Lạm phát ngôn từ ngày nay

 Từ mấy năm nay bổng nhiên thấy thiên hạ dùng nhiều từ rất to lớn, hở tý là họ phán “kỳ thị chủng tộc”. Nhớ có lần nói chuyện với mấy đứa con, bổng nhiên chúng kêu bố racist, kỳ thị chúng tộc vì mình kêu mấy người da đen, chúng cho biết mình phải gọi là afro-American khiến mình thất kinh. Mình hỏi vậy khi vào tiệm cà phê muốn gọi một ly cà phê đen thì phải gọi: afro-American coffee. Chỉ cái áo màu đen là Afro-American vest? Có ông kia quen ly dị vợ nên đi hẹn hò với bà nào, ông ta phải hỏi “how long have you been biologically a woman?” Khiến mình thất kinh vì ở hội Toastmasters, có lần mình dùng từ “Ladies” bị một nữ hội viên sửa lưng kêu không nên dùng từ ladies. Nên mình cũng chả biết dùng gì ngoài Woman. Ngày nay định nghĩa phụ nữ rất khó khăn ngay bà được phê chuẩn làm thành viên của tối cao pháp viện Hoa Kỳ cũng không định nghĩa được phụ nữ ra sao. Một người chuyển đổi giới tính không có khả năng sinh đẻ có thể gọi là phụ nữ? Đó là câu trả lời mà tất cả đàn ông trên thế gian đều muốn biết. Đàn bà là gì? Chán Mớ Đời 

Tổng thống Kennedy thuộc đảng dân chủ khi xưa kêu gọi người Mỹ đừng hỏi tổ quốc đã làm gì cho các bạn mà hãy hỏi bạn đã làm gì cho tổ quốc 

Từ thời ông Obama lên làm tổng thống đến nay, Hoa Kỳ chao đảo với các từ ngữ được thông dụng hoá như Phát-xít, cộng sản, dân chửi, ma-gà,… khi đi học về tranh luận, người ta giải thích trong đám đông, có 3 loại người: 1 loại rất yêu mến mình, luôn luôn bảo vệ mình, 1 loại trung lập, chả dể ý đến mình và một loại thứ 3 là họ ghét mình, dù có cho họ ăn ngon tiệm sang trọng. Khi tranh luận chỉ để ý đến thành phần thứ 2, dân vô can, tìm cách đưa ra ý kiến khiến họ đồng ý với mình, còn người mà họ ghét mình rồi thì bất chấp. Không nên cãi cùn với họ.


Sau năm 1945, phong trào dân quyền, phương Tây đã biến “kỳ thị chủng tộc” thành cái ác tuyệt đối. Điều này là đúng đắn: đó là một trong những chinh phục đạo đức vĩ đại nhất của họ. Từ “raciste” trở thành từ độc hại nhất trong ngôn ngữ, là hình thức khai trừ hiện đại.


Lý do là Hitler với chủ thuyết người da trắng độc tôn, đã sát hại mấy triệu người do thái và các nước âu châu. Người ta không dám đặt tên con mình là “Adolph” vì sợ bị dũa là Đức quốc Xã (Nazi). Nhưng từ từ các trí thức thiên tả đã đánh cắp vốn liếng đạo đức này. Không phải để bảo vệ con người, mà để bảo vệ một ý thức hệ của họ tôn thờ.

Danh sách nạn nhân của chủ nghĩa cộng sản trên thế giới

Chủ nghĩa bình đẳng về kết quả chưa bao giờ thắng được trong tranh luận dựa trên các sự kiện. Nó luôn sinh sản ra điều ngược lại với những gì nó hứa hẹn, ở mọi nơi, mọi thời điểm. Vì vậy thay vì thắng tranh luận, người ta đã khiến tranh luận trở nên không thể tiến hành. Tiến thối lưỡng nan. Anh đặt câu hỏi về kết quả của nhập cư mà không đồng hóa, thâm nhập vào dòng chính văn hoá của nước sở tại? Kỳ thị chủng tộc. Chị bênh vực nguyên tắc xứng đáng thay vì dựa theo tiêu chuẩn sắc da màu hay giới tính? Kỳ thị chủng tộc. Toán học nâng cao trong học đường để chạy đua thời đại AI? Kỳ thị chủng tộc. Xây bức tường tại biên giới? Kỳ thị chủng tộc. Cụm Từ này đã ngừng mô tả một hành vi cá nhân để trở thành mô tả một lập trường trên bàn cờ chính trị.


Cách đây mấy năm, có một cô học sinh trung học ở Nam Cali, kiện nhà trường vì không phát bằng trung học vì không đủ điểm thi cuối năm. Gia đình cô ta kiện nhà trường là kỳ thị chủng tộc vì gốc mễ la-tinh. Đi dự lễ phát phần thưởng ở trường mấy đứa con. Mấy học sinh gốc á châu phải thi đủ GPA 4.0 cho 3 tam cá nguyệt mới được phát cái bằng tưởng lệ. Trong khi các học sinh gốc mễ la-tinh hay da đen chỉ cần có 3 điểm C là được phát bằng tưởng lục. Nếu thắc mắc sẽ bị chửi là kỳ thị chủng tộc.


Không cần lập luận: chỉ cần cáo buộc là đủ. Không cần phiên tòa: việc phủ nhận chỉ làm tình hình tệ hơn (sự phòng vệ của anh chị chứng tỏ anh chị có tội). Nói như người Cộng Sản không có tội thì đánh cho có tội, có tội rồi đánh cho chừa. Không cần cảnh sát: nỗi sợ hãi tự làm phần việc, mỗi người tự giám sát bản thân và giám sát hàng xóm miễn phí. Chúng ta sợ political correctness. Chỉ cần công khai xử tử vài ví dụ mỗi năm là đủ để kiểm soát hàng triệu người. Một ý thức hệ không thể bác bỏ, được bảo vệ bởi một từ không thể phát âm. Hai lớp chắn của cùng một hệ thống: French Theory đã xóa bỏ sự thật, còn lời cáo buộc đã xóa bỏ tranh luận. Mình xem phỏng vấn các học sinh da trắng trung học tại Hoa Kỳ than là không dám mở miệng nói lên ý nghĩ của mình thật sự, phải dè dặt và không dám tham gia cuộc tranh luận dù chúng ta đang ở xứ dân chủ.


Trong lịch sử Hoa Kỳ, cũng có một thời dưới sự lãnh đạo của thượng nghị sĩ MacCarthur, săn lùng gián điệp của cộng sản cũng khiến nhiều người bị tan nhà cửa nát.


Siêu lạm phát ngôn ngữ xảy ra khi một từ hoặc cụm từ có sức mạnh lớn (thường là từ chỉ tội lỗi đạo đức, sự xấu xa, hoặc cấm kỵ) được sử dụng quá mức, quá dễ dàng, và lan tỏa rộng khắp mọi xã hội nhất là trên các mạng xã hội, đến nỗi nó mất đi sức mạnh nguyên thủy, giống như đồng tiền bị in ồ ạt dẫn đến siêu lạm phát (hyperinflation) trong kinh tế.


Trong kinh tế: In quá nhiều tiền → tiền mất giá → người ta phải mang bao tải tiền đi mua bánh mì. Trong ngôn ngữ: Sử dụng quá nhiều từ bạo lực, mạnh (racist, fascist, nazi, white supremacist, misogynist, transphobe, v.v.) → từ mất sức mạnh kết án → người ta không còn sợ nữa. Không sợ bị gán bởi các từ như phản động, xét-lại, nguỵ quân hay nguỵ quyền hay Việt Cộng … khiến nhiều người rất hãnh diện mang tên Nguỵ.


Kiểu cộng đồng người Việt khi xưa, nghe ai nói cái gì khác khác ý của mình là chỉ mặt kêu Việt Cộng nằm vùng, chụp cho cái nón cối. Ngày nay, thế hệ con mình được đào tạo tại học đường mỹ thì chắc chắn chúng bị tiêm nhiễm với ý thức hệ của các giáo sư nên bầu cho đảng Dân Chủ, lại lên tiếng chửi bới. Nhiều khi là Việt Cộng nằm vùng bựa lên để chia rẽ cộng đồng. Con mình trước đây chúng cũng thiên về dân chủ nhưng từ khi ra trường đi làm đóng thuế, thì chúng bắt đầu hiểu sự thật cuộc đời nên bắt đầu có những tư tưởng phản động so với ý thức hệ mà chúng được học tại học đường trước đây.


Và giờ đây, hãy nhìn những gì đang sụp đổ trước mắt chúng ta. Một lời sỉ nhục chỉ có tác dụng khi nó gây ra nỗi sợ, và một đồng tiền chỉ có giá trị khi nó hiếm. Họ đã in ra từ này như Weimar in đồng mark. Khi mọi thứ đều là phân biệt chủng tộc, thì chẳng còn gì là phân biệt chủng tộc nữa. Kết quả: những tweet bắt đầu bằng “cứ gọi tôi là phân biệt chủng tộc nếu các bạn muốn” nhận được hàng chục nghìn lượt thích và sự ủng hộ của người giàu nhất thế giới. Cách đây mười năm, câu nói đó là tự sát nghề nghiệp. Ngày nay, nó chỉ là nhún vai. Siêu lạm phát đã giết chết đồng tiền.


Và đây là bi kịch thực sự mà những kẻ làm tiền giả sẽ phải gánh chịu: khi in không giới hạn cụm từ này, họ đã thiêu hủy nó cho tất cả mọi người. Bao gồm cả việc dùng để chỉ ra sự phân biệt chủng tộc thật khi nó tồn tại, vì nó vẫn tồn tại. Những kẻ làm tiền giả không chỉ phá hủy vũ khí của mình. Họ phá hủy chính cụm từ mà một xã hội trung thực cần có.


Bị tước mất cụm từ thần kỳ của mình, ý thức hệ giờ đây sẽ phải làm điều mà nó chưa bao giờ biết cách làm: thắng một cuộc tranh luận dựa trên sự kiện. Cứ thấy truyền thông hai bên lên tiếng tố cáo nhau. Phải ráng đừng dính vào các vụ tranh luận vì sẽ bị dòng thác cuốn mình theo và sẽ không thấy bến bờ.


Điểm nguy hiểm là đưa đến sát hại nhau như trường hợp ông Charlie Kirk, một nhà cực hữu bị ám sát chết. Mình chỉ biết ông ta khi ông ta bị bắn chết. Xem mấy video phỏng vấn ông ta trong các đại học thì mới hiểu vấn nạn hôm nay về siêu lạm phát ngôn ngữ đã khiến những người quá khích, gây án mạng hay lấy chìa khoá rạch xe người khác…. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Nhà thổ mỹ trong chiến tranh Việt Nam

 Nhà thổ mỹ trong chiến tranh Việt Nam 


Hôm nay xem một phim tài liệu của mỹ về chiến tranh Việt Nam và hệ quả. Đó là vấn đề giải quyết sinh lý cho lính mỹ khi tham chiến tại Việt Nam. Mình nghĩ có phụ nữ chạy giặc từ làng ra vào thành phố, không nghề nghiệp nên làm gái bán bar, mãi dâm nhưng không ngờ tỷ lệ đọc thấy thất kinh.


Có ông mỹ đang tìm đứa bé này. Ai biết cho em hay

Năm 1966, thương nghị sĩ William Fulbright đứng trước thượng viện và gọi Việt Nam Cộng Hoà là nhà thổ của Hoa Kỳ trong khi bộ trưởng bộ quốc phòng Robert McNamara, ngồi im, chối bỏ và không nhìn nhận sự việc. Nhưng các tài liệu chiến tranh cho biết như sau:


Người Mỹ ước lượng độ 300,000 đến 500,000 phụ nữ miền nam có hoạt động mại dâm và tỷ lệ mắc bệnh phong tình của lính mỹ lên cao nhất trong các cuộc chiến mà Hoa Kỳ tham chiến. Nhiều lúc chính quân đội mỹ quản lý các hoạt động mãi dâm và chính trải nghiệm này đã thay đổi một thế hệ thanh niên mỹ đã tham chiến tại Việt Nam. Hút sì-ke, bạch phiến, và mãi dâm. Tưởng tượng cả triệu người Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam mà 51% đã từng hút sì ke và chơi bạch phiến tại Việt Nam. Những trò giải trí khá đặc thù này đã đi theo họ suốt cuộc đời, gây ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Đó là hậu quả của sự tham chiến tại Việt Nam.


Để hình dung sự việc, năm 1960, dân số người Việt tại Sàigòn chỉ có 500,000 người và đến năm 1968 thì dân số lên đến 4 triệu người. Xem như nhân gấp 8 lần trong vòng 8 năm. 10 triệu người miền nam bị bắt buộc rời bỏ làng quê của họ với chiến lược phá huỷ các làng mạc có thể tiếp tế cho Việt Cộng. Mình nhớ dạo đó Việt Nam Cộng Hoà có đâu 18 triệu dân. Thấy các hình ảnh lính mỹ đốt nhà dân, kho gạo và lùa dân lên xe chở ra thành phố. Cho vào các trại tạm cư. Người có bà con họ hàng ở các thành phố an ninh hơn thì dọn về đó như Đà Lạt gia tăng rất nhiều. Các trại tạm cư là những ổ sinh ra nằm vùng, phá hoại miền nam khi xưa. Cũng dễ hiểu, anh đến anh đốt phá nhà chúng tôi để Việt Cộng khỏi sử dụng, được tiếp tế, rồi cho ở trong các căn lều tỏng trịa tạm cư. Việt Cộng nằm vùng chỉ cần nói nho nhỏ là anh chị đi theo ngay.


The burning of villages by the U.S. military in Vietnam was primarily driven by "Search and Destroy" tactics and the broader attrition strategy of General William Westmoreland. Because the Viet Cong relied on guerrilla warfare, blending into the rural population, American forces burned villages to destroy enemy supply caches, deny sanctuary, and punish communities harboring insurgents. [123]
The Core Mechanisms of the Strategy
  • "Zippo Raids": Troops routinely used flamethrowers, grenades, and Zippo lighters to raze thatched-roof huts and structures suspected of being Viet Cong tactical installations. [12]
  • Tunnel and Bunker Destruction: Military doctrine mandated the destruction of underground tunnel networks, rice caches, and bunkers that frequently connected to or ran underneath civilian homes. [1234]
  • Denying Terrain: The overarching goal was to dismantle the infrastructure supporting the insurgency, forcing the Viet Cong out into the open to face conventional U.S. firepower. [12]
Impact and Public Backlash

  • Civilian Displacement: The practice resulted in massive displacement, leaving thousands of non-combatants homeless and stripping away ancestral connections to the land. [12]
  • Morale and Hearts-and-Minds: Destroying civilian homes often alienated the rural population, generating immense unrest and driving many displaced peasants to sympathize with or join the Viet Cong. [1]
  • Media Scrutiny: The strategy gained widespread infamy after CBS News correspondent Morley Safer filmed a U.S. Marine unit burning the village of Cam Ne in August 1965. The uncensored broadcast shocked the American public, triggering a major shift in domestic attitudes toward the war. [12]

Xem vụ này mình mới hiểu lý do tại sao Đà Lạt khi xưa sau khi ông Diệm bị lật đỗ thì dân tứ xứ chạy vào Đà Lạt đông như người Việt. Khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam năm 1965, thì vô hình trung họ tạo ra một nền kinh tế vô hình với các hoạt động của lính mỹ. Năm 1968, có một phóng sự của tờ McLean cho rằng có đến 1,400 quán Bar ở Sàigòn, Biên Hoà và Thủ Đức. Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà tính có đến 200,000 người bán dâm nhưng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng số này nhiều hơn.


Vấn nạn này được xẩy ra vì quân lực Hoa Kỳ không cấm cản mà còn khuyến khích thậm chí còn tổ chức chương trình mà họ gọi là Rest & Recuperation. Hãng hàng không Pan Am chở trên 800,000 binh sĩ mỹ đi phép, giải trí ở Thái Lan, Phi Luật tân, Đài Loan, Nhật Bản, Nam Hàn, Guam,…


Họ cho biết năm 1966, trong số 21,000 binh sĩ dưới quyền của tướng Harry Canard, tư lệnh đệ nhất sư đoàn kỵ binh có đến 1/3 lính mỹ bị bệnh Giang Mai. Tình trạng nguy cập đến nổi các bô lão trong các làng Việt Nam, phải đề nghị xây dựng các nhà thổ trong căn cứ của người Mỹ. Khiến người Mỹ đột phá tư duy đồng ý và xây dựng đâu 2.5 mẫu ta, 1 căn trại để mỗi ngày có từ 100-300 lính mỹ viếng nhà thổ này khiến tuần báo Time đặt tên là Disneyland East. Tương tự ở Pleiku cũng được đặt tên là thành phố tội lỗi (Pleiku Sin City.) chả biết ông nào làm thơ em Pleiku má đỏ môi hồng, xuất phát từ trong động mãi dâm? Một binh sĩ mỹ có thể trả 300 đồng Việt Nam Cộng Hoà, độ $2.5 mỹ kim, có thể vui thú bên cô gái suốt 3 tiếng đồng hồ.


Năm 1972, New York Times cho biết là mỗi binh sĩ mỹ có 1 tuần nghỉ phép vui thú được gọi là Rest & Recuperation (R&R). Họ được bộ quốc phòng bay qua các địa điểm như Thái Lan, Đài Loan, Phi Luật Tân, Hương Cảng, Đông Kinh, Sydney,… và biến Thái Lan thành ổ điếm của lính mỹ như ngôi làng chài Pattaya, nghèo xác xơ, nhờ lính mỹ đến đã biến ngôi làng này trở thành nhà thổ lớn nhất đông nam -á. Và từ đó đưa đến nơi mà du khách ngày nay hay ghé lại. Được mệnh danh Sex Tourismo.


Lính Mỹ gọi tuần lễ đó là Intoxicate & Intercourse (I&I). Ở Vọng Các, lính mỹ chỉ cần trả độ $72 mỹ kim là được một em gái hậu phương suốt một tuần lễ, cung phụng, nấu nướng đầy đủ. Bộ trưởng McNamara thương lượng với chính quyền Thái Lan, bù lại sẽ giúp phát triển kinh tế. Trong vòng mấy năm, Thái Lan có đến 50,000 cô gái bán dâm phục vụ lính mỹ, và có đến 20,000 nhà thổ tại Thái Lan để phục vụ cho lính mỹ được nghỉ phép. Nhờ đó mà Pattaya , một làng chài nhỏ bé bổng nhiên trở thành ổ điếm lớn nhất Đông Nam Á.


Bệnh phong tình mà lính mỹ bị dính tại Việt Nam đạt kỹ lục. Họ cho biết trong đệ nhị thế chiến, cứ 1,000 lính mỹ có 43 trường hợp bệnh giang mai. Ở Đại Hàn thì cứ 1,000 binh sĩ thì có đến 184 trường hợp và đến Việt Nam kiên cường, thì đoạt giải nhất, tỷ lệ tăng lên đến 262 trường  hợp cho mỗi 1,000 lính mỹ. Nặng nhất là trên các hàng không mẫu hạm thì tỷ lệ lên đến 582/ 1,000 binh sĩ. Không lẻ họ cho trực thăng chở mấy chị em ta lên hàng không mẫu hạm để mấy thuỷ thủ xả xú-bắp.


Vấn đề là 88% lính mỹ bị bệnh này cho biết đã được huấn luyện, cảnh giác nguy cơ về vấn đề này nhưng vẫn bị dính vì sợ xài áo mưa vì đồng đội kêu có bệnh Black Syphilis nên binh sĩ sợ. Chắc tuyên truyền của Hà Nội.


Mình nhớ Đà Lạt tuy không có sự hiện diện của lính mỹ nhiều nhưng ở chợ Đà Lạt, có khách sạn Mộng Đẹp, của thầu khoán Nguyễn Linh Chiểu, cho mỹ thuê nên thấy họ rào kẽm gai, và có mấy cô gái ở với lính mỹ. Ngoài ra lính mỹ đóng ở phi trường Cam Ly, nhiệm vụ tải rau cải cho lính mỹ tại Việt Nam, có ông đóng tại Cam Ly kể và gửi cho mình xem mấy tấm ảnh của nơi họ trú ngụ, mướn chủ người Việt, thấy bao cát chất đầy, có mấy chị giặt quần áo, nấu nướng,… rảnh thì mình bỏ lên mạng cho thiên hạ xem.


Đó là về phía Hoa Kỳ còn các nữ hộ lý người Việt thì còn te tua hơn vì không am hiểu sự việc như truyền nhiễm nên họ cho biết là có trên 80% phu nữ làm hộ lý bị dính bệnh phong tình. Đa số không được chữa trị đúng cách. Thời thực dân phá thì họ cho phép mở nhà thổ để họ quản lý kiếm tiền nhưng được cái là bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng, vì các chị em ta được khám định kỵ, cho thuốc than,…


Mình nhớ có ông thần quên tên, vì ở trên xóm lên nhà thương, lớn hơn mình mấy tuổi đi huấn luyện ở Đồng Đế về kể cho mấy tên trong xóm nên mình nghe lén. Có bà nào bán cháo hay chi đó rồi cuối tháng, có lương mấy ông học tập ở quân trường kêu bà ta hộ lý ban đêm. Bà ta tiếp thu cả đại đội, hơn 100 người, nước tinh trùng leng láng. Kinh


Vấn đề là mãi dâm ở Việt Nam không hoàn toàn là sự đổi chát, tiền trao ôm em vì có nhiều lính mỹ lấy vợ người Việt, và đem về mỹ. Mình có kể đâu 8,000 người Việt lấy chồng mỹ được đem về mỹ. Lý do là đối với lính mỹ, đa số họ cần được sự an ủi, vổ về để bù lại những ngày tháng đánh trận. Đa số lính mỹ kể không xem các cô gái Việt Nam như các cô gái điếm như người Việt mình xem thường các cô gái bán sương. Họ xem các cô gái việt như bạn gái, tìm an ủi sau những giờ giao tranh.


Nên nhớ là đa số bị kêu đi quân dịch, mới 18 tuổi chả biết gì, được thảy vào lò sát sinh bắn giết nếu không sẽ bị giết. Tinh thần của lính mỹ bị giao động cực mạnh nên rất cần được sự vuốt ve, an ủi như trong sách Gone Native của Al Cornett, có kể rõ.


Ông Richard Marceno, tham chiến tại Việt Nam, sau này thành lập đội biệt kích Team 6 kể sau những giờ phút giao tranh, có những cô gái bên cạnh giúp bớt bị stress. Trong cuốn Gone Native, ông Al Cornett, biệt kích mỹ, cố vấn cho đại đội trinh sát 302, có kể là về phép ông ta đến Xóm Bà Thái, và hút sì ke và chơi bạch phiến. Sau này ông ta lấy cô em gái của vợ thiếu tá Lê Xuân Phong. Đưa cô vợ về Hoa Kỳ nhưng rồi hệ quả chiến trường khiến họ không sống với nhau lâu bền.


Hà Nội hiểu vấn đề của lính mỹ nên họ cho người của họ vào làm hộ lý để thu thập tin tức. Cuốn phim Good Morning Vietnam có kể vụ này. Chị LỆ Lý Hayslip có kể cuộc đời chị, nạn nhân của cuộc chiến qua cuốn ”When Heaven and earth changed places”, được đạo diễn Oliver Stone đưa lên màn bạc. Ở vùng xôi đậu, ban ngày thì Việt Nam Cộng Hoà đóng giữ, chiều tối thì rút lui, mấy ông kẹ về. Một hôm chị ta được nhiệm vụ canh gác lính Việt Nam Cộng Hoà thì ngủ quên nên bị Việt Cộng tuyên án tử hình. Tên được giao nhiệm vụ giết chị thấy uổng của trời nên hiếp chị ta trước khi giết nhưng may quá, sau đó mệt quá hắn lăn ra ngủ thì chị ta bỏ trốn vào Đà Nẵng rồi gặp ông lính mỹ thương chị, đem về mỹ.


Sau 1975, Hà Nội tống cổ trên 14,000 mấy cô có liên hệ với lính mỹ vào các nhà tù, được gọi là trại phục hồi nhân phẩm. Nghe nói bà Thái Đà Lạt cũng bị vào tù rồi sau này chết sớm. Ngày nay thì xem hình ảnh Việt Nam thì còn quá cha thời mỹ-nguỵ.


Xã hội Việt Nam khinh khi, xem thường các người bán dâm dù hoàn cảnh hay không. Ai đã bị lâm vào tình thế làm gái bán Bar thì khó có thể kiếm được chồng. Mình nhớ lần đầu tiên gặp chị Lệ Lý, chị ta khóc khi kể về cuộc đời chị, nói là qua mỹ thì mấy người Việt cũng kỳ thị với quá khứ của chị.


Ngoài ra có vấn nạn khác là “Con Lai”. Người ta ước lượng có 25,000 đến 100,000 con lai. Sau 75 thì những đứa con lai này lâm vào tình trạng vô thừa nhận với chính quyền mới vì là hình ảnh của chế độ cũ, đế quốc mỹ dù chẳng phải lỗi của chúng cũng như xã hội Việt Nam hà khắc. Nhất là các đứa trẻ lai da đen còn bị loại bỏ ngoài lề xã hội.


Năm 1970, Hoa Kỳ lên tiếng là không có nhiệm vụ với những đứa con lai. Khi người Pháp đến Việt Nam thì có nạn con lai nên họ phải mở trường Thiếu Sinh Quân, hay Couvent des Oiseaux để nuôi mấy người này. Mìn có đọc cuốn sách của một cô tây lai, cựu học sinh Couvent kể về sự kỳ thị, vô thừa nhận của người Việt cũng như người Pháp. Gần đây mình có đọc một tài liệu pháp có một ông tây lai đi thiếu sinh quân rồi về pháp. Than là ở Việt Nam thì người Việt không chấp nhận, về pháp tương tự. 


Phải đợi 17 năm sau khi thượng nghĩ sĩ McCain đề xuất dự luật và được quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận, “Amerasian Homecoming Act”.  Mấy đứa trẻ này được chính phủ Mỹ chấp nhận cho hồi hương.

The Amerasian Homecoming Act (often referred to as the American Asian Homecoming Act) is a 1988 U.S. law that allowed children born in Vietnam to American fathers during the Vietnam War, along with their immediate relatives, to immigrate to the United States and receive refugee-level benefits. [12]
Also known as the Amerasian Immigration Act of 1987, this legislation sought to protect these individuals (derogatorily referred to as bui doi, or "children of the dust") from social stigma and discrimination in post-war Vietnam. [1]
Key Details of the Act
  • Eligibility: Principal applicants had to be born in Vietnam between January 1, 1962, and January 1, 1976, and fathered by a U.S. citizen. [1]
  • Family Unity: Unlike previous legislation, this act allowed the mothers, spouses, and siblings of the Amerasian children to immigrate as well, ensuring families weren't separated. [12]
  • Benefits: Admitted individuals and their families were granted permanent legal residency status and were entitled to the same resettlement and social services as formal refugees. [1]
  • Impact: An estimated 23,000 Amerasians and over 67,000 of their relatives successfully relocated to the U.S. under this program. [1]

You can review the official text of the legislation on the Congress.gov H.R.3171 Archive, or learn more about the immigration policies regarding these individuals on the USC資訊 Policy Manual on Amerasian Immigrants. [1]

Bổng nhiên mấy đứa con lai từ chê bỏ, nguyền rủa trở nên đắt giá. Các gia đình người Việt muốn định cư ở Hoa Kỳ, đi khắp Việt Nam để nhận mấy đứa trẻ này về làm con nuôi để nộp hồ sơ chung. Hoa Kỳ biết có nhiều hồ sơ giả nhưng nhắm mắt để cho họ sang Hoa Kỳ. Không biết ngày nay họ có khui ra vụ này không rồi tống cổ về Việt Nam. Vì nghe nói có đến 17% trên tổng số 60,000 người Việt đi theo diện con lai.


Mình nhớ ở New York, có gặp mấy người con lai. Họ kể là các gia đình Việt Nam dựa hơi họ để làm giấy tờ rồi sang mỹ được rồi thì xù họ. Một số đi vào con đường hư hỏng. Họ sống chung với nhau. Lý do là xã hội mỹ không chấp nhận họ. Còn cộng đồng người Việt cũng chê. Hình như có nữ ca sĩ người Việt, con lai, có ông bố sang Việt Nam nhận ra trên sân khấu rồi đưa cả gia đình về mỹ. Họ ước lượng chỉ có 3% những người con lai tìm lại được cha mình ở Hoa Kỳ. Lý do là chính phủ mỹ không cho xét DNA.


Năm 2009, chấm dứt chương trình này thì được biết Hoa Kỳ đã hồi hương 25,000 mỹ lai, và cộng thêm gia đình lên đến 70,000 người. Theo người Mỹ thì họ biết có đến 17% trường hợp là gian lận.


Hệ quả chiến tranh vẫn tiếp tục đến ngày nay. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn