Hiển thị các bài đăng có nhãn thể thao. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn thể thao. Hiển thị tất cả bài đăng

Chuyện ngày xưa xa

 Chuyện ngày xưa xa


Mình hay vào trang của nhóm Đông-Dương cũ, để đọc bài hay xem tài liệu về chiến tranh Tây-Việt, và những gì xảy ra vào thời đó, để có thể hiểu thêm về cuộc đời của song thân. Ông cụ thì chống Việt Minh, còn bà cụ thì theo Việt Minh, bị tây bắt bỏ tù còn ông cụ thì Việt Cộng bỏ tù 15 năm tình cũ. Mấy người tham gia nhóm này đa số là người Pháp, có người gốc Việt. Họ không muốn tranh cãi ai thua hay ai thắng, thực dân hay bốc lột. Họ chỉ muốn tìm hiểu về cha ông của họ, vì tuổi thanh xuân đã sang Việt Nam, đi lính hay làm công chức, rồi có người gục ngã trên chiến trường. Tương tự người Việt đi bộ đội vào Nam với danh nghĩa giải phóng miền Nam, còn người miền Nam thì đi quân dịch với danh nghĩa bảo vệ thế giới tự do. Họ có mấy tấm ảnh của bố, ông nội, ông cố khi xưa ở Việt Nam, đăng lên để hy vọng có ai đó khi xưa, cũng ở chung đại đội, có chút gì tin tức về tổ tiên của họ.

Cha nằm trên giường bệnh, không nhớ sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà nào đã đến thăm

Vì lý do đó mà mình phải làm gia phả của gia đình bên nội rồi bên ngoại để sau này con cháu có thể tìm lại để đọc. Hôm trước có cô cháu bên bên vợ đưa cho một bản sao gia phả bên ngoại, mới khám phá ra, đồng chí gái thuộc hệ thứ 7 của vua Gia Long. Kinh. Mình sẽ nhờ người ở Việt Nam chuyên viết lại gia phả để ông ta biên tập lại, rồi gom vào gia phả bên ông cụ mình.


Những ai quan tâm đến lịch sử Đông Dương đều biết vai trò của các giáo sĩ thừa sai, đến Đông-Dương để truyền đạo. Do đó có nhiều người lên án nhà thờ thiên chúa giáo đã làm nền tảng cho cuộc xâm chiếm Đông-Dương của đế quốc Pháp. Hồi nhỏ học lịch sử cận đại của Việt Nam rồi các phong trào Cần Vương, sau đó đến của kháng chiến chống Pháp đưa đến người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Người Việt thắng Pháp, dàng lại độc lập nhưng tại sao lại đất nước bị chia đôi.


Đó là câu hỏi mình đặt ra khi học sử Việt Nam cận đại khi xưa. Sau này ra hải ngoại đọc sách báo ngoại quốc thì mới hiểu Việt Nam chỉ là một nước nhỏ, các đảng phái đều bị chi phối bởi ngoại quốc. Như ngoại trưởng Trần Văn Đổ kể là khi hiệp định Geneve sau chiến thắng Điện Biên Phủ, người Việt chết như rạ nhưng các cường quốc tự động chia ra làm 2. người Việt chết cho cuộc kháng chiến chống pháp, là công cụ cho cường quốc. Tóm lại là cuộc chiến uỷ nhiệm và người Việt hăng hái nhân danh chi đó để đánh nhau, bỏ tù nhau rồi lại đi xin viện trợ, xin bỏ lệnh cấm vận này nọ. Và khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận thì Việt Nam mới khá như ngày nay.


Trong các giáo sĩ tây phương phải nói đến một người, đã mang tính quyết định của Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) trong sự hình thành của đất nước Việt Nam hiện đại. Nhớ ngày xưa, học sử Việt Nam cận đại, đều nhắc đến ông cha này. Tuy nhiên, dù ảnh hưởng của vị Giám mục Adran là vô cùng to lớn, vẫn còn nhiều nhà truyền giáo khác, ít được biết đến hơn, nhưng cũng để lại dấu ấn sâu sắc đối với đời sống của người dân bản địa. Một trong số đó là Đức cha Jean Cassaigne, nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris).

Làng người phong tại Di-Linh do cha thành lập để cứu chữa họ rồi sau đó cha cũng bị lây bệnh.

Cha Jean Cassaigne sinh ngày 30 tháng 1 năm 1895 tại thị trấn Grenade-sur-l’Adour, thuộc vùng Landes của nước Pháp. Ông mồ côi mẹ từ khi còn rất nhỏ. Cha ông gửi ông sang Tây Ban Nha tiếp tục việc học tại một trường của Dòng Sư huynh các Trường Kitô giáo, gần thành phố Saint-Sébastien, vùng Basque, phía bắc của Tây Ban Nha, gần dãy núi Pyrénées ngăn hai nước pháp và Tây Ban Nha. Điểm vui là phiá bên pháp cũng có một vùng được gọi là Basques. Cũng đòi tự trị này nọ như bên Tây Ban Nha, do Liên Sô giật dây khi xưa. Sau này Liên Sô tan rã thì cũng mất luôn phong trào này cũng như ở đảo Corse.


Sau khi trở về Pháp năm 1912, cha Jean Cassaigne bày tỏ nguyện vọng trở thành một nhà truyền giáo. Nhưng đến năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Ông được động viên vào trung đoàn Bộ binh số 6, phục vụ với vai trò y tá quân đội và liên lạc viên. Trung đoàn của ông tham gia nhiều trận đánh khốc liệt nhất của cuộc chiến, từ trận sông Marne, trận Verdun, đặc biệt là tại Đồi 304 (Côte 304), cho đến các chiến dịch tại vùng Ailette. Cuộc chiến này tàn khốc, giết không biết bao nhiêu người từ hai bên.


Có lẽ chỉ khi hình dung được mức độ khốc liệt của chiến trường Verdun, người ta mới hiểu hết lòng dũng cảm cần có để làm nhiệm vụ liên lạc hay cáng thương trên Đồi 304. Ngọn đồi này khống chế toàn bộ thung lũng Esnes ở phía nam cùng các làng Malancourt và Haucourt ở phía bắc. Quan trọng hơn, đây là vị trí chiến lược nhằm yểm trợ cho các trận đánh tại Mort-Homme.




Quân Đức liên tục tìm mọi cách chiếm lấy ngọn đồi, nã pháo không ngừng nghỉ rồi mở hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác. Quân Pháp vẫn giữ được vị trí ấy, nhưng phải trả giá bằng khoảng 10,000 sinh mạng chỉ trong 300 ngày giao tranh liên tiếp. Ở vùng Triéste, Ý Đại Lợi, vào thời gian này có đến trên 500,000 người trẻ chết trận. Năm kia mình có ghé sang thành phố này nhưng trời tối nên không đi viếng nghiã trang này. Kinh hoàng.


Sau khi xuất ngũ năm 1919, ông Jean Cassaigne gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris vào năm sau. Ngày 19 tháng 12 năm 1925, ông được thụ phong chức linh mục. Ngày 6 tháng 4 năm 1926, ông xuống tàu lên đường sang Đông Dương. Điểm đến đầu tiên của ông là Cái Mơn, một cộng đồng Công giáo lớn thuộc tỉnh Bến Tre, nơi ông dành một năm để học tiếng Việt.


Sau một năm sống tại đồng bằng sông Cửu Long, Đức cha Dumortier cử ông lên Di Linh để thành lập một giáo điểm giữa đồng bào dân tộc Ko Ho. Khi ấy, vùng đất này hầu như chưa có người Việt sinh sống, nên ông lại phải học thêm tiếng của người bản địa. Ông đã biên soạn nhiều công trình ngôn ngữ học có giá trị, trong đó có:

  • Cẩm nang và hội thoại thông dụng bằng tiếng Mọi (Koho và Phau Sore) dành cho các chủ đồn điền, thợ săn và người nghỉ dưỡng (khu vực Djiring – Đà Lạt). Mấy từ Đà Lạt, Blao, Djiring,…đều do các giáo sĩ phiên âm từ người sở tại.
  • Từ điển tiếng Koho của tỉnh Thượng Đồng Nai, cho đến ngày nay vẫn được xem là một tài liệu tham khảo quan trọng.

Có anh bạn kể khi xưa, đi dạy ở vùng kinh tế mới cạnh Đà Lạt, phải học tiếng của người CHu-Ru, may là người Mỹ khi xưa, đến vùng này giảng đạo Tin lành nên họ có nghiên cứu ngôn ngữ chu-ru giúp anh ta học nhanh. Mình có ghé lại một giáo xứ gần Đà Lạt, có gặp mấy em người Chủ-Ru, nói tiếng Việt bằng giọng bắc vì thầy cô đều từ ngoài bắc vào dạy.


Tại vùng cao nguyên Di Linh, cha Jean Cassaigne sớm chứng kiến cảnh nghèo đói cùng cực của đồng bào các dân tộc thiểu số, bị đẩy ra khỏi môi trường sinh sống truyền thống, mất đi nguồn sống từ rừng núi, nhiều người rơi vào cảnh suy dinh dưỡng lâu dài và vì thế rất dễ mắc bệnh tật. Trong số họ, đáng thương nhất là những người mắc bệnh phong (cùi, hủi). Họ bị chính gia đình ruồng bỏ, bị cộng đồng xa lánh và bị bỏ mặc trong rừng sâu, sống cô độc chờ cái chết. Cảnh tượng ấy khiến cha Jean Cassaigne vô cùng xúc động.


Cha quyết định hiến trọn cuộc đời mình để chăm sóc những con người bất hạnh nhất ấy. Cùng với một số cộng sự, ông thành lập làng Kala, gần Djiring (Di Linh). Ngôi làng gồm những căn nhà sàn được xây dựng theo đúng kiến trúc truyền thống của người bản địa. Cha đặt tên cho nơi ấy là “Thành phố Niềm Vui” (Cité de la Joie). Từng bước một, cha đưa những người phong từ trong rừng về sinh sống tại Kala, coi họ như chính con cái của mình. Cha cho họ ăn, chữa bệnh cho họ, chăm sóc từng vết thương và quan trọng hơn cả là trả lại cho họ phẩm giá của những con người vốn đã bị cả xã hội lãng quên.


Ngay từ năm 1929, trại phong đã chăm sóc khoảng một trăm bệnh nhân, một con số rất lớn vào thời điểm ấy. Với sự trợ giúp của Các Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô (Filles de la Charité de Saint-Vincent-de-Paul), cha Jean Cassaigne tiếp tục công việc đầy nhân ái này suốt hơn mười năm.


Đến năm 1941, cuộc đời cha bước sang một chương mới. Đức Giáo hoàng Piô XII bổ nhiệm ông làm Giám mục và Đại diện Tông tòa Sài Gòn. Ngày 24 tháng 6 năm 1941, đúng lễ kính Thánh Gioan Tẩy Giả, ông được tấn phong giám mục.v Hơn ba nghìn người đã đến tham dự thánh lễ tấn phong tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Đặc biệt xúc động là sự hiện diện của một đoàn đông đảo người Ko Ho từ Djiring.


Trong trang phục truyền thống của dân tộc mình, họ vượt hàng trăm kilômét để về Sài Gòn tham dự buổi lễ, đại diện cho cộng đoàn Kitô hữu mà chính cha Jean Cassaigne đã gây dựng giữa núi rừng Tây Nguyên. Đó không chỉ là một nghi lễ tôn giáo, mà còn là lời tri ân của những con người từng bị lãng quên dành cho vị mục tử đã đem lại cho họ niềm hy vọng và một cuộc sống mới.


Ngày 10 tháng 3 năm 1945, ngay sau cuộc đảo chính của Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương, quân đội Nhật nhanh chóng nắm quyền kiểm soát toàn bộ bộ máy hành chính của Liên bang Đông Dương và bắt giữ hầu hết các viên chức dân sự cũng như các sĩ quan quân đội Pháp.


Một nhân chứng của thời kỳ ấy là ông Jean Orsini, khi đó còn là một sĩ quan trẻ, sau này trở thành trung tá, đã để lại những ghi chép đặc biệt quý giá. Ông kể lại: “Đức cha Cassaigne cho tôi biết rằng hôm trước ngài vừa tiếp Đại tá Amano…” Qua lời chứng này, có thể thấy chính quyền quân sự Nhật đã muốn giao cho Đức cha Jean Cassaigne đứng ra điều hành Nam Kỳ (Cochinchine) sau khi toàn bộ giới chức Pháp bị bắt giữ.


Đó là một đề nghị đầy quyền lực nhưng Đức cha Cassaigne đã từ chối. Ngài không chấp nhận đảm nhận bất kỳ vai trò chính trị nào. Đối với ngài, sứ mạng của một giám mục là phục vụ con người, chứ không phải cai trị họ. Tuy nhiên, ông Jean Orsini đã thuyết phục ngài nhận lời thành lập một tổ chức hoàn toàn mang tính nhân đạo, với mục đích duy nhất là cứu trợ cộng đồng người Pháp đang lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn tại Sài Gòn.


Từ đó ra đời Ủy ban tương trợ Pháp tại Sài Gòn (Comité français d’entraide de Saïgon). Trên thực tế, tổ chức này nhanh chóng trở thành cơ quan duy nhất của người Pháp vẫn còn được chính quyền Nhật cho phép hoạt động. Ủy ban đảm nhận rất nhiều công việc: phân phát lương thực và hàng cứu trợ; hỗ trợ các gia đình gặp khó khăn; giải quyết nhiều thủ tục hành chính và trong một số trường hợp, còn đảm nhiệm cả công tác hộ tịch.


Vì vậy, mặc dù chưa bao giờ mong muốn, Đức cha Jean Cassaigne trên thực tế đã trở thành người đứng đầu cộng đồng người Pháp tại Sài Gòn trong những tháng cuối của thời kỳ Nhật chiếm đóng. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc và nước Pháp được giải phóng, hoàn cảnh ấy lại khiến ngài rơi vào vòng điều tra vì mang tội pháp gian, tiếp tay với kẻ thù. Ngài bị đưa ra trước các cơ quan thanh tra trong phong trào “thanh lọc sau chiến tranh” (épuration) với cáo buộc cấu kết với kẻ thù. Tỏng thời gian đệ nhị thế chiến, Đông-Dương được chính quyền Vichy, do thống chế Pétain điều hành, bổ nhiệm ông Jean Decoux làm toàn quyền Đông-Dương.


Nhưng cuộc điều tra nhanh chóng chứng minh một sự thật hoàn toàn khác. Mọi hành động của Đức cha Cassaigne đều chỉ nhằm bảo vệ thường dân Pháp, cứu giúp những người đang lâm cảnh khốn cùng trong thời kỳ hỗn loạn. Ngài chưa bao giờ cộng tác với quân đội Nhật vì mục đích chính trị hay quân sự. Do đó, tất cả các cáo buộc đều bị bác bỏ.


Không những được tuyên bố vô tội, công lao của ngài còn được chính thức ghi nhận. Chính phủ Pháp đã trao tặng ngài Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) để tôn vinh những đóng góp đặc biệt ấy. Điều đáng chú ý là, trong suốt biến cố lịch sử đầy sóng gió đó, cha Jean Cassaigne vẫn giữ nguyên một lập trường: cha không đứng về phía một chính quyền nào, chỉ đứng về phía những con người đang cần được cứu giúp.


Vài năm sau khi được minh oan và tiếp tục sứ vụ Giám mục Sài Gòn, một biến cố lớn xảy đến với chính cuộc đời Đức cha Jean Cassaigne. Ngài mắc bệnh phong. Chính căn bệnh mà suốt mấy chục năm ngài đã tận tụy chữa trị cho biết bao người, nay lại đến với bản thân mình. Đối với nhiều người, đó có thể là một bi kịch. Nhưng đối với cha Jean Cassaigne, đó dường như chỉ là một phần tự nhiên của con đường mà Thiên Chúa đã dành cho ngài.


Ý thức rằng bệnh tật sẽ khiến mình không còn đủ khả năng điều hành giáo phận, ngài đã trình đơn xin từ nhiệm lên Tòa Thánh. Đơn xin ấy được chấp thuận.


Năm 1955, thay vì ở lại Sài Gòn để hưởng sự chăm sóc và những điều kiện thuận lợi dành cho một vị giám mục, ngài lại đưa ra một quyết định khiến nhiều người xúc động. Ngài tự nguyện trở về Djiring (Di Linh), không phải để nghỉ hưu, không phải để dưỡng bệnh mà để sống những năm cuối đời giữa những người phong và đồng bào dân tộc mà ngài vẫn luôn coi là gia đình thực sự của mình.


Ngài trở lại Kala. Vẫn căn làng nhỏ năm xưa. Vẫn những căn nhà sàn đơn sơ. Vẫn những con người mà xã hội từng ruồng bỏ. Ở đó, ngài tiếp tục chăm sóc bệnh nhân, động viên người đau yếu, cầu nguyện với họ và chia sẻ với họ từng ngày của cuộc sống. Lần này, ngài không còn chỉ là vị linh mục hay vị giám mục đến giúp người phong. Ngài đã trở thành một người phong sống giữa những người phong. Không còn khoảng cách. Không còn sự khác biệt. Chỉ còn tình yêu thương và sự đồng cảm.


Đức cha Jean Cassaigne qua đời ngày 31 tháng 10 năm 1973, sau gần nửa thế kỷ gắn bó với vùng đất Tây Nguyên và con người Việt Nam. Theo đúng di nguyện của mình, ngài không được an táng trong một nhà thờ lớn hay một nghĩa trang dành cho các giám mục.


Ngài được chôn cất tại nghĩa trang nhỏ của trại phong Kala, giữa những con người mà ngài đã dành trọn cuộc đời để phục vụ. Điều cảm động hơn nữa là ngôi mộ ấy chính do ngài tự chuẩn bị từ trước. Nó nằm ngay cạnh mộ của người đầu tiên được ngài cải đạo, như một dấu chỉ rằng, ngay cả sau khi qua đời, ngài vẫn muốn được ở lại với những người mình yêu thương.


Trong suốt cuộc đời, Đức cha Jean Cassaigne đã được trao nhiều phần thưởng cao quý. Ngài là:

  • Sĩ quan Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) của Pháp;
  • Huân chương Chiến tranh 1914–1918 (Croix de Guerre) vì lòng dũng cảm trong Thế chiến thứ nhất;
  • Huy chương Danh dự của nền Cộng hòa Việt Nam.

Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất của ngài không phải là những tấm huân chương. Đó là tình yêu và lòng biết ơn của hàng ngàn người phong, của đồng bào Ko Ho và của biết bao người Việt Nam đã được ngài cứu giúp.


Cuộc đời của Đức cha Jean Cassaigne là minh chứng rằng lòng bác ái chân chính không phân biệt dân tộc, màu da hay địa vị. Từ chiến hào Verdun đến núi rừng Di Linh, từ Tòa Giám mục Sài Gòn đến trại phong Kala, ngài luôn chọn đứng về phía những người yếu thế nhất.


Bởi vậy, trong lịch sử Việt Nam, cha Jean Cassaigne không chỉ được nhớ đến như một vị Giám mục của Giáo hội Công giáo, mà còn như một nhà nhân đạo vĩ đại, người đã hiến trọn cuộc đời mình để mang lại hy vọng, phẩm giá và tình thương cho những con người bị lãng quên nhất.


Mình thích tìm đọc tiểu sử những người như vậy để cố gắng noi theo trên con đường hướng thiện, giúp mình bớt gian ác, không cần phải lên mạng xã hội, chửi thiên hạ này nọ, chỉ cần đóng góp một tí gì cho cộng đồng xung quanh mình là đủ. Mình gặp nhiều sơ ở các vùng núi ở gần Đà Lạt, hy sinh cuộc đời để giúp đỡ các người dân tộc thiểu số, giúp họ thuốc men….khiến mình khâm phục.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Cách đào tạo tuyển thủ của Hoa Kỳ và Na-Uy.

 Cách đào tạo tuyển thủ của Hoa Kỳ và Na-Uy.


Hoa Kỳ có gần 400 triệu dân nhưng không có một cầu thủ đá banh nào ở tầm quốc tế trên thế giới. Có vài cầu thủ đá cho vài đội banh ở âu châu, trong khi cầu thủ gốc Nhật Bản, Nam Hàn đầu quân cho các câu lạc bộ âu châu rất nhiều.



Có một nghiên cứu năm 2016 cho biết các trẻ em chơi đá banh trên cả triệu nhưng khi xét về kinh tế thì đa số thuộc vào gia đình có lợi tức từ $100,000 đến $150,000 hàng năm. Chỉ có độ 2% trẻ em chơi đá banh xuất thân từ các gia đình có lợi tức $50,000, nghĩa là tiêu chuẩn gia đình nghèo tại Hoa Kỳ. Cho thấy chúng ta mất không biết bao nhiêu trẻ em có thể trở thành cầu thủ quốc gia. Trong khi đó các cầu thủ ở trên thế giới đa số xuất thân từ các gia đình nghèo. Đá banh là con đường duy nhất để đổi đời.


Mình nhớ dạo con mới lớn thì cũng muốn cho chúng đá banh nhưng rồi thời khoá biểu phải lái xe xa, tiền trả cho hội đủ trò. Thêm đọc cuốn sách về não bộ bị lộn xộn khi đá banh, đội đầu sẽ bị chấn thương sọ não sau này nên ngưng. Cho bơi lợi là môn rẻ nhất.


Người ta phải trả lương cho huấn luyện viên nên họ móc tiền từ gia đình rồi dụ các lớp huấn luyện mùa hè đủ trò, ăn ở tốn khá nhiều tiền bạc. Cầu thủ mỹ Landon Donavan kể là mẹ ông ta đơn thân, lương chỉ có $34,000/ năm, khó có thể đóng tiền cho ông ta đá banh nhưng nhờ có nhà hảo tâm đứng ra bảo lãnh nên mới trở thành nhà nghề. Được xem là một cầu thủ giỏi của Hoa Kỳ nhưng so với quốc tế thì chả ăn nhập gì.


Ngày nay, mỗi đứa bé đá banh hàng năm là $4,000 mà nếu có hai đứa con là mất $8,000, phải đi làm $15,000 đóng thuế cho chính phủ mới còn lại $8,000. Các nhóm thành lập một League cho trẻ em trong thành phố hay quận hạt mà làm tiền. Đó là những cổ máy làm tiền tại Hoa Kỳ như các league của các môn thể thao khác như bóng rổ,… đi xem trận túc cầu ở SoFi vừa qua với thằng con mình mới hiểu kỹ nghệ thể thao và giải trí ăn thông với nhau.


Còn những môn đắt tiền như Hockey, thể thao mùa đông, đua thuyền hay đánh cù thì chỉ có con nhà giàu mới dám rờ đến. Nhớ khi con còn nhỏ mình cũng cho nó chơi golf vì thấy đám đại hàn cho con chơi môn này nhiều nhưng khi chơi được và tháng thì mình dẹp tiệm. Lý do con mình không có khiếu, thứ hai tốn quá nhiều tiền. Được cái là ngày nay, lâu lâu thấy thằng con đem đồ đi đánh golf với tụi bạn. Có ông tàu có con gái đoạt chức vô địch thế vận hội vừa qua môn trượt băng, cho biết là tốn trên 2 triệu mỹ kim để giúp con gái đoạt huy chương vàng. Mấy ai có 2 triệu đô la. Chưa kể thời gian chở con đi tập và đợi. Mình nhớ khi xưa, con đi bơi 2 tiếng mỗi ngày là mình phải túc trực tại hồ bơi, chưa kể mỗi lần có thi đua là phải đến phụ bấm giờ hay làm hamburger, bán nước,… Kỹ nghệ làm tiền thể thao khởi đầu từ nhỏ nên ngành thể thao Hoa Kỳ được xem là môn ăn chơi.


Nói chung thể thao Hoa Kỳ ngày nay là Tiền, lòng tham và trả tiền để được chơi. Có tài năng mà không có tiền đống nguyệt liễm thì bù trớt. Còn ở các xứ cộng sản thì họ đào tạo từ bé nhưng nếu bị chấn thương không thể tiếp tục đau tài nữa thì ngọng.


Ở Hoa Kỳ đã tốn tiền từ bé nhưng nếu giỏi thì được thi đấu cho các đại học danh tiếng. Vấn đề là chưa chắc được thi đấu đại diện Hoa Kỳ ở thế vận hội. Mà vào đại học, được học bổng thì ngày bơi tập 2 lần, mỗi lần 2 tiếng thì đâu có sức để học các môn kiếm tiền nên đa số học các môn về thể dục nên sau này ra trường chỉ xin đi làm huấn luyện viên thể dục ở các trường học.


Mình nói chuyện với ông bạn, trước đây vô địch thế vận hội ở môn bơi tự do, cự ly 200 m. Ông ta cho biết là cần có một chương trình giúp các sinh viên chơi thể thao cho đại học. Vì lo tập luyện nên không học hành gì ra hồn. Mà lỡ không đi được thế vận hội thì tương lai khá mịt mù. Ông ta vô địch nên nhờ chức tước đi bán nhà.


Nếu xét về sự đào tạo các cấu thủ thể thao của Na-Uy thì khác với Hoa Kỳ. Nói chung Na-uy là một nước có dầu hoả nên giàu có. Có khả năng để đào tạo các cầu thủ thể thao mà chúng ta thấy họ tuy một nước nhỏ, ít dân nhưng thắng thế vận hội muà đông nhiều huy chương nhất và gần đây đá banh đã đưa họ vào vòng trong, đá bại đội tuyển Ba-tây. Kinh


Na-Uy có đạo luật về quyền trẻ em chơi thể thao (Barneidrettsbestemmelsene) dựa theo các nguyên tắc của ủy ban thế vận hội và thể thao quốc gia. Họ dựa theo tin thần niềm vui của thể thao (idrettsglede) chủ yếu về sự vui thích, tham dự đông đảo, thân hữu, an ninh nhất là đào tạo lâu dài thay vì thi đấu và tìm tài năng sớm như đa số các quốc gia theo cộng sản hay Hoa Kỳ.


Không có thi tài hay phân loại từ 9-11 tuổi, trẻ em chỉ chơi các trận địa phương, không có kết quả chính thức, xếp hạng của từng giải hay trao tặng huy chương như Hoa Kỳ đến 13 tuổi. Ở Hoa Kỳ thì ngược lại, con nít cứ tham gia là có cúp, huy chương đem về để chật nhà. Mà toàn là tiền của cha mẹ đóng góp để mua, làm giàu cho mấy công ty bán huy chương trong vùng. Nhớ khi xưa, vào nhà thiên hạ thấy họ treo huy chương, cúp của con họ đầy nhà, thấy phục họ. Ai ngờ khi cho con mình đi chơi thể thao, dù con mình có chơi dỡ đi nữa, cũng được huy chương, cúp. Sau này phải đem cúp đi quăng đày thùng rác. Theo tinh thần DEI, họ muốn con nít cảm thấy mình giỏi vì được khen tặng nên phấn khích chơi giỏi hơn hay cố học giỏi thêm. Rốt cuộc khi ra đời chạm tráng phải thực tế thì Chán Mớ Đời. Trong khi ở Na-Uy nếu bỏ thứ hạng trên trang nhà có thể bị phạt tiền.


Chỉ chơi tại địa phương, không di chuyển xa xôi như Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ hồi con mình đi bơi thì chỉ bơi đua với vài đội trong vùng, chớ đá banh thì phải chạy nhiều khi 2 tiếng đến 3 tiếng đá với các đội ngang ngữa ở miền nam Cali, xem như mất cả ngày. Sáng dậy sớm, lái xe 2 tiếng đến nơi là con nó mệt đừ, đá đấm gì nữa. Xa nữa thì phải mướn motel ngủ lại, tốn đủ thứ.


Trẻ em được khuyến khích chơi nhiều môn thể thao, thay vì chuyên biệt một môn từ bé như các nước theo cộng sản. Tham gia đông đảo giảm thiểu tiền chi phí. Họ cho biết 93% trẻ em xứ na-Uy tham gia các môn thể thao. Ngân sách được gây quỹ qua các cuộc xổ số, thường dưới $1,000/ năm. Bảo hiểm được bảo kê hết, không phải mua như ở Hoa Kỳ. Hoa Kỳ thì ở trường mỗi khoá có một môn thể thao riêng nên có thể chơi đủ môn.


Trong khi tại Hoa Kỳ thì thường có phần try-out, trẻ em đến chơi đá banh để huấn luyện viên xem giò xem cẳng trước để thâu nhận hay không và có những đội gọi là “elite”. Di chuyển xa, đóng tiền khá cao, đội nào có tiếng thắng nhiều cúp thì họ lấy tiền cao hơn, gây áp lực cho trẻ em. Ngoài ra họ chú trọng vào thắng nhiều nhất, xếp thứ hạng, để được học bổng vào đại học. Đa số trẻ em ngưng chơi thể thao ở lứa tuổi 13 vì áp lực, tiền bạc, hay burnout. 


Nhớ có lần thằng con bơi hoài nên ớn, bác sĩ nói với mình không nên cho nó bơi nữa nên ngưng. Vì dạo đó thằng con được xếp hạng thứ 10 toàn nước mỹ nên mình hy vọng nó sẽ có thể đi dự thế vận hội bú xua la mua. Thôi con nó burnout thì ngưng, cho đi tập võ. Đến khi lên trung học đệ nhị cấp thì bạn bè xúi nó đi bơi lại cho trường. Nó cũng đến try-out, không đem quần áo tắm, bận xì-líp nhảy xuống bơi, được huấn luyện viên cho thẳng vào đội Varsity dù nhỏ tuổi. Nó đoạt vô địch một lần khu vực miền nam Cali, có tên trên bằng vàng của trường, phá kỹ lục 100 thước môn bơi nhái. Nói chung thì huấn luyện viên thúc đẩy con mình. Nhưng vào đại học thì không bơi nổi cho đội tuyển đại học vì kỹ lục thấp hơn mong đợi.


Người ta chỉ trích các xưởng chế tạo các cầu thủ tại Hoa Kỳ cũng như khuôn mẫu “pay-to-play” có thể loại trừ các tài năng thuộc các gia đình nghèo, và chỉ chú trọng vào chương trình ngăn hạn mì ăn liền. Ta thấy cầu thủ của các đội âu châu, đa số người da đen. Lý do là thuộc gia đình nghèo nên chỉ biết đá banh. Con da trắng thì giàu có hơn, có thể chơi game điện tử, nhà cửa rộng rãi. Trong khi nhà nghèo ở nhà nhỏ, chật chội, chỉ biết ra ngoài đá banh.


Nhớ khi xưa, ở pháp, cầu thủ Guillou, sau khi giải nghệ, làm huấn luyện viên rồi buồn đời ông ta qua phi châu mới khám phá ra có nhiều người phi châu đá banh có khiếu nên mở trườn đào tạo và tuyển một số cầu thủ phi châu giỏi đưa về pháp đá cho các câu lạc bộ kiếm tiền vì khán giả đi xem đông nhất là người gốc phi châu.


Xứ Na-uy tuy chỉ có 5.6 triệu người, nhưng đã đứng đầu huy chương vàng ở thế vận hội mùa đông, đào tạo nhiều cầu thủ danh tiếng trên thế giới qua các bộ môn thể thao. Họ giúp trẻ em chơi thể thao lâu hơn, tài năng được khám phá ra chậm hơn vì cơ địa của mỗi đứa trẻ khác nhau. Như mình đã kể đa số hệ thống Hoa Kỳ chọn lựa từ bé, đa số là trẻ em sinh tháng 1, 2, 3 được chọn nhiều nhất. Lý do chúng sinh sớm trong năm nên thường thân thể phát triển sớm hơn. Còn mấy đứa sinh vào tháng 9-12 thì ngọng. Hơn nhau có 6-9 tháng ở tuổi còn bé rất khác nhiều nhưng khi lên tuổi 15-16 thì đồng đều.


Tốn tiền cho con mình đi bơi, tập bơi từ bé vì sợ chúng bị chết đuối, mất 8 năm trời. Tốn biết bao nhiêu tiền và thời gian nhưng sau này chúng chỉ đi làm hè, dạy con nít bơi, kiếm được chút tiền. Bù lại con gái mình nói nhờ bơi đã giúp tạo nhân cách của nó. Còn thằng con thì nói đã giúp nó cách thi đua ở đời.


Nhìn lại thì mình mới sang Hoa Kỳ, chưa hiểu gì nhiều về xã hội này, nên có con thì cứ đi theo guồng máy. Nếu làm lại mình sẽ không cho con chơi thể thao, độc nhất vào môn bơi lội. Khi xưa có cho con chơi bóng rổ, con gái thấp lè tè đấu với con mỹ con cao còn hơn mình, 12 tuổi đầu mà nó cao đến 6 feet, con mình đứng tới nách thì sao chơi lại. Thằng con cũng vậy, bị áp lực vì mấy đứa kia cao như mỹ đen, lêu nghêu. Chơi golf thì đắt tiền, may mình xin của mấy tên bạn mỹ bộ gậy đánh cù chớ mua một đống như vậy cũng oải. Nội trả tiền đánh là oải rồi, còn áo quần, giày dép. Chán Mớ Đời 


Rẻ nhất là tập võ như mình khi xưa. Chán Mớ Đời 


Có ông Mỹ nào viết thấy tương tự kinh nghiệm mình khó xưa với mấy đứa con nên tải về đây. 

𝐓𝐡𝐞 𝐏𝐫𝐨𝐛𝐥𝐞𝐦 𝐖𝐢𝐭𝐡 𝐀𝐦𝐞𝐫𝐢𝐜𝐚𝐧 𝐒𝐨𝐜𝐜𝐞𝐫 𝐈𝐬𝐧’𝐭 𝐓𝐚𝐥𝐞𝐧𝐭 - 𝐈𝐭’𝐬 𝐭𝐡𝐞 𝐒𝐲𝐬𝐭𝐞𝐦


At the end of the day, I don’t think America’s biggest problem is talent. I think it’s the system we’ve created.




I saw it firsthand when my son, Zachary, was nine years old playing travel soccer for our town’s youth club. We paid over $1,000 for a single season. At that age, he had beautiful Nike home and away uniforms, practice gear, a warm-up jacket, and everything looked incredibly professional. But when I stepped back and looked at it, I couldn’t help but wonder: what were we really paying for? Most weekends we were playing at Afrim’s or other local fields around the Capital Region. The uniforms were nice, but were we actually getting thousands of dollars’ worth of technical coaching and player development?




Then I started thinking about what it would cost if he continued climbing the ladder into premier clubs, showcases and elite travel teams. The answer is simple - it would have cost our family tens of thousands of dollars over the years. So  many families never even have that option. Imagine the number of talented kids who walk away from the game simply because mom and dad can’t afford the fees, the tournaments, the hotel rooms, the travel, the meals and the missed days of work. That’s not how you build the best national team. That’s how you build the most expensive youth soccer system.




Meanwhile, too much of youth soccer has become about traveling to tournaments and playing game after game instead of spending that same time developing technical skills. Where are the hours dedicated to first touch, ball control, passing under pressure, movement off the ball and creativity? Those things don’t magically appear by playing five games in a weekend. They come from coaching, repetition and development.




Then you look at the top of the pyramid with the U.S. Men’s National Team, and I think there are legitimate questions that need to be asked there as well. Too often it feels like leadership positions are filled because of relationships and familiarity rather than identifying the very best soccer minds available. Whether you call it favoritism, nepotism or simply a lack of accountability, the result is the same - we’re not maximizing the talent we have.




And before anyone says America just doesn’t have enough soccer players, that’s simply not true. We have millions of kids playing the sport - more than just about any country in the world. Yes, some elite athletes choose football, basketball, baseball or wrestling (yes, wrestling. It’s the short man’s sport like soccer) instead, but that alone doesn’t explain why we consistently underperform internationally. The player pool is there. The development pathway isn’t.




Of course, context matters too. Soccer is still relatively young in the United States compared to much of the world. Before the 1970s, soccer wasn’t even taken seriously in many parts of this country. Kids who played were often teased because football, baseball and basketball dominated American sports culture. Meanwhile, countries like Brazil, Argentina, Germany, Italy and England have been playing and developing the sport for generations. That kind of history and culture can’t be replicated overnight.




And let’s not forget just how difficult winning a World Cup actually is. Only eight countries have ever won it, and six of those nations have won multiple championships. Becoming one of the world’s elite isn’t easy.




But if we’re serious about getting there, the conversation has to start with fixing our foundation. Make the game more affordable. Put player development ahead of profits. Invest in better technical coaching. Put the best people - not the best-connected people - in leadership positions.




Because I truly believe the United States doesn’t have a talent problem. We have a development problem. Until we address that, we’ll keep asking ourselves the same question every four years: “Why aren’t we better?” The answer isn’t sitting on the field. It’s sitting in the way we’ve built the system.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn