Chuyện ngày xưa xa

 Chuyện ngày xưa xa


Mình hay vào trang của nhóm Đông-Dương cũ, để đọc bài hay xem tài liệu về chiến tranh Tây-Việt, và những gì xảy ra vào thời đó, để có thể hiểu thêm về cuộc đời của song thân. Ông cụ thì chống Việt Minh, còn bà cụ thì theo Việt Minh, bị tây bắt bỏ tù. Mấy người tham gia nhóm này đa số là người Pháp, có người gốc Việt. Họ không muốn tranh cãi ai thua hay ai thắng, thực dân hay bốc lột. Họ chỉ muốn tìm hiểu về cha ông của họ, vì tuổi thanh xuân đã sang Việt Nam, đi lính hay làm công chức, rồi có người gục ngã trên chiến trường. Họ có mấy tấm ảnh của bố, ông nội, ông cố khi xưa ở Việt Nam, đăng lên để hy vọng có ai đó khi xưa, cũng ở chung đại đội, có chút gì tin tức về tổ tiên của họ.

Cha nằm trên giường bệnh, không nhớ sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà nào đã đến thăm


Vì lý do đó mà mình phải làm gia phả của gia đình bên nội rồi bên ngoại để sau này con cháu có thể tìm lại để đọc. Hôm trước có cô cháu bên bên vợ đưa cho một bản sao gia phả bên ngoại, mới khám phá ra, đồng chí gái thuộc hệ thứ 7 của vua Gia Long. Kinh. Mình sẽ nhờ người ở Việt Nam chuyên viết lại gia phả để ông ta biên tập lại, rồi gom vào gia phả bên ông cụ mình.


Những ai quan tâm đến lịch sử Đông Dương đều biết vai trò của các giáo sĩ thừa sai, đến Đông-Dương để truyền đạo. Do đó có nhiều người lên án nhà thờ thiên chúa giáo đã làm nền tảng cho cuộc xâm chiếm Đông-Dương của đế quốc Pháp. Hồi nhỏ học lịch sử cận đại của Việt Nam rồi các phong trào Cần Vương, sau đó đến của kháng chiến chống Pháp đưa đến người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Người Việt thắng Pháp, dàng lại độc lập nhưng tại sao lại đất nước bị chia đôi.


Đó là câu hỏi mình đặt ra khi học sử Việt Nam cận đại khi xưa. Sau này ra hải ngoại đọc sách báo ngoại quốc thì mới hiểu Việt Nam chỉ là một nước nhỏ, các đảng phái đều bị chi phối bởi ngoại quốc. Như ngoại trưởng Trần Văn Đổ kể là khi hiệp định Geneve sau chiến thắng Điện Biên Phủ, người Việt chết như rạ nhưng các cường quốc tự động chia ra làm 2. người Việt chết cho cuộc kháng chiến chống pháp, là công cụ cho cường quốc. Tóm lại là cuộc chiến uỷ nhiệm và người Việt hăng hái nhân danh chi đó để đánh nhau, bỏ tù nhau rồi lại đi xin viện trợ, xin bỏ lệnh cấm vận này nọ. Và khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận thì Việt Nam mới khá như ngày nay.


Trong các giáo sĩ tây phương phải nói đến một người, đã mang tính quyết định của Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) trong sự hình thành của đất nước Việt Nam hiện đại. Nhớ ngày xưa, học sử Việt Nam cận đại, đều nhắc đến ông cha này. Tuy nhiên, dù ảnh hưởng của vị Giám mục Adran là vô cùng to lớn, vẫn còn nhiều nhà truyền giáo khác, ít được biết đến hơn, nhưng cũng để lại dấu ấn sâu sắc đối với đời sống của người dân bản địa. Một trong số đó là Đức cha Jean Cassaigne, nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris).


Làng người phong tại Di-Linh do cha thành lập để cứu chữa họ rồi sau đó cha cũng bị lây bệnh.

Cha Jean Cassaigne sinh ngày 30 tháng 1 năm 1895 tại thị trấn Grenade-sur-l’Adour, thuộc vùng Landes của nước Pháp. Ông mồ côi mẹ từ khi còn rất nhỏ. Cha ông gửi ông sang Tây Ban Nha tiếp tục việc học tại một trường của Dòng Sư huynh các Trường Kitô giáo, gần thành phố Saint-Sébastien, vùng Basque, phía bắc của Tây Ban Nha, gần dãy núi Pyrénées ngăn hai nước pháp và Tây Ban Nha. Điểm vui là phiá bên pháp cũng có một vùng được gọi là Basques. Cũng đòi tự trị này nọ như bên Tây Ban Nha, do Liên Sô dật dây khi xưa. Sau này Liên Sô tan rã thì cũng mất luôn phong trào này cũng như ở đảo Corse.


Sau khi trở về Pháp năm 1912, cha Jean Cassaigne bày tỏ nguyện vọng trở thành một nhà truyền giáo. Nhưng đến năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Ông được động viên vào trung đoàn Bộ binh số 6, phục vụ với vai trò y tá quân đội và liên lạc viên. Trung đoàn của ông tham gia nhiều trận đánh khốc liệt nhất của cuộc chiến, từ trận sông Marne, trận Verdun, đặc biệt là tại Đồi 304 (Côte 304), cho đến các chiến dịch tại vùng Ailette. Cuộc chiến này tàn khốc, giết không biết bao nhiêu người từ hai bên.


Có lẽ chỉ khi hình dung được mức độ khốc liệt của chiến trường Verdun, người ta mới hiểu hết lòng dũng cảm cần có để làm nhiệm vụ liên lạc hay cáng thương trên Đồi 304. Ngọn đồi này khống chế toàn bộ thung lũng Esnes ở phía nam cùng các làng Malancourt và Haucourt ở phía bắc. Quan trọng hơn, đây là vị trí chiến lược nhằm yểm trợ cho các trận đánh tại Mort-Homme.


Quân Đức liên tục tìm mọi cách chiếm lấy ngọn đồi, nã pháo không ngừng nghỉ rồi mở hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác. Quân Pháp vẫn giữ được vị trí ấy, nhưng phải trả giá bằng khoảng 10,000 sinh mạng chỉ trong 300 ngày giao tranh liên tiếp. Ở vùng Triéste, Ý Đại Lợi, vào thời gian này có đến trên 500,000 người trẻ chết trận. Năm kia mình có ghé sang thành phố này nhưng trời tối nên không đi viếng nghiã trang này. Kinh hoàng.


Sau khi xuất ngũ năm 1919, ông Jean Cassaigne gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris vào năm sau. Ngày 19 tháng 12 năm 1925, ông được thụ phong chức linh mục. Ngày 6 tháng 4 năm 1926, ông xuống tàu lên đường sang Đông Dương. Điểm đến đầu tiên của ông là Cái Mơn, một cộng đồng Công giáo lớn thuộc tỉnh Bến Tre, nơi ông dành một năm để học tiếng Việt.


Sau một năm sống tại đồng bằng sông Cửu Long, Đức cha Dumortier cử ông lên Di Linh để thành lập một giáo điểm giữa đồng bào dân tộc Ko Ho. Khi ấy, vùng đất này hầu như chưa có người Việt sinh sống, nên ông lại phải học thêm tiếng của người bản địa. Ông đã biên soạn nhiều công trình ngôn ngữ học có giá trị, trong đó có:

  • Cẩm nang và hội thoại thông dụng bằng tiếng Mọi (Koho và Phau Sore) dành cho các chủ đồn điền, thợ săn và người nghỉ dưỡng (khu vực Djiring – Đà Lạt). Mấy từ Đà Lạt, Blao, Djiring,…đều do các giáo sĩ phiên âm từ người sở tại.
  • Từ điển tiếng Koho của tỉnh Thượng Đồng Nai, cho đến ngày nay vẫn được xem là một tài liệu tham khảo quan trọng.

Có anh bạn kể khi xưa, đi dạy ở vùng kinh tế mới cạnh Đà Lạt, phải học tiếng của người CHu-Ru, may là người Mỹ khi xưa, đến vùng này giảng đạo Tin lành nên họ có nghiên cứu ngôn ngữ chu-ru giúp anh ta học nhanh. Mình có ghé lại một giáo xứ gần Đà Lạt, có gặp mấy em người Chủ-Ru, nói tiếng Việt bằng giọng bắc vì thầy cô đều từ ngoài bắc vào dạy.


Tại vùng cao nguyên Di Linh, cha Jean Cassaigne sớm chứng kiến cảnh nghèo đói cùng cực của đồng bào các dân tộc thiểu số, bị đẩy ra khỏi môi trường sinh sống truyền thống, mất đi nguồn sống từ rừng núi, nhiều người rơi vào cảnh suy dinh dưỡng lâu dài và vì thế rất dễ mắc bệnh tật. Trong số họ, đáng thương nhất là những người mắc bệnh phong (cùi, hủi). Họ bị chính gia đình ruồng bỏ, bị cộng đồng xa lánh và bị bỏ mặc trong rừng sâu, sống cô độc chờ cái chết. Cảnh tượng ấy khiến cha Jean Cassaigne vô cùng xúc động.


Cha quyết định hiến trọn cuộc đời mình để chăm sóc những con người bất hạnh nhất ấy. Cùng với một số cộng sự, ông thành lập làng Kala, gần Djiring (Di Linh). Ngôi làng gồm những căn nhà sàn được xây dựng theo đúng kiến trúc truyền thống của người bản địa. Cha đặt tên cho nơi ấy là “Thành phố Niềm Vui” (Cité de la Joie). Từng bước một, cha đưa những người phong từ trong rừng về sinh sống tại Kala, coi họ như chính con cái của mình. Cha cho họ ăn, chữa bệnh cho họ, chăm sóc từng vết thương và quan trọng hơn cả là trả lại cho họ phẩm giá của những con người vốn đã bị cả xã hội lãng quên.


Ngay từ năm 1929, trại phong đã chăm sóc khoảng một trăm bệnh nhân, một con số rất lớn vào thời điểm ấy. Với sự trợ giúp của Các Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô (Filles de la Charité de Saint-Vincent-de-Paul), cha Jean Cassaigne tiếp tục công việc đầy nhân ái này suốt hơn mười năm.


Đến năm 1941, cuộc đời cha bước sang một chương mới. Đức Giáo hoàng Piô XII bổ nhiệm ông làm Giám mục và Đại diện Tông tòa Sài Gòn. Ngày 24 tháng 6 năm 1941, đúng lễ kính Thánh Gioan Tẩy Giả, ông được tấn phong giám mục.v Hơn ba nghìn người đã đến tham dự thánh lễ tấn phong tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Đặc biệt xúc động là sự hiện diện của một đoàn đông đảo người Ko Ho từ Djiring.


Trong trang phục truyền thống của dân tộc mình, họ vượt hàng trăm kilômét để về Sài Gòn tham dự buổi lễ, đại diện cho cộng đoàn Kitô hữu mà chính cha Jean Cassaigne đã gây dựng giữa núi rừng Tây Nguyên. Đó không chỉ là một nghi lễ tôn giáo, mà còn là lời tri ân của những con người từng bị lãng quên dành cho vị mục tử đã đem lại cho họ niềm hy vọng và một cuộc sống mới.


Ngày 10 tháng 3 năm 1945, ngay sau cuộc đảo chính của Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương, quân đội Nhật nhanh chóng nắm quyền kiểm soát toàn bộ bộ máy hành chính của Liên bang Đông Dương và bắt giữ hầu hết các viên chức dân sự cũng như các sĩ quan quân đội Pháp.


Một nhân chứng của thời kỳ ấy là ông Jean Orsini, khi đó còn là một sĩ quan trẻ, sau này trở thành trung tá, đã để lại những ghi chép đặc biệt quý giá. Ông kể lại: “Đức cha Cassaigne cho tôi biết rằng hôm trước ngài vừa tiếp Đại tá Amano…” Qua lời chứng này, có thể thấy chính quyền quân sự Nhật đã muốn giao cho Đức cha Jean Cassaigne đứng ra điều hành Nam Kỳ (Cochinchine) sau khi toàn bộ giới chức Pháp bị bắt giữ.


Đó là một đề nghị đầy quyền lực nhưng Đức cha Cassaigne đã từ chối. Ngài không chấp nhận đảm nhận bất kỳ vai trò chính trị nào. Đối với ngài, sứ mạng của một giám mục là phục vụ con người, chứ không phải cai trị họ. Tuy nhiên, ông Jean Orsini đã thuyết phục ngài nhận lời thành lập một tổ chức hoàn toàn mang tính nhân đạo, với mục đích duy nhất là cứu trợ cộng đồng người Pháp đang lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn tại Sài Gòn.


Từ đó ra đời Ủy ban tương trợ Pháp tại Sài Gòn (Comité français d’entraide de Saïgon). Trên thực tế, tổ chức này nhanh chóng trở thành cơ quan duy nhất của người Pháp vẫn còn được chính quyền Nhật cho phép hoạt động. Ủy ban đảm nhận rất nhiều công việc: phân phát lương thực và hàng cứu trợ; hỗ trợ các gia đình gặp khó khăn; giải quyết nhiều thủ tục hành chính và trong một số trường hợp, còn đảm nhiệm cả công tác hộ tịch.


Vì vậy, mặc dù chưa bao giờ mong muốn, Đức cha Jean Cassaigne trên thực tế đã trở thành người đứng đầu cộng đồng người Pháp tại Sài Gòn trong những tháng cuối của thời kỳ Nhật chiếm đóng. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc và nước Pháp được giải phóng, hoàn cảnh ấy lại khiến ngài rơi vào vòng điều tra vì mang tội pháp gian, tiếp tay với kẻ thù. Ngài bị đưa ra trước các cơ quan thanh tra trong phong trào “thanh lọc sau chiến tranh” (épuration) với cáo buộc cấu kết với kẻ thù. Tỏng thời gian đệ nhị thế chiến, Đông-Dương được chính quyền Vichy, do thống chế Pétain điều hành, bổ nhiệm ông Jean Decoux làm toàn quyền Đông-Dương.


Nhưng cuộc điều tra nhanh chóng chứng minh một sự thật hoàn toàn khác. Mọi hành động của Đức cha Cassaigne đều chỉ nhằm bảo vệ thường dân Pháp, cứu giúp những người đang lâm cảnh khốn cùng trong thời kỳ hỗn loạn. Ngài chưa bao giờ cộng tác với quân đội Nhật vì mục đích chính trị hay quân sự. Do đó, tất cả các cáo buộc đều bị bác bỏ.


Không những được tuyên bố vô tội, công lao của ngài còn được chính thức ghi nhận. Chính phủ Pháp đã trao tặng ngài Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) để tôn vinh những đóng góp đặc biệt ấy. Điều đáng chú ý là, trong suốt biến cố lịch sử đầy sóng gió đó, cha Jean Cassaigne vẫn giữ nguyên một lập trường: cha không đứng về phía một chính quyền nào, chỉ đứng về phía những con người đang cần được cứu giúp.


Vài năm sau khi được minh oan và tiếp tục sứ vụ Giám mục Sài Gòn, một biến cố lớn xảy đến với chính cuộc đời Đức cha Jean Cassaigne. Ngài mắc bệnh phong. Chính căn bệnh mà suốt mấy chục năm ngài đã tận tụy chữa trị cho biết bao người, nay lại đến với bản thân mình. Đối với nhiều người, đó có thể là một bi kịch. Nhưng đối với cha Jean Cassaigne, đó dường như chỉ là một phần tự nhiên của con đường mà Thiên Chúa đã dành cho ngài.


Ý thức rằng bệnh tật sẽ khiến mình không còn đủ khả năng điều hành giáo phận, ngài đã trình đơn xin từ nhiệm lên Tòa Thánh. Đơn xin ấy được chấp thuận.


Năm 1955, thay vì ở lại Sài Gòn để hưởng sự chăm sóc và những điều kiện thuận lợi dành cho một vị giám mục, ngài lại đưa ra một quyết định khiến nhiều người xúc động. Ngài tự nguyện trở về Djiring (Di Linh), không phải để nghỉ hưu, không phải để dưỡng bệnh mà để sống những năm cuối đời giữa những người phong và đồng bào dân tộc mà ngài vẫn luôn coi là gia đình thực sự của mình.


Ngài trở lại Kala. Vẫn căn làng nhỏ năm xưa. Vẫn những căn nhà sàn đơn sơ. Vẫn những con người mà xã hội từng ruồng bỏ. Ở đó, ngài tiếp tục chăm sóc bệnh nhân, động viên người đau yếu, cầu nguyện với họ và chia sẻ với họ từng ngày của cuộc sống. Lần này, ngài không còn chỉ là vị linh mục hay vị giám mục đến giúp người phong. Ngài đã trở thành một người phong sống giữa những người phong. Không còn khoảng cách. Không còn sự khác biệt. Chỉ còn tình yêu thương và sự đồng cảm.


Đức cha Jean Cassaigne qua đời ngày 31 tháng 10 năm 1973, sau gần nửa thế kỷ gắn bó với vùng đất Tây Nguyên và con người Việt Nam. Theo đúng di nguyện của mình, ngài không được an táng trong một nhà thờ lớn hay một nghĩa trang dành cho các giám mục.


Ngài được chôn cất tại nghĩa trang nhỏ của trại phong Kala, giữa những con người mà ngài đã dành trọn cuộc đời để phục vụ. Điều cảm động hơn nữa là ngôi mộ ấy chính do ngài tự chuẩn bị từ trước. Nó nằm ngay cạnh mộ của người đầu tiên được ngài cải đạo, như một dấu chỉ rằng, ngay cả sau khi qua đời, ngài vẫn muốn được ở lại với những người mình yêu thương.


Trong suốt cuộc đời, Đức cha Jean Cassaigne đã được trao nhiều phần thưởng cao quý. Ngài là:

  • Sĩ quan Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) của Pháp;
  • Huân chương Chiến tranh 1914–1918 (Croix de Guerre) vì lòng dũng cảm trong Thế chiến thứ nhất;
  • Huy chương Danh dự của nền Cộng hòa Việt Nam.

Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất của ngài không phải là những tấm huân chương. Đó là tình yêu và lòng biết ơn của hàng ngàn người phong, của đồng bào Ko Ho và của biết bao người Việt Nam đã được ngài cứu giúp.


Cuộc đời của Đức cha Jean Cassaigne là minh chứng rằng lòng bác ái chân chính không phân biệt dân tộc, màu da hay địa vị. Từ chiến hào Verdun đến núi rừng Di Linh, từ Tòa Giám mục Sài Gòn đến trại phong Kala, ngài luôn chọn đứng về phía những người yếu thế nhất.


Bởi vậy, trong lịch sử Việt Nam, cha Jean Cassaigne không chỉ được nhớ đến như một vị Giám mục của Giáo hội Công giáo, mà còn như một nhà nhân đạo vĩ đại, người đã hiến trọn cuộc đời mình để mang lại hy vọng, phẩm giá và tình thương cho những con người bị lãng quên nhất.


Mình thích tìm đọc tiểu sử những người như vậy để cố gắng noi theo trên con đường hướng thiện, giúp mình bớt gian ác, không cần phải lên mạng xã hội, chửi thiên hạ này nọ, chỉ cần đóng góp một tí gì cho cộng đồng xung quanh mình là đủ. Mình gặp nhiều sơ ở các vùng núi ở gần Đà Lạt, hy sinh cuộc đời để giúp đỡ các người dân tộc thiểu số, giúp họ thuốc men….khiến mình khâm phục.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Dùng liệu-pháp miễn dịch trị ung thư

 Dùng liệu-pháp miễn dịch trị ung thư

Mình có mua một cuốn sách của bác sĩ William Li, nói về ăn uống để trị bệnh, thấy rất có lý. Lâu rồi mình có xem phim về nữ bác sĩ đầu tiên đại hàn trong hoàng cung thì thấy các đại y chữa bệnh cho vua đều qua thức ăn. Nữ diễn viên đóng vai bác sĩ đẹp như ba-tây, nhưng sau này nghe nói cô ta tự tử nên chả hiểu ra sao. Người xưa hay nói “bệnh tòng khẩu nhập”, nghĩa là bệnh đều gây ra do những gì mình ăn hay uống vào. Do đó các danh y khi xưa đều cho ăn hay uống những gì có khả năng chữa trị. Ai buồn đời thì xem podcast sau đây:


https://youtu.be/LgsJ3V9pIG0?is=UZfErkFtSALHU5KA


Theo mình hiểu đại khái như ăn những gì “âm” như cá thì người xưa, thêm gừng thuộc dạng “dương” để bảo hoà như ăn sushi thì ăn thêm gừng. Người tây phương cũng làm tương tự như khi họ ăn thức ăn “âm” như cá thì họ uống rượu trắng (dương) còn khi ăn thịt (dương) thì họ uống rượu đỏ (âm). Mình hay thấy thân hữu người Việt, người Mỹ tại Hoa Kỳ ít ai để ý đến vấn đề này, cứ thấy uống đủ loại rượu rồi bia hằm bà lằn rồi thêm đá. Tây thấy là khóc như mưa bay. 


Có lần nghe một bài thuyết trình của bác sĩ Li, ông ta kể đã cứu mẹ ông ta thoát bệnh ung thư ở giai đoạn 4 bằng liệu-pháp miễn dịch, một phương thức đã được điều trị cho cựu tổng thống Jimmy Carter sống thêm cả 10 năm. Ông ta cố gắng sống lâu để đi bầu cho bà Kamala trước khi tắt thở. Ông bác sĩ kể là đã từng mất hai người chú về bệnh ung thư; một người chết vì ung thư đại tràng, người kia chết vì ung thư gan. Dù là bác sĩ, ông cũng không thể làm gì để cứu họ. 


Mười lăm năm sau, nghiên cứu ung thư đã tiến bộ rất nhiều, các nhà khoa học phát hiện ra điều đáng kinh ngạc. Hệ miễn dịch của chúng ta không chỉ chống lại virus và vi khuẩn, nó cũng có thể chống lại ung thư. Khám phá đó đã thay đổi hoàn toàn quan điểm của bác sĩ Li về y học. Rồi ung thư lại tấn công gia đình ông, mẹ ông 80 tuổi bị chảy máu âm đạo bất thường. Bác sĩ phát hiện một khối u. Bà phải phẫu thuật cắt bỏ tử cung và buồng trứng. Bác sĩ chẩn đoán là ung thư nội mạc tử cung và đề nghị giải phẫu. Sau phẫu thuật và xạ trị, mọi người hy vọng ung thư đã biến mất. Vài tháng sau… Nó tái phát. Chán Mớ Đời 


Tế bào ung thư đã di căn, bà mẹ đã ở giai đoạn 4. Bác sĩ ung thư nói với bác sĩ Li rằng về căn bản là hết cách nhưng Lần này y học đã có thứ mới; Liệu pháp miễn dịch. Thay vì tấn công trực tiếp vào ung thư như phương pháp trị liệu xạ trí hay hoá trị, nó hướng dẫn hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư. Có một cách trị ung thư không được phép điều trị tại Hoa Kỳ nhưng ở Đức quốc. Có xem một phim tài liệu, có một ông mỹ đem bà vợ bị ung thư qua Đức quốc điều trị bằng phương pháp trị liệu sinh tố C. Trong vòng một tháng, bệnh viện tư nhân truyền nước biển với sinh tố C, loại sinh tố này mình đã kể, có công thức háo học tựa tựa như đường, chỉ khác lượng Hydrogen thôi nên khi tế bào ung thư thấy, tương là glucose nên nhảy ra ăn mệt nghỉ và bị tự huỷ.


Mẹ ông trở thành một trong những bệnh nhân đầu tiên được điều trị bằng phương pháp này. Tiến sĩ Li không chỉ dựa vào điều trị bằng phép trị-liệu mà giữa mỗi lần điều trị… Ông đã thay đổi hoàn toàn lối sống và sinh hoạt của bà.


Mục tiêu của ông rất đơn giản. Làm cho cơ thể bà mạnh nhất có thể để chiến đấu chống lại sự tấn công của tế bào ung thư. Ông gọi đó là giữ “lá chắn.” Ông ta giải thích quá nhiều bước như:

Bước 1: Nâng cao hệ miễn dịch. Mỗi ngày ông tập trung hỗ trợ hệ phòng thủ tự nhiên của cơ thể bà bằng cách cho ăn uống các thứ như: Nấm, Trà xanh, Tỏi, Quả mọng, Cà chua. Cà chua nên ăn với dầu olive thì mới hiệu nghiệm. Mầm bông cải xanh, loại này mình lâu lâu hay làm ăn, lấy hạt ngâm nước sau đó vài ngày mọc ra như giá sống, ăn thoải mái con gà kê. Ông cũng giúp bà mẹ có giấc ngủ tốt, vận động đều đặn và giảm căng thẳng mãn tính.


Ung thư phát triển dễ dàng hơn trong môi trường viêm nên ông ta tìm cách giảm viêm. Do đó ông tránh cho bà mẹ tiêu thụ các thực phẩm siêu chế biến như Đường thêm vào, rượu thừa, thịt chế biến, thay thế bằng rau củ, dầu ô liu, thảo mộc, cá béo và các thực phẩm giàu polyphenol khác.


Xây dựng hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh. Một số vi khuẩn đường ruột giúp hệ miễn dịch phản ứng tốt hơn với liệu pháp miễn dịch. Ông ta cho bà mẹ ăn rau giàu chất xơ, Đậu, Đậu lăng, Yến mạch, Thực phẩm lên men, Lựu, quất.


Mạch máu khỏe mạnh nuôi dưỡng mô khỏe mạnh. Khi bị bệnh ung thư, có vấn đề là các mạch máu tự động sản xuất thêm mà y khoa gọi là Angiogenesis. Do đó cần ăn uống để tránh vấn đề này vì sẽ bị di căn đến hết thuốc chữa. Ung thư cũng cố gắng tạo nguồn cung cấp máu riêng. Các thực phẩm được bác sĩ Li khuyến nghị trong cuốn sách của ông ta gồm:

  • Trà xanh
  • Cà chua
  • Tỏi
  • Dâu tây
  • Đậu nành
  • Cà phê 

Bác sĩ Li đối đấu với ung thư trên hai mặt trận. Mặt trận thứ nhất là phương pháp điều trị y tế tốt nhất hiện có và mặt trận thứ hai là tăng cường cơ thể mẹ ông thông qua dinh dưỡng và lối sống. Mẹ ông chỉ nhận ba lần liệu pháp miễn dịch thì khỏi bệnh. Một lần điều trị. Ba tuần sau lần nữa và cuối cùng Ba tuần sau lần thứ ba. Chín tuần sau khi bắt đầu điều trị thì lành khỏi


Và cuối cùng đã trở thành giai đoạn hết bị ung thư. Mẹ ông ta chưa bao giờ cần hóa trị. Mẹ của bác sĩ Li được chẩn đoán bị ung thư vào năm 2014. Bà vẫn còn sống đến hôm nay, khỏe mạnh và không còn ung thư.


Tò mò mình mò thêm tài liệu về liệu-pháp miễn dịch (Immunotherapy) thì được biết là một phương pháp điều trị ung thư hiện đại, giúp hệ miễn dịch của chính cơ thể nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư, thay vì tấn công trực tiếp vào khối u như hóa trị hay xạ trị.


Hồi nhỏ mình đã bị bệnh phổi khi đi đi khám bác sĩ Sohier, chụp hình rồi sau đó mình cứ ho hen đau hoài. Mùa đông Paris thì ho mệt thở, sau này qua mỹ trời lạnh New York cũng đau, rồi bác sĩ cho thuốc trụ sinh uống cho hết vô hình trung khiến hệ miễn nhiễm của mình banh ta lông luôn. Sau này nhờ tập ở Đông Phương Hội nên từ từ cơ thể khoẻ lại, thêm ăn uống đủ loại cơm tây, tàu, ả rập, mễ,… nên nay hệ miễn nhiễm có vẻ khả quan hơn xưa, không còn ho hen, hay đau ốm như xưa. Ngày nay, mình có cảm tưởng như khoẻ hơn cách đây 20 năm. Dạo ấy, đi bộ có 2 cây số mà chân đau, leo cầu thang là đau đầu gối. Từ khi tập ở Đông Phương Hội thì hết đau, núi nào cũng leo được như Kilimanjaro, Whitney,…


Hệ miễn dịch bình thường có thể phát hiện và tiêu diệt tế bào bất thường. Tuy nhiên, tế bào ung thư thường “ngụy trang” hoặc kích hoạt các “điểm kiểm soát” (checkpoints) để tắt phản ứng miễn dịch.


Liệu pháp miễn dịch giải quyết vấn đề này bằng nhiều cách:

  • Ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (Immune checkpoint inhibitors): Các thuốc như pembrolizumab (Keytruda), nivolumab… “không chận tế bào T (một loại tế bào miễn dịch), giúp chúng nhận ra và tấn công ung thư. Đây là loại phổ biến nhất hiện nay.
  • Liệu pháp tế bào (CAR-T, TIL…): Lấy tế bào miễn dịch của bệnh nhân, biến đổi trong phòng lab rồi truyền lại để chúng mạnh hơn và nhắm đích chính xác. Nhớ có phong trào ở cộng đồng người Việt hô hào uống canh dưỡng sinh, do một ông người Nhật nào chế biến. Ông ta là khoa học gia bị ung thư, không muốn chết nên tìm cách tự cứu dù bác sĩ bó tay chấm còm. Ông ta chế ra cách nấu cà rốt, nấm shitake, cải trắng và củ gì quên tên sau đó ông ta tè ra lấy nước tiểu của mình trộn với canh đường sinh để uống. Mình đọc giải thích của ông ta là khi tế bào ung thư xâm nhập vào cơ thể thì cơ thể lập tức đề kháng, tạo ra các kháng sinh một số đi theo đường nước tiểu ra. Nên ông ta kêu uống nước tiều của mình rất tốt vì có kháng sinh. Hồi nhỏ có bà hàng xóm, mỗi sáng qua nhà mình kêu mình đứng ghế tè vào cái cốc cho bà ta mang về để cô con gái, mới sinh ở cử uống. Nay ai hỏi thì mình bán nghe, không cho không nữa. Vì cứu một mạng người tốt hơn là xây 9 cái chùa.
  • Kháng thể đơn dòng, vaccine ung thư, cytokine…: Hỗ trợ hoặc hướng dẫn hệ miễn dịch theo nhiều cách khác nhau.

Khác với hóa trị (tiêu diệt cả tế bào lành lẫn tế bào ung thư), liệu pháp miễn dịch tập trung kích hoạt “đội quân” tự nhiên của cơ thể. Khi thành công, hiệu quả có thể kéo dài nhờ “bộ nhớ” miễn dịch.


Trong trường hợp mẹ của bác sĩ William Li (chẩn đoán năm 2014, 80 tuổi, ung thư nội mạc tử cung giai đoạn 4 đã di căn), bà là một trong những bệnh nhân sớm được dùng liệu pháp miễn dịch. Bà chỉ nhận 3 lần truyền (mỗi lần khoảng 20 phút, cách nhau 3 tuần). Sau khoảng 9 tuần, kết quả chụp chiếu cho thấy từ giai đoạn 4 chuyển thành giai đoạn 0, không cần hóa trị. Bà vẫn khỏe mạnh đến nay. 


Bác sĩ Li kết hợp điều trị với thay đổi lối sống (dinh dưỡng hỗ trợ hệ miễn dịch, giảm viêm, bảo vệ mạch máu, cải thiện hệ vi sinh đường ruột) để “giữ lá chắn được nâng cao”. Nghiên cứu sau này cũng cho thấy một số vi khuẩn đường ruột (như Akkermansia muciniphila) liên quan đến khả năng đáp ứng tốt hơn với liệu pháp miễn dịch.


Ưu điểm:

  • Có thể mang lại đáp ứng lâu dài, thậm chí thuyên giảm hoàn toàn ở một số bệnh nhân.
  • Ít độc tính toàn thân hơn hóa trị ở nhiều trường hợp. Họ có làm nghiên cứu, hỏi các bác sĩ trị ung thư tại Gia-nã-đại, là nếu họ hay người thân bị ung thư thì có khuyên chữa háo tị hay không thì 76% các vị bác sĩ này tuyền bố là KHÔNG.
  • Hiệu quả với nhiều loại ung thư: melanoma, ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư thận, một số ung thư phụ khoa, ung thư hạch…

Hạn chế:

  • Không phải ai cũng đáp ứng (tỷ lệ đáp ứng thường khoảng 20–40% tùy loại ung thư và tình trạng bệnh nhân).
  • Có thể gây tác dụng phụ liên quan miễn dịch (viêm phổi, viêm ruột, rối loạn nội tiết…).
  • Chi phí cao và không phải lúc nào cũng được bảo hiểm chi trả. Hình như ở Hoa Kỳ bảo hiểm chỉ trả nếu điều trị qua 3 phương pháp trị liệu được chấp thuận như xạ trị, hoá trị, và thuốc.


Liệu pháp miễn dịch đại diện cho sự chuyển đổi lớn trong điều trị ung thư: từ “tiêu diệt” sang “hỗ trợ cơ thể tự chữa lành”. Câu chuyện của mẹ bác sĩ Li minh họa rõ tiềm năng khi kết hợp y học hiện đại với việc tối ưu hóa sức khỏe tổng thể của cơ thể.


Gần đây mình thấy có nhiều tác giả nêu lên nhiều phương pháp để  chữa trị ung thư, ít độc hại hơn hoá trị. Để hôm nào rảnh sẽ kể (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vết đập xưa của hồ Xuân Hương

 Vết đập cũ xưa của hồ Xuân Hương



Lâu lắm rồi mình có thấy mấy tấm ảnh về hồ Xuân Hương Đà Lạt khi họ vét bùn sau 75. Có một tấm không ảnh khiến mình ngạc nhiên, vì hình lộ ra cái đập cũ bị nước lụt tháng 5 năm 1932 vẫn còn sau bao nhiêu năm bị nước phủ ngập. Hoá ra người Pháp không phá cái đập những chỉ dỡ đi cái đồ chặn nước để nước thoát qua cái hồ nhỏ (Petit lac) biến thành một hồ. Nay mình mới hiểu lý do tại sao trẻ em hay bị chết đuối khi tắm ở khu vực này, chỗ hội quán hướng đạo vì gần cái lỗ thông nước từ hồ lớn qua hồ nhỏ nên nước xoáy ở dưới.


Tấm ảnh Thuỷ Tạ khi họ vét hồ

Khu vực người Việt và người Tàu ở phía dưới Hồ Nhỏ, sau vụ lũ lụt năm 1932 thì bị cuốn trôi nên người Pháp cho đời khu vực lên khu Hoà BÌnh. Khi xưa mỗi lần trời mưa ở Đà Lạt, thấy các vườn ở khu vực thấp gần ấp ánh sáng bị ngập nên có thể tưởng tượng vụ lụt năm 1932, có thể cuốn trôi hết khu vực này.

Khu vực này nằm dưới Bưu điện, chắc được chụp trước khi nhà thờ Con Gà được xây cất. Sau này, được thương phế binh cắm dùi

Đây tấm ảnh được chụp từ ty bưu điện xuống, thấy khu vực người Việt và người Tàu ở trước khi lũ lụt năm 1932 xảy ra. Sau này khu vực này chỉ để trồng rau. Thấy cái Cầu Gỗ bắt ngang con suối Cam Ly

Khu thương mại Đà Lạt do người Tàu nắm giữ.

Đây là tấm ảnh chụp từ đồi, chỗ khu vực khi xưa là nơi lính hải quân tây nghỉ dưỡng, sau này là Nhà Lao, nơi mẹ mình bị nhốt mấy tháng, chụp về hướng khách sạn Palace, thấy nhà cửa của người địa phương ở cạnh hồ Nhỏ, trước khi lũ lụt năm 1932 xảy ra. Chúng ta thấy cái đập bên tay trái từ bùng binh Thuỷ Tạ (chưa xây) nối liền qua bờ bên này, chỗ bùng binh đường Đinh Tiên Hoàng

Hình chụp khu người Việt cũ bị lũ lụt năm 1932 cuốn trôi


Mình thấy một khúc cái đập trước 1932, bị chìm khi họ xây cầu Ông Đạo

Chỗ này chụp từ trên cầu Ông Đạo về hướng biệt thự Trang Hai

Thấy con suối Cam ly nhỏ bé nhưng khi chận cái đập lại thì biến khu vực này thành cái hồ lớn

Hình cái đập trước năm 1932, từ bùng binh Thuỷ Tạ (chưa xây) đi về phía bên kia hồ, chỗ đường Đinh Tiên Hoàng. Chỗ xe bò sau này là đường Trần Quốc Toản, bên trái sau này là cây xăng Esso

Hồ Lớn (Grand Lac) trước khi cái đập bị lũ năm 1932 phá vỡ.

Tấm ảnh xưa chụp từ phía bên hồ chỗ đường Nguyễn Thái Học về phía khách sạn Palace

Tấm ảnh này mới thấy lần đầu tiên trên mạng, chỉ cái đập, không dám chắc vì lâu quá không về Đà Lạt để nhận định lại vì nhà cửa xây nhiều hơn xưa


Mình có kể rồi nhưng xin tóm tắc sự hình thành của hồ Xuân Hương Đà Lạt. Khi người pháp quyết định xây dựng Đà Lạt như một khu nghỉ dưỡng cho đế quốc họ ở Đồng Nam Á thì khỏi đầu họ làm hai cái đập để ngăn thành hai cái hồ mà họ gọi Hồ Lớn (grand lac) để người Pháp sử dụng cho các môn thể thao nước và hồ Nhỏ (Petit lac) dành cho người địa phương và người Việt sử dụng. Họ có xây một nhà máy nước để bơm nước vào rồi lọc trước khi đưa ra người Pháp dùng. Trước 1975, ông Cụ mình khi xưa quản lý nhà máy nước. 


Muốn làm hai cái hồ nước , họ phải xây 2 cái đập, chận con suối Cam Ly. Phía bên hồ nhỏ nơi người Việt sử dụng. Nước thì có xây dựng một khu dân cư rồi nước lũ tháng 5 năm 1932 cuốn trôi mấy nhà này đi khiến 15 người Việt chết nên người Pháp mới dời khu người Việt lên phía Khu Hoà Bình ngày nay

Màu xanh là cái đập cũ được xây trước năm 1932 ngăn chia 2 hồ mà người Pháp gọi Grand Lac bên phải và Petit Lac bên trái. Sau vụ lũ lụt người Pháp không chận cái đập này nữa mà xây cái đập chắc chắn là cầu Ông Đạo sau này.
Không ẢNH chỉ nhà máy nước khi xưa, với hồ đội Có
Bản đồ lấy từ Đặc Khảo Địa Dư, cho thấy phù sa kéo về từ thượng nguồn của suối Cam Ly đã lấp từ từ phía khu vườn Bích Câu.


Cầu Ông Đạo khi xưa, nguyên là cái đập chận nước hồ Xuân Hương tuỳ theo mùa mưa nắng để họ xả nước.

Hồ Xuân Hương khi họ vét hồ vì phù sa kéo về dần dần làm cạn nước.
Thuỷ Tạ trơ trọi khi hồ cạn nước
Mùa lụt tháng 5 năm 1932 đã kéo theo nhiều căn nhà ở khu vực hồ Nhỏ nơi người Việt và người hoa sinh sống, khiến 15 người Việt chết.
Hình này chụp ở Lò Gạch, tên cũ của khu đường Hoàng Diệu, vì khi xưa có lò gạch tại khu vực này.
Nhà của ông Quản Đạo, gần bùng binh ngày nay khi qua cầu Ông Đạo
Hình chụp lũ lụt khu vực người địa phương
Mình đoán là Cầu Gỗ trước khi Ông Đạo cho xây Cầu bằng xi măng cốt sắt sau này.

Cận cảnh là nhà máy nước bên cạnh hồ Đội Có, nơi thu nhận, hứng nước mưa từ đồi Cù và khu vực đường Võ Tánh chảy xuống (còn tiếp)

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 
Nguyễn Hoàng Sơn