Hiển thị các bài đăng có nhãn Ở Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ở Mỹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Quân đội bị lãng quên

 Quân đội bị bỏ quên


Khi đọc sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam từ người Mỹ hay Hà Nội viết thì tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến công lao và sự hy sinh trên 1 triệu người ở miền Nam. Người Mỹ thì kêu các sĩ quan tham nhũng, bất tài trong khi Hà Nội chỉ kêu bọn nguỵ quân nguỵ quyền, tay sai đế quốc . Nếu con chúng ta đọc thì chúng sẽ bị xấu hổ về cha ông của chúng. 


Khi mình sang Hoa Kỳ thì thấy đại học Hoa Kỳ tổ chức các buổi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Để diễn đàn thêm phần trung dung, họ mời đại diện Hà Nội, đại diện người Mỹ và đại diện cộng đồng người Việt. Vấn đề là cộng đồng người Việt không thống nhất đưa ai đi đại diện. Người muốn đi thì không rành anh ngữ, các sinh viên Việt Nam nói sẽ thông dịch rồi cuối cùng từ chối tham dự, chỉ kéo nhau lại biểu tình rồi ra về hồ hởi vì đã đi biển tình chống cộng trong khi người Mỹ và Hà Nội bên trong nói chuyện đưa ra quan điểm của họ cho thính giả. Nhiều người trong cộng đồng người Việt từng là sĩ quan cấp tá mà không hiểu cuộc chiến tranh tâm lý. Trình bày quan điểm tại sao Việt Nam Cộng Hoà thua và sự tàn ác của Việt Cộng. Cứ kêu bọ Việt Cộng không tin được, gian ác lắm. Ngoài ra mình dám chắc nội tuyến của Hà Nội khắp nơi trong các hội đoàn người Việt. Tìm cách gây lũng đoạn.


Có ông mỹ viết cuốn sách Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, nói về quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ quên để dấy lên sự đóng góp của quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu cho tự do. Những cuốn sách này nên khuyến khích con cháu chúng ta đọc để chúng tự hào về Việt Nam Cộng Hoà, thay vì chỉ đọc sách mỹ hay của Hà Nội đều gieo tiếng ác, hạ nhục kẻ thua cuộc.

Cuốn sách của Andrew Wiest góp phần lấp đầy một khoảng trống lớn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Trong khi hàng nghìn cuốn sách đã được viết về cuộc chiến từ góc nhìn của người Mỹ và phía cộng sản Việt Nam, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) lại thường bị các sử gia phương Tây xem như đúng theo những gì tuyên truyền cộng sản mô tả một lực lượng “tay sai”, nguỵ quân kém cỏi, với những nỗ lực hầu như không ảnh hưởng đến kết cục của cuộc chiến. Rất ít sự chú ý được dành cho những trải nghiệm, đóng góp và lòng dũng cảm của các binh sĩ ARVN, những người đã chiến đấu suốt nhiều thập kỷ trong điều kiện khắc nghiệt và vì những lý do mà ít người Mỹ thực sự hiểu rõ.


Có nhiều người miền Nam đêm tâm tình viết hồi ký nhưng đường như để đánh bóng cá nhân của họ nhiều hơn. Ít được dịch ra anh ngữ hay pháp ngữ,… khi xưa sống tại Đà Lạt đọc báo và nghe radio thì tin tức chiến sự đều phe ta vô sự, hạ sát mấy chục cộng quân, bắt tù binh này nọ,… chỉ khi ra hải ngoại đọc tin tức hai bên thì mới khám phá ra chiến dịch Lam Sơn 719 là thất bại, chết rất nhiều cả hai bên ở Quảng trị,…


Giáo sư Wiest kể lại câu chuyện đầy kịch tính về hai sĩ quan trẻ của Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ, những người có cuộc đời song hành một cách đáng kinh ngạc nhưng lại đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau khi đối mặt với quyết định khắc nghiệt nhất mà một người lính có thể gặp phải. Cả hai đều xuất thân từ những gia đình trung lưu có học thức, đều sinh ra tại cố đô Huế, và đều phục vụ suốt sự nghiệp quân sự của mình trong Sư đoàn 1 ARVN mà theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội miền Nam. 


Cả hai ông Đính và Huệ đều có thành tích chiến đấu xuất sắc. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong trận tái chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, nơi họ thể hiện năng lực vượt trội đến mức đều được trao tặng huân chương quân sự của Hoa Kỳ (Ngôi Sao Đồng và Ngôi Sao Bạc) vì lòng dũng cảm và thành tích trong trận chiến kéo dài và đẫm máu này. Giáo sư Wiest chỉ ra rằng vai trò quan trọng của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến này phần lớn đã bị các sử gia Mỹ bỏ qua. Hình như mất cả tháng mới chiếm lại hoàn toàn Huế.


Sau Tết Mậu Thân, khi cuộc chiến dần kết thúc đối với quân đội Mỹ nhưng lại trở nên ác liệt hơn đối với Việt Nam Cộng Hoà, cả hai người tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình và bất ngờ rơi vào những tình huống tuyệt vọng, nơi lựa chọn duy nhất là đầu hàng và chuyển sang phía đối phương, đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, bị bắt, bị giam cầm, hoặc cái chết. Trần Ngọc Huệ, chiến đấu tại Lào vào đầu năm 1971, đã đưa ra một lựa chọn, trong khi Phạm Văn Đính, với tư cách là một chỉ huy trung đoàn đối mặt với tình thế vô vọng trong cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh năm 1972, lại chọn một con đường khác. Giáo sư Wiest đã giải thích những yếu tố chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của mỗi người.


Với tư cách là một bức chân dung về hai cá nhân sống động và quan trọng, cuốn sách này hoạt động rất hiệu quả, và câu chuyện của họ phản ánh hình ảnh của nhiều sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm đã chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ở một tầng ý nghĩa khác, Giáo sư Wiest dựa vào quan điểm của hai sĩ quan này để đưa ra một số phê bình chung về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Xuyên suốt cuốn sách, Giáo sư Wiest lặp lại những chỉ trích của Đính và Huệ rằng vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960, quân đội Hoa Kỳ đã “ép buộc” ban lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng quân đội Việt Nam Cộng Hoà thành một “quân đội quy ước” thay vì như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hoà và ông Diệm được cho là mong muốn một lực lượng tập trung vào chống nổi dậy, du kích. Giáo sư Wiest khẳng định đây là một sai lầm chiến lược căn bản.


Thực tế, như bất kỳ ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam và các tác phẩm của tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp đều biết, chiến lược “chiến tranh nhân dân” của phía cộng sản không phải là một cuộc nổi dậy cổ điển. Họ tiến hành chiến tranh bằng một chiến lược kết hợp độc đáo giữa chiến tranh du kích quy mô nhỏ và các chiến dịch quy ước quy mô lớn. Một quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức chủ yếu để chống nổi dậy có lẽ đã bị tiêu diệt trước các đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng chính quy cộng sản bắt đầu từ năm 1964; thực tế, ngay cả lực lượng Việt Nam Cộng Hoà “quy ước” do Hoa Kỳ xây dựng trong chương trình Việt Nam hoá mà Wiest chỉ trích cũng tỏ ra quá yếu để chống lại những đòn đánh này. Chính sự yếu kém đó, chứ không phải việc Việt Nam Cộng Hoà không thể đối phó với du kích, đã buộc Hoa Kỳ phải đưa lực lượng bộ binh chiến đấu vào Việt Nam năm 1965. Chúng ta nhớ vụ áp dụng chương trình ấp chiến lược được áp dụng thành công ở Mã Lai nhưng thất bại ở Việt Nam vì văn hoá khác nhau.

Trung tá Đính đầu hàng Việt Cộng để cứu binh sĩ


Cuối cùng, sự nghiệp quân sự của cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ đều bị hủy hoại khi các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà quy mô lớn mà họ chỉ huy bị các đơn vị Bắc Việt áp đảo trong những trận đánh quy mô trung đoàn lớn… có báo Hà Nội nói về vụ trung tá Đính đầu hàng


https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ngay-tro-ve-cua-trung-ta-Pham-Van-Dinh-trong-mua-he-do-lua-i303933/


Tại căn cứ Carroll, ông Phạm Văn Đính, chỉ huy tiểu đoàn 56 khi quân đội chính quy của Hà Nội tấn công cuối tháng 3 năm 1972. Theo người ta kể lại thì tiểu đoàn của ông thiếu đạn dược, không được tiếp viện. Và bị tổn hại khá nhiều. Cuối cùng ông ta liên lạc với cộng quân vào 2:30 chiều ngày 2 tháng 4 năm 1972, xin đầu hàng. Sự đầu hàng của ông ta khiến quân đội miền Nam mất thêm nhưng địa cứ khác như Mai Lộc vì tiểu đoàn này có pháo binh hạng nặng.

Trong khi ông Trần Ngọc Huệ thì bị bắt làm tù binh tháng 3 năm 1971 trong thời gian chiến dịch Lam Sơn 719. Ông ta được đưa ra Hà Nội nhốt tại Hoa Lò mà người Mỹ hay gọi Hà Nội Hilton. Ông ta được thả năm 1983 và sang Hoa Kỳ năm 1991 với gia đình. (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tại sao ăn Quế và mật ong

 Tại sao ăn Quế và mật ong


Lâu rồi có ông mỹ quen nói với mình ăn mật ong với quế, như uống,… Mình hỏi lý do ông ta kêu là mẹ ông ta đặt như vậy. Dạo đó còn trẻ nên không để ý lắm, nay già mới sực nhớ. Ngâm mật ong với quế, tỏi , ớt, gừng cho mụ vợ uống để có sức tập đàn. Hôm nay tình cờ đọc một bài của ông bác sĩ mỹ về Quế khiến mình thất kinh. Em xin bình dân học vụ lại đây.

 Việt Nam mình có câu ca dao:

Tiếc thay cây quế giữa rừng để cho thằng Mán thằng Mường nó leo khi nói về công chúa Huyền Trân. Hóa ra người Việt khi xưa đã quý quế rồi.

Một hủ như vậy được 4 tháng


Hôm nay đọc một bài của một ông bác sĩ thì thất kinh nhớ lại lời ông mỹ quen khi xưa. Theo ông bác sĩ này thì Quế khi xưa còn đắt hơn vàng. Chiến tranh can qua đa số vì muốn kiểm soát quế như ngày nay dầu hoả.


Vào những năm 1500, các đội binh Bồ Đào Nha xâm chiếm và đốt cháy các làng ở Sri Lanka để kiểm soát Quế. Công ty Dutch East India cấm bán một cây quế ngoài hệ thống của họ, người ta có thể xử tử những ai đánh cắp quế. Lý do là các bác sĩ sử dụng Quế để chữa bệnh dịch mà vào thế kỷ này lan tràn khắp âu châu. Quế là tài sản, châu báu, vua không dám rắc quế trên chén oatmeal của mình mà cắt giữ trong hầm chứa đồ cấm.


Sực đòi hỏi gia tăng, các dân buôn bán khám phá ra một loại tương tự ở đông Nam Á. Không tốn tiền nhiều để trồng, gọi là quế và chở về âu châu hàng tấn.


Không ai hiểu lý do từ khi nền y khoa hiện đại được giảng dạy tài các trường đại học đào tạo y sĩ. Các bí mật này được che cất đến khi các khoa học gia bắt đầu hỏi tại sao các y sĩ xưa sử dụng quế khi huyết đường gia tăng? Những gì họ biết mà chúng ta không biết? Họ bắt đầu nghiên cứu và câu trả lời là trong quế có sự hiện diện: Methyl Hydroxychalcone Polymer. Hợp chất Methyl Hydroxychalcone Polymer (viết tắt là **MHCP**) là một thành phần chiết xuất từ quế, được nghiên cứu rộng rãi về khả năng hỗ trợ kiểm soát lượng đường trong máu.

Ông bác sĩ nói mua loại quế Ceylan đúng hơn là quế Việt Nam hay các vùng đông Nam Á vì chỉ ná ná thôi


MHCP thường được gọi là "insulin mimetic"(chất mô phỏng insulin). Điều này có nghĩa là nó hoạt động tương tự như insulin theo một số cách chính:

 Nó có thể kích hoạt các thụ thể trên tế bào giống như cách insulin làm, giúp "mở khóa" tế bào để hấp thụ glucose từ máu hiệu quả hơn.


 Các nghiên cứu cho thấy MHCP giúp insulin tự nhiên trong cơ thể hoạt động hiệu quả hơn bằng cách tăng cường quá trình truyền tín hiệu bên trong tế bào. Nó giúp kích thích quá trình chuyển hóa glucose dư thừa thành glycogen (dạng năng lượng dự trữ trong gan và cơ bắp). MHCP là một polyphenol hòa tan trong nước được tìm thấy trong quế (đặc biệt là loại *Cinnamomum cassia*). Mặc dù MHCP là thành phần quan trọng, các nghiên cứu gần đây cho thấy các hợp chất khác như “Cinnamtannin B1” cũng góp phần vào tác dụng giống insulin này. Lợi ích của chiết xuất hòa tan trong nước: Vì MHCP hòa tan trong nước, các loại thực phẩm chức năng thường sử dụng *chiết xuất* quế để giữ lại các lợi ích này, đồng thời loại bỏ các hợp chất hòa tan trong chất béo có thể gây hại cho gan nếu dùng liều cao.


Các nghiên cứu (bao gồm cả từ Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ - USDA) đã chỉ ra rằng MHCP có thể làm tăng đáng kể quá trình chuyển hóa glucose trong môi trường phòng thí nghiệm. Tuy nhiên, kết quả trên người có sự khác biệt: Nhiều người nhận thấy lượng đường trong máu lúc đói giảm và độ nhạy insulin được cải thiện khi sử dụng chiết xuất quế chứa các polymer này.


Nó thường được xem là một “thực phẩm hỗ trợ” hơn là một loại thuốc thay thế hoặc phương pháp điều trị dứt điểm. Hiệu quả tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe chuyển hóa của mỗi người.


Hoá ra lâu nay mình nghe lời ông mỹ ăn mật ong với quế mà không hiểu lý do nay thì giác ngộ cách mạng. Mình mỗi năm ngâm mật ong nguyên chất từ ông nuôi ong trong vườn mình. Với tỏi, quế, ớt cayenne, lý do làm cho huyết mạch nở ra giúp máu di chuyển dễ dàng hơn. Người ta giải thích là bác sĩ cho uống thuốc để làm loảng máu để dễ di chuyển trong huyết mạch nhưng không giải quyết chất béo đọng lại trong mạch máu. Có ông bác sĩ bên Phi Luật Tân chữa bệnh nghẹt máu bằng cách cho ớt cay vào giúp các huyết mạch nở ra để giúp chất béo di chuyển và giúp thoát ra ngoài.


Thêm gừng và tiêu nhất là Quế. Mỗi sáng uống hai muỗng với nước ấm. Đồng chí gái kêu ấm cổ vì cô nàng cứ khẹt khẹt hoài. Mình nói tập Trạm Trang Công nhưng không chịu. Cứ tập ba cái chi chi trên mạng bú xua la mua.


20 năm nay mới hiểu lý do sự công dụng của Quế. Vì thường mật ong rất ngọt nhưng glycemic chỉ có 45, có nhiều chất tốt nhưng nếu người cao đường thì ngại nên vì vậy mà khi xưa người ta uống với quế. Đi ăn sáng ở tiệm mỹ, oat meal thường thấy họ bỏ quế. Thay vì mật ong nay họ bỏ si-rô đường. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Ted Ngoy, ông hoàng donuts

 Ted Ngoy, ông hoàng donuts 

Khi mình sang Cali lấy vợ và đất lành chim đậu. Mỗi sáng đi làm thì thấy các tiệm bán Donuts, thiên hạ xếp hàng mua bánh donuts và ly cà phê. Donuts một loại bánh khá ngọt được chiên rồi nhúng vào đường hay chocolate thêm rắt đủ thứ trò. Vào các nơi bán đồ xây dựng thì họ cho uống cà phê và ăn DOnuts miễn phí. Mình hay lấy cà phê và donuts cho thợ khiến họ tưởng mình tử tế mua cho họ. Mình thấy đa số các tiệm bán donuts là do người tỵ nạn Cam Bốt làm chủ như người Nam Hàn chuyên về các tiệm giặt áo quần, còn tiệm xăng thì đa số người Ba tư. Như người Việt thì chiếm thị trường tiệm nail đến 90%. 


Có lần mình hỏi một tên quen ở Long Beach thì hắn kêu không dạy nghề cho người Việt. Có người kêu bán một tiệm đổi tiền. Người di dân lậu làm được trả lương bằng ngân phiếu của chủ. Dạo đó họ chưa được phép như ngày nay là có bằng lái xe, mở trường mục ngân hàng nên khi nhận ngân phiếu của chủ, họ phải đem ra máy chỗ đổi tiền bị chặt 2% rồi gửi tiền về cho gia đình thì lại chặt thêm mấy phần trăm nữa. Mình vào chỗ họ cất giấu tiền, rồi kể đi lấy tiền vào cuối tuần để phát cho người di dân lậu mấy trăm ngàn, phải tránh đi đường ra sao và thay đổi người nên sợ quá, khi không bị cướp bắn chết giữa đường nên thà làm nông dân cho chắc ăn. Mỗi cuối tuần, đổi tiền độ $200,000 là lấy 2% rồi chuyển tiền về Mễ là thêm 3% xem như 5% hay $10,000, 1 tháng $40,000 hay $480,000 một năm chưa kể có tiệm bán thịt tùm lum nhưng phải thí mạng cùi. Chán Mớ Đời 

Nom Kong một loại bánh cam của người Cam Bốt tương tự như Donuts của người Mỹ 


Hồi covid, buồn đời mình trả tiền cho Netflix nên xem rất nhiều phim tài liệu về sự thành công và thất bại của người á đông đến Hoa Kỳ. Có một câu chuyện về sự hình thành các tiệm bán Donuts mà 80% là do người Cam Bốt làm chủ.


Ở Campuchia có ông hoàng Sihanouk, ở Cali có ông Ted Ngoy, thường được người Cam Bốt gọi là ông Hoàng Donuts. Ông Ted Ngoy là một nhân vật có cuộc đời rất ly kỳ, được mệnh danh là **"Vua Bánh Cam" (The Donut King)** tại Mỹ. Câu chuyện của ông không chỉ là về kinh doanh mà còn là biểu tượng của sự vươn lên và di sản của cộng đồng người Campuchia tại California. Những người tỵ nạn cộng sản trốn chạy những cuộc diệt chủng của Khờ Me Đỏ, làm lại tất cả từ đầu.


ông Ted Ngoy có một đời mà người Việt mình gọi là Lên Voi Xuống Chó. Ông ta từng là thiếu tá dưới chính quyền Lon Nol nên khi Khờ Me đỏ sắp vào thì ông ta cùng vợ con chuồn, và được Hoa Kỳ bảo lãnh đến Cali. Khi đến định cư tại miền Nam Cali thì họ không có một đồng xu dính túi như đa số dân tỵ nạn, sống sót là may mắn rồi.


Đúng như mình dự đoán, ông ta gốc Quảng Đông, cha mẹ đều người Tàu. Sinh năm 1944 và năm 1967 ông ta lên Nam Vang để học và gặp một cô gái, con của một công chức lớn. Ông ta làm đủ thứ nghề rồi năm 1970, Lon Nol lật đỗ ông hoàng Sihanouk, thì ông ta vào quân đội. Nhờ anh vợ, Sau Sutsakhan, giám đốc cảnh sát Campuchia, sau này có làm tổng thống ngăn ngủi của Campuchia. Ông ta được thăng thiếu tá và gửi đi qua Thái Lan làm tuỳ viên quân sự. Năm 1975 thì ông ta cùng bà vợ và hai đứa con di tản đến trại Pendleton.


Ông ta đi làm 2 job, ban ngày làm chùi nhà dọn rác cho một nhà thờ, tối làm nhân viên trạm xăng vào ban đêm, mùi hương từ một cửa hàng bánh donut gần đó đã khiến ông ta đói bụng. Nó gợi nhớ đến món “nom kong”, một loại bánh bột gạo của Campuchia. Tương tự như bánh cam rắt mè. Buồn đời ông ta hỏi thêm về cách làm bánh này nọ. Và ghi danh đi học, xem như ông ta là người Đông Nam Á đầu tiên được nhận vào chương trình đào tạo quản lý của Winchell’s Donuts. Đến năm 1977, ông tiết kiệm đủ tiền để mua cửa hàng đầu tiên mang tên “Christy’s Doughnuts” tại La Habra. Tiệm này chủ trước bán buôn ế như Bolsa nhưng khi đến tay ông ta thì khách hàng vào như điên. Nụ cười thân thiện và rẻ hơn các tiệm khác của người Mỹ làm chủ.


10 năm sau, ông ta sở hữu đến 32 tiệm donuts mang tên Christie. Được cái là cả gia đình sống trong một cái RV, để tiện chạy lên chạy xuống Bắc Cali để thiết lập thêm tiệm mới. Năm 1985, gia đình ông ta nhập quốc tịch mỹ và mua một căn nhà to đùng trên triệu bạc thời đó ở hồ Mission Viejo. Mình có anh bạn mua căn nhà to đùng ở ngay đây, dạo đó 2.5 triệu nay thì chắc 4 triệu. Có bên tàu ngay trước nhà, buồn đời thì lên tàu chạy lòng vòng hồ. Chỉ có là không được câu cá.


Mình đoán ông này gốc tàu nên muốn tiết kiệm chi phí, ông Ngoy đã hỏi nhà cung cấp về loại hộp rẻ hơn hộp trắng tiêu chuẩn. Nhà cung cấp đề nghị loại bìa màu hồng còn dư với giá rẻ hơn vài xu. Ông Ngoy đồng ý, và từ đó “chiếc hộp màu hồng” (pink Box) đã trở thành biểu tượng toàn cầu cho các cửa hàng bánh donut thủ công của người gốc Miên tại California. Có lần ai đó rủ mình đi nghe mấy ông thần miên nói về mua nhà đất ở Cao Miên nhưng người miên đã từng “cáp duồn” nên mình không dám hó hé. 


Thế là tiền bắt đầu vào như nước. Vợ con làm chết bỏ từ 3-4 giờ sáng. Ông

Ngoy không chỉ làm giàu cho bản thân; ông còn tạo ra con đường sống cho những người đồng hương. Ông đã bảo lãnh hàng trăm và thị thực cho người Campuchia, đào tạo họ tại các cửa hàng của mình và giúp họ thuê lại các địa điểm kinh doanh. Đây là lý do tại sao khoảng 80% các cửa hàng bánh donut độc lập tại Nam California vẫn do người gốc Campuchia làm chủ cho đến ngày nay. Mình nghĩ đây là tinh thần của người Tàu, lập hội bang rồi giúp người trong họ tộc hay bang. Gặp người Việt thì đánh cho tên người Việt khác cho chết bằng cách hạ giá xuống tận đáy.


Ngày nay ở Nam Cali, 80% các tiệm Donuts thuộc sở hữu cua người Cao Miên. Công ty DunKin Donuts chơi không lại vì giá thành đắt hơn trong khi các tiệm của người Cao Miên là do người trong gia đình làm hết nên rẻ. Bỏ công làm lời. Mấy công ty như Krispy Creme còn bị phá sản.


Bạo phát bạo tàn. Không nhớ ông ta mở bao nhiêu tiệm hình như 64 tiệm. Ông ta trở thành ông hoàng Donuts, tiền vô bạc triệu nhất là bán bằng tiền mặt. Mình xem phỏng vấn ông ta, ông ta kể là mất trắng hết, tiền bạc, tiệm donuts vì mê đánh bài. Ông ta tự nhủ làm việc mệt từ ngày qua mỹ đến giờ, sao không lên Lás Vegas thư giãn xem Elvis Presley trình diễn và rốt cuộc ông ta mất hết. Thấy mấy cô bận đồ hở ngực đem rượu đến uống vô tư nên đánh bài tố như Pol Pot giết người.


Ở đỉnh cao thành công vào những năm 1980 và 1990, ông Ngoy sở hữu khối tài sản hàng triệu đô la. Tuy nhiên, chứng nghiện cờ bạc nặng nề đã khiến ông mất trắng gia sản, các cửa hàng và cả cuộc hôn nhân của mình. Sau đó ông bà Ngoy về Cam Bốt để tham dự chính trị nhưng không thành. Được cái là thủ tướng Hun Sen mời ông ta làm cố vấn kinh tế.


Buồn đời bà vợ về lại Cali thì ở Cao Miên, ông ta có bồ nhí. Hết tiền thì bà vợ kêu tôi thức đêm để chiên donuts mà ông đem nướng hết ở sòng bài, rồi chơi em chân dài thì thôi sugar you you go, sugar me me go.


Hiện nay, ông Ted Ngoy đang sống tại Campuchia, làm nghề bắt mai mối bất động sản. Dạo mình đi Campuchia với mẹ mình và đồng chí gái, có anh kia người Việt gốc Miên, kêu mình đầu tư mua đất. Dạo ấy anh ta kể là tài sản có trên 2 triệu, mà hai thằng con không chịu về tiếp nối bước chân của anh ta. Đi vòng xứ này thì thấy người Tàu họ chiếm hết nên chả muốn ăn mắm bò hóc vì sợ bị hóc xương. 


Dù đế chế tài chính không còn, di sản của ông vẫn hiện hữu mỗi khi ai đó mua một hộp bánh donut màu hồng tại các cửa hàng gia đình trên khắp nước Mỹ. Hồi chưa có google map thì khi đến thành phố lạ, thèm cơm Việt Nam thì mình tìm các tiệm Nail để hỏi tiệm ăn Việt Nam, còn thèm mắm bò hóc thì chạy vào các tiệm bán Donuts. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Rockefeller và y học hiện đại

 Rockefeller và y học hiện đại 

Hoa Kỳ bắt cóc ông Maduro và dầu từ Venezuela được chở qua Hoa Kỳ để lọc. Thiên hạ nói dầu của xứ này nặng nề này nọ nhưng họ quên một vấn đề chính. 


Năm 1900, ông John D. Rockefeller kiểm soát khoảng 90% toàn bộ ngành lọc dầu tại Hoa Kỳ. Ông là người được cho là cá nhân tư nhân giàu nhất từng sống trên Trái Đất theo một số tính toán.


Ông gặp phải một vấn đề. Làm gì với những xác dầu sau khi lọc. Các nhà khoa học đang phát hiện ra rằng các hợp chất chiết xuất từ hắc ín than đá, một sản phẩm phụ của ngành dầu mỏ có thể được dùng làm thuốc tổng hợp. Aspirin, được chiết xuất từ hắc ín than đá, đã được Bayer ra mắt năm 1899. Dòng chất thải từ dầu mỏ mà Rockefeller trước đây phải tiêu hủy giờ có thể được bán lại cho công chúng dưới dạng thuốc với mức lợi nhuận khoảng 10.000%. Chưa kể dầu ăn mà mình đã kể. Người ta kêu lý do đó mà người Mỹ bị ung thư và to béo như ngày nay.


Ông lại gặp thêm một vấn đề khác. Y học Mỹ năm 1900 là một hệ sinh thái cạnh tranh gồm các thầy thuốc vi lượng đồng căn, thảo dược, naturopath, osteopath, hộ sinh và các bác sĩ truyền thống sử dụng thực phẩm, cây cỏ, nước và lối sống làm công cụ chữa bệnh chính. Khoảng một nửa số trường y ở Mỹ dạy một hình thức y học tự nhiên hoặc thay thế nào đó.


Rockefeller đầu tư vào ngành dược phẩm Đức, cuối cùng nắm cổ phần đáng kể trong IG Farben, tập đoàn khổng lồ bao gồm Bayer, BASF và Hoechst. Sau đó ông ủy thác một báo cáo.



Báo cáo được Abraham Flexner, một nhà giáo dục không có được đào tạo y khoa soạn thảo, do Quỹ Rockefeller và Carnegie tài trợ, và được công bố năm 1910. Báo cáo tuyên bố rằng các trường y tự nhiên và thay thế là “lang băm thiếu khoa học”. Và đề xuất đóng cửa hơn một nửa số trường y Mỹ và chuẩn hóa phần còn lại xung quanh y học dựa trên thuốc tổng hợp có bằng sáng chế.


Quốc hội hành động. Một nửa số trường y Mỹ đóng cửa trong vòng một thập kỷ. Các trường còn lại chấp nhận tài trợ từ Rockefeller và Carnegie với điều kiện phải tổ chức lại chương trình giảng dạy xung quanh điều trị bằng dược phẩm. Dinh dưỡng bị loại bỏ. Thuốc từ thảo dược bị loại bỏ. Can thiệp lối sống bị loại bỏ. Công việc của bác sĩ được định nghĩa lại: chẩn đoán triệu chứng, kê đơn thuốc.


Những loại thuốc đó được chiết xuất từ dầu mỏ. Dầu mỏ được cung cấp bởi các nhà máy lọc dầu do Rockefeller kiểm soát. Các trường y được Rockefeller tài trợ. Các tạp chí y khoa được Rockefeller tài trợ. AMA được Rockefeller hỗ trợ. Các bệnh viện được Rockefeller tài trợ.


Đến năm 1925, hệ thống y tế Mỹ đã trở thành một phần mở rộng tích hợp dọc của ngành công nghiệp dầu mỏ, hoạt động dưới khẩu hiệu marketing rằng đây là y học “khoa học”. Đây chính là hệ thống vẫn tồn tại cho đến ngày nay.


Ngành công nghiệp dược phẩm tạo ra khoảng 1,5 nghìn tỷ USD doanh thu mỗi năm. Dân số Mỹ, chiếm 4% dân số thế giới, tiêu thụ khoảng 50% tổng số dược phẩm được sản xuất trên toàn cầu.


Hệ thống này không được thiết kế để làm cho con người khỏe mạnh. Hệ thống được thiết kế để quản lý triệu chứng theo cách tạo ra những khách hàng trọn đời. Một bệnh nhân khỏe mạnh là một khách hàng cũ. Một bệnh nhân được “quản lý”, người phải uống thuốc mỗi ngày suốt phần đời còn lại, chính là một khoản đầu tư sinh lời đều đặn.


Mục tiêu từ đầu đến cuối là giữ bệnh nhân nằm trong hành lang sinh lời đó giữa khỏe mạnh và chết. Lâu đủ để bạn tiếp tục mua thuốc. Nhưng không khỏe đến mức bạn ngừng mua.


Bác sĩ khuyên bệnh nhân nên chữa lành chuyển hóa bằng cách thay đổi chế độ ăn uống, theo quan điểm của hệ thống đã đào tạo ông ta, là một sản phẩm lỗi. Bác sĩ kê cho bệnh nhân statin, metformin, thuốc chống trầm cảm và thuốc huyết áp dùng suốt đời mới là người đang thực hiện đúng như hệ thống thiết kế.


Hệ thống được thiết kế bởi một ông trùm dầu mỏ cần bán các sản phẩm thải của nhà máy lọc dầu mình. 116 năm sau Báo cáo Flexner, nó vẫn hoạt động chính xác như cách ông ta đã thiết kế. Bệnh nhân là khách hàng. Bài học đầu tiên của trường y là “chữa lành một bệnh nhân là chúng ta mất một khách hàng”.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

51 năm nhìn lại Little Sàigòn

 51 năm từ Sàigòn đến Bolsa 

Nếu nhìn lại 51 năm qua, sự ra đi của người Việt tỵ nạn trong lúc hối hả trước ngày 30/4/75 thì phải công nhận như một phép lạ, cộng đồng người Việt đã thành lập lại một Tiểu Sàigòn, được xem là thủ đô của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Phước Lộc Thọ


Ngày hải hùng đó đã khiến chúng ta mất quê hương, chúng ta có thể xây dựng lại một quê hương ở nơi khác. Có nhiều người ra đi trong lúc vội vã không biết gia đình còn sống hay chết. Ngày nay theo thống kê có đến 189,000 người Mỹ gốc việt sinh sống tại quận Cam (Orange COunty). Cộng đồng người Mỹ gốc việt lớn nhất tại Hoa Kỳ. 40% người Việt sinh sống tại thành phố Westminster, 31% ở thành phố Garden Grove.


Có thể nói không có truyền thông như tờ báo đầu tiên Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập với luật sư Đạt Phan, con ông Phan Huy Quát. Thì có lẻ Little Sàigòn không đông như ngày nay vì các lớp người Việt tỵ nạn tiếp tục sang Hoa Kỳ và đọc báo và dọn về vùng này ở.


Năm 1979, chỉ có 30 business ở phố Bolsa, đến năm 1981 thì có 300 business ở đây rồi đến năm 1984 lên đến 600. Ngày nay, có trên 4,000 business ở trong phạm vi 3 dặm vuông. Người ta tính có trên 280 tiệm ăn, 42 tờ báo việt ngữ, 5 đài phát thanh, 2 đài truyền hình phát các chương trình khắp nơi trên thế giới.


Ở trung tâm Tiểu Sàigòn có Phước Lộc Thọ khiến ai đến đây lần đầu cảm thấy như vào một chỗ nào huyền thoại. Năm 1986, một người sở hữu 1/3 địa ốc ơ Bolsa muốn đặt tên là Asian Town nhưng cộng đồng không chịu và tranh chấp suốt 2 năm liền và đã thắng, khu vực này được đề bảng Little Sàigòn trên xa lộ để xe quẹo vào. Con đường Bolsa được đấu tranh để bảo vệ bản sắc của người Việt tỵ nạn và nhưng người Việt tỵ nạn đã xây dựng trung tâm cộng đồng người Việt lớn nhất tại hải ngoại. Mình nghe nói là Đài Loan bỏ tiền xây rất nhiều khu phố Bolsa. Sau này có người Việt tư bản đỏ sang đầu tư nữa.


Mọi sự khởi đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trực thăng di tản các người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, và cuộc chiến chấm dứt với triệu người vui và hàng triệu người buồn. 130,000 người Việt được người Mỹ di tản khỏi Việt Nam, được xem là cuộc di tản cấp tốc rộng lớn nhất ở thế kỷ 20 trong thời gian rất ngắn. Nghe CIA giải thích là nhờ báo cáo của điệp viên X92, Võ Văn Ba báo trước nên Hoa Kỳ mới có thời gian chuẩn bị cuộc di tản các thành phần có dính dang đến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


người Mỹ không muốn như trường hợp của người tỵ nạn Cuba là dồn về một nơi ở tiểu bang Florida, họ rãi người Việt khắp nơi trên nước Mỹ như 10,000 người ở tiểu bang Florida, 22,000 ở Pennylvania, 51,000 ở Arkansas và 50,000 ở trại thuỷ quân lục chiến Pendleton, tiểu bang California. Hơn 1/3 ở nam Cali.


Vấn đề là người Việt di tản ở trong các trại tiếp cư và đợi ai đó ở ngoài bảo lãnh họ, đúng hơn người Mỹ vì dạo đó rất ít người Việt ở Hoa Kỳ. Đa số là sinh viên du học. Các giáo phận công giáo tham gia, và các nhà thờ tin lành. Họ đưa người Việt đến các thành phố như Westminster, Garden Grove, Santa Ana,…nhưng khu vực không sang trọng, đúng hơn là nghèo. Lý do là tiền thuê nhà rẻ.


Rồi làn sóng tỵ nạn thứ 2 đến, từng năm 1979-1985, các thuyền nhân đến đảo ở đông Nam Á, được phỏng vấn đi mỹ. 800,000 người Việt tỵ nạn đến định cư tại Hoa Kỳ. Nghe cao uỷ tỵ nạn cho rằng 50% người vượt biển nằm lại trong lòng đại dương. 1000 người mỗi tháng tại Quận Cam.


Rồi làn sóng thứ 3 đến qua chương trình Orderly Departure Program (ODP), đoàn tụ gia đình.


Làn sóng thứ 4 cuối thập niên 1980 đến 1990, các tù nhân chính trị, cải tạo được Hoa Kỳ thâu nhận. Các làn sóng nhập cư người Việt đều đọc báo người Việt và các báo khác ở Bolsa, giúp họ dọn về định cư tại Quận Cam.


Mấy năm gần đây thì thấy có nhiều người Việt di dân qua đầu tư theo EB-5 hay các chương trình khác. Chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện con cháu của những người từng tuyên bố đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Mình có gặp vài người khi họ hỏi mua cái vườn của mình. Có đám chuyên gia giúp họ đầu tư qua Hoa Kỳ để hạ cánh an toàn. Nghe họ kể nằm bắt võng ở đầu Trường Sơn, tự xưng là di dân chớ không hoi ải tỵ nạn.


Khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Bolsa thì khu vực này đang chết. Mình nhớ khi mình đến Cali lần đầu tiên thấy nhiều vườn trồng dâu của người Nhật. Các dãy phố lụp xụp Chán Mớ Đời nhưng được cái là đất ở đây rẻ. Không như ngày nay.


Người mở tiệm bán tạp phô Việt Nam đầu tiên là ông Danh Quách nhưng ít khách lắm. Ông ta kể là 3 năm trời ít khách nhưng ổng a vẫn tiếp tục. Theo ông ta thì có lần thị trưởng thành phố và cảnh sát trưởng ghé tiệm ông và nói là cảm thấy không yên lòng về sự có mặt của tiệm ông ta. Người dân địa phương da trắng cảm thấy khó xử. Mình nhớ khi mới dọn về Westminster thì xung quanh là người Mỹ trắng rồi dần dần họ bán nhà bỏ chạy và người Việt dọn đến. Nay chỉ thấy gốc mít xung quanh.


Ông Quách không muốn bỏ đi và có dược sĩ Danh Quách dọn đến mở tiệm thuốc tây năm 1978, rồi tiệm Hoà bÌnh rồi Tân Mai. Rồi năm 1979 có được 30 business của người Việt. Đúng lúc có làn sóng người Việt thuyền nhân định cư tại đây khiến thương mại phát triển, khách đến mua đông như quân nguyên, nói tiếng Việt như người Việt.


Năm 1981, 300 business, 1984, 600 business rồi ông Triệu Phát đến Hoa Kỳ năm 1975, buồn đời mua đất rồi xây Phước lộc Thọ. Năm 1987, cảnh sát Westminster ước lượng mỗi cuối tuần có 20,000 đến 60,000 người đến mua sắm ăn phở ở Bolsa. Cứ ra khỏi xa lộ quẹo vào đường Brookhurst là kẹt xe, người Việt lại lái xe kiểu biết bố mày la ai, bóp kèn in ỏi.


Ở bolsa người Việt đã xây dựng lại truyền thống Tết, như diễn hành, rồi chợ Tết nơi hội tụ người Việt tỵ nạn từ xa về về đây mấy ngày tết để ăn tết với bạn bè và gia đình. Rồi đình chùa mọc lên như nấm. Giúp các con cháu chưa bao giờ biết Việt Nam có thể hoà mình vào không khí tết được tạo dựng lại bưởi cha mẹ ông bà. Với hội chợ tết này nọ hay chợ đêm khi hè đến, giúp người Việt tha hương có thể tìm lại chút gì để nhớ. Mình thấy đắt tiền nên chả bao giờ bò ra thêm kẹt xe.


Tiểu Sàigòn trở thành trung tâm văn hoá của người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Các cuốn sách bị cấm tại Việt Nam được sản xuất nhiều như bánh mì baguette mỗi ngày. Các băng nhạc video được thâu dựng rồi bán qua âu châu và Úc Châu.


người Việt bỏ nước ra đi chỉ còn lại ký ức quê hương và đã tạo dựng lại quê hương trên đất nước đã cưu mang họ. Nhưng họ không quên lý do tại sao phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Có một ngày mà hàng năm cộng đồng người Việt đều tụ tập lại để tưởng niệm nhưng người dã hy sinh trong cuộc chiến cho tự do và những người đã bỏ mình trên đường vượt biển. Họ đã mua đất để xây đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Vietnam warmemorial).


Xét ra thế hệ đầu tiên xây dựng để sống còn còn thế hệ thứ 2 thì xây dựng quyền lực. Năm 1992, ông Tony lâm đắc cử nghị viên của thành phố, người Việt đầu tiên đắc cử. Vào thập niên 1990 cử tri người Việt khá đông nên các đảng không thể làm lơ như xưa. Nhưng cộng đồng người Việt như cộng đồng cuba rất chống cộng. Khi ông John MacCain ra tranh cử tổn thống, có đến kiếm phiếu cũng như Bush cha. 


Theo thống kê thì 53% cử tri ở Tiểu Sàigòn bầu cho ông Trump. Lý do ông ta chống Trung Cộng. Mà người Việt tỵ nạn lại ghét tàu. Họ bảo thủ vì ký ức, những năm tháng dài bị Việt Cộng bỏ tù. Họ bỏ phiếu theo địa chính hơn là các chương trình phúc lợi địa phương.


Nhưng ngày nay, sau khi bám rể vào đời sống Hoa Kỳ, thì có sự rạn nứt trong giới cử tri. Theo thống kê thì cử tri gốc việt dưới 49 tuổi, 65% ghi danh là cử tri của đảng dân Chủ. Lý do là thế hệ thứ hai không trốn thoát khỏi Việt Nam. Họ không bị ở tù cải tạo, tiểu Sàigòn không phải là nơi định cư tạm của họ như thế hệ trước.


Thế hệ con cháu dọn đi các thành phố khác như Irvine, Costa Mesa, Laguna. Thế hệ này là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. Họ đã vào dòng chính của Hoa Kỳ.


Đó là bề ngoại bề nổi, mặt bằng của Tiểu Sàigòn, chúng ta thấy tiệm ăn mọc như nấm nhưng nếu nhìn kỹ thì trong khu Tiểu Sàigòn có đến 5  khu mobile homes mà đa số người Việt ở, với tiền thuê đất đắt như vàng. Các người lớn tuổi sinh sống ở đây cho tiện đường mua sắm, nơi mà họ đã cùng nhau tạo dựng. Các người cao tuổi sống nhờ tiền an sinh xã hội. 


Little Sàigòn có hai loại kinh tế. Một kinh tế khiến thiên hạ đến mua sắm và một cố gắng sống chật vật phía sau mặt bằng hoành tráng của Tiểu Sàigòn. 


50 năm nhìn lại, cộng đồng người Việt đã thành công xây dựng qua bao nhiêu làn sóng đến Hoa Kỳ. Chúng ta bỏ lại sau lưng quê hương để xây dựng lại một quê hương thứ hai trên đất mỹ. Nhưng tương lai thế hệ con cháu có thể sẽ không màn đến vì Irvine có tiệm ăn Tàu, việt. Ngày thành phố mình bây giờ bắt đầu có tiệm ăn tàu, Việt Nam, đại hàn mọc lên như nấm. Có lẻ sẽ ít xuống Bolsa nhất là xăng trên $6. Nhưng phải kể là các lớp người Việt đi trước đã bỏ công gầy dựng một trung tâm để chúng ta quay về như viếng lại ký ức của quê hương bỏ lại.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn