong nhiều thập niên. Kết quả chia thành ba nhóm:

  • 15% đứng đầu đạt được danh tiếng và thành tựu nổi bật.
  • Nhóm ở giữa có cuộc sống nghề nghiệp tương đối thành công, ở mức trung bình khá.
  • Còn nhóm cuối cùng? Theo hầu hết mọi tiêu chuẩn, họ là những người thất bại mà người Mỹ hay gọi Losers.

Sự khác biệt không nằm ở tính cách, không nằm ở thói quen, không nằm ở đạo đức lao động mà rất đơn giản: Những thiên tài thành công xuất thân từ gia đình giàu có trong khi những thiên tài thất bại xuất thân từ gia đình nghèo khó. Nghèo đói là một rào cản mạnh đến mức nó có thể biến một bộ não hiếm có trong hàng tỷ người thành một cuộc đời tầm thường, thậm chí dưới mức trung bình.


Có lẻ họ nhìn kết quả của những thử nghiệm này và sinh ra chủ nghĩa DEI để giúp mọi trẻ em, người lớn được nhiều điệu kiện để thành công như các học sinh thiểu số như gốc la-tinh, da đen được ưu tiên vào đại học trong khi học sinh gốc da vàng tuy là thiểu số, ít hơn ngốc La-tinh và da đen, bị loại ngày vòng gửi xe vì họ nói học sinh á-đông học giỏi rồi.


Có một khái niệm gọi là “tỷ lệ hiện thực hóa tiềm năng” (capitalization rate) đặt ra một câu hỏi đơn giản: Trong số những người có khả năng làm được một điều gì đó, có bao nhiêu phần trăm thực sự làm được điều đó?


Ở khu vực trong thành phố Memphis, chỉ 1 trong 6 học sinh nhận được học bổng thể thao thực sự vào đại học. Nếu tỷ lệ hiện thực hóa tiềm năng trong thể thao ở đây chỉ là 16%, hãy tưởng tượng tỷ lệ đó thấp đến mức nào trong các lĩnh vực khác. Nhưng còn điều kỳ lạ hơn, xem ngày sinh của đội khúc côn cầu trẻ Cộng hòa Séc năm 2007: 12 sinh tháng 1, 24 sinh tháng 2 và 26 sinh tháng 3…


11 trong số 20 cầu thủ sinh vào tháng 1, 2 hoặc 3. Điều này không chỉ xảy ra ở nước Séc. Hầu như mọi đội khúc côn cầu hàng đầu thế giới đều có mô hình tương tự. Các đội bóng đá đỉnh cao cũng vậy. Tại sao? Vì ngày giới hạn độ tuổi cho các giải trẻ là 1 tháng 1. Khi lên 10 tuổi, một đứa trẻ sinh tháng 1 trưởng thành hơn gần 10 tháng so với một đứa trẻ sinh tháng 10. Điều đó có thể tương đương:

  • Cao hơn 7–10 cm.
  • Khỏe hơn.
  • Phối hợp vận động tốt hơn.

Người lớn nhìn vào nhóm trẻ 10 tuổi, chọn ra những đứa “giỏi nhất”, cho chúng huấn luyện đặc biệt, tập luyện nhiều hơn và thi đấu nhiều hơn. Chúng ta nghĩ mình đang chọn tài năng. Thực ra chúng ta đang chọn những đứa trẻ lớn tuổi nhất trong nhóm. Sau đó, chúng ta trao cho chúng nhiều cơ hội hơn. Mười năm sau, chúng thực sự trở thành những người giỏi nhất. Đó là một lời tiên tri tự hoàn thành. Tỷ lệ hiện thực hóa tài năng khúc côn cầu của những đứa trẻ sinh vào nửa cuối năm gần như bằng không. Chúng ta đang bỏ phí một nửa nguồn tài năng tiềm năng chỉ vì một ngày tùy ý trên tờ lịch. Những đứa trẻ nhỏ tuổi nhất trong lớp học có khả năng vào đại học thấp hơn 11%. 11% tiềm năng con người bị lãng phí chỉ vì cách chúng ta tổ chức trường học mà không tính đến mức độ trưởng thành sinh học.


Mình nhớ hồi mấy đứa con còn nhỏ, muốn vào đại học cần phải có những sinh hoạt ngoại khoá như chơi nhạc, thể thao, hướng đạo nên mình cho chúng chơi thể thao, hy vọng được học bổng ở đại học. Sau này con mình bơi khá khá lúc bé, đứng đầu độ ở địa vị 10 vùng này nhưng sau khi quen với ông Bruce Furniss, có con bơi chung đội, ông này đoạt huy chương vàng thế vận hội cự ly 200 mét. Ông ta nói là vô đại học chỉ bơi cho đại học nên sinh viên chỉ học mấy môn dễ mà ai không được gì cả thì về sau chả có nghề gì cả ngoài đi huấn luyện trẻ em khác. Thậm chí đoạ huy chương vàng như ông cũng đi bán địa ốc. Chán Mớ Đời 


Giờ đến toán học. Học sinh châu Á thường vượt trội đáng kể so với học sinh phương Tây trong môn toán. Khoảng cách này lớn và ổn định qua nhiều thập kỷ. Một số người cho rằng đó là do di truyền. Gladwell cho rằng không phải mà là do thái độ. Khi học sinh châu Á gặp một bài toán khó, các em tin rằng: Nỗ lực sẽ giải quyết được vấn đề. Khi nhiều học sinh phương Tây gặp một bài toán khó, các em thường nghĩ: Mình hoặc có năng khiếu toán học, hoặc không.


Bằng chứng là gì? Các bài kiểm tra toán quốc tế thường đi kèm một bảng khảo sát dài khoảng 120 câu hỏi. Nó hỏi về:

  • Thói quen học tập
  • Sự hỗ trợ của cha mẹ
  • Thái độ học tập

Bảng khảo sát dài đến mức nhiều học sinh không hoàn thành nổi. Một nhà nghiên cứu tên là Erling Boe đã xếp hạng các quốc gia theo tỷ lệ học sinh hoàn thành bảng khảo sát này. Sau đó ông so sánh với bảng xếp hạng thành tích toán học. Hệ số tương quan là 0,98. Một con số cực kỳ cao trong khoa học xã hội. Ý tưởng là: Nếu muốn biết một quốc gia giỏi toán đến mức nào, có khi bạn chẳng cần hỏi câu toán nào cả. Chỉ cần xem học sinh của họ có thể ngồi tập trung vào một nhiệm vụ trong thời gian dài hay không. Nếu làm được, khả năng cao họ cũng giỏi toán. Năm nay học sinh mỹ đoạt giải toán trên thế giới, xem hình thì chỉ toàn là học gốc sinh á-đông.


Tại sao các nền văn hóa Đông Á lại có thái độ đó? Lý thuyết của cuốn sách của ông Gladwell: Nền văn minh lúa nước. Tổ tiên người Anh thời Trung cổ làm việc khoảng 1.000 giờ mỗi năm từ bình minh đến trưa, 5 ngày mỗi tuần, nghỉ mùa đông. Có nhiều ngày lễ trong khi đó, một nông dân trồng lúa ở miền Nam Trung Quốc hoặc Nhật Bản có thể làm việc tới 3.000 giờ mỗi năm. Trồng lúa không chỉ vất vả hơn trồng lúa mì. Nó tạo ra một mối quan hệ hoàn toàn khác với lao động. Có câu tục ngữ Trung Hoa: “Người làm việc từ sáng đến tối suốt 360 ngày trong năm sẽ không bị đói.” Tinh thần ấy được truyền qua nhiều thế hệ. Khi con cháu họ ngồi giải một bài toán vi tích phân, di sản về sự kiên trì ấy vẫn còn đó.


Ở Kenya có khoảng một triệu nam sinh từ 10 đến 17 tuổi chạy từ 16–19 km mỗi ngày. Ở Hoa Kỳ, con số tương tự có lẽ chỉ khoảng 5.000. Tỷ lệ hiện thực hóa tiềm năng chạy đường dài ở Mỹ dưới 1%. Ở Kenya có thể lên tới 95%. Sự khác biệt không nhất thiết nằm ở gen, mà nằm ở những gì nền văn hóa coi trọng và đầu tư sự chú ý vào. Hồi mình mới qua Tây, người Mỹ đánh quần vợt đoạt nhiều giải quốc tế như Jimmy Connors, John McCanroe, ông gì họ Ash, người da đen,… lý do là họ được đào tạo trong các trường huấn luyện tại Hoa Kỳ từ bé. Nhưng rồi từ từ các người ngoại quốc có tiền cho con qua mỹ tập thì từ từ họ chiếm hết các giải quần vợt. Các tay bơi lội ngoại quốc đa số đều được các đại học Hoa Kỳ huấn luyện,… cô Ánh Viên của Hà Nội cũng qua Mỹ học tập để được huấn luyện.


Mình đọc một tài liệu lý giải lý do người Na-Uy tuy dân ít mà lại đoạt nhiều huy chương vàng thế vận hội mùa đông. Lý do là xứ này có nhiều tuyết, văn hoá của họ không ở trong nhà mà ra thiên nhiên nên từ bé đã được huấn luyện chơi thể thao ngoài trời dù trời lạnh. Văn hoá đó đã khiến họ thi đấu thể thao mùa đông rất giỏi. Tương tự xứ Hoà-Lan có nhiều kênh nước và bằng phẳng nên vào mùa đông các con kênh bị đống băng, nên dân họ ra đường và chơi trượt băng trên các con kênh nên họ rất giỏi và chiếm gần hết các huy chương về trượt băng. 


Khoảng 30% doanh nhân Mỹ từng được chẩn đoán mắc chứng khó đọc (dyslexia) nghiêm trọng như mấy ông tỷ phú Richard Branson, Charles Schwab, John Chambers gặp khó khăn đáng kể trong việc đọc. Điều này không hẳn là ngẫu nhiên. Theo Gladwell, tinh thần doanh nhân của họ phần nào được hình thành từ chính khó khăn đó. Nếu từ nhỏ họ không đọc và viết dễ dàng như người khác, họ buộc phải:

  • Học cách giao việc.
  • Học cách giao tiếp bằng lời nói.
  • Học cách giải quyết vấn đề.
  • Học cách lãnh đạo.

80% doanh nhân mắc chứng khó đọc từng là đội trưởng đội thể thao ở trường trung học. Ở nhóm không mắc chứng khó đọc, tỷ lệ chỉ khoảng 30%. Khi bước vào đời, họ đã luyện tập suốt nhiều năm bốn kỹ năng cốt lõi của doanh nhân:

  • Giao việc, uỷ nhiệm
  • Giao tiếp
  • Giải quyết vấn đề
  • Lãnh đạo

Nhiều người trong số họ không xem chứng khó đọc là trở ngại. Họ xem đó là lý do khiến họ thành công, một bất lợi đã được chuyển hóa thành lợi thế.


Điều ông Gladwell muốn chúng ta hiểu: Khi nhìn thấy sự khác biệt về thành công, chúng ta thường mặc định rằng nguyên nhân là do sự khác biệt về năng lực.”” Nhưng chúng ta thường quên:

  • Nghèo đói có thể bóp nghẹt tài năng. Mình nhớ Lua Viet Organization có tặng học bổng cho sinh viên nghèo, nhiều người được học bổng đã tốt nghiệp, có người tốt nghiệp y khoa. Nếu không có học bổng giúp đỡ thì chúng ta đã mất đi những người hữu dụng giúp đỡ cộng đồng.
  • Môi trường có thể giới hạn tiềm năng. Khi sống trong một môi trường bị trù dập vì lý lịch thì khó mà tiến thân được điển hình ông giáo sư Montagnier, đoạt giải Nobel về y khoa nhơ phát hiện ra HIV để có thể chữa trị nhưng sau đó ông ta khám phá ra điện giải về tế bào thì hội đồng y khoa Pháp cấm và bị trù dập nên phải chạy qua Trung Cộng để nghiên cứu thêm.
  • Thái độ và văn hóa có thể quyết định kết quả.
  • Những quy tắc tưởng như vô hại của xã hội có thể loại bỏ rất nhiều người tài.

Chúng ta thích tin rằng xã hội trọng dụng nhân tài hoàn toàn công bằng nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều. Lập luận về “tỷ lệ hiện thực hóa tiềm năng” mang lại một góc nhìn đầy hy vọng: Khi một nhóm người đang gặp khó khăn, đừng vội kết “luận rằng họ kém năng lực.


Rất nhiều vấn đề tưởng như do bẩm sinh hay di truyền thực chất chỉ là những tiềm năng chưa được khai thác đúng cách và điều đó có nghĩa là chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi kết quả của con người, nếu chúng ta biết chú ý và tạo ra cơ hội phù hợp.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

NGƯỜI PHÁT HIỆN RA HIV BỊ CÔ LẬP TẠI PHÁP.

 NGƯỜI PHÁT HIỆN RA HIV BỊ CÔ LẬP TẠI PHÁP.

Hôm nay đọc một tài liệu khiến mình liên tưởng đến cuốn sách của một bác sĩ người Ba-Tư mà mình dịp đọc cách đây đâu 20 năm. “Chúng ta không đau mà chúng ta khát nước”. Tên ông này dài nên sẽ tải hình cuốn sách nếu ai thích thì mua về đọc. Mỗi lần cơ thể thấy khó chịu, ớn lạnh hay cái cổ lộn xộn là mình uống nước như trong cuốn sách giải thích thì như phép lạ hết bệnh. Từ đó cứ mỗi lần ho hen là cứ uống nước ấm mệt nghỉ, sau này học được chiêu là ngậm muối Bretagne mà Mỹ gọi celtic salt. Rẻ tiền.


Mình có kể vụ này, ai buồn đời tìm trên bờ lốc. Ông này bị công an, mật vụ của mấy ông ayatollah bỏ tù, nhờ đó mới tìm ra phương pháp chữa trị bệnh bằng uống nước. Sau này qua Mỹ, ông ta có bệnh nhân đến từ các xứ ả rập đẻ chữa bệnh. Ông ta cho uống nước là thông ngay. Ông ta giải thích là cơ thể có đến 70% là chất lỏng, nước nên cần uống nước nếu không các tế bào không được tiếp tế Oxygen, nước…nên uống nước, ông ta có vẽ sơ đờ lý do các tế bào có nước sẽ nở và có điện giải thêm ăn muối vào thì khỏe như tây ba lô. Dạo ấy đọc htif hiểu tạm tạm nay đọc tài liệu về ông tây, khôi nguyên Nobel về y học thì bắt đầu hiểu thêm một chút.

Cuốn sách này mình đọc khá lâu rồi, nay mới hiểu được một phần lý do khi đau, uống nước ấm thay vì ăn là hết bệnh


Ông Luc Montagnier là người pháp đoạt Giải Nobel Y học năm 2008 nhờ khám phá ra HIV. Ông là nhà vi trùng học danh tiếng nhất nước Pháp, đã dành hơn 50 năm làm việc tại Viện Pasteur. Ông được xem là một thần tượng khoa học pháp hiện đại không thể bị lung lay. Nhưng rồi ông chạm vào một chủ đề mà nhiều người cho là kỵ huý “không nên chạm tới” khiến cuối đời ông ta phải tha hương sang Trung Cộng để tiếp tục nghiên cứu để giúp đời. 


Năm 1983, nhóm nghiên cứu của ông tại Viện Pasteur lần đầu tiên phân lập được loại virus sau này được xác định là HIV, tác nhân gây bệnh AIDS. Dạo ấy ở Pháp, thiên hạ hoan hô ăn mừng vì thấy thiên hạ chết vì HIV mà không có thuốc chửa. Đây là một trong những khám phá y học quan trọng nhất của thế kỷ XX. Tuy nhiên, việc ai là người thực sự phát hiện HIV đã dẫn đến một cuộc tranh chấp khoa học và chính trị kéo dài giữa nhóm của ông Montagnier ở Pháp và nhóm của ông Robert Gallo tại Hoa Kỳ. Cuối cùng, cộng đồng khoa học công nhận rằng cả hai nhóm đều có đóng góp quan trọng, nhưng công lao phát hiện ban đầu thuộc về nhóm của ông Montagnier.


Ngay cả trước khi nổi tiếng với các nghiên cứu gây tranh cãi, ông Montagnier đã có xu hướng suy nghĩ vượt ra ngoài khuôn khổ thông thường. Ông quan tâm đến:

  • Vai trò của stress oxy hóa trong bệnh tật
  • Hệ vi sinh vật đường ruột
  • Ảnh hưởng của dinh dưỡng lên miễn dịch
  • Các yếu tố môi trường tác động đến sức khỏe

Một số ý tưởng này ngày nay đã trở nên phổ biến, mặc dù vào thời điểm đó chúng chưa được chú ý nhiều. Ai buồn đời thì đọc tiểu sử của ông ta theo đường dẫn:


https://www.science.org/doi/10.1126/science.abo7630


Năm 2009, ông Montagnier thay vì hưu trí sau khi lên đỉnh vinh quang của nhà khoa học, ông tiếp tục nghiên cứu một đề tài mới, thực hiện một thí nghiệm dường như đi ngược lại những nguyên lý sinh học phân tử đang được giảng dạy tại các trường đại học trên thế giới. Ông lấy một ống nghiệm kín chứa một đoạn DNA của vi khuẩn hòa tan trong nước. Bên cạnh đó là một ống nghiệm kín khác chỉ chứa nước tinh khiết đã được khử trùng hoàn toàn. Không có DNA. Không có tạp nhiễm. Không có gì khác.


Ông đặt cả hai ống dưới tác động của một trường điện từ yếu ở tần số 7 Hz trong suốt 18 giờ. Sau đó, ông tiến hành phản ứng PCR trên ống nước tinh khiết, tức ống chưa từng chứa DNA. Kết quả được cho là đã tạo ra một trình tự DNA giống với trình tự trong ống còn lại với độ chính xác 98%. Chỉ có 98% nên các khoa học gia khác không chấp nhận sự việc, gây tranh cãi.

Theo mô tả của thí nghiệm, DNA không hề di chuyển vật lý giữa hai ống nghiệm. Không có phân tử nào vượt qua rào cản. Thứ được cho là đã truyền qua là tín hiệu điện từ. DNA trong ống thứ nhất phát ra một tần số. Tần số đó được truyền qua trường điện từ sang ống thứ hai. Nước trong ống thứ hai nhận tín hiệu và tự sắp xếp theo cấu trúc DNA tương ứng. DNA “dịch chuyển” thông qua tần số. Thông qua


Ông Montagnier đã công bố kết quả này, trình bày tại các hội nghị khoa học và tuyên bố công khai rằng nhà khoa học Jacques Benveniste từng bị chỉ trích dữ dội vì cho rằng nước có “trí nhớ” có thể đã đúng. Ông cho rằng tương lai của y học sẽ dựa trên điện từ học chứ không chỉ là hóa học. Như vậy thì các công ty dược phẩm làm sao kiếm tiền. Như trường hợp ông bác sĩ người ba-tư viết cuốn sách ít ai nói tới vì hồn nước trị bệnh thì dược sĩ không bán thuốc được. 


Phản ứng tại Pháp được cho là rất gay gắt. Nhiều đồng nghiệp tại Viện Pasteur giữ khoảng cách với ông. Truyền thông Pháp gọi những ý tưởng này là giả khoa học. Người từng được tôn vinh là anh hùng quốc gia suốt 25 năm bỗng bị đối xử như thể ông đã đánh mất sự tỉnh táo, bị bệnh vĩ cuồng. 


Buồn đời ông Montagnier sau đó chuyển sang Trung Cộng, nơi Đại học Giao thông Thượng Hải (Shanghai Jiao Tong University) cấp cho ông phòng thí nghiệm và kinh phí để tiếp tục nghiên cứu. Trong một cuộc phỏng vấn, ông nói:

“Tôi không thể làm công việc này ở Pháp. Có một dạng khủng bố trí thức từ những người không hiểu vấn đề.”


Một người đoạt Nobel phải rời khỏi chính quê hương mình vì đã chứng minh rằng DNA giao tiếp bằng tần số điện từ và nước là môi trường truyền tải.


nước.


Nếu bắt chước học sinh trung học khi xưa,  suy nghĩ về ý nghĩa của thí nghiệm này. Nếu DNA phát ra tín hiệu có thể được nước thu nhận và tái tạo thành một trình tự di truyền vật lý, thì cơ thể con người không chỉ là tập hợp của các phân tử. Nó là một hệ thống phát sóng. Mỗi tế bào trong cơ thể đều truyền tải thông tin di truyền của mình dưới dạng điện từ vào lượng nước bao quanh nó. Và nước sẽ tiếp nhận, lưu trữ rồi truyền lại tín hiệu đó cho các tế bào khác.


Theo cách nhìn này, cơ thể là một mạng lưới điện từ tự tổ chức, sử dụng nước làm môi trường giao tiếp. Bệnh tật không phải là sự hỏng hóc ngẫu nhiên mà là một tín hiệu bị sai lệch lan truyền trong mạng lưới dựa trên nước. Sửa lại tín hiệu, mạng lưới sẽ tự điều chỉnh. Mỗi khi mình cảm thấy cơ thể khó chịu bần thần thì uống nước và ngậm chút muối biển Bretagne thì vài tiếng sau cơ thể từ từ hết lộn xộn. 



Cho hai ống bên cạnh rồi xả điện từ trường 


Ông Montagnier hiểu điều đó, đã chứng minh điều đó, thậm chí có tấm khiên là Giải Nobel nhưng chừng đó vẫn chưa đủ để thiên hạ tin tưởng xem xét thử nghiệm của ông ta. Ông qua đời năm 2022 và các cáo phó chủ yếu nhắc đến khám phá HIV. Hầu như không ai nhắc đến thí nghiệm đã định hình thập niên cuối đời của ông. Thí nghiệm được cho là chứng minh rằng sinh học mang bản chất điện từ khiến một ngành công nghiệp dựa trên giả định ngược lại phải lo ngại và tìm cách trừ khử. Tương tự nhiều bác sĩ lên tiếng về cách chữa bệnh tiểu đường khiến họ phải bị trù dập, thậm chí có người bị tước bằng hành nghề. Nếu công bố ra thì hay chữa theo những thương pháp này thì các công ty dược phẩm đói. Chán Mớ Đời 



Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Histotripsy, cách chữa bệnh ung thư mới

 Histotripsy, cách chữa bệnh ung thư mới 

Việc FDA phê duyệt Hệ thống Edison (Edison System) đánh dấu một bước tiến công nghệ quan trọng trong lĩnh vực ung thư can thiệp, mang đến một giải pháp cơ học có độ chính xác cao thay thế cho các phương pháp đốt u bằng nhiệt hoặc phẫu thuật cắt bỏ truyền thống. Mỗ xẻ sẽ khiến bệnh nhân mất sức, sau khi giải phẫu và nhiều khi yếu quá thì đi đoong luôn.


Công nghệ nền tảng của hệ thống này, được gọi là histotripsy, sử dụng các sóng âm hội tụ cường độ cao thay vì nhiệt hay bức xạ để phá hủy mô đích. Khi các sóng âm này đi xuyên qua da, chúng hội tụ chính xác vào thể tích khối u đã được xác định trước.


Sự luân phiên cực nhanh giữa áp suất cao và áp suất thấp tạo ra các vi bọt khí từ lượng khí tự nhiên hòa tan trong mô, một hiện tượng được gọi là cavitation âm học (acoustic cavitation).


Chỉ trong vài phần triệu giây, các vi bọt khí này giãn nở rồi sụp đổ dữ dội, tạo ra những lực cơ học cực mạnh tại chỗ, phá vỡ màng tế bào và làm khối u hóa lỏng thành các mảnh vụn tế bào vô hại. Mình không biết mấy tế bào vô hại sẽ đi về đâu, làm sao trục xuất khỏi cơ thể. Ai biết cho mình thêm tin tức.


Do histotripsy hoạt động hoàn toàn dựa trên cơ chế cơ học, nó tránh được hiện tượng gọi là “heat sink effect” (hiệu ứng tản nhiệt), một hạn chế thường gặp trong các liệu pháp nhiệt, khi các mạch máu lớn gần khối u hấp thụ nhiệt và làm giảm hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư ở vùng lân cận.


Ngoài ra, ngưỡng năng lượng cơ học cần thiết để làm vỡ màng tế bào khác nhau tùy theo từng loại mô. Các bác sĩ điện quang can thiệp có thể lập trình các đầu phát sóng để nhắm chính xác vào ngưỡng phá hủy của mô ung thư, đồng thời bảo tồn các cấu trúc lành chắc chắn hơn như mạch máu gan và ống mật.


Khả năng bảo tồn cấu trúc đặc biệt này giúp giảm đáng kể nguy cơ xuất huyết trong và rò mật, cho phép điều trị hiệu quả các khối u gan nguyên phát cũng như các tổn thương di căn nằm sát những cấu trúc quan trọng mà trước đây được xem là không thể phẫu thuật.


Histotripsy khác gì so với các phương pháp hiện nay?

Phương pháp

Cơ chế

Ưu điểm

Nhược điểm

Đốt sóng cao tần (RFA)

Nhiệt

Đã sử dụng rộng rãi

Bị ảnh hưởng bởi heat sink effect

Vi sóng (Microwave Ablation)

Nhiệt

Đốt nhanh hơn RFA

Vẫn có nguy cơ tổn thương mô lành

Xạ trị

Bức xạ ion hóa

Không cần xâm lấn

Có thể ảnh hưởng mô xung quanh

Phẫu thuật cắt gan

Cắt bỏ mô

Có thể chữa khỏi một số trường hợp

Đại phẫu, nhiều biến chứng

Histotripsy

Lực cơ học từ siêu âm hội tụ

Không cần rạch da, bảo tồn mạch máu và ống mật

Công nghệ mới, hiện chỉ áp dụng cho một số chỉ định

Điều đáng ghi là ngoài việc phá hủy khối u, một số nghiên cứu trên động vật cho thấy histotripsy còn có thể kích thích hệ miễn dịch nhận diện các tế bào ung thư còn sót lại ở nơi khác trong cơ thể. Hiện các nhà khoa học đang nghiên cứu liệu hiệu ứng này có thể giúp chống di căn hay không. Nếu chống được di căn thì quá tốt.



Hệ thống được FDA phê duyệt đầu tiên là Edison Histotripsy System của HistoSonics⁠, ban đầu dành cho điều trị một số loại u gan. Nhiều nghiên cứu hiện đang được tiến hành để mở rộng sang ung thư thận, tụy, tuyến tiền liệt và các khối u khác.


Để mình tìm thêm tin tức về vụ này xem. Chưa biết nhà thương nào sử dụng loại phương pháp này. Ai biết thì cho em hay để bổ túc thêm.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn