Ted Ngoy, ông hoàng donuts

 Ted Ngoy, ông hoàng donuts 

Khi mình sang Cali lấy vợ và đất lành chim đậu. Mỗi sáng đi làm thì thấy các tiệm bán Donuts, thiên hạ xếp hàng mua bánh donuts và ly cà phê. Donuts một loại bánh khá ngọt được chiên rồi nhúng vào đường hay chocolate thêm rắt đủ thứ trò. Vào các nơi bán đồ xây dựng thì họ cho uống cà phê và ăn DOnuts miễn phí. Mình hay lấy cà phê và donuts cho thợ khiến họ tưởng mìn tử tế mua cho họ. Mình thấy đa số các tiệm bán donuts là do người tỵ nạn Cam Bốt làm chủ như người Nam Hàn chuyên về các tiệm giặt áo quần, còn tiệm xăng thì đa số người Ba tư. Như người Việt thì chiếm thị trường tiệm nail đến 90%. Có lần mình hỏi một tên quen ở long Beach thì hắn kêu không dạy nghề cho người Việt. Chán Mớ Đời 

Nom Kong một loại bánh cam của người Cam Bốt tương tự như Donuts của người Mỹ 


Hồi covid, buồn đời mình trả tiền cho Netflix nên xem rất nhiều phim tài liệu về sự thành công và thất bại của người á đông đến Hoa Kỳ. Có một câu chuyện về sự hình thành các tiệm bán Donuts mà 80% là do người Cam Bốt làm chủ.


Ở Campuchia có ông hoàng Sihanouk, ở Cali có ông Ted Ngoy, thường được người Cam Bốt gọi là ông Hoàng Donuts. Ông Ted Ngoy là một nhân vật có cuộc đời ly kỳ, được mệnh danh là **"Vua Bánh Cam" (The Donut King)** tại Mỹ. Câu chuyện của ông không chỉ là về kinh doanh mà còn là biểu tượng của sự vươn lên và di sản của cộng đồng người Campuchia tại California. Những người tỵ nạn cộng sản trốn chạy những cuộc diệt chủng của Khờ Me Đỏ, làm lại tất cả từ đầu.


Như đã nói ông Ted Ngoy có một đời mà người Việt mình gọi là Lên Voi Xuống Chó. Ông ta từng là thiếu tá dưới chính quyền Lon Nol nên khi Khờ Me đỏ sắp vào thì ông ta cùng vợ con chuồn, và được Hoa Kỳ bảo lãnh đến Cali. Khi đến định cư tại miền Nam Cali thì họ không có một đồng xu dính túi như đa số dân tỵ nạn, sống sót là may mắn rồi.


Đúng như mình dự đoán, ông ta gốc Quảng Đông, cha mẹ đều người Tàu. Sinh năm 1944 và năm 1967 ông ta lên Nam Vang để học và gặp một cô gái, con của một công chức lớn. Ông ta làm đủ thứ nghề rồi năm 1970, Lon Nol lật đỗ ông hoàng Sihanouk, thì ông ta vào quân đội. Nhờ anh vợ, Sau Sutsakhan, giám đốc cảnh sát Campuchia, sau này có làm tổng thống ngăn ngủi của Campuchia. Ông ta được thăng thiếu tá và gửi đi qua Thái Lan làm tuỳ viên quân sự. Năm 1975 thì ông ta cùng bà vợ và hai đứa con di tản đến trại Pendleton.


Ông ta đi làm 2 job, ban ngày làm chùi nhà dọn rác cho một nhà thờ, tối làm nhân viên trạm xăng vào ban đêm, mùi hương từ một cửa hàng bánh donut gần đó đã thu hút ông, khiến ông ta đói bụng. Nó gợi nhớ đến món “nom kong”, một loại bánh bột gạo của Campuchia. Tương tự như bánh cam rắt mè. Buồn đời ông ta hỏi thêm về cách làm bánh này nọ. Và ghi danh đi học, xem như ông ta là người Đông Nam Á đầu tiên được nhận vào chương trình đào tạo quản lý của Winchell’s Donuts. Đến năm 1977, ông tiết kiệm đủ tiền để mua cửa hàng đầu tiên mang tên “Christy’s Doughnuts” tại La Habra. Tiệm này chủ trước bán buôn ế như Bolsa nhưng khi đến tay ông ta thì khách hàng vào nhử điên.


10 năm sau, ông ta sở hữu đến 32 tiệm donuts mang tên Christie. Được cái là cả gia đình sống trong một cái RV, để tiện chạy lên chạy xuống Bắc Cali để thiết lập thêm tiệm mới. Năm 1985, gia đình ông ta nhập quốc tịch mỹ và mua một căn nhà to đùng trên triệu bạc thời đó ở Mission Viejo 


Mình đoán ông này gốc tàu nên muốn tiết kiệm chi phí, ông Ngoy đã hỏi nhà cung cấp về loại hộp rẻ hơn hộp trắng tiêu chuẩn. Nhà cung cấp đề nghị loại bìa màu hồng còn dư với giá rẻ hơn vài xu. Ông Ngoy đồng ý, và từ đó “chiếc hộp màu hồng” (pink Box) đã trở thành biểu tượng toàn cầu cho các cửa hàng bánh donut thủ công tại California.


Thế là tiền bắt đầu vào như nước. Vợ con làm chết bỏ từ 3-4 giờ sáng. Ông

Ngoy không chỉ làm giàu cho bản thân; ông còn tạo ra con đường sống cho những người đồng hương. Ông đã bảo lãnh hàng trăm và thị thực cho người Campuchia, đào tạo họ tại các cửa hàng của mình và giúp họ thuê lại các địa điểm kinh doanh. Đây là lý do tại sao khoảng 80% các cửa hàng bánh donut độc lập tại Nam California vẫn do người gốc Campuchia làm chủ cho đến ngày nay. Mình nghĩ đây là tinh thần của người Tàu, lập hội bang rồi giúp người trong họ tộc hay bang.


Ngày nay ở Nam Cali, 80% các tiệm Donuts thuộc sở hữu cua người Cao Miên. Công ty DunKin Donuts chơi không lại vì giá thành đắt hơn trong khi các tiệm của người Cao Miên là do người trong gia đình làm hết nên rẻ. Bỏ công làm lời. Mấy công ty như Krispy Creme còn bị phá sản.


Bạo phát bạo tàn. Không nhớ ông ta mở bao nhiêu tiệm hình như 64 tiệm. Ông ta trở thành ông hoàng Donuts, tiền vô bạc triệu nhất là bán bằng tiền mặt. Mình xem phỏng vấn ông ta, ông ta kể là mất trắng hết, tiền bạc, tiệm donuts vì mê đánh bài. Ông ta tự nhủ làm việc mệt từ ngày qua mỹ đến giờ, sao không lên Lás Vegas thư giãn xem Elvis Presley trình diễn và rốt cuộc ông ta mất hết. Thấy mấy cô bận đồ hở ngực đem rượu đến uống vô tư nên đánh như Pol Pot giết người.


Ở đỉnh cao thành công vào những năm 1980 và 1990, ông Ngoy sở hữu khối tài sản hàng triệu đô la. Tuy nhiên, chứng nghiện cờ bạc nặng nề đã khiến ông mất trắng gia sản, các cửa hàng và cả cuộc hôn nhân của mình. Sau đó ông bà Ngoy về Cam Bốt để  tham dự chính trị nhưng không thành. Được cáo là thủ tướng Hun Sen mời ông ta làm cố vấn kinh tế.


Buồn đời bà vợ về lại Cali thì ở Cao Miên, ông ta có bồ nhí. Hết tiền thì bà vợ kêu tôi thức đêm để chiên donuts mà ông đem nướng hết ở sòng bài, rồi chơi em chân dài thì thôi sugar you you go, sugar me me go.


Hiện nay, ông Ted Ngoy đang sống tại Campuchia, làm nghề bắt mai mối bất động sản. Dạo mình đi Campuchia với mẹ mình và đồng chí gái, có anh kia người Việt gốc Miên, kêu mình đầu tư mua đất. Dạo ấy anh ta kể là tài sản có trên 2 triệu, mà hai thằng con không chịu về tiếp nối bước chân của anh ta. Đi vòng xứ này thì thấy người Tàu họ chiếm hết nên chả muốn ăn mắm bò hóc vì sợ hóc xương. 


Dù đế chế tài chính không còn, di sản của ông vẫn hiện hữu mỗi khi ai đó mua một hộp bánh donut màu hồng tại các cửa hàng gia đình trên khắp nước Mỹ. Hồi chưa có google map thì khi đến thành phố lạ, thèm cơm Việt Nam thì mình tìm các tiệm Nail để hỏi tiệm ăn Việt Nam, còn thèm mắm bò hóc thì chạy vào các tiệm bán Donuts. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Rockefeller và y học hiện đại

 Rockefeller và y học hiện đại 

Hoa Kỳ bắt cóc ông Maduro và dầu từ Venezuela được chở qua Hoa Kỳ để lọc. Thiên hạ nói dầu của xứ này nặng nề này nọ nhưng họ quên một vấn đề chính. 


Năm 1900, ông John D. Rockefeller kiểm soát khoảng 90% toàn bộ ngành lọc dầu tại Hoa Kỳ. Ông là người được cho là cá nhân tư nhân giàu nhất từng sống trên Trái Đất theo một số tính toán.


Ông gặp phải một vấn đề. Làm gì với những xác dầu sau khi lọc. Các nhà khoa học đang phát hiện ra rằng các hợp chất chiết xuất từ hắc ín than đá, một sản phẩm phụ của ngành dầu mỏ có thể được dùng làm thuốc tổng hợp. Aspirin, được chiết xuất từ hắc ín than đá, đã được Bayer ra mắt năm 1899. Dòng chất thải từ dầu mỏ mà Rockefeller trước đây phải tiêu hủy giờ có thể được bán lại cho công chúng dưới dạng thuốc với mức lợi nhuận khoảng 10.000%. Chưa kể dầu ăn mà mình đã kể. Người ta kêu lý do đó mà người Mỹ bị ung thư và to béo như ngày nay.


Ông lại gặp thêm một vấn đề khác. Y học Mỹ năm 1900 là một hệ sinh thái cạnh tranh gồm các thầy thuốc vi lượng đồng căn, thảo dược, naturopath, osteopath, hộ sinh và các bác sĩ truyền thống sử dụng thực phẩm, cây cỏ, nước và lối sống làm công cụ chữa bệnh chính. Khoảng một nửa số trường y ở Mỹ dạy một hình thức y học tự nhiên hoặc thay thế nào đó.


Rockefeller đầu tư vào ngành dược phẩm Đức, cuối cùng nắm cổ phần đáng kể trong IG Farben, tập đoàn khổng lồ bao gồm Bayer, BASF và Hoechst. Sau đó ông ủy thác một báo cáo.



Báo cáo được Abraham Flexner, một nhà giáo dục không có được đào tạo y khoa soạn thảo, do Quỹ Rockefeller và Carnegie tài trợ, và được công bố năm 1910. Báo cáo tuyên bố rằng các trường y tự nhiên và thay thế là “lang băm thiếu khoa học”. Và đề xuất đóng cửa hơn một nửa số trường y Mỹ và chuẩn hóa phần còn lại xung quanh y học dựa trên thuốc tổng hợp có bằng sáng chế.


Quốc hội hành động. Một nửa số trường y Mỹ đóng cửa trong vòng một thập kỷ. Các trường còn lại chấp nhận tài trợ từ Rockefeller và Carnegie với điều kiện phải tổ chức lại chương trình giảng dạy xung quanh điều trị bằng dược phẩm. Dinh dưỡng bị loại bỏ. Thuốc từ thảo dược bị loại bỏ. Can thiệp lối sống bị loại bỏ. Công việc của bác sĩ được định nghĩa lại: chẩn đoán triệu chứng, kê đơn thuốc.


Những loại thuốc đó được chiết xuất từ dầu mỏ. Dầu mỏ được cung cấp bởi các nhà máy lọc dầu do Rockefeller kiểm soát. Các trường y được Rockefeller tài trợ. Các tạp chí y khoa được Rockefeller tài trợ. AMA được Rockefeller hỗ trợ. Các bệnh viện được Rockefeller tài trợ.


Đến năm 1925, hệ thống y tế Mỹ đã trở thành một phần mở rộng tích hợp dọc của ngành công nghiệp dầu mỏ, hoạt động dưới khẩu hiệu marketing rằng đây là y học “khoa học”. Đây chính là hệ thống vẫn tồn tại cho đến ngày nay.


Ngành công nghiệp dược phẩm tạo ra khoảng 1,5 nghìn tỷ USD doanh thu mỗi năm. Dân số Mỹ, chiếm 4% dân số thế giới, tiêu thụ khoảng 50% tổng số dược phẩm được sản xuất trên toàn cầu.


Hệ thống này không được thiết kế để làm cho con người khỏe mạnh. Hệ thống được thiết kế để quản lý triệu chứng theo cách tạo ra những khách hàng trọn đời. Một bệnh nhân khỏe mạnh là một khách hàng cũ. Một bệnh nhân được “quản lý”, người phải uống thuốc mỗi ngày suốt phần đời còn lại, chính là một khoản đầu tư sinh lời đều đặn.


Mục tiêu từ đầu đến cuối là giữ bệnh nhân nằm trong hành lang sinh lời đó giữa khỏe mạnh và chết. Lâu đủ để bạn tiếp tục mua thuốc. Nhưng không khỏe đến mức bạn ngừng mua.


Bác sĩ khuyên bệnh nhân nên chữa lành chuyển hóa bằng cách thay đổi chế độ ăn uống, theo quan điểm của hệ thống đã đào tạo ông ta, là một sản phẩm lỗi. Bác sĩ kê cho bệnh nhân statin, metformin, thuốc chống trầm cảm và thuốc huyết áp dùng suốt đời mới là người đang thực hiện đúng như hệ thống thiết kế.


Hệ thống được thiết kế bởi một ông trùm dầu mỏ cần bán các sản phẩm thải của nhà máy lọc dầu mình. 116 năm sau Báo cáo Flexner, nó vẫn hoạt động chính xác như cách ông ta đã thiết kế. Bệnh nhân là khách hàng. Bài học đầu tiên của trường y là “chữa lành một bệnh nhân là chúng ta mất một khách hàng”.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

51 năm nhìn lại Little Sàigòn

 51 năm từ Sàigòn đến Bolsa 

Nếu nhìn lại 51 năm qua, sự ra đi của người Việt tỵ nạn trong lúc hối hả trước ngày 30/4/75 thì phải công nhận như một phép lạ, cộng đồng người Việt đã thành lập lại một Tiểu Sàigòn, được xem là thủ đô của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Phước Lộc Thọ


Ngày hải hùng đó đã khiến chúng ta mất quê hương, chúng ta có thể xây dựng lại một quê hương ở nơi khác. Có nhiều người ra đi trong lúc vội vã không biết gia đình còn sống hay chết. Ngày nay theo thống kê có đến 189,000 người Mỹ gốc việt sinh sống tại quận Cam (Orange COunty). Cộng đồng người Mỹ gốc việt lớn nhất tại Hoa Kỳ. 40% người Việt sinh sống tại thành phố Westminster, 31% ở thành phố Garden Grove.


Có thể nói không có truyền thông như tờ báo đầu tiên Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập với luật sư Đạt Phan, con ông Phan Huy Quát. Thì có lẻ Little Sàigòn không đông như ngày nay vì các lớp người Việt tỵ nạn tiếp tục sang Hoa Kỳ và đọc báo và dọn về vùng này ở.


Năm 1979, chỉ có 30 business ở phố Bolsa, đến năm 1981 thì có 300 business ở đây rồi đến năm 1984 lên đến 600. Ngày nay, có trên 4,000 business ở trong phạm vi 3 dặm vuông. Người ta tính có trên 280 tiệm ăn, 42 tờ báo việt ngữ, 5 đài phát thanh, 2 đài truyền hình phát các chương trình khắp nơi trên thế giới.


Ở trung tâm Tiểu Sàigòn có Phước Lộc Thọ khiến ai đến đây lần đầu cảm thấy như vào một chỗ nào huyền thoại. Năm 1986, một người sở hữu 1/3 địa ốc ơ Bolsa muốn đặt tên là Asian Town nhưng cộng đồng không chịu và tranh chấp suốt 2 năm liền và đã thắng, khu vực này được đề bảng Little Sàigòn trên xa lộ để xe quẹo vào. Con đường Bolsa được đấu tranh để bảo vệ bản sắc của người Việt tỵ nạn và nhưng người Việt tỵ nạn đã xây dựng trung tâm cộng đồng người Việt lớn nhất tại hải ngoại. Mình nghe nói là Đài Loan bỏ tiền xây rất nhiều khu phố Bolsa. Sau này có người Việt tư bản đỏ sang đầu tư nữa.


Mọi sự khởi đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trực thăng di tản các người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, và cuộc chiến chấm dứt với triệu người vui và hàng triệu người buồn. 130,000 người Việt được người Mỹ di tản khỏi Việt Nam, được xem là cuộc di tản cấp tốc rộng lớn nhất ở thế kỷ 20 trong thời gian rất ngắn. Nghe CIA giải thích là nhờ báo cáo của điệp viên X92, Võ Văn Ba báo trước nên Hoa Kỳ mới có thời gian chuẩn bị cuộc di tản các thành phần có dính dang đến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


người Mỹ không muốn như trường hợp của người tỵ nạn Cuba là dồn về một nơi ở tiểu bang Florida, họ rãi người Việt khắp nơi trên nước Mỹ như 10,000 người ở tiểu bang Florida, 22,000 ở Pennylvania, 51,000 ở Arkansas và 50,000 ở trại thuỷ quân lục chiến Pendleton, tiểu bang California. Hơn 1/3 ở nam Cali.


Vấn đề là người Việt di tản ở trong các trại tiếp cư và đợi ai đó ở ngoài bảo lãnh họ, đúng hơn người Mỹ vì dạo đó rất ít người Việt ở Hoa Kỳ. Đa số là sinh viên du học. Các giáo phận công giáo tham gia, và các nhà thờ tin lành. Họ đưa người Việt đến các thành phố như Westminster, Garden Grove, Santa Ana,…nhưng khu vực không sang trọng, đúng hơn là nghèo. Lý do là tiền thuê nhà rẻ.


Rồi làn sóng tỵ nạn thứ 2 đến, từng năm 1979-1985, các thuyền nhân đến đảo ở đông Nam Á, được phỏng vấn đi mỹ. 800,000 người Việt tỵ nạn đến định cư tại Hoa Kỳ. Nghe cao uỷ tỵ nạn cho rằng 50% người vượt biển nằm lại trong lòng đại dương. 1000 người mỗi tháng tại Quận Cam.


Rồi làn sóng thứ 3 đến qua chương trình Orderly Departure Program (ODP), đoàn tụ gia đình.


Làn sóng thứ 4 cuối thập niên 1980 đến 1990, các tù nhân chính trị, cải tạo được Hoa Kỳ thâu nhận. Các làn sóng nhập cư người Việt đều đọc báo người Việt và các báo khác ở Bolsa, giúp họ dọn về định cư tại Quận Cam.


Mấy năm gần đây thì thấy có nhiều người Việt di dân qua đầu tư theo EB-5 hay các chương trình khác. Chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện con cháu của những người từng tuyên bố đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Mình có gặp vài người khi họ hỏi mua cái vườn của mình. Có đám chuyên gia giúp họ đầu tư qua Hoa Kỳ để hạ cánh an toàn. Nghe họ kể nằm bắt võng ở đầu Trường Sơn, tự xưng là di dân chớ không hoi ải tỵ nạn.


Khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Bolsa thì khu vực này đang chết. Mình nhớ khi mình đến Cali lần đầu tiên thấy nhiều vườn trồng dâu của người Nhật. Các dãy phố lụp xụp Chán Mớ Đời nhưng được cái là đất ở đây rẻ. Không như ngày nay.


Người mở tiệm bán tạp phô Việt Nam đầu tiên là ông Danh Quách nhưng ít khách lắm. Ông ta kể là 3 năm trời ít khách nhưng ổng a vẫn tiếp tục. Theo ông ta thì có lần thị trưởng thành phố và cảnh sát trưởng ghé tiệm ông và nói là cảm thấy không yên lòng về sự có mặt của tiệm ông ta. Người dân địa phương da trắng cảm thấy khó xử. Mình nhớ khi mới dọn về Westminster thì xung quanh là người Mỹ trắng rồi dần dần họ bán nhà bỏ chạy và người Việt dọn đến. Nay chỉ thấy gốc mít xung quanh.


Ông Quách không muốn bỏ đi và có dược sĩ Danh Quách dọn đến mở tiệm thuốc tây năm 1978, rồi tiệm Hoà bÌnh rồi Tân Mai. Rồi năm 1979 có được 30 business của người Việt. Đúng lúc có làn sóng người Việt thuyền nhân định cư tại đây khiến thương mại phát triển, khách đến mua đông như quân nguyên, nói tiếng Việt như người Việt.


Năm 1981, 300 business, 1984, 600 business rồi ông Triệu Phát đến Hoa Kỳ năm 1975, buồn đời mua đất rồi xây Phước lộc Thọ. Năm 1987, cảnh sát Westminster ước lượng mỗi cuối tuần có 20,000 đến 60,000 người đến mua sắm ăn phở ở Bolsa. Cứ ra khỏi xa lộ quẹo vào đường Brookhurst là kẹt xe, người Việt lại lái xe kiểu biết bố mày la ai, bóp kèn in ỏi.


Ở bolsa người Việt đã xây dựng lại truyền thống Tết, như diễn hành, rồi chợ Tết nơi hội tụ người Việt tỵ nạn từ xa về về đây mấy ngày tết để ăn tết với bạn bè và gia đình. Rồi đình chùa mọc lên như nấm. Giúp các con cháu chưa bao giờ biết Việt Nam có thể hoà mình vào không khí tết được tạo dựng lại bưởi cha mẹ ông bà. Với hội chợ tết này nọ hay chợ đêm khi hè đến, giúp người Việt tha hương có thể tìm lại chút gì để nhớ. Mình thấy đắt tiền nên chả bao giờ bò ra thêm kẹt xe.


Tiểu Sàigòn trở thành trung tâm văn hoá của người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Các cuốn sách bị cấm tại Việt Nam được sản xuất nhiều như bánh mì baguette mỗi ngày. Các băng nhạc video được thâu dựng rồi bán qua âu châu và Úc Châu.


người Việt bỏ nước ra đi chỉ còn lại ký ức quê hương và đã tạo dựng lại quê hương trên đất nước đã cưu mang họ. Nhưng họ không quên lý do tại sao phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Có một ngày mà hàng năm cộng đồng người Việt đều tụ tập lại để tưởng niệm nhưng người dã hy sinh trong cuộc chiến cho tự do và những người đã bỏ mình trên đường vượt biển. Họ đã mua đất để xây đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Vietnam warmemorial).


Xét ra thế hệ đầu tiên xây dựng để sống còn còn thế hệ thứ 2 thì xây dựng quyền lực. Năm 1992, ông Tony lâm đắc cử nghị viên của thành phố, người Việt đầu tiên đắc cử. Vào thập niên 1990 cử tri người Việt khá đông nên các đảng không thể làm lơ như xưa. Nhưng cộng đồng người Việt như cộng đồng cuba rất chống cộng. Khi ông John MacCain ra tranh cử tổn thống, có đến kiếm phiếu cũng như Bush cha. 


Theo thống kê thì 53% cử tri ở Tiểu Sàigòn bầu cho ông Trump. Lý do ông ta chống Trung Cộng. Mà người Việt tỵ nạn lại ghét tàu. Họ bảo thủ vì ký ức, những năm tháng dài bị Việt Cộng bỏ tù. Họ bỏ phiếu theo địa chính hơn là các chương trình phúc lợi địa phương.


Nhưng ngày nay, sau khi bám rể vào đời sống Hoa Kỳ, thì có sự rạn nứt trong giới cử tri. Theo thống kê thì cử tri gốc việt dưới 49 tuổi, 65% ghi danh là cử tri của đảng dân Chủ. Lý do là thế hệ thứ hai không trốn thoát khỏi Việt Nam. Họ không bị ở tù cải tạo, tiểu Sàigòn không phải là nơi định cư tạm của họ như thế hệ trước.


Thế hệ con cháu dọn đi các thành phố khác như Irvine, Costa Mesa, Laguna. Thế hệ này là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. Họ đã vào dòng chính của Hoa Kỳ.


Đó là bề ngoại bề nổi, mặt bằng của Tiểu Sàigòn, chúng ta thấy tiệm ăn mọc như nấm nhưng nếu nhìn kỹ thì trong khu Tiểu Sàigòn có đến 5  khu mobile homes mà đa số người Việt ở, với tiền thuê đất đắt như vàng. Các người lớn tuổi sinh sống ở đây cho tiện đường mua sắm, nơi mà họ đã cùng nhau tạo dựng. Các người cao tuổi sống nhờ tiền an sinh xã hội. 


Little Sàigòn có hai loại kinh tế. Một kinh tế khiến thiên hạ đến mua sắm và một cố gắng sống chật vật phía sau mặt bằng hoành tráng của Tiểu Sàigòn. 


50 năm nhìn lại, cộng đồng người Việt đã thành công xây dựng qua bao nhiêu làn sóng đến Hoa Kỳ. Chúng ta bỏ lại sau lưng quê hương để xây dựng lại một quê hương thứ hai trên đất mỹ. Nhưng tương lai thế hệ con cháu có thể sẽ không màn đến vì Irvine có tiệm ăn Tàu, việt. Ngày thành phố mình bây giờ bắt đầu có tiệm ăn tàu, Việt Nam, đại hàn mọc lên như nấm. Có lẻ sẽ ít xuống Bolsa nhất là xăng trên $6. Nhưng phải kể là các lớp người Việt đi trước đã bỏ công gầy dựng một trung tâm để chúng ta quay về như viếng lại ký ức của quê hương bỏ lại.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

người Tình Cindy

 Mordechai Vanunu và người Tình Cindy


Nhớ dạo mình làm việc ở Luân Đôn, có lần thiên hạ bàn tán về một ông người do thái bán tin tức cho một tờ báo Times, nói là do Thái có vũ khí nguyên tử rồi sau đó ông ta biệt tăm. Nay mình lò dò vào đọc tin tức của Do Thái thì khám phá ra ông ta bị bắt và dẫn độ về độ Thái và bị lên án 18 năm. Hình như mình có xem một phim tài liệu nói về ông này cũng như cặp điệp viên pháp, giả làm vợ chồng qua xứ  Tân Tây Lang đặt mìn tàu của hội Greenpeace nhưng không thành và bị bắt. Năm ngoái đến xứ Tân Tây Lan mình có bò lại bến tàu nơi cặp tây đầm điệp viên tây bị bắt.


Mordechai Vanunu sinh năm 1954 tại Marrakech, Morocco, trong một gia đình Do Thái có 11 người con. Năm 1963, gia đình ông di dân đến Israel và định cư tại Beersheba, miền nam đất nước. Thời đó ở Algeria xứ bên cạnh đuổi cổ dân Tây dân gốc do thái ra khỏi nước họ nên có lẻ vì vậy mà gia đình ông này và các người Do Thái dọn về Do Thái cho lành. Mình nghe nói là ở maroc trước kia các người đạo hồi, công giáo và do thái sống yên vui với nhau dưới thời tây cai trị nhưng khi mấy xứ này bắt đầu dành độc lập thì không còn anh em với nhau nữa. Đánh nhau chí choé. 


Giống như mọi công dân Israel, ông hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Sau đó, ông học triết học và địa lý tại Ben-Gurion University. Chính tại đây, ông bắt đầu đặt ra những câu hỏi lớn về chính phủ, công lý và đạo đức.


Năm 1976, ông làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Negev, gần Dimona, một cơ sở lớn giữa sa mạc. Israel luôn tuyên bố đây là cơ sở nghiên cứu hòa bình và chưa bao giờ chính thức xác nhận hay phủ nhận việc sở hữu vũ khí hạt nhân.


Trong 9 năm làm kỹ thuật viên hạt nhân, ông Vanunu vận hành hệ thống xử lý plutonium nằm sâu dưới lòng đất, sau nhiều lớp cửa an ninh. Ông tận mắt chứng kiến: Israel đang sản xuất vũ khí hạt nhân. Không phải vài quả mà có thể hàng chục, thậm chí hàng trăm. Hoàn toàn bí mật với thế giới, kể cả Liên Hiệp Quốc.


Dần dần, suy nghĩ của ông thay đổi, mầm mống phản động khơi mào. Ông tham gia các hoạt động chính trị cánh tả, quan tâm đến quyền của người Palestine. Năm 1985, hợp đồng của ông không được gia hạn. Chán Mớ Đời ông ta muốn biến đau thương thành hành động cách mạng. Ông ta đột phá tư duy, ông làm một việc thay đổi cả cuộc đời mình: Mang máy ảnh vào khu vực cấm, Chụp khoảng 60 bức ảnh chi tiết về cơ sở hạt nhân.


Năm 1986, ông rời Israel, đi qua châu Á rồi đến Úc. Tại Sydney, ông cải đạo sang Thiên Chúa giáo. Nói như người thiên chúa giáo là trở về đạo. Ông ta đã lầm đường lạc lối nên nay muốn cách mạng khoan hồng nên  Ông tin rằng mình có nghĩa vụ đạo đức phải nói ra sự thật. Ông liên hệ với tờ The Sunday Times ở London. Các chuyên gia độc lập xác nhận toàn bộ thông tin: Israel có chương trình vũ khí hạt nhân bí mật, Ước tính từ 100–200 đầu đạn


Khi bài báo sắp được công bố, ông ta được một số tiền nên vào bar ăn uống cho vui đời cô lựu thì choáng váng khi một giai nhân xuất hiện. Anh ta nghĩ ông bà nói quả không sai khi có tiền thì mấy cô gái dẫn xác đến nạp thân, lúc ông đói chả cô nào thèm nhìn mặt. Tin tưởng đã phát hiện ra mối tình hữu nghị sông liên sông núi liền núi. 


Cô gái đẹp nức nở là một nữ điệp viên tên “Cindy” (Cheryl Bentov) thua ông ta đến 14 tuổi, tiếp cận ông. Bên tai Cindy thỏ thẻ anh làm em ngưỡng mộ quá, ba má em có căn hộ ở la mã, hay cuối tuần này em nghĩ làm chúng mình bay qua La MÃ để cùng nhau viếng nhà thờ San Pedro. Ông ta nhất trí tưởng đến quỳ lạy chúa cho con lấy được Cindy, mời cô nàng đi ăn ở các tiệm sang trọng của La Mã và ăn gelato ở Trastevere. Thế là ông ta bị dụ sang Rome. Vừa chạy taxi từ phi trường về nhà chưa đầy 5 phút, ông ta chưa kịp đè Cindy xuống giường thì có tiếng gõ cửa. Cindy ra mở và các bác Mossad bước vào đè đầu ông ta và đánh thuốc mê trong giấc mơ bên cạnh em Cindy thơm như múi mít. Ngày 30/9/1986, ông bị đánh thuốc mê, bắt cóc và đưa bí mật về Israel.


Ngày 5/10/1986, bài báo vẫn được đăng. Cả thế giới biết sự thật. Ông  Vanunu bị xét xử bí mật, kết án phản quốc và gián điệp. Năm 1988, ông bị tuyên 18 năm tù. 11 năm trong phòng biệt giam, Một căn phòng 2m x 3m, Không giao tiếp, không con người, chỉ có im lặng nhưng ông không bao giờ hối hận. Chắc con cháu của Trương Bất Hối. Năm 1998, ông được chuyển ra khỏi biệt giam. Amnesty International gọi ông là “tù nhân lương tâm”. Ông được đề cử Nobel Hòa bình 17 lần nhưng chưa từng được trao. Vì DO Thái Lobby rất kiến hiệu ở Na Uy.


Ngày 21/4/2004, ông được trả tự do sau 18 năm. Nhưng… ông vẫn không thật sự tự do. Không được rời Israel. Không được nói chuyện với báo chí nước ngoài. Bị giám sát liên tục. Ông nhiều lần bị bắt lại chỉ vì nói chuyện với phóng viên. Năm 2007, ông bị kết án thêm 6 tháng tù vì… nói rằng ông muốn rời khỏi đất nước. Họ hỏi ông ta đi đâu, chắc là muốn sang đầu quân cho Ba Tư. Ông xin tị nạn ở Na Uy, Mỹ và nhiều nơi khác đều bị từ chối. Chán Mớ Đời 


Israel nói ông vẫn còn “bí mật trong đầu”. Một người rời khỏi cơ sở hạt nhân từ 40 năm trước… vẫn bị coi là nguy hiểm. Ông Vanunu nói:“Tôi không hối hận. Thế giới cần biết sự thật.” Xem như thành phần ngoan cố, không bao giờ cải tạo được.


Một người bình thường.

Một công việc ổn định.

Một cuộc sống có thể yên ổn.


Nhưng ông đã chọn nói ra sự thật. Đổi lại: 18 năm tù, 11 năm biệt giam và hàng chục năm bị hạn chế tự do. 


Có những người nói ra sự thật và được trao huy chương. Có những người nói ra sự thật… và sống 11 năm trong một căn phòng nhỏ hơn phòng tắm. Và Mordechai Vanunu đã nói ra sự thật. Và phải trả một giá quá đắt. Ông cụ mình cũng phải trả giá nói lên sự thật và bị bắt nhốt 15 năm cải tạo. Chán Mớ Đời 


Mình nghĩ chắc lúc đó ông ta chưa có vợ con, chớ một khi có vợ con thì họ sống hèn lại, để có thể đi làm để nuôi vợ nuôi con. Còn nói lên sự thật thì vợ con phải gánh chịu hậu quả. Mình làm mình chịu nhưng nếu ông ta có gia đình thì có lẻ không xẩy ra vấn đề này. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn