Showing posts with label Chốn cũ người xưa Đàlạt. Show all posts
Showing posts with label Chốn cũ người xưa Đàlạt. Show all posts

Mưa phùn Đà Lạt

 


Mấy ngày nay, trời Cali vào buổi sáng có mưa lất phất như mưa phùn Đà Lạt khiến mình nhớ ra riết những ngày mưa Đà Lạt khi xưa. Mình được nghe nói đến mưa phùn khi nghe lần đầu tiên bản nhạc “cơn Mưa Phùn” tại viện đại học Đà Lạt năm lớp 12. 


Hàng năm, viện đại học Đà Lạt có mở cửa một ngày cho các học sinh trung học lớp 12 của các trường tại Đà Lạt, và các vùng lân cận, đến viếng trường để được giới thiệu về các phân khoa, để năm sau, nếu đậu tú tài thì có thể chọn ngành để học tại trường. Hình như tháng 10 hay tháng 11. Tương tự, trường Võ Bị Quốc Gia cũng đưa xe nhà binh đến trường đón các học sinh lớp 12 để được giới thiệu trường, nếu thích thì nộp đơn sau khi đậu tú tài. Chỉ nhớ gặp vị chỉ huy trưởng của trường dạo ấy là tướng Lâm Quang Thơ. Mình không được trường Chiến Tranh CHính Trị mời viếng thăm trường. Nói chung thì mình không thích quân đội, kỹ luật đủ trò.


Viện đại học Đà Lạt được thành lập từ năm 1957, lấy địa điểm của Thiếu Sinh Quân của Pháp xưa (enfants des troupes). Cổng vào nằm ngay ngã ba của 3 đường Phù Đổng Thiên Vương, Võ Tánh và Đinh Tiên Hoàng mà người dân Đà Lạt hay gọi Ngã Ba Đại HỌc. Phù Đổng Thiên Vương chạy vào sâu một tí thì có con đường đất dẫn vào Thung Lũng Tình Yêu.


Dạo đó có anh Trương Chí Dũng, học Toán Lý Hoá tại viện đại học Đà Lạt, được thầy Chử BÁ Anh mướn để hướng dẫn học sinh Văn Học giải toán để thi tú tài. Anh ta dặn mình và tên bạn là khi đến cổng đại học thì tìm anh ta, đừng có nghe lời dụ dỗ của mấy cô sinh viên đẹp của Văn Khoa. Sau đó, mình được gia nhập một nhóm gồm học sinh các trường Đà Lạt và vài sinh viên của đại học, đại diện nhiều môn để tìm cách thuyết phục mình và đám học sinh trong nhóm theo học ngành họ đang học.

Cổng trường đại học Đà Lạt lúc họ mở cửa là nhao nháo, sinh viên chạy ra kéo học sinh vào toán của họ. Như chợ cá.

Học sinh đứng ngoài cổng trường đợi, đến khi cổng trường mở thì được đi vào thì bị các sinh viên chụp cổ, bắt vô nhóm toán của họ. Vui không tả. Dạo ấy học trung học nên vào đại học là thấy mấy sinh viên là khớp cơ ngay. Mình thuộc loại có mồm khá to nhưng gặp sinh viên là ngọng hết.


Mình chỉ nhớ trong nhóm có hai tên của lớp mình là Trần Thiện Tân và Phạm Thành Nguyên nhưng đặc biệt là một chị sinh viên Chính Trị Kinh Doanh, rất xinh, cao và đánh guitar khiến mình nức nở, muốn theo học môn này nhưng cuối cùng đậu tú tài xong thì mình ghi danh học Toán Lý Hoá, để chuẩn bị đi Tây, đã ghi danh học kỹ sư Dệt ở Roubaix. Trần Thiện Tân rớt tú tài về Sàigòn học lại còn Phạm Thành Nguyên du học tại Gia NÃ Đại sau mình mấy tuần.

Mình có mấy tấm ảnh của trường đại học nhưng lười đi tìm quả nên xin của ông Nguyễn Kính. Mình đang định viết về đại học Đà Lạt. Hôm nào buồn buồn bị vợ la mình sẽ kể.

Sau này, qua Hoa Kỳ thì khám phá ra chị sinh viên của  trường Chính Trị Kinh Doanh ngày xưa, là 1 nhạc sĩ nổi tiếng. Mình có mua đĩa nhạc của chị ta. Có đến ăn bún bò ở tiệm của chị ta nhưng không dám nhắc đến thời học sinh năm 1973, đi tìm lá Diêu Bông. Chán Mớ Đời 


Ngoài ra có một chị tên Hồng, học sinh Văn Học, người Huế, rất dễ thương, cũng thuộc hạng cao ráo. Có đi Phan Rang và Nha Trang chung với mình khi trường Văn Học tổ chức, học trên mình 2 lớp. Đó là hai nữ sinh viên Chính Trị Kinh Doanh xinh đẹp mà mình còn nhớ đến ngày nay. 


Lúc mình học đại học Đà Lạt, ban toán lý hoá được một hai tháng trước khi đi tây, thì có hai chị em rất xinh được sinh viên Chính Trị Kinh Doanh bu như ruồi, đòi chở về nhà đủ trò. Không biết tên, chỉ nhớ tên Đổ Quý Dân rủ mình gia nhập nhóm kịch kiết gì của hắn, đến họp uống nước cam rồi về. Hắn kêu đóng kịch Thành Cát Tư Hãn gì đó của ông Vũ Khắc Khoan nhưng mình đi tây mất tiêu. Tên Dân dạo đó, làm nhạc đủ trò “tàn mùa mưa cũng tàn mùa hè, cùng nhau gặp lại giảng đường Spellman”, bú xua la mua, mùa hè mưa ná thở đến tháng 12 Giáng Sinh mới hết mưa mà hắn cứ phang bậy. Nhưng cũng vui. Tháng 2 về Việt Nam, có gặp hắn, đang kiếm đồng chí gái ở Việt Nam, nghe nói là một thi sĩ Hà Nội. Hắn rất nghệ sĩ. Hôm nào sẽ kể thêm về hắn.

Tình yêu đến dưới cơn mưa phùn Đà Lạt 

Các sinh viên thay phiên nhau giới thiệu trường của họ, dẫn đi viếng lòng vòng rồi đến trưa thì cả toán ngồi xuống cỏ như trong các Campus đại học mỹ. Mỗi người được một ổ bánh mì thịt. Rồi hát hò với nhau cho vui sau đó thì được vào giảng đường Spellman, tên của một đức hồng y mỹ, có công giúp đỡ sáng lập đại học Đà Lạt.

Nữ sinh viên đại học Đà Lạt . Ai ra nhận hàng dùm . Chị này thấy quen quen, đã gặp rồi tại Đà Lạt nhưng không biết tên.

Tại đây mình được nghe ông giáo sư Phó Bá Long, hát bài “Khoẻ vì nước” khá vui. Ông thầy này được sinh viên yêu mến, trẻ trung, du học ở Hoa Kỳ về thì phải. Mình hay lộn ông giáo sư này với bố của Tú ANh, học Yersin. Hai người đều tên Long cả.


Mình nhớ có lần chạy xe ra Sân Cù chơi với mấy tên bạn, chạy vòng vòng xem các cặp đang thề non hẹn biển chơi thì bắt gặp một cô hàng xóm với anh bồ. Sau đó, chạy vòng vòng bổng nhiên nghe cái cóc rồi DƯơng Quang Trí la oái oái. Rồi thấy trái cù lăn bên tay phải. Hoá ra ông Phó BÁ Long, bác sĩ Đào Huy HÁch và một ông nữa đang đi bộ từ xa đến. Họ chơi cù, đánh làm sao trúng đầu thằng Trí. Mình lái Honda, nó ngồi sau rồi đến thằng Nguyên. Nó ngồi giữa lại bị trúng đầu. Số bị ăn trái cù. Mình có gặp lại Trí nhưng sau đó vài năm thì qua đời. Anh chàng này là con trai của ông Marcel ở đường Phan Đình PHùng, cạnh ga ra Phan Xứng.


Màn văn nghệ thì có anh chàng sinh viên nào để tóc dài, cao cao, gầy gầy, nhảy cái đùng lên sân khấu rồi hát bản “cơn mưa phùn”. Nghe quá đỉnh, sau đó mới nghe bạn bè nói là do ông Đức HUy nào, sinh viên đại học làm. Ông lên Đà Lạt thấy mưa phùn, buồn đời làm bản nhạc này khiến ông ta nổi tiếng từ đó. Ra hải ngoại mới có dịp nghe ông ta hát. Hàng xóm có một chị cũng hay hát bản này nên nhớ đời.



Thường thì độ tháng 4 thì bắt đầu mùa mưa tại Đà Lạt nhưng cũng có thể trước đó vì bão ở Biển Đông thì Đà Lạt hay bị ảnh hưởng. Đà Lạt lạnh nên quanh năm suốt tháng, người Đà Lạt ra đường đều bận áo len. Lâu lâu nắng lên một chút nhưng rồi lạnh lại.


Mùa hè mình nhớ nhất là những cơn mưa, hay đi ra đường Minh Mạng, đến hàng sữa đậu nành của bà Bẩy Quốc. Chiều bà ta mở quán bán sữa đậu nành trước tiệm vàng của ông Bùi Duy CHước. Khách đến ngồi nơi thang cấp, gọi ly đậu nành nóng, ai có tiền thì mua thêm cái bánh da lợn hay bánh chuối. Ngon cực Đỉnh. Thường hay bị ướt quần vì mưa có thể tạt vào nên bà ta căn thêm tấm tăng để khách trú mưa. Ngồi thổi ly sữa đậu nành, vừa thổi vừa uống. Phê thật.


Mưa là một cực hình cho người đi bộ vì bùn bắn lên ống quần. Nhiều nơi xình lầy nên hay bị ngã như đường từ Hai Bà Trưng băng qua Phan Đình PHùng, hay chỗ vườn ông Ba Đà. Trời mưa là ngập vườn hết, thấy tội, xem như mấy tháng sau là xà lách và bắp xú Đà Lạt lên giá.


Mình thì không thích mưa nên bỏ Đà Lạt đi Tây cho khoẻ đời. Một năm có đến 6 -8 tháng mưa dầm dề, cứ rú rú trong nhà. Trời tạnh thì chạy ra sân chơi hay vác xe chạy vòng vòng cho khỏi cuồng vì bị mưa cấm cung. Chỉ nằm đọc truyện cho qua ngày tháng. Phòng mình có 3 ổ thông hơi trên cửa sổ nên khi mưa gió thổi lùa qua mấy cục gạch càng thêm lạnh. Nhà làm bằng mái tôn nên nghe mưa rơi để não buồn.


Mình chỉ thích mưa khi mua cái vườn bơ vì một ngày mưa là mình đỡ trả $2,000 tiền nước. Kinh 


Để hôm nào mình kể thêm với mấy tấm ảnh về đại học Đà Lạt được xây dựng ra sao dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm.


Nguyễn Hoàng Sơn 







Paris và Đà Lạt có gì lạ không em?


Hôm qua đọc bài của ông KHiêm Đổ về người Hồi Giáo lấy được 4 vợ khiến mình nhớ đến mấy người hồi giáo quen. Ở Paris khi xưa, có ông thần người phi châu, mướn phòng ô sin, bên cạnh phòng mình nên hay đụng chạm vào buổi sáng khi đi vệ sinh. Ông ta đi làm nên có sắm được một cái máy truyền hình nên lâu lâu có đá banh, ông ta hú mình qua phòng xem.


Để giải thích cho những ai chưa bao giờ sinh sống tại Pháp. Thời Napoleon đệ III, có ông baron nam tước tên Haussmann, được giao phó kiến thiết Paris lại.


Khi xưa, nhà cửa Paris rất lộn xộn, đường phố ngoằn ngoèo như cái làng, không có cống rãnh gì cả. Nước thì chỉ có máy phông tên hay giếng. Lúc cách mạng 1789 nổi lên, quân của vua, lúc đó chưa có cảnh sát cơ động. Lính rượt bắt các người dân biểu tình thì họ trốn trong các khu xóm nên ngày sau lại ra đường làm baricade rồi dẫn đến phá ngục Bastille, đưa vua Louis 16 và bà vợ Marie Antoinette, thích chăn dê, vắt sữa để thợ vẽ tạo dáng, toả nắng, lên máy chém. 


Người pháp đặt tên máy chém, tên ông bác sĩ tên Joseph Ignace Guillotin nên người Pháp gọi máy chém là “la guillotine” dù ông này không phải là người sáng chế ra cái máy giết người nhanh nhưng đã đề nghị sử dụng máy này để nói lên tình yêu thương của cách mạng, đã biến mọi tử tù đều bình đẳng, không như xưa kia, thời quân chủ, chết phải theo giai cấp.

Các chung cư ở Paris được xây cất từ thời Napoleon đệ tam, sử dụng cái mái nhà do kiến trúc sư Mansard thiết kế, gồm 2 mái, giúp sử dụng được lầu chót. Mỗi cửa sổ là một căn phòng ô sin. Mái góc 60 độ nên trong phòng bị vướng khúc này nên chả làm gì được, hạn chế không gian lại. Mình hân hạnh sống trong căn phòng ô sin được 8 năm khi đi học tại Paris.

Ông Guillotin, bác sĩ nhưng sau này lái vào chính trị. Ông ta đề xuất 1 kiến nghị Cách Mạng nên khoan dung, không muốn tử tội phải chịu nhiều đau đớn khi bị hành hình nên dự thảo một đạo luật và được quốc hội biểu quyết. Sau khi cách mạng thành công lật đỗ chế độ quân chủ thì các người khởi xướng cuộc cách mạng bị thanh trừng mà người Pháp gọi thời đại này “La terreur”. Nhớ khi xưa, học lịch sử tây với ông tây. Ông ta say sưa, phun nước bọt vào mặt mình khi nói về Robespierre, Danton,.. cách mạng tháng 7, 14 juillet mà người Việt khi xưa ở Đà Lạt hay kêu lễ cặt-to hui-dê khiến mình chới với, phải nghe đi nghe lại đến khi học lịch sử cách mạng pháp mới giác ngộ cách mạng là quatorze juillet. Tương tự đường Duy Tân khi xưa, họ gọi đường ma-ri-xanh-phúc. Đến khi qua tây mình mới vỡ lẽ là đường Maréchal Foch. Chán Mớ Đời 


Thậm chí tác giả bài La Marseillaise, được sử dụng trong cuộc tranh đấu lật đỗ chế độ quân chủ, Rouge de Lisle, cũng được máy chém này liếc cổ. Không nghe ông ta trước khi bị chém đầu hát Allons enfants de La Patrie, le Jour de gloire est arrivé. Do đó mình thấy ông Văn Cao bị đì, thì thấy ông ta còn may mắn hơn ông tây, làm bài hát mà người Pháp phải hát khi chào cờ cũng như mình khi xưa còn bé học Yersin, chào cờ tam tài rồi đến chào cờ Việt Nam Cộng Hoà.


Thời đại quân chủ, các tử tội được chém đầu bằng nhiều cách; giới quý tộc thì được đao phủ thủ chém đầu bằng cái kiếm, thường dân thì bằng cái búa, còn tử tội chống phá nhà vua, thế lực thù địch thì bị phanh thây. Còn ai chống phá nhà thờ thì bị thiêu đốt, ăn cắp thì treo cổ, làm tiền giả thì bị quăng vào chảo lò làm pot-au-feu. Kinh


Có một ông bác sĩ khác tên Antoine Louise với tinh thần lương y như từ mẫu, không muốn tử tội bị đau đớn lìa đầu, khi bị chém nên sáng chế ra cái máy chém. Khởi đầu ông ta thử chém mấy con cừu vì người Pháp thích ăn đầu cừu và người đầu tiên hân hạnh mở hàng cái máy chém của ông ta sáng chế tên Nicolas Jacques Pelletier, 1 tên ăn cắp đồ của cách mạng vào ngày 25 tháng tư năm 1792. Dân ăn cắp tại xứ đạo Hồi là bị chém tay, khỏi ăn cắp nữa. Xong om còn dân tây khi xưa, là chém cổ luôn.

Máy chém do ông bác sĩ André Louise sáng chế nhưng lại được thiên hạ đặt tên theo bác sĩ Guillotin vì ông ta ra đạo luật, giúp tử tù bị hành quyết nhẹ nhàng êm ái. Ở tây mình chưa bao giờ gặp ai mang tên guillotin cả. Chắc tuyệt tự vì nghe đến cái tên là cha con hết dám lấy, cứ sờ sờ đến cái cổ.

Khi máy chém này được sử dụng thì nhà báo kêu là máy guillotine, lấy tên của ông Guillotin, vì máy là giống cái nên họ thêm “e” vào. Xong om. Cứ tưởng tượng khi cách mạng nổi lên, họ đem người ra chém. Tên đao phủ đâu có thì giờ như tên đao phủ của ông nGuyễn Tuân, mài đao đêm trước cho bén, rồi phun rượu vớ vẩn. Cách mạng xử tử trên 30,000 người ở Paris. Đao mòn, chặt đầu chưa đứt, phải làm thêm vài nhát hay đao phủ phải xin lỗi tử tù, đợi tao đi mài đao, rồi quay lại chém tiếp. Chán Mớ Đời 


Ông Guillotin phản đối cũng như ông Louise kêu tui sáng chế cái máy, sao không dặt tên tui, để lấy bằng sáng chế, mỗi lần sử dụng được tiền huê hồng. Ông bác sĩ này kêu ân hận nhất đời ông ta là đề xuất kiến nghị dùng máy chém khiến nhà văn Victor Hugo kêu: « Il y a des hommes malheureux. Christophe Colomb ne peut attacher son nom à sa découverte ; Guillotin ne peut détacher le sien de son invention. »


Đang viết tới đâu rồi. À nam tước Georges-Eugène Haussmann. Mình kể chuyện nhưng có cái bệnh hay chú thích, rồi quên đang viết cái gì. Đâu phải ai cũng ở Pháp nên phải chú thích như chuyển ngữ cho bạn bè chưa bao giờ sang tây hiểu 1 tị. Ông thần này mới cho phá bỏ nhà cửa, các khu xập xệ trong Paris, và xây các đại lộ, mà ngày nay có một đại lộ mang tên vị nam tước này. Nếu mình không lầm, có đại lộ mang tên ông nam tước này gần nhà hát Opera. Ông ta chỉ cho phép xây 6 tầng lầu thôi, nghĩa là 7 tầng vì tầng trệt người Pháp gọi là Rez-de-chausée và mái nhà. Lý do các đại lộ là để khi có người dân nổi loạn thì lính có thể đem cà nông ra đặt bắn cho quên hết nhục hình. Từ đó hết có vụ nổi loạn ở Paris đến năm 1968. Thời đó chưa có xe hơi, chỉ có xe ngựa, thả kít đầy đường, đầy phố Paris như sau này toàn là kít chó.


Có một ông kiến trúc sư tên Mansard, đột phá tư duy biến cái mái nhà thêm một tầng nữa, và thêm cái cửa sổ nhỏ nên người Pháp gọi là “mansarde”. Thay vì bỏ không gian trống, nay các tay đầu tư có thêm một tầng. Họ chia ra thành các phòng nhỏ, bán cho các chủ nhân mấy tầng dưới để họ cho người giúp việc ở trên lầu. Từ đó mới có từ ngữ “chambre de Bonne”, mình tạm dịch là phòng ô-sin, bản quyền của Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo phơi nắng Sơn đen.


Sau này, thời mình học ở Paris, các gia đình pháp đa số không có ô-sin. Chỉ có gia đình nào giàu có thì mướn ô-sin rẻ từ Tây Ban Nha hay Bồ Đao nha, nghèo nên chạy qua Pháp làm việc như mấy người việt mình ngày nay sang Đài Loan, Hàn quốc,… mình có bà hàng xóm làm ô sin từ Tây Ban Nha đến. Một hôm thấy mình giặt quần áo trong mùa đông, lạnh buốt tay chân nên thương tình kêu để tao đem xuống nhà chủ dùng máy giặt dùm. Đời mình có nhiều người giúp đỡ lắm. Quý nhân không. Nếu không chắc không tốt nghiệp được.


Không có ô sin thì họ cho sinh viên nghèo mướn như mình hay ông thần hàng xóm, công nhân ở. Mỗi căn phòng độ 2 mét chiều ngang và 3 mét chiều dọc, xem như chưa tới 6 mét vuông, lại kẹt cái cửa sổ và mái nhà nghiên 60độ nên rất nhỏ. Chỉ đủ kê một cái giường đơn và một cái bàn, không có lò sưởi gì cả, không có lavabo. Ai nói trời mùa đông lạnh, nướng cục gạch bỏ vào chăn là hơi khiêm tốn vì không có lò sưởi thì sao nướng cục gạch. Phải ở mấy tầng dưới của dân giàu mới có lò sưởi, đốt than.

Hình đăng trên bài của ông Khiêm Đổ, thế kỷ trước, người ta đốt lò sưởi bằng than đá. Cầu thang này rộng chớ cầu thang của phòng ô-sin là đi phía sau, hình xoắn ốc, bề ngang chỉ có 60 phân. Mỗi ngày mình đi lên ít nhất 2 lần. Sáng 6 giờ sáng dậy, chạy bộ ở Bois de Boulogne vì ở gần Jardin d' acclimatation, métro Sablons. Nay kể lại thì phải công nhận đẹp thật nhất là mùa thu, lá vàng rơi bay bay khi chạy bộ hay mùa đông tuyết rơi. Cuối tuần thì ở lại đá banh với tây. Ước chi được trở lại một lần.


Cái phòng đựng quần áo của đồng chí gái ngày nay còn to hơn cái phòng ô-sin của mình khi xưa. Muốn đi vệ sinh thì phải bò ra hành lang, có một phòng vệ sinh gồm có cái cầu tiêu như ở Việt Nam, ngồi chồm hổm và một cái vòi nước để lấy nước nấu ăn, tắm gội hay giặt áo quần. Cuối tuần, đại học đóng cửa nên không có tiệm ăn, mình mua gạo về nấu cơm với cái lò ga cắm trại. Khui hộp cá mòi và xịt nước mắm.


Ông hàng xóm mình hay đụng nhau ở nhà vệ sinh nên trở thành quen. Mỗi lần buổi sáng ông ta đi vệ sinh trước thì gõ cửa phòng mình 3 cái để báo hiệu là đã đi trinh sát mặt trận xong xuôi, mình có thể thả bom. Mình bận áo manteau chạy ra cho lẹ vì sợ mấy người ở cùng dẫy vào cắm dùi ở trong. Tương tự khi mình đi trước thì gõ cửa ông ta. Paris có gì lạ không em? Với mình, Paris là cái lạnh buốt giá, sáng bận áo quần ấm, ngồi chồm hổm, lạnh quá Tào tháo trốn mất tiêu. Kinh


Đến tháng 8 ông ta đi về xứ, nghỉ hè 1 tháng rồi vác sang bà vợ với 3 đứa con. Thế là chính phủ pháp cho họ một căn hộ miễn phí ở Saint Denis. Lâu lâu ông ta hú mình một tiếng có sinh nhật con cháu gì đó. Cứ hai năm ông ta về xứ, vác thêm một bà vợ bé sang, ở chung, lại được chính phủ Pháp cho một căn nhà to đùng để chứa 3 bà vợ và mấy đứa con. Trước khi rời Paris, mình nhớ ông ta thỉnh 3 bà vợ bé từ quê hương sang, con lên đến 7, 8 mạng gì đó. Theo Koran, thì người đàn ông có thể cưới 4 bà vợ, với điều kiện là lo cho vợ được hết, để tránh nạn người đàn ông làm ma-cô, lấy vợ nhiều về, bắt vợ đi làm nuôi mình. Đây chính phủ pháp nuôi nên cứ cưới và đẻ vô tư.


Vợ ông ta không phải đi làm vì Chirac cho mỗi đứa con bao nhiêu không nhớ nữa. Có lần mình hỏi làm sao mà quán xuyến được mấy bà cũng một lúc. Ông ta nói, mấy bà ghen con vợ cuối thôi. Chính phủ pháp cho tiền thì ông về xứ lấy vợ tiếp, cấy tạo nòi giống cho tây. Họ lại muốn bảo vệ văn hoá của người di dân nên cho phép đem mấy vợ. Dạo ấy chính phủ pháp biết là sẽ có vấn nạn dân số trong tương lai nên khuyến khích người Pháp đẻ thêm con và được cấp dưỡng thêm và tiền thưởng. Dân da trắng thì không đẻ, còn dân di dân thì đẻ như gà công nghệ. Nay Ý Đại Lợi được xem là 50 năm nữa là tuyệt giống nhưng họ cương quyết không chịu cho nhập cư người da màu, vì không muốn biến xứ họ thành một xứ pháp thứ 2.


Nhớ có lần mình trở lại thăm mấy người bạn ở Munster, có phô mát nổi tiếng cực thối của pháp, thì khám phá ra các cô đầm ở tỉnh nhỏ này đều lấy hay có bồ công nhân đến từ phi châu. Lý do là trai làng hay tỉnh nhỏ bỏ ra Paris lập nghiệp, các cô con gái thì bố mẹ ngại nên ở làng thì đâu có thằng tây nào, chỉ có mấy ông thợ di dân từ phi châu sang. Về âu châu thấy đường phố Paris, khác với thời mình ở. Gặp người da màu nhiều hơn là tây da trắng, tương tự ở Anh quốc cũng vậy. Thủ tướng xứ này là người gốc Ấn Độ là biết tình hình ra sao.


Vòng vo đa thê ở xứ tây mới đến câu chuyện mình muốn kể. Chán Mớ Đời à chuyện đa thê của người Hồi Giáo và người Việt.


Ở Việt Nam, trong xóm mình, có 2 ông lấy hai bà vợ sống chung. Trên đường Thi Sách có một gia đình người Huế, ông chồng thấp thấp mà có đến hai vợ. Cứ lâu lâu, bà Lớn bà Nhỏ choảng nhau vì ông chồng không nộp thóc đúng kỳ hạn. Con của hai bà nhảy ra bênh mẹ nên mình mới hiểu tình yêu như nắng, khiến hai bà nóng quá la hét một góc trời. Thường thì ăn cơm tối xong thì mới có màn đối choại, ai lên giường ông chồng vì không muốn hát đừng xa em đêm nay cả. Sau này ông ta đi công tác ở Nha Trang, vác một cô bé, 18 tuổi, nhỏ tuổi hơn con ông ta về, với một cái bầu. Bà Hai dọn về Sàigòn với mấy đứa con. Xóm hết nghe Hán Sở tranh hùng nữa.


Ông kia người bắc, lấy bà vợ không chịu sinh con đẻ cái nên kêu cô em mình lên giường với chồng. Cô em thì tuổi gà, thuộc dòng dõi Âu Cơ, đẻ như gà công nghệ, 1 loạt 4 người con gái khiến hai chị em lo lắng. May thay có một quý tử ra đời rồi đến cô con gái út hơn mình 2 tuổi. Gia đình xum huề ở Nha Trang, hai chị em đóng một cái giường hoàng đế để tối tối ngủ 1 chồng hai vợ. Tưởng vui vẻ đến bạc đầu theo chủ nghĩa “tình chị con em”. Mấy người con gọi bà vợ đầu là Mẹ, còn bà em là Đẻ vì sinh ra họ.


Ai ngờ bà Ngô Đình NHu lên, ra đạo luật cấm 2 vợ thế là cô em khăn gói lên Đà Lạt với mấy người con, còn ông chồng, công chức sợ bị xếp trên kêu hủ hoá, hai vợ, ở lại Nhà Trang. Lâu lâu mình thấy hai vợ chồng lên Đà Lạt thăm con. Bà chị gầy hơn, cũng răng đen như cô hàng xén của Hoàng Cầm.

Hình chôm trên mạng, hai chị em hàng xóm thì răng đen như cô hàng xén của HOÀNG CẦM

Mình có nhiều kỷ niệm với gia đình này. Lý do là họ ở lâu nhất trong xóm. Lúc còn bé, cô con gái thứ 2 sinh con, bà mẹ cứ đem cái cốc. Sang nhà mình buổi sáng, kêu thằng cu đâu, ra đây cho bà bảo. Mình sáng ngủ dậy, bận quần xẻ nên vạch chim kê vào cái cốc rồi như được cài đặt Bluetooth, nước tự động rót vào cốc. Khi gần đầy, bà kêu xì tốp. Mình phải chạy ra vườn tưới u-rê cho mấy liếp rau. Bà ta nhìn ngọn suối nguồn tuổi trẻ của mình, cẩn thận không làm nhỏ giọt ra ngoài, ân cần đem về cho cô con gái ở cử uống nghe nói rất tốt. Cứ mỗi lần cô con gái sinh con là mình phải cung cấp nước tiểu mấy tháng trời. Sau đó thì cô con gái kế tiếp lấy chồng. chưa sinh con nhưng mình lúc đó bắt đầu lớn, chim chóc bắt đầu có lông măng. Thiên hạ hết kêu mình vạch quần ra, mở Robinet nữa.


Sau Mậu Thân, mình đi học Thái Cực Đạo ở Lasan Adran thì quen một tên ở đường Thi Sách, xóm đối diện nhà trung tá Tốn. Tên Lê Công Hùng, học dưới mình một năm hay hai. Đi học thì bố nó chở mình, nó và đón luôn. Lý do ông ta làm trong Trung Tâm Thẩm Vấn ở đường BÁ Đa Lộc. Có hôm tới sớm, ông ta dẫn mình và tên HÙng này vào Trung Tâm Thẩm Vấn như để cảnh báo trước. Nếu sau này nghe lời nằm vùng thì sẽ bị đưa vào đây. Ông bố dắt mình đi xem mấy ca sô, bổng thấy một tên trong xóm, hơn mình đâu 4 tuổi, khi xưa hay bắn bi với nhau, học trường Trần Hưng Đạo, bổng biến mất, ngồi trong đó. Kinh


Tên HÙng này hay đến nhà mình chơi và ở lại ăn cơm. Hắn to con nên ăn khoẻ lắm. Ăn hết cơm mấy đứa em mình nên chúng không ưa tên này lắm. Mình ăn thịt chó hai lần tại nhà tên này. Một lần đi xin con chó của ông Ưng Quyền cho hắn, tưởng hắn nuôi ai ngờ, một hôm nó kêu mình lên nhà ăn cơm. Thường ngày mình ở lại ăn nhà nó chỉ có cơm và bắp xú Đà Lạt luộc. Hôm đó, thấy rau mồng tơi, đủ trò hoá ra thịt chó 7 món. Ăn vào 3 ngày sau, xỉa tăm, ngửi vẫn còn thơm. Kể từ đó, mình chạy xe là bị chó rượt ngoài đường. 50 năm sau, về Việt Nam, đi Quảng Bình, mượn xe gắn máy của thiên hạ, vừa chạy ra khỏi khách sạn là chó dí rượt theo mình, phải đưa hai cái chân lên trời như xưa.


Một hôm rủ hắn leo trần nhà vì mình khám phá ra giữa nhà có cái nắp đậy plafond. Mình hay leo lên trên đó rồi lần mò sang các nhà hàng xóm. Hắn nghe thám hiểm các ổ chuột thì nhất trí. Hai thằng bò lên trần nhà. Rồi khom khom bò qua nhà ông người Huế, cháu của ông Hà Thúc NHơn rồi đến nhà bà hay kêu mình tiếp tế nước tiểu cho con gái khi ở cử. Có dịp mình kể chuyện về cháu ông Hà Thúc Nhơn, có cô vợ dạy vẽ ở trường Việt Anh. Từ đó bò qua nhà ông Tước, mình có gặp hai người con của gia đình này trong chuyến đi Việt Nam vừa qua nên kể cho họ về lịch sử nơi họ ở khi xưa. Mấy chị em là fan cứng của mình.

Mái nhà thì dốc độ 30% nên chỉ đi được ở giữa, và mỗi nhà đều có cái nắp để leo lên trần nhà. Mình nói thằng HÙng cẩn thận, phải đi trên mấy cái kèo, không được đi trên trần nhà. Nó kêu yên chí, bò theo sau. Khi đến nhà ông Tước, thì có bức tường chấn, chỉ có cái lỗ nhỏ để chui qua. Mình gầy nên chui qua lọt còn thằng HÙng thì béo to nên không qua. Loay hoay làm sao nó làm cục gạch rớt xuống trần nhà nghe cái rầm to đùng như Việt Cộng pháo kích. Hai thằng run như Lưu Bị thấy sấm sét. Ở dưới nhà có tiếng chị hàng xóm kêu Tèo ngủ đi. Cô chị la thằng em út, tưởng nó không ngủ nên phá chơi.


Mình sợ quá, quay đầu, ra hiệu thằng hÙng đi về. Nó quay lại, mất cảnh giác đạp ngay cái nắp trần nhà của bà xin nước tiểu của mình.


Mình chỉ thấy nó lọt qua khung nắp trần nhà, phía dưới là bàn thờ gia đình này. Sau đó thấy nó rơi xuống đất rồi những tiếng leng keng của Lư, tách, bàn thờ, chuối bông đổ xuống kêu ầm ầm. Mình chỉ thấy qua khung tròn của cái nắp, cô con gái thứ 3 đang nằm trên giường với chồng, mặt xanh như đít nhái. Sau này, cô ta qua nhà kể là tưởng Việt Cộng núp trên trần nhà, nhảy xuống bắt ông chồng là trung uý. Kinh


Mình sợ quá dọt về nhà. Lâu quá không thấy thằng hÙng trở lại nhà mình, lại nghe tiếng bà hàng xóm réo ngoài sân nên mò mò sang nhà hàng xóm, làm bộ mặt ngây thơ vô số tội. Mình thấy bà hàng xóm đang xỉ vả thằng đồng môn. Nó gặp mình chỉ hỏi “tao ăn cơm chưa?” Như tên em út của anh em Dalton trong truyện Lucky Luke khiến mình càng lo sợ. Hồn vía nó bay trên mây, chưa hoàn hồn. Mặt nó như người từ cung trăng xuống, chưa hoàn hồn vì cái té trên trời xuống. Nó đi theo mình về. Tối đó, bà hàng xóm qua nhà mình mắng vốn.


Khi gặp lại mấy chị em hàng xóm, mình muốn kể chuyện này cho cô chị nghe, để giải thích sự việc chị ta la hàm oan cho cậu em út nhưng không may chị đó đã qua đời. Chán Mớ Đời 


Nay kể lại chuyện này như một lời tạ lỗi, đã làm chị ta nghi oan cho cậu em.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo phơi nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Đường Phan đình Phùng xưa

 Hôm nay, ngồi xem lại một vài tấm ảnh Đà Lạt, thấy mấy tấm chụp trước Mậu Thân, hình ảnh một khúc đường của Phan Đình Phùng từ đầu đường, ngã ba Duy Tân đến cầu Cẩm Đô. Khúc này mình ít quen ai và ít khi đi ngang, ngoài trừ đến tiệm thuốc bắc của ông Huỳnh Ôn nên tải lên đây cho các bác xem. Biết đâu lại có bác nào ở khu vực này, cho biết thêm tin tức về Đà Lạt thời xưa.

Đây là đầu đường Phan Đình Phùng, ngay ngã Ba Duy Tân. Nhà 2 tầng bên trái gồm có phòng mạch của bác sĩ Phạm Trọng Lương ở trên và nhà bảo sanh Trương Thị Lập ở dưới, nơi cô em kế mình được sinh ra tại đây. Đi tới chút nữa là nhà của Nguyễn Minh Dũng, học Adran, đánh bóng bàn. Nghe anh chàng kể là nay vẫn tiếp tục đánh bóng bàn ở Bolsa. Mình có nói chuyện vài lần nhưng không có duyên để gặp lại. Cứ mỗi lần hẹn, cuối cùng anh chàng bị bận gì đó. Kế nhà hai Bác Nguyễn Đình Thừa là nhà cậu Đằng, hình như Lê Minh Đằng, bà con với mẹ mình, hay chạy chiếc xe Lambretta hai bánh, hướng đạo Lâm Viên. Mình không biết bà con ra răn, chỉ nhớ lâu lâu, cậu chạy xe lên nhà mình, thăm bà cụ. Hình như mình có gặp lại con trai của cậu một lần ở Bolsa.
Kế bên cạnh nhà cậu Đằng, là tiệm bán than bên tay trái. Thấy mấy bao tải đựng than. Mỗi tháng, ông chủ chở bằng xe Renault đến nhà mình 1 bao tải lớn than. Sáng sớm, mình có nhiệm vụ, chặt than ra từng miếng nhỏ, lấy ngo, chẻ nhỏ rồi chụm cái lò than, khi nào cháy hồng thì đem vào nhà nếu không thì khói um nhà. Để nấu nước sôi pha trà cho ông bà cụ, và mấy người em uống sữa sáng trước khi đi học. 
Lò than nấu khi xưa. Mẹ mình bán khá nhiều, 1 tháng độ 20 cái lò này.
Lò dầu hôi thay thế lò than, nhẹ hơn, không có khói

Sau này, khi lò dầu hôi được CHợ Lớn sản xuất thì thiên hạ hết xài bếp than, mẹ mình khi xưa bán bếp than làm bằng đất sét nhưng từ từ phải chuyển qua bán lò dầu hôi. Lúc đó mới thấy, kỹ nghệ mới sẽ sinh ra công việc làm khác nhưng lại loại bỏ một số nghề cũ. Đốt than thì người ta cần ngo. Ngo Đà Lạt là do người Thượng ở trong Cam Ly, kiếm trong rừng đem ra chợ bán, đổi lấy gạo muối. Khi người ta xài dầu hôi thì nghề làm than cũng tịt ngòi cũng như mấy bà Thượng hết đem ngo ra bán ngoài chợ.
.
Đây là khúc gần trường học của người Tàu Tân Sanh. Hình này chụp thời xe gắn máy Nhật Bản chưa qua, thấy tiệm sửa xe Ischia và Goebels nên đoán trước năm Mậu Thân. Phía tay phải mình chỉ biết nhà của anh Paul, đá banh, sau bị Việt Cộng gài lựu đạn nơi xe chết ngay bãi đậu xe của nhà hàng Nam Sơn với ông Thanh, bầu đội đá banh Đà Lạt. Sau khi ông Thanh chết thì đội banh mới nhờ ông cụ mình là ông bầu. Anh Paul có hai cô em gái học Văn Học, một cô tên Ngọ và Dậu. Cô Ngọ , khi xưa vào lớp hay bị chúng chọc, hát em tan trường về, trường tan em về. Cô Dậu nay ở Đức quốc.
Nhà số 28 sau 75, đoán là năm 1991 do ông nhật Kuro chụp. Năm 1992 mình về Đà Lạt, te tua như vậy, nhìn không ra.

Khúc này có tiệm thuốc bắc của ôgn Huỳnh Ôn, đẹp trai, hay bận áo Par-dessus, đội mũ phớt Borsalino, đi khám bệnh. Mỗi lần mẹ mình ở cử hay mang thai là uống thuốc tể của ông ta. Mình đen vì khi có mang minh, mẹ mình uống thuốc tể Huỳnh Ôn. Sau này, bà vợ lớn sinh được một cô con gái, nên cưới chị Bảy về sinh con trai cho ông ta.
Đây là khúc đi qua trường Tân Sanh. Chiếc xe mì này hình như có dạo hay đi vào buổi chiều ở đường Hai Bà Trưng. Người con trai lớn hơn mình một vài tuổi, đi trước, lấy cái đồ gõ cóc óc, kêu mì đây. Có lẻ vì vậy mà người ta kêu “mì gõ”, đi ngoài đường, đẩy suốt đường, và gõ thay vì kêu mỏi mồm. Sau Mậu Thân thì hết thấy họ đẩy xe đi, có lẻ vì giới nghiêm hay mất an ninh. Cuối tấm ảnh là khu nhà bà Giáo Trình, cho vay tiền, có con dốc đi lên từ đường Phan Đình Phùng, đối diện khách sạn Cẩm Đô mà dân Đà Lạt hay gọi Dốc Nhà Làng. Không hiểu lý do, ai biết thì cho em xin. Từ nhà mình ra chợ, phải đi qua con đường này và leo dốc Nhà Làng. Đi ngang nhà ông Giáo Trình, hay gặp nên phải chào bà. Chỗ này có ông cống chảy từ trên Mình Mạng xuống nên đen xịt và thối nhất là về mùa nắng.
Nhà hàng và khách sạn Cẩm Đô, ở ngay ngã ba Phan Đình Phùng và cầu Cẩm Đô, trước kia còn được gọi cầu Ông Cửu Huyền. Nhà hàng này của anh ông bà Thiên An Đường (tiệm thuốc bắc Con Cua). Sau này qua Pháp, mình có ghé thăm vài lần, được ăn lại món mì hoành thánh Cẩm Đô. Dân Đà Lạt khi xưa, mới qua Pháp thì mình có ghé thăm ở trại tạm cư là gia đình tiệm thuốc tây Mình Tâm, bạn của mẹ mình khi ở tù thời tây và nhà hàng Cẩm Đô. 
Hình này cho thấy bên phải là ba căn nhà mới được xây cất trước khi mình đi Tây của tiệm chụp hình Mỹ Dung, của ông bà Đoàn và người thứ 3 không nhớ tên. Hình như của tiệm thuốc tây Minh Tâm. Có lần bò vào đây nghe mấy ông thần Yersin tập hát. Chỉ nhớ Trình chơi trống, em anh chàng Chương, con ông bà Đoàn, khi xưa học chung với mình, du học ở Hoa Kỳ. Nay là rể của cô chú Phấn, bạn của mẹ mình.
Đây là khúc tiệm thuốc Bắc Ngô Như Khương. Cái quán bán báo này thì mình nhớ nhiều. Mình hay bị sai ra đây mua báo cho ông cụ. Họ có bán kẹo cao su thơm như múi mít. Nhai nhai rồi thổi cái bong bóng thật to. Mấy đứa em thấy thèm xin, lấy từ mồm ra, đày nước miếng cho chúng nhai ké rồi anh em thay phiên nhau nhai kẹo cao su. 

Nhà hai tầng phía cuối là dãy nhà của nhà Đinh Anh quốc, học chung khi xưa. Ông nội của anh chàng này là xếp của ông cụ khi đi lính Ngự Lâm Quân cho ông Bảo Đại. Khi xưa, ông cụ mình hay dẫn mình đến đây gặp vị chỉ huy cũ. Nhà Anh quốc ở lầu trên, ở dưới thì cho người ta mướn làm tiệm hớt tóc Như ý. Trước tiệm Ngô Như Khương, có xe mì, sau này dời về bên hông của khách sạn Cẩm Đô, rất nổi tiếng. Mỗi lần đau, mình hay đến ăn mì có hẹ nên hết đau.

Thôi ngưng ở đây. Hôm nào buồn đời, mở thêm mấy tấm ảnh khác rồi kể tiếp. Xộn gom

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo phơi nắng Sơn đen 
Nguyễn Hoàng Sơn 






Hồ Xuân Hương và các hồ nhân tạo nhỏ tại Đà Lạt


Hôm trước, mình kể về sự thành lập ốc đảo Thuỷ Tạ Đà Lạt, qua tấm không ảnh chụp toàn diện hồ Xuân HƯơng, thấy có thêm hai hồ nhỏ; hồ Đội Có và hồ Tống Lệ, nằm phía bắc hồ, hai bên đồi Cù. Khi trời mưa, nước mưa từ Sân Cù hay thành phố, chảy vào các hồ này để hứng nước dơ thay vì để chảy xuống hồ Xuân Hương. 


Thiên hạ hay nhầm hồ này mang tên bà thi sĩ Hồ Xuân Hương. Thời tây, lúc đầu có hai hồ; gọi là hồ Lớn (Grand lac) và Petit Lac (hồ Nhỏ), rồi nhập thành một hồ. Đến thời Ngô Đình Diệm, được đổi tên Xuân Hương.


Đà Lạt nhiều nơi có những cái ao nhỏ, khi mưa thì nước mưa từ trên cao chảy xuống vào những nơi này. Đất Đà Lạt đa số là đất sét nên khó thấm nhanh. Mình nhớ ở Petit Lycee, chỗ vào trường ngay đường Hùng Vương, có cái hồ nhỏ để chứa nước mưa mà khi xưa, cả đám hay đến đây bắt lăn quăn cho cá ăn. Tháng 2 vừa rồi, có về Đà Lạt, xe chạy ngang đây, thấy còn 1 phần. Hồ Tổng lệ thì chắc mất tiêu, hồ Đội Có thì có lần thấy, nay hình như họ lấp rồi, không để ý lần chót về Đà Lạt. Hôm nào rảnh mình kể vụ đồi Cù.

Hồ Xuân Hương và đồi Cù trước năm 1932. Ốc đảo Thuỷ Tạ đã được thành lập, chỉ có một quán nhỏ tại địa điểm Thuỷ Tạ ngày nay.


Nhìn tấm không ảnh, thấy hồ Xuân Hương to lớn từ khi ông Cunhac, chính thức cho đào hồ nhân tạo này, để chấn nước của suối Cam ly, để thị dân Đà Lạt sử dụng nước uống và có không gian như buồng phổi của thành phố. 


Thiết kế đô thị luôn đi kèm với các công viên, như các buồng phổi của thành phố. Khi dân tình ngột ngạt trong nhà thì bò ra các công viên thành phố để dã ngoại. Đầu năm nay, mình có đi viếng A Căn Đình, thành phố Buenos Aires có rất nhiều không gian xanh, thậm chí đường phố đều có trồng cây hai bên đường mà trên máy bay thấy rõ ràng. Nói chung Đà Lạt khi xưa không có công viên gì cả cho mỗi khu phố.


Sân vận động khi xưa, nay họ xây cất siêu thị ở dưới và phía trên thì bê tông hóa nhưng ít ra cũng có chút không gian để người thị dân ra đây chơi. Mình thấy đa số là du khách thì đúng hơn, chụp hình toả nắng. Khi Đà Lạt bị bê tông hoá thì nước sẽ không thấm xuống đất mà chảy đi đâu, lôi kéo thêm rác, dơ bẩn theo.


Ở Cali, có luật không được thải nước dơ xuống ống cống. Điển hình là khi đổ xi măng cho khách hàng, mình phải hứng lấy nước dơ, xi măng, không được xịt nước dơ xuống đường, chảy xuống ống cống. Trước khi đổ xi măng, phải đem đồ bịt miệng cống để nước dơ không chảy xuống đó. Thu dọn chiến trường sau khi đổ xi măng rất châm và tính thêm tiền.


Trung tâm thị xã Đà Lạt khi xưa có hai không gian xanh là đồi Cù và xung quanh hồ Xuân Hương. Sau 75 thì họ rào đồi cù lại, chỉ dành một tầng lớp giàu có đi bách bộ ở trong, lâu lâu dừng lại, lấy cái gậy sắt, quất quả banh. Nay nghe nói họ đang xây cất nhà cửa. Xem như Đà Lạt luôn Đồi Cù, còn hồ Xuân Hương thì nước cống đổ về khiến cá chết như rạ, xông mùi như thác Cam Ly ngày xưa.


Mình thấy ảnh chụp xây nhà hay khách sạn chi đó, nước thải sẽ đi về đâu. Đi về đâu nước dơ?

Nếu xem tấm ảnh trên chúng ta thấy hồ Xuân Hương với ốc đảo có nhà hàng được người thị dân Đà Lạt gọi Thuỷ Tạ, mà mình đã kể. Phía trên hồ Xuân Hương, bên tay phải, có một hồ nhỏ, gọi là hồ Tống Lệ hay Tổng Lệ. Chỗ này, mình hay ra đây câu cá với ông dượng mình, thợ hớt tóc, chỗ ngã ba chùa, cạnh hãng cưa của ông Xu Huệ. Con gái của ông bà Xu Tiếng, lại nói với mình là hãng cưa của gia đình cô ta nhưng không hiểu sao thiên hạ hay gọi hãng cưa Xu Huệ. Ông Xu Huệ hay dạy dân Đà Lạt vô thất, nhịn ăn chữa bệnh. Mình chỉ nhớ ông ta râu trắng, da hồng,… người ta gọi Xu vì thời tây làm giám thị, cai công trường mà người Pháp gọi “surveillant”, người Việt mình đọc tiếng tây dài không được, nên đơn âm hoá rồi từ từ thành Xu như ông Xu Tiếng, Xu Huệ.

Thủy tạ, họ nới rộng thêm ra veranda nên mất cái đẹp nhỏ nhắn của quán này như thủa ban đầu. Sợ nhất là xem Đà Lạt ngày nay. Kinh. Để mình tải tấm ảnh ngày xưa để quý vị so sánh. Vài năm nữa thì họ xây luôn cái khách sạn to đùng trước khách sạn Palace.
Đà Lạt năm 1968

Bên trái là hồ Đội Có, cạnh là nhà máy nước, lọc nước cho dân Đà Lạt xài. Hồ được gọi Đội Có vì ông Đội Có xây như cầu ông Đạo do ông Quản Đạo xây. Nước mưa ở vùng trên cao như Giáo HOàng Học Viện, Võ Tánh chảy xuống, chứa tại đây. Ông Đội Có, có dãy nhà trên khu Hoà BÌnh, ngay bến xe đò mà người Đà Lạt khi xưa hay gọi dãy nhà Đội Có. Ông này, khi xưa, làm cai đội cho tây, sau đi thầu xây cất nhà nên giàu, xây mấy dãy nhà ở Đà Lạt tương tự ông Võ Đình Dung. Thời đó mấy người lên Đà Lạt, đi làm thợ vịn cho Tây rồi khi biết nghề nhảy ra làm thầu khoán như ông Võ Đình Dung là người thầu khoán xây nhà ga Đà Lạt, ông Xu Tiếng xây Nhà Địa Dư,… 

Chỗ đường đi vào Petit Lycee, có cái hồ nhỏ để chứa nước mưa, nay vẫn còn

Ông Võ Đình Dung làm thầu khoán nhưng cũng là nghị viên thành phố, gồm 3 người Pháp và hai người Việt. Ông ta biết chương trình phát triển Đà Lạt ra sao nên mua hết đất đai dành cho người Việt. Khu từ MÃ Thánh tới trường Việt ANh, khúc đất bằng là dành cho người Việt nên ông ta mua hết, sau này cho người ta mướn để làm vườn như ông Ba Đà. Sau 75 thì con cháu hết dám đòi. Đất của chùa Linh Sơn, Linh Quang, đều của ông bà Võ Đình Dung hiến tặng. Nói chung ông bà Võ Đình Dung là một người có công rất lớn với người dân Đà Lạt. Nghe kể, một hôm ông Võ Đình Dung, đi làm về, đưa cho bà vợ cái cặp tiền mới lãnh về. Đang ngủ bổng nhiên bà Võ ĐÌnh Dung có linh tính chi đó, ngồi dậy, mở cặp tiền ra thì thấy toàn là tiền giả nên đem đốt. Vừa đốt xong thì mã tà gõ cửa, xét nhà. Từ đó, ông bà tặng đất để xây chùa và từ từ hết làm việc, tu tại gia.


Năm 1932, có một vụ lũ lụt khá lớn, làm vỡ cái đập, cuốn trôi mấy nhà cửa dành cho người Việt nên người Pháp cẩn thận hơn nên họ thành lập thêm hai hồ nhỏ này. Mình xem mấy tấm ảnh cũ xưa, không thấy hai hồ nhỏ này. 


Ông cụ mình khi xưa, làm cho ty công quản nước Đà Lạt, ở ngay hồ Đội Có, nên mình có thấy mấy ống nước to lớn, bơm nước từ hồ Xuân Hương vào nhà máy để lọc, cho dân Đà Lạt dùng. Nay nghe nói nước hồ Xuân Hương hôi thối vì ống cống chảy ra đây, dân Đà Lạt dùng nước uống của hồ Dankia. Khi xưa, chợ Đà Lạt có ống cống, trời mưa là chảy ra suối Cam Ly ngay góc Ấp Ánh Sáng, là thối rồi. Khúc đường Phan Đình Phùng và HAi Bà Trưng, chảy ra hai con suối rồi chảy về Thác Cam Ly. Các cặp tình nhân đến Thác này, mơ mộng, thề thốt mối tình hữu nghị sẽ không bao giờ thay đổi như mùi thối ở đây. Nay khắp Đà Lạt, cho ống cống chảy từ thượng nguồn suối Cam Ly ra suối rồi ra hồ Xuân Hương là ngọng. Nghe nói cá hồ Xuân Hương chết nổi lềnh bềnh trên hồ.

Đây là hồ Lớn (Grand Lac),có cái đập và con đường trước khách sạn Palace, chạy qua bùng binh tiếp nối đường Đinh Tiên Hoàng và Võ Tánh, Nguyễn Thái Học sau này

Lúc đầu, người Pháp cho làm 2 cái hồ nhân tạo, bằng cách làm cái đập để ngăn hai hồ. Hai hồ được gọi là hồ Lớn và hồ Nhỏ (Grand lac và Petit Lac). Hồ lớn để người Pháp sử dụng và hồ nhỏ để người Việt sử dụng, giai cấp khác biệt. Thật ra có thêm một cái hồ nhỏ khác ở thượng nguồn, bị ngăn bởi chiếc cầu chạy lên Nguyên Tử Lực. Lâu ngày phù sa kéo về, người Việt không có tiền sau 1954, không vét hồ nên trở thành bùn đọng. Cách đây mấy năm mình đi ngang thì thấy hơi được vét bùn một tí. Mình có đọc trong Đặc San Sử Địa trước 75. Để hôm nào buồn đời mình kể thêm vụ này.

Đây tấm không ảnh Đà Lạt khi Hà Nội cho vét bùn ở hồ Xuân Hương, ta thấy còn dấu vết của cái đập, đê ngăn hồ Lớn và hò Nhỏ, chỗ đường Trần Quốc Toản, cây xăng Esso, cạnh Thuỷ Tạ, chạy qua phía bùng binh bên kia đường Bà Huyện Thanh Quan, lên đường Đinh Tiên Hoàng. Mình nghĩ nếu cái đập này không bị vỡ thì có lẻ người Pháp đã không xây Thuỷ Tạ

Đến năm 1932 thì có một vụ lũ lụt làm vỡ cái đê của hồ Lớn, cuốn trôi mấy căn nhà của khu người Việt ở hạ lưu, khiến 15 người chết nên người Pháp mới cho dời khu phố người Việt gần ấp Ánh Sáng sau này, lên khu Hoa Bình.

Đây hình ốc đảo Thuỷ Tạ được thành hình trước khi xây quán Thuỷ Tạ, và đạp bỏ cái đập bên tay trái, chạy từ Palace qua bên kia bờ, chỗ đường lên Đinh Tiên Hoàng. Có thấy một phần hồ Tống Lệ been kia hồ chỗ đường Bà Huyện Thanh Quan

Khi người Pháp thiết kế thành phố Đà Lạt, qua bản vẽ của ông kiến trúc sư Ernest Hébrard, các khu vực có đồi ở Đà Lạt đều dành cho người Pháp như dọc đường Trần Hưng Đạo, Yersin và Hàm Nghi, nên mới có dinh tỉnh trưởng được xây trên đỉnh đồi cao nhất Đà Lạt. Sau này, khu Hoà BÌnh được dành cho người Việt và phố xá người Việt tại Đà Lạt, khởi đầu từ đây ra. 

Đây khu phố người Việt trước vụ lụt năm 1932, bị nước cuốn trôi, khiến 15 người Việt tử nạn. Sau đó được biến thành đất vườn để người Việt trồng rau cạnh cầu Ông Đạo mà nay họ làm công viên. Mình có kể khu này rồi nhưng nay có thêm tài liệu, để hôm nào có ai muốn mình kể tiếp thì sẽ bổ túc. Mình kể chuyện Đà Lạt theo đơn đặt hàng. He he
Từ máy bay khi đến Buenos Aires, thấy cây cối hai bên đường. Khi xuống dưới đất mới thấy cảm mến thành phố này vì có rất nhiều cây và công viên. Họ không bee tông hoá đất nước họ.
Sàigòn năm 1955, cây cối được trồng khắp nơi. Nghe nói họ chặt hết và để thành lập mấy auvent như ở Tân Gia Ba. Chán Mớ Đời 


Nguyễn Hoàng Sơn