Hiển thị các bài đăng có nhãn Ở Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ở Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Vợ tôi làm vũ nữ

 Vợ tôi làm vũ nữ


Nhớ mấy chục năm trước, đi ăn cưới cô em họ, thấy mấy bà lớn tuổi hơn mình, bận áo quần bú xua la mua, lên sân khấu múa may quay cuồng. Với tư duy nông dân, mình cho đó là già mất nết như mấy người ngồi cạnh bàn. Ai ngờ 20 năm sau, đến tuổi của họ, mình cũng mất nết nhiều khi còn phá kỹ lục của họ. Chán Mớ Đời 

Đồng chí gái song tấu với cô cháu nha sĩ, về hưu

Người Việt giải trí cuối tuần không như người Mỹ. Khi xưa thì đi nghe ca sĩ hát ở sòng bài hay mấy chương trình ca nhạc hội, nay thì có lẻ nghe ca sĩ nhiều nên thiên hạ muốn tự làm ca sĩ, bắt thiên hạ nghe mình rên rĩ khi hát karaoke. Thường mình thấy ca sĩ đang rống trên sân khấu, mấy bà phi thân lên, nhảy múa chả thấy ca sĩ đâu hết.


 Người Mỹ thì họ giải trí như đi xem opera, xi-nê, nghe nhạc thính phòng hay dàn nhạc âm hưởng này nọ hay kịch nói hoặc nhạc kịch broadway. Mấy cái này thì người Việt sang đây, nhiều khi không rành tiếng anh lắm nên không thích như chỉ thích ăn phở thay vì hamburger, khoai tây chiên.


Hát karaoke cứ bị máy cho điểm 0 nên họ Chán Mớ Đời, mướn Onemanband để đánh đàn cho họ hát, họ cho rằng mấy ông thần này đánh theo nhịp của họ, chớ hát đuổi karaoke thì không ô kê. Họ thi nhau lên tặng hoa bú xua la mua, tiền boa cho các nhạc sĩ trên sân khấu, đang cố gắng theo nhịp của ca sĩ trên đài danh vọng. Họ tổ chức ở nhà hàng loe ngoe vài thực khách, đến uống chai bia lên hát một bài “anh đã lầm đưa em sang đây” để nhớ lại tuổi dại khờ, chạy đôn chạy đáo bảo lãnh em gái hậu phương sang Hoa Kỳ rồi sau khi có giấy tờ, thì sugar you you go, sugar mê me go. Chán Mớ Đời 


Có nhiều người thích lối nhạc thính phòng nên họ tụ tập tại nhà ai trong garage, vài chục người trả tiền $25/người, ngồi ghế đẩu đợi phiên mình hát 1 bài mất 3 tiếng đồng hồ. Sau đó giải lao, ăn cháo gà rồi vô ngồi đợi thêm 3 tiếng để hát tiếp thêm 1 bản rồi ra về. Do đó họ hay đến sớm để về sớm, nhưng cũng mất trên 3 - 4 tiếng đồng hồ. Xem như từ 5 giờ chiều đến khuya. Có vợ chồng anh bạn quen ở Ý Đại Lợi khi xưa, rủ tham gia. Mình đến 2 lần để đồng chí gái hát rồi sợ luôn. Lý do là trong garage chật có 400 sqft, mà phải thở thán khí của mấy người trong suốt 3 tiếng đồng hồ, chưa kể họ đánh rấm này nọ, không ai nghe vì nhạc to đùng. 


Thật ra người Mỹ chơi nhạc thính phòng tại tư gia, là có người đàn dương cầm rồi thiên hạ hát, còn người Việt mình thì nhét dưới garage, nóng chết bỏ thêm dàn âm thanh cực đỉnh nên từ thính phòng biến thành biên phòng. Kinh


Đi ăn tiệc mà có hát hò, chúng ta sẽ nhận ra ngay những người nào muốn giết mình không bằng gươm bằng dáo. Họ chỉ xúi mình lên sân khấu để hát để thiên hạ chửi mình. Trong bài “3 bà mẹ chồng” của bạn AVT khi xưa, có câu 2 cô sĩ có khen nhau bao giờ,… nên tên nào hay ả nào mà khen chúng ta hát hay là dân đâm sau lưng chiến sĩ.


Đúng hơn thì chả ai nghe ai, ngoại trừ mình vì mình không biết hát, lại ngại đám đông. Ngồi xem họ trình diễn tạo nên cái đẹp “Tân hiện thực” trong ánh sáng mờ ảo như phim của đạo diễn người Ý Đại Lợi, Federico Fellini. Mấy ca sĩ nghiệp dư thì cứ soạt soạt cái điện thoại di động để nhớ ca từ của bài hát mà họ sắp trình diễn. Lớn tuổi nên họ không nhớ ca từ nên phải cầm điện thoại đọc theo nên phần diễn đạt cảm xúc hơi bị trơ.


Đa số toàn là trên 7 bó, có một bà trên 9 bó cũng lên hát. Sợ bị lây bệnh nên người nào người nấy đều mang theo cái bùa, microphone-trang, khẩu trang cho micro vì sợ say mê hát quá rồi đụng cái micro phone, vi khuẩn của ca sĩ trước. Sau này mình để đồng chí gái đi một mình nhưng cô nàng lại ngại lái xe về khuya nên đồng chí gái cũng ngưng luôn sau vụ làm vũ nữ bất đắc dĩ. Mình tuổi con gà nên đi ngủ sớm.


Có chị bạn ở Việt Nam, nay theo con sang Hoa Kỳ. Mỗi lần tụi này về Sàigòn thì chị ta bố trí ở Penthouse trên nhà cao tầng, thấy phong cảnh từ trên cao khắp Sàigòn, kêu tài xế chở cả gia đình muốn đi đâu trong ngày tới tối chở về. Chị ta rủ đồng chí gái hát chung, hát bè chi đó cho cuối tuần. Chị ta với vợ của một ca-nhạc-sĩ danh tiếng khi xưa, đến nhà mình tập dợt chi đó. Đi vườn về thì mình thất kinh khi thấy 3 bà bận áo đủ màu, vừa hát vừa múa, cứ bà rằn bà rí như trên sân khấu sòng bài. Tuần đó mình xin cáo ở nhà, xem phim tài liệu. Hôm sau, đồng chí gái kêu hát chưa xong còn múa máy. Chán Mớ Đời 


Nhìn một cách tích cực thì về già, có nhiều người tìm ra tài năng hát hò hay cái gì đó để tiêu khiển. Có anh quen, thứ 7 nào cũng đi với bà vợ đến hát. Kêu là có khán giả khiến anh ta phê, hát có hồn hơn. Có cặp vợ chồng quen từ thời ở Ý Đại Lợi, cả tuần hai chồng tập dượt để cống hiến cho thân hữu những bài Bolero đương đại.


Về già, thường ký ức xa xưa gợi về nên họ nhớ đến những bản nhạc, nói lên ký ức của họ về một cuộc tình sáng nắng chiều mưa, hay một bóng hồng nào đã mà họ trồng cây-si. Âm nhạc là phương thức truyền đạt những ký ức mời gọi về của họ. Có lần đến nhà thân hữu, thấy một chị hát rất hay và mình hiểu lý do chị ta hay hát bản ruột của chị “đừng nhìn em nữa anh ơi….” Người chị ta béo trùng trục nên ông bồ cũ mà gặp lại thì chắc cũng bỏ chạy mất dép.


Đồng chí gái nghe lời thân hữu gia nhập hội tây ban cầm cao niên nên cứ 2 tháng là có trình diễn ở trung tâm người cao tuổi của thành phố Fountain Valley. Mình phải bỏ một ngày làm vườn để đi cổ động tinh thần dấn thân của đồng chí gái từ 2 năm nay. Ban đêm thì mình cũng động viên cô nàng khi đang ngủ bị đánh thức dậy, hỏi thấy vợ anh giỏi không. Mắt nhắm mắt mở cũng nhất trí.


Mình không ngờ ngày nay, tối đi ngủ lại được vợ đánh đàn hát bên tai, lâu lâu lên dây đàn răn-rắc khiến mình phải quặn người theo dây đàn. Cô nàng sợ ma nên không dám ngồi một mình ở phòng khách nên vác đàn vào phòng ngủ rồi tưng tưng tích tịch tình tang ai đưa công chúa lên hang, yêu tôi hay yêu đàn bên tai mình. Được cái là mình nghe tiếng đàn của vợ, giúp mình ngủ ngay đưa về miền quán khứ.


Mình có kể vụ âm nhạc giúp người lớn tuổi sinh động, nhớ thêm, ít bị bại não nên khi đồng chí gái ghi tên học đàn là mình hoan hô 10000%. Chỉ có vụ làm vũ nữ thì hơi kẹt. May làm một lần thì cô nàng dẹp bỏ mộng làm vũ nữ vì sợ có cái kết như cô Cẩm Nhung khi xưa.

https://youtu.be/D6tbzY2-KDw?feature=shared


Tuần rồi, thấy cô nàng trình diễn, thấy tiến bộ hơn năm vừa rồi nên cũng mừng. Mỗi ngày mình dẫn vợ đi bộ 3-4 cây số nên cô nàng ngủ ngon, ít ngáy bên tai như gọi đò trên sông Hương trong đêm trường, mình không phải thức khuya mới biết đêm dài. Bác nào muốn giúp trí nhớ mình không bị lộn xộn về già thì nên tham gia các lớp nhạc. Hoặc muốn làm vũ nữ thì mình sẽ giới thiệu đại gia Sàigòn xưa. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Đi tìm một nữa của mình

 Đi tìm một nữa của mình

Khi xưa, đọc truyện tiểu thuyết bà Tùng Long, thấy bà này hay nói đến đi tìm một nữa của mình nên chả hiểu gì cả. Đến khi qua pháp thì đọc thêm về các huyền thoại hy-lạp thì mới thất kinh. Đa số các huyền thoại hy-lạp đều là đề tài của nền văn mình tây phương như người Việt mình hay nhắc đến sự tích 100 cái trứng.


Tò mò mình kiếm sách như Illiad, Ulyssus qua lời kể của Homer, hay Symposium (Bữa tiệc) của Plato (Platon) qua lời kể của nhà hài kịch Aristophanes… đọc để khi nói chuyện với người Pháp thì còn hiểu được, chớ khi họ nói ví von về những huyền thoại hy-lạp hay những gì trong thánh kinh mà đực ra như ngỗng ị thì mất mặt người Việt tỵ nạn. Có lần trong khi nói chuyện với đầm, chả hiểu sao mình nhớ đến cuốn “ Horace” của Pierre Corneille mà khi xưa ông tây bắt học như học sinh trường Việt, học Kim Vân Kiều khiến mình Chán Mớ Đời. Buồn đời mình kêu “mon coeur est romain, hélas! Je suis Sabin” cho nó vần”ain” và “in”. Thật ra trong cuốn Horace thì bà vợ người Sabine, kêu “Je suis romaine, hélas ! puisque mon époux l'est” nhưng mình chế thêm khiến tây đầm kêu hay hay hay.


Theo huyền thoại của hy-lạp thì thời xa xưa, con người vốn không phải như hiện nay. Ban đầu có ba loại người:

  • Nam – Nam (sinh từ Mặt Trời) không biết có phải khi xưa đã có đồng tính, vì khi ở Pháp, người Pháp hay nói đến người huy-lạp có rất nhiều người đồng tính 
  • Nữ – Nữ (sinh từ Đất), lesbian? Phụ nữ yêu phụ nữ
  • Nam – Nữ (sinh từ Mặt Trăng) tức là người lưỡng tính

Mỗi người có hình dạng tròn, có 4 tay, 4 chân, 1 đầu với 2 mặt, Có 2 bộ phận sinh dục và di chuyển bằng cách lăn. Mình không hiểu vì đã có 4 chân nhưng có lẻ hai chân đi tới và 2 chân đi ngược, nên phải lăn. Họ rất mạnh mẽ, kiêu ngạo và dám tấn công các vị thần trên đỉnh Olympus. Vì quá mạnh và kiêu ngạo, loài người dám tấn công cả các vị thần trên đỉnh Olympus. Thần Zeus lo sợ, bèn họp hội đồng thần linh để bàn cách xử lý. Cuối cùng Zeus quyết định:“Ta sẽ chẻ chúng ra làm đôi. Như vậy chúng sẽ yếu đi một nửa, mà số lượng lại tăng gấp đôi, nên sẽ có nhiều lễ vật dâng lên ta hơn.” Zeus dùng sét chẻ đôi từng người. Sau đó ông bảo thần Apollo:

  • Xoay mặt của mỗi nửa về phía trước (về phía vết cắt), có lẻ vì vậy mà phía trước thường phẳng lì, không hiểu sao phụ nữ lại có hai quả dưa phì ra. Không thấy họ nói đến.
  • Kéo da lại và khâu ở giữa bụng (tạo thành cái rốn)
  • Nếu chúng vẫn còn ngang ngược, Zeus sẽ chẻ tiếp lần nữa, để chúng phải nhảy lò cò bằng một chân như độc cước đại hiệp.

Từ đó, mỗi nửa con người luôn khao khát tìm lại nửa còn lại của mình như thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn. Khi tìm được, họ ôm lấy nhau rất chặt, muốn hòa làm một như thuở ban đầu, thậm chí sẵn sàng chết vì nhau nếu không được ở bên như Juliette và Romeo.


Aristophanes giải thích: người thuộc giống Nam ban đầu sẽ tìm đàn ông (tình yêu đồng giới nam), người thuộc giống Nữ ban đầu sẽ tìm phụ nữ (tình yêu đồng giới nữ), người thuộc giống lưỡng tính sẽ tìm người khác giới (tình yêu dị tính). Đó chính là nguồn gốc sâu xa của tình yêu và khát vọng “một nửa của mình”. Mình thấy nhiều người quen, trên 7 bó, lỡ lần đò mà ngày nay vẫn đi kiếm một nữa của mình. Nghe họ kể là lái xe đường quốc lộ số 1, dọc bờ biển đến 1, 2 giờ sáng, nghe nhạc tây. Mình tưởng là về già thì chắc chả muốn đi tìm ai nữa. Hoá ra người ta vẫn cô đơn, cần sự hiện diện của một người bạn để đối ẩm, trò chuyện hay nhiều khi chả cần nói năng gì cả, chỉ cần sự hiện diện của một người tâm giao bên cạnh, đủ thấy bình yên.


Aristophanes không chỉ kể chuyện để giải trí. Ông muốn nói rằng: Tình yêu thực chất là nỗi nhớ về sự hoàn chỉnh đã mất. Mình chưa thấy phụ nữ nào, không bắt ông chồng làm theo ý mình, để hoàn chỉnh họ, giúp đời họ tốt hơn. Con người vốn dĩ không phải là cá thể độc lập hoàn toàn, mà luôn mang trong mình khát vọng trở về trạng thái “một thể”. Nếu không sẽ bắt chước Tuấn Vũ hát “người yêu cô đơn”, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng có thai, yêu ai cũng có bầu,..


Từ đó, mỗi nửa con người luôn khao khát tìm lại nửa còn lại của mình. Khi tìm được, họ ôm lấy nhau không rời, muốn hòa làm một như thuở ban đầu. Đó chính là nguồn gốc của tình yêu và khát vọng “đi tìm một nửa của mình”. Huyền thoại này giải thích tại sao con người luôn cảm thấy thiếu vắng và muốn tìm kiếm người “định mệnh”. Nó cũng là nguồn gốc của khái niệm soulmate (bạn tâm giao / một nửa linh hồn) trong văn hóa phương Tây. Nôm na là khao khát một mối tình hữu nghị, sông liền sông, núi liền núi.


Nếu có thể viết lại huyền thoại của hy-lạp, mình sẽ nói con người khi xưa, không nhất quán với chính mình vì hai nữa của mình cứ chống chọi với nhau suốt 24 tiếng mỗi ngày nên phải bò đến thần Zeus nhờ chẻ làm đôi, tách ra. Họ sẽ đi tìm người bạn tâm giao sau này nhưng một khi không hợp nhau nữa thì sẽ ly dị.


Đi tìm một nữa, có thể là một người con trai, đồng tính, hay một người con gái (lesbian) hay người khác giới tính như khi xưa người lưỡng tính. Thời đó, Plato chưa nghĩ đến chuyện ly dị, có lẻ khi xưa, lấy nhau là họ ăn đời ở kiếp còn ngày nay thì vui thì ở, buồn thì đi.


Họ đã tìm thấy đúng nửa còn lại của mình. Họ yêu nhau sâu sắc và không muốn rời xa nhưng dù có ở bên nhau cả đời, họ vẫn mãi mãi là hai cơ thể riêng biệt. Họ không bao giờ có thể thực sự “hòa làm một” như thuở nguyên thủy nữa. Nếu họ hoà hợp được, ít khắc khẩu, có cùng một chủ đích trong tương lai thì sẽ ăn nên làm ra, còn không thì lụn bại, mất hết tiền bạc, và đưa nhau ra toà, ly dị, hát bài nghìn trùng xa cách.


Chính vì vậy, tình yêu vừa là niềm hạnh phúc lớn nhất, vừa là nỗi day dứt không bao giờ nguôi. Nó là khát vọng về sự toàn vẹn đã mất, một khát vọng mà con người sẽ mang theo đến hơi thở cuối cùng. Đây chính là lý do Aristophanes cho rằng tình yêu không chỉ là chuyện cảm xúc hay dục vọng, mà là nỗi nhớ về chính bản thân mình đã bị chia cắt. Nôm na như ngày này, là ký ức ngày xưa và hiện tại. Chúng ta luôn luôn có những hoài niệm về miền quá khứ, để so sánh với hiện tại. Nổi ray rức ấy sẽ đi với chúng ta hết suốt cuộc đời.


Lấy vợ được 35 năm thì mình thấy đi tìm phần nữa của mình thì hơi ba-láp, ba-sàm. Phải định nghĩa lại là đàn ông ngu, đi tìm người để mình xung phong làm ô-sin, làm người chồng nhân-dân. Chán Mớ Đời


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Nhà thơ Ocean Vương

Nhà thơ gốc Việt Ocean Vương


Có lần em họ của đồng chí gái từ San Jose xuống thăm con học đại học UCLA, tối hai cha con ngủ lại nhà mình. Sáng ra, mình đi tập Đông Phương Hội về thì gặp thằng cháu ngồi đọc sách trong thư viện của mình. Nó nói không ngờ đọc được cuốn sách anh ngữ về chiến tranh Việt Nam rất thú vị, khám phá nhiều điều khá hay, xa lạ chưa bao giờ biết. Sau đó mình ngồi nói chuyện với nó, thằng con và người em họ.


Mình giải thích thêm về chiến tranh Việt Nam, mình phải đọc sách báo Hà Nội, Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà, pháp ngữ,…. Để có một nhận định rõ hơn một tí thay vì chủ quan theo một chiều. Rồi câu chuyện xoay qua giới trẻ người Mỹ gốc việt. Mình nói đến thế hệ sau này có nhiều người đã vào dòng chính Hoa Kỳ, đã can đảm nói lên sự hội nhập của người Việt tỵ nạn. Có nhiều người đã không đi theo con đường mà đa số phụ huynh mong muốn là con học y khoa, nha khoa, hay tối thiểu là kỹ sư mà đi theo con đường về khoa học nhân văn như Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương khiến thằng cháu ngạc nhiên, không ngờ mình biết đến những người này. Mình nói phải theo dõi chớ để xem người Việt cống hiến vào mảnh đất đã cưu mang họ, cũng như mình đọc sách xuất bản từ Hà Nội để hiểu thêm về văn hoá Việt Nam ngày nay.


Bố nó thì ngọng, kêu không biết gì về chiến tranh, lịch sử Việt Nam hay văn chương mỹ hiện đại. Trẻ hơn mình, vượt biển khi còn bé. Sang đây đi học ra kỹ sư làm cho IBM đến giờ. Không biết gì về lịch sử Việt Nam cận đại. Nên khi con hỏi thì người em họ ngọng thôi. Mình nói thằng cháu là mình không thích hát karaoke nên khi rảnh thì đọc sách báo cho qua ngày tháng.


Tuần này mình mới mua đọc cuốn sách mới ra của nhà thơ Ocean Vương có tựa đề “The Emperor of Gladness” (hoàng đế của niềm vui). Rất hay thường ông này ra sách về thơ của ông ta như cuốn sách bán chạy On Earth We’re Briefly Gorgeous và The Emperor of Gladness. Ông ta là người Việt thứ 2, nhận được MacArthur “Genius Grant” và giáo sư dạy sáng tác văn chương tại New York University. Người đầu tiên là bác Huỳnh Sanh Thông, chống đối chính sách mỹ tại Việt Nam nên bị trù dập không tìm được việc tại Hoa Kỳ, sau được đại học Yale, mướn và bác dịch Kim Vân Kiều, và CHinh Phụ Ngâm ra anh ngữ.


Mình đọc cuốn sách của ông ta xoay quanh việc làm thế nào để tìm thấy ý nghĩa, mục đích sống, phẩm giá và giá trị bản thân khi ta cảm thấy lạc lối, bế tắc hoặc bị đè nặng bởi mặc cảm, đặc biệt là những mặc cảm xuất phát từ nghèo khó, thân phận của người ngoài cuộc, mất mát hay áp lực xã hội. Được biết tên việt là Vương Quang Minh, chắc gốc người Tàu tại Việt Nam. Sau này, khi vào quốc tịch, mẹ ông ta đổi tên là “Ocean”, có nghĩa đại dương nối hai bờ biển Việt Nam và Hoa Kỳ. Lý do là khi làm việc ở tiệm nail, một hôm khách hàng hỏi mẹ ông ta là trời nắng, sau làm việc, bà làm gì, mẹ ông ta kêu go to the beach, đi biển nhưng với giọng nước mắm của bà ta nên nghe như “go to the bitch”, bitch tiếng lóng có nghĩa là một cô điếm khiến bà khách hàng chới với. 


Ông ta cho biết là bà ngoại khi xưa có lấy một người lính mỹ tham chiến tại Việt Nam, ông ta có chân trong đội kèn đồng, ban quân nhạc. Có 3 người con, sau ông ta về Hoa Kỳ thăm gia đình thì bị kẹt luôn trước 75. Mẹ ông ta lai nên chế độ mới đì, nên cả nhà phải vượt biển và đến Hoa Kỳ, định cư tại Hartford, tiểu bang Connecticut.


Bố mẹ ông ta ly dị, sau này bà mẹ đi thêm bước nữa, có một người em trai cùng mẹ khác cha. Cách đây 7 năm thì mẹ ông ta qua đời vì ung thư. Có lẻ hít hoá chất khi làm nail nên ông ta viết cuốn “time is a Mother”. Ông ta hiện nay, là giáo sư về môn văn chương tại đại học danh tiếng New York, NYU.


Nghe ông ta kể là ông dượng, chồng sau của mẹ ông ta, vượt biển sau 7 ngày trên biển, đến Hoa Kỳ. Đi làm công nhân cho hãng xưởng, từ 3 giờ chiều đến 12 giờ sáng. Đi làm về, ông trân trọng cởi cái áo của hãng có tên của ông ta là Ngọc, lên tường. Ông ta rất hãnh diện và nói là làm ở đây, ông ta có bảo hiểm y tế. Ông Ocean Vương cho biết, trẻ nhìn cuộc đời của bố dượng thì Chán Mớ Đời, đây là giấc mơ Hoa Kỳ hay sao. Nhưng đối với ông dượng thì quá tốt, khá hơn nhiều cuộc sống tại Việt Nam. Cho thấy giá trị cuộc đời được định nghĩa tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi người. Có thể một người khác sẽ chê cuộc đời ông bố dượng nhưng đối với ông ta là một hạnh phúc, được đi làm, chủ cho bảo hiểm y tế. Những ý thức như vậy khi sống với người binh dân, nghèo khiến giúp ông ta có chất liệu để suy gẫm và viết về những người bình thường.


Ông ta kể sống lên từ bé trong hoàn cảnh nghèo khó với bà mẹ đơn thân. Ăn housing, section 8, ông ta đi làm khi còn bé cho nhà nông trồng thuốc lá, được trả lương cao này nọ nhưng một hôm bà mẹ nói phải đi làm cho MacDonalds vì nếu không thì hai mẹ con sẽ mất trợ cấp Housing. Lúc đó, ông ta mới nhận thức cái vòng lẩn quẩn của xã hội Hoa Kỳ. Khi ăn housing trợ cấp thì con người khó thoát ra khỏi cái vòng ấy để vươn lên trong xã hội, thực hiện giác mơ Hoa Kỳ. Ông ta kể trong khu vực ông ta ở, có nhiều người trẻ muốn giúp gia đình nhưng không muốn gia đình mất trợ cấp nên làm chui hay buôn sì-ke, ma tuý và đưa đến bắn chết nhau hay vào tù.


Ông ta kể khi bà mẹ bị ung thư, ông ta có hỏi bà mẹ là kỷ niệm đáng nhớ nhất của hai mẹ con. Bà mẹ trả lời là khi hai mẹ con ngồi trong xe trên bãi đậu xe và ăn chicken Nuggets của MacDonalds. Cho thấy cuộc đời chúng ta cứ nghĩ đến chuyện cao sang nhưng kỷ niệm rất đơn sơ. Nhắc đến vụ này thì đối với mình kỷ niệm đáng nhớ với mẹ mình là khi hai mẹ con đi chơi ở Nhật Bản. Chỉ có hai mẹ con, lần đầu tiên mình được mẹ kể chuyện ngày xưa, thời còn bé ở Huế. Tương tự ngày nay, cô em mình nghỉ hưu ở nhà chăm sóc mẹ mình. Cô em cho rằng đó là quyết định đúng đắn nhất, vì chăm sóc mẹ, vì trước đây bận công ăn việc làm. Mỗi tuần nói chuyện với mẹ mình thì bà cụ cảm thấy hạnh phúc vì có cô em chăm sóc rất kỹ lưỡng. Đó cũng là cái Diễm phúc của cô em mình.


 Nói đến ăn gà khiến mình nhớ thời mới phát hiện ra mối tình hữu nghị của đồng chí gái, cuối tuần mình chạy xe xuống Quận Cam, đưa đồng chí gái đi chơi. Mình đưa cô nàng vào tiệm ăn Pollo Loco , (gà điên), mình đem theo mấy coupon mua 2 tặng 1. Cả hai ăn ngấu nghiến. Ngày nay thì có đi ăn tiệm sang nhưng có lẻ kỷ niệm đẹp nhất vẫn là ăn gà điên. Nói lên mối tình hữu nghị sông liền sông, đùi gà liền cánh gà. Chán Mớ Đời 


Ocean Vuong chia sẻ nhận thức, kỷ niệm từ chính cuộc đời mình, một người Mỹ gốc Việt đồng tính, lớn lên trong cảnh nghèo khó tại Hartford, Connecticut, được nuôi dưỡng chủ yếu bởi những người phụ nữ mù chữ anh văn làm nghề làm móng tay. Vùng này có nhiều người Việt tỵ nạn sinh sống khi xưa. Mình có vẽ một ngôi chùa cho gia đình phật tử ở vùng này. Anh ta nhìn nhận nghịch cảnh không chỉ là đau khổ, mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng sự sáng tạo, sức bền và khả năng đổi mới của con người.


Người ta hỏi ông ta một cuộc đời có ý nghĩa là gì thì theo Ocean Vuong, một cuộc đời ý nghĩa không phải là liên tục chứng minh giá trị của mình với bản thân hay người khác, không phải leo lên đỉnh núi của thành tích, cũng không phải tìm mọi cách để thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại. Điều quan trọng là “Hãy tìm thấy sức mạnh và giá trị ngay tại nơi chúng ta đang đứng.” Nơi chúng ta đang sống lúc này đã đủ để trở thành một con người có giá trị. Không ai cần phải “thoát ra” mới xứng đáng được yêu thương hay tôn trọng. Phải công nhận từ ngữ ông ta dùng để diễn đạt trong cuốn sách rất hay dù trẻ tuổi. Ông ta tập thiền phật giáo nên có lẻ ảnh hưởng chánh niệm phật giáo.


Ông Ocean nói rằng sự xấu hổ (shame) hiện diện khắp nơi, đặc biệt đối với người lao động nghèo và những người luôn cảm thấy mình là kẻ ngoài cuộc. Ông ta kể lại ký ức thời thơ ấu khi mẹ mình phải trả lại những quả cà chua tại siêu thị vì không đủ tiền mua. Đó là một ký ức nhỏ nhưng chứa đựng nỗi nhục nhằn mà người nghèo thường phải chịu đựng.


Theo ông ta: Phẩm giá (dignity) là khả năng sống mà không bị xấu hổ về chính con người mình. Điều đó có nghĩa là chấp nhận mọi phần của bản thân, kể cả những điều xã hội gọi là thất bại, và biết trân trọng chính hành trình đã tạo nên con người mình. Ông ta cũng phân biệt: Xấu hổ về bản thân (shame of being) với cảm giác mình vốn dĩ là người tồi tệ. Đây là loại xấu hổ phá hủy con người và xấu hổ về hành động (shame of actions), nhận ra mình đã làm điều sai. Loại xấu hổ này có thể thúc đẩy sự trưởng thành và thay đổi tích cực.


Ông ta cho rằng ngôn ngữ là sức mạnh, cho rằng ngôn ngữ hằng ngày từ quảng cáo, chính trị đến những khẩu hiệu doanh nghiệp, thường được sử dụng để thao túng, hạ thấp hoặc kiểm soát con người. Trong khi đó, thi ca và ngôn ngữ được lựa chọn một cách có ý thức có thể:

  • khơi dậy vẻ đẹp,
  • đánh thức sự kỳ diệu,
  • trả lại phẩm giá cho con người.

Toàn bộ văn chương của ông ta là nỗ lực sử dụng ngôn ngữ để khẳng định giá trị của bản thân và của cộng đồng. Người ta thường hỏi ông ta định nghĩa lại thành công và ý nghĩa của “sống không uổng”. Ông Ocean phản bác quan niệm phổ biến tại Hoa Kỳ, rằng thành công đồng nghĩa với việc vươn lên địa vị cao hơn hoặc thoát khỏi tầng lớp lao động. Ông ta nhắc rằng rất nhiều người lao động cả đời vẫn sống trong hoàn cảnh bình thường nhưng cuộc sống của họ lại vô cùng giàu có bởi:

  • tình yêu, có nhau bên đời
  • sự chăm sóc lẫn nhau khi đau ốm
  • trách nhiệm với gia đình,
  • sự hy sinh cho nhau. Ông ta kể có nhiều đại học ở âu châu mời ông ta dạy, lương cao hơn nhưng ông ta từ chối vì ở Hoa Kỳ, ông ta có thể chở bà ngoại đi bác sĩ, giúp người dì, hay chơi bóng rổ với người em, tiểu gia đình của ông ta. Lý do ông ta là người đầu tiên tốt nghiệp đại học trong đại gia đình nên cam r thấy trách nhiệm rất nhiều đối với mẹ, em, bà ngoại, và các dì không rành tiếng anh.

Với họ, thành công không phải là giàu có hay nổi tiếng, mà là hoàn thành trách nhiệm và sống đúng với những giá trị của mình như trường hợp ông bố dượng. Một câu trong tiểu thuyết của ông ta gây nhiều suy ngẫm: “Điều khó khăn nhất trên đời là chỉ được sống một lần.” (The hardest thing is we live only once). Câu nói này không cổ vũ lối sống You Only Live Once “YOLO” bất chấp tất cả, mà nhắc nhở chúng ta hãy sống cẩn trọng, có ý thức và trân trọng từng ngày.


Ocean Vương đưa ra một cách nhìn rất khác mà ông ta gọi nó là: “Hệ miễn dịch của kẻ mạo danh.” (Imposter Syndrome). Thay vì xem đó là một khiếm khuyết cần loại bỏ, ông ta coi nó là: cơ chế bảo vệ, sự tỉnh táo, động lực để sáng tạo, lời nhắc phải luôn khiêm tốn và có trách nhiệm. Việc cảm thấy mình là người ngoài cuộc trong những môi trường ưu tú đôi khi phản ánh một sự căng thẳng đạo đức đáng được gìn giữ, chứ không phải điều cần xóa bỏ. Nếu mình nghèo rồi muốn lật đỗ bọn nhà giàu, là sai. Có lẻ chúng ta nên học tính khiêm nhường với mọi người xung quanh.


Ông Vương có nhắc đến “Văn hóa sợ bị quê” (Cringe Culture) và nỗi sợ thất bại trong xã hội ngày nay với các mạng xã hội lan tràn. Ông ta cho rằng mạng xã hội khiến nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, luôn sợ mình sẽ bị chế giễu hoặc bẽ mặt trước công chúng. Nỗi sợ ấy khiến họ như bị tê liệt, nhất là chủ nghĩa thức tĩnh, khiến họ không dám thử điều mới, không dám sáng tạo, không dám thất bại. Cũng như nói lên những gì mình ấp ủ, muốn lên tiếng vì sợ gán cho cái phù hiệu kỳ thị chủng tộc hay Nazi. Những cụm từ này bị con-hoang-hoá (bastardization), chụp mũ một cách vô lý, gán cho những tên nhãn hiệu vô cớ này.


Trong lớp học sáng tác của mình, ông ta luôn xem thất bại là một phần không thể thiếu của quá trình học hỏi. Theo ông ta, sáng tạo giống như làm thí nghiệm trong phòng lab. Không có thất bại thì sẽ không có đổi mới hay chữa lành. Chúng ta nợ nhau điều gì? Ông Ocean cho rằng điều con người thật sự cần dành cho nhau không chỉ là sự đồng cảm thụ động. Chúng ta cần:

  • lòng tử tế, trong cuốn phim chuyện tử tế, đạo diễn Trần Văn Thuỷ có nhắc đến lòng tử tế của người xưa mà xã hội ngày nay đã đánh mất. Ông trần Văn Thuỷ làm cuốn phim này mà suýt bị bắt, may thay ông ta gửi chui đợi thi ở bên Đông Đức và đoạt được giải nên không đi tù, vì ông ta tính nếu không được giải thì có lẻ đã ở lại bên Đông Đức vì về Việt Nam là bị bắt.
  • sự bao dung, sự đồng cảm khác với lòng tử tế, vì sự đồng cảm, compassion chỉ nhận thức thôi trong khi lòng tử tế đưa đến hành động. Tôi thấy anh nghèo đói khổ nên đồng cảm nhưng lòng tử tế đưa đến hành động như chị Thuỳ Giang nào trên mạng, mỗi tuần thấy chị ta nấu ăn rồi đi phân phát cho người vô gia cư.
  • sự hiện diện, khi người thân cần đến mình. Như trường hợp cô em mình ngủ hưu sớm vì nghĩ mẹ mình cần cô ta chăm sóc kỹ hơn.
  • khả năng thật sự lắng nghe và chăm sóc nhau. Hàng ngày chúng ta cứ gặp nhau, hỏi dăm câu trời nắng trời mưa, rồi đường ai nấy đi nhưng nếu chúng ta bỏ thêm thời gian, đứng lại hỏi thêm về cuộc sống của họ, nghe họ thật sự kể về cuộc sống của họ.

Chính những khoảnh khắc rất nhỏ, một cuộc trò chuyện chân thành, một người chịu lắng nghe, hay việc hướng sự chú ý khỏi nỗi đau của bản thân để quan tâm tới người khác, mới là điều tạo nên ý nghĩa cuộc sống. Ông ta dùng hình ảnh:“Viên sỏi và những gợn sóng.” Hãy quay trở lại với đứa trẻ bên trong mình, nhớ lại hy vọng và ý định ban đầu của nó. Đó là nguồn sức mạnh có thể lan tỏa thành những vòng sóng tích cực đến người khác.


Ông Ocean Vương chia sẻ thêm nhiều quan điểm đáng nhớ:

  • Xây dựng và chữa lành luôn chậm chạp hơn rất nhiều so với phá hủy. Tình nghĩa vợ chồng được xây dựng rất lâu nhưng có thể bị đánh đỗ, phá huỷ rất nhanh chóng.
  • Cuộc sống luôn chứa đựng cả vẻ đẹp lẫn nỗi đau; hai điều ấy có thể cùng tồn tại.
  • Đừng mãi cố leo lên “đỉnh núi” của thành tựu. Hãy bước xuống để sống trọn vẹn trong đời thường, trong gia đình và các mối quan hệ. Nhiều người chạy theo công danh để rồi một ngày nhận ra sự vô thường thì đã quá muộn.
  • Hãy chấp nhận nỗi sợ như dấu hiệu của sự trưởng thành.
  • Nhưng đừng bao giờ sợ chính con người mình.
  • Hãy dám chấp nhận rủi ro, kể cả khả năng bị xấu hổ hay thất bại.

Cuốn sách khuyên chúng ta:

  • ngừng phán xét vị trí hiện tại của mình; ông ta có nói đến một đêm, trước khi đi ngủ, bà mẹ nói với ông ta, mẹ xin lỗi, mẹ đã cố gắng hết sức nhưng không thoát khỏi cảnh nghèo khổ, cuộc sống mẹ đơn thân tại Hoa Kỳ.
  • buông bỏ áp lực phải trở thành một con người khác;
  • học cách đối diện với mất mát mà không khép kín trái tim; ông ta mất bà mẹ qua bệnh ung thư nhưng không khép kín trái tim, viết cuốn sách về thời gian là mẹ.
  • tìm lại phẩm giá và giá trị vốn có của bản thân. Chúng ta hay so sánh bản thân với những người khác. Không cần, vì trên thế gian có người giàu có người nghèo. Nếu họ giàu thì chúc phúc cho họ. Người ta giàu ăn cơm với cá, còn mình nghèo thì bắt võng ở đầu vườn bơ để ăn bơ.

Khi xưa, mình cũng trải nghiệm về người ta đánh giá mình về cái tội nghèo từ bé ở Đà Lạt. Đến nhà mấy tên học chung thường ít được mời vào nhà. Lớn lên, quen mấy cô bạn gái thì bị gia đình họ khinh vì không phải là bác sĩ, nha sĩ. Khi mình bắt đầu đi học đầu tư địa ốc, bạn bè, gia đình bên vợ cười nhất là mấy ông anh bác sĩ. Nhưng đó làm nguồn lửa, động lực giúp mình vượt qua. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nah  

Dùng liệu-pháp miễn dịch trị ung thư

 Dùng liệu-pháp miễn dịch trị ung thư

Mình có mua một cuốn sách của bác sĩ William Li, nói về ăn uống để trị bệnh, thấy rất có lý. Lâu rồi mình có xem phim về nữ bác sĩ đầu tiên đại hàn trong hoàng cung thì thấy các đại y chữa bệnh cho vua đều qua thức ăn. Nữ diễn viên đóng vai bác sĩ đẹp như ba-tây, nhưng sau này nghe nói cô ta tự tử nên chả hiểu ra sao. Người xưa hay nói “bệnh tòng khẩu nhập”, nghĩa là bệnh đều gây ra do những gì mình ăn hay uống vào. Do đó các danh y khi xưa đều cho ăn hay uống những gì có khả năng chữa trị. Ai buồn đời thì xem podcast sau đây:


https://youtu.be/LgsJ3V9pIG0?is=UZfErkFtSALHU5KA


Theo mình hiểu đại khái như ăn những gì “âm” như cá thì người xưa, thêm gừng thuộc dạng “dương” để bảo hoà như ăn sushi thì ăn thêm gừng. Người tây phương cũng làm tương tự như khi họ ăn thức ăn “âm” như cá thì họ uống rượu trắng (dương) còn khi ăn thịt (dương) thì họ uống rượu đỏ (âm). Mình hay thấy thân hữu người Việt, người Mỹ tại Hoa Kỳ ít ai để ý đến vấn đề này, cứ thấy uống đủ loại rượu rồi bia hằm bà lằn rồi thêm đá. Tây thấy là khóc như mưa bay. 


Có lần nghe một bài thuyết trình của bác sĩ Li, ông ta kể đã cứu mẹ ông ta thoát bệnh ung thư ở giai đoạn 4 bằng liệu-pháp miễn dịch, một phương thức đã được điều trị cho cựu tổng thống Jimmy Carter sống thêm cả 10 năm. Ông ta cố gắng sống lâu để đi bầu cho bà Kamala trước khi tắt thở. Ông bác sĩ kể là đã từng mất hai người chú về bệnh ung thư; một người chết vì ung thư đại tràng, người kia chết vì ung thư gan. Dù là bác sĩ, ông cũng không thể làm gì để cứu họ. 


Mười lăm năm sau, nghiên cứu ung thư đã tiến bộ rất nhiều, các nhà khoa học phát hiện ra điều đáng kinh ngạc. Hệ miễn dịch của chúng ta không chỉ chống lại virus và vi khuẩn, nó cũng có thể chống lại ung thư. Khám phá đó đã thay đổi hoàn toàn quan điểm của bác sĩ Li về y học. Rồi ung thư lại tấn công gia đình ông, mẹ ông 80 tuổi bị chảy máu âm đạo bất thường. Bác sĩ phát hiện một khối u. Bà phải phẫu thuật cắt bỏ tử cung và buồng trứng. Bác sĩ chẩn đoán là ung thư nội mạc tử cung và đề nghị giải phẫu. Sau phẫu thuật và xạ trị, mọi người hy vọng ung thư đã biến mất. Vài tháng sau… Nó tái phát. Chán Mớ Đời 


Tế bào ung thư đã di căn, bà mẹ đã ở giai đoạn 4. Bác sĩ ung thư nói với bác sĩ Li rằng về căn bản là hết cách nhưng Lần này y học đã có thứ mới; Liệu pháp miễn dịch. Thay vì tấn công trực tiếp vào ung thư như phương pháp trị liệu xạ trí hay hoá trị, nó hướng dẫn hệ miễn dịch nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư. Có một cách trị ung thư không được phép điều trị tại Hoa Kỳ nhưng ở Đức quốc. Có xem một phim tài liệu, có một ông mỹ đem bà vợ bị ung thư qua Đức quốc điều trị bằng phương pháp trị liệu sinh tố C. Trong vòng một tháng, bệnh viện tư nhân truyền nước biển với sinh tố C, loại sinh tố này mình đã kể, có công thức háo học tựa tựa như đường, chỉ khác lượng Hydrogen thôi nên khi tế bào ung thư thấy, tương là glucose nên nhảy ra ăn mệt nghỉ và bị tự huỷ.


Mẹ ông trở thành một trong những bệnh nhân đầu tiên được điều trị bằng phương pháp này. Tiến sĩ Li không chỉ dựa vào điều trị bằng phép trị-liệu mà giữa mỗi lần điều trị… Ông đã thay đổi hoàn toàn lối sống và sinh hoạt của bà.


Mục tiêu của ông rất đơn giản. Làm cho cơ thể bà mạnh nhất có thể để chiến đấu chống lại sự tấn công của tế bào ung thư. Ông gọi đó là giữ “lá chắn.” Ông ta giải thích quá nhiều bước như:

Bước 1: Nâng cao hệ miễn dịch. Mỗi ngày ông tập trung hỗ trợ hệ phòng thủ tự nhiên của cơ thể bà bằng cách cho ăn uống các thứ như: Nấm, Trà xanh, Tỏi, Quả mọng, Cà chua. Cà chua nên ăn với dầu olive thì mới hiệu nghiệm. Mầm bông cải xanh, loại này mình lâu lâu hay làm ăn, lấy hạt ngâm nước sau đó vài ngày mọc ra như giá sống, ăn thoải mái con gà kê. Ông cũng giúp bà mẹ có giấc ngủ tốt, vận động đều đặn và giảm căng thẳng mãn tính.


Ung thư phát triển dễ dàng hơn trong môi trường viêm nên ông ta tìm cách giảm viêm. Do đó ông tránh cho bà mẹ tiêu thụ các thực phẩm siêu chế biến như Đường thêm vào, rượu thừa, thịt chế biến, thay thế bằng rau củ, dầu ô liu, thảo mộc, cá béo và các thực phẩm giàu polyphenol khác.


Xây dựng hệ vi sinh vật đường ruột khỏe mạnh. Một số vi khuẩn đường ruột giúp hệ miễn dịch phản ứng tốt hơn với liệu pháp miễn dịch. Ông ta cho bà mẹ ăn rau giàu chất xơ, Đậu, Đậu lăng, Yến mạch, Thực phẩm lên men, Lựu, quất.


Mạch máu khỏe mạnh nuôi dưỡng mô khỏe mạnh. Khi bị bệnh ung thư, có vấn đề là các mạch máu tự động sản xuất thêm mà y khoa gọi là Angiogenesis. Do đó cần ăn uống để tránh vấn đề này vì sẽ bị di căn đến hết thuốc chữa. Ung thư cũng cố gắng tạo nguồn cung cấp máu riêng. Các thực phẩm được bác sĩ Li khuyến nghị trong cuốn sách của ông ta gồm:

  • Trà xanh
  • Cà chua
  • Tỏi
  • Dâu tây
  • Đậu nành
  • Cà phê 

Bác sĩ Li đối đấu với ung thư trên hai mặt trận. Mặt trận thứ nhất là phương pháp điều trị y tế tốt nhất hiện có và mặt trận thứ hai là tăng cường cơ thể mẹ ông thông qua dinh dưỡng và lối sống. Mẹ ông chỉ nhận ba lần liệu pháp miễn dịch thì khỏi bệnh. Một lần điều trị. Ba tuần sau lần nữa và cuối cùng Ba tuần sau lần thứ ba. Chín tuần sau khi bắt đầu điều trị thì lành khỏi


Và cuối cùng đã trở thành giai đoạn hết bị ung thư. Mẹ ông ta chưa bao giờ cần hóa trị. Mẹ của bác sĩ Li được chẩn đoán bị ung thư vào năm 2014. Bà vẫn còn sống đến hôm nay, khỏe mạnh và không còn ung thư.


Tò mò mình mò thêm tài liệu về liệu-pháp miễn dịch (Immunotherapy) thì được biết là một phương pháp điều trị ung thư hiện đại, giúp hệ miễn dịch của chính cơ thể nhận diện và tiêu diệt tế bào ung thư, thay vì tấn công trực tiếp vào khối u như hóa trị hay xạ trị.


Hồi nhỏ mình đã bị bệnh phổi khi đi đi khám bác sĩ Sohier, chụp hình rồi sau đó mình cứ ho hen đau hoài. Mùa đông Paris thì ho mệt thở, sau này qua mỹ trời lạnh New York cũng đau, rồi bác sĩ cho thuốc trụ sinh uống cho hết vô hình trung khiến hệ miễn nhiễm của mình banh ta lông luôn. Sau này nhờ tập ở Đông Phương Hội nên từ từ cơ thể khoẻ lại, thêm ăn uống đủ loại cơm tây, tàu, ả rập, mễ,… nên nay hệ miễn nhiễm có vẻ khả quan hơn xưa, không còn ho hen, hay đau ốm như xưa. Ngày nay, mình có cảm tưởng như khoẻ hơn cách đây 20 năm. Dạo ấy, đi bộ có 2 cây số mà chân đau, leo cầu thang là đau đầu gối. Từ khi tập ở Đông Phương Hội thì hết đau, núi nào cũng leo được như Kilimanjaro, Whitney,…


Hệ miễn dịch bình thường có thể phát hiện và tiêu diệt tế bào bất thường. Tuy nhiên, tế bào ung thư thường “ngụy trang” hoặc kích hoạt các “điểm kiểm soát” (checkpoints) để tắt phản ứng miễn dịch.


Liệu pháp miễn dịch giải quyết vấn đề này bằng nhiều cách:

  • Ức chế điểm kiểm soát miễn dịch (Immune checkpoint inhibitors): Các thuốc như pembrolizumab (Keytruda), nivolumab… “không chận tế bào T (một loại tế bào miễn dịch), giúp chúng nhận ra và tấn công ung thư. Đây là loại phổ biến nhất hiện nay.
  • Liệu pháp tế bào (CAR-T, TIL…): Lấy tế bào miễn dịch của bệnh nhân, biến đổi trong phòng lab rồi truyền lại để chúng mạnh hơn và nhắm đích chính xác. Nhớ có phong trào ở cộng đồng người Việt hô hào uống canh dưỡng sinh, do một ông người Nhật nào chế biến. Ông ta là khoa học gia bị ung thư, không muốn chết nên tìm cách tự cứu dù bác sĩ bó tay chấm còm. Ông ta chế ra cách nấu cà rốt, nấm shitake, cải trắng và củ gì quên tên sau đó ông ta tè ra lấy nước tiểu của mình trộn với canh đường sinh để uống. Mình đọc giải thích của ông ta là khi tế bào ung thư xâm nhập vào cơ thể thì cơ thể lập tức đề kháng, tạo ra các kháng sinh một số đi theo đường nước tiểu ra. Nên ông ta kêu uống nước tiều của mình rất tốt vì có kháng sinh. Hồi nhỏ có bà hàng xóm, mỗi sáng qua nhà mình kêu mình đứng ghế tè vào cái cốc cho bà ta mang về để cô con gái, mới sinh ở cử uống. Nay ai hỏi thì mình bán nghe, không cho không nữa. Vì cứu một mạng người tốt hơn là xây 9 cái chùa.
  • Kháng thể đơn dòng, vaccine ung thư, cytokine…: Hỗ trợ hoặc hướng dẫn hệ miễn dịch theo nhiều cách khác nhau.

Khác với hóa trị (tiêu diệt cả tế bào lành lẫn tế bào ung thư), liệu pháp miễn dịch tập trung kích hoạt “đội quân” tự nhiên của cơ thể. Khi thành công, hiệu quả có thể kéo dài nhờ “bộ nhớ” miễn dịch.


Trong trường hợp mẹ của bác sĩ William Li (chẩn đoán năm 2014, 80 tuổi, ung thư nội mạc tử cung giai đoạn 4 đã di căn), bà là một trong những bệnh nhân sớm được dùng liệu pháp miễn dịch. Bà chỉ nhận 3 lần truyền (mỗi lần khoảng 20 phút, cách nhau 3 tuần). Sau khoảng 9 tuần, kết quả chụp chiếu cho thấy từ giai đoạn 4 chuyển thành giai đoạn 0, không cần hóa trị. Bà vẫn khỏe mạnh đến nay. 


Bác sĩ Li kết hợp điều trị với thay đổi lối sống (dinh dưỡng hỗ trợ hệ miễn dịch, giảm viêm, bảo vệ mạch máu, cải thiện hệ vi sinh đường ruột) để “giữ lá chắn được nâng cao”. Nghiên cứu sau này cũng cho thấy một số vi khuẩn đường ruột (như Akkermansia muciniphila) liên quan đến khả năng đáp ứng tốt hơn với liệu pháp miễn dịch.


Ưu điểm:

  • Có thể mang lại đáp ứng lâu dài, thậm chí thuyên giảm hoàn toàn ở một số bệnh nhân.
  • Ít độc tính toàn thân hơn hóa trị ở nhiều trường hợp. Họ có làm nghiên cứu, hỏi các bác sĩ trị ung thư tại Gia-nã-đại, là nếu họ hay người thân bị ung thư thì có khuyên chữa háo tị hay không thì 76% các vị bác sĩ này tuyền bố là KHÔNG.
  • Hiệu quả với nhiều loại ung thư: melanoma, ung thư phổi không tế bào nhỏ, ung thư thận, một số ung thư phụ khoa, ung thư hạch…

Hạn chế:

  • Không phải ai cũng đáp ứng (tỷ lệ đáp ứng thường khoảng 20–40% tùy loại ung thư và tình trạng bệnh nhân).
  • Có thể gây tác dụng phụ liên quan miễn dịch (viêm phổi, viêm ruột, rối loạn nội tiết…).
  • Chi phí cao và không phải lúc nào cũng được bảo hiểm chi trả. Hình như ở Hoa Kỳ bảo hiểm chỉ trả nếu điều trị qua 3 phương pháp trị liệu được chấp thuận như xạ trị, hoá trị, và thuốc.


Liệu pháp miễn dịch đại diện cho sự chuyển đổi lớn trong điều trị ung thư: từ “tiêu diệt” sang “hỗ trợ cơ thể tự chữa lành”. Câu chuyện của mẹ bác sĩ Li minh họa rõ tiềm năng khi kết hợp y học hiện đại với việc tối ưu hóa sức khỏe tổng thể của cơ thể.


Gần đây mình thấy có nhiều tác giả nêu lên nhiều phương pháp để  chữa trị ung thư, ít độc hại hơn hoá trị. Để hôm nào rảnh sẽ kể (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn