Con thầy chùa quét lá đa
Nhà tâm lý học của đại học Stanford Lewis TermanVào thập niên 1920, một nhà tâm lý học của đại học Stanford đã theo dõi những đứa trẻ thiên tài trong suốt 50 năm. Tác giả cuốn sách “Blink” Malcolm Gladwell đã phân tích những gì ông phát hiện về thử nghiệm cảu viện đại học Standford như sau:
Con nhà giàu → thành công.
Con nhà nghèo → thất bại.
https://en.wikipedia.org/wiki/Lewis_Terman
Không phải chỉ ở mức trung bình mà là thất bại thực sự. Những người có IQ thiên tài nhưng cuối cùng không tạo ra thành tựu đáng kể nào trong cuộc đời. Ông Gladwell từng nói chuyện 60 phút tại Microsoft để giải thích vì sao chúng ta đang hiểu sai về thành công. Ai buồn đời thì xem đường dẫn sau đây:
https://youtu.be/EcMKLwVlpJk?is=zyp7ezu6NiOaU5WU
Nhà tâm lý học của đại học Stanford, tên là giáo sư Lewis Terman. Ông đã cho 250.000 học sinh California làm bài kiểm tra IQ. Ông chọn ra nhóm đứng đầu 0,1%, những đứa trẻ có IQ từ 140 trở lên. Giả thuyết của ông rất đơn giản: những đứa trẻ này sẽ trở thành các nhà lãnh đạo trong học thuật, công nghiệp và chính trị. Ông theo dõi họ trong nhiều thập niên. Kết quả chia thành ba nhóm:
- 15% đứng đầu đạt được danh tiếng và thành tựu nổi bật.
- Nhóm ở giữa có cuộc sống nghề nghiệp tương đối thành công, ở mức trung bình khá.
- Còn nhóm cuối cùng? Theo hầu hết mọi tiêu chuẩn, họ là những người thất bại mà người Mỹ hay gọi Losers.
Sự khác biệt không nằm ở tính cách, không nằm ở thói quen, không nằm ở đạo đức lao động mà rất đơn giản: Những thiên tài thành công xuất thân từ gia đình giàu có trong khi những thiên tài thất bại xuất thân từ gia đình nghèo khó. Nghèo đói là một rào cản mạnh đến mức nó có thể biến một bộ não hiếm có trong hàng tỷ người thành một cuộc đời tầm thường, thậm chí dưới mức trung bình.
Có lẻ họ nhìn kết quả của những thử nghiệm này và sinh ra chủ nghĩa DEI để giúp mọi trẻ em, người lớn được nhiều điệu kiện để thành công như các học sinh thiểu số như gốc la-tinh, da đen được ưu tiên vào đại học trong khi học sinh gốc da vàng tuy là thiểu số, ít hơn ngốc La-tinh và da đen, bị loại ngày vòng gửi xe vì họ nói học sinh á-đông học giỏi rồi.
Có một khái niệm gọi là “tỷ lệ hiện thực hóa tiềm năng” (capitalization rate) đặt ra một câu hỏi đơn giản: Trong số những người có khả năng làm được một điều gì đó, có bao nhiêu phần trăm thực sự làm được điều đó?
Ở khu vực trong thành phố Memphis, chỉ 1 trong 6 học sinh nhận được học bổng thể thao thực sự vào đại học. Nếu tỷ lệ hiện thực hóa tiềm năng trong thể thao ở đây chỉ là 16%, hãy tưởng tượng tỷ lệ đó thấp đến mức nào trong các lĩnh vực khác. Nhưng còn điều kỳ lạ hơn, xem ngày sinh của đội khúc côn cầu trẻ Cộng hòa Séc năm 2007: 12 sinh tháng 1, 24 sinh tháng 2 và 26 sinh tháng 3…
11 trong số 20 cầu thủ sinh vào tháng 1, 2 hoặc 3. Điều này không chỉ xảy ra ở nước Séc. Hầu như mọi đội khúc côn cầu hàng đầu thế giới đều có mô hình tương tự. Các đội bóng đá đỉnh cao cũng vậy. Tại sao? Vì ngày giới hạn độ tuổi cho các giải trẻ là 1 tháng 1. Khi lên 10 tuổi, một đứa trẻ sinh tháng 1 trưởng thành hơn gần 10 tháng so với một đứa trẻ sinh tháng 10. Điều đó có thể tương đương:
- Cao hơn 7–10 cm.
- Khỏe hơn.
- Phối hợp vận động tốt hơn.
Người lớn nhìn vào nhóm trẻ 10 tuổi, chọn ra những đứa “giỏi nhất”, cho chúng huấn luyện đặc biệt, tập luyện nhiều hơn và thi đấu nhiều hơn. Chúng ta nghĩ mình đang chọn tài năng. Thực ra chúng ta đang chọn những đứa trẻ lớn tuổi nhất trong nhóm. Sau đó, chúng ta trao cho chúng nhiều cơ hội hơn. Mười năm sau, chúng thực sự trở thành những người giỏi nhất. Đó là một lời tiên tri tự hoàn thành. Tỷ lệ hiện thực hóa tài năng khúc côn cầu của những đứa trẻ sinh vào nửa cuối năm gần như bằng không. Chúng ta đang bỏ phí một nửa nguồn tài năng tiềm năng chỉ vì một ngày tùy ý trên tờ lịch. Những đứa trẻ nhỏ tuổi nhất trong lớp học có khả năng vào đại học thấp hơn 11%. 11% tiềm năng con người bị lãng phí chỉ vì cách chúng ta tổ chức trường học mà không tính đến mức độ trưởng thành sinh học.
Mình nhớ hồi mấy đứa con còn nhỏ, muốn vào đại học cần phải có những sinh hoạt ngoại khoá như chơi nhạc, thể thao, hướng đạo nên mình cho chúng chơi thể thao, hy vọng được học bổng ở đại học. Sau này con mình bơi khá khá lúc bé, đứng đầu độ ở địa vị 10 vùng này nhưng sau khi quen với ông Bruce Furniss, có con bơi chung đội, ông này đoạt huy chương vàng thế vận hội cự ly 200 mét. Ông ta nói là vô đại học chỉ bơi cho đại học nên sinh viên chỉ học mấy môn dễ mà ai không được gì cả thì về sau chả có nghề gì cả ngoài đi huấn luyện trẻ em khác. Thậm chí đoạ huy chương vàng như ông cũng đi bán địa ốc. Chán Mớ Đời
Giờ đến toán học. Học sinh châu Á thường vượt trội đáng kể so với học sinh phương Tây trong môn toán. Khoảng cách này lớn và ổn định qua nhiều thập kỷ. Một số người cho rằng đó là do di truyền. Gladwell cho rằng không phải mà là do thái độ. Khi học sinh châu Á gặp một bài toán khó, các em tin rằng: Nỗ lực sẽ giải quyết được vấn đề. Khi nhiều học sinh phương Tây gặp một bài toán khó, các em thường nghĩ: Mình hoặc có năng khiếu toán học, hoặc không.
Bằng chứng là gì? Các bài kiểm tra toán quốc tế thường đi kèm một bảng khảo sát dài khoảng 120 câu hỏi. Nó hỏi về:
- Thói quen học tập
- Sự hỗ trợ của cha mẹ
- Thái độ học tập
Bảng khảo sát dài đến mức nhiều học sinh không hoàn thành nổi. Một nhà nghiên cứu tên là Erling Boe đã xếp hạng các quốc gia theo tỷ lệ học sinh hoàn thành bảng khảo sát này. Sau đó ông so sánh với bảng xếp hạng thành tích toán học. Hệ số tương quan là 0,98. Một con số cực kỳ cao trong khoa học xã hội. Ý tưởng là: Nếu muốn biết một quốc gia giỏi toán đến mức nào, có khi bạn chẳng cần hỏi câu toán nào cả. Chỉ cần xem học sinh của họ có thể ngồi tập trung vào một nhiệm vụ trong thời gian dài hay không. Nếu làm được, khả năng cao họ cũng giỏi toán. Năm nay học sinh mỹ đoạt giải toán trên thế giới, xem hình thì chỉ toàn là học gốc sinh á-đông.
Tại sao các nền văn hóa Đông Á lại có thái độ đó? Lý thuyết của cuốn sách của ông Gladwell: Nền văn minh lúa nước. Tổ tiên người Anh thời Trung cổ làm việc khoảng 1.000 giờ mỗi năm từ bình minh đến trưa, 5 ngày mỗi tuần, nghỉ mùa đông. Có nhiều ngày lễ trong khi đó, một nông dân trồng lúa ở miền Nam Trung Quốc hoặc Nhật Bản có thể làm việc tới 3.000 giờ mỗi năm. Trồng lúa không chỉ vất vả hơn trồng lúa mì. Nó tạo ra một mối quan hệ hoàn toàn khác với lao động. Có câu tục ngữ Trung Hoa: “Người làm việc từ sáng đến tối suốt 360 ngày trong năm sẽ không bị đói.” Tinh thần ấy được truyền qua nhiều thế hệ. Khi con cháu họ ngồi giải một bài toán vi tích phân, di sản về sự kiên trì ấy vẫn còn đó.
Ở Kenya có khoảng một triệu nam sinh từ 10 đến 17 tuổi chạy từ 16–19 km mỗi ngày. Ở Hoa Kỳ, con số tương tự có lẽ chỉ khoảng 5.000. Tỷ lệ hiện thực hóa tiềm năng chạy đường dài ở Mỹ dưới 1%. Ở Kenya có thể lên tới 95%. Sự khác biệt không nhất thiết nằm ở gen, mà nằm ở những gì nền văn hóa coi trọng và đầu tư sự chú ý vào. Hồi mình mới qua Tây, người Mỹ đánh quần vợt đoạt nhiều giải quốc tế như Jimmy Connors, John McCanroe, ông gì họ Ash, người da đen,… lý do là họ được đào tạo trong các trường huấn luyện tại Hoa Kỳ từ bé. Nhưng rồi từ từ các người ngoại quốc có tiền cho con qua mỹ tập thì từ từ họ chiếm hết các giải quần vợt. Các tay bơi lội ngoại quốc đa số đều được các đại học Hoa Kỳ huấn luyện,… cô Ánh Viên của Hà Nội cũng qua Mỹ học tập để được huấn luyện.
Mình đọc một tài liệu lý giải lý do người Na-Uy tuy dân ít mà lại đoạt nhiều huy chương vàng thế vận hội mùa đông. Lý do là xứ này có nhiều tuyết, văn hoá của họ không ở trong nhà mà ra thiên nhiên nên từ bé đã được huấn luyện chơi thể thao ngoài trời dù trời lạnh. Văn hoá đó đã khiến họ thi đấu thể thao mùa đông rất giỏi. Tương tự xứ Hoà-Lan có nhiều kênh nước và bằng phẳng nên vào mùa đông các con kênh bị đống băng, nên dân họ ra đường và chơi trượt băng trên các con kênh nên họ rất giỏi và chiếm gần hết các huy chương về trượt băng.
Khoảng 30% doanh nhân Mỹ từng được chẩn đoán mắc chứng khó đọc (dyslexia) nghiêm trọng như mấy ông tỷ phú Richard Branson, Charles Schwab, John Chambers gặp khó khăn đáng kể trong việc đọc. Điều này không hẳn là ngẫu nhiên. Theo Gladwell, tinh thần doanh nhân của họ phần nào được hình thành từ chính khó khăn đó. Nếu từ nhỏ họ không đọc và viết dễ dàng như người khác, họ buộc phải:
- Học cách giao việc.
- Học cách giao tiếp bằng lời nói.
- Học cách giải quyết vấn đề.
- Học cách lãnh đạo.
80% doanh nhân mắc chứng khó đọc từng là đội trưởng đội thể thao ở trường trung học. Ở nhóm không mắc chứng khó đọc, tỷ lệ chỉ khoảng 30%. Khi bước vào đời, họ đã luyện tập suốt nhiều năm bốn kỹ năng cốt lõi của doanh nhân:
- Giao việc, uỷ nhiệm
- Giao tiếp
- Giải quyết vấn đề
- Lãnh đạo
Nhiều người trong số họ không xem chứng khó đọc là trở ngại. Họ xem đó là lý do khiến họ thành công, một bất lợi đã được chuyển hóa thành lợi thế.
Điều ông Gladwell muốn chúng ta hiểu: Khi nhìn thấy sự khác biệt về thành công, chúng ta thường mặc định rằng nguyên nhân là do sự khác biệt về năng lực.”” Nhưng chúng ta thường quên:
- Nghèo đói có thể bóp nghẹt tài năng. Mình nhớ Lua Viet Organization có tặng học bổng cho sinh viên nghèo, nhiều người được học bổng đã tốt nghiệp, có người tốt nghiệp y khoa. Nếu không có học bổng giúp đỡ thì chúng ta đã mất đi những người hữu dụng giúp đỡ cộng đồng.
- Môi trường có thể giới hạn tiềm năng. Khi sống trong một môi trường bị trù dập vì lý lịch thì khó mà tiến thân được điển hình ông giáo sư Montagnier, đoạt giải Nobel về y khoa nhơ phát hiện ra HIV để có thể chữa trị nhưng sau đó ông ta khám phá ra điện giải về tế bào thì hội đồng y khoa Pháp cấm và bị trù dập nên phải chạy qua Trung Cộng để nghiên cứu thêm.
- Thái độ và văn hóa có thể quyết định kết quả.
- Những quy tắc tưởng như vô hại của xã hội có thể loại bỏ rất nhiều người tài.
Chúng ta thích tin rằng xã hội trọng dụng nhân tài hoàn toàn công bằng nhưng thực tế phức tạp hơn nhiều. Lập luận về “tỷ lệ hiện thực hóa tiềm năng” mang lại một góc nhìn đầy hy vọng: Khi một nhóm người đang gặp khó khăn, đừng vội kết “luận rằng họ kém năng lực.
Rất nhiều vấn đề tưởng như do bẩm sinh hay di truyền thực chất chỉ là những tiềm năng chưa được khai thác đúng cách và điều đó có nghĩa là chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi kết quả của con người, nếu chúng ta biết chú ý và tạo ra cơ hội phù hợp.
Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen
Nguyễn Hoàng Sơn










