Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hướng nghiệp. Hiển thị tất cả bài đăng

Chiếu khán H-1B

 Nên hay không hủy bỏ H-1B Visa

Gần đây chính phủ Trump lên tiếng huỷ bỏ chiếu khán lao động H-1B rồi vài ngày sau lại kêu giữ lại. Loại chiếu khán này giúp các công ty Hoa Kỳ tìm được nhân viên giỏi trên thế giới. Một chương trình lấy chất xám của thế giới nhưng những năm gần đây bị lạm dụng khá nhiều nên chính phủ Trump mới đầu muốn huỷ bỏ nhưng sau lại tiếp tục dùng nhưng chắc sẽ kiểm soát kỹ càng hơn tránh bị lạm dụng.


Đi Kyrgyzstan anh chàng hướng dẫn viên nói muốn sang Hoa Kỳ thì mình nói sử dụng bốc thăm Thẻ xanh hàng năm mà chính phủ Hoa Kỳ cho 85,000 trên thế giới được định cư tại Hoa Kỳ hay chương trình H-1B nhưng phải có trình độ thạc sĩ trở lên.  

Cách họ gian lận H-1B


Mình thấy mấy vị tổng giám đốc các công ty lớn ở Hoa Kỳ đều do người gốc Ấn Độ nắm giữ, thêm thân hữu làm về công nghệ thông tin hay chửi mấy ông bà đồng nghiệp cà ri nị. Xem phim Ấn Độ và đọc tin tức thì được biết Ấn Độ sản xuất 1 triệu kỹ sư hàng năm tỏng khi Hoa Kỳ sản xuất 500,000 cử nhân hàng năm. Họ đông dân cư nên cuộc chiến dành suất vào đại học danh tiếng rất cam go và người tốt nghiệp thuộc hàng giỏi nên các công ty Hoa Kỳ đều mướn họ. Hôm nay đọc bài của chính một người ấn độ viết về sự lạm dụng của người Ấn Độ, đúng hơn là các công ty tuyển lựa nhân viên ấn độ nên tóm tắc lại đây để hiểu lý do lạm dụng chiếu khán H-1B khiến chính phủ muốn dẹp bỏ loại này nhằm cung cấp nhân tài cho Hoa Kỳ.


Có cả một ngành công nghiệp tuyển dụng dựa trên quan hệ của người Ấn Độ ở Mỹ trong lĩnh vực công nghệ và công nghệ thông tin. Ngành này bao gồm các công ty như IBM, Amazon, Microsoft, Google và Meta, nơi có rất nhiều quản lý tuyển dụng người Ấn Độ chỉ tuyển dụng người Ấn Độ. Nhưng vụ lừa đảo lớn hơn lại được thực hiện thông qua "5" công ty kỹ nghệ thông tin lớn của Ấn Độ. Khui xưa, mình đi làm thì chỉ việc gửi thư đến công ty rồi có người liên lạc với mình để phỏng vấn. Nay thì họ nhờ công ty tư vấn tuyển dụng trước rồi cho công ty biết để phỏng vấn, tránh mất thời gian.


"5" công ty lớn này thực chất là 6 công ty kỹ nghệ thông tin lớn của Ấn Độ, bao gồm Tata Consultancy Services (TCS), Infosys, HCLTech, Wipro, Cognizant và Tech Mahindra. Đây đều là những công ty khổng lồ với hàng nghìn nhân viên, nhưng phần lớn nhân viên của họ lại là người Ấn Độ. Một số thậm chí có lực lượng lao động lên đến 99% là người Ấn Độ. Họ đã bị kiện trong các vụ kiện lớn về hành vi tuyển dụng phân biệt kỳ thị, nơi họ cố tình sa thải và từ chối tuyển dụng nhân viên không phải người Ấn Độ (vụ kiện Cognizant).


Các nhà tuyển dụng Ấn Độ làm việc với các quản lý tuyển dụng gốc Ấn Độ để lấp đầy các vị trí "chỉ dành cho người có visa H-1B". Chúng ta có thể tìm thấy hàng trăm bài đăng tuyển dụng kiểu này trên LinkedIn. Điều này dĩ nhiên là bất hợp pháp, nhưng Bộ Tư pháp Mỹ lại thờ ơ nên không có chuyện gì xảy ra với những người này. Những công ty môi giới lao động này hoạt động ở cả Mỹ và Ấn Độ, nơi họ tìm kiếm nguồn lao động.


Tiếp theo là các công ty tư vấn nhập cư Ấn Độ. Các doanh nghiệp này quản lý và hướng dẫn người nộp đơn xin visa H-1B thực hiện hành vi gian lận nhập cư. Cuối cùng là nguồn lao động Ấn Độ từ Ấn Độ. Đây là những người lao động có kỹ năng rất thấp, thường rất nghèo, thường chỉ nói được tiếng Anh rất kém và hoàn toàn không thể hòa nhập. Họ có bằng cấp giả từ các trường cấp bằng giả ở Ấn Độ, mà họ có thể mua rất dễ dàng chỉ với vài trăm đô la. "Nhân tài" này thường là những người đàn ông trẻ tuổi trong độ tuổi nhập ngũ, được gia đình gửi đến đây để tìm việc làm ở Mỹ và gửi tiền về nhà. Đây là một thực tế được chính phủ Ấn Độ khuyến khích mạnh mẽ.


Năm ngoái mình có đọc bài báo kể về một người gốc Ấn Độ, bán đất đai cua rông bà để lại, trả tiền cho nhóm nào đó dẫn qua Năm Mỹ, rồi từ từ đi xe buýt, đi bộ qua các nước lên đến mễ tây cơ rồi vượt qua biên giới mỹ nhưng bị bắt và dẫn độ về Ấn Độ. Mình đoán là sau khi qua biên giới chỉ xin tỵ nạn tại Hoa Kỳ rồi trốn luôn ở Hoa Kỳ. Nay ICE họ tìm qua các địa chỉ này để mò tới bắt.


Hàng năm chính phủ Hoa Kỳ có chương trình xổ số thẻ xanh cho người ngoại quốc. Mình có anh bạn gốc tây bốc thăm được cái này và qua mỹ sống. Cách thức hoạt động của hệ thống bốc thăm H1B là công ty nộp đơn cho USCIS thay mặt cho người nộp đơn xin visa H-1B. Có một giới hạn hàng năm cho số lượng visa H1B được chấp thuận (gia hạn không được tính vào giới hạn này). Giới hạn này thường đạt đến trong vòng vài tháng mỗi năm. Ví dụ, giả sử có tổng cộng 500.000 đơn xin visa H1B nhưng giới hạn là 85.000 đơn mỗi năm. Một hệ thống bốc thăm ngẫu nhiên được sử dụng để chọn ra 85.000 đơn từ 500.000 đơn đó. Nhưng 85.000 đơn này được chia thành 20.000 đơn dành cho những người có bằng Thạc sĩ trở lên (điều này rất quan trọng cần nhớ) và 65.000 đơn dành cho các trường hợp H1B thông thường.


Những công ty tư vấn nhập cư Ấn Độ (những kẻ lừa đảo) thường tạo ra hàng chục đơn ghi danh cho mỗi người Ấn Độ bằng cách sử dụng các công ty ma. Điều này làm tăng đáng kể cơ hội được chọn trong chương trình xổ số cấp thị thực H-1B cho những người Ấn Độ gian lận. Đây là hành vi gian dối chủ yếu khiến hơn 70% thị thực H-1B được cấp cho công dân Ấn Độ. Những người nộp đơn xin thị thực H-1B hợp pháp từ khắp nơi trên thế giới chỉ nộp một đơn duy nhất. Còn những kẻ lừa đảo người Ấn Độ lại nộp hàng chục đơn cho mỗi người.


Mặt trái thường không được nhắc đến của hành vi gian lận này là nó thực sự làm giảm số lượng nhân tài hàng đầu đến Mỹ bằng cách ngăn chặn những ứng viên thực sự tài năng từ Canada và châu Âu, những người tuân thủ luật lệ.


Nhưng đó chưa phải là tất cả. Nhớ khoản 20.000 suất dành cho bằng thạc sĩ trở lên không. Họ cũng lừa đảo cả hệ thống đó nữa. Họ sử dụng bằng cấp giả từ Ấn Độ để giành được suất học thạc sĩ ở Mỹ. Trong các chương trình thạc sĩ này, họ có những người đồng hương Ấn Độ giúp đỡ, cho phép họ dễ dàng hoàn thành bằng thạc sĩ. Hầu hết thời gian, họ trả tiền cho ai đó ở Ấn Độ để làm tất cả bài tập. Trong khi đó, họ lái Uber hoặc làm việc chui bất hợp pháp (người giữ visa F1 không được phép làm việc toàn thời gian).


Sau khi lừa đảo để có được bằng thạc sĩ, họ lại tiếp tục sử dụng phương pháp gian lận tương tự bằng cách nộp nhiều đơn xin việc. Do đó, họ chiếm đoạt phần lớn trong số 20.000 suất visa H1B dành cho sinh viên thạc sĩ.


Phần lỗi nhất của hệ thống visa H-1B chính là việc gia hạn. Visa H-1B được thiết kế như một loại visa tạm thời. Nó nằm trong cùng nhóm với các loại visa tạm thời khác như visa lao động nông nghiệp tạm thời (H2-A). Nó được thiết kế để cung cấp giải pháp tạm thời cho các ngành nghề chuyên biệt yêu cầu bằng cử nhân trở lên, trong khi các công ty tìm kiếm người Mỹ để đảm nhận vị trí đó. Trên thực tế, hệ thống lại hoạt động ngược lại. Mỗi visa H-1B đều được tự động gia hạn. Có những người giữ visa H-1B làm việc ở đây hàng thập kỷ, chỉ cần nộp đơn gia hạn liên tục.


C2C chỉ đơn giản là chuyển từ công ty này sang công ty khác. Về cơ bản, để được ở lại đất nước này, mạng lưới quan hệ thân quen của người Ấn Độ đảm bảo rằng nếu một người giữ visa H-1B muốn rời khỏi công ty hoặc bị sa thải, họ sẽ được chuyển sang một công ty khác, nơi dành riêng các vị trí cho người giữ visa H-1B (điều này cũng là bất hợp pháp). Điều này còn được gọi là "ngồi chờ việc", nơi những kẻ lừa đảo visa H-1B người Ấn Độ được giao các vị trí giả trong các công ty KNTT gian lận, không làm bất cứ việc gì trong khi chờ được bố trí công việc.


Đây là lý do tại sao có rất nhiều người giữ visa H-1B ở đất nước này. Hơn 120.000 visa được chấp thuận mỗi năm (giới hạn 85.000 cộng với các trường hợp ngoại lệ), và những người được chấp thuận vẫn nằm trong hệ thống visa H-1B cho đến khi họ bắt đầu quá trình xin thẻ xanh (PERM).


Những tranh cãi gần đây xung quanh các trang web tuyển dụng mà một số người trong ngành công nghệ đã tạo ra để chống lại các vụ lừa đảo H1B.  Những trang web tuyển dụng này là danh sách các tin tuyển dụng được các công ty đăng tải một cách bí mật trên các báo địa phương và các kênh không chính thống.


Tại sao họ lại giấu các tin tuyển dụng trên báo địa phương mà không đăng tải trên trang web tuyển dụng của công ty? Bởi vì họ đã tuyển dụng người cho vị trí đó bằng visa H-1B rồi. Nhưng để người giữ visa H-1B có thể tiến tới thẻ xanh, họ cần phải điền vào đơn gọi là đơn PERM. Theo mình hiểu thì khi một công ty tại Hoa Kỳ muốn bảo lãnh một kỹ sư hay nhân tài ngoại quốc, họ phải đăng báo tìm người trong vòng 3 tuần lễ, với các điều kiện mà công ty cần. Nếu không có ai đáp ứng nhu cầu của công ty thì họ mới có quyền mướn người ngoại quốc qua chương tình chiếu khán H-1B.


Đơn PERM là một đơn xin chứng minh rằng không có ứng viên người Mỹ nào đủ điều kiện cho vị trí đó. Để đáp ứng nghĩa vụ này, công ty phải công khai quảng cáo vị trí tuyển dụng. Nếu không có ứng viên người Mỹ nào đủ điều kiện nộp đơn, đơn PERM sẽ được chấp thuận và người giữ visa H-1B sẽ tiến tới thẻ xanh. Quá trình này còn nhiều chi tiết hơn nhưng đại khái là vậy.


Những gì Jobs.Now và h1bjobsdirect.com đã làm là vạch trần các công ty này vì cố tình che giấu các tin tuyển dụng theo quy định pháp luật. Họ đang lạm dụng hệ thống và kỳ thị với các ứng viên người Mỹ.


Những trang web tuyển dụng này rất quan trọng trong cuộc chiến chống lại gian lận H-1B vì chúng chặn con đường nhập quốc tịch của những kẻ lừa đảo người Ấn Độ. Đó là lý do chính khiến họ lừa đảo chương trình H-1B ngay từ đầu. Mấy công ty tìm nhân viên mỹ cũng điên đầu vì mấy miếng ăn của họ nên họ tích cực tham gia chống mấy vụ lừa đảo này.


Những lời kêu gọi giữ hệ thống H-1B khỏi tay các ông trùm công nghệ là hoàn toàn vô lý. Hệ thống H-1B không chọn những người giỏi nhất và thông minh nhất. Nó chọn những người có đạo đức thấp nhất, sẵn sàng lừa đảo hệ thống, trong khi LOẠI TRỪ những người giỏi nhất và thông minh nhất từ ​​các nước phương Tây, những người có đạo đức cao và tuân thủ luật pháp.


Đọc xong bài này thì thấy có người còm kêu tôi là người Ấn Độ, nhưng đây chỉ là người nói tiếng Telugu khiến mình thất kinh. Kiểu người Việt kêu dân Nghệ An Thanh Hoá, máu lạnh. Mình có người em họ ở quê lấy vợ người Thanh Hoá. Người em đi làm xa nên buồn đời, một hôm về thăm nhà đem theo cô vợ bé ra mắt mẹ. Cô em dâu không nói gì hết lấy kéo đâm cô vợ bé, công an bắt lên phường cho ở tù. Mình hỏi sợ chưa, cô em dâu kêu sợ rồi, ở tù là sợ. Hôm trước có người gửi mình video ở Việt Nam, có người bị ông cọp nhập, gào thét cho lắm, bổng có người kêu công an đến kìa thì bổng nhiên người bị nhập hết gào thét, ngồi co ro lại. Cho thấy công an Việt Nam còn làm cọp sợ.


Ông thần này còn đưa thêm tin tức là tiếng Telugu là ngôn ngữ được nói tại Hoa Kỳ gia tăng nhanh nhất. Xem hình trên. Xứ ấn độ này rộng lớn nên có rất nhiều ngôn ngữ, đúng hơn là phương ngữ. Telugu được đa số người miền nam Ấn Độ sử dụng thế là ngọng.


Chương tình H-1B này rất quan trọng, giúp Hoa Kỳ lấy chất xám của ngoại quốc cần phải duy trì hay gia tăng nhưng phải thanh lọc kỹ. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Forvever 21 Mãi mãi 21 tuổi phá sản

 Forever 21 phá sản


Nhớ dạo con gái mình học trung học, mỗi lần đi phố, nó chạy vào tiệm Forever 21, còn mẹ nó thì chạy vào Ann Taylor, còn mình và thằng con ngồi đợi ngáp ruồi, đi tè mấy chục lần mà hai mẹ con vẫn chưa chịu ra. Mấy năm trước nghe nói công ty này bị phá sản nên thấy lạ vì họ đặt tên cho công ty là Forever 21, mãi mãi là tuổi 21 vì con nít thì muốn đến tuổi 21 còn mấy mụ vợ thì cứ muốn trẻ 21 tuổi mãi mãi dù đeo răng giả. Chán Mớ Đời 


Công ty này do một cặp vợ chồng di dân gốc Hàn Quốc thành lập. Năm 1981, ông Do Won Chang 27 tuổi và vợ là Jin Sook Chang, 25 tuổi lên đường sang định cư Hoa Kỳ. Họ đến Hoa Kỳ với tiếng anh tiếng u không rành. Ông Chang cho biết khi mới đến Hoa Kỳ, ông ta phải làm việc 3 việc cùng lúc. Sáng rửa chén, cho một tiệm ăn, chiều làm ở cây xăng, rồi làm thêm công việc dọn dẹp văn phòng để kiếm thêm thu nhập, tạo dựng giác mơ Hoa Kỳ. Trong khi bà vợ thì làm nghề làm tóc cho phụ nữ.


Khi làm ở cây xăng, ông Chang đột phá tư duy, để ý khách hàng chạy xe xịn đều làm trong nghề thời trang. Nên ông ta kiếm việc trong ngành thời trang và tinh thần lao động vinh quang của người mới định cư khiến chủ yêu mến. Ông ta cho biết cứ xem là công ty của mình nên hăng say làm việc. Không bao giờ xem đồng hồ để về đi nhậu với bạn bè. Không bao giờ nghĩ đến sự bốc lột của chủ nghĩa tư bản.


Dạo đó, Los Angeles là trung tâm may mặt cuả Hoa Kỳ, nuôi sống cả mấy chục ngàn nhân công. Có rất nhiều người gốc Nam Hàn nên họ tạo dựng một hệ thống về ngành may mặt rất mạnh. Như sau này, người Việt sang cũng may ở nhà, cắt chỉ bú xua la mua. Ông Chang học hỏi được cách sản xuất cũng như bán trong kỹ nghệ may mặt. Đồng chí gái có ông anh ruột, vượt biển sang Hoa Kỳ, khởi đầu bán chợ trời quần áo, có 6 đứa con. Trong tuần chạy lên Los Angeles lấy hàng, cuối tuần ra chợ trời bán. Từ đó sau này mở tiệm bán đồ trang tí nội thất trở thành triệu phú, ở nhà 2 triệu. Có hai đứa con mới 30 tuổi đã trở thành triệu phú sau khi bán công ty của chúng thành lập được vài năm.


Sau nhiều năm làm việc, để dành tiền được $11,000, họ mở một tiệm thời trang nhỏ mang tên Fashion 21 với diện tích 900 sqft tại địa chỉ 5637 N. Figuroa, Highland Park, Los Angeles. Khu vực này rất quan trọng vì nằm ở trung tâm sinh hoạt của người gốc Nam Hàn. Gồm thợ may, quần áo từ Nam Hàn,… Chủ trước chỉ bán được $30,000/ năm nhưng hai vợ chồng này chịu khó nên năm đầu tiên họ bán được $690,000. Nhớ năm cảnh sát đánh ông King rồi người Mỹ da đen nổi loạn đập phá, khu vực này bị đốt cháy mệt thở. Tiệm ông anh vợ mình ở đây cũng bị cháy rụi.


Họ làm việc 16 tiếng một ngày, học cách quản lý, tìm hiểu ý thích khách hàng,.. mỗi sáng họ đi nhà thờ cầu nguyện để ơn trên ban cho họ sức khoẻ để làm ngày chưa đủ tranh thủ làm đêm, tạo dựng giấc mơ Hoa Kỳ.


Đến năm 1987, họ đổi tên công ty thành “Forever 21”, ông Chang giải thích là giới choai choai thích tuổi 21 vì có thể uống rượu, còn người trung niên thì muốn cứ ở tuổi 21 mãi mãi. Thời trang giống như các mẫu hàng hiệu nhưng giá rẻ hơn, kiểu Zaha,…


Năm 1989, họ mở một tiệm trong khu Shopping ở thành phố Panorama, Cali với diện tích gấp 6 lần tiệm đầu tiên. Tiền vào như nước nên cứ 6 tháng là họ mở thêm một tiệm mới bằng tiền lời để khỏi phải cần vốn của người ngoài. 


Bà Jin Sook Chang đóng vai trò quan trọng lúc đầu vì biết lựa chọn mặt hàng và mua ít để tạo nên sự hiếm hoi khiến phụ nữ Nam Hàn không sợ bị đụng hàng. Theo mình hiểu thì mấy bà sợ bị đụng hàng. Chiến lược này khiến hàng không bị tồn kho mà bán nhanh càng khiến mấy bà Hàn Kiều ưa thích. Thay vì mua nhiều rồi bán hạ giá đây bán rẻ nhưng hàng hiếm. Hợp với tinh thần á đông. Người á đông chỉ muốn Good deal. Đồng chí gái thì cứ mua món gì về là khoe Good deal trọn khi mình thì méo mặt vì cuối tháng mình trả tiền nhưng thà như giọt mưa rơi trên tượng đá, có vợ còn hơn không, có còn hơn không.


Năm 2005, họ mua công ty Gadzooks với giá 33 triệu khiến Forever 21 bổng chốc sở hữu 400 cửa tiệm khắp nơi và năm 2006, có thu nhập lên 33 triệu mỹ kim, và bắt đầu khuếch trương khắp nơi và ngoại quốc. Năm 2006, thu nhập lên 1 tỷ mỹ kim. Và bắt đầu bán đủ thứ. Năm 2015, công ty này có trên 794 cửa tiệm khắp 48 quốc gia, có 43,000 nhân viên, thu nhập hàng năm là 4.4 tỷ mỹ kim.


Hai vợ chồng có hai cô con gái, Lind và Esther tốt nghiệp trường đại học xịn tại Hoa Kỳ với nghề tiếp thị và cô kia học về thiết kế thời trang. Họ chuẩn bị cho hai cô con gái tiếp thu công ty. Cách quản lý công ty trong gia đình vì tin tưởng khơi mào cho việc đưa đến ngày tàn mãi mãi của công ty sau 21 năm, như tên của công ty. Chán Mớ Đời 


Họ bắt chước thời trang cuả các công ty khác, rồi làm ná ná để bán với giá 5-10% giá của các công ty xịn nên bị thưa kiện, nghe đâu từ 2007 đến 2019, có đến trên 50 vụ kiện tụng. Tiền luật sư và đền cho các công ty thưa kiện lên đến cả 100 triệu. Ngoài ra các công nhân may mặt lên tiếng đòi quyền lợi vì trả lương ít thêm các điều kiện làm việc không an toàn. Chính phủ thanh tra thì thấy có đến 85% vi phạm các điều luật lao động và bắt phải trả tiền thiếu nhân công làm tăng ca đến hơn cả triệu bạc nên sau này kỹ nghệ may mặt ở vùng Nam Cali bị đưa qua Trung Cộng. Có anh bạn đại diện cho một công ty may mặt của Việt Nam tại Los Angeles nhưng nghe nói Trung Cộng mua lại. 


Cách quản lý công ty theo kiểu á đông, mọi việc trong gia đình đưa đến sự sụp đỗ của công ty. Khả năng của vợ chồng ông Chang lèo lái lên đến mức này, nhưng chưa chắc hai cô con gái có khả năng đưa công ty lên một bậc thang nữa, họ không có hội đồng giám đốc như một pháp nhân thường nên không ai trái ý họ cả và nhiều khi kiến thức ít để nhìn xa, có viễn kiến cho công ty trong vòng 5, 10 năm tới với E-Commercial, buôn bán trên mạng. 


Họ khai thác thêm các ngành nghề khác khiến mất đi lối đi ban đầu. CoCa Cola cũng lâm vào trường hợp này, họ mua thêm các công ty khác Frito Lay’s đủ thứ và từ từ họ bị chi phối, không tập trung vào nước ngọt và bị Pepsi Cola dành thị trường. Mấy họ đột phá tư duy bán mấy thứ lẻ tẻ và chú tâm khai thác nước ngọt nên lấy lại vị trí hàng đầu. Từ từ khách hàng bắt đầu rời xa vì không muốn trẻ mãi ở tuổi 21. Các công ty cạnh tranh khác như Shein và Tamu bán hàng như tôm tươi trên mạng, các trung tâm mua sắm trở thành chùa Bà Đanh, năm 2019, thu nhập xuống 32%. Họ mở cửa hàng ở âu châu như Đức quốc mà không hiểu văn hoá xứ này nên chủ nhật cửa hàng đống cửa là ngọng… 


Thành phố mình ở có khu mua sắm, nay phải đóng cửa, họ đập ra xây nhà, chung cư cho thiên hạ. Tương tự khu Terra Bella ở HUntington Beach, phải thay đổi , nay sầm uất lại.


Ngày 29 tháng 9 năm 2019, công ty khai phá sản và đóng 199 cửa tiệm tại Hoa Kỳ và cuốn gói rời khỏi 40 quốc gia. Gia đình Chang bị thu bán các tài sản và bán cho công ty SPARC với giá là 81 triệu.


Sau khi phá sản công ty tung lên mạng bán trên 30 quốc gia qua Global-e nhưng COVID buồn đời xuất hiện khiến họ phải đóng luôn 350 cửa tiệm còn lại tại Hoa Kỳ. Và tuôn luôn các tài sản khác lên đến 500 triệu.


Ngày nay họ vẫn còn bán trên mạng. Qua trường hợp của công ty này cũng như đa số các công ty khác không thức thời về buôn bán trên mạng như Borders khi xưa, không chịu bán sách trên mạng, giao cho Amazon nên sau này phá sản. Các công ty như Fry’s electronic một thời làm mưa làm gió cũng ấm thầm đóng cửa, Best Buy cũng đóng cửa nhiều tiệm…. Theo quy luật sóng sau xô sóng trước.


https://www.forever21.com/?srsltid=AfmBOoqus2CSTF4tGHloCu7WVOaLflN1hcKmd01fMIwnpC1WHBGERyps


Qua hành trình của công ty may mặt Forever 21, chúng ta thấy Hoa Kỳ là một vùng đất hứa, một cặp vợ chồng chả biết tiếng tây tiếng u di cư đến Hoa Kỳ, chịu làm để dành tiền , 3 năm sau mở một cửa tiệm nhỏ rồi mở tiệm rồi khuếch trương lên thành một đế chế thời trang rồi quá ỷ y vào tài cáng của mình, không mướn người ngoài giúp mình định hướng công ty đối mặt với các thức thách mới về công nghệ, buôn bán trên mạng đã đưa họ đến bờ phá sản. Nói như người Việt “thuyền to thì sóng lớn”. Khi sóng lớn chúng ta cần có nhiều người giúp để chèo lèo lái trên đại dương mênh mông đất trời.


Mình có cô cháu, lấy chồng phụ chồng công ty mua bán trên mạng, 5 năm sau bán công ty cho ai đâu 27 triệu đô la, dùng tiền mua nhà cho thuê. Cứ ăn xong đi chơi. Con nghỉ hè 1, 2 tuần là hai vợ chồng bay đi chơi khắp nơi, thằng em, chả học đại học gì cả, học nghề cô chị, thành lập công ty bán đồ gắp cứt chó. Hoa Kỳ có 400 triệu người, và 40 triệu con chó. Ngày nào cũng phải dẫn chó đi bộ mà chó đi bộ thì nó hay ị, phải lấy bịch nylon hốt cứt chó. Mà người Mỹ thì to béo cúi xuống khó khăn, thằng cháu chi bán đồ gắp cứt chó trở thành triệu phú. Mấy năm sau ai trả nó 8 triệu đô la nên nó phải bán. Nay triệu phú không biết làm gì, cứ lòng vòng đi chơi để kiếm ý kiến buôn bán. 


Nhớ dạo nó học trung học, nó với thằng anh họ, cuối năm bán máy Wii, đánh tennis trước máy truyền hình, thời đó mới ra nên rất Hot. Nó kêu anh em trong gia đình đến phụ gói đồ, gửi bưu điện, một ngày tiền vào cả mấy chục ngàn. Sau qua tết thì khách hàng trả lại lỗ học gạch. Họ mua cho con cháu cho vui rồi chơi vài ngày rồi chán đem trả lại trong vòng 30 ngày. Xứ mỹ này có lệ là mua xong có thể trả lại trong vòng 30 ngày. Mình tưởng nó bỏ mộng làm ăn, ai ngờ như nghiện làm ăn nên nó thành công.


Dạo này mình hay tìm tài liệu về người Mỹ gốc Á đông tại Hoa Kỳ để xem quá trình thành công của họ tại Hoa Kỳ. Mình là nông dân nên chỉ muốn con cháu mình làm business chớ bằng cấp trí thức mình không ham. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn 

bán bệnh tật là nghề của bác sĩ

 Bán Bệnh Tật: Phơi bày cách ngành dược phẩm khổng lồ biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân

Sống tại âu châu hơn 12 năm nhưng mình chả bao giờ đi khám bác sĩ dù có bảo hiểm y tế nhưng khi sang Hoa Kỳ, sau khi lấy vợ thì đồng chí gái kêu đi khám bác sĩ mỗi năm theo định kỳ thì phác giác ra mình có bệnh đủ thứ trò. Vợ bảo thì phải phục tùng vì phận trai thuyền quyên. Đến khi mình bị gãy chân khi leo núi, nằm trên giường, buồn đời đọc 5 cuốn sách về ung thư thì thất kinh nên từ đó tìm hiểu thêm về y tế vì không thể nào tin hoàn toàn vào bác sĩ của mình vì theo châm ngôn của y sĩ ngày nay là “giúp một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng”. Nên mình định nghĩa lại ngày nay lương y như kế mẫu. Một bệnh nhân là một con bò để bác sĩ vắt sữa 3 tháng một lần. Bò nhiều bệnh càng nhiều càng tốt.

Tìm tài liệu đọc thì khám phá ra có nhiều người lương y như từ mẫu, bị hội đồng y khoa rút bằng vì dám nói lên sự thật nên mình càng chới với. Có ông bác sĩ nào ở Úc Đại Lợi bị cấm hành nghề, phải kiện tụng đủ trò mới lấy lại được bằng hành nghề. Lý do là ông ta khuyên bệnh nhân ăn uống cẩn thận thì bị tố là không có bằng dinh dưỡng nên không được khuyên bệnh nhân. Từ đó hay kiếm phim tài liệu và sách đọc về y tế. Rất khó nuốt vì quá khô khan, không như tiểu thuyết, tình yêu vớ vẩn nhưng phải cố gắng vì sự nghiệp cách mạng để tự cứu lấy mình. Hôm nay mình kể về cuốn sách do một người úc đại lợi và một người Gia-nã-đại, viết cách đây 20 năm. Trên Prime của Amazon có khá nhiều tài liệu còn trên YouTube thì hay bị chận.


Năm 2005, cách đây 20 năm, nhà báo y tế Ray Moynihan và nhà nghiên cứu chính sách dược phẩm Alan Cassels đã xuất bản cuốn sách mang tính đột phá khiến các công ty dược phẩm không yêu thích lắm “Selling Sickness: How the World’s Biggest Pharmaceutical Companies Are Turning Us All Into Patients (tạm dịch: Bán Bệnh Tật: Các công ty dược phẩm lớn nhất thế giới đang biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân như thế nào). Cuốn sách phê phán gay gắt cách kỹ nghệ dược phẩm mở rộng thị trường đúng theo quy trình, bằng việc quảng bá những trải nghiệm bình thường của con người thành các tình trạng bệnh lý cần điều trị bằng thuốc.


Luận điểm chính của cuốn sách bắt đầu bằng một câu trích dẫn từ một cựu giám đốc điều hành của công ty dược phẩm Hoa Kỳ Merck vào những năm 1970. Ông ấy buồn đời bị vợ la nên kêu rất thất vọng vì thuốc chỉ được bán cho người bệnh và mơ ước được sản xuất thuốc bán cho cả người khỏe mạnh, “bán cho mọi người”, giống như cách công ty Wrigley’s bán kẹo cao su. Chưa đau làm cho chúng bị đau, uống thuốc chúng càng đau thêm. 2 ông Moynihan và Cassels cho rằng tầm nhìn này đã trở thành hiện thực nhờ các chiến lược tiếp thị tinh vi: mở rộng ranh giới của bệnh tật, hạ thấp ngưỡng chẩn đoán và tạo ra nhu cầu ở những nơi trước đây không tồn tại, một quá trình mà họ và nhiều người khác gọi là bệnh hóa (disease mongering).

Các ý tưởng chính: Cách “bệnh tật” được sản xuất và bán ra


Các tác giả cấu trúc cuốn sách dưới dạng một loạt nghiên cứu trường hợp, mỗi chương phân tích một tình trạng bệnh cụ thể và thuốc liên quan để minh họa các chiến thuật mà “Big Pharma” sử dụng:

1.  Mở rộng định nghĩa về bệnh tật: Các công ty dược tài trợ cho các hướng dẫn y khoa và hội nghị đồng thuận nhằm tái định nghĩa những biến thể bình thường (như lão hóa, nhút nhát hay buồn bã) thành các rối loạn. Như Cholesterol khi xưa là chỉ số 356 là được xem là cao ngày nay thì chỉ số xuống còn 200 khiến ai cũng bị dính cả, phải uống thuốc. Các chuyên gia tham gia những hội nghị này thường có mối quan hệ tài chính với ngành công nghiệp, tạo ra xung đột lợi ích. Mình có xem một phim Ý Đại Lợi, nói về các người đi quảng bá thuốc, mua vé máy bay cho bác sĩ kê toa thuốc nhiều đi với gia đình du lịch ở các xứ khác miễn phí, có người lấy tiền bỏ túi.

2.  Hợp tác với bác sĩ và các nhóm bệnh nhân: Các hãng dược tài trợ giáo dục y khoa, hội nghị và các tổ chức vận động bệnh nhân, biến họ thành những người quảng bá (có thể vô tình hoặc cố ý). Các chiến dịch “nâng cao nhận thức” cho bệnh nhân, do các công ty dược phẩm tài trợ, giáo dục công chúng về những tình trạng “chưa được chẩn đoán đúng mức”. Lên mạng, thấy nhiều người không phải khoa học gia hay điều dưỡng viên, tuyên bố bệnh này bệnh nọ khiến người đọc hoang man, đi bác sĩ để xem xét lại. Ngày nay thì AI sử dụng các bác sĩ mà mình từng mua sách của họ rồi bựa ra đủ trò. 

Có một ông cựu bộ trưởng của Hy Lạp, nổi tiếng tỏng vụ Âu châu cứu xứ này khỏi bị phá sản. Ông này là mát-xít mình hay xem phỏng vấn ông ta về tình hình âu châu để hiểu thêm vì ông này có một cái nhìn khác với cộng đồng âu châu. Gần đây có AI làm video, bỏ ông ta lên nói đủ trò. Thiên hạ hỏi ông ta thì ông nói không phải do ông ta làm ra, họ dùng AI nhưng ông ta không làm gì được.

3.  Quảng cáo trực tiếp tới người tiêu dùng: Ở các quốc gia cho phép (như Mỹ), quảng cáo miêu tả những khó khăn đời thường thành các bệnh có thể điều trị, thúc đẩy bệnh nhân yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc cụ thể. Ở âu châu họ cấm được quảng cáo thuốc trên đài truyền hình còn ở Hoa Kỳ thì đủ loại nhưng 35% thời gian nói đến hệ ứng phụ, kêu cơ thể sau khi uống thuốc có hiệu ứng như này như nọ thì báo cáo ngay cho bác sĩ. Nếu họ nói đến hệ ứng phụ nghĩa là thuốc chưa đúng nhưng cứ bán ra đã.

4.  Tạo ra các rối loạn mới: Một số tình trạng gần như được “phát minh” hoặc phóng đại để phù hợp với thuốc mới, chẳng hạn biến sự cáu kỉnh nhẹ thành một rối loạn nghiêm trọng. Những chiến lược này biến những người khỏe mạnh hoặc chỉ gặp vấn đề nhẹ thành bệnh nhân suốt đời, tạo ra hàng tỷ đô la lợi nhuận đồng thời gây nguy cơ điều trị quá mức, tác dụng phụ và làm quá tải hệ thống y tế.


Các nghiên cứu trường hợp chính trong sách, em xin tóm tắc:

•  Cholesterol cao: Việc hạ thấp ngưỡng đã biến hàng triệu người thành “bệnh nhân” cần dùng statin, dù nhiều người có nguy cơ thực sự thấp. Chỉ số từ 240mg/dl còn 200mg/dl như ngày nay thì bố ai cũng bị cao mỡ, cái mất dạy là chúng ta cần mỡ để cơ thể hoạt động. Lá gan sản xuất 80% số lượng mỡ mà cơ thể cần hàng ngày.

•  Trầm cảm và thuốc SSRI: Tiêu chí mở rộng đã bệnh hóa nỗi buồn bình thường, thúc đẩy thuốc chống trầm cảm.

•  Mãn kinh và liệu pháp thay thế hormone (HRT): Được miêu tả như một bệnh thiếu hụt cần hormone dài hạn (sau này được phát hiện làm tăng nguy cơ sức khỏe). Đúng hơn là bệnh ung thư. Khi đồng chí gái đến thời kỳ mãn kinh, may có chị bạn là bác sĩ nói không nên uống. Bác sĩ biết sẽ gây ra bệnh ung thư nhưng bệnh nhân đến là cho toa về uống mệt thở.

•  Rối loạn lo âu xã hội: Sự nhút nhát được tái định khung thành tình trạng suy nhược có thể điều trị bằng thuốc như Paxil.

•  Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD): Mở rộng sang người lớn, mở rộng thị trường thuốc kích thích.

•  Hội chứng ruột kích thích, loãng xương và rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt: Những vấn đề nhẹ hoặc phổ biến được nâng lên thành cần dùng thuốc.


Các tác giả dựa trên phỏng vấn người trong ngành, bác sĩ, nhân viên tiếp thị và các nguồn học thuật để cho thấy cách những nỗ lực này làm mờ ranh giới giữa bệnh thực sự và các “yếu tố nguy cơ” mang lại lợi nhuận. ông Ray Moynihan, cây bút thường xuyên của BMJ và Lancet, cùng ông Alan Cassels, chuyên gia Canada về chính sách dược phẩm, kết hợp báo chí điều tra với phân tích dựa trên bằng chứng. Tác phẩm của họ đã phổ biến khái niệm “bệnh hóa” và ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận toàn cầu về quá trình y tế hóa quá mức.


Hai thập kỷ sau, cuốn Selling Sickness vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh lo ngại liên tục về ảnh hưởng của ngành dược khoa từ tiếp thị opioid đến các mở rộng hiện đại như ADHD ở người lớn hay thuốc điều trị béo phì. Cuốn sách kêu gọi sự hoài nghi đối với tin tức y tế, hướng dẫn độc lập và việc đánh giá lại điều gì thực sự cấu thành “bệnh tật” trong thời đại y học bị chi phối bởi lợi nhuận. Ở các xứ mà người Mỹ hay đến vào mùa thu để xem lá rụng, người dân địa phương bị nghiện thuốc Opiod.


Một điểm khác như bệnh loảng xương. Đầu thập niên 1990, một công ty dược phẩm chế tạo ra một loại thuốc trị bệnh loảng xương, mà dạo ấy chưa được hiểu rõ lắm. Các đại diện các công ty dược phẩm và bác sĩ  họp nhau tại cơ quan WHO để hội thảo, và quyết định thế nào là xương chắt là bình thường. Họ xếp loại ra sao mà 50% phụ nữ trên 70 tuổi bị bệnh loảng xương. Xem như trong vòng một đêm , 50% phụ nữ trên 70 tuổi thức dậy là có bệnh loảng xuống phải uống thuốc.


Các công ty này tặng miễn phí các y cụ cho các phòng mạch bác sĩ hay nhà thương để khám mật độ xương. Cái mất dạy là sau khi uống thuốc này sau nhiều năm khiến xương của bệnh nhân dòn và dễ gãy hơn. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn