Câu chuyện tình già 3 giờ sáng

Đi Tân Gia Ba chơi với Bà cụ và đồng chí gái thì rất cảm động khi nghe bà cụ kêu “đẹp quá con hỉ”, kêu gặp lại mình như trẻ hơn 10 tuổi. Trong chuyến đi mình có đọc được một câu chuyện về một người sở tại lớn tuổi, bà vợ qua đời, để lại ông một cuộc sống vắng vẻ, buồn chán. Xin tóm tắc như sau:

Người đàn ông goá vợ, mỗi ngày ra quán cơm ngồi ăn một mình trong nổi cô đơn khi người vợ đã qua đời. Khi chúng ta mất đi mới quý sự hiện diện của người bạn đời

 Tôi sống ở Bukit Ho Swee. Khu tập thể cũ. Loại HDB sơn màu pastel đã phai, hành lang hẹp đến mức hàng xóm nghe được cả tiếng bạn hắt xì. Ở đây yên tĩnh. Không phải kiểu yên bình. Mà là kiểu ai ở nhà nấy, đóng cổng sớm, không ai dây với ai. Nghe kể là 80% căn hộ ở Tân gia Ba thuộc của chính phủ nên mua hay thuê rẻ.

Dưới nhà có một quán cà phê. Chẳng có gì đặc biệt. Ghế nhựa, đèn huỳnh quang chói mắt. Một quán zi char, một quầy nước, một quán cơm bình dân, và một dì bán bánh mì kaya buổi sáng. Loại chỗ mà khách du lịch sẽ chẳng bao giờ tìm thấy, còn người Singapore thì đi ngang qua mỗi ngày mà không buồn nhìn.

Tôi bắt đầu để ý tới ông ấy khoảng một năm trước. Tối nào cũng vậy. 6 giờ 30. Cùng một bàn. Cùng một góc, quay mặt về phía cái TV chẳng ai xem. Ông ngồi xuống, gọi một ly kopi-o kosong và một dĩa cơm. Lúc nào cũng là cơm bình dân. Lúc nào cũng giống nhau: một món mặn, một món rau. Không thêm thắt. Ông ăn chậm. Không phải vì muốn thưởng thức, mà vì ăn xong rồi cũng chẳng biết đi đâu nữa.

Ăn xong, ông không về. Ông cứ ngồi đó, nhìn xuống mặt bàn. Thỉnh thoảng nhìn người qua lại. Thỉnh thoảng chỉ ngó hai bàn tay của mình. Ông chủ quầy nước sẽ tự động châm thêm kopi cho ông, không cần hỏi. Kiểu thỏa hiệp im lặng được xây bằng nhiều năm, dù chẳng biết tên nhau.

Một tối, tôi xuống mua đồ ăn mang về, quán gần như trống trơn. Chỉ có ông ấy, tôi, và ông chủ quầy nước đang lau quầy. Tôi ngồi cách hai bàn. Vừa ăn vừa lướt điện thoại. Như ai cũng vẫn làm. Rồi tôi nghe thấy gì đó. Rất nhỏ. Gần như không có. Nhưng trong một quán cà phê trống lúc 8 giờ tối, bất cứ âm thanh nào bạn cũng nghe được.

Ông đang nói chuyện. Với cái ghế trống phía đối diện. Không lớn tiếng. Không điên loạn. Chỉ là đang nói chuyện. Giọng điệu của người nói với một người từng ngồi đó. “Hôm nay nóng quá ha. Bà lúc nào cũng nói tôi uống nhiều nước. Tôi uống rồi mà.”  Ông ngừng lại, như chờ ai trả lời. “Con cá hôm nay cũng được. Bà sẽ nói mặn quá. Cái gì trong mắt bà cũng mặn hết.” Tôi đặt điện thoại xuống.

Ông nói chuyện với cái ghế đó suốt mười phút. Về thời tiết. Về đồ ăn. Về một chương trình trên Channel 8 ông xem chiều nay. Những chuyện bình thường. Chuyện vụn vặt hằng ngày. Kiểu chuyện chỉ kể cho người đã cùng mình đi qua cả đời. Nói xong, ông gấp khăn giấy, đặt lên dĩa, rồi lại ngồi đó. Im lặng. Hai tay đặt trên bàn. Như thể cuộc trò chuyện đã kết thúc, và giờ họ chỉ ngồi cạnh nhau. Kiểu như những cặp vợ chồng già vẫn làm. Tôi không rời mắt được. Mà cũng không dám nhìn thẳng. Tôi cứ giả vờ ăn, nhưng trong ngực như có cái gì đó vừa rạn nứt ra.

Đêm nào ông cũng đến. Tôi bắt đầu để ý kỹ hơn. Thứ Hai. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Ghế trống. Thứ Ba. Vẫn vậy. Thứ Tư. Vẫn vậy. Thứ Năm…ông gọi hai ly kopi. Đặt một ly bên kia bàn. Không hề động tới. Để nó nguội lạnh. Đêm đó tôi chuyển bàn. Không có kế hoạch. Không chuẩn bị câu nào. Tôi chỉ bưng dĩa cơm sang ngồi ngay bàn bên cạnh. Đủ gần để mở lời. Đủ xa để nếu cần thì vẫn giả vờ như chẳng quen.

Chú, cơm bình dân ở đây cũng được ha?” Ông ngẩng lên, ngạc nhiên. Như thể quên mất rằng vẫn có người nhìn thấy ông. “Cũng được. Nhưng hồi trước ngon hơn. Cô bán trước…wah, thịt kho tàu của cổ. Vợ tôi lúc nào cũng gọi gấp đôi phần.” Lần đầu tiên ông nhắc đến bà với một người lạ. Có lẽ cũng là lần đầu ông nói chuyện đàng hoàng với ai đó trong quán này sau rất lâu.

Ông tên là Tân. Bảy mươi tám tuổi. Sống tầng chín. Cùng block với tôi. Ở đó từ năm 1970, ngay sau khi kampung cũ bị dỡ sau vụ cháy. Nuôi ba đứa con trong một căn hộ ba phòng. Lái xe buýt cho SBS suốt ba mươi lăm năm. Nghỉ hưu năm 2003. Vợ ông mất hai năm trước. Đột quỵ. Nhanh. Bà đang ở chợ Beo Crescent một buổi sáng, mua ikan bilis thì ngã xuống ngay cạnh sạp rau. Xe cấp cứu tới SGH thì bà đã đi rồi.

“Bà đi chợ mỗi ngày đó. Ngày nào cũng đi. Mưa cũng đi. Tôi nói, ‘Aiyah, hôm nay đừng đi nữa.’ Bà nói, ‘Vậy tối nay ông ăn gì?’ Ông cười khi kể. Nụ cười như được giữ lại bằng những sợi chỉ mỏng manh.

Bà đi rồi, tôi chẳng biết làm gì. Năm mươi hai năm bà nấu cho tôi. Giặt đồ. Nhắc tôi uống thuốc. Tôi còn không biết bật máy giặt sao nữa. Năm mươi hai năm mà tôi không tự giặt nổi quần áo mình.”Ông tự học. Bằng YouTube. Ở tuổi bảy mươi tám. Thằng cháu trai chỉ cho ông một lần, dịp Tết Âm lịch…lần cuối cùng có ai đến thăm. Giờ ông thức lúc 2 giờ sáng xem video nấu ăn vì không ngủ được, mà căn nhà thì quá yên tĩnh.

Anh biết cái gì tệ nhất không? Không phải nấu ăn. Không phải dọn dẹp. Tệ nhất là giờ ăn tối. Mỗi tối, 6 giờ, bà ngồi ở bàn bếp. Hai đứa ăn với nhau. Nói chuyện tào lao. Than phiền hàng xóm. Cười những chuyện cũ rích. Giờ tôi ngồi đó, cái ghế trống. Nhà yên đến mức tôi nghe rõ tiếng kim đồng hồ.

Đó là lý do ông xuống quán cà phê. Không phải vì đồ ăn. Mà là vì tiếng người. Vì âm thanh của những người khác đang sống. Bởi trên căn hộ phía trên, mọi thứ như một bảo tàng của người đã mất, và sự im lặng ở đó là kiểu im lặng khiến người ta quên rằng mình vẫn còn thở.

Tôi hỏi về con cái ông. Ông im lặng. Một khoảng im dài. “Con trai tôi ở KL. Đi làm. Thỉnh thoảng gọi. Chắc một tháng một lần. Rất nhanh. ‘Ba, ba khỏe không?’ ‘Khỏe.’ ‘Rồi, bye.’ Vậy đó. Con gái…ở Woodlands. Xa. Nó có gia đình riêng. Hai đứa nhỏ. Bận. Tôi hiểu. Ở Singapore mà. Lần cuối tôi gặp nó là dịp Thanh Minh. Đi nghĩa trang chung. Xong rồi thôi.”

Còn cháu ngoại, cháu nội thì sao chú?” “Thằng cháu đó hả. Nó đang đi nghĩa vụ quân sự. Nó nhắn tin chúc mừng sinh nhật tôi vào tháng Chín. Nhầm tháng. Sinh nhật tôi là tháng Ba.” Ông cười. Nhưng không phải kiểu buồn cười.

Tôi không trách tụi nó. Cuộc sống Singapore mà. Ai cũng bận. HDB mắc. Con cái thì học thêm. Công việc thì tăng ca. Làm xong hết mấy thứ đó, còn thời gian đâu nữa. Tôi hồi đó cũng vậy. Mẹ tôi…tôi gửi bà vô viện dưỡng lão ở Yishun. Nói cuối tuần ghé. Mà lâu lâu lại bận. Bà không nói gì. Nhưng giờ tôi hiểu cái mặt bà lúc đó muốn nói gì rồi.”

Ông nhìn sang cái ghế trống. “Giờ tôi là người ngồi chờ. Buồn cười ha. Đời đúng là vòng tròn.” Tôi bắt đầu ngồi với ông. Không phải tối nào. Nhưng đa phần tối. Tuần ba, bốn lần, tôi xuống lúc 6 giờ 30, mua đồ ăn rồi ngồi vào bàn của ông. Có lúc nói chuyện. Có lúc chỉ ăn trong im lặng. Cả hai cùng nhìn cái TV chẳng ai xem, ăn cơm bình dân, chỉ đơn giản là có mặt ở đó.

Ông kể tôi nghe chuyện đi lái xe buýt hai mươi năm. Cùng một tuyến: Bukit Merah tới Tampines. Ông thuộc mặt khách quen. Cô dì lúc nào cũng chuẩn từng đồng lẻ. Đám học sinh chạy hộc tốc bắt xe ở Queenstown. Một cô gái trẻ đi xe mỗi sáng suốt ba năm, rồi tự nhiên biến mất…tới giờ ông vẫn tự hỏi không biết đời cô ấy rẽ đi đâu.

Ông kể về vợ mình. Cách bà trả giá với ông bán cá ở chợ Beo Crescent mỗi sáng chỉ vì hai chục xu. Cách bà cất tất cả phong bao lì xì Tết trong một cái hộp thiếc dưới gầm giường…bốn mươi năm tiền lì xì không mở ra đếm. Cách bà ngân nga mấy bài hát tiếng Phúc Kiến khi nấu ăn mà không hề biết mình đang hát.

Tôi nhớ nhất là tiếng bà ngân nga. Anh biết không, khi một người ở bên mình mỗi ngày, mình không còn nghe họ nữa. Rồi họ đi. Tự nhiên cái im lặng ồn ào kinh khủng.”

Một tối thứ Năm, ông không đến. 6 giờ 30. 7 giờ. 7 giờ 30. Bàn của ông trống trơn. Tôi lên nhà. Tầng chín. Gõ cửa. Không ai trả lời. Tôi gõ thêm lần nữa. Cửa mở. Ông mặc áo ba lỗ, quần đùi. Mắt đỏ. Trên tay cầm một khung ảnh.

Chú khoẻ chứ? Hôm nay chú không xuống.”

“Hôm nay là sinh nhật bà.” Ông đưa tôi xem tấm hình. Một người phụ nữ trẻ, mặc sườn xám đỏ, cười rạng rỡ. “Năm 1971. Năm đầu tụi tôi cưới nhau.” Cả ngày ông ở trong nhà. Ngồi nhìn hình. Nói chuyện với bà. Nấu món bà thích nhất — cá hấp gừng với xì dầu — rồi bày lên bàn.

Hai cái dĩa. Hai chén cơm. Hai đôi đũa.

Năm nào tới sinh nhật bà tôi cũng nấu cho bà. Tôi biết bà không còn ở đây. Nhưng tay tôi vẫn nhớ bà thích ăn thế nào. Gừng phải xắt thiệt mỏng. Xì dầu không được nhiều. Nếu tôi ngừng nấu, thì chẳng còn ai trên đời nhớ được bà thích ăn cá thế nào nữa. Vậy là bà mất luôn thiệt rồi.”

Tôi ngồi xuống. Hai chú cháu ăn với nhau. Cá rất ngon. Gừng mỏng. Xì dầu vừa miệng. Đêm đó về đến nhà, tôi gọi cho mẹ. Bình thường hai mẹ con nói chuyện khoảng tuần một lần. Ngắn gọn. “Má ăn cơm chưa?” “Ăn rồi.” “Vậy ha.” “Ừ.” Như kịch bản học thuộc lòng. Nhanh gọn, kiểu Singapore.

Nhưng tối đó tôi nói lâu hơn. Ba mươi phút. Tôi hỏi má về một ngày của má. Má nấu gì. Hàng xóm dưới nhà còn chơi mạt chược tới nửa đêm không. Lúc đầu má có vẻ ngạc nhiên. “Sao hôm nay con hỏi nhiều vậy? Con có chuyện gì không?” “Con không sao, má. Chỉ muốn nói chuyện thôi.”

Đầu dây bên kia im lặng một chút. Rồi má tôi nói một câu đã rất lâu tôi không nghe. “Má mừng vì con gọi. Nhà dạo này yên lắm.” Nhà dạo này yên lắm. Y chang câu ông Tân nói. Cùng những chữ đó. Cùng cái tông giọng đó. Chỉ khác người.

Ông Tân vẫn đến quán mỗi tối. 6 giờ 30. Bàn trong góc. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Tôi cũng ngồi với ông hầu hết các tối. Trở thành thói quen. Thỉnh thoảng ông chủ quầy nước rảnh tay cũng qua ngồi chừng mười phút. Có hôm dì bán zi char gửi sang thêm một đĩa đồ ăn.

Cho chú Tân, nói là quán mời.”

Một cái bàn nhỏ ở quán cà phê Bukit Ho Swee. Đôi khi ba, bốn người. Đa phần là hai. Đó là cả thế giới của ông bây giờ.

Tuần trước, ông nói một câu mà tới giờ tôi vẫn không ngừng nghĩ tới.

Anh biết không, hồi đó tôi lái xe buýt. Mỗi ngày tôi chạy ngang qua bao nhiêu người. Hàng ngàn. Tôi thấy họ nhưng chẳng biết họ là ai. Giờ tôi già. Tôi ngồi đây. Người ta đi ngang qua. Họ thấy tôi mà chẳng biết tôi là ai. Cũng vậy thôi. Chỉ là bây giờ tôi là người ngồi ở trạm xe buýt.”

Ông nhấp một ngụm kopi.

Còn anh. Anh ngồi xuống. Anh ăn với tôi. Anh nghe một ông già nói tào lao về vợ, về xe buýt, về con cá. Không ai bắt anh làm vậy. Nhưng anh làm. Và tôi muốn nói với anh…đây là điều quan trọng nhất có người làm cho tôi từ ngày bà mất tới giờ.”

Tôi không biết trả lời sao. Chỉ nói: “Mai, giờ này nữa hả chú?

Giờ này chứ đâu. Tôi còn chỗ nào để đi đâu.”

Ông cười. Lần này là nụ cười thật sự.

Đó là câu chuyện của ông. Và từ khi đọc xong, tôi không còn như trước nữa.

Điều tôi rút ra là:

Ba mẹ bạn sẽ không nói với bạn là họ cô đơn. Họ sẽ không bảo, “Nhà im lắm.” Họ sẽ không thú thật là họ đang nói chuyện với một cái ghế trống trong bữa tối. Họ sẽ chỉ nói, “Má/ba khoẻ.” Họ sẽ nói, “Đừng lo.” Họ sẽ nói, “Con bận mà, không sao, để lần sau.

Nhưng “lần sau” thành tháng sau.  

Tháng sau thành Tết.  

Tết thành Thanh Minh.

Rồi một ngày, chính bạn sẽ là người ngồi ở quán cà phê, nói chuyện với cái ghế trống, ước gì có ai ngồi xuống với mình. Bạn không cần phải bay về nhà. Không cần một cử chỉ hoành tráng. Không phải sửa hết mọi thứ. Chỉ cần gọi. Nói chuyện lâu hơn hai phút. Hỏi hôm nay họ ăn gì. Hỏi về hàng xóm. Hỏi những chuyện không đầu không đuôi. Để họ có người mà kể.

Hoặc tốt hơn nữa…nếu có thể, hãy bước xuống nhà.  Đi tới quán cà phê.  Ngồi với họ. Ăn dĩa cơm bình dân đó. Xem cái TV chẳng ai để ý. Không biết nói gì cũng không sao. Chỉ cần có mặt ở đó. Vì sẽ đến một ngày cái ghế đó trống thật sự. Và bạn sẽ ước gì được nghe họ than món cá mặn thêm một lần nữa. Đừng đợi tới khi cái ghế trống rồi mới nhận ra trước đó nó đầy ắp. Tối nay, hãy ngồi xuống cạnh ai đó.

Câu chuyện nói về người già như mình, từ từ con cháu dọn ra riêng, lủi thủi còn hai vợ chồng. Nhưng rồi một ngày sẽ đến, người chồn thay người vợ ra đi trước, để lại nổi trống vắng của cuộc đời. Chúng ta khi xưa bận con cái, công ăn việc làm nên không có thời gian để ý đến cha mẹ rồi khi có chút thời gian thì cha mẹ đã vắn số, để rồi có người kêu đổi thiên thu để thấy nụ cười của mẹ.

Như ông Tân, vợ chết sớm, chả biết làm gì ngoài sự trống vắng. Ông ta xuống quán ăn để khẳng định mình là có mặt trên cỏi đời vì thức ăn không ăn nhưng cũng phải ăn vì lo sợ cái im lặng trong căn hộ của mình. Mỗi tuần mình cố gắng nói chuyện với bà cụ ở Đà Lạt. Cố nhìn mụ vợ, ôm mụ mỗi ngày vì biết đâu một ngày nào đó, sẽ không còn thấy nhau. Câu chuyện hơi tiêu cực nhưng cũng khiến mình suy nghĩ về cuộc đời.

Nàng trao một nữa nỤ cười

Làm Ta mất một đời làm ô-sin


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

ân nhân Ẩn Danh

 Người Quyên Tặng Ẩn Danh

Tuần rồi mình có kể hai anh em ông Nhữ Huy Hoàng đã tặng tiền mấy triệu đô cho đại học tiểu bang Cali Irvine và được đại học này đặt tên một tòa nhà trong khuôn viên Đại học này mang tên gia đình này. Ai buồn đời thì vào trang Facebook của mình để đọc thêm chi tiết. 


Dạo này mình hay đọc tiểu sử những người mỹ đã quyên tặng tài sản của họ mà theo mình đó là tinh thần của những người tiên phong đặt chân lên xứ này và đã tạo dựng một đất nước chỉ riêng cho người di dân. Mọi người từ khắp nơi trên thế giới, bất kỳ chủng tộc nào, nếu họ chịu khó thì sẽ thành công và điểm hay nhất là họ chia sẻ với cộng đồng hay người xa lạ.


Tuần tới mình làm Toastamaster nên sẽ dùng chủ đề là người di dân và hậu duệ tặng tiền, đóng góp chi cộng đồng.


Có những tấm ngân phiếu đến với Hội Sierra, con số dài đến mức người ta phải đếm lại nhiều lần những con số không phía sau. Không tên người gửi. Không lời nhắn. Chỉ có sự tin tưởng lặng lẽ.

ACLU cũng nhận được những khoản tài trợ như thế đều đặn, bền bỉ, vô danh. Những cựu chiến binh trở về từ Iraq, Afghanistan được chữa lành, được học nghề, được giúp đứng dậy… mà không bao giờ biết ai đã dang tay ra với họ trong lúc đen tối nhất.


Người đàn ông đứng sau tất cả điều đó lái một chiếc Honda Civic cũ, dán sticker Obama đã bạc màu. Khi người ta đến nhà ông, họ thường hỏi: “Chủ nhà có ở đây không?” Vì họ tưởng ông là người làm vườn. Ông ta chỉ mỉm cười thay vì hỏi: “Biết bố mày là ai không”


Ông tên là David Gelbaum.


Ông nội của David là một người Do Thái chạy trốn khỏi Ukraine trước Thế chiến thứ nhất. Ông đến Mỹ với hai bàn tay trắng, mang theo nỗi sợ hãi của chiến tranh và một niềm tin mong manh rằng ở mảnh đất mới này, con cháu mình sẽ có một cuộc sống khác. Giấc mơ của người tị nạn ấy, âm thầm và bền bỉ, đã nảy mầm qua nhiều thế hệ.


David lớn lên yêu toán học và thiên nhiên. Tuổi thơ của ông gắn với những chuyến cắm trại, những đêm nằm ngửa lưng nhìn sao trời, những khu rừng yên tĩnh nơi con người trở nên nhỏ bé. Sau này, ông tốt nghiệp Đại học Berkeley và gia nhập thế giới tài chính, sử dụng năng khiếu toán học để đầu tư trong các quỹ phòng hộ.


Rồi năm 1989, công ty tan vỡ. Tất cả sụp đổ. David không bỏ cuộc. Ông cùng hai đồng nghiệp lập nên TGS Management nhỏ, kín, và thận trọng. Họ thành công đến mức… xin lỗi các nhà đầu tư khác vì không cần thêm tiền. Họ chỉ muốn quản lý tiền của chính mình. Không tham vọng. Không phô trương. Không lặp lại sai lầm cũ.


Và rồi họ bắt đầu làm một điều không ai ngờ tới. Họ bắt đầu cho đi. Mìn thấy người Mỹ có cái hay là ngoài nhà thờ ra, họ cho các tổ chức từ thiện rất nhiều. Cho nhà thờ có thể bắt buộc hay như mua cái may cái tốt cái lành nhưng đem tiền của để cho người khác ngoài nhà thờ thì mình thấy xứ này khác với với âu châu.


Đến năm 2014, người ta phát hiện rằng David và các cộng sự viên đã âm thầm quyên góp hơn 13 tỷ đô la Mỹ thông qua những pháp nhân bí ẩn. Nhiều hơn cả Ford Foundation. Và gần như tất cả đều… vô danh.


Tại một chi hội Lions địa phương, có lần một hội viên, chuyên gia địa ốc,  kể về một khu rừng trên núi, gần Mount Baldy. Có một hội viên nói muốn mua lại khu đất đó và hiến tặng cho hội, để trẻ em nghèo có nơi đi nghỉ hè, trượt tuyết mùa đông. Nơi ấy có vài bungalow cũ, một trung tâm sinh hoạt, một quán ăn nhỏ. Hai hội viên rảnh rỗi bắt đầu đóng giường tầng cho các em.


Qua các sinh hoạt với hội Lions Quốc Tế, mình thấy người Mỹ họ quyên góp làm từ thiện rất hay, không nhất thiết phải cúng chùa hay nhà thờ như đa số người Việt tỵ nạn của mình. Cúng dường như mua từ Cúa hay Phật được sự may mắn, hạnh phúc.


Và rồi buồn đời mình cũng tham gia mua tặng một chiếc xe van, để hội viên chở những đứa trẻ chưa từng rời khỏi khu phố nghèo lên núi, lần đầu chạm vào tuyết, lần đầu thấy rừng. Khi nhìn những đứa bé được đi chơi mùa hè hay trượt tuyết, mình rất cảm động. Có nhiều hội viên không đóng góp hiện kim thì đóng góp công sức. Họ in vé để bán cho xổ số. Có nhiều cách để đóng góp cho cộng đồng. Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh, họ gây quỹ để đi mua quà cho trẻ em con nhà nghèo, tặng gà, thức ăn cho các gia đình nghèo trong thành phố.


Những ký ức hạnh phúc nhất của tôi là khi còn nhỏ được cắm trại và đi bộ trong rừng,” ông David nói, để giải thích vì sao ông quyên góp cho Hội Sierra  để trẻ em có cơ hội hít thở thiên nhiên như ông từng được. Năm 1992, David gọi cho tổng giám đốc Hội Sierra và trao tặng khoản quyên góp lớn nhất trong lịch sử của họ: hơn 200 triệu đô la.


Ba năm sau, ông cùng nhà bảo tồn thiên nhiên David Myers thành lập tổ chức Wildlands Conservancy. Sứ mệnh của họ rất đơn giản mà lớn lao: cứu những vùng đất hoang dã của California trước khi chúng biến mất. Điểm đến là sa mạc Mojave.


Một công ty đường sắt sở hữu nửa triệu mẫu Anh sa mạc nguyên sơ. Các nhà phát triển vây quanh như kền kền, chuẩn bị biến nơi đó thành trung tâm thương mại, khu dân cư. David và Myers không phản đối ồn ào. Họ chỉ… mua lại. Âm thầm. Từng mảnh. Trong nhiều năm.


Sa mạc trải dài đến tận chân trời. Nơi những con cừu sừng lớn vẫn đi theo lối mòn cổ xưa. Nơi những con rùa sa mạc sống chậm rãi, kiên nhẫn, như chính vùng đất này.


Cuối cùng, họ sở hữu 1.200 dặm vuông tương đương diện tích Vườn quốc gia Yosemite. Và rồi họ hiến tặng toàn bộ cho chính phủ liên bang. Không bán. Không điều kiện. Đây là khoản hiến tặng đất tư nhân lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Điểm son của xứ này là tư nhân mua đất rồi cống hiến cho quốc gia để mọi người Mỹ có thể sử dụng trong khi nhiều quốc gia khác thì cán bộ tìm cách lấy đất quốc gia để tư hữu hay bán kiếm tiền.


Năm 2016, Tổng thống Obama đứng giữa sa mạc đó và tuyên bố thành lập Đài tưởng niệm Quốc gia Mojave Trails. Hầu hết mọi người không biết rằng nơi ấy tồn tại nhờ một người đàn ông trầm lặng lái chiếc Honda cũ.


Nhưng David không chỉ quan tâm đến đất đai. Cha ông từng tham chiến trong Thế chiến II và qua đời khi còn trẻ. Khi những người lính trở về từ Iraq và Afghanistan tan vỡ, mất phương hướng, bị lãng quên, David nhìn thấy hình ảnh của cha mình trong họ. Ông thành lập Quỹ Tác động Triển khai Iraq–Afghanistan. Từ năm 2006 đến 2010, ông quyên góp 246 triệu đô la để giúp cựu chiến binh học nghề, viết sơ yếu lý lịch, chữa lành chấn thương tâm lý, và giúp gia đình họ vượt qua những ngày dài sợ hãi. Tất cả đều ẩn danh.


Ông cũng quyên góp 93 triệu đô la cho ACLU để bảo vệ các quyền hiến pháp, những quyền khiến nước Mỹ đáng để chiến đấu và hy sinh. Gặp David là một trải nghiệm gây ngỡ ngàng. Một người từng kể rằng khi mở cửa phòng họp, ông thấy một người đàn ông thấp, hói đầu, râu muối tiêu, mặc áo thun và quần jean, nói chuyện nhỏ nhẹ. Sau khi xem video về tổ chức, David chỉ nói:

Tôi sẽ cho các anh thêm 10 triệu đô la nữa. Giờ hãy kể tôi nghe các anh đang làm gì tiếp theo”. Không hợp đồng. Không đàm phán. Chỉ có niềm tin.


Hầu hết người giàu dành cả đời để kiếm thêm tiền thay vì cho đi,” David từng nói. “Họ chờ quá lâu. Họ bỏ lỡ rất nhiều niềm vui.” Rồi khủng hoảng tài chính 2008 ập đến. Những khoản đầu tư xanh của ông bị đóng băng. Lần đầu tiên, ông buộc phải cho phép công khai tên mình không phải để được ca ngợi, mà để các tổ chức ông giúp đỡ có thể kêu gọi thêm sự hỗ trợ.


Ông qua đời lặng lẽ vào năm 2018. Không tượng đài. Không tòa nhà mang tên ông. Không cáo phó lớn.


Chỉ có sa mạc được bảo vệ.

Những người lính được cứu.

Những quyền tự do được giữ gìn.

Và một tỷ đô la đã được cho đi mà không đòi hỏi điều gì.


Làm từ thiện là một công việc,” ông từng nói. “Tôi chỉ đang làm công việc của mình.”


Nhưng có lẽ, đó là cách khiêm nhường nhất để nói về một đời người đã sống đúng với câu hỏi của ông nội mình:“Nếu ta đã được chào đón, làm sao ta có thể quay lưng với người khác?”


Mình là di dân, vợ mình là thuyền nhân, nhờ nước này cho mình một cơ hội để làm lại cuộc đời vì sống với Việt Cộng không nổi. Thà chết trên biển đông để tìm tự do, cuộc sống.


Mình đoán ông nội của ông David khi chạy thoát khỏi Ukraine để tránh chiến tranh. Với tinh thần đó, đã để lại di sản cho con cháu để họ tiếp tục cống hiến cho xứ sở này. Mình hy vọng sau này con cháu sẽ không quên sự ra đi của bố mẹ ông bà của chúng, đến định cư xứ này với một tiềm hy vọng làm lại cuộc đời sau cuộc đổi đời, Việt Cộng cướp hết tài sản và cho đi tù hay kinh tế mới. Chán Mớ Đời 

Tuần tới một số thân hữu và các linh mục sẽ tổ chức buổi gây quỹ cho chương trình “Người nghèo không thể đợi”. Có Linh Mục Ca và ca sĩ đóng góp phần văn nghệ. Xin mời các anh chị tham gia.

Có lần mình nhờ cô em chuyển tiền cho một sinh viên nghèo tại Việt Nam. Cô em hỏi tại soa mình không giúp cháu mình mà lại đi giúp người ngoài. Mình giải thích nếu với tinh thần đó thì người Mỹ hay người Pháp chắc chắn sẽ không giúp mình khi mới chân ướt chân ráo sang pháp hay vợ mình khi mới vượt biển sang Hoa Kỳ. Nếu không có các nhà thờ, hội đoàn tại Hoa Kỳ đứng ra bảo trợ người Việt tỵ nạn thì sẽ không có một cộng đồng người Việt rộng lớn như ngày nay.


Cháu mình thì có bố mẹ chúng lo, hy sinh đời bố củng cố đời con. Nếu bố mẹ chúng không lo cho chúng thì sẽ không có sự liên hệ nào với nhau sau này. Khi có con mình mới thấm thía sự hy sinh của ông bà cụ mình nhất là bà cụ nên ngày nay mới thương bà cụ. Chớ sinh ra mà có bác và đảng nuôi lo hết thì sau này chỉ nhớ ơn Bác và đảng.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng

 Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng


Cách đây mấy năm có một phim kể về cuộc đời ông Vivien Thomas, người da đen vì kỳ thì nên không được đi học trường y khoa. Cũng như câu truyện về cuộc đời bác sĩ Ben Carson, nổi tiếng về phẫu thuật tim, sau trở thành bộ trưởng gia cư của Hoa Kỳ. Mình xin tóm tắc lại đây:


Tại Nashville, tiểu bang Tennessee, năm 1930, Vivien Thomas sinh ra trong một nước Mỹ bị chia rẽ bởi chủng tộc, luật pháp và những giới hạn vô hình. Miền Nam thời Jim Crow không chỉ hạn chế cơ hội, nó áp đặt số phận. Là một người da đen, Thomas được dạy từ khi sinh ra rằng ông không được phép trở thành điều gì. Nhưng ông vẫn nuôi một ước mơ: trở thành bác sĩ. Tương tự con cháu nguỵ quân nguỵ quyền sau 40/4/1975, đi kinh tế, không được đi học, cách mạng đã đặt số phận, thậm chí ngày này vẫn lơ lững.

Với quyết tâm mạnh mẽ, ông làm thợ mộc và dành dụm từng đồng để theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp và Công nghiệp Tennessee, với mục tiêu cuối cùng là vào trường y. Kế hoạch của ông cẩn thận và rất kỷ luật cho đến khi lịch sử can thiệp. Khi cuộc Đại Suy Thoái xảy ra, ngân hàng nơi ông gửi tiền bị phá sản. Chỉ trong chốc lát, toàn bộ số tiền tiết kiệm biến mất, và con đường chính thức dẫn đến ngành y cũng tan biến theo cánh chim về trời tha ma.


Mới mười chín tuổi, Thomas nhận công việc phụ tá phòng thí nghiệm tại Bệnh viện Đại học Vanderbilt, với mức lương mười hai đô la một tuần. Nhiệm vụ của ông rất đơn giản và bị giới hạn rõ ràng: dọn dẹp phòng thí nghiệm, chăm sóc động vật, và im lặng. Ông không được kỳ vọng sẽ suy nghĩ, đặt câu hỏi hay đóng góp ý kiến. Tương tự mình có anh bạn học khi xưa, đậu tú tài thì vào đại học y khoa Huế. Sau 75, đang ngồi tỏng lớp, Việt Cộng chạy vào kéo đầu đi ra, không cho học nữa. Lý do bố anh ta là sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà. Việt Nam sau 75 có rất nhiều vụ này, em mình đậu đủ điểm hay dư vào đại học cũng không được cách mạng cho đi học. Ở nahh đi đang len, hay làm thợ may.


Ông quan sát từng thí nghiệm. Ông lắng nghe những cuộc thảo luận vốn không dành cho mình. Ông đặt ra những câu hỏi chính xác và thông minh, nhanh chóng hiểu được mục tiêu của từng quy trình. Sự tò mò và khả năng hiểu sâu sắc của ông không qua được mắt của bác sĩ Alfred Blalock, người phụ trách phòng thí nghiệm. Blalock bắt đầu dạy Thomas các kỹ năng phẫu thuật, dù Thomas không có bằng y khoa hay đào tạo chính thức.


Thứ Thomas có là đôi tay vững vàng, trí nhớ xuất sắc và hiểu biết sâu về giải phẫu học. Chẳng bao lâu, ông đã thực hiện các ca phẫu thuật phức tạp trên động vật thí nghiệm với sự chính xác và tự tin. Đến năm 1933, trên thực tế Thomas không còn chỉ là một trợ lý, ông đã trở thành cộng sự nghiên cứu của bác sĩ Blalock. Nhưng trên giấy tờ, mọi thứ vẫn không thay đổi. Chức danh, tiền lương và cách đối xử với ông vẫn thấp hơn rất nhiều so với vai trò thật sự của ông.


Năm 1941, bác sĩ Blalock nhận chức Trưởng khoa Phẫu thuật tại Bệnh viện Johns Hopkins, nhưng chỉ với điều kiện Thomas phải đi cùng. Bệnh viện đồng ý, song một lần nữa chỉ trao cho Thomas một chức danh kỹ thuật thấp, phản ánh trật tự chủng tộc cứng nhắc của thời đại.


Tại Johns Hopkins, họ đối mặt với một thảm kịch y học. Trẻ sơ sinh đang chết vì một dị tật tim bẩm sinh gọi là tứ chứng Fallot, thường được gọi là “Hội chứng Trẻ Xanh.” Dị tật này khiến máu không đến được phổi đầy đủ, khiến cơ thể thiếu oxy. Phần lớn trẻ em không sống quá tuổi thơ. Mình có biết một ông kêu khi sinh ra bị hội chứng này, may nhờ được giải phẫu được nên sống đến ngày nay.


Bác sĩ Helen Taussig đặt ra một câu hỏi táo bạo: liệu phẫu thuật có thể làm tăng lưu lượng máu đến phổi hay không? Bác sĩ Blalock quay sang ông Vivien Thomas và hỏi liệu ông có thể tìm ra cách thực hiện điều đó.


Ông Thomas lao vào công việc. Trong nhiều tháng, ông phẫu thuật trên chó, thực hiện những ca chưa từng có tiền lệ. Ông thiết kế dụng cụ mới, sáng tạo kỹ thuật mới, và thất bại hết lần này đến lần khác trước khi thành công. Cuối cùng, ông phát triển một phương pháp nối động mạch dưới đòn với động mạch phổi, tạo ra một con đường mới cho máu đến phổi. Đó là một bước đi táo bạo và đầy rủi ro.


Ngày 29 tháng 11 năm 1944, họ tiến hành phẫu thuật cho một bé gái mười lăm tháng tuổi tên là Eileen Saxon. Bé chỉ nặng chín pound và đang hấp hối. Trong suốt ca mổ kéo dài bốn tiếng rưỡi, Blalock cầm dụng cụ, còn Thomas đứng phía sau trên một chiếc ghế đứng, lặng lẽ chỉ dẫn từng thao tác. Mình đoán là thời đó có sự kỳ thị chủng tộc nên có lẻ người da đen không được đụng đến cơ thể người da trắng.


“Vào sâu hơn.”(“Deeper.”)

“Lệch sang trái một chút.”(“A little to the left.”)

“Dùng chỉ khâu nhỏ hơn ở chỗ đó.”(“Use smaller sutures there.”)


Khi ca phẫu thuật kết thúc, đôi môi xanh tái của Eileen chuyển sang hồng. Các đầu ngón tay cũng hồng trở lại. Oxy cuối cùng đã đến được cơ thể bé. Ca mổ đã thành công. Thủ thuật này được biết đến với tên gọi shunt Blalock–Taussig. Nó đã làm thay đổi y học, cứu sống hàng nghìn trẻ em và đặt nền móng cho ngành phẫu thuật tim nhi khoa. Bác sĩ Blalock trở nên nổi tiếng toàn cầu trong khi Vivien Thomas thì không.


Trong hai mươi hai năm, Thomas đào tạo các bác sĩ nội trú phẫu thuật tại Johns Hopkins,  nhiều người sau này trở thành những tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực phẫu thuật tim. Ông là người thầy, người hướng dẫn, và thường là người có tay nghề cao hơn họ. Thế nhưng, ông chưa bao giờ được gọi là “Bác sĩ,” không được liệt kê là giảng viên, và không xuất hiện tên trên các công trình khoa học. Ông ăn cùng nhân viên bảo trì, trong khi những người ông đào tạo thì thăng tiến về địa vị và danh tiếng.


Mãi đến năm 1971, sau hơn bốn thập kỷ cống hiến, Johns Hopkins mới phong cho ông chức danh Giảng viên Phẫu thuật, không phải Giáo sư, mà chỉ là Giảng viên. Đến lúc đó, những người hiểu rõ nhất đều đã biết sự thật.


Năm 1976, bệnh viện vinh danh ông bằng một bức chân dung đặt cạnh bác sĩ Blalock. Trong buổi lễ, các học trò cũ đứng lên vỗ tay. Một số người đã rơi nước mắt. Cũng trong năm đó, Thomas được trao bằng tiến sĩ danh dự. Ở tuổi sáu mươi sáu, cuối cùng ông được gọi là Bác sĩ Vivien Thomas — sau bốn mươi sáu năm làm công việc của một bác sĩ phẫu thuật.


Vivien Thomas qua đời năm 1985, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi. Năm 2004, câu chuyện cuộc đời ông được giới thiệu rộng rãi qua bộ phim của HBO Something the Lord Made. Ngày nay, di sản của ông vẫn sống mãi qua các chương trình học, học bổng mang tên ông, và một phương pháp phẫu thuật đã cứu sống con người hơn tám mươi năm qua. Ai buồn đời như mình muốn xem cuốn phim tích cực thay vì nghe dân chửi và ma gà chửi nhau. Miễn phí trên YouTube 

 https://youtu.be/VZfjxShZd6Q?si=59qmJeo_qyQPNRZO


Trong phần lớn sự nghiệp, Vivien Thomas bị trả lương và đối xử thấp hơn rất nhiều so với năng lực thật sự của mình. Ông đứng trên một chiếc ghế nhỏ để người khác đứng trong ánh hào quang. Ông tiếp tục làm việc. Ông tiếp tục giảng dạy. Ông tiếp tục cứu người.


Họ gọi ông là người lao công. (They called him a janitor.)

Lịch sử gọi ông là người anh hùng. (History calls him a hero.)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyện tình Romeo và Juliette Đà Lạt

 Romeo và Juliette Đà Lạt 


Đầu năm buồn đời vì ăn bánh tét chiên khá nhiều nên nhớ về thời học sinh, kể chuyện mấy người bạn học cũ khi xưa với những mối tình toả nắng. Nay gặp nhau chỉ biết cười nhăn hàm răng giả cho nhau xem nhưng có mấy mối tình học sinh, tiên đồng ngọc nữ cũng tạo ra nhiều đau thương cho gia đình. Cho thấy Đà Lạt tuy nhỏ bé nhưng người Đà Lạt yêu rất dữ dội, không thua gì mùa hè đỏ lửa.

Hôm kia tết bổng nhiên thấy một cuộc gọi nhỡ của một cô học Petit Yersin, sau qua Văn Học. Nhưng không thấy để lại tin nhắn nên mình không gọi lại. Lý do không quen lắm. Có lần mình gặp lại anh của cô ta thì có nhắc đến chuyện tình của cô ta và một anh chàng học chung lớp ở đường Hai Bà Trưng, khi xưa học Trần Hưng Đạo. Buồn đời anh chàng vác súng rouleau của ông bố, làm cảnh sát lên trường đòi bắn tên nào nên bị đuổi, chạy qua Văn Học. Tại đây lại phát hiện ra mối tình học trò với cô này. Có cái kết bi thảm, như cuộc tình đã được Shakespeare viết lên bi kịch Romeo và Juliette, tưởng Đà Lạt sẽ có thêm 1 đồi thông hai mộ nhưng may mắn là cô kia mất tích. 


Tại Văn Học mình có gặp Romeo khi ra về vì lớp học cạnh nhau, có vài lần đi chung về nhà, chào hỏi, nói chuyện vài lần, khi gặp nhau, học dưới mình một lớp. Khi xưa mình hay vào nhà anh ta với đám trong xóm dưới đường Hai BÀ Trưng, như con ông Duy, thằng Đôn con ông Tân gầy,… bắn bi, chỉ nhớ nhà có mấy cây tre lớn và con suối từ Mả Thánh chảy về. Một hôm, ra về thấy ông thần nhìn cô nàng cười rất là đắm đuối Juliette cũng trả lời bằng một nụ cười tươi như hoa hồng Đà Lạt. 


Đùng một cái, nghe trong trường xôn xao, kêu hai anh chị bỏ học chạy xuống Nha Trang chơi mấy ngày khiến gia đình đi kiếm mệt thở, kiểu đi phược ngày nay. Mình thấy ông thần quá giỏi, mình gặp gái là ngọng, cà lăm không ra được một chữ trong khi anh chàng lại dám dắt gái đi chơi ở Nha Trang. Ngày nay, nghĩ lại nhát gái thời đó cũng là cái may cho cuộc đời, chớ dạn đi tán gái tùm lum thì chắc không học hành. Mình nhớ có ông thần kia hay đi tập Nhu Đạo với mình ở Adran. Hắn đai xanh còn mình đai vàng rồi bổng nhiên một ngày đẹp trời không thấy hắn đi tập nữa mà lại ôm con trước cửa nhà.


Sau vụ này, các giáo sư của trường Võ Bị Quốc Gia không được giảng dạy tại trường Văn Học. Như thầy HÙng, dạy Quang Học vào lớp tuyên bố không cho dạy trường Văn Học thì cũng không dạy trường Việt Anh luôn. Mấy ông thầy khác của trường Võ BỊ Quốc Gia, giờ rảnh phải chạy qua trường Việt Anh dạy. Thế là thầy dạy trường Văn Học thiếu nên phải cầu cứu các giáo sư của trường Trần Hưng Đạo. Năm cuối ở trường Văn Học thì toàn là thầy từ trường Trần Hưng Đạo như thầy Tính, Đức, Hàn, Thắng, Hoàn,…


Đùng một cái lại thấy nhà anh chàng làm đám ma, nghe nói tự tử với súng rouleau khiến mình thất kinh. Cái chết vì gái là cái chết liêu xiêu. Nghe nói anh chàng thất tình vì bố mẹ cô nàng, và bố mẹ ông thần cấm không cho gặp nhau nên giận đời vì thấy mình quê, không còn tình yêu thì không có lý do để sống như Shakespeare từng tuyên bố. Mình phục anh chàng này, tuổi trẻ hơn mình mà đã giác ngộ cách mạng, hy sinh cho tình yêu này nọ. Lập nên chuyện tình Romeo và Juliette của Đà Lạt một thời. Vụ này phải hỏi ông hàng xóm, Thụ Nhân ở 49C Hai Bà Trưng trước nhà hắn, nay làm ca sĩ nghiệp dư ở Gia-nã-đại. Khúc đường Hai Bà Trưng này, dạo ấy có hai cái chết chới với cho cả xóm: anh Thống, thủ khoa trường Võ Bị Quốc Gia ra trận đầu tiên tử trận và tên Romeo này.


Sau này, nói chuyện với Huỳnh Kim Sang mới biết là em gái hắn và cô này thân nhau ngày xưa, học chung lớp nên mình cho số điện thoại. Hai bà này sau 50 năm gặp nhau lại mừng như gặp lại mối tình đầu. Vì vậy thiên hạ hay réo tên mình nhờ mình mà họ gặp lại bạn cũ khi xưa. Hay xin điện thoại.


Một hôm, mình nhận được cuộc gọi của Juliette, người yêu cũ của tên hàng xóm đã anh dũng hy sinh vì mối tình hữu nghị đồi thông một mộ. Cô nàng nói chuyện kể về tình sử của hai người khiến mình thất kinh. Cô nàng nói mỗi lần mình đến nhà hắn là cô nàng trốn vì sợ mình biết về mách lại bố mẹ cô nàng, dám đến nhà Romeo. Vấn đề là mình chỉ đến nhà tên này hồi còn học tiểu học, lớn lên thì không bắn bi nữa nên chỉ gặp nhau ngoài đường, chào hỏi vớ vẩn. Mình được cái là ít khi chận họng thiên hạ dù biết họ sai hay lầm người, nhất là từ khi được đồng chí gái cải tạo. Lý do là mình bị ngu lâu dốt bền nên có nói thiên hạ cũng không nghe. Cô nàng chắc nhớ đến tên nào tên Sơn, học chung lớp với tên Romeo này nhưng mình cứ câm họng để nghe cô nàng nói suốt 3 tiếng đồng hồ, giải bầu tâm sự sau 50 năm. Kinh


Sau đó đồng chí gái kêu đi ăn cơm nên mình phải xin lỗi, cô nàng xin phép lâu lâu được gọi điện thoại nói chuyện. Mình nhất trí nhưng chả bao giờ thấy cô ta gọi lại, ngoại trừ tuần trước, biết đâu là giỗ ông thần Romeo Đà Lạt hay muốn tìm cô bạn nào khác nên cô nàng gọi mình. Mối tình đầu khó quên nhất là tên bồ, nhân danh tình yêu, thà chết không để bố mẹ cấm cản yêu đương. Cô nàng cho biết sau vụ đi phược, được xem là cặp đi phược đầu tiên, được nghe danh ở Đà Lạt. Bố mẹ cô nàng cạo đầu, rồi đưa ra Quy Nhơn sống với bà cô hay dì chi đó. Do đó không liên lạc cũng như biết Romeo đã tưởng Juliette qua đời nên đã dùng rouleau tự ru mình giấc ngủ thiên thu. Sau này di tản ra hải ngoại mới nghe đến vụ hy sinh đời Romeo củng cố đời Juliette nên cô nàng rất bị lộn xộn về tâm cảm. Lâu lắm mới nguôi, lấy ông mỹ già nào. Nên khi nghe ông anh nói về mình thì cô nàng gọi điện thoại để trút bầu tâm sự lên mình, dù chả dính dáng gì đến mình. Ông thần nào tên Sơn, bạn của Romeo Đà Lạt thì liên lạc với mình ngay. Để mình cho điện thoại mà đính chính dùm.


Cô nàng kể là sang mỹ cũng Chán Mớ Đời nhất là khi nghe bạn học xưa kể vụ người tình Romeo, nên về già mới lấy một ông mỹ già ở San Francisco. Hôm mình ghé San Francisco thì anh của Juliette gọi điện thoại thì cô nàng đi chơi xa nên không có dịp gặp lại. Mình nhớ cô này khi xưa học Yersin dưới mình một lớp.


Một hôm mình đi ăn tiệc nhà ai đó không nhớ thì có một bà đến chào mình. Rồi tự xưng là người yêu xưa của ông anh của cô nàng Juliette. Kinh. Mình kêu rất hân hạnh thì mới giác ngộ cách mạng là ông anh của Juliette là thuộc dòng Minh Mạng nên có máu dê rất cao. Chắc nhờ uống thuốc của vua Minh Mạng hay máu của vị vua này chảy trong huyết quản nên rất yêu phụ nữ. Không nhớ hắn cùng tuổi hay hơn tuổi mình. Mình nhớ khi xưa có học chung ở Yersin sau đó hắn sang trường việt, dạo còn tiểu học. Bố hắn là họ hàng chi với vua Bảo Đại, hồi nhỏ chơi với nhau đến khi ông Bảo Đại đi tây. Quân thần về phe Bảo Đại đông hơn nhóm về phe bố hắn nên bầu Bảo Đại làm thái tử của Khải Định. Bố hắn thuộc hàng Ưng trong khi ông Bảo Đại là Vĩnh, dưới mấy lớp. Ông vua này thì không có con, nghe nói thích các công công hơn.


Hôm trước, có đi ăn phở với một ông thần khi xưa học Lasan Adran, nghe nói ông thần nay là được bầu làm họ trưởng nhưng ông thần thuộc vần Bảo. Thua ông thần anh của Juliette vì hắn hàng Bửu, bố hắn là hàng “Ưng”. Sang Hoa Kỳ, mấy người họ vua nhà NGuyễn thì hơi lộn xộn. Có ông thần quen họ Bảo, con gái lại Công Huyền Tôn Nữ nên giấy tờ đi học khá phức tạp. Xem bài thơ của ông vua có con nhiều triều Nguyễn. Đọc từ phải xuống qua trái.


Ngồi nói chuyện với người yêu cũ của anh của Juliette thì thất kinh. Mình biết khi học trung học, hắn dê cô nào bị dính cái bầu mà bố cô bồ là con bộ trưởng bộ sắc tộc chi đó nên làm đám cưới. Có cô bạn kể là hồi đó đi học, cô con gái bộ trưởng phải bận áo mưa để che cái trống chầu. Này như vụ này, xảy ra khi mình đi tây rồi. Rồi 75 di tản chạy qua mỹ. Anh chàng có mấy con với con gái sắc tộc, gốc người Tày vì cháu thầy An. Gặp thầy có kể vụ này, thằng cháu rể gốc Minh Mạng. Đùng một cái, đi dự tiệc, có một cô tự xưng là bồ nhí, kêu lại có con riêng với anh chàng này. Lại sinh con trai vì bà vợ Tày chỉ đẻ con gái cho hợp với chế độ Mẫu Hệ. Anh chàng không nhìn đứa con nên hai mẹ con dọn xuống nam Cali, lập gia đình với một bác sĩ ở Bolsa. Cô ta nhờ mình nói lại với ông bồ cũ là nên nhận đứa con. Về hưu hai cha con ở với nhau tại Mobilehome park nào đó. Để nối lại tình phụ tử một lần dang dỡ.


Mình khi không dính vào chuyện gỡ rối tơ lòng của thiên hạ của những người mình chỉ biết sơ sơ, chớ không quen khi xưa ở Đà Lạt nên chới với. Mình nói sẽ nói lại với ông bồ mà mình mới gặp lại một hai lần. Ông bồ xuống thăm con gái đi làm hay học dưới này nên hú mình đi uống cà phê. Mình nói có người tự xưng như vậy kể mình chuyện này. Anh chàng kêu “ah đứa con tội lỗi” rồi lơ qua chuyện khác. Anh ta kể đang mê một cô nào trẻ, làm thiện nguyện bú xua la mua. Mình hỏi bà vợ người Tày, anh chàng kêu Chán Mớ Đời. Thôi thì mình không nên xía vào chuyện tình Lan và Điệp. Lâu nay cũng không liên lạc với ông thần. Lần trước ông thần kêu bị ung thư nhưng đã chữa lành.


Đó là mối tình yêu cuồng sống vội của học sinh Đà Lạt mà mình biết nhưng ra hải ngoại bổng nhiên lại dính vô chuyện lộn xộn của họ. Chuyện gia đạo của mỗi người một hướng, không nên xen vô. Ngoài ra có vụ ông lính tự tử ở cột điện đường Hai Bà Trưng ở khu cư xá Công Chánh khiến mình bị ám ảnh từ bé đến khi đi tây. Dạo ấy mình học Petit Lycee, một buổi sáng nghe cái ầm dưới đường Hai BÀ Trưng rồi lúc đi học thì khám phá ra thiên hạ bu xung quanh một ông lính bị bay mất nữa cái đầu. Nằm chết giữa đường dưới cột điện, nơi mà mình mỗi ngày phải đi ngang qua khi đi học. Cứ sợ sợ. Nghe kể ông lính này mê cô nào ở trong xóm mình rồi cô ta không chịu, nói chỉ thích uý trở lên nên buồn đời anh ta đến gần nhà đối tượng cho nổ trái lựu đạn banh cái đầu. Kinh


Từ đó mình tự hứa lớn lên không thích cô hàng xóm nào cả, sợ bị cái huông ông lính đa tình này. Thôi em phải lên vườn, hôm nào rảnh kể tiếp.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn