Hiển thị các bài đăng có nhãn y tế. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn y tế. Hiển thị tất cả bài đăng

Parc à buffles , nhà thổ quân đội pháp tại Sàigòn

 « Parc à buffles » nhà thổ quân đội pháp

Không ảnh Parc à Buffles tại Sàigòn, 

Hôm nay vào trang nhà chiến tranh Đông-Dương xưa, thấy có không ảnh của nhà thổ Tây ở Sàigòn khi xưa mà lính viễn chinh người Pháp gọi là Parc à buffles , tên chính thức là Bordels Militaires de Campagne (BMC). Nôm na là chuồng trâu vì theo họ kể lại thì như nhà máy hộ lý. Ngoài Đông-Dương ra người Pháp cũng có thành lập nhiều nhà thổ ở các thuộc địa khác của họ như ở Bắc Phi. 


Tò mò mình tìm tài liệu để đọc vì có mấy ông tây có nghiên cứu về vấn đề hộ lý cho lính pháp và lính thuộc địa của họ đem sang Việt Nam như lính Lê Dương (légionnaires) , mặt gạch (malgache),… hay lính Maroc. Mình có đọc một bài giải thích về lính Maroc đi lính cho tây rồi sao đó họ đào ngủ chạy về phiá Việt Minh, hay bị bắt làm tù binh nên dần dần họ lập gia đình với người Việt nên miền Bắc Việt Nam có cái làng gọi làng hữu nghị Maroc-Việt.

Cửa vào nhà thổ tại Sàigòn 


Mình hay đọc mấy chuyện này không phải để lên án người Pháp này nọ chỉ để hiểu thêm về lịch sử của Việt Nam thời bị người Pháp đô hộ để hiểu về xã hội, kinh tế thời xưa. Thời thực dân với hoàn cảnh chính trị, kinh tế địa chính khác của thế giới khác với tư duy của chúng ta ngày nay.  Cho nên không cần lên án này nọ chỉ để hiểu người xưa sống ra sao. Mấy người Pháp thuộc thế hệ của mình hay trẻ hơn cũng tò mò tìm hiểu về lịch sử cha ông của họ đã đi qua. Như tìm về phương diện tâm lý, để hiểu thêm về cha ông của mình. Họ đăng tải hình ảnh cha ông của họ hay thư từ gửi từ Đông-Dương về, hy vọng có ai đó đã kinh qua sự việc sẽ nói thêm sự việc giúp họ hiểu hơn về lịch sử gai đình và cha ông. Cũng có sự phiền hà là các chiến sĩ an ninh mạng nhảy vào chửi bới bú xua la mua không giúp đem lại sự hiểu biết rõ ràng thêm về lịch sử khi xưa.


Trong lịch sử loài người thì khi có can qua, phụ nữ là người chịu thiệt thòi nhất. Kẻ thắng cướp giật, hãm hiếp họ, bắt làm nô lệ,… xem phỏng vấn của mấy người đức kể khi quân đội hồng quân chiếm đóng vùng Đông đức, thì họ tha hồ hãm hiếp mấy phụ nữ người đức đêm ngày. Nhưng bên thắng cuộc không bao giờ nhắc đến sự việc này.

Bên trong chuồng trâu, thấy phụ nữ người Việt và lính tây đang dò hỏi nhau. Tỏng cuốn phim thấy rõ hơn


Phụ nữ Việt Nam đóng vai trò trung tâm nhưng cũng rất bi kịch trong hệ thống Bordels Militaires de Campagne (BMC), đặc biệt tại Parc à buffles ở Chợ Lớn (Sài Gòn). Dưới đây là nghiên cứu chi tiết dựa trên các nguồn lịch sử Pháp và các nghiên cứu liên quan.


Tại Parc à buffles – BMC lớn nhất Sài Gòn – có hàng trăm phụ nữ, chủ yếu là người Việt (Indochinoises) và một phần người Hoa. Một số nguồn ước tính BMC lớn nhất có tới gần 500 phụ nữ Việt. Hình như cũng có người Nhật vì mình có đọc tài liệu, nói người Nhật đói quá nên có di dân sang Đông NAm Á, các phụ người Nhật thường làm việc trong các chỗ bán thuốc phiện, và điếm. Mình có mấy tấm ảnh này. Người Nhật đi dân khá đông sang Hoa Kỳ, Nam Mỹ,…


Phần lớn là phụ nữ nghèo từ nông thôn (đặc biệt miền Bắc – Tonkin), thành thị, hoặc những người bị hoàn cảnh đẩy vào. Nhiều người bị buôn bán, dụ dỗ, hoặc ép buộc bởi mạng lưới môi giới (các “mères maquerelles” tú bà, chủ nhà thổ). Một số là “congaï” (từ chỉ phụ nữ Việt chung sống hoặc quan hệ với lính Pháp), chuyển sang làm trong BMC.


Điều kiện làm việc cực kỳ khắc nghiệt: cabin vải mỏng, giường gỗ, thiếu vệ sinh, làm việc liên tục với số lượng khách lớn.

  • Phục vụ nhu cầu tình dục: Đây là vai trò rõ ràng nhất, nhằm “giải khuây” cho binh lính Pháp và các lực lượng thuộc địa. Quân đội Pháp quản lý chặt chẽ để kiểm soát bệnh tật.
  • Kiểm soát y tế: Phụ nữ phải khám sức khỏe định kỳ bởi bác sĩ quân y. Nếu nhiễm bệnh, họ bị cách ly hoặc điều trị bắt buộc. Hệ thống này mang tính thực dụng thuộc địa, coi phụ nữ như một “công cụ” để duy trì sức chiến đấu của quân đội.

Khi tướng De Lattre ra quyết định đổ quân để xây dựng căn cứ Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt quân Việt Minh. Quân Pháp đã đưa một số BMC (bao gồm phụ nữ Việt và Algeria) bằng máy bay đến Điện Biên Phủ. Giúp mấy ông lính thú đóng đồn ở vùng này xả xú-bắp. Nhưng khi trận đánh nổ ra, nhiều phụ nữ Việt trong BMC tình nguyện chuyển sang làm y tá, cứu thương. Chăm sóc thương binh dưới bom đạn và hỗ trợ bệnh xá, băng bó vết thương. Sau khi Pháp thất bại, họ bị Việt Minh bắt. Nhiều người bị xét xử, cải tạo, nhục mạ và tra tấn vì bị coi là “kẻ tiếp tay cho thực dân”. 


Sau này, người Pháp chỉ nói đến một phụ nữ duy nhất có mặt tại căn cứ Điện Biên Phủ là bà y tá tên Genevieve de Galard. Bà ta muốn nhắc đến các phụ nữ trong binh đoàn hộ lý cho lính pháp nhưng được nhà cầm quyền Pháp ngăn cản. Trong cuốn phim Putains de Guerre, có bà người Maroc kể là người ta đến làng của bà kêu gọi đi Việt Nam kiếm tiền nên đi theo, sau bị thương nên được chữa trị và hồi hương.


Các nguồn tài liệu như (Michel Bodin, hồi ký bác sĩ Grauwin, ông bác sĩ này mình có gặp ăn cơm vài lần ở Paris, rất dễ thương với tướng Bigeard và tướng Raoul Salan. Bà Geneviève de Galard…) gọi họ là “những anh hùng bị lãng quên” của Điện Biên Phủ, dù trước đó họ bị xã hội khinh miệt.


Hệ thống nhà thổ BMC là biểu tượng của chủ nghĩa thực dân Pháp, trong đó phụ nữ bản xứ bị coi là “tài nguyên” phục vụ quân đội. Nhiều nghiên cứu hiện đại nhấn mạnh yếu tố cưỡng bức, buôn người, và lạm dụng vị thành niên. Làm nghề hộ lý này cũng bị dính bệnh tật, bạo lực, thai nghén ngoài ý muốn, và bị kỳ thị khi trở về cộng đồng. Nhiều phụ nữ Việt trong BMC gặp khó khăn lớn trong việc hòa nhập xã hội sau 1954. Một số theo lính Pháp sang Pháp hoặc các thuộc địa khác (có cộng đồng nhỏ “Senegalese Vietnamese wives” hoặc tương tự). Bên Maroc có một cái làng Việt-Maroc vì mấy ông lính Maroc, sang Việt Nam lấy vợ Việt Nam đem về xứ. Lần sau đi Maroc, mình sẽ ráng ghé viếng ngôi làng này.


Ngày nay chúng ta có thể lên án này nọ nhân danh đạo đức ở thế kỷ 21 nhưng vào thời đó, tư duy rất khác như thời Hy Lạp, các nhà hiền triết như Aristotle, Plato, Socrates, đều chấp nhận vai trò các kẻ nô lệ. Đối với người Pháp, thì họ thường miêu tả mang tính thực dụng (duy trì moral des troupes) hoặc hoài niệm (exotisme). Ông Michel Bodin và các sử gia khác ghi nhận vai trò của họ nhưng vẫn trong khuôn khổ lịch sử quân sự. Có thể có mấy nhà thổ giúp lính pháp không đi hiếp dâm bậy bạ ngoài đường hay làng mạc. Trong cuốn phim kể trên, có ông kể có bà đầm than phiền là có mấy cô gái giang hồ, ông ta giải thích nhờ vậy mà các cô trong làng hay tành phố không bị chọc ghẹo khi lính ra trại.


Ngày nay, có biết bao nhiêu căn cứ quân đội Hoa Kỳ trên thế giới, mình chắc chắn sẽ cũng có các nhà thổ gần căn cứ mỹ để giúp binh lính mỹ xả sú-bắp nếu không có thể xảy ra nhiều phiền phức như có nghe nhiều lần lính mỹ hiếp dâm mấy cô gái người Nhật gần căn cứ mỹ.


Trong cuốn phim cũng nói đến khi lính Mỹ đóng ở vùng Evreux, Pháp quốc sau đệ nhị thế chiến thì có nhiều cô gái pháp bán sương vì có lính mỹ, gây thêm tang vỡ nhiều gia đình vì dính thai lai mỹ. Ở Pháp, mình có kể vụ trong suốt 4 năm lính Đức quốc xã chiếm đóng, người ta gọi là “collaboration horizontale”, nôm na là hợp tác trên giường của các cô gái pháp. Đói quá, nên phải ngủ với kẻ thù khiến sau này có đến trên 200,000 con lai Đức quốc, bị nguyền rủa, cũng như các cô gái hợp tác trên giường với lính đức, bị cạo đầu bêu xấu trước đám đông. Sau này, người ta nói trớ đi là các cô hy sinh cơ thể để kiếm tin tức cho quân đội kháng chiến pháp.


Còn người Việt thì ít được ghi chép công khai, thường gắn với tội ác thực dân, bóc lột phụ nữ, và bi kịch chiến tranh. Họ là nạn nhân của cả hai bên xung đột. Trong khi ngày nay,  các học giả như (Marie Robin, Christian Henriot…) nhấn mạnh khía cạnh giới, quyền lực thuộc địa và bạo lực tình dục trong chiến tranh. Mình nghe kể trên đường mòn Hồ Chí Minh, khi xưa cũng có rất nhiều cô gái hộ lý, giúp các bộ đội vào nam lên tinh thần.


Mình tìm được tài liệu của ông  Michel Bodin được viết qua vài cuốn sách nên ghi chú lại đây cho ai thích nghiên cứu lịch sử thay vì lên án:

« Parc à buffles » là một khu bordel quân sự khổng lồ ở Chợ Lớn (khu phố người Hoa của Sài Gòn), hoạt động chủ yếu từ cuối những năm 1940 đến giữa những năm 1950.

  • Nó nằm dọc theo đại lộ Gallieni, Sàigòn 
  • Đây là một phức hợp rộng lớn được tổ chức cho quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương, nhằm kiểm soát mại dâm và hạn chế bệnh lây truyền qua đường tình dục ở binh lính (các cô gái phải khám sức khỏe định kỳ).
  • Hàng trăm phụ nữ làm việc trong điều kiện sơ sài (các cabin vải, giường gỗ). Nó được gọi tên như vậy một cách mỉa mai hoặc so sánh với khu chuồng trại chăn nuôi gia súc, do quy mô công nghiệp (« trung tâm giết mổ lớn » theo một số lời kể).
  • Đây là một phần trong hệ thống các cơ sở giải trí (nhà thổ, tiệm hút thuốc phiện, v.v.) được quân đội Pháp dung túng hoặc quản lý thời bấy giờ. Sau năm 1955, khi quân Pháp rút đi, cơ sở này đã biến mất. Hình như chính phủ Ngô Đình Diệm dẹp vụ này.
  • Ngày nay không còn dấu vết gì; đây là một địa điểm lịch sử được nhắc đến trong các hồi ký về Chiến tranh Đông Dương, ký ức của binh lính và các tác phẩm về thời kỳ thuộc địa/cuối sự hiện diện của Pháp tại Việt Nam.


Có phim tài liệu về nhà thổ tại Việt Nam, Algérie, Bosnia của nó thực hiện. Ai biết tiếng pháp thì xem cho qua ngày. Putains de Guerre của đài Pháp.

https://youtu.be/WGQ_HAQUQxU?is=cE4HEajRB6vyOfmZ


Dưới đây là cái nhìn tổng quan về lời chứng của các binh sĩ Pháp (và các đơn vị khác thuộc CEFEO) trong Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), tập trung vào bối cảnh « Parc à buffles » và đời sống hàng ngày (khoái lạc, BMC, tinh thần binh lính). Những câu chuyện này xuất phát từ hồi ký, lưu trữ quân sự, sách lịch sử và phỏng vấn. Chúng thường thô ráp, e dè hoặc mang tính hoài niệm, phản ánh không khí thời đại.

Về « Parc à buffles » (BMC khổng lồ ở Chợ Lớn/Sài Gòn)

  • Đây là một nhà thổ quân sự dã chiến (BMC) khổng lồ trên đại lộ Gallieni, là cơ sở dành cho quân đội. Một sĩ quan kể: « Chỉ riêng cảnh tượng đã đáng giá chuyến đi… » (mô tả quy mô và sự nhộn nhịp). Hàng trăm phụ nữ (chủ yếu người bản xứ Đông Dương) làm việc trong những cabin sơ sài với giường gỗ và một thùng nước để rửa ráy.
  • Michel Bodin (nhà sử học dựa trên nhiều lời chứng) mô tả nó như một « trung tâm giết mổ lớn » phục vụ « mọi sở thích và mọi túi tiền ». Binh lính đến đây để nghỉ ngơi sau chiến trận, với kiểm soát y tế định kỳ nhằm hạn chế bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  • Một trung sĩ (tại ngũ 1948-1951) nhắc đến các thực hành thông thường trong BMC, trong đó có Parc, kết hợp giữa sự kỳ lạ và thói quen vệ sinh.
    người Pháp gửi bưu thiếp về cho người thân kể về nhà thổ.

Ví dụ cụ thể từ lời chứng (André Calves, nhập ngũ 1951-1952) Trong hồi ký viết tay của mình, ông kể lại một câu chuyện trực tiếp từ một người bạn đồng đội tái nhập ngũ tại Sài Gòn (tháng 7/1952):

« Tối qua tao đã quyết tâm đụ cho đã. […] Không phải ở Parc à buffles, mà ở nhà thổ trong trại. Cô ta bảo: “đã hơn mười một giờ rồi, đưa tao thêm 20 piastre.” […] Như thằng ngu tao lại đưa thêm hai mươi piastre. Chúng tao cọ qua cọ lại một chút, khi tao cương cứng tốt, tao lật cô ta lại một phát. Nhưng ngay khi cô ta cảm nhận đầu con cặc của tao cọ vào đít, cô ta nhảy dựng lên. […] Tao bị mất tiền oan. Xui xẻo thật! »

Điều này minh họa cho cuộc sống hàng ngày bình thường, những cuộc mặc cả và nỗi thất vọng trong các nhà thổ địa phương hoặc trong trại.


Lính Lê Dương của Pháp về nước dưỡng sức thì chắc chắn nhà thổ cũng đâu đó gần đây. Có ông tây kể ở Algerie có nơi, hai bên hai cái quán rượu và ở giữa là độn mãi dâm


Các lời chứng khác rộng hơn về cuộc chiến

  • Đời sống tình dục và tinh thần binh lính: Các báo cáo của Sở Y tế và lời chứng do Michel Bodin thu thập nhấn mạnh vai trò quan trọng của BMC và « con gái » (quan hệ với phụ nữ Việt) đối với tinh thần quân đội. Nhiều binh sĩ lý tưởng hóa phụ nữ Đông Dương (vẻ duyên dáng, dịu dàng) đồng thời nhắc đến rủi ro (bệnh tật, thất vọng). Quân Bắc Phi và Lính Lê dương đôi khi có BMC riêng.
  • Tại Điện Biên Phủ: Phụ nữ trong BMC đôi khi hỗ trợ như y tá tạm thời. Bác sĩ chỉ huy Grauwin và Geneviève de Galard đã chứng kiến sự tận tụy anh hùng của họ bên cạnh thương binh, trước khi bị bắt và chịu số phận bi thảm dưới tay Việt Minh.
  • Tổng quát: Nhiều cựu binh nhắc đến nỗi buồn chán, nỗi sợ hãi, sự kỳ lạ, thuốc phiện, rượu và nỗi nhớ « Mal jaune » (sự gắn bó với xứ sở dù trong chiến tranh). Các câu chuyện thường e dè về chuyện tình dục, nhưng rất phong phú trong lưu trữ (SHAT) về sức khỏe và tinh thần.

Những cuốn sách mà các bác có thể tìm đọc nếu muốn hiểu rõ hơn về một thừoi tỏn g lịch sử cận đại của Việt Nam.

  • Michel Bodin, Le plaisir du soldat en Indochine (1945-1954) (bài nghiên cứu chi tiết kèm lời chứng).
  • M.S. Hardy, De la morale au moral des troupes ou histoire des BMC.
  • Hồi ký như của André Calves hoặc P. Giudicelli (Médecins de bataillon en Indochine).
  • Phim tài liệu Putains de guerre (Stéphane Benhamou, 2013) với các đoạn phim và phỏng vấn về BMC ở Đông Dương. Mình có tải đường dẫn phía trên. Nói tiếng pháp.

Chán Mớ Đời 


Mình tìm được hai tấm ảnh của bà Nguyễn THị Minh Khai, không dính dáng gì đến bài viết. Để đây để nhớ khi nào cần thì mò ra để xoá trên máy vì quá nhiều hình ảnh.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chữa ung thư theo Press-Pulse Protocol của tiến sĩ Thomas N. Seyfried,

 Press-Pulse Protocol của tiến sĩ Thomas N. Seyfried


https://en.wikipedia.org/wiki/Thomas_N._Seyfried


Dạo này, có người thân bị ung thư nên mình tìm tài liệu về cách chữa trị mới để xem có gì lạ vì cách chữa trị hiện nay được các bác sĩ áp dụng trị liệu không thành công nhiều. Kỹ nghệ y khoa ngày nay là trên hàng ức mỹ kim nên khó thay đổi vì mất quyền lợi của các công ty dược phẩm và thực phẩm. Họ hỏi các bác sĩ Gia-nã-đại chuyên gia về ung thư, có nên cho người thân hay chính họ trị liệu với phương pháp hiện thời thì 76% trả lời không. 


Có nhiều phương cách trị liệu “lậu” vì không được chính phủ chấp thuận. Lý do là cơ quan FDA chỉ cho phép vài pháp trị liệu. Có ông bác sĩ ở Florida chữa hết bệnh ung thư nhưng FDA cấm, thưa kiện đủ trò. Được biết mỗi bệnh nhân ung thư điều trị thì tốn độ $500,000/ bệnh nhân nên nhà thương hay bác sĩ không muốn thay đổi trị liệu pháp khác. Lâu rồi mình xem một phim tài liệu, kể vụ ông Mỹ đem vợ qua Đức quốc để điều trị ung thư qua phương pháp truyền sinh tố C, chỉ tốn $10,000 cho một tháng trị liệu. Ngay chị vợ của ông ta cũng làm theo phương pháp này và lành bệnh. Chỉ tốn $10,000 tiền túi còn chữa trị tại Hoa Kỳ có bảo hiểm hay Medicare nhưng cũng phải bỏ tiền túi nhiều gây gia đình banh ta lông vì tài chánh. 

Mình nhờ AI so sánh quan điểm của giáo sư Seyfried và cách chữa bệnh ung thư hiện nay, đi sau các nghiên cứu khám phá của khoa học.


Có giáo sư Thomas Seyfried tại Boston College nghiên cứu về trị bệnh ung thư mà người ta gọi là Press-Pulse Protocol hay còn được gọi Protocol của ông Seyfried. Theo lời ông ta kể thì có nhiều nơi trên thế giới liên lạc với ông ta vì muốn mở bệnh xá để chữa trị ung thư với giao thức của ông.


Mình có xem podcast nhiều bác sĩ và bệnh nhân được điều trị khỏi bệnh ung thư qua protocol của ông Seyfried thêm đọc các comments thì có nhiều người nói là họ hay người thân chữa trị theo phương pháp của ông ta. Có mấy bác sĩ chữa theo phương pháp này và cần sự cộng tác của bác sĩ của bệnh nhân vì cần sự đồng ý của bác sĩ gia đình. Ai buồn đời thì theo dõi podcast do các bác sĩ và bệnh nhân chữa bệnh theo protocol của ông Seyfried. Và thành công chữa được bệnh ung thư.


https://youtu.be/pm2ia_Nsfc8?is=dzsvtOIkp2xhHAHy


Có ông kêu bác sĩ kêu hóa trị thì sống được 5 tháng còn giải phẫu thì 18 tháng. Ông ta hết đường binh xập xám, cù lũ nên theo phương pháp này theo như phép lạ, còn sống hơn 18 tháng. Chán Mớ Đời 


Mình xem nhiều podcast phỏng vấn ông ta nên xin tóm tắc lại đây: 

Theo giáo sư Seyfried thì gần như toàn bộ cách chúng ta nhìn nhận về ung thư sẽ phải thay đổi nhưng cần rất nhiều thời gian. Khi xưa người ta nghĩ trái đất đứng một chỗ và các hành tinh khác quay vòng vòng xung quanh địa cầu. Đến khi có người nghĩ là thái dương hệ, xoay xung quanh mặt trời thì có người bị giết chết vì được xem là bị quỷ nhập hay phản đức Chúa. Theo ông, y học hiện đại đã dành hơn 50 năm tập trung chủ yếu vào đột biến gene, trong khi bỏ qua nguyên nhân sâu xa hơn nằm ở chuyển hóa năng lượng của tế bào.


Ông ta kể có bà tiến sĩ nào ở Ohio, muốn cứu hai đứa trẻ bị ung thư, nên dùng ý tưởng của tiến sĩ Otto Warburg, người đức mà mình có kể rồi. Bà ta cho hai đứa bé ăn theo chế độ dinh dưỡng ketogenis, chất đạm nhiều, kết quả mấy tháng sau chúng lành bệnh. Ông Seyfried hỏi ông Warburg là ai nên tìm kiếm các nghiên cứu của ông này thì bắt đầu nghiên cứu thêm về chữa bệnh ung thư.


Ông Seyfried cho rằng trong nhiều thập niên qua, quan điểm chủ đạo là:

  • DNA bị đột biến
  • Gene bị hỏng
  • Gene làm tế bào tăng sinh
  • Kết quả là ung thư.

Ông cho rằng các lập luận này mới chỉ mô tả điều xảy ra, chứ chưa chắc là nguyên nhân đầu tiên gây ra ung thư. Ông đặt câu hỏi: “Tại sao gene lại đột biến?” Và nghĩ có thể chính sự hỏng hóc của hệ thống tạo năng lượng trong tế bào khiến DNA trở nên bất ổn. Gene có thể là hậu quả, không phải nguyên nhân ban đầu.Ông Seyfried nhấn mạnh vai trò của ty thể, lý do là mọi tế bào khỏe mạnh đều dựa chủ yếu vào các ty thể để tạo năng lượng.


Ty thể giống như nhà máy điện, lò phản ứng, pin sinh học và chuyển thức ăn thành ATP (Adenosine Triphosphate). Nếu ty thể bị tổn thương lâu dài tế bào phải chuyển sang phương pháp tạo năng lượng kém hiệu quả hơn là lên men glucose (glycolysis). Theo ông Seyfried, chính sự chuyển đổi này là nền tảng của nhiều loại ung thư.


Ông Seyfried nhắc đến hiệu ứng Otto Warburg, người đoạt Nobel Prize về Physiology hay Medicine mà mình đã có kể. Ông Warburg quan sát thấy: ngay cả khi có đủ oxy, tế bào ung thư vẫn tiêu thụ lượng glucose rất lớn và tạo năng lượng bằng con đường lên men. Điều này trái với tế bào bình thường.


Ông Seyfried cho rằng ông Warburg đã phát hiện đúng vấn đề từ gần 100 năm trước, nhưng sau đó cộng đồng khoa học chuyển trọng tâm sang nghiên cứu gene khi công nghệ sinh học phát triển. Hiệu ứng Warburg là một hiện tượng được xác nhận rộng rãi trong giới khoa học. Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu xem đây là một đặc điểm của ung thư, chứ chưa kết luận nó là nguyên nhân khởi phát của mọi ung thư.


Ông Seyfried đặt câu hỏi: “Tại sao chụp PET có thể phát hiện khối u?” Lý do là bác sĩ tiêm vào cơ thể một dạng glucose được đánh dấu phóng xạ. Khối u hấp thu glucose rất mạnh giúp máy PET nhìn thấy khối u. Nếu ung thư không phụ thuộc nhiều vào glucose thì PET scan sẽ không hiệu quả như vậy. Người khác kêu lý giải của ông Seyfried đúng đối với nhiều loại ung thư, nhưng không phải tất cả. Một số khối u hấp thu glucose thấp nên PET dùng FDG không phải lúc nào cũng phát hiện tốt.


Nếu đường là thức ăn cho tế bào ung thư thì câu hỏi được đặt ra là “Nếu cắt đường thì ung thư chết?” Không đơn giản như vậy vì tế bào ung thư sử dụng chủ yếu:

  • glucose
  • glutamine

Glucose chỉ là một phần cho nên nếu chỉ giảm glucose, khối u vẫn có thể sử dụng glutamine. Do đó ông cho rằng muốn tạo áp lực chuyển hóa mạnh cần tác động đồng thời vào cả hai nguồn nhiên liệu. Phụ thuộc vào glutamine đã được ghi nhận ở nhiều loại ung thư, nhưng mức độ khác nhau giữa từng loại và từng bệnh nhân. Chưa có bằng chứng cho thấy mọi ung thư đều đáp ứng giống nhau với việc hạn chế các nguồn nhiên liệu này.


Do đó điều trị ung thư không nên chỉ nhắm vào gene mà còn phải nhắm vào chuyển hóa. Khoan nhìn vào gene trước, nên xem tế bào đang tạo năng lượng như thế nào. Câu hỏi  mà mình nghĩ khi đọc tin tức về glucose liên quan đến ung thư, vậy chỉ cần ngừng ăn đường là có chữa được ung thư không? Theo ông Seyfried thì không, không đơn giản như nông dân như mình suy nghĩ.


Theo ông Seyfried thì cơ thể luôn cần glucose, cho dù bạn không ăn một gram carbohydrate nào, cơ thể vẫn tạo ra glucose. Vụ này khiến mình lại ngu thêm. Vì trước đó đã nghe bác sĩ nói là lá gan tạo 80% số lượng chất béo mà cơ thể cần tỏng ngày, nay lại nghe đến Glucose. Mình nhớ khi leo núi Machu Picchu, mình thử không ăn tinh bột, theo chế độ dinh dưỡng Keto. Đi một tuần xong thì thấy xuống cân nhưng khi về Cali đi thử máu thì khám phá ra đường lên. Lúc đó mới hiểu là khi cơ thể bị stress nhiều vì leo núi thì cơ thể tự tạo thêm glucose.


Gan sẽ sản xuất glucose từ protein, chất đạm, glycerol từ chất béo, và các cơ chế chuyển hóa khác. Điều này rất cần thiết vì hồng cầu gần như chỉ dùng glucose, một số vùng của não vẫn cần glucose, nhiều mô khác cũng cần một lượng glucose tối thiểu. Do đó, mục tiêu không phải đưa đường huyết về 0, mà là giảm xuống mức sinh lý thấp nhưng vẫn an toàn. Trước đây mình nghĩ là cứ giảm đường xuống nhiều càng tốt nhưng trật lấy. Chán Mớ Đời 


Như ông Seyfried giải thích khi nhịn ăn hoặc ăn theo chế độ dinh dưỡng ketogenic nghiêm ngặt, gan tạo ra các thể ketone như: beta-hydroxybutyrate, và acetoacetate. Các mô khỏe mạnh, đặc biệt là não, tim và cơ, có thể sử dụng ketone để tạo năng lượng. Theo ông Seyfried, phần lớn tế bào bình thường thích nghi khá tốt với ketone.


Tại sao ketone gây bất lợi cho tế bào ung thư? Ông Seyfried cho rằng nhiều tế bào ung thư có ty thể hoạt động kém, nên không sử dụng ketone hiệu quả, vẫn phụ thuộc chủ yếu vào glucose và glutamine. Đại khái như chiếc xe của mình bị hư nhưng vẫn cố gắng đổi nhiên liệu khác. Một số nghiên cứu tiền lâm sàng ủng hộ giả thuyết này, nhưng không phải mọi loại ung thư đều có khả năng sử dụng ketone kém. Một số nghiên cứu cho thấy một số khối u vẫn có thể thích nghi với ketone. Vì vậy, đây chưa phải là kết luận áp dụng cho mọi ung thư.


Ông Seyfried sử dụng chỉ số GKI (Glucose Ketone Index) GKI = glucose (mmol/L) ÷ ketone (mmol/L) thay vì chỉ nhìn đường huyết. Ông cho rằng cần đánh giá đồng thời:

  • glucose máu,
  • ketone máu.

Theo ông:

  • GKI cao → môi trường thuận lợi hơn cho khối u.
  • GKI thấp → tạo áp lực chuyển hóa lớn hơn lên tế bào ung thư.


Ông thường nhắc đến mục tiêu khoảng 1–2 trong bối cảnh nghiên cứu và điều trị chuyển hóa. GKI là chỉ số do Seyfried và cộng sự viên đề xuất để theo dõi liệu pháp chuyển hóa. Nó được dùng trong nhiều nghiên cứu nhỏ, nhưng chưa phải là tiêu chuẩn điều trị được các hướng dẫn ung thư lớn áp dụng.


Nhịn ăn có vai trò gì trong quá trình chữa bệnh ung thư. Theo ông Seyfried, nhịn ăn giúp giảm lượng Glucose (Glucose có chữ Glu là keo nên khi trong cơ thể là dính khắp nơi), giảm Insulin, gia tăng Ketone, giúp kích hoạt các cơ chế thích nghi của tế bào bình thường. Ông cho rằng điều này có thể khiến tế bào bình thường chịu đựng tốt hơn một số liệu pháp điều trị, trong khi tế bào ung thư dễ bị tổn thương hơn. Vấn đề là bệnh nhân có nên tự nhịn ăn kéo dài như ông thần nào bên Anh quốc nhịn ăn hơn một năm trời. Ông Seyfried nhấn mạnh rằng các chiến lược này cần được cá nhân hóa và theo dõi, đặc biệt ở bệnh nhân ung thư vì nhiều người đã suy dinh dưỡng hoặc sụt cân. Không phải ai cũng phù hợp với nhịn ăn hoặc ketogenic nghiêm ngặt.


Ở bệnh viện USC, có ông tiến sĩ người Ý Đại Lợi nghiên cứu về nhịn ăn hoặc chế độ “fasting-mimicking” kết hợp hóa trị, với một số kết quả hứa hẹn về khả năng dung nạp và tác động sinh học. Tuy nhiên, bằng chứng vẫn còn hạn chế và chưa đủ để trở thành điều trị chuẩn.


Nếu chế độ dinh dưỡng ketogenic không đủ để tiêu diệt ung thư, vậy bước tiếp theo là gì? Theo ông Seyfried thì chúng ta phải kết hợp nhiều áp lực chuyển hóa mà ông ta gọi đó là Press–Pulse Strategy.


Ông cho biết muốn đánh bại một đội quân mạnh, chúng ta không chỉ ném một quả bom. Điển hình là tại chiến trường Ukraina, chúng ta thấy hai bên đều tìm cách cắt nguồn tiếp tế, cắt nhiên liệu như phá huỷ các nhà máy lọc dầu, phá đường vận chuyển, sau đó mới tung đòn quyết định. Điều trị ung thư cũng nên như vậy.


Ông ta giải thích “Press” nghĩa là tạo áp lực liên tục lên tế bào ung thư như theo chế độ dinh dưỡng ketogenic, nhịn ăn gián đoạn, giảm insulin, giảm glucose, giảm viêm và giảm các hormone kích thích tăng trưởng như đang siết dần chiếc vòng quanh khối u.


Điều quan trọng là Press không nhất thiết tiêu diệt tế bào ung thư ngay. Mục tiêu là làm chúng yếu đi. Sau khi tế bào ung thư đã bị “ép”, mới đến “Pulse”. Pulse là những đợt điều trị ngắn nhưng mạnh như: hóa trị, xạ trị, oxy cao áp (HBOT), một số thuốc tái sử dụng (repurposed drugs). Lý do là nếu chỉ dùng Pulse, khối u còn khỏe. Nếu có Press trước, khối u dễ bị tiêu diệt hơn.


Khi glucose thấp, tế bào ung thư đã chịu stress. Nếu lúc đó tăng lượng oxy, các gốc oxy hóa (reactive oxygen species) có thể tăng lên. Vấn đề là khi lượng glucose giảm thì tế bào ung thư chưa chết vi khối u còn có thể dùng Glutamine được xem là “nhiên liệu thứ hai” vì tạo năng lượng, tổng hợp nucleotide, tổng hợp amino acid, duy trì tăng sinh. Lúc đầu mình tưởng chỉ cần giảm lượng glucose và tiếp tế sinh tố C sẽ giúp tiêu diệt các tế bào ung thư nhưng không dễ dàng.


Glutamine là amino acid (chất đạm ) rất quan trọng. Nếu thiếu quá mức: hệ miễn dịch giảm, cơ teo, và bệnh nhân suy kiệt. Thay vì ngưng cho bệnh nhân ăn protein, có thể dùng các thuốc ức chế chuyển hóa glutamine. Ông nhắc tới một số thuốc và hợp chất đang được nghiên cứu nhằm hạn chế khả năng tế bào ung thư sử dụng glutamine. Các thuốc nhắm vào chuyển hóa glutamine đang được nghiên cứu trong các thử nghiệm lâm sàng đối với một số loại ung thư. Tuy nhiên, đến nay chưa có thuốc nào trở thành liệu pháp chuẩn áp dụng rộng rãi chỉ dựa trên cơ chế này.


Ông Seyfried cho biết nếu phát minh thuốc mới thì rất đắt, mất nhiều năm phát triển và khó tiếp cận trong khi đó, nhiều thuốc cũ: đã biết rõ độc tính, giá rẻ và có thể tác động lên chuyển hóa. Ông cho rằng nên nghiên cứu nghiêm túc khả năng phối hợp những thuốc này với liệu pháp chuyển hóa, nhưng không khuyến khích người bệnh tự ý sử dụng.


Ông Seyfried ví việc tấn công gene giống như chữa bệnh ung thư như đóng một con đường thì khối u có thể mở đường khác để đi như di căn vì có thể tạo nên các mạch máu mới. Nhưng nếu khối u thiếu nhiên liệu, thiếu năng lượng, chịu stress oxy hóa, chịu hóa trị thì khả năng thích nghi sẽ khó hơn. Do đó chuyển hóa là nền tảng của mọi tế bào. Ông ta không nói chế độ dinh dưỡng ketogenic chữa ung thư. Nhưng chế độ dinh dưỡng ketogenic chỉ là một phần của một chiến lược lớn hơn. Chế độ ăn, nhịn ăn, các liệu pháp chuyển hóa, thuốc và điều trị ung thư nên được phối hợp một cách khoa học thay vì xem chúng là các lựa chọn đối lập.


Vai trò của “metabolic therapy” trong ung thư. Ung thư không chỉ là bệnh gene mà là bệnh hệ thống năng lượng tế bào. Do đó điều trị nên bao gồm: kiểm soát glucose, kiểm soát insulin, kiểm soát môi trường chuyển hóa, kết hợp điều trị tiêu chuẩn.


Câu hỏi mình đặt ra là nếu đúng, tại sao các tổ chức ung thư lớn không áp dụng. Ông Seyfried trả lời theo hướng lịch sử: ngành ung thư đã đầu tư hàng chục tỷ đô vào nghiên cứu Gene . Mỗi ca bệnh ung thư là nhà thương và bác sĩ lãnh trung bình $500,000. Thêm nữa mô hình “cancer is genetic disease” đã thống trị 40–50 năm, họ cứ cho là Gene của gia đình do đó muốn thay đổi mô hình khoa học luôn rất chậm. Khoa học không thay đổi vì một ý tưởng hay, mà thay đổi khi bằng chứng đủ lớn và áp lực đủ mạnh.


Những người ngu lâu dốt bền như mình khi đọc tài liệu hay xem phỏng vấn có thể nghĩ chỉ cần ăn uống theo chế độ dinh dưỡng keto là chữa được ung thư. Nhưng qua xem phỏng vấn cuộc nói chuyện của ông Seyfried thì hiểu lầm nguy hiểm. Tương tự có nah bạn kể là ngừoi thân của anh ta bị ung thư rồi nghe ai đó nói là uống baking soda là tạo dựng Alkeline trong cơ thể là hết bệnh rồi ngủm luôn. Chế độ dinh dưỡng Ketogenic không thay thế phẫu thuật, không thay thế hóa trị, không thay thế xạ trị. Nó chỉ là một công cụ hỗ trợ chuyển hóa. 


Từ 6 năm qua, mình đọc thêm tài liệu và xem phỏng vấn các giáo sư đại học y khoa đã giúp mình hiểu thêm tí gì bệnh ung thư. Cách tốt nhất là ngừa bệnh hơn chữa bệnh. Vì khi bị bệnh thì nhiều thầy lắm ma. Quýnh quá rồi ai nói cái gì cũng đâm đầu vào thử mọi cách. Từ mấy năm nay mình nhịn đói 24 tiếng ngày thứ 2 vì cuối tuần thường ăn mệt nghỉ. Cứ 3 tháng thì nhịn ăn 3 ngày, 72 tiếng như tuần. Mỗi tháng truyền sinh tố để coi mình thiếu gì không. Còn khi trời kêu thì dạ thôi. Quang tọng nhất là tập thể dục, đi bộ mỗi ngày, ăn uống theo chế độ Ketogenic, bớt ăn chè, tinh bột. Lâu lâu thèm thì ăn một tị. Do đó cứ 3 tháng phải nhịn ăn 3 ngày để reset lại cơ thể vì nhiều khi ham quá ăn mệt thở. Từ nay chắc sẽ không đi du thuyền vì chỉ ăn mệt thở. Chán Mớ Đời 


Chế độ ăn Keto (Ketogenic Diet) là chế độ ăn rất ít carbohydrate (carb), nhiều chất béo và vừa phải protein, nhằm đưa cơ thể vào trạng thái ketosis. Trong trạng thái ketosis:

  • Bình thường cơ thể đốt glucose từ tinh bột và đường để lấy năng lượng.
  • Khi lượng carb giảm xuống khoảng 20–50 g/ngày, gan sẽ chuyển chất béo thành ketone bodies.
  • Não, cơ và nhiều cơ quan khác bắt đầu sử dụng ketone thay cho glucose làm nguồn năng lượng chính.


Tỷ lệ dinh dưỡng điển hình:

  • 70–75% calo từ chất béo
  • 20–25% từ protein
  • 5–10% từ carbohydrate


Ví dụ với khẩu phần 2.000 kcal/ngày:

  • Chất béo: khoảng 155–165 g
  • Protein: khoảng 100–125 g
  • Carb: 20–50 g


Thực phẩm nên ăn: chất béo lành mạnh:

  • Dầu ô liu
  • Quả bơ
  • Dầu bơ
  • Dầu dừa
  • Các loại hạt (hạnh nhân, óc chó, mắc ca)


Protein:

  • Thịt bò
  • Thịt gà
  • Cá hồi
  • Cá mòi
  • Trứng
  • Hải sản


Rau ít tinh bột:

  • Rau bina
  • Bông cải xanh
  • Súp lơ
  • Măng tây
  • Dưa leo
  • Bí ngòi


Sữa:

  • Phô mai
  • Kem tươi
  • Sữa chua Hy Lạp không đường


Thực phẩm cần tránh:

  • Cơm
  • Bánh mì
  • Khoai tây
  • Bắp
  • Đường
  • Nước ngọt
  • Bánh kẹo
  • Hầu hết trái cây ngọt (chuối, xoài, nho…)


Nghiên cứu cho thấy keto có thể:

  • Giảm cân, đặc biệt trong 6–12 tháng đầu.
  • Cải thiện kiểm soát đường huyết ở một số người mắc Đái tháo đường típ 2 (cần được bác sĩ theo dõi nếu đang dùng thuốc).
  • Giảm triglyceride.
  • Tăng HDL (“cholesterol tốt”).
  • Giảm cảm giác đói ở nhiều người.


Ngoài ra, keto đã được sử dụng từ gần 100 năm nay để hỗ trợ điều trị một số trường hợp Động kinh kháng thuốc, đặc biệt ở trẻ em. Những điều cần lưu ý: trong vài ngày đầu, nhiều người gặp hiện tượng gọi là “keto flu”:

  • Mệt
  • Đau đầu
  • Chuột rút
  • Chóng mặt
  • Táo bón

Nguyên nhân chủ yếu là mất nước và điện giải. Uống đủ nước và bổ sung natri, kali, magiê (nếu phù hợp) thường giúp giảm triệu chứng. Có phù hợp với mọi người không? Không hẳn. Keto có thể không phù hợp hoặc cần được giám sát y tế ở những người:

  • Đang mang thai hoặc cho con bú.
  • Mắc bệnh gan hoặc tụy.
  • Có một số rối loạn chuyển hóa hiếm gặp.
  • Đang dùng thuốc điều trị đái tháo đường hoặc huyết áp (vì nhu cầu thuốc có thể thay đổi nhanh khi bắt đầu keto).

Keto và sức khỏe lâu dài. Bằng chứng hiện nay cho thấy:

  • Keto có thể rất hiệu quả để giảm cân và cải thiện một số chỉ số chuyển hóa trong ngắn đến trung hạn (khoảng 6–24 tháng).
  • Chưa có đủ bằng chứng chất lượng cao để kết luận rằng keto vượt trội hơn các chế độ ăn lành mạnh khác về lợi ích lâu dài đối với tuổi thọ hoặc bệnh tim mạch.
  • Chất lượng thực phẩm rất quan trọng: một chế độ keto dựa trên cá, dầu ô liu, quả bơ, các loại hạt và nhiều rau ít tinh bột thường được xem là có lợi hơn so với keto dựa chủ yếu vào thịt chế biến sẵn, bơ và thực phẩm chế biến.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn