Mỏ dầu và hồi giáo

 DẦU MỎ CÓ GIÚP TIẾN LÊN XHCN ?

Đi chơi ở Nam Dương và Tân Gia Ba mình khám phá ra dân tình yêu chính phủ vì nhà cửa rẻ, mua từ chính phủ cho 99 năm. 80 % căn hộ chung đều do chính phủ kiểm soát, số còn lại của tư nhân. Câu hỏi về việc các nước giàu dầu mỏ như Libya hay vùng Vịnh có phù hợp để theo chủ nghĩa xã hội (XHCN) kiểu Liên Xô hay không thực sự rất sắc sảo. Trả lời ngắn gọn: có, các nước nhiều dầu mỏ và dân số ít là nhóm phù hợp nhất về mặt vật chất để thử mô hình XHCN kiểu Liên Xô. Tuy nhiên, chúng chỉ phù hợp về điều kiện kinh tế, hoàn toàn không phù hợp về điều kiện chính trị-xã hội, nên gần như chắc chắn sẽ thất bại hoặc biến dạng.



Nếu bỏ qua văn hóa, tôn giáo và quyền lực, dầu mỏ kết hợp với dân số ít tạo nên "thiên đường XHCN" trên giấy tờ. Tài nguyên tập trung, dễ quốc hữu hóa. Dân số ít nghĩa là chia đều dễ dàng. Không cần thị trường phức tạp. Nhà nước chỉ cần xuất dầu, thu ngoại tệ, rồi bao cấp giáo dục, y tế, nhà ở. Đây chính là mơ ước của XHCN cổ điển: không cần cạnh tranh, chỉ cần phân phối. Liên Xô từng nghĩ Iraq, Libya, Algeria là tương lai tự nhiên của XHCN, điều này không phải ngẫu nhiên.


Nhưng chính vì dầu mỏ, XHCN càng tệ hại. Dầu mỏ tạo ra cái gọi là "Rentier State" - nhà nước sống nhờ tiền thuê tài nguyên. Nhà nước không cần đánh thuế dân, không cần dân giàu, không cần doanh nghiệp, không cần đổi mới. Hệ quả là dân không có đòn bẩy chính trị, nhà nước không cần trách nhiệm giải trình, quyền lực tập trung tuyệt đối. XHCN cộng dầu mỏ tạo ra nhà nước toàn trị lý tưởng cho giới cầm quyền.


Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: XHCN kiểu Liên Xô giả định có giai cấp công nhân đông, sản xuất phức tạp, và nhà nước điều phối tốt hơn thị trường. Nhưng dầu mỏ không phải công nghiệp, không tạo việc làm, không sinh ra sáng tạo. XHCN ở các nước dầu mỏ chỉ còn là phân phối tiền, không phải tổ chức sản xuất.


Libya dưới thời Gaddafi là ví dụ "chuẩn giáo khoa" của thất bại này. Gaddafi quốc hữu hóa toàn bộ dầu mỏ, xóa bỏ kinh tế tư nhân, tạo phúc lợi rất cao với nhà miễn phí và học miễn phí, chống thị trường và chống phương Tây. Kết quả là GDP trên đầu người cao, nhưng không có tầng lớp trung lưu độc lập, không có thể chế, không có cơ chế kế thừa quyền lực. Khi Gaddafi sụp đổ, nhà nước tan rã ngay lập tức. Lý do đơn giản: toàn bộ xã hội sống nhờ một vòi dầu cộng một người. Không có gì khác đứng vững được khi hai thứ này biến mất.


Đối chiếu Libya hay Algeria với UAE hay Qatar cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Cả hai nhóm đều có dầu mỏ và đều quốc hữu hóa, nhưng Libya và Algeria quốc hữu hóa tuyệt đối, bóp chết kinh tế tư nhân, không thu hút vốn đầu tư, và theo ý thức hệ XHCN nghiêm ngặt. Trong khi đó, UAE và Qatar tuy cũng quốc hữu hóa dầu mỏ nhưng quản trị theo mô hình doanh nghiệp, nuôi dưỡng kinh tế tư nhân, thu hút vốn đầu tư rất mạnh, kết hợp phúc lợi với thị trường, và theo chủ nghĩa thực dụng chứ không phải ý thức hệ cứng nhắc. Vùng Vịnh không theo XHCN mà theo mô hình "nhà nước độc tài kết hợp thị trường mở và phúc lợi mua ổn định".



Vì vậy, các nước dầu mỏ phù hợp nhất để XHCN tồn tại ngắn hạn, nhưng không phù hợp để phát triển dài hạn và cực kỳ nguy hiểm về mặt chính trị. Chúng có thể sống được 20-40 năm, nhưng không tiến hóa thể chế, không tạo con người tự chủ, và rất dễ sụp đổ bạo lực. Dầu mỏ không cứu được XHCN - nó chỉ che giấu khuyết tật của XHCN cho đến khi mọi thứ nổ tung.


Nếu dầu mỏ là lời nguyền cho XHCN và nhiều nước khác, tại sao Na Uy lại thành công? Na Uy là trường hợp hiếm hoi vì họ không "chữa" lời nguyền dầu mỏ bằng mẹo kỹ thuật, mà vô hiệu hóa tận gốc cơ chế gây nghiện tài nguyên. Na Uy làm đúng những điều mà hầu hết nước dầu mỏ không muốn làm.


Các nước dầu mỏ thường gặp năm bệnh: nhà nước sống nhờ dầu nên không cần dân; đồng tiền lên giá làm công nghiệp chết (Dutch disease); quyền lực tập trung dẫn đến tham nhũng; phân phối tiền thay vì phát triển năng lực; và khi dầu biến động thì xã hội sốc, chính trị vỡ. Na Uy chặn từng bệnh ngay từ đầu.


Đầu tiên, Na Uy không dùng tiền dầu để chi tiêu trong nước. Toàn bộ lợi nhuận dầu đổ vào Quỹ tài sản quốc gia, và quỹ này đầu tư ra nước ngoài 100%. Hệ quả là không làm đồng kroner tăng giá, không bóp chết công nghiệp trong nước, không tạo "kinh tế ăn dầu". Phần lớn nước dầu mỏ làm điều ngược lại và chết ở đây.


Thứ hai, dù có dầu, Na Uy vẫn thu thuế cao. Nhà nước sống bằng thuế và chịu trách nhiệm giải trình. Dầu chỉ là tài sản của các thế hệ tương lai. Điều này giữ quan hệ dân-nhà nước là hợp đồng, không biến nhà nước thành "ông phát tiền". Các nước vùng Vịnh và Libya đứt gãy ở chỗ này.


Thứ ba, Na Uy có nhà nước can thiệp mạnh, nhưng Quốc hội thực quyền, báo chí tự do, tư pháp độc lập, và minh bạch tuyệt đối ngân sách dầu. Dầu mỏ không đi qua tay cá nhân hay phe nhóm, không tạo "tầng lớp dầu mỏ".


Thứ tư, Na Uy dùng dầu để đầu tư giáo dục, công nghệ biển, năng lượng, logistics, và tạo ngành phụ trợ cạnh tranh toàn cầu. Dầu nuôi năng lực, không nuôi lối sống. Libya, Algeria, Iraq thì ngược lại: dầu nuôi trợ cấp, không nuôi con người.


Và cuối cùng, đây là điểm rất "Bắc Âu" nhưng cực kỳ thực dụng: người Na Uy chấp nhận thế hệ hiện tại không xài tiền dầu để dành cho con cháu. Quỹ dầu lớn hơn GDP nhiều lần. Xã hội đồng thuận cao nên không có áp lực chính trị "chia ngay".


Khi so sánh Na Uy với Libya và vùng Vịnh, sự khác biệt thật rõ ràng. Na Uy đầu tư tiền dầu ra ngoài trong khi Libya chi tiêu trong nước còn vùng Vịnh vừa chi vừa đầu tư. Na Uy thu thuế dân cao trong khi Libya thu thấp và vùng Vịnh thu rất thấp. Na Uy có trách nhiệm giải trình rất cao trong khi Libya gần như không có và vùng Vịnh thấp. Kinh tế tư nhân Na Uy mạnh, Libya yếu, còn vùng Vịnh tuy có nhưng lệ thuộc nhà nước. Về độ bền vững, Na Uy rất cao, Libya đã sụp đổ, còn vùng Vịnh phụ thuộc hoàn toàn vào dầu.


Na Uy không thoát lời nguyền dầu mỏ vì họ giàu hay giỏi hơn, mà vì họ tự trói tay mình trước khi dầu mỏ trói họ. Đa số nước dầu mỏ dùng dầu để mua ổn định và trì hoãn cải cách. Na Uy dùng dầu để kéo dài kỷ luật và chấp nhận không "sướng" ngay. Nguyên lý quan trọng ở đây: nước dầu mỏ chỉ phát triển khi họ coi dầu là "tài sản tài chính", không phải "nguồn sống".


Quay lại câu hỏi ban đầu về các nước dầu mỏ và XHCN. Trong thực tế, việc thất bại hay thành công trong tương lai không quyết định việc có đi theo mô hình nào hay không. Thực chất là ý thức hệ. Người Hồi giáo với tín ngưỡng cao khó chấp nhận sự vô thần của cộng sản. Đây là nguyên nhân chính khiến Liên Xô thất bại ở Afghanistan cũng như không thể phủ XHCN được ở Trung Đông (thành trì của Hồi giáo) hay Indonesia.


Quyết định theo hay không theo XHCN không phải do hiệu quả kinh tế, mà do tính tương thích ý thức hệ-xã hội. Liên Xô thua ở thế giới Hồi giáo và Indonesia không phải vì nghèo hay giàu, mà vì xung đột cấu trúc niềm tin. Đây là nguyên nhân số 1, không thể vượt qua.


Cộng sản kiểu Liên Xô vô thần, coi lịch sử là động lực, nhà nước tối cao, và Đảng quyết định chân lý. Hồi giáo thì coi Thượng đế là tối cao, luật Chúa lớn hơn luật người, đạo là hệ thống xã hội hoàn chỉnh bao gồm luật pháp, đạo đức và chính trị. Không có vùng đệm thỏa hiệp. Cộng sản không thể "dung nạp" đạo Hồi, chỉ có thể bóp, kiểm soát, hoặc phá. Với Hồi giáo, niềm tin không thể tư nhân hóa như Thiên Chúa giáo hiện đại.


Liên Xô thất bại ở Afghanistan không phải vì sai lầm chiến thuật. XHCN cần nhà nước trung ương mạnh, hệ thống giáo dục thế tục, và Đảng kiểm soát xã hội. Afghanistan có xã hội bộ tộc, luật Sharia, quyền lực phân tán, và thánh chiến là khái niệm chính trị. Liên Xô va chạm trực diện với nền văn minh, không phải đơn thuần là chiến trường quân sự. Có thể thắng về mặt quân sự, nhưng không thể thắng Allah trong tâm trí xã hội đó.


Những nơi XHCN từng tạm đứng được ở Trung Đông như Syria (Ba'ath), Iraq (Ba'ath), Libya (Gaddafi), Yemen Nam đều có điểm chung: đàn áp Hồi giáo chính trị, thế tục hóa bằng bạo lực, và nhà nước an ninh cực mạnh. Chúng không phải xã hội Hồi giáo tự nhiên, mà là "XHCN cưỡng bức lên xã hội tôn giáo". Khi nhà nước yếu đi, Hồi giáo quay lại ngay lập tức.


Indonesia là trường hợp rất thú vị. Indonesia không phải Hồi giáo cực đoan nhưng PKI (đảng Cộng sản Indonesia) vẫn thua dù mạnh, dù có sự hỗ trợ từ Trung Quốc. Indonesia không vô thần. Pancasila coi Thượng đế là nền tảng quốc gia. Xã hội đa tôn giáo, nhưng tôn giáo là chính danh chính trị. Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô bị coi là mối đe dọa đối với nền tảng tồn tại của quốc gia. Năm 1965, quân đội Indonesia tiến hành thanh trừng PKI, hàng trăm nghìn người thiệt mạng. Điều quan trọng: không phải vì PKI kém, mà vì họ xung đột với nền tảng đạo đức quốc gia.


Trung Quốc là ngoại lệ và đây là điểm phân biệt then chốt. Trung Quốc thành công với XHCN vì Nho giáo đã suy, tôn giáo phân mảnh, và nhà nước trung ương rất mạnh. Mao phá sạch không gian thiêng và Đảng lấp chỗ trống. Điều này không thể làm được ở Hồi giáo, nơi niềm tin ăn sâu hơn nhà nước.


XHCN không bén rễ ở "vành đai Hồi giáo" vì ba lý do cấu trúc: không chấp nhận vô thần; không chấp nhận Đảng đứng trên Thượng đế; và đã có sẵn hệ thống công bằng xã hội tôn giáo như zakat, waqf, sharia. XHCN không mang lại thứ họ thiếu. Cộng sản chỉ thắng ở nơi nó thay thế được "niềm tin tối cao". Ở Hồi giáo, niềm tin đó đã có chủ.


Liên Xô thua ở Afghanistan vì đụng phải nền văn minh tôn giáo không thể thế tục hóa. XHCN không thể phủ Trung Đông vì ý thức hệ mâu thuẫn tuyệt đối và không gian thiêng không thể xóa. Indonesia chọn diệt cộng để bảo vệ nền tảng tôn giáo quốc gia.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Suy tàn của âu châu

 Ngày tàn của Âu châu


Nhớ hồi nhỏ, xem phim Ngày tàn của đế quốc La-mã tại rạp Hoà BÌnh khiến mình cứ hỏi lý do tại sao một đế quốc rộng lớn lại suy tàn quá nhanh chóng. Lớn lên thì đọc sách về các nền văn minh, đế quốc nên lo ngại cho Hoa Kỳ sẽ sụp đỗ và ông ba tàu sẽ lên. Hiện tại thì Hoa Kỳ có nhiều người âu châu đem tiền qua đầu tư nên hơi lạ. Tháng 9 và 10 vừa qua mình có về âu châu đi hành hương 325 km ở Ý Đại Lợi rồi ghé Pháp thăm bạn học xưa và gia đình người em.


Đọc báo tây và xem truyền hình tuy có mấy ngày khiến mình thất kinh nhất là mình cảm tưởng âu châu dạo này nghèo hơn Hoa Kỳ. Ngoài Paris ra thì ở tỉnh nhỏ hay ở Ý Đại Lợi, đời sống tương đối rẻ hơn Hoa Kỳ. Chẳng bù khi xưa, khi mình ở âu châu sang Hoa Kỳ chơi thấy quá rẻ. Đúng là vật đổi sao dời. Buồn đời mình tìm tài liệu đọc thì khám phá ra vài điều đã khiến âu châu đang xuống dốc.


Nếu xét năm 2008, đánh dấu năm thế giới có cuộc khủng hoảng tài chánh. GDP của âu châu và Hoa Kỳ tương đối là bằng nhau. Nhưng sau đó kinh tế Hoa Kỳ tăng trưởng đến nay là 87%, trong khi đó âu châu chỉ tăng trưởng có 13%. Nếu tình trạng này tiếp tục thì 25 năm nữa, người dân âu châu trung lưu sẽ nghèo hơn người Mỹ miền Mississippi của Hoa Kỳ. Tiểu bang này được xem là tiểu bang nghèo nhất nước mỹ.


Tài liệu cho rằng một trong những cái đinh đã đóng vào quan tài của âu châu là phi kỹ nghệ hoá. Từ bao nhiêu thập kỷ, kinh tế của Đức quốc là trái tim của kỹ nghệ âu châu như xe hơi với những tên Mercedez Benz, BMW, hay cho người bình thường là Volkswagen. Nghệ thuật sống của người đức là dựa vào sự bảo vệ của 50,000 chiến binh Hoa Kỳ đóng quân để canh gác cho người đức ngủ an bình, thay vì mong đời Cuba và Việt Nam canh gác. Và nhập cảng dầu khí rẻ của Puchin để các nhà máy hoạt động. 


Khi đường dẫn khí đốt Nordstream bị Ukraina với sự tiếp tay của Hoa Kỳ làm banh ta lông thì mẫu kinh tế của Đức quốc hết hiệu nghiệm. Hôm nay đọc tin tức thì toà án ở đức, kêu chính lực lượng Ukraina với sự tiếp trợ của Hoa Kỳ đã khiến người đức phải trả tiền nhiều hơn. Đến nổi công ty BSF danh tiếng của xứ này phải bỏ xứ chạy qua Trung Cộng để xây nhà máy 11 tỷ. Lý do là muốn sản xuất các hoá chất, họ cần rất nhiều và rất nhiều năng lượng. Mà nay lại không có dầu khí của bác Puchin thêm dân âu châu đang bỏ thiên chúa giáo để chạy theo một giáo phái mới là năng lượng xanh, xem cô gái Greta là một Jeanne d’Arc của thế kỷ 21.


Do đó làm ăn sản xuất ở Đức quốc xem như không khả thi. Họ chạy qua Trung Cộng xây một nhà máy to đùng, hoành tráng khiến thiên hạ ngạc nhiên. Lý do là xứ Đức quốc này từng vỗ ngực, hãnh diện về quyền làm người và các tiêu chuẩn về môi trường, nay lại qua Trung Cộng, nơi mà họ đốt than phá hoại môi trường. Đức quốc cho đóng cửa 3 nhà máy hạt nhân vào năm 2023 trong khi tình hình căng thẳng với cuộc chiến Ukraina. Cái mất dạy là bí quá, người đức lại tái hoạt động các nhà máy đốt than để thay thế năng lượng của 3 nhà máy hạt nhân.


Âu châu tạo dựng tài sản, sự giàu có bằng cách sáng chế, tạo dựng các vật thể này xem như đóng cửa báo tử. Điện thoại Nokia khi xưa ai cũng dùng hết nay tiêu diêu miền cực lạc, Erikson cũng banh ta lông. Có Internet để mò như Google,… chỉ có Masttodon nhưng ít ai sử dụng. Ngày nay kinh tế là kỹ thuật toán nhưng âu châu chẳng có gì chỉ bán theo Hoa Kỳ như Apple, Microsoft, Google, Amazon, Nvidia, Meta, Tesla. Nếu xét tổng cộng sản xuất của 7 công ty này thì nhiều hơn cả 24 thành viên âu châu.


Tại sao xẩy ra tình trạng này? Âu châu không có kỹ sư giỏi? Cứ xem WEb được phát minh từ CERN của Thuỵ Sĩ, DeepMInd, AI Lab,… vấn nạn ngày nay là âu châu muốn trở thành trung tâm kiểm soát quyền lực. Ở âu châu họ kêu Hoa Kỳ phát minh, cải cách, người Tàu bắt chước, âu châu điều chỉnh. Ở Ý Đại Lợi, đi bộ mình gặp một bà người đức, kiến trúc sư nên nói chuyện kiến trúc xong thì bà rên là âu châu có nhiều điều lệ phải tuân theo. Vẽ chung cư mà chính phủ chỉ cho phép xây chung cư cho người nghèo thì ai bỏ tiền ra mà xây đầu tư.


Trong khi Hoa Kỳ đang kêu gọi đầu tư về trí tuệ nhân tạo, nghe ông Trump nói mấy ông ả rập sẽ đầu tư nhưng mình không biết có thiệt hay không hay chỉ trò PR. Trong khi đó âu châu chỉ quan tâm đến việc viết ra các điều luật để điều hành, điều chỉnh trí tuệ nhân tạo. Lấy thí dụ công ty mới khởi đầu Mistral của pháp, được xem như công ty có thể đấu đầu với Open AI. Thay vì dùng 100% thời gian để nghiên cứu về AI, họ phải mò trong cái vòng kim cô luật lệ của âu châu như Digital Markets Act.


Cứ tưởng tượng nếu một công ty được sáng lập tại Hoa Kỳ, sẽ có thị trường 360 triệu người nói tiếng Anh trong khi ở âu châu , họ phải dịch ra tiếng ý, tiếng pháp, tiếng đủ trò,… ai chế ra cái gì hay là bị người Mỹ mua như Booking.com, Deep MInd bị Google mua, Skype thì Microsoft,…


Năm 2008, âu châu có 30% trên 100 công ty hàng đầu thế giới, ngày nay thì chưa đến 14%. Tương lai sẽ được chế tạo dựng từ San Francisco và Shenzhen còn âu châu chỉ đứng nhìn để mua như điện thoại IPhone, được thiết kế tại Cali và sản xuất bên tàu. 


Vấn đề là âu châu cứ muốn đánh thuế nên dân có tiền họ đầu tư ở hải ngoại. Hồi mình ở bên âu châu, người dân ít ai đầu tư vào thị trường chứng khoán. Bạn bè gặp nhau ăn uống chỉ nói chuyện ăn món này món nọ và chuyện sinh lý. Trong khi qua Hoa Kỳ thì đồng nghiệp, thân hữu đều nói đến thị trường chứng khoán này nọ khiến mình tò mò. Ở âu châu chỉ bỏ vào quỹ tiết kiệm, mỗi năm được vài phần trăm.


Nếu mở một công ty thì phải mượn tiền mà mượn ngân hàng thì họ cần có tài sản bảo chứng cho nên âu châu sẽ không bao giờ có Zuckenberg, Steve Jobs,.. trong khi ở Hoa Kỳ các công ty sẽ  đưa tiền và lấy 40% cổ phần. Mình có cô bạn đầm kể là ông chủ cô ta là người Pháp có ý định mở công ty nên chạy qua Mỹ làm ở San Diego. Cô ta có thời gian qua Hoa Kỳ làm việc mấy năm mà không biết mình ở Cali, tưởng mình về Việt Nam. Các công ty âu châu đem qua Hoa Kỳ ở các sàn chứng khoán.


Ngoài ra có vấn nạn dân số rất thầm lặng như Ý Đại Lợi, tỷ lệ sinh sản chỉ còn 1.18 trong khi đó phải cần ít nhất là 2.1 để bồi đắp cho người qua đời. Mình có hai anh bạn người Việt ở Ý Đại Lợi; 1 có 2 đứa con, đứa đầu 40 tuổi, và một anh bạn khác có một thằng con cũng khá lớn tuổi như chả chịu lập gia đình nên cho thấy khó mà thấy mặt cháu nội cháu ngoại khi còn tại thế. Tại Ý Đại Lợi năm vừa qua chỉ có 370,000 trẻ sinh ra đời và 655,871 tử, xem như phân nữa số người chết.


Giới trẻ mới ra trường, không tìm được việc làm, phải ở với bố mẹ vì tiền thuê nhà quá đắt. Đi làm thì phải đóng thuế để chính phủ trả tiền hưu trí cho người già. Tại Pháp quốc ngày nay, 1.7 người đi làm để nuôi một người già hưu trí. Chỉ có một chân lý không bảo giờ thay đổi đó là thuế sẽ lên. Vấn nạn hưu trí khiến không một chính trị gia nào dám rờ đến để giải quyết.


Ngày nay ở đức có vấn đề là tiền điện đắt hơn tiền thuê nhà. Âu châu muốn trở thành bá chủ năng lượng xanh. Cấm shale fracking này nọ. Nói cho ngay, mình rất thích không khí của Âu châu hiện tại với đường cho xe đạp, bộ hành. Các công ty âu châu phải trả giá năng lượng gấp 4, 5 lần so với các công ty mỹ hay Trung Cộng.


Sau đệ nhị thế chiến, Hoa Kỳ bảo kê an ninh cho âu châu nên âu châu không cần phải mua phi cơ chiến đấu hay hàng khôgn mẫu hạm. Nên họ dùng tiền này cho các chương trình phúc lợi, 6 tuần nghỉ hè và quỹ hưu trí đầy ấn tượng. Các thành viên NATO không ai bỏ tiền 2% GDP cho ngân sách quốc phòng. Nghe nói các lính mới của Đức quốc phải lấy chổi để tập duyệt binh vì không có đủ súng. Nếu có chiến tranh thì quân đội Anh quốc sẽ hết đạn sau hai ngày lâm trận.


Đùng một cái ông Trump lên, lần trước ông ta đã cảnh cáo là phải gia tăng lên 5% nếu không khi đụng trận thì tự lo. Đến phiên Biden lên thì chuyện đâu lại về chốn cũ. Kỳ này có chiến tranh, Hoa Kỳ chơi sang, nói chuyện tay đôi với Puchin, chả thèm hỏi han gì đồng minh cả. Xem phỏng vấn ông tướng của NATO người đức, kêu là gọi điện thoại cho bộ chiến tranh Hoa Kỳ, chả ai bắt máy. Phải nhờ tòa đại sứ đức hỏi lại dùm. 


Âu châu hỏi ông Mario Draghi, người đã cứu đồng Euro cách đây 10 năm. Ông thần này chơi sang kêu nếu muốn bắt kịp Trung Cộng và Hoa Kỳ thì mỗi năm phải đầu tư 800 tỷ euro. Muốn có tiền thì âu châu cần sự thống nhất nhưng dạo này hồn ai nấy giữ. Hung gIa lỢi xé lẻ đi với Puchin để mua dầu khí rẻ. Đức quốc không muốn trả nợ cho Ý Đại Lợi.


500 năm qua từ thời Phụ Hưng, âu châu đã tạo đựng một nền văn minh chói sáng, họ đánh chiếm khắp thế giới, tạo dựng ra nền kinh tế hiện đại nhưng chỉ trong vòng 30 năm hưởng thụ, kêu thằng mỹ ngu, canh gác cho tao để tao đi nghỉ hè, ăn chơi. Nay bổng nhiên có ông thần họ Trump gốc đức mà chả xem Đức quốc ra gì, bảo tăng gia ngân sách quốc phòng mua thêm đồ chiến tranh của mỹ. Không nghe thì tao kêu Puchin. Puchin kêu âu châu muốn chiến tranh, chúng tôi đã sẵn sàng. Chán Mớ Đời 


Hôm trước, xem phỏng vấn tên đức trẻ ở Bá Linh. Họ hỏi nếu Puchin tấn công Đức quốc, anh có ra trận không. Tên này kêu không. Thành làm nô lệ cho Puchin còn hơn chết vớ vẩn.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

A small act (một cử chỉ nhỏ)

 $15 thay đổi một cuộc đời và vận mệnh một gia đình


 Vào những năm 1970, một cậu bé tên Chris Mburu sắp mất tất cả. Cậu là học sinh giỏi nhất trong trường học của mình ở vùng nông thôn Kenya, lớn lên trong một ngôi làng nhỏ tên Mitahato, trong một ngôi nhà đất không có điện cũng không có nước máy. Nhưng gia đình cậu nghèo đến mức không thể chi trả nổi khoản học phí khiêm tốn để cậu tiếp tục học tiểu học. Nếu không được giúp đỡ, Chris sẽ lớn lên chỉ để hái cà phê.

Cô giáo ở Thụy Điển bảo trợ một học sinh ở Kenya 


Cách đó hàng ngàn dặm, ở Thụy Điển, một cô giáo mẫu giáo tên Hilde Back đã ghi danh tham gia chương trình tài trợ cho trẻ em khó khăn. Bà bắt đầu gửi khoảng 15 đô la mỗi kỳ học để hỗ trợ một đứa trẻ mà bà chưa từng gặp một cậu bé ở Kenya tên Chris Mburu.


Số tiền nhỏ bé ấy đã giúp Chris tiếp tục đến trường. Bà Back tài trợ cho cậu qua tiểu học và vào trung học, năm này qua năm khác, không hề mong đợi bất kỳ điều gì đáp lại. Bà và Chris trao đổi thư từ. Bà hỏi về thầy cô của cậu, về môn học yêu thích. Cậu dần nhận ra bà không chỉ là một tổ chức bà là một con người thực sự quan tâm đến cậu. 


Chris không bao giờ quên bà. Cậu bé chăm học xuất sắc. Cậu lấy bằng luật tại Đại học Nairobi, tốt nghiệp thủ khoa. Cậu giành được học bổng Fulbright đến Trường Luật Harvard. Cậu trở thành luật sư nhân quyền quốc tế, dành sự nghiệp để chống lại nạn diệt chủng và tội ác chống lại loài người cho Liên Hợp Quốc.


Nhưng có điều gì đó day dứt trong lòng cậu. Cậu chưa từng cảm ơn đúng cách người phụ nữ đã làm nên tất cả. Thậm chí cậu còn không biết bà thực sự là ai. Năm 2001, Chris thành lập một quỹ học bổng để giúp những đứa trẻ giống như cậu, những đứa trẻ tài năng từ gia đình nghèo khó, nếu không sẽ không thể học quá tiểu học. Cậu nhờ Đại sứ Thụy Điển tại Kenya giúp tìm kiếm ân nhân bí ẩn của mình để đặt tên quỹ theo tên bà. Họ đã tìm thấy bà. Tên bà là Hilde Back.


Chris bay đến Thụy Điển để gặp bà lần đầu tiên. Cậu tưởng tượng một nhà từ thiện giàu có. Thay vào đó, cậu gặp một người phụ nữ khiêm tốn, ấm áp, 80 tuổi, sống cuộc đời giản dị, ngỡ ngàng khi biết có người nghĩ rằng bà đã làm điều gì đó đặc biệt. Sau đó, một nhà làm phim tài liệu tên Jennifer Arnold bước vào câu chuyện, và phát hiện ra một chi tiết mà Hilde chưa từng chia sẻ với Chris hay hầu như với bất kỳ ai.


Hilde Back không phải là người Thụy Điển. Bà là người Do Thái gốc Đức, sinh năm 1922. Năm 16 tuổi, khi trẻ em Do Thái bị cấm học trường công theo Luật Nuremberg của Đức Quốc xã, bà buộc phải chạy trốn sang Thụy Điển. Cha mẹ bà không thể đi cùng chính sách của Thụy Điển lúc đó không chấp nhận người tị nạn lớn tuổi. Cả hai bị gửi vào trại tập trung. Cha bà qua đời. Mẹ bà bị chuyển sang trại khác và không bao giờ được nghe tin tức nữa.


Hilde đã sống sót qua Holocaust nhờ một người lạ giúp bà trốn thoát. Bà bị tước đoạt giáo dục vì thân phận của mình. Và hàng thập kỷ sau, bà lặng lẽ trả lại bằng cách tài trợ giáo dục cho một đứa trẻ ở nửa kia thế giới một đứa trẻ lớn lên để chống lại chính loại hận thù đã hủy hoại gia đình bà.

Chris lặng người. Còn Hilde thì không hề biết rằng cậu bé bà tài trợ đã dành cả đời để chống lại nạn diệt chủng.


Năm 2003, Hilde đến Kenya dự lễ khai trương Quỹ Giáo dục Hilde Back. Bà được toàn bộ cộng đồng chào đón như một trưởng làng danh dự. Năm 2012, bà trở lại để mừng sinh nhật 90 tuổi, vây quanh bởi những đứa trẻ có cuộc đời thay đổi nhờ quỹ mang tên bà. Ngày nay, Quỹ Giáo dục Hilde Back đã giúp gần 1.000 trẻ em ở Kenya tiếp tục việc học. Những người thụ hưởng đã vào đại học trên khắp thế giới. Và họ đang bắt đầu đáp trả, hướng dẫn học sinh mới và quyên góp hàng tháng để tài trợ thế hệ tiếp theo, qua một nền tảng họ gọi là “A Small Act Jamii”.


Hilde Back qua đời ngày 13 tháng 1 năm 2021 tại Västerås, Thụy Điển. Bà hưởng thọ 98 tuổi. Câu chuyện của họ được ghi lại trong bộ phim tài liệu được đề cử Emmy “A Small Act”, ra mắt tại Liên hoan phim Sundance với tràng pháo tay đứng dậy và những khoản quyên góp ngay lập tức trong đó có cả từ Bill Gates. Chris từng nói: “Bạn không thể để thay đổi cả thế giới. Vì vậy đôi khi giúp đỡ một đứa trẻ cũng đã tốt lắm rồi.” Hilde đã giúp một đứa trẻ. Đứa trẻ ấy xây dựng một quỹ. Quỹ ấy đã giúp gần một nghìn đứa trẻ khác. Và những đứa trẻ ấy giờ đang giúp đỡ người khác.


https://en.wikipedia.org/wiki/A_Small_Act


Câu chuyện kể trên khiến mình nhớ đến những người lạ đã từng giúp mình và đã thay đổi cuộc đời của mình. Như ông cán bộ xây dựng nông thôn cạnh nhà tên Nhân, kêu mình vào nhà cho mình mượn sách Học làm người của Hoàng Xuân Việt đã thay đổi tư duy của mình, chăm học để đi du học. Qua pháp cũng gặp người pháp giúp đỡ sau những ngày Sàigòn đầu hàng, mới ngoi đầu lên được.


Sau này, mình hay đóng góp hàng năm quỹ học bổng của Bút Nhóm Lửa Việt. Lâu lâu đọc thư của các sinh viên ra trường thấy cũng vui vì mình chưa bao giờ gặp họ. Nhưng đã giúp thay đổi một đứa trẻ học xong đại học, có thể thay đổi cuộc đời và gia đình đứa bé. Năm ngoái có chị nào ở Seattle về Việt Nam có đi tìm người đại diện của Bút Nhóm Lửa Việt ở Việt Nam để trao tặng quà học bổng cho sinh viên nghèo. 



Ngày 6 tháng 3 năm 2026 đến, các thân hữu Bút Nhóm Lửa Việt, miền Nam Cali sẽ có buổi dạ tiệc nhằm gây quỹ cho Lưa Viet Organization, một tổ chức vô vụ lợi. Xin mời các anh chị thăm dự đông đủ. Ai cần thêm chi tiết thì xin liên lạc (xem tờ rơi). Xin cảm ơn các anh chị, một cử chỉ nhỏ có thể thay đổi một tương lai một đứa bé hiểu học. 



Ngày 6 tháng 3 năm 2026

Địa điểm: Lavender Hall,  14190 Beach Blvd, Westminster, CA 92863

Thời gian: 6:30 Chiều


Có những trẻ em tương lai còn đen hơn nữa. Đó là các trẻ em tây tạng sống ở Ấn Độ và Népal. Cha mẹ các em phần đông là nông dân hay làm nghề chăn nuôi. Chạy qua được tới Ấn Độ hay Népal em nào may mắn thì được tu viện lớn hoặc một trung tâm có parrainage cùa người nước ngoài nuôi dạy. Nhưng sức tiếp đón của trung tâm này có hạn. Một số cha mẹ vật lộn với đủ thứ nghề để cho con đến trường hầu hội nhập vào xã hội của nước đón nhận. Ở Pháp có hội Enfants du Tibet do một phụ nử Pháp ở Nantes điều hành. Mỗi khi có trẻ mới tới Népal bà kêu gọi tứ tung xin bảo trợ cho các em. Một bảo trợ viên gởi cho hội 30 euros/tháng. Được trừ thuế 65 %, coi như cho khoảng 10 euros/tháng mà một đứa trẻ tỵ nạn thóat mù chữ và hy vọng có được tương lai. 
Hoàn cảnh của người tỵ nạn tây tạng bi đát hơn các dân tộc khác. Họ mãi mãi mất quê hương và UNHCR hình như chẳng có chương trình nào trợ giúp cho họ. Hoàn cảnh của họ rất đáng được giúp đở.

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tại sao chúng ta ăn dầu thực vật?

 Tại sao ăn dầu thực vật?

Hồi nhỏ mình nhớ ở nhà ăn dầu đậu phụng, nấu ăn đều dùng loại dầu này hay tép mỡ rồi khi quân đội mỹ qua thì bắt đầu ăn dầu mua trong các thùng nhôm, đủ trò. Nhà nào trong xóm cũng bắt đầu mua ăn để đem cái không khí văn minh của người Mỹ vào trong gia đình khi đồ hộp của mỹ, coca cola bắt đầu xâm nhập thị trường Việt Nam, và qua mặt các chai nước cam vàng BGI của pháp để lại. Ngoài chợ hàng Bà Cáp bên cạnh bắt đầu bán dầu đậu nành thay thế cho dầu phụng.



Mấy năm gần đây, người ta lên án dầu ăn thực vật đã khiến sức khỏe người Mỹ te tua. Họ cho biết như sau:


1866: Hạt bông gòn được xem là rác thải nông nghiệp. Sau khi tách sợi bông, nông dân còn lại hàng triệu tấn hạt chứa dầu độc với con người. Gossypol, một chất trừ sâu tự nhiên trong cây bông, khiến dầu này không thể ăn được. Hạt chỉ được cho gia súc ăn với lượng rất nhỏ hoặc đơn giản là bị vứt bỏ. Mình đi Uzbekistan, được xem là vựa bông gòn của Liên Xô khi xưa được giải thích là liên xô trồng bông gòn để lấy hạt làm đạn dược.


1900: Procter & Gamble sản xuất nến và xà phòng. Họ cần chất béo rẻ. Mỡ động vật dùng được nhưng đắt. Dầu hạt bông thì dồi dào và gần như vô giá trị. Nếu có cách nào đó khiến giúp tiêu thụ được, họ sẽ có nguồn nguyên liệu rẻ vô hạn. Mụ vợ mình có cái tật hay mua ba cái nến về, kêu là thơm. Trên thực tế là toả ra khí độc không. Lâu lâu mình phải hốt một đống đem quăng.


Quy trình họ phát triển cực kỳ khắc nghiệt. Tách dầu bằng dung môi hóa học. Đun ở nhiệt độ cực cao để trung hòa gossypol. Hydro hóa bằng khí hydro nén để làm dầu đông đặc ở nhiệt độ phòng. Khử mùi bằng hóa chất để loại bỏ mùi ôi. Tẩy trắng để xóa màu xám.


Kết quả: Crisco. Dầu hạt bông kết tinh. Rác thải công nghiệp từ dệt may được biến bằng xử lý hóa học thành thứ gì đó trắng và rắn, trông giống mỡ heo. Họ đăng ký bằng sáng chế năm 1907, tung ra thị trường năm 1911.


Giờ họ gặp vấn đề. Không ai muốn ăn rác thải kỹ nghệ đã qua xử lý hóa chất. Bà nội bà ngoại khi xưa đều nấu ăn bằng mỡ heo và bơ như con người đã làm từ hàng nghìn năm qua. Crisco phải thuyết phục các bà nội trợ rằng chất béo truyền thống là chết người, còn thứ “bột nhão” dầu hạt bông hydro hóa này thì tốt hơn.


Chiến dịch marketing thật tài tình. Họ phát miễn phí sách dạy nấu ăn với các công thức được thiết kế riêng cho Crisco. Tài trợ các buổi trình diễn nấu ăn. Nhắm vào cộng đồng Do Thái, quảng cáo Crisco là kosher: không phải thịt cũng không phải sữa. Họ chạy quảng cáo trên tạp chí, ám chỉ rằng gia đình hiện đại, khoa học dùng Crisco, còn người quê mùa, lạc hậu thì dùng mỡ heo.


Nhưng cú đánh quyết định xảy ra năm 1948. Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ (AHA) chỉ có ngân sách 1.700 đô la. Họ là một tổ chức rất nhỏ. Procter & Gamble quyên góp 1,7 triệu đô la. Đột nhiên AHA có tiền, có ảnh hưởng, và có một nhà tài trợ lớn sản xuất dầu thực vật.


1961: AHA ban hành hướng dẫn ăn uống đầu tiên. Tránh chất béo bão hòa từ động vật. Thay thế bằng dầu thực vật. Các loại dầu được khuyến nghị: Crisco, Wesson và các dầu hạt khác. Xung đột lợi ích quá rõ ràng. Tổ chức đưa ra lời khuyên sức khỏe lại được tài trợ bởi công ty hưởng lợi khi mọi người làm theo lời khuyên đó.


Không ai tỏ ra bận tâm. Báo chí được trả tiền đưa tin các hướng dẫn như khoa học khách quan. Bác sĩ lặp lại cho bệnh nhân. Cơ quan chính phủ đưa vào chính sách. Dầu hạt bông công nghiệp, chiết xuất và hydro hóa bằng hóa chất, trở thành “tốt cho tim mạch”, còn bơ thì bị coi là “chất độc làm tắc động mạch”. Thế vào đó là magarine. Có lẻ dân mỹ ăn magarine nhiều quá nên nay trở thành MAGA hết. Chán Mớ Đời 


Những năm 1980: Các nhà nghiên cứu phát hiện chất béo trans, được tạo ra bởi hydro hóa, trực tiếp gây bệnh tim. Chúng làm tăng LDL, giảm HDL, thúc đẩy viêm và tăng nguy cơ đau tim hơn bất kỳ loại chất béo nào khác. Crisco, theo công thức ban đầu, cực kỳ có hại cho sức khỏe. Phải mất 70 năm điều này mới được chính thức thừa nhận.


Phản ứng của Procter & Gamble: Âm thầm thay đổi công thức, không thừa nhận sai lầm. Loại bỏ hydro hóa, tiếp tục bán dầu hạt, không bao giờ công nhận rằng sản phẩm “tốt cho tim mạch” của họ đã dành bảy thập kỷ gây ra chính căn bệnh mà nó tuyên bố ngăn ngừa.


Dầu hạt hiện đại vẫn còn đó. Dầu đậu nành, canola, bắp, rum… ở khắp mọi nơi. Cùng quy trình chiết xuất hóa học. Cùng tinh luyện ở nhiệt độ cao. Cùng vấn đề oxy hóa. Chỉ là không còn hydro hóa nên chất béo trans nằm dưới ngưỡng quy định.


Những loại dầu này oxy hóa rất nhanh khi đun nóng. Chúng tích hợp vào màng tế bào, tạo ra tín hiệu viêm trong nhiều tháng hoặc nhiều năm. Chúng giàu axit béo omega-6, thúc đẩy viêm. Chúng chưa từng tồn tại trong chế độ ăn của con người ở mức tiêu thụ như hiện nay. Có thể đây là khởi đầu cho căn bệnh thế kỷ: ung-thư.


Nhưng chúng quá rẻ và sinh lợi thêm ngành công nghiệp thực phẩm đã dành cả thế kỷ để thuyết phục mọi người rằng chúng tốt cho sức khỏe. Thừa nhận rằng rác thải công nghiệp dệt may không nên bị biến thành thực phẩm sẽ đồng nghĩa với việc phải thừa nhận 110 năm lời khuyên dinh dưỡng đã bị thao túng ngay từ đầu.


Bà nội bà ngoại của chúng ta nấu ăn bằng mỡ heo vì đó là thứ con người dùng suốt hàng thiên niên kỷ. Rồi Procter & Gamble cần bán giải pháp thay thế cho xà phòng và vô tình tạo ra sự thay đổi chế độ ăn lớn nhất trong lịch sử loài người.


Chúng ta đã đổi những chất béo động vật từng xây dựng các nền văn minh lấy rác thải nhà máy gây bệnh tật. Ngày nay, người Mỹ bắt đầu ăn lại bơ, mỡ, dầu dừa,…và tránh mấy loại dầu thực vật. Họ trở lại ăn dầu Olive,…


Chúng ta sống ở thời đại mà công nghệ quảng cáo quá mạnh, khiến chúng ta nghe lời bắt chước dù chưa biết ra sao và có thể đưa đến công ty xà bông thắng lớn và sức khỏe của chúng ta banh ta lông. Chán Mớ Đời 



Cám ơn bài viết của ông. Nhờ ông đen mà tâm hồn ông trong trắng nên ông đã hé lộ sự liên kết giữa giới kỷ nghệ gia , y khoa và truyền thông để tiêu thụ một sản phẫm độc hại cho sức khỏe con người. Thật ngở ngàng khi chính những vị BS chuyên khoa tim (AHA) và các ký giã bồi bút đã nhẫn tâm đi ngược lại sứ mạng của họ, bán lương tâm cho tụi kỷ nghệ gia để đầu độc con người qua nhiều thế hệ. Một vị sư ở CA tốt nghiệp dược sĩ ở Mỹ trong top 5, làm việc một thời gian trong ngành dược phẫm. Sau khi khám phá ra nhiều dân biểu có cổ phần trong những công ty dược và thuốc uống vào chửa bệnh này thì biến chứng phụ có thể tạo ra bệnh khác, Thầy nghỉ việc và bắt đầu những khóa tu thanh lọc cơ thể.
Khi cả thế giới đều hướng về lợi nhuận thì biết tin ai ?
(Tôi nhớ khi đi làm, vào những năm 80 có một bà đồng nghiệp có bằng cấp cao và ăn uống kỷ lưỡng, nói bà không dùng beurre trong bếp nữa mà thế bằng margarine ! )

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn