Hiển thị các bài đăng có nhãn y tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn y tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng

 Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng


Cách đây mấy năm có một phim kể về cuộc đời ông Vivien Thomas, người da đen vì kỳ thì nên không được đi học trường y khoa. Cũng như câu truyện về cuộc đời bác sĩ Ben Carson, nổi tiếng về phẫu thuật tim, sau trở thành bộ trưởng gia cư của Hoa Kỳ. Mình xin tóm tắc lại đây:


Tại Nashville, tiểu bang Tennessee, năm 1930, Vivien Thomas sinh ra trong một nước Mỹ bị chia rẽ bởi chủng tộc, luật pháp và những giới hạn vô hình. Miền Nam thời Jim Crow không chỉ hạn chế cơ hội, nó áp đặt số phận. Là một người da đen, Thomas được dạy từ khi sinh ra rằng ông không được phép trở thành điều gì. Nhưng ông vẫn nuôi một ước mơ: trở thành bác sĩ. Tương tự con cháu nguỵ quân nguỵ quyền sau 40/4/1975, đi kinh tế, không được đi học, cách mạng đã đặt số phận, thậm chí ngày này vẫn lơ lững.

Với quyết tâm mạnh mẽ, ông làm thợ mộc và dành dụm từng đồng để theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp và Công nghiệp Tennessee, với mục tiêu cuối cùng là vào trường y. Kế hoạch của ông cẩn thận và rất kỷ luật cho đến khi lịch sử can thiệp. Khi cuộc Đại Suy Thoái xảy ra, ngân hàng nơi ông gửi tiền bị phá sản. Chỉ trong chốc lát, toàn bộ số tiền tiết kiệm biến mất, và con đường chính thức dẫn đến ngành y cũng tan biến theo cánh chim về trời tha ma.


Mới mười chín tuổi, Thomas nhận công việc phụ tá phòng thí nghiệm tại Bệnh viện Đại học Vanderbilt, với mức lương mười hai đô la một tuần. Nhiệm vụ của ông rất đơn giản và bị giới hạn rõ ràng: dọn dẹp phòng thí nghiệm, chăm sóc động vật, và im lặng. Ông không được kỳ vọng sẽ suy nghĩ, đặt câu hỏi hay đóng góp ý kiến. Tương tự mình có anh bạn học khi xưa, đậu tú tài thì vào đại học y khoa Huế. Sau 75, đang ngồi tỏng lớp, Việt Cộng chạy vào kéo đầu đi ra, không cho học nữa. Lý do bố anh ta là sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà. Việt Nam sau 75 có rất nhiều vụ này, em mình đậu đủ điểm hay dư vào đại học cũng không được cách mạng cho đi học. Ở nahh đi đang len, hay làm thợ may.


Ông quan sát từng thí nghiệm. Ông lắng nghe những cuộc thảo luận vốn không dành cho mình. Ông đặt ra những câu hỏi chính xác và thông minh, nhanh chóng hiểu được mục tiêu của từng quy trình. Sự tò mò và khả năng hiểu sâu sắc của ông không qua được mắt của bác sĩ Alfred Blalock, người phụ trách phòng thí nghiệm. Blalock bắt đầu dạy Thomas các kỹ năng phẫu thuật, dù Thomas không có bằng y khoa hay đào tạo chính thức.


Thứ Thomas có là đôi tay vững vàng, trí nhớ xuất sắc và hiểu biết sâu về giải phẫu học. Chẳng bao lâu, ông đã thực hiện các ca phẫu thuật phức tạp trên động vật thí nghiệm với sự chính xác và tự tin. Đến năm 1933, trên thực tế Thomas không còn chỉ là một trợ lý, ông đã trở thành cộng sự nghiên cứu của bác sĩ Blalock. Nhưng trên giấy tờ, mọi thứ vẫn không thay đổi. Chức danh, tiền lương và cách đối xử với ông vẫn thấp hơn rất nhiều so với vai trò thật sự của ông.


Năm 1941, bác sĩ Blalock nhận chức Trưởng khoa Phẫu thuật tại Bệnh viện Johns Hopkins, nhưng chỉ với điều kiện Thomas phải đi cùng. Bệnh viện đồng ý, song một lần nữa chỉ trao cho Thomas một chức danh kỹ thuật thấp, phản ánh trật tự chủng tộc cứng nhắc của thời đại.


Tại Johns Hopkins, họ đối mặt với một thảm kịch y học. Trẻ sơ sinh đang chết vì một dị tật tim bẩm sinh gọi là tứ chứng Fallot, thường được gọi là “Hội chứng Trẻ Xanh.” Dị tật này khiến máu không đến được phổi đầy đủ, khiến cơ thể thiếu oxy. Phần lớn trẻ em không sống quá tuổi thơ. Mình có biết một ông kêu khi sinh ra bị hội chứng này, may nhờ được giải phẫu được nên sống đến ngày nay.


Bác sĩ Helen Taussig đặt ra một câu hỏi táo bạo: liệu phẫu thuật có thể làm tăng lưu lượng máu đến phổi hay không? Bác sĩ Blalock quay sang ông Vivien Thomas và hỏi liệu ông có thể tìm ra cách thực hiện điều đó.


Ông Thomas lao vào công việc. Trong nhiều tháng, ông phẫu thuật trên chó, thực hiện những ca chưa từng có tiền lệ. Ông thiết kế dụng cụ mới, sáng tạo kỹ thuật mới, và thất bại hết lần này đến lần khác trước khi thành công. Cuối cùng, ông phát triển một phương pháp nối động mạch dưới đòn với động mạch phổi, tạo ra một con đường mới cho máu đến phổi. Đó là một bước đi táo bạo và đầy rủi ro.


Ngày 29 tháng 11 năm 1944, họ tiến hành phẫu thuật cho một bé gái mười lăm tháng tuổi tên là Eileen Saxon. Bé chỉ nặng chín pound và đang hấp hối. Trong suốt ca mổ kéo dài bốn tiếng rưỡi, Blalock cầm dụng cụ, còn Thomas đứng phía sau trên một chiếc ghế đứng, lặng lẽ chỉ dẫn từng thao tác. Mình đoán là thời đó có sự kỳ thị chủng tộc nên có lẻ người da đen không được đụng đến cơ thể người da trắng.


“Vào sâu hơn.”(“Deeper.”)

“Lệch sang trái một chút.”(“A little to the left.”)

“Dùng chỉ khâu nhỏ hơn ở chỗ đó.”(“Use smaller sutures there.”)


Khi ca phẫu thuật kết thúc, đôi môi xanh tái của Eileen chuyển sang hồng. Các đầu ngón tay cũng hồng trở lại. Oxy cuối cùng đã đến được cơ thể bé. Ca mổ đã thành công. Thủ thuật này được biết đến với tên gọi shunt Blalock–Taussig. Nó đã làm thay đổi y học, cứu sống hàng nghìn trẻ em và đặt nền móng cho ngành phẫu thuật tim nhi khoa. Bác sĩ Blalock trở nên nổi tiếng toàn cầu trong khi Vivien Thomas thì không.


Trong hai mươi hai năm, Thomas đào tạo các bác sĩ nội trú phẫu thuật tại Johns Hopkins,  nhiều người sau này trở thành những tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực phẫu thuật tim. Ông là người thầy, người hướng dẫn, và thường là người có tay nghề cao hơn họ. Thế nhưng, ông chưa bao giờ được gọi là “Bác sĩ,” không được liệt kê là giảng viên, và không xuất hiện tên trên các công trình khoa học. Ông ăn cùng nhân viên bảo trì, trong khi những người ông đào tạo thì thăng tiến về địa vị và danh tiếng.


Mãi đến năm 1971, sau hơn bốn thập kỷ cống hiến, Johns Hopkins mới phong cho ông chức danh Giảng viên Phẫu thuật, không phải Giáo sư, mà chỉ là Giảng viên. Đến lúc đó, những người hiểu rõ nhất đều đã biết sự thật.


Năm 1976, bệnh viện vinh danh ông bằng một bức chân dung đặt cạnh bác sĩ Blalock. Trong buổi lễ, các học trò cũ đứng lên vỗ tay. Một số người đã rơi nước mắt. Cũng trong năm đó, Thomas được trao bằng tiến sĩ danh dự. Ở tuổi sáu mươi sáu, cuối cùng ông được gọi là Bác sĩ Vivien Thomas — sau bốn mươi sáu năm làm công việc của một bác sĩ phẫu thuật.


Vivien Thomas qua đời năm 1985, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi. Năm 2004, câu chuyện cuộc đời ông được giới thiệu rộng rãi qua bộ phim của HBO Something the Lord Made. Ngày nay, di sản của ông vẫn sống mãi qua các chương trình học, học bổng mang tên ông, và một phương pháp phẫu thuật đã cứu sống con người hơn tám mươi năm qua. Ai buồn đời như mình muốn xem cuốn phim tích cực thay vì nghe dân chửi và ma gà chửi nhau. Miễn phí trên YouTube 

 https://youtu.be/VZfjxShZd6Q?si=59qmJeo_qyQPNRZO


Trong phần lớn sự nghiệp, Vivien Thomas bị trả lương và đối xử thấp hơn rất nhiều so với năng lực thật sự của mình. Ông đứng trên một chiếc ghế nhỏ để người khác đứng trong ánh hào quang. Ông tiếp tục làm việc. Ông tiếp tục giảng dạy. Ông tiếp tục cứu người.


Họ gọi ông là người lao công. (They called him a janitor.)

Lịch sử gọi ông là người anh hùng. (History calls him a hero.)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

bán bệnh tật là nghề của bác sĩ

 Bán Bệnh Tật: Phơi bày cách ngành dược phẩm khổng lồ biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân

Sống tại âu châu hơn 12 năm nhưng mình chả bao giờ đi khám bác sĩ dù có bảo hiểm y tế nhưng khi sang Hoa Kỳ, sau khi lấy vợ thì đồng chí gái kêu đi khám bác sĩ mỗi năm theo định kỳ thì phác giác ra mình có bệnh đủ thứ trò. Vợ bảo thì phải phục tùng vì phận trai thuyền quyên. Đến khi mình bị gãy chân khi leo núi, nằm trên giường, buồn đời đọc 5 cuốn sách về ung thư thì thất kinh nên từ đó tìm hiểu thêm về y tế vì không thể nào tin hoàn toàn vào bác sĩ của mình vì theo châm ngôn của y sĩ ngày nay là “giúp một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng”. Nên mình định nghĩa lại ngày nay lương y như kế mẫu. Một bệnh nhân là một con bò để bác sĩ vắt sữa 3 tháng một lần. Bò nhiều bệnh càng nhiều càng tốt.

Tìm tài liệu đọc thì khám phá ra có nhiều người lương y như từ mẫu, bị hội đồng y khoa rút bằng vì dám nói lên sự thật nên mình càng chới với. Có ông bác sĩ nào ở Úc Đại Lợi bị cấm hành nghề, phải kiện tụng đủ trò mới lấy lại được bằng hành nghề. Lý do là ông ta khuyên bệnh nhân ăn uống cẩn thận thì bị tố là không có bằng dinh dưỡng nên không được khuyên bệnh nhân. Từ đó hay kiếm phim tài liệu và sách đọc về y tế. Rất khó nuốt vì quá khô khan, không như tiểu thuyết, tình yêu vớ vẩn nhưng phải cố gắng vì sự nghiệp cách mạng để tự cứu lấy mình. Hôm nay mình kể về cuốn sách do một người úc đại lợi và một người Gia-nã-đại, viết cách đây 20 năm. Trên Prime của Amazon có khá nhiều tài liệu còn trên YouTube thì hay bị chận.


Năm 2005, cách đây 20 năm, nhà báo y tế Ray Moynihan và nhà nghiên cứu chính sách dược phẩm Alan Cassels đã xuất bản cuốn sách mang tính đột phá khiến các công ty dược phẩm không yêu thích lắm “Selling Sickness: How the World’s Biggest Pharmaceutical Companies Are Turning Us All Into Patients (tạm dịch: Bán Bệnh Tật: Các công ty dược phẩm lớn nhất thế giới đang biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân như thế nào). Cuốn sách phê phán gay gắt cách kỹ nghệ dược phẩm mở rộng thị trường đúng theo quy trình, bằng việc quảng bá những trải nghiệm bình thường của con người thành các tình trạng bệnh lý cần điều trị bằng thuốc.


Luận điểm chính của cuốn sách bắt đầu bằng một câu trích dẫn từ một cựu giám đốc điều hành của công ty dược phẩm Hoa Kỳ Merck vào những năm 1970. Ông ấy buồn đời bị vợ la nên kêu rất thất vọng vì thuốc chỉ được bán cho người bệnh và mơ ước được sản xuất thuốc bán cho cả người khỏe mạnh, “bán cho mọi người”, giống như cách công ty Wrigley’s bán kẹo cao su. Chưa đau làm cho chúng bị đau, uống thuốc chúng càng đau thêm. 2 ông Moynihan và Cassels cho rằng tầm nhìn này đã trở thành hiện thực nhờ các chiến lược tiếp thị tinh vi: mở rộng ranh giới của bệnh tật, hạ thấp ngưỡng chẩn đoán và tạo ra nhu cầu ở những nơi trước đây không tồn tại, một quá trình mà họ và nhiều người khác gọi là bệnh hóa (disease mongering).

Các ý tưởng chính: Cách “bệnh tật” được sản xuất và bán ra


Các tác giả cấu trúc cuốn sách dưới dạng một loạt nghiên cứu trường hợp, mỗi chương phân tích một tình trạng bệnh cụ thể và thuốc liên quan để minh họa các chiến thuật mà “Big Pharma” sử dụng:

1.  Mở rộng định nghĩa về bệnh tật: Các công ty dược tài trợ cho các hướng dẫn y khoa và hội nghị đồng thuận nhằm tái định nghĩa những biến thể bình thường (như lão hóa, nhút nhát hay buồn bã) thành các rối loạn. Như Cholesterol khi xưa là chỉ số 356 là được xem là cao ngày nay thì chỉ số xuống còn 200 khiến ai cũng bị dính cả, phải uống thuốc. Các chuyên gia tham gia những hội nghị này thường có mối quan hệ tài chính với ngành công nghiệp, tạo ra xung đột lợi ích. Mình có xem một phim Ý Đại Lợi, nói về các người đi quảng bá thuốc, mua vé máy bay cho bác sĩ kê toa thuốc nhiều đi với gia đình du lịch ở các xứ khác miễn phí, có người lấy tiền bỏ túi.

2.  Hợp tác với bác sĩ và các nhóm bệnh nhân: Các hãng dược tài trợ giáo dục y khoa, hội nghị và các tổ chức vận động bệnh nhân, biến họ thành những người quảng bá (có thể vô tình hoặc cố ý). Các chiến dịch “nâng cao nhận thức” cho bệnh nhân, do các công ty dược phẩm tài trợ, giáo dục công chúng về những tình trạng “chưa được chẩn đoán đúng mức”. Lên mạng, thấy nhiều người không phải khoa học gia hay điều dưỡng viên, tuyên bố bệnh này bệnh nọ khiến người đọc hoang man, đi bác sĩ để xem xét lại. Ngày nay thì AI sử dụng các bác sĩ mà mình từng mua sách của họ rồi bựa ra đủ trò. 

Có một ông cựu bộ trưởng của Hy Lạp, nổi tiếng tỏng vụ Âu châu cứu xứ này khỏi bị phá sản. Ông này là mát-xít mình hay xem phỏng vấn ông ta về tình hình âu châu để hiểu thêm vì ông này có một cái nhìn khác với cộng đồng âu châu. Gần đây có AI làm video, bỏ ông ta lên nói đủ trò. Thiên hạ hỏi ông ta thì ông nói không phải do ông ta làm ra, họ dùng AI nhưng ông ta không làm gì được.

3.  Quảng cáo trực tiếp tới người tiêu dùng: Ở các quốc gia cho phép (như Mỹ), quảng cáo miêu tả những khó khăn đời thường thành các bệnh có thể điều trị, thúc đẩy bệnh nhân yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc cụ thể. Ở âu châu họ cấm được quảng cáo thuốc trên đài truyền hình còn ở Hoa Kỳ thì đủ loại nhưng 35% thời gian nói đến hệ ứng phụ, kêu cơ thể sau khi uống thuốc có hiệu ứng như này như nọ thì báo cáo ngay cho bác sĩ. Nếu họ nói đến hệ ứng phụ nghĩa là thuốc chưa đúng nhưng cứ bán ra đã.

4.  Tạo ra các rối loạn mới: Một số tình trạng gần như được “phát minh” hoặc phóng đại để phù hợp với thuốc mới, chẳng hạn biến sự cáu kỉnh nhẹ thành một rối loạn nghiêm trọng. Những chiến lược này biến những người khỏe mạnh hoặc chỉ gặp vấn đề nhẹ thành bệnh nhân suốt đời, tạo ra hàng tỷ đô la lợi nhuận đồng thời gây nguy cơ điều trị quá mức, tác dụng phụ và làm quá tải hệ thống y tế.


Các nghiên cứu trường hợp chính trong sách, em xin tóm tắc:

•  Cholesterol cao: Việc hạ thấp ngưỡng đã biến hàng triệu người thành “bệnh nhân” cần dùng statin, dù nhiều người có nguy cơ thực sự thấp. Chỉ số từ 240mg/dl còn 200mg/dl như ngày nay thì bố ai cũng bị cao mỡ, cái mất dạy là chúng ta cần mỡ để cơ thể hoạt động. Lá gan sản xuất 80% số lượng mỡ mà cơ thể cần hàng ngày.

•  Trầm cảm và thuốc SSRI: Tiêu chí mở rộng đã bệnh hóa nỗi buồn bình thường, thúc đẩy thuốc chống trầm cảm.

•  Mãn kinh và liệu pháp thay thế hormone (HRT): Được miêu tả như một bệnh thiếu hụt cần hormone dài hạn (sau này được phát hiện làm tăng nguy cơ sức khỏe). Đúng hơn là bệnh ung thư. Khi đồng chí gái đến thời kỳ mãn kinh, may có chị bạn là bác sĩ nói không nên uống. Bác sĩ biết sẽ gây ra bệnh ung thư nhưng bệnh nhân đến là cho toa về uống mệt thở.

•  Rối loạn lo âu xã hội: Sự nhút nhát được tái định khung thành tình trạng suy nhược có thể điều trị bằng thuốc như Paxil.

•  Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD): Mở rộng sang người lớn, mở rộng thị trường thuốc kích thích.

•  Hội chứng ruột kích thích, loãng xương và rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt: Những vấn đề nhẹ hoặc phổ biến được nâng lên thành cần dùng thuốc.


Các tác giả dựa trên phỏng vấn người trong ngành, bác sĩ, nhân viên tiếp thị và các nguồn học thuật để cho thấy cách những nỗ lực này làm mờ ranh giới giữa bệnh thực sự và các “yếu tố nguy cơ” mang lại lợi nhuận. ông Ray Moynihan, cây bút thường xuyên của BMJ và Lancet, cùng ông Alan Cassels, chuyên gia Canada về chính sách dược phẩm, kết hợp báo chí điều tra với phân tích dựa trên bằng chứng. Tác phẩm của họ đã phổ biến khái niệm “bệnh hóa” và ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận toàn cầu về quá trình y tế hóa quá mức.


Hai thập kỷ sau, cuốn Selling Sickness vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh lo ngại liên tục về ảnh hưởng của ngành dược khoa từ tiếp thị opioid đến các mở rộng hiện đại như ADHD ở người lớn hay thuốc điều trị béo phì. Cuốn sách kêu gọi sự hoài nghi đối với tin tức y tế, hướng dẫn độc lập và việc đánh giá lại điều gì thực sự cấu thành “bệnh tật” trong thời đại y học bị chi phối bởi lợi nhuận. Ở các xứ mà người Mỹ hay đến vào mùa thu để xem lá rụng, người dân địa phương bị nghiện thuốc Opiod.


Một điểm khác như bệnh loảng xương. Đầu thập niên 1990, một công ty dược phẩm chế tạo ra một loại thuốc trị bệnh loảng xương, mà dạo ấy chưa được hiểu rõ lắm. Các đại diện các công ty dược phẩm và bác sĩ  họp nhau tại cơ quan WHO để hội thảo, và quyết định thế nào là xương chắt là bình thường. Họ xếp loại ra sao mà 50% phụ nữ trên 70 tuổi bị bệnh loảng xương. Xem như trong vòng một đêm , 50% phụ nữ trên 70 tuổi thức dậy là có bệnh loảng xuống phải uống thuốc.


Các công ty này tặng miễn phí các y cụ cho các phòng mạch bác sĩ hay nhà thương để khám mật độ xương. Cái mất dạy là sau khi uống thuốc này sau nhiều năm khiến xương của bệnh nhân dòn và dễ gãy hơn. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vespasienne, chỗ đi tè ở Paris xưa

Nơi đi tè của Tây ở Paris

Váy khi xưa rộng để mấy bà đứng tè vô tư, không ướt váy.

Đồng chí gái rất ghét Paris, lý do là đi kiếm chỗ mỗi lần mót tè là một vấn đề. Ngày nay chúng ta sống trong tiện nghi, vệ sinh nên quên hay không biết nhưng gì thế hệ cha ông ta đã trải qua. Mình có kể việc đổ bô của vua tại điện Versailles và vệ sinh của quý tộc Pháp khi xưa không như ngày nay. 


Đi chơi với bà cụ vừa rồi ở Nam Dương và Tân Gia Ba, mình hay hỏi mẹ mình có buồn tiểu không. Rồi kiếm chỗ dẫn mẹ đi. Lý do mình hỏi là vì có một bác sĩ người Mỹ nói với mình trong một chuyến đi làm từ thiện y tế tại Việt Nam. Ông ta hỏi phụ nữ Việt Nam không đi tè. Mình nói đi chớ. Ông ta kể là quan sát thấy phụ nữ đợi chờ tới phiên được khám bệnh, lấy nước nơi bình để cho ai cần uống, để đưa cho con, chồng hay bố mẹ còn họ thì không uống. Mình đoán là tại ở Việt Nam không có nhà vệ sinh công cộng nhiều nên phụ nữ không dám uống nước, thì mót tè. Do đó họ hay có vấn đề với thận. Ở Hoa Kỳ, chạy xe đi chơi với đồng chí gái thì cứ 1 tiếng lại phải dừng chỗ nghỉ chân trên xa lộ để đồng chí gái đi tè.


Lâu đài Versailles nguy nga tráng lệ mà không có chỗ đi vệ sinh. Vua sáng dậy ngồi trên cái ghế, có cái lổ như cái bàn cầu ngày nay rồi đại tiện xong thì có người vác bô đi đổ ngoài trời. Giới quý tộc đang tán nhau, mắc tè thì kêu “garçon”, tên bưng bô lại, rồi vén váy lên phủ trên cái bô rồi tè vô tư trong khi mi nhau hay tán nhau. Je t’aime mon amour. Vua Henry VIII bắt mấy bà tình nhân không được tắm 3 tháng 10 ngày trước khi thả gà ra đá với ông ta.


Coi phim xưa, sẽ thấy phụ nữ bận váy có vòng tròn khiến váy xoè rộng ra, lý do là để đứng tè không bị bắn ướt váy hay chân. Nhờ ít tắm nên người Pháp mới sáng chế ra nước hoa đắt tiền để áp đi mùi hôi của cơ thể. Ai buồn đời thì tìm đọc trên bờ lốc.

Pissotière cho hai người, bên ngoài để dán quảng cáo, lòi chân

Khi đi du lịch điều tiên quyết là kiếm chỗ có thể đi vệ sinh. Trong thành phố thì mình sử dụng ứng dụng Flush để tìm chỗ đi tè gần nhất. Còn leo núi thì kiếm chỗ trống, khuất đường mòn, không ai bò đến mà vô tư với gió trời. Khi mình mới đến Paris, hay đi lông bông khắp nơi để xem Paris có gì lạ không Sơn thì có vấn đề mắt tè. Vào quán thì không có tiền uống nước. Được cái dạo ấy họ có những nơi, được gọi là Vespasiennes. Chỗ đi tiểu lộ thiên, chỉ dành cho đàn ông còn đàn bà thì không có. Mình đoán là khi họ thành lập những địa điểm đái đường khi xưa, chỉ có đàn ông ra đường còn phụ nữ ở trong nhà. Không đi làm ở các công sở như ngày nay.

Cái này chỉ dành cho một người đứng lại tè, thiên hạ đi ngang đều thấy hết nhưng vô tư như người Paris. Cột trụ tè được làm theo một hình trụ nên người Pháp gọi Colonne Rambuteau, tên ông Prefet của vùng Seine, sau này cứ bị hắt xì hoài vì dân Paris đi tè, cứ gọi tên ông ra mà chửi nên ông ta tư duy đột phá gọi là Vespasienne.

Lý do là khi xưa, ra đường ở pháp rất là hôi thối, thiên hạ đại tiện ngoài đường hay tè, thêm mấy con ngựa, phọt kít đầy đường, chưa kể đạp cứt chó rồi khi mưa, tuyết xìn lầy đầy nơi. Chỉ sau này thời Napoleon đệ Tam mới kêu ông thần Haussmann, cho làm cống rãnh này nọ mới dẹp được mọi việc.


Tây gọi các địa điểm này là “vespasienne” có nguồn gốc từ hoàng đế la mã tên Vespasian (cai trị AD 69–79), chơi cha thiên hạ, đánh thuế nước tiểu trong các nơi công cộng để sử dụng trong việc ngâm da thú và giặt áo quần vì trong nước tiểu có ammoniac. Nghe nói ông này nói với con trai Titus là tiền không có mùi hôi (pecunia non olet) khi thiên hạ chửi ông ta đánh thuế nước đái. Nếu các bác nào đi Thổ Nhĩ Kỳ hay Tunisia, sẽ viếng các thành phố cỗ của La mà khi xưa, thì thường sẽ thấy trước cửa thành, sẽ có một nhà tắm họ gọi là Hammam, để người khách xa tắm rữa để không còn các vi khuẩn lạ trước khi được vào thành phố, nhiều khi họ đi đường cả tháng trên biển hay bộ nên người hôi hám, có thể bị bệnh. Mình có kể trong chuyến đi Thổ Nhĩ Kỳ cách đây mấy năm. Không tắm rữa, giặt quần áo thì chưa được vào.

Cái này ở đại lộ nên có đến 6 chỗ đứng tè, có cả điện đường để trời tối vẫn thấy đường mà tè. Sau này bổng nhiên có phong trào đồng tính nổi lên, là địa điểm để mấy ông đồng tính đến tìm nhau trong hơi thở nhà tè mà dân Paris gọi tiếng lóng là “tasses”. Hình cũ xưa khi mấy cây được trồng, dạo mình đi học thì cây lớn lắm che bóng mát.

Tại Paris, các địa điểm đi tè được xây dựng trong thời gian 1830-1834 trên các đại lộ chính như Boulevard Saint Michel, Montparnasse,… sau đó ông Prefet tên Claude-Philibert Rambuteau cho gắn thêm 400 địa điểm, chỉ đi tè chớ không có đại tiện. Các cấu trúc này khiến dân tình gọi là “colonnes Rambuteau” khiến ông này không thích lắm, tên mình mà họ gọi là chỗ đi tè nên đổi tên thành “vespasiennes” giúp cải thiện vấn đề vệ sinh. Rồi đến thời ông Haussmann thì cho gắn các địa điểm bằng gan có đến 2-8 chỗ đứng tè, bên ngoài dùng để bán quảng cáo, lấy tiền để trang trải chi phí.


Đến năm 1930 thì Paris có đến 1,230 địa điểm đi tè, được gọi là “pissotières,” “tasses (nơi các ông đồng tính gặp nhau)” hay “ginettes” theo tiếng lóng của dân cư Parisien. Hồi mình mới sang Paris, tiếng tây đã lọng ngọng mà gặp dân Paris, họ xổ toàn là tiếng lóng nên chới với, điển hình một quan pháp (franc) họ gọi là “balle” kiểu “T’as cent balles” nghĩa là có một franc không. Lý do là trước khi mình sang tây, thì chính phủ tây đổi tiền, thời De Gaulle vì lạm phát sau chiến tranh. 1 franc mới đổi 100 quan pháp cũ. Dân tây kêu quan cũ là Balle (tiếng lóng) nên 100 balles là 1 quan mới. Mình chới với, ngọng như bò đội nón nhưng độ 2 năm ở trường cao đẳng quốc gia mỹ thuật thì tiếng lóng mình nghề như tây, ngày nay khi mình về tây chơi, gặp lại bạn bè, nói chuyện chúng kêu tiếng lóng mày quá cổ lổ xỉ, cần được cập nhật hoá. Chán Mớ Đời 

Thường mình thấy sơn màu xanh, vào các công viên cũng hay thấy mấy địa điểm này

Từ năm 1960 trở về sau đến thời mình ở Paris thì các địa điểm này từ từ được tháo dỡ đi, và xây các địa điểm dưới đường hầm để cải tạo hình dáng của Paris . Đến khi mình gần ra trường thì họ bắt đầu gắn các nhà vệ sinh do công ty JC Decaux thiết bị, tự xử và có thể đi đại tiện và nam nữ đều được sử dụng. Hình như phải trả tiền. Mình chưa bao giờ sử dụng thì đi xứ khác kiếm cơm. Nghe nói ngày nay chỉ còn một cái duy nhất là ở đường Arago quận 14. Ai đi du lịch xứ này thì chụp hình một cái. Ngày nay có những địa điểm cho thiên hạ sử dụng gọi là Sanisettes, nghe nói có đến 400 địa điểm miễn phí. Những lần ghé Paris gần đây, em không sử dụng, ít thấy. Chỉ ghé tiệm ăn hay rượu, kêu chai nước suối rồi hỏi đi tè chỗ nào. Xong om

Hiện đại ngày nay do công ty JC Decault. Đi Úc Châu, Tân Tây Lan mình cũng thấy loại này, xem ra người Pháp đã xuất cảng được chỗ đi tè công cộng trên thế giới.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Nội Kình Nhất Chỉ Thiền

 Nội Kình Nhất Chỉ Thiền

Dạo này trời sắp vào đông nên Khoa nhờ mình hướng dẫn mọi người tập Nhiệt Thân Pháp của môn Nội Kình Nhất Chỉ Thiền mà mình có dịp tập đâu 15 năm qua nhưng chỉ tập vào mùa đông để tránh bệnh tật. Trong năm trời ấm thì tập Nhiệt Thân Pháp của nội công Hồng Gia và Thái Cực Quyền.

“Nội Kình Nhất Chỉ Thiền” (hay còn gọi đầy đủ là Thiếu Lâm Khí Công Nội Kình Nhất Chỉ Thiền) là một phương pháp tập luyện khí công cổ truyền xuất xứ từ chùa Thiếu Lâm (Phúc Kiến, Trung Quốc). Sau đó có ai đem sang Việt Nam truyền dạy, không nhớ tên. Sau 1954, lại di cư vào Nam nên dân miền nam mới biết môn này.


Thật ra mình chỉ tập có phần nhiệt thân pháp đã oải rồi mà nghe nói có nhiều thứ nên thấy hơi mệt. Khoa cho tập phần nhiệt thân pháp còn mấy môn khác thì không nhưng cũng có thể đã ứng dùng phương pháp tập này vào môn nội công Hồng Gia và Thái Cực Quyền khi tạo lực và hơi thở.


Mò tài liệu trên mạng thì hơi nhức đầu vì họ viết đủ trò. Mình rất sợ đọc những gì người Việt viết về mấy môn võ. Nhiều khi chỉ một phương pháp tập rất dễ nhưng người ta viết như một loại siêu võ thuật nào đó như bí kíp võ công trong phim chưởng nên mình không để ý. Chỉ tập theo cách Khoa hướng dẫn là khỏe đời. Điển hình mình thấy mụ vợ tập trên YouTube, có tên nào trẻ tự xưng là thầy, dạy bí truyện và mật truyền các thế tập. Nay vì muốn giúp đời nên chỉ dạy trên YouTube, sau đó cho Zalo để ai muốn mua thuốc Bắc, thuốc gia truyền gì đó. Xem thì thấy là nhiệt thân pháp căn bản của Dịch Cân Kinh mà mình có tập khi xưa. Chả có gì là đặc biệt.


Tuần vừa rồi, Khoa cho vài người tập xé cuốn niên giám. Có một chị 83 tuổi xé được cuốn niên giám dầy độ 1/2 inch khiến chị ta mừng quá. Về nhà thử lại xem không có Khoa quan sát có thể xé được không. Xé được nên mừng hết già luôn.


Sáng nay chị ta kêu tắm heo từ 1.5 năm qua vô hình trung sức khỏe của chị ta mạnh lên. Chị cho biết cảm ơn trời đất mỗi ngày lái xe đi tập vào 5:00 giờ sáng được là chị ta mừng. 


Chị ta nói tắm heo là để nhắc đến câu chuyện mình hay kể. Câu chuyện về một người muốn trở thành lực sĩ, nghe trên núi có ông thầy hướng dẫn khỏe mạnh trở thành lực sĩ nên lên núi tầm sư học đạo. Khi đến nơi anh chàng này đến cái chòi, thấy một thiền sư và trình bày ý nguyện muốn trở thành một lực sĩ. Thiền sư nhìn anh ta và kêu nhất tảng đá trước sân. 


Bằng mọi cách anh ta không bê hay di chuyển được cục đá to đùng. Sau đó thiền sư kêu anh muốn tập luyện thì tôi giao cho anh con heo con này. Bổn phận anh mỗi ngày bế con heo xuống núi và tắm heo ở bờ suối rồi bế lên núi lại không được bỏ xuống. Sáng đúng 5 giờ sáng thì bế heo xuống núi tắm rửa rồi bế về sau đó quét sân thu dọn, trồng rau cải ở vườn sau. 


Thế là mỗi ngày anh ta thức dậy sớm và đúng 5:00 giờ sáng bế con heo xuống núi, đem lại bờ suối tắm rửa rồi bế lên vai leo lên núi về. 


Ngày qua ngày anh ta cứ làm công việc bế heo xuống núi tắm rửa rồi leo núi sau đó trồng rau cải, chăm sóc cây cối. Một hôm anh ta chợt giác ngộ cách mạng là đã ở trên núi với thiền sư được hai năm mà ông ta chả truyền dạy võ công gì cả ngoài việc bắt tắm heo mỗi ngày nên anh ta đi hỏi thiền sư. Ông thần này chỉ cười rồi kêu anh ta ra ngoài sân bê tảng đá khi xưa anh ta mới đến ngày đầu tiên đã được kêu bê thử. 


Anh ta lo ngại vì nhớ khi xưa tảng đá rất to và nặng. Như một phép lạ, anh ta bê tảng đá lên như chơi nên ngạc nhiên hỏi thiền sư. 


Ông này chỉ cười há há, giải thích hai năm qua anh bê con heo xuống núi tắm rửa rồi leo lên núi lại. Anh chăm chỉ làm việc này mỗi ngày và quên một điều là con heo được anh chăm sóc nên to béo ra, nay nặng trên 2 tạ nên sức khỏe của anh cũng theo đó mà gia tăng lên theo mỗi ngày, theo trọng lượng của con heo. Không có chi là đặc biệt. 


Mỗi ngày thấy mọi người đến Đông Phương Hội tập. Cũng loay hoay vài thế như nội công Hồng Gia, đơn nội công số 1, có thời gian thì thêm đơn nôi công thứ 2 hay 3. Sau phần kéo nội công thì xả các chân tay. Nghỉ giải lao 5 phút thì tập Thái Cực Quyền, đứng Trạm Trang Công là mất 90 phút. Trước covid thì tập 2 tiếng đồng hồ, nay tập buổi sáng nên chỉ có 90 phút. Nhiều người đến tập, thấy chả có gì mới nên bỏ cuộc, đi tìm môn khác hấp dẫn hơn, huyền bí hơn. Họ quên là tập để có sức khoẻ thay vì trở thành người biết nhiều môn võ nhưng tập sơ sơ không đến nơi đến chốn.


Cứ tập đều đặn như vậy, ngày qua ngày sẽ thấy sức khoẻ đi lên, không có đi xuống là vui rồi. Con người rất thông minh nên chỉ muốn làm năng suất hưởng theo nhu cầu như các nước cộng sản thường reo rao nhưng trên thực tế, anh không trồng cây, chăm sóc thì cây khó ra trái.


Sức khoẻ là quý nhất là về già nhưng ít ai chịu bỏ ra 1 tiếng đồng hồ mỗi ngày để đi bộ hay chơi thể thao. Rồi cứ tọng thuốc bổ đủ loại nhưng cơ thể không di chuyển thì máu không lưu thông thì bù trớt. Như cái hồ nước mà không thanh lọc nước dơ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Thuốc bổ sung lợi hay hại

 thuốc bổ sung, lợi hay hại


Từ ngày qua Mỹ mình thấy người Mỹ uống thuốc bổ sung hàng ngày nhất là người lớn tuổi. Nay về già thì nghe bác sĩ kêu uống thêm chất bổ sung như dầu cá, sinh tố C này nọ. Lại có bác sĩ kêu đâu cá có thể có chất độc. 



Hàng ngày thấy quảng cáo đủ loại trên truyền hình rồi trong cộng đồng Việt Nam cũng thấy quảng cáo bú xua la mua này nọ thiên hạ chạy mua rần rần. Hết chất bổ sung mỹ đến tàu, đại hàn, Nhật Bản rồi nay đến Việt Nam. 


Ngoài ra trên mạng xã hội có nhiều quảng cáo vô tội vạ. Cứ nói đến cỏ này bổ mông, lá kia chống ung thư, nói chung là cứ như cái chợ hằng hằng xa số. Không biết đâu mà mừng. 


Gần đây mình đọc tài liệu cho biết là kỹ nghệ chất bổ sung phát triển quá nhanh chóng vì người Mỹ rất chuộng về sức khỏe. Cứ nghe bạn bè nói ăn cái này uống cái kia bổ chim bổ ngựa là cứ mua. Uống được vài ngày rồi lại bỏ. Lâu lâu lựa ra thấy hết date quăng thùng rác. Rồi lại đi mua tiếp. Muốn giàu cứ bựa ra chất bổ sung bán kiếm tiền vì không chết ai cả. Ngay bà nào nổi tiếng trên 60 tuổi kêu ca bán sữa bà chúa. 


Nhưng gần đây nghiên cứu cho thấy 20% chất bổ sung và thuốc nam gây ảnh hưởng đến lá gan. Thậm chí tùy trường hợp lên đến 43%. Ai buồn đời thì đọc đường dẫn này.  https://journals.lww.com/hep/fulltext/2017/01000/liver_injury_from_herbal_and_dietary_supplements.36.aspx


Chúng ta sống trong một môi trường tư bản đầy ắp quảng cáo để bán và thường không hiểu kỹ nên cứ nghe bạn bè hay quảng cáo là tin sái cổ. Có lần mình hỏi một anh bạn, bác sĩ về quảng cáo thuốc tiên trong cộng đồng người Việt. Anh ta nói ở xứ này, nếu mà thuốc tiên này đúng như sự thật thì người chế ra loại thuốc tiên này đã giàu và bán cho người Mỹ gần 400 triệu người Mỹ. Đâu cần phải trả tiền quảng cáo như hàng chợ cá. Ám chỉ it một bác sĩ chuyên quảng cáo thuốc bổ. 


Hoa Kỳ là nước độc nhất cho phép quảng cáo thuốc trên truyền hình để người Mỹ có thể yêu cầu bác sĩ mình kê toa. Nếu để ý thì chúng ta thấy có đến 1/3 thời gian quảng cáo nói về hệ ứng phụ của thuốc. Tại sao thuốc tốt lại nói về hệ ứng phụ. Khi không uống thêm hệ ứng phụ. Lãnh nợ vào cơ thể. 


Mình không biết bài nghiên cứu được viện y tế quốc gia xuất bản  trên có phải được các công ty dược phẩm biên soạn nhưng nếu là sự thật thì chúng ta cần kiểm chứng đọc tài liệu kỹ lưỡng trước khi tiêu dùng. 


Số người Mỹ đợi thay lá gan (transplant) vì gan có vấn đề vì chất bổ sung gia tăng từ 1% lên 7% từ năm 1995 đến năm 2020, xem như gấp 7 lần. Trong suốt 25 năm tình cũ với chất bổ sung được tạo ra bán như thuốc tiên, tóc đen, trẻ mãi không già,… collagen và cô la ghen


Gần đây họ báo cáo các người Mỹ dùng chất bổ sung được chở đi cấp cứu có hiện tượng mắt vàng mệt mỏi , đau bụng và lá gan banh ta lông vì uống chất bổ sung. Thậm chí những chất bổ sung được bảo chứng bởi nhà thương nổi tiếng và do bác sĩ kê toa. 


Nhiều chất bổ sung được cho là nguyên nhân như tinh chất trà xanh, thường giúp cho gầy. người Tàu họ có làm loại này, khi xưa mình mua ở tiệm thuốc bắc  uống khiến đi cầu rất nhiều, được vài hôm thì cũng quăng thùng rác hay "chất tăng cường", các chất bổ sung thể hình đôi khi bị nhiễm steroid đồng hóa; và các chất bổ sung dinh dưỡng đa thành phần được sử dụng cho nhiều mục đích, từ kích thích mọc tóc như collagen đến sức khỏe tâm thần.


Năm 2024, các nhà nghiên cứu phát hiện ra rằng 15 triệu người Mỹ sử dụng các hợp chất được biết là có độc tính với gan: nghệ, ashwagandha, rễ cây rắn đen, quả nụ, trà xanh và gạo men đỏ. Mấy loại này giờ thấy trên mạng xã hội nhất là ở Việt Nam kêu rao bán bởi các ông các bà tự nhận là  bác sĩ thuốc nam chi đó. Họ cứ phán tì vị bú xua la mua rồi bỏ nhỏ muốn mua thuốc cho đó. Lắm thầy rối ma. 


https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/


Sức khỏe rất cần thiết nhất là khi về già, chúng ta cần bảo vệ sức khỏe nhưng phải nghiên cứu cho kỷ. 


Thay vì nghe ai nói về một thứ thuốc hay phương pháp dưỡng sinh rồi cứ nhắm mắt tin. Người báo cho mình là ai? Một bác sĩ hay một ông thầy thuốc bắc có uy tín. Cứ tin sái cổ rồi rước họa vào người. Nên tìm tài liệu đọc cho kỹ trước khi uống. 


Gần đây mình có đọc tài liệu về các phân tử của chất nhựa từ trong các chai nước mua uống ở chợ rất nguy hiểm vì khi uống sẽ vào cơ thể lâu ngày trở thành đống rác không tiêu hủy được hết gây tổn Thương trong người nên họ khuyến cáo không nên uống trà bọc bằng nhựa. Gần đây thấy nhiều loại trà bọc làm bằng nhựa trong rất lịch sự và đắt tiền nên sợ hết dám mua. 


Trà được biết là họ xịt thuốc sâu như điên, tương tự cà phê mà báo chí cứ cả tụng bú xua la mua, uống vào là giảm thọ. Có ông Tây trồng nho, hỏi tại sao bán cho người Tàu. Ông ta kể là ngày nay sử dụng thuốc sâu quá nhiều khiến ông ta không muốn con cháu mình lãnh đủ nên bán cho người Tàu. 


Nhất là các loại thuốc bổ sung có một lớp bọc bên ngoài là chất nhựa hay gì đó không biết. 


Có anh bạn kể ông cậu chữa bệnh ung thư nghe ai nói dùng baking soda tạo dựng chất Alkaline giúp bảo hòa pH nên cứ uống. Gần đây mình có đọc về baking soda thì họ nói loại mình thấy ở siêu thị rất độc hại. Nên mua loại tốt mà sử dụng. Ông cậu rồi cũng đi Tây phương cực lạc, dù có baking soda này nọ. Không biết ông ta mua loại gì để dùng. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn