Song tịch thế hệ 2

Song tịch thế hệ 2

Sáng nay đến phiên mình đọc diễn văn 9’-11’ tại toastmasters về đề tài song tịch của thế hệ thứ 2 thì có 2-3 người cho biết là họ nằm trong số này. 1 người có mẹ là gốc mễ và bố là mỹ trắng, 2 người kia thì bố mẹ đều gốc mễ. Mình sẽ tải bài diễn văn ở cuối. Mình đã kể vụ một người bạn sinh ra tại Hoa Kỳ, có quốc tịch Hoa Kỳ, con của 2 người di dân gốc Mễ. Họ sống ở gạch nối giữa hai luồng văn hóa mễ và mỹ. Có người kêu tôi ước gì được đội cái nón “di dân như ông”.



Thằng con mình nay cũng gia nhập hội toastmasters nên khi về nó có hỏi mình về người bạn gốc mễ là ai. Rồi mình hỏi nó có bị lũng cũng như người bạn mễ sinh tại Hoa Kỳ. Nó nói có, lý do là tại trung học, nó có tìm cách chơi với mỹ trắng nhưng thường không được chấp nhận vào các sinh hoạt của học sinh da trắng trong trường như các hội nhóm. Cho thấy có bức tường vô hình ngăn cách người Mỹ da màu và da trắng từ học đường.


Mình nghe mấy người Việt quen nói thằng đen này, con mễ nọ như thể họ nghĩ mình thuộc giai cấp cao hơn nên mình đoán người Mỹ trắng chắc cũng có tư tưởng như vậy đối với người Mỹ gốc á châu như mình. Mình có mấy tên bạn gốc mễ cũng như đen cho cột nhà cháy. Nhớ có lần ông John MacCain kêu người Việt là Gooks. Có lẻ với tư duy nghĩ mình thuộc giai cấp cao hơn người mễ, người da đen vô hình trung người Việt mình tự xem là mỹ trắng, kiểu quả chuối, ngoài thì vàng nhưng phía trong là trắng, nôm na như người xưa hay nói “răng ta dái tây.” Thậm chí người á châu còn có sự khác biệt, người Việt còn chê người lào, cao miên, người Tàu, Ấn Độ,…


Với tư duy sính da trắng nên người á châu hì hụt chạy mua áo quần thời trang của tây làm khiến họ giàu có như Louis Vuitton là tỷ phú nhờ bán mấy cái xách tay cho thiên hạ. Người thì thấp mà cứ bận áo đầm dài, mang cao gót cao tới nách. Thậm chí có người nhuộm tóc vàng, đeo contact lens để cho mắt trở thành xanh. Người á châu bận đồ hiệu, xách LV này nọ hay Hermès nên tự đồng hoá với người da trắng. Và xem thường ngay cả người Việt quê mùa, ít may mắn hơn họ. Ai buồn đời đọc mấy tài liệu giải thích người Tây phương tiếp thị để bán sản phân r của họ. Mình có kể rồi. 


Tại sao chúng ta hãnh diện khi bận áo quần, trang sức của người tây phương, lại chê văn hoá của bản sắc mình. Nền văn minh tây phương phát triển từ thời phục Hưng đã đưa nền văn minh của họ lên tột đỉnh nhờ khoa học và kỹ thuật. Giúp họ chiếm đóng thuộc địa khắp nơi trên thế giới, khiến nền văn minh của họ được xem là kim chỉ nam của tiến bộ cho toàn thế giới. 


Khi chúng ta chạy theo họ thì sẽ quên bản sắc của mình, trở thành kệch cộm như bận đồ tây, nhưng không cân đối với kích thước của mình, nói tiếng tây với giọng nước mắm. Đi với ma bận áo giấy, đi với thầy chùa bận áo cà sa nhưng đừng đánh rơi cái bản sắc của mình, nếu không chúng ta sẽ đứng ở gạch nối của vùng giao thoa của hai nền văn minh. Không thuộc bên nào hoàn toàn. 


Nếu chúng ta để ý xem các phim quảng cáo trên đài truyền hình, thường có người đàn ông da đen, ăn bận như một người thành công đều ở khu mỹ trắng và có vợ da trắng. Đa số các lực sĩ nổi tiếng da đen thường có bồ hay vợ là da trắng rồi khi hết thời thì bị đá như tây ba-lô. Nếu nói về tâm lý thì trong tiềm thức, anh người da màu, thành đạt là phải ở khu mỹ trắng, lấy vợ da trắng mới đưa anh lên đẳng cấp thượng tôn. Trong xóm mình chỉ có một gia đình da đen mà mình hay nói chuyện khi gặp ngoài đường khi đi bộ. Nếu ai chịu khó đọc mấy cuốn sách dạy về tiếp thị sẽ nói đến sự việc này.


Chúng ta nên nhớ trước 1968, người Mỹ da đen không được học chung hay đi vệ sinh,…với người da trắng. Có luật Chinese Exclusion từ lâu để cấm cản người da vàng, chỉ đến năm 1940 khi Hoa Kỳ tham chiến, và có đồng minh là Trung Hoa, thì mới giải thể cái luật đối xử với người á châu. Trong thời gian chiến tranh với Nhật Bản, các người Mỹ gốc Nhật Bản đều bị nhốt vào các trại tập trung. Biết bao nhiều tài sản bị cướp. Khu vực Palo Verde ở Nam Cali được xem là khu đất đắt nhất, tước đây là đất của người Mỹ gốc nhật, bị hốt vào các trại tập trung nên sau khi được thả ra thì đã có người Mỹ da trắng chiếm mất. Ai buồn đời thì theo đường dẫn để hiểu thêm về vấn đề này. Ngày nay chính phủ Hoa Kỳ đang làm lại chính sách này.


The Chinese Exclusion Act was a U.S. federal law signed by President Chester A. Arthur on May 6, 1882, that banned Chinese laborers from entering the country for ten years. It was the first major U.S. law to block immigration based on a specific nationality and race. [123]


Key Rules


  • Laborer ban: It stopped both skilled and unskilled Chinese workers from entering the United States.
  • No naturalization: It banned Chinese residents already living in the U.S. from becoming citizens.
  • Strict exceptions: Only diplomats, teachers, students, merchants, and travelers could enter, and they needed special government certificates.
  • Re-entry limits: Chinese residents who left the country had to get a special certificate to return, a rule tightened by later laws. [123456]


Tuy được loại bỏ trên pháp luật về kỳ thị chủng tộc, da màu nhưng vẫn có một bức màn vô hình ngăn cách giữa người da trắng và người da màu. Mình có ông anh vợ làm bác sĩ, nói là anh mở phòng mạch tại Bolsa trên 30 năm, chưa bao giờ có một bệnh nhân da trắng đến viếng dù anh có tham gia các tổ hợp y tế. Bác sĩ gốc việt, phải thật giỏi thì mới có bệnh nhân da trắng còn không thì cứ sống ở bolsa với bệnh nhân người Việt và người mễ.


Gần đây chính phủ Hoa Kỳ ngăn cấm 75 quốc gia không được vào Hoa Kỳ, có bà toà nào ra lệnh cấm nhưng rồi bộ ngoại giao Hoa Kỳ ra lệnh ngưng hồ sơ lại hết thì cũng như không xét nữa. Có giấy tờ chấp thuận nay không được xét nữa và làm lại từ đầu.


Do đó thấy có nhiều người Mỹ gốc việt lên tiếng trên mạng, đuổi cổ di dân về nước này nọ. Họ cứ nghĩ mình là thật sự người Mỹ da trắng. Đúng! Trên pháp lý, giấy tờ nhưng trên thực tế, thằng nào có tiền, thằng đó có quyền lực. Đa số là người da trắng nắm quyền lực, cộng đồng của họ không chịu sinh đẻ nên lo sợ trong tương lai sẽ mất đa số nên mới có các chiến dịch chống di dân này nọ. 


Thế hệ người Việt đến Hoa Kỳ đầu tiên, chúng ta chỉ cần một chỗ tạm dung sau cuộc vượt biển vào sinh ra tử nhưng thế hệ thứ 2, có công ăn việc làm, có căn nhà là hạnh phúc, thực hiện được giấc mơ Hoa Kỳ nhưng thế hệ con cháu chúng ta cần một tiếng nói chính trị để bảo vệ quyền lợi của mình. Dân gốc á châu chỉ có 5% dân số Hoa Kỳ nên tiếng nói rất nhỏ bé. Con mình chúng không như mình, được vào xứ mỹ là thiên đàng, có bị người Mỹ trắng ăn hiếp thì cũng cuối đầu bỏ qua các vụ kỳ thị nhưng con cháu mình thì lại khác. Quyền lợi kinh tế và chính trị đi song song. Có thể có vài người gốc Việt thành công nhưng đa số vẫn phải đi cày cho chủ là mỹ trắng.


Có lần mình hỏi anh quen gốc mễ, của một công ty mua sỉ bơ vườn của mình. Anh ta làm lâu năm hơn nhưng có tên mỹ trắng được thăng chức còn anh ta tuy có nhiều kinh nghiệm nhưng vẫn lè tè làm lính từ mấy chục năm qua. Mình hỏi tại người mễ không phải da trắng, anh ta gật đầu.


Điển hình một sinh viên gốc đại Hàn kiện đại học Princeton vì cho là kỳ thị. Bạn học anh ta là mỹ trắng, điểm SAT thấp hơn anh ta nhưng lại được vào đại học trong khi điểm anh ta cao hơn nhưng lại bị bát đơn xin vào học. Một trường hợp khác, người ta có kể đến một sinh viên á châu khác cũng kiện đại học Harvard như trường hợp trên. Người Mỹ dùng lập luận nói đến di sản (legacy) của gia đình. Thế là những người nhập cư sau này không có cơ hội vào các đại học lớn vì chỗ để dành cho con cháu những người mỹ trắng đã đến đây từ mấy thế hệ trước.


Mình thấy con mình, con trai thì chơi với da vàng nhiều, hỏi nó thì nó cho biết hồi ở trung học, có tìm cách gia nhập các nhóm da trắng nhưng bị đẫy ra. Trong khi con gái mình thì ngay ở trung học, nó có bạn da trắng nhiều hơn là da vàng. Nó có quen thân vài đứa gốc việt vì khi xưa đi hướng đạo Việt Nam.


Mình không biết phụ nữ gốc á châu lấy chồng tây là vì yêu thương hay vì tư duy Pocahontas, lấy anh da trắng là mình được nhảy lên giai cấp lãnh đạo ở tây phương. Có thể cả hai. Ngược lại đàn ông gốc á đông ít ai lấy mỹ trắng. Thằng con mình cho biết con gái mình có vấn đề với văn hoá Việt Nam, kiểu identity crisis, cho nên nó chơi với bạn mỹ thì cảm thấy thoải mái hơn. Hôm trước nó về thăm, cho nó nói chuyện với bà nội qua điện thoại. Sau đó nó kêu buồn quá vì không nói chuyện, hiểu hay diễn đạt với bà nội mà nó thương. Nó hỏi làm sao có thể học tiếng Việt. Mình thấy dạo này thằng con bắt đầu chịu khó nói chuyện tiếng Việt với mình nhiều. Cho thấy nó bắt đầu trở về nguồn. Tìm hiểu thêm về Việt Nam sẽ giúp nó tìm được những cái gì giúp nó tự hào, để không còn mặc cảm khi tranh đua với người Mỹ gốc da trắng.


Đặt chân vào vị thế của 2 con mình sinh ra tại Hoa Kỳ. Lớn lên cho học tiếng Việt, đi hướng đạo Việt Nam,… nhưng vào trường học, họ dạy chúng về Việt Nam, kêu Việt Nam Cộng Hoà tham nhũng và đầu hàng. Chúng sẽ có mặc cảm của người thua cuộc. Sẽ tạo cho chúng cuộc khủng hoảng bản sắc (identity crisis) và chúng sẽ từ bỏ bản thể của mình để hoà nhập vào dòng chính nhưng sẽ gặp rắc rối vì sự kỳ thị vô hình.


Khi mình mới sang Hoa Kỳ, sinh viên gốc việt hay nhờ mình đi tham dự các buổi nói chuyện về chiến tranh Việt Nam. Các diễn giả đa số là giáo sư nên họ có khuynh hướng thiên tả, tô vẽ bức tranh Việt Nam Cộng Hoà là tham nhũng,…. Mình phải đưa ra các chương trình cải cách ruộng đất, đấu tố địa chủ trong đó có ông bà nội mình là nạn nhân. Các vụ sát hại tập thể Mậu Thân của Việt Cộng, mình nói là chiến tranh tạo ra hận thù khi đồng ngủ mình bị giết nên mới có những thăm sát như Mỹ Lai. Tại sao Pol pOt lại giết 1/4 dấn số Cao Miên mà tây phương không lên án, các vùng kinh tế mới, trại cải tạo, quần đảo ngục tù. Dạo ấy tiếng anh mình không thông lắm nhưng cũng phải đứng lên cải, đúng hơn đưa ra các sự kiện mà người Mỹ cũng như sinh viên gốc Việt không biết về Việt Cộng.


Sau đó mình có phụ giúp các sinh viên tổ chức các buổi hội thảo về văn hoá Việt Nam, như mời giáo sư Nguyễn Thanh Phong, biểu diễn nhạc cụ cổ truyền Việt Nam, tiến sĩ NGuyễn Quỳnh nói về thi ca, tranh hoạ của Việt Nam,… giúp sinh viên gốc việt có chút gì để tự hào về quê cha đất tổ.


Nếu không Hà Nội chỉ cần đưa sang một nhóm văn công như Múa rối nước, hát quan họ,… là sẽ chiếm hết giới trẻ Việt Nam tại hải ngoại như khi xưa ở Âu châu học đã từng “tâm công”. Gặp người lớn thì họ đã trải nghiệm sống với Việt Cộng ra sao nhưng phải giải thích rõ ràng cho giới trẻ biết. Nhớ ở New York, có lần, trong đại học tổ chức nói chuyện về chiến tranh Việt Nam. Để công bằng họ mời đại diện cộng đồng người Việt tỵ nạn tham dự nhưng mấy ông chủ tịch này nọ thì tiếng anh không rành nên không dám tham dự. Sinh viên kêu để chúng thông dịch nhưng cuối cùng chả ai đi. Đến ngày giờ thì cả hội đoàn cùng nhau đem cờ đến trước cổng biểu tình trong khi người ta tạo diễn đàn cho mình để nói tước công chúng người Mỹ thì không chịu tham dự.


Nhập gia tuỳ tục, muốn thể chế dân chủ thì phải tham dự để tranh luận. Vấn đề không phải để thắng kẻ đối đầu mà để đưa ra lý lẻ mình chống cộng, tại sao bỏ nước ra đi tìm tự do để giúp khán giả có góc nhìn mới hơn. Chớ đứng biểu tình phất cờ thì người Mỹ chả hiểu gì cả. Lại gán cho cái nhãn hiệu không hay.


Sau đó sinh viên vùng Đông Bắc tổ chức các buổi nói chuyện về thuyền nhân, triển lãm, lấy chữ ký sinh viên trong trường, đâu được trên 50,000 chữ ký để gửi cho thượng nghị sĩ Hartfield, người giúp tỵ nạn Việt Nam rất nhiều. Để chống lại chính sách cưỡng bách hồi hương người việt vượt biển nhưng không có ai bảo trợ. Có người phải ở trại tỵ nạn đến 20 năm mới được Hoa Kỳ nhận vào, nhờ có ông luật sư nào gốc việt tỵ nạn ở Úc can thiệp suốt 20 năm mới được sang Hoa Kỳ. Mình có đi dự buổi hội ngộ của nhóm người này và có mấy đứa sinh trong trại tỵ nạn cảm ơn ông luật sư này.


Khi xưa ở Đà Lạt, đi học, trong trường cũng chia ra nhiều nhóm, đám con nhà giàu, đám con nhà nghèo,… đám bắc kỳ, trung kỳ,… nhìn lại thì mình thân với đám Bắc kỲ nhiều nhất sau đó đến Trung Kỳ. Cho nên ở Hoa Kỳ càng phức tạp hơn và nếu chúng ta chỉ dựa trên những trải nghiệm của mình tại Hoa Kỳ khi mới chân ướt chân ráo đến thì sẽ không hiểu con cháu mình. Có ai kể là con của họ học giỏi này nọ nhưng rồi đi theo đám bạn mỹ trắng với tư duy “Thức Tĩnh” nên muốn chuyển giới hay chi đó. Giới trẻ muốn được chấp nhận với cùng lứa nên sẵn sàng làm những việc gì để được chấp nhận vào bộ lạc mà chúng thích.


Có lần thằng cháu họ học UCLA đến nhà ngủ lại với bố nó. Sáng ra nó đọc sách của mình về chiến tranh Việt Nam. Kêu quá hay vì có quan điểm khác với những sách vỡ thầy cô dạy trong trường. Rồi mình nói chuyện với nó về Ocean Vuong, Nguyễn Thanh Việt khiến nó thất kinh vì không ngờ mình biết mấy người này. Mình nói phải đọc để hiểu thế hệ con cháu mình suy nghĩ gì trong xã hội Hoa Kỳ.


Bố nó nói chả biết gì về chiến tranh Việt Nam, văn hoá Việt Nam. Vượt biển sang rồi đi cày nuôi con nên chả biết gì. Chúng ta cần bỏ chút thời gian, bớt hát karaoke để đọc sách báo của giới trẻ người Việt tại Hoa Kỳ. Như ông Ocean Vuong, cho biết mẹ làm nail, sống trong hoàn cảnh khó khăn về kinh tế, chung cư xóm nghèo, có băng đảng, cứ phải ăn bám vào welfare. Ông ta kể đi làm cho nông trại được lương cao hơn nhưng bà mẹ nói phải nghỉ đi làm MAcDonalds để có lợi tức thấp hơn nếu không sẽ bị cắt welfare,… phải đọc để hiểu con chúa chúng ta sống với tinh thần khác biệt với tinh thần người tỵ nạn. Cứ hở ra là kêu bọn con cháu nay không chịu khó như mình thật ra chúng lớn lên trong hoàn cảnh khác với chúng ta.


Đọc đẻ hiểu thêm về con cháu mình mà nói chuyện, khuyến khích chúng thay vì chửi tụi bây ngu dốt, không biết Việt Cộng là gì. Chúng tàn ác lắm. Chúng đâu có trải nghiệm 10 năm sau 1975 nên đâu hiểu gì. Nay ở Hoa Kỳ chúng cần được tranh bị một tinh thần để phấn đấu trong xã hội đa chủng này. (Còn tiếp)


Phải lên vườn đi ruộng tiếp. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn  

Vélosolex tại Đà Lạt xưa

 Vélosolex tại Đà Lạt xưa


Nhớ hồi nhỏ, có lần ông cụ mượn của ai chiếc xe Vélosolex màu đen, đem về nhà. Mình thấy ông cụ đạp lên dốc từ đường Hai Bà Trưng lên Thi Sách, suýt ngã mấy lần. Đem vào nhà rồi kéo cái garde-debout lên, thấy sang trọng kể gì. Hoá ra có ai kêu ông cụ để bán lại chiếc xe nhưng ông cụ đạp một lần lên dốc Đà Lạt, bở hơi tai nên bỏ ý định mua chiếc xe. Chỉ nhớ là Đà Lạt ít thấy xe này vì nghe nói chạy lên dốc không được nhanh nên người lái phải đạp thêm. Chán Mớ Đời 

Từ từ lớn lên thì mình thấy xuất hiện chiếc xe Cady ở Đà Lạt mà cậu Hàn, con ông Dụ ở Xuân An có một chiếc, lâu lâu cậu đến nhà, đậu trước sân thấy oai lắm. Buồn đời, có hôm cậu lấy xe chở mình đi một vòng lên Số 4 rồi quay về. Sướng kể gì. Sau này con mình về Đà Lạt, được ông nội đèo xe Honda khiến chúng vui lắm, chắc như mình khi xưa. Cady thuộc dòng xe máy gắn bàn đạp (Moped) của Motobecane (Pháp), là nhà sản xuất thường được nhiều người chơi xe cổ biết đến và yêu thích với sản phẩm xe máy đạp thương hiệu Mobylette. Qua tây mình thấy thằng Pierre con ông bà Marco, đi học bằng xe này.

Thấy chiếc xe Cady này nhớ cậu Hàn, con ông Dụ, khi xưa chở mình một vòng Hai Bà Trưng

Sau này ông cụ được bà cụ mua cho chiếc xe gắn máy Goebel trước khi các xe gắn máy như HOnda, Suzuki, BRidgestone xuất hiện sau Mậu Thân, từ từ loại bỏ chiếc xe Vélosolex trên các đường phố Đà Lạt. 

Xe gắn máy đầu tiên mình chạy do bà cụ mua lại của tên Sữu, con bà Kiếm hàng xóm. Anh chàng này làm thợ máy nên chơi cha thiên hạ, cưa cái ống pô nên chạy đâu cũng nghe to. Lâu lâu mình lấy cái lon bia mỹ, bịt lại. Có lần đang chạy lên dốc đường Bà Triệu, xe yếu nên lạng qua lạng lại cái dốc để có trớn thì đùng một cái nghe tiếng nổ long trời lỡ đất. Cái lon bia bịt ống pô lại bị nén hơn bay ra như cái đầu đạn B40, ống pô bị cưa nên nổ to khiến dân tình bên đường nhìn mình như tên say rượu. Dạo mới tìm lại Đinh Gia Lành, hàng xóm, hắn kêu nhớ rồi thằng Sơn có chiếc BS. Chán Mớ Đời 

Chiếc Bridgestone (Thạch Kiều) là chiếc xe gắn máy đầu tiên mình chạy. Cái ống pô bị cắt nên nghe nổ như pháo

Sau này qua Pháp mới biết là do người Pháp phát minh loại xe này mà thiên hạ còn gọi tắc là Solex, một loại xe đạp máy mang tính biểu tượng của Pháp, và lịch sử của nó gắn liền với Việt Nam một cách rõ nét, đặc biệt ở miền Nam (Sài Gòn) trong những năm 1950-1960. Mò thêm tin tức về loại xe này thì được biết như sau:


Giá một chiếc vélosolex gần 8,000 đồng Việt Nam, lương giáo viên đâu 6,000 đồng thời ấy 

Công ty Solex được thành lập năm 1905 tại Courbevoie (gần Paris) bởi hai kỹ sư Maurice Goudard và Marcel Mennesson. Ban đầu họ chuyên sản xuất két nước làm hạ nhiệt và chế hòa khí. Nhớ năm 11B, mượn xe ông cụ chở mấy người trong nhóm đi xuống Tùng Nghĩa, đi lạc quyên, có cục đá văng lên làm lũng một lỗ cái bình hạ nhiệt, nước chảy ra hết nên phải đi kiếm người hàn lại.


Ý tưởng về một chiếc xe đạp có động cơ nảy sinh trong thế chiến thứ hai. Chắc đạp xe đạp bá thở nên người Pháp mới đột phá tư duy. Nguyên mẫu xuất hiện khoảng năm 1941: một động cơ 2 thì nhỏ gắn phía trên bánh trước của xe đạp thông thường, truyền động bằng con lăn ma sát (không cần xích hay dây curoa). Nghe nói xe này đầu máy nặng để phía trước nên dễ bị mất thăng bằng, có lẻ vậy mà các xe gắn máy khác sau này đều để dưới chỗ ngồi, giúp cân bằng hơn. Sản xuất hàng loạt bắt đầu sau thế chiến thứ 2 năm 1946 tại Courbevoie với mẫu 45 cm³ (khoảng 0,4 mã lực, tốc độ ~30 km/h, rất tiết kiệm: khoảng 1 lít/100 km).


Thấy bên tây họ làm xe 3 bánh

Vélosolex trở thành “xe đạp máy của thời kỳ Ba mươi năm huy hoàng” của công ty: đơn giản, bền bỉ, giá rẻ, nhẹ (khoảng 25-30 kg), thời đó ở Pháp không cần bằng lái hay biển số với loại phân khối này. Hơn 7 triệu chiếc được sản xuất cho đến năm 1988 (khi Pháp ngừng sản xuất). Các mẫu xe dần được cải tiến (330, 1010, 1700, 2200, 3300, 3800…), tăng công suất, thêm ly hợp ly tâm, cải tiến khung và độ tiện nghi. Xe được xuất khẩu sang hàng chục quốc gia, trong đó có Đông Dương.


Xe xuất hiện ở Việt Nam (lúc đó là Đông Dương thuộc Pháp, sau đó là Việt Nam bị chia cắt) từ cuối những năm 1940 / đầu những năm 1950, thông qua các kênh nhập khẩu gắn với sự hiện diện của Pháp. Hệ thống trạm xăng và mạng lưới thương mại đã có mặt ở Đông Dương từ thập niên 1950. Có lẻ vì vậy ở Hà Nội không có loại xe này nên ngày nay dân tình Hà Nội thích mua loại xe này để chơi.

Vélosolex trở nên đặc biệt phổ biến ở miền Nam, nhất là tại Sài Gòn, trong những năm 1950-1960. Rẻ và dễ tiếp cận hơn xe scooter (Vespa, Lambretta) do Ý Đại Lợi sản xuất, đắt giá hơn, nó nằm ở mức cao hơn xe đạp thường một bậc. Trong xóm có nhà ông Tô trên Thi Sách, nhà ông Quỳ, có xe Vespa. Xóm Địa Dư , hình như ông Tước cũng có một chiếc Vespa.


Xe Vespa của Ý Đại Lợi ra đời nhưng giá đắt nên chưa được phổ biến lắm đến khi phim “Roman Holidays” ra đời với tài tử Audrey Hepburn và Gregory Peck đóng mới đưa xe này lên đỉnh vinh quang, bán trên 100,000 chiếc tỏng vòng một năm.

Người ta thấy nó khắp các đường phố: Các cô gái trẻ và nữ sinh mặc áo dài, đội nón lá, hình ảnh biểu tượng của Sài Gòn xưa. Đà Lạt mình ít thấy cô nào đạp lên dốc lắm. Công chức, giáo viên, tầng lớp trung lưu sử dùng hàng ngày để đi học, đi làm hoặc đi lại trong thành phố.


Những lời kể và ảnh thời đó (thập niên 1960) cho thấy những chiếc Solex màu đen, thường gắn với hình ảnh hiện đại nhẹ nhàng và sự sang trọng. Các mẫu như 1400, 1700, 2000 hay 3300/3800 đều lưu hành. Nghe nói nay có giới sưu tầm Việt Nam (Hà Nội, Sài Gòn) giữ gìn, đôi khi còn nguyên bản (“zin”) rất hiếm, và cả những phiên bản mới hơn (S4800) cũng từng được nhập lại.


Sau những năm 1960-1970, với sự đổ bộ ồ ạt của xe máy Nhật mạnh hơn, đường sá mở rộng và những thay đổi chính trị, Vélosolex dần mất vị thế thống trị. Tuy nhiên, nó vẫn là biểu tượng hoài niệm mạnh mẽ về Sài Gòn trước 1975, thường xuất hiện trong ký ức, ảnh và câu chuyện. Nghe nói người Pháp đem qua HUng Gia lợi và Trung Cộng sản xuất cho rẻ nhưng rồi thị trường đóng lại nên cũng bỏ luôn vào miền quá khứ. Nay htif xe đạp điện chạy còn nhanh và êm không tiếng động nên loại này chắc hết có cơ duyên trở lại thị trường.


Xe này nghe nói ở Sàigòn rất được ưa chuộng nhưng Đà Lạt có dốc cao nên chả thằng tây nào dám quảng cáo xe này. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vụ án tiền Đông-Dương và thất bại của pháp tại Điện Biên PHủ

 Vụ án tiền Đông-Dương và thất bại của pháp tại Điện Biên PHủ


Buồn đời đọc tài liệu của pháp khi xưa về cuộc chiến tranh tại Việt Nam đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cáo chung nền cai trị thuộc địa cũ của Pháp quốc. Mình nhớ khi xưa, học lịch sử Việt Nam thì được biết dưới thời cai trị của thực dân pháp thì một đồng Đông-Dương có tỷ giá là 10 quan pháp (franc). Nay lại đọc tài liệu sau khi quân đội đồng minh giải phóng thủ đô Paris dưới ách cai trị của Đức quốc xã thì tướng De Gaulle ra lệnh tỷ giá 1 đồng bạc Đông-Dương ăn 17 đồng quan pháp đưa đến vụ xì-căn-đang mà người Pháp gọi: Affaire des piastresScandale des piastres hoặc Trafic des piastres) là một trong những vụ bê bối tài chính, chính trị lớn nhất của Đệ tứ Cộng hòa Pháp, diễn ra trong bối cảnh Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946–1954). Bây giờ mình mới hiểu sau này Việt Cộng vẫn tiếp tục sử dụng chiêu thức này sau khi tây về nưuosc để đánh thắng miền nam. Mình đã có kể rồi. Ai buồn đời thì tìm trên bờ lốc.


Đồng piastre (hay “bạc”) là đơn vị tiền tệ chính thức của Đông Dương thuộc Pháp, do Ngân hàng Đông Dương phát hành. Sau Thế chiến II, ngày 25–26/12/1945, chính quyền lâm thời Pháp (dưới sự lãnh đạo của tướng de Gaulle và Bộ trưởng Tài chính René Pleven) ấn định tỷ giá chính thức 1 piastre = 17 franc Pháp. Nên dân Việt Nam thời đó cho con đi tây học rẻ hơn là học ở Việt Nam. Tưởng tượng ở Sàigòn, Hà Nội cho con lên học ở nội trú ở Đà Lạt, giá gấp 4 lần cho con đi du học ở tây. Đà Lạt dạo ấy, gia đình ông Võ Quang Tiềm, ông NGuyễn Văn Phúng, ông Xu Tiếng, ông Võ Đình Dung,… xem như các đại gia ở Đà Lạt khi xưa đều cho con đi du học ở pháp ngay thời còn học trung học đệ nhất cấp. Không như sau này đậu tú tài rồi mới đi.


Trong khi đó, giá trị thực trên thị trường châu Á chỉ khoảng 8,5–10 franc. Sự chênh lệch này (khoảng 7–8,5 franc mỗi piastre) tạo ra một “dàn máy làm giàu” gần như hợp pháp: mua piastre (đồng Đông-Dương) với giá thấp ở Sài Gòn/Hà Nội rồi chuyển về Pháp đổi theo tỷ giá chính thức. Ngân khố Pháp (tức người nộp thuế) phải gánh phần chênh lệch.



Tiền Đông-Dương đại diện cho 3 xứ Việt Nam, Lào và Cam Bốt

Để được chuyển tiền, người ta cần giấy phép của Office Indochinois des Changes (Văn phòng Hối đoái Đông Dương). Các hình thức phổ biến gồm:

  • Lính Pháp (và cả lính thuộc địa) đứng tên chuyển “tiết kiệm” về nước (thực tế là tiền của doanh nhân hoặc giới làm ăn).
  • Doanh nghiệp lập hãng xuất nhập khẩu giả hoặc xuất hàng không bán được (phim hạng B, sách giáo khoa hết hạn, xi măng kém chất lượng, dù, bô vệ sinh…) để tạo lý do chuyển tiền.
  • Chuyển tiền “chính trị” cho các nhân vật thân Pháp (điển hình là Quốc trưởng Bảo Đại được cho phép chuyển số tiền tương đương hàng trăm triệu franc). Vụ này thì mới đọc được, mới hiểu lý do ông Bảo Đại thoái vị mà tiền đâu mà sống tà tà ở Hương Cảng. Trước đây có tài liệu cho biết các đại xì-thẩu Chợ Lớn, Bình Xuyên gửi tiền cho ông Bảo Đại, để ông ta cho phép buôn bán, sau ông Ngô Đình Diệm dẹp hết nên ông Bảo Đại hết tiền đánh bài nên qua Pháp sinh sống.
  • Mạng lưới bất hợp pháp: đưa vàng, đô la lậu vào Đông Dương, đổi lấy piastre rồi chuyển ngược về Pháp; thủy thủ và hải quan (nhiều người gốc Corse) đóng vai trò trung gian. Lý do đó người pháp hay gọi “clan des Corses). Nếu ai ở Đà Lạt chắc nhớ người đầu tiên xây các khách sạn ở Đà Lạt là ông Desanti, gốc Corse, sau này ông ta làm quản lý cho khách sạn Palace rồi khách sạn không trả tiền nên ông ta thưa kiện.

Theo ước tính của Jacques Despuech (cựu nhân viên Văn phòng Hối đoái), thiệt hại cho ngân khố Pháp có thể lên tới khoảng 100 tỷ franc mỗi năm(tương đương hàng tỷ đô la ngày nay).


Đặc biệt quan trọng nhất là Việt Minh cũng tham gia mạng lưới này (qua trung gian Trung Quốc và Việt Nam), dùng tiền thu được để mua vũ khí, một phần vũ khí sau đó quay lại chống lại quân Pháp. Trong khi đó quân đội Pháp lại cần tiền để chi trả cho chiến tranh nên phải bảo vệ người Thái Trắng ở vùng tự trị xung quanh biên giới Lào, gần Điện Biên Phủ, hổ trợ họ trồng thuốc phiện để đem về Sàigòn, Hà Nội để bán kiếm tiền cho quân đội pháp.


Các nhân vật nổi bật trong sự việc này:

  • Ông Mathieu Franchini: Ông chủ khách sạn Continental (đường Catinat, Sài Gòn), được coi là một trong những đầu mối quan trọng của mạng lưới Corse.
  • Nhà báo François-Jean Armorin (Franc-Tireur) điều tra và cáo buộc ông Franchini; ông thiệt mạng trong vụ rơi máy bay năm 1950 khi trở về Pháp, khiến dư luận nghi ngờ có yếu tố “thanh toán”. Sẽ kể sau về nhà báo tây đã gióng lên sự ăn gian buôn bán tiền Đông-Dương.
  • Jacques Despuech: Cựu công chức Văn phòng Hối đoái, bị sa thải trong hoàn cảnh đáng ngờ. Năm 1952 ông viết bài trên Le Monde, năm 1953 xuất bản sách Le Trafic des Piastres trở thành best-seller và kích động dư luận mạnh mẽ.
  • Các nhân vật bị nêu tên hoặc bị nghi ngờ: Bảo Đại, cựu Cao ủy Émile Bollaert, một số tướng lĩnh (Revers, Mast), quan chức và chính trị gia Pháp.

Vụ việc còn liên quan đến Affaire des généraux (vụ các tướng) năm 1949, khi báo cáo mật của tướng Revers về tình hình Đông Dương bị lộ ra ngoài và có liên hệ với mạng lưới piastre. Cho thấy các tướng của quân đội pháp chả để ý gì đến quân sĩ của họ, và cứ thế mà ăn tiền và báo cho mọi người biết tình hình, và quân đội pháp sẽ làm gì để họ kiếm lời. Sẽ kể sau. Kiểu trung tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh quân đoàn II, sai đàn em giao tiền đo-la cho Việt Cộng để họ cho người của ông vào rừng chặt cây bán cho ngoại quốc.


Áp lực dư luận và báo chí ngày càng lớn. Ngày 11/5/1953, 10 tháng trước khi người Pháp thất trận tại Điện Biên pHủ, chính phủ René Mayer quyết định hạ tỷ giá piastre xuống 10 franc, chấm dứt phần lớn hoạt động buôn lậu. Một ủy ban điều tra nghị viện được thành lập (7/1953), nhưng kết quả bị giữ bí mật một phần và vụ việc dần lắng xuống sau Hiệp định Genève 1954.


Vụ bê bối góp phần làm suy yếu niềm tin của dư luận Pháp vào cuộc chiến Đông Dương, củng cố hình ảnh “chiến tranh bẩn” (sale guerre), và trở thành một trong những biểu tượng của tham nhũng thuộc địa thời Đệ tứ Cộng hòa.


Sau Thế chiến II, Pháp cố giữ hệ thống thuộc địa Đông Dương trong khi chiến tranh với Việt Minh ngày càng tốn kém. Nên nhớ là lính Nhật Bản đã giải giới lính pháp trong 1 đêm. Nên sau thế chiến thứ 2 kết thúc, người Anh quốc và lính của Tưởng Giới Thạch đến Việt Nam để giải giới lính Nhật Bản. Nghe kể lính tàu đói quá bị phù, đến Việt Nam ăn nhiều quá đâm ra chết bội thực.


Một quyết định tài chính rất quan trọng được đưa ra cuối năm 1945: 1 piastre Đông Dương được ấn định chính thức ở mức 17 franc Pháp. Mình đoán là để kiếm tiền để trả chi phí vụ lính pháp trở lại Đông-Dương. Mình đoán người Pháp hạ giá tiền quan pháp để thuộc địa mua hàng hoá giúp kinh tế pháp gia tăng.


Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: giá trị thực của piastre thấp hơn rất nhiều. Theo Jacques Despuech, khoảng năm 1952, giá trị thực tế chỉ vào khoảng 8,50 franc, trong khi sức mua tại Đông Dương còn thấp hơn. Lý do kinh tế của Đông-Dương dạo đó rất mạnh.


Nói đơn giản: mua 1 piastre (đồng bạc Đông-Dương ) với giá khoảng 8–10 franc → đem đến ngân hàng chuyển tiền chính thức → đổi được 17 franc. Chênh lệch đó không phải tiền từ trên trời rơi xuống. Nó cuối cùng tạo ra một khoản chi phí cho hệ thống tài chính Pháp, tức người đóng thuế Pháp phải gánh.


Đây chính là “kẽ hở” làm phát sinh trafic des piastres. Một ví dụ rất đơn giản. Giả sử một người có: 1.000.000 piastres. Nếu mua chúng trên thị trường với giá trung bình 8,5 franc:

1.000.000 × 8,5 = 8,5 triệu franc


Nhưng nếu chuyển hợp pháp về Pháp theo tỷ giá chính thức:

1.000.000 × 17 = 17 triệu franc

Bỏ túi: 17 − 8,5 = 8,5 triệu franc. Hay 85%. Đó là lợi nhuận khổng lồ và đây mới chỉ là một vòng giao dịch.


Làm thế nào để biến tiền bất hợp pháp thành tiền “hợp pháp”? Đây mới là điểm tinh vi. Không phải chỉ cần mua thật nhiều piastre rồi đem tới ngân hàng. Việc chuyển piastre từ Đông Dương về Pháp chịu kiểm soát của Office Indochinois des Changes (OIC). Chính vì vậy, những người tham gia đường dây phải tạo ra một vỏ bọc thương mại.


Despuech, tác giả cuốn sách mô tả một mô hình đại khái như sau: Tại Saigon, Hà Nội, Chợ Lớn,…. Người ta thành lập một công ty thương mại, công ty này đặt hàng hàng hóa từ Pháp. Tại Paris, một công ty import-export lập hóa đơn gửi sang Saigon, hóa đơn có thể bị thổi giá (surfacturation). OIC nhìn thấy một giao dịch thương mại có vẻ hợp pháp. Tiền piastre được chuyển sang Pháp theo tỷ giá chính thức, phần tiền chênh lệch trở thành lợi nhuận.


Điều đáng chú ý là không nhất thiết phải có tiền mặt chạy qua biên giới. Một phần giao dịch có thể được thực hiện thông qua:

  • hóa đơn thương mại;
  • ngân hàng;
  • hối phiếu;
  • tài khoản ở nước thứ ba;
  • các công ty trung gian;
  • Hong Kong;
  • Bangkok;
  • Paris;
  • New York.

Đó là lý do vụ việc trở nên cực kỳ khó điều tra. Mình có kể khi xưa, trong thời chiến, Hà Nội đã cho người sang Hương Cảng, Paris để tìm cách chuyển ngân qua Nam Vang để mua thực phẩm cho bộ đội đánh mỹ cứu nước cũng như tại Sàigòn các đại xì-thẩu Chợ Lớn cũng nhúng tay làm giàu kiểu. Hà Nội chỉ cần có đô-la là có thể mua gạo cơm thực phẩm cho bộ đội đánh phe ta.


Theo các tài liệu mà Despuech công bố, cùng một hệ thống tài chính có thể phục vụ những người đang kiếm tiền từ chế độ thuộc địa và đồng thời tạo điều kiện cho Việt Minh tiếp cận ngoại tệ. Một bài của Le Monde năm 1953 dẫn lại tài liệu của Despuech và L’Observateur, cho rằng việc đầu cơ piastre đã giúp Việt Minh có được ngoại tệ mạnh. 


Hệ thống được mô tả đại khái như sau: Piastre tại Đông Dương, được dùng để mua USD, sau đó USD được đưa ra các trung tâm tài chính Châu Á như Hong Kong / Bangkok / Manila và Việt Minh có thể sử dụng ngoại tệ để mua: vũ khí + đạn dược + vật tư, y chang thời 1963-1975. Điều này đặc biệt quan trọng sau năm 1950, khi Trung Quốc cộng sản đã mở ra một nguồn cung cấp và tuyến hậu cần mới cho Việt Minh.


Điều mà các tài liệu đương thời cho thấy là một hệ thống tiền tệ bị bóp méo đã tạo ra những dòng tiền mà trong đó cả các nhà đầu cơ và những người chống Pháp đều có thể khai thác. Đây chính là điều làm vụ án trở thành một trong những nghịch lý tài chính lớn nhất của Chiến tranh Đông Dương.


Jacques Despuech không phải người ngoài cuộc hoàn toàn. Ông từng làm việc liên quan đến hệ thống kiểm soát ngoại hối ở Đông Dương và sau đó trở thành người công khai vạch ra cơ chế này. Ngày 20 tháng 11 năm 1952, Le Monde đăng bài của ông về “Le trafic des piastres”. Sau đó, năm 1953, ông xuất bản cuốn: “Le Trafic des piastres”, cuốn sách gây chấn động vì Despuech không chỉ giải thích hệ thống, ông còn:

  • đưa tên những người bị ông cho là có liên quan;
  • công bố tài liệu;
  • trình bày các hóa đơn;
  • chỉ ra những giao dịch đáng ngờ;
  • đề cập đến các ngân hàng và mạng lưới quốc tế;
  • và đặc biệt là mối liên hệ giữa hệ thống này với Việt Minh.

Le Monde khi giới thiệu cuốn sách năm 1953 ghi nhận rằng Despuech đưa ra khoảng 40 tấm tài liệu photocopy, trong đó có sơ đồ liên hệ ngân hàng, danh thiếp, địa chỉ và các chứng từ thương mại mà ông cho là có dấu hiệu surfacturation. 


Viết tới đây mới nhớ cách đây đâu 30 năm, có ông chú họ ở Thái Nguyên, viết thư cho mình. Ông chú nói là làm thầu khoán nên cần mình mua cho 20 xe chở xi-măng cũ. Mình có hỏi dùm thì công ty ở nam Cali có 20 chiếc và muốn bán mỗi chiếc dạo đó $15,000. Vấn đề là ông chú họ bảo mình phải niêm giá trong biên lai là gấp đôi là $30,000/ chiếc. Ở Hoa Kỳ đâu có vụ này, rồi ai đóng thuế dùm. Nên cuối cùng mình thấy phức tạp làm ăn với Việt Nam nên dẹp bỏ vụ buôn bán với Việt Nam.


Trong lịch sử Đông Dương cuối thời thuộc địa, có một mạng lưới người Corse rất nổi tiếng tại Saigon, Marseille và các trung tâm thương mại khác. Họ tham gia vào nhiều lĩnh vực: hải cảng → vận tải → thương mại → sòng bạc → nhà hàng → bảo kê → chính trị địa phương → các hoạt động kinh tế bán hợp pháp và phi pháp. Dân đảo Corse của Pháp nghèo nên họ đi tứ xứ làm ăn. Ông xây khách sạn đầu tiên ở Đà Lạt , tên Desanti, cũng gốc Corse. Họ chịu khó như dân miền trung Việt Nam, nhưng có điều là khi họ ở Sàigòn thì Không có nhớ đến dòng Seine như mấy ai đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh.


Từ thời thuộc địa, người Corse đã có một cộng đồng khá mạnh tại Đông Dương. Họ hoạt động trong: thương mại; nhà hàng và khách sạn; vận tải; cảng; các cơ sở giải trí; kinh doanh và môi giới. Một tài liệu về Amicale Corse de Cochinchine cho thấy cộng đồng Corse ở Nam Kỳ có tổ chức riêng và có mạng lưới xã hội khá chặt chẽ. Ông Despuech thậm chí viết một câu rất mạnh rằng người Corse “ở khắp nơi” trong đời sống thuộc địa. Ông đặc biệt nhắc đến những cơ sở lớn ở đường Catinat như Continental, Croix-du-Sud, Impérial và Hôtel des Nations, mà ông cho rằng là những nơi gặp gỡ của những người tham gia các hoạt động đầu cơ. Nhưng đây là nhận xét của Despuech, không phải bằng chứng rằng mọi cơ sở ấy đều là trung tâm tội phạm. 


Một cái tên nổi bật trong hồ sơ vụ đổi tiền là ông Mathieu Franchini. Ông đến Đông Dương từ năm 1922 và tự khai rằng mình đến trong hoàn cảnh nghèo khó, sau đó xây dựng được một cơ nghiệp rất lớn. Vụ này thì khả thí vì dân Corse nghèo đói tương tự dân miền nam nước Ý Đại Lợi như đảo Sicily. Đến năm 1953, ông Franchini đã trở thành nhà phân phối của General Motors; sở hữu Hôtel Continental và Hôtel Majestic. 2 khách sạn sang trọng nhất Sàigòn.


Trước khi Despuech trở thành nhân vật trung tâm của scandal, nhà báo Jean-François Armorin của tờ Franc-tireur đã điều tra vụ việc. Các tài liệu nghiên cứu sau này ghi nhận rằng Armorin đã phát hiện những dấu hiệu liên quan đến mạng lưới tội phạm Corse trong vụ Piastre. Ông Armorin chết trên chuyến bay từ Saigon về Paris khi máy bay gặp tai nạn.Sau đó, một số bài báo và người viết đương thời đặt câu hỏi liệu cái chết có liên quan đến cuộc điều tra của ông hay không. 


Ông Despuech nhấn mạnh rằng những giao dịch đáng ngờ không chỉ liên quan đến người Pháp. Trong cuốn sách của ông có những trường hợp liên quan tới người Việt Nam ở Paris, những người làm trung gian cho các khoản chuyển tiền có tính chất chính trị. Le Monde năm 1953 cũng ghi nhận rằng Despuech đặc biệt chú ý đến những “correspondants vietnamiens à Paris”. Điều này đưa chúng ta đến một câu hỏi cực kỳ quan trọng: Việt Minh có nằm trong hệ thống này không?


Có bằng chứng rằng các lực lượng chống Pháp đã khai thác những kẽ hở của hệ thống tiền tệ. Đây chính là điều làm vụ Piastre trở nên đặc biệt. Pháp đang chi hàng tỷ franc để đánh Việt Minh. Nhưng chính sách tỷ giá 17:1 lại tạo ra một hệ thống:


Chính phủ Pháp → trả giá cao cho piastre → người đầu cơ kiếm lợi → một phần tiền chạy qua các trung tâm tài chính châu Á → những người chống Pháp cũng có thể khai thác hệ thống đó. Một nghiên cứu gần đây về chiến tranh Đông Dương cũng nhấn mạnh nghịch lý này: tỷ giá nhân tạo đã tạo ra những khoản lợi lớn cho các cá nhân có quan hệ, đồng thời các nguồn đương thời cho rằng Việt Minh cũng tận dụng được hệ thống. 


Nếu chỉ là vài thương nhân Corse kiếm tiền, câu chuyện sẽ không trở thành scandal quốc gia. Điều làm Quốc hội Pháp phải điều tra là ông Despuech đưa ra những tài liệu liên quan đến cả quan chức, chính trị gia và những người có vị trí cao trong bộ máy thuộc địa. Le Monde mô tả cuốn sách năm 1953 của ông là một “hồ sơ” với rất nhiều tên tuổi, bao gồm:

  • quan chức cấp cao;
  • nhân viên Office Indochinois des Changes;
  • sĩ quan;
  • doanh nhân;
  • và những người liên quan đến các vụ chuyển tiền chính trị. 

Saigon → OIC → Paris → Hong Kong/Bangkok → vàng/USD → Việt Minh


Hãy lấy một ví dụ đơn giản: 1.000.000 piastres. Trong hệ thống tỷ giá chính thức 17:1, khoản tiền đó có giá trị trên giấy tờ:

1.000.000 × 17 = 17 triệu franc


Trong khi người muốn gom piastres có thể mua chúng với giá thấp hơn nhiều trên thị trường. Chính khoảng cách giữa giá chính thức và giá thực tế tạo ra lợi nhuận. Người tham gia không nhất thiết phải ôm tiền mặt từ Saigon bay sang Paris. Họ cần một giao dịch thương mại hoặc tài chính có vẻ hợp pháp để đưa giá trị của số piastres đó vào hệ thống chuyển tiền chính thức.


Sau 1949, Hong Kong trở thành một trung tâm tài chính cực kỳ quan trọng của châu Á. Nó nằm ngay cạnh Trung Quốc nhưng vẫn nằm dưới quyền Anh. Điều đó tạo ra một vị trí đặc biệt: Trung Quốc-Hong Kong- Đông Nam Á- Đông Dương. Tại đây có thể giao dịch: USD; vàng; tiền tệ châu Á; hàng hóa; tín dụng; vận tải biển.


Vì vậy, một khoản tiền bắt đầu dưới dạng piastre ở Saigon có thể sau nhiều giao dịch trở thành USD hoặc vàng ở Hong Kong. Và lúc ấy việc truy tìm nguồn gốc ban đầu trở nên cực kỳ khó. Hoa Kỳ cấm vận Ba-Tư nhưng xứ 1001 đêm vẫn ung dung tự tại vì có đường riêng để rữa tiền.


Bangkok quan trọng vì Thái Lan nằm ngoài hệ thống thuộc địa Pháp có: thương mại với Đông Dương; đường bộ; đường biển; các thương nhân Trung Hoa; thị trường vàng; mạng lưới tiền tệ khu vực.


Do đó, nếu muốn đưa giá trị ra khỏi Đông Dương, một tuyến như Saigon → Phnom Penh → Bangkok hoặc Saigon → Hong Kong có thể tạo ra một lớp trung gian bên ngoài sự kiểm soát trực tiếp của Pháp. Đó là cách Hà Nội đã thực hiện chuyển tiền vào Nam để đánh Việt Nam Cộng Hoà.


Việt Minh có nhiều nguồn tài chính:

  • thuế đánh vào các nhà tư thương như bà Nguyễn Thị Năm ở Hà Nội hay sau này dân buôn bán tại Đà Lạt có xe hàng Sàigòn-Đà Lạt đều phải đóng thuế cho Việt Cộng nếu không họ phá hay đặt mìn.
  • đóng góp; Mệ ngoại mình kể ông Hồ đi quyên góp vàng bạc của dân chúng để kháng chiến và cho tiền ông tướng tàu để ông ta kéo quân về nước.
  • kiểm soát vùng nông thôn;
  • buôn bán;
  • ngoại thương;
  • hỗ trợ từ Trung Quốc sau 1950;
  • các hoạt động tài chính bí mật.

Vì vậy piastre không phải nguồn tài chính duy nhất của Việt Minh nhưng ngoại tệ rất quan trọng vì Việt Minh cần mua những thứ mà họ không thể sản xuất trong nước: USD / vàng để mua hàng, vũ khí, đạn dược, radio, thuốc men, vật tư quân sự. Đặc biệt sau chiến thắng của Cộng sản Trung Quốc năm 1949 và việc Trung Quốc công nhận Việt Minh năm 1950, Việt Minh có một hậu phương quốc tế mới. Ông Võ Nguyên Giáp có viết là nếu không có Trung Cộng ủng hộ thì chắc chắn sẽ không kháng chiến. Một khoản tiền có thể đi từ Saigon → Hong Kong trong khi vũ khí đi: từ Trung Quốc → Việt Bắc. Điều đặc biệt là các vụ bán bán đa số là thuốc men,… mà mấy thứ này Sàigòn đâu cần nhiều, Việt mInh cần để đánh pháp khiến người Pháp sau khi khám phá ra khóc như mưa bất.


Ông Despuech không chỉ nói:“Có tham nhũng.” Mà đưa ra một luận điểm nguy hiểm hơn: chính phủ Pháp đang tạo điều kiện cho một hệ thống làm thất thoát tiền. Và trong hệ thống ấy: người Pháp kiếm tiền, người Việt Nam trung gian kiếm tiền, những mạng lưới quốc tế chuyển tiền và Việt Minh có thể khai thác một phần dòng tiền. Pháp đang vô tình làm suy yếu chính cuộc chiến của mình. Nghe nói có một luận án nghiên cứu lịch sử kinh tế về vụ việc cũng mô tả chính luận điểm này: Despuech cho rằng tham nhũng và sự thụ động của chính quyền đã tạo điều kiện cho những hoạt động làm lợi cho nỗ lực chiến tranh của Việt Minh. (Mình chưa đọc bản này)


Và rồi chúng ta đến câu hỏi lớn nhất, Việt Minh thực sự nhận được bao nhiêu tiền từ hệ thống Piastre? Có rất nhiều con số được lặp đi lặp lại, nhưng khi truy ngược về nguồn thì chúng thường quay lại ước tính của Despuech, chứ không phải một bản kiểm toán độc lập.


Liên quan vụ này người Pháp hay nhắc đến “Affaire des généraux” năm 1949 là một mắt xích cực kỳ quan trọng, và thực ra nó nối trực tiếp với câu chuyện piastres, mạng lưới Corse và Việt Minh mà chúng ta đang lần theo.


Affaire des généraux không phải ban đầu là một vụ tiền bạc. Nó là vụ rò rỉ một báo cáo quân sự tối mật của tướng Georges Revers cho phía Việt Minh. Sau đó mới xuất hiện những dấu vết về tiền, môi giới và các nhân vật trung gian. Như chính phủ Trump kêu có người rò rỉ tin tức Hoa Kỳ đánh bom Ba-Tư, cần phải được xử nghiêm ngặt.


Năm 1949, tướng Georges Revers là Tổng tham mưu trưởng Lục quân Pháp, được chính phủ cử sang Đông Dương để đánh giá tình hình chiến tranh. Chuyến đi này cực kỳ quan trọng cho tình hình Việt Nam vì tướng Revers nhận thấy tình hình nghiêm trọng hơn những gì Paris muốn tin. Ông đề nghị một số thay đổi căn bản:

  • xây dựng một quân đội Việt Nam; có vào những năm này, ông cụ mình đang đi lính Ngự Lâm Quân và sau đó được chuyển qua quân đội Việt Nam Cộng Hoà 
  • dựa nhiều hơn vào chủ nghĩa dân tộc Việt Nam để chống Việt Minh;
  • không cố giữ những vị trí biên giới quá khó phòng thủ;
  • xem xét rút khỏi một số cứ điểm ở biên giới Bắc Việt;
  • tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế, đặc biệt từ Anh và Thái Lan. 

Đây là một báo cáo rất nhạy cảm. Bởi nó có nghĩa là chính quân đội Pháp đang thừa nhận rằng chiến lược hiện tại có vấn đề. Báo cáo được in chỉ khoảng 50 bản, dưới sự kiểm soát đặc biệt trong một cơ sở quân sự. Chỉ 33 bản được phân phối chính thức; những bản còn lại được giữ trong hệ thống của Revers. Vậy mà vài tháng sau… Việt Minh có được báo cáo và đây là nơi vụ án bùng nổ.


Người ta nói đến ông Roger Peyré. Ông là một nhân vật có quan hệ với các tướng Revers và Charles Mast, đồng thời có liên hệ với SDECE, cơ quan tình báo đối ngoại Pháp. Theo hồ sơ được công bố, ông có những hoạt động kinh doanh rất đáng ngờ ở Đông Dương và đặc biệt quan tâm tới trafic des piastres. Đây là điểm mà hai câu chuyện bắt đầu lòi ra “Affaire des gênsraux” và “Affaire des piastres”.


Ông Peyré đi Đông Dương trước khi tướng Revers. Theo hồ sơ vụ án, ông tìm cách tiếp xúc với nhiều nhân vật để tạo ảnh hưởng đối với báo cáo mà tướng Revers sẽ viết. Ông muốn người ta đánh giá tướng Mast là người thích hợp để chỉ huy tình hình Đông Dương. Nói cách khác: ông Peyré không chỉ là người đưa tin, dường như đang cố tác động đến chính sách quân sự. Không biết ông ta có là đảng viên cộng sản pháp hay không.


Có một nhân vật người Việt trong vụ án này tên là Hoàng Văn Cơ, hậu duệ của ông Hoàng Cao Khải. Ông là một nhà báo, hoạt động chính trị và có vị trí trong hệ thống thông tin của chính quyền Việt Nam Quốc gia/Bảo Đại. Theo hồ sơ vụ án, Hoàng Văn Cơ có quan hệ với nhiều phe phái Việt Nam tại Paris. Vấn đề là ông cũng xuất hiện trong đường dây tiền bạc liên quan đến Peyré. Theo hồ sơ được tổng hợp, Peyré nhận từ Hoàng Văn Cơ hai tấm ngân phiếu, mỗi tấm trị giá 1 triệu franc, ngoài tiền mặt và một chiếc tủ lạnh trị giá khoảng 150.000 franc. 


Ngày 26/8/1949, đài phát thanh Việt Minh bắt đầu phát những đoạn nội dung của báo cáo. Đến 18/9/1949, tại Paris xảy ra một vụ việc tưởng như rất bình thường: Một cựu quân nhân Pháp tranh cãi với hai người Việt Nam gần Gare de Lyon. Cảnh sát can thiệp và trong hành lý của một người Việt Nam… người ta tìm thấy bản sao báo cáo Revers. Vụ “Affaire des généraux” chính thức bùng nổ. Mấy ông người Việt theo Việt Minh, cứ gặp tây là cãi dù biết mình đem tỏng người hồ sơ tối mật.


Nhưng câu hỏi làm thế nào Việt Minh có được báo cáo? Đây là phần hấp dẫn nhất. Điều tra của DST lần theo các bản sao. Một số bản được tìm thấy trong tay những người có liên hệ với Việt Minh. Một đường dây dẫn tới Trần Ngọc Danh, cựu đại diện Việt Minh tại Paris. Một đường dây khác dẫn tới hoàng tử Vĩnh Xá, người em họ của ông Bảo Đại nhưng cũng bị mô tả là một nhân vật hai mang, có liên hệ với cả các phe chống Bảo Đại và Việt Minh. Tổng cộng, điều tra viên phát hiện nhiều bản sao, trong đó có 72 bản được cho là đã lưu hành trong các tổ chức/người Việt liên quan. 


Nhưng câu hỏi vẫn còn: Ai là người đưa bản gốc cho họ? Tướng Revers đã đưa một bản báo cáo cho tướng Charles Mast. Vấn đề là tướng Mast không thuộc nhóm người chính thức cần được nhận báo cáo. Theo hồ sơ, tướng Mast nhận bản số 27. Tướng Mast lại có quan hệ với Roger Peyré và Peyré là người đang bị điều tra vì những hoạt động tài chính và quan hệ rất đáng ngờ.


Theo điều tra của DST, 2 tướng Mast và Revers phủ nhận các cáo buộc. Chính phủ cuối cùng quyết định không đưa vụ việc đến một kết luận hình sự đầy đủ; hồ sơ bị thu lại và vụ điều tra bị đóng theo quyết định của chính quyền Ramadier. 


Nhưng hậu quả chính trị rất lớn. Tướng Revers mất chức vào cuối năm 1949 và vụ việc trở thành một scandal lớn của Đệ Tứ Cộng hòa. Có một hậu quả quân sự mà chúng ta không nên bỏ qua. Báo cáo Revers đã đề cập đến vấn đề: biên giới Bắc Việt – Trung Quốc và khả năng Pháp không thể giữ mãi các vị trí như Cao Bằng và Lạng Sơn. Sau khi báo cáo bị lộ, phía Việt Minh biết được đánh giá chiến lược của quân đội Pháp. Nghiên cứu về trận Cao Bằng cho rằng thông tin từ Affaire des généraux giúp các nhà chiến lược Việt Minh và Trung Quốc hiểu rõ hơn dự định của Pháp, trong đó có khả năng rút khỏi khu vực biên giới. 


Một năm sau: Chiến dịch Biên giới 1950, Việt Minh đánh mạnh trên tuyến Route Coloniale 4 (RC4). Các đơn vị Pháp rút khỏi Cao Bằng vào tháng 10/1950 và bị phục kích. Đây là một trong những thất bại lớn nhất của quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương.


Từ đầu mình tưởng rằng có ba câu chuyện:

① Affaire des généraux — 1949: Rò rỉ bí mật quân sự.

② Affaire des piastres — 1950–1953: Tham nhũng và đầu cơ tiền tệ.

③ Mạng lưới Corse / quốc tế: Doanh nhân, môi giới, ngân hàng và các đường dây chuyển tiền nhưng thực tế chúng chồng lên nhau. Có những nhân vật xuất hiện ở nhiều câu chuyện. Roger Peyré, là một trong những chiếc cầu nối đáng chú ý nhất.


Sau khi nhìn vào Affaire des généraux, chúng ta có thể nói chính xác hơn: Hoàng Văn Cơ thực sự xuất hiện trong hồ sơ của vụ các tướng. Ông có quan hệ với các phe phái Việt Nam, trong đó có những người ủng hộ Bảo Đại; đồng thời tên ông xuất hiện trong điều tra về các khoản tiền trả cho Peyré. Nhưng không nên từ đó kết luận Hoàng Văn Cơ là đặc vụ Việt Minh. Chính hồ sơ lại mô tả tình hình phức tạp hơn: các phe Bảo Đại – quốc gia – Việt Minh có những quan hệ chồng chéo và đôi khi có những nhân vật hai mang. 


Hãy theo dòng thời gian thì nhận thấy:

1949

→ Revers điều tra Đông Dương

→ Peyré xuất hiện

→ báo cáo tối mật bị rò rỉ

→ Việt Minh biết được đánh giá chiến lược của Pháp tại Việt Nam 

→ Revers bị mất chức


1950

→ chiến tranh chuyển biến mạnh

→ thất bại RC4, Việt Minh phục kích lính tây khi họ rút lui về Nasan.


1950–1952

→ những câu hỏi về piastre ngày càng lớn


1952–1953

→ Despuech công khai hồ sơ

→ Quốc hội điều tra

→ vụ trafic des piastres trở thành scandal quốc gia


1953

→ tỷ giá piastre bị hạ từ 17 xuống 10 franc


Vì vậy, “Affaire des généraux” chính là chiếc chìa khóa để hiểu giai đoạn đầu của vụ Piastre. Và điều đáng kinh ngạc nhất là một số nhân vật và mạng lưới xuất hiện trước trong vụ rò rỉ quân sự năm 1949, rồi sau đó lại xuất hiện trong câu chuyện tiền bạc. Đây có lẽ là nhân vật quan trọng nhất để hiểu toàn bộ mạng lưới:

Peyré → tướng Mast → Revers → Hoàng Văn Cơ → Bảo Đại → Việt Minh → piastres → SDECE/DST.


Từ đó chúng ta mới có thể trả lời câu hỏi khó nhất: Peyré thực sự là một kẻ đầu cơ, một môi giới chính trị, một điệp viên hai mang, hay ông ta là người bị các cơ quan tình báo sử dụng?


Nằm gần hải cảng, phía dưới đường Catinat, khu này là một ốc đảo yên bình thực sự. Chỉ cách đó vài trăm mét, lựu đạn đã nổ trên sân thượng các quán cà phê. Sở Mật thám Pháp và các lực lượng dân quân Việt Nam đang tiến hành những cuộc thanh toán đẫm máu với những người ủng hộ Độc lập. Tất cả diễn ra dưới ánh mắt chế giễu của các compradore Trung Quốc (những người môi giới cho các hãng phương Tây) và giới tư sản Annam, những tay đầu cơ lớn  có thể tập hợp trong vài phút những khoản tiền khổng lồ mà tốt hơn đừng hỏi nguồn gốc, trừ khi muốn kết thúc cuộc đời trong dòng nước đục ngầu của một con rạch. Piastre – tên gọi của đồng tiền địa phương, đã trở thành một trong những ngoại tệ được săn đón nhất hành tinh kể từ khi, vào tháng 12 năm 1945 ở Paris, một viên chức vô danh của Bộ Tài chính ấn định tỷ giá chính thức tại chính quốc là 17 franc, gấp đôi giá trị thực tế (8,50 franc). Quyết định ngày 25 tháng 12 đó trở thành món quà Giáng sinh đẹp nhất mà Đệ tứ Cộng hòa dành cho giới làm ăn phi pháp.


Chấm dứt thời đại của những “BOF” (bơ – trứng – pho mát) làm giàu nhờ chợ đen dưới thời chiếm đóng. Giờ đến lượt những kẻ buôn lậu piastre, bị cuốn vào một cơn sốt vàng thực sự. Một số người đã xây dựng những gia sản khổng lồ chỉ trong vài tuần, thậm chí vài ngày. Nguyên tắc rất đơn giản: chỉ cần sống ở Đông Dương, đặc biệt là trong nền cộng hòa ngắn ngủi Cochinchine, và xin được giấy phép chuyển piastre về chính quốc, ở Sài Gòn piastre chỉ đáng 8,50 franc nhưng khi đổi ở Paris thì được 17 franc. Hệ thống ban đầu nhằm khuyến khích xuất khẩu từ Pháp sang các thuộc địa châu Á, sau đó nhanh chóng tách thành hai nhánh: một nhánh “hợp pháp” (ít nhất về nguyên tắc) và một nhánh bất hợp pháp. Những người hoạt động trong khuôn khổ pháp lý tuyệt đối là binh lính của đoàn quân viễn chinh được phép chuyển tự do về Pháp số tiền tiết kiệm của họ.


Và chỉ có trời mới biết các anh lính tây tiết kiệm đến mức nào: từ năm 1947 đến 1949, họ hầu như không tiêu một đồng piastre nào ở Đông Dương và làm tăng trưởng số vốn của mình. Hơn thế, tổng số tiền piastre được chuyển về còn vượt xa rất nhiều tổng số lương của quân nhân. Thế nhưng người ta vẫn thấy lính thủy, phi công, bộ binh và lính lê dương sống rất sung túc, đánh bạc những khoản tiền thiên văn tại Grand Monde Đại Thế Giới ở Chợ Lớn – khu phố Trung Hoa của Sài Gòn hoặc chi tiêu hào phóng cho gái mại dâm tại Parc à buffles, nhà chứa quân sự lớn nhất của thủ phủ Cochinchine. Thực tế, các quân nhân, với một khoản hoa hồng hợp lý, chỉ đóng vai người đứng tên cho các doanh nhân hoặc “tiểu bạch” muốn “làm piastre”, giống như sau này người ta làm CFA ở châu Phi. Khi làm tiền dễ dàng thì khó ai mà gian khổ đánh Việt Minh.  Thời Mỹ cũng có vụ đổi Đô-la đỏ và Xanh làm giàu.


Những “người hợp pháp” khác, cảm nhận được sự kết thúc của sự hiện diện Pháp, thề rằng họ muốn rời bỏ Đông Dương nơi họ đã sống hàng năm, thậm chí hàng thập kỷ. Người ta chứng kiến một cuộc di cư cảm động của những “người ra đi vĩnh viễn”, được phép chuyển không khó khăn thành quả lao động của mình, rồi vài tuần sau lại thấy họ ngồi trên sân thượng Continental, bị cơn “nhớ quê hương” không cưỡng nổi. Một số người ra đi như vậy năm, sáu, bảy lần, cho đến khi nhà chức trách siết chặt kiểm soát và chấm dứt những chuyến đi về liên tục đó.


Các doanh nhân thì bị cuốn vào một cơn sốt mua sắm thực sự. Rất nhanh, Sài Gòn trở thành thánh địa của các hãng xuất nhập cảng, thường được thành lập từ con số không và có địa chỉ ít nhiều giả tạo cả ở Pháp lẫn Đông Dương, thường nằm trong các quán rượu của bạn bè.


Đông Dương thuộc Pháp chứng kiến các hải cảng tràn ngập mọi loại hàng tồn kho không bán được chất đống trong kho ở Pháp: phim hạng B, sách giáo khoa hết hạn, xác tàu sắp tháo dỡ, bao xi măng không dùng được, hàng ngàn cây dù, bô vệ sinh… Người ta không thể liệt kê hết danh sách kiểu Prévert những hàng xuất khẩu của Pháp sang Sài Gòn mà chủ hàng thậm chí không đến nhận ở cảng, hoặc sau đó tìm thấy trên những bãi đất trống xung quanh thành phố. Tại Văn phòng Hối đoái trên đường Guynemer, khoảng hai mươi nhân viên hợp đồng người Pháp và bốn mươi thư ký Annam xử lý hồ sơ theo kiểu “may rủi”, từ chối một số khoản chuyển tiền, chấp nhận một số khác, theo những tiêu chí mà các khoản hối lộ khéo léo phân phối góp phần làm mềm mại hơn.


Phải giả định rằng các viên chức Văn phòng Hối đoái là những Adonis thực thụ, vì những cô gái xinh đẹp si mê những người đàn ông trung niên bụng phệ và chiều theo mọi ý thích của họ, cho đến ngày cô gái yêu cầu người tình “giúp một việc nhỏ”: ký một lệnh chuyển piastre cho mình hoặc cho những người bạn rất thân.


Giám đốc văn phòng cũng không hứng thú dọn sạch chuồng ngựa Augias, vì chính ông cũng chịu áp lực từ các Cao ủy liên tiếp (Bollaert hay Pignon), các nghị sĩ, bộ trưởng, thượng nghị sĩ hoặc tất cả những người Việt “thân Pháp” mà lòng trung thành tỷ lệ nghịch với số lượng và quy mô các khoản chuyển tiền được cấp. Nhà vô địch tuyệt đối trong lĩnh vực này là Hoàng đế Bảo Đại, sống thanh bạch nơi lưu vong ở Hồng Kông kể từ khi thoái vị năm 1946.


Người Pháp muốn ông trở lại Đông Dương, nhưng Hoàng thượng ngần ngại. Vì vậy, để dụ dỗ, người ta cho phép ông chuyển về chính quốc số piastre tương đương 500.000 đô la. Mình đọc tài liệu nghe nói người Tàu CHợ Lớn gửi cho ông ta tiền tiêu xài để được các thưuong vụ buôn bán với chính phủ Việt Nam.


Còn các lãnh đạo những hãng xuất nhập cảng lớn ở Bordeaux (Denis Frères, Alcan, Comptoirs France-Asie…) thì nhân lên gấp 10 lần, từ năm 1947 đến 1953, các hoạt động thương mại từ Pháp sang Đông Dương, đồng thời không quên thu về những khoản bồi thường chiến tranh hậu hĩnh cho những thiệt hại thực hoặc giả do quân Nhật gây ra từ 1940 đến 1945. Hàng trăm triệu piastre được chuyển mỗi năm từ Sài Gòn về Paris đã giúp các công ty này thoát hiểm sau thất bại năm 1954 và ký kết Hiệp định Genève. Cho thấy chiến tranh là nơi người ta làm giàu trên xương máu chiến sĩ.


Chi tiết lạ: không ít hàng nhập từ Pháp là thuốc men, đèn pin, giày dép, băng gạc… không hề được bán trên đường Catinat mà, nhờ những trung gian Trung Quốc và Annam không ai nghi ngờ, đã đến tay lực lượng Việt Minh, cũng là một bên tham gia vào mạng lưới buôn lậu này. Khi Ganay, giám đốc chi nhánh Ngân hàng Đông Dương, quyết định can thiệp vào những chuyện bẩn thỉu này, người hầu phòng kiêm tình nhân của ông bị Việt Minh bắt cóc cùng với một tượng nhỏ mà ông rất quý. Sau những cuộc thương lượng dài và kín đáo, ông lấy lại được người tình trẻ và tác phẩm nghệ thuật, nhưng từ đó mất khả năng nói bất cứ điều gì liên quan đến nạn buôn lậu piastre.


Một khi đã được phép chuyển tiền, người ta có thể lặp lại vô tận thao tác này. Chỉ cần đưa vàng lậu vào Sài Gòn, mỗi lượng ở Paris giá 586 franc nhưng ở Đông Dương lên tới 1.300 franc – hoặc đô la qua Hồng Kông, Colombo hay Macao. Bọn buôn lậu đổi chúng lấy piastre, rồi lại chuyển piastre về Paris.


Các thủy thủ trên những tàu khách tuyến Marseille – Sài Gòn chuyên làm những vụ này, và những nhân viên quan thuế người Corse ở hải cảng, mơ về một cuộc hưu trí sung túc trên đảo Đẹp, sẵn sàng nhắm mắt trước vài khoản hối lộ rồi chuyển ngay về nhà nhờ… Văn phòng Hối đoái.


Người ta từng thấy một ông già quý tộc bước xuống tàu với một cây đàn accordion trên tay. Xúc động trước cảnh cụ già vác nặng, một anh lính trẻ xung phong giúp. Không may anh là người yêu nhạc musette và muốn thử chơi thử cây đàn. Đàn vỡ tan, nhiều thỏi vàng rơi xuống đất trước mắt các nhân viên quan thuế.


Một cú sốc đã làm chấn động thế giới piastre. Ngày 18 tháng 9 năm 1949, một cuộc ẩu đả xảy ra tại nhà ga Lyon giữa một người lính vừa từ Đông Dương về và hai người Annam. Trong cặp của một trong hai người: Doc Dai Phuoc, nhân viên sứ quán Việt Nam, người ta tìm thấy bản sao báo cáo mật của tướng Revers gửi Paul Ramadier, Bộ trưởng Quốc phòng, sau chuyến thanh tra ở Đông Dương. Các cuộc khám xét trong giới Đông Dương ở Paris cho phép tìm thấy 38 bản báo cáo rất phê phán, trong đó Revers tố cáo gay gắt vụ bê bối buôn lậu piastre và điểm danh nhiều nhân vật, trong đó có một “M. Paul” bí ẩn mà một số nhà báo cho là Paul Auriol, con trai Tổng thống pháp.


Ngày 17 tháng 1 năm 1950, một ủy ban điều tra nghị viện có sự tham gia của nghị sĩ cộng sản Maurice Kriegel-Valrimont được thành lập. Nhưng ủy ban này không bao giờ có thời gian hoàn tất công việc. Còn những cáo buộc do Kriegel-Valrimont đưa ra và được báo chí cộng sản tiếp tục thì bị coi là vô giá trị vì xuất phát từ đồng minh của Việt Minh. Vụ bê bối thứ hai bùng nổ năm 1953 với việc xuất bản tại Éditions des Deux Rives cuốn sách của một viên chức khiêm tốn của Văn phòng Hối đoái Sài Gòn bị sa thải trong hoàn cảnh đáng ngờ: Jacques Despuech.


Le Trafic des Piastres (Nạn buôn lậu Piastre) trở thành sách bán chạy thực sự, nhất là khi các lãnh đạo công ty bị nêu tên kiện tác phẩm về tội phỉ báng. Họ thắng kiện chủ yếu nhờ thủ tục, nhưng báo chí đã nắm lấy vụ việc. Le MondeLibération (của d’Astier de La Vigerie), La Croix hay Le Populairedành nhiều bài viết cho vụ bê bối này, mỗi tờ cố gắng tấn công kẻ thù chính trị của mình: MRP, đảng Cấp tiến, UDSR của Pleven và Mitterrand, hoặc SFIO. Cuộc tranh luận càng nóng hơn vì Despuech chỉ rõ rằng việc tiếp tục cuộc chiến ở Đông Dương chẳng nhằm mục đích nào khác ngoài việc cho phép các hãng này và những kẻ lừa đảo được bảo kê chính trị vững chắc tích tụ những gia sản khổng lồ.


Chính phủ René Mayer, bị chất vấn tại Hạ viện, buộc phải quyết định ngày 11 tháng 5 năm 1953 hạ tỷ giá piastre Đông Dương từ 17 xuống 10 franc, qua đó hạn chế đáng kể khả năng làm giàu. Và 14 tháng sau, người Pháp tuyên bố đầu hàng tại Điện Biên Phủ. Và cáo chung luôn các thuộc địa của Pháp quốc tại Đông-Dương. Có lần nói chuyện với một cựu chiến binh pháp tại Đông-Dương, ông ta nói Sàigòn đã hủ bại người Pháp, sau đó người Mỹ và cuối cùng là bộ đội miền bắc. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn