Hiển thị các bài đăng có nhãn Những mảnh nhớ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những mảnh nhớ. Hiển thị tất cả bài đăng

Nghe và xem hình Đà Lạt xưa của Mực Tím Sơn Đen trên you-tu-be

 Nghe và xem Mực Tím Sơn Đen trên you-tu-be


Lúc này đã già 72 mà lại mê chuyện của Sơn Đen mới thật là ngộ.
Chị em tôi là dân demi Dalat, mà sao biết nhiều chuyện thế,
Gia đình tôi nhập cư Dalat năm 1968, chạy loạn từ Du Sinh xuống số 1 Phan Đình Phùng cho đến khi di tản.
Từ đó năm ở Dalat là ký ức, là một quãng đời không bao giờ quên, không bao giờ rời xa.
Cảm ơn Sơn nhiều lắm nha.
Vì có người giúp mình nhớ lại quê hương thứ hai thật là đáng trân trọng.


Mấy hôm nay, lái xe mở YouTube nghe đài của ông thần Chử Nhị Anh, dùng trí tuệ nhân tạo để đọc và tải mấy tấm ảnh Đà Lạt xưa do ông Kính, gửi trên 1,000 tấm ảnh xưa. Ai nhớ Đà Lạt xưa nên xem và nghe thuyết minh hình ảnh xưa Đà Lạt. Mấy bài được TTNT đọc mà mình viết cách đây cả một con giáp. Thú thật mình viết cho vui nên không nhớ đã viết gì. Viết những gì lùng bùng trong đầu xong thì quên. Nay nghe lại những gì đã viết mình thất kinh. Không ngờ mình đã viết được những điều này. Mình viết xong gửi cho mấy người bạn rồi quên đã viết gì. Khi ông thần Nhị Anh biên soạn thành kỷ yếu “Mực Tím Sơn Đen” thì biết vậy thôi chớ không đọc lại.


Nghe lại thì đa số các bài này mình viết trên email khi gửi cho mấy người bạn học cũ nên không giữ lại và không có trên bờ lốc. Hơi tiếc vì hơn cả trăm bài. Có đăng một số trên trang nhà Văn Học, ai tò mò thì kiếm trên đó, chỉ có tội là chữ đọc nhỏ. Lười viết lại hay sửa đổi. Trên trang nhà Văn Học mình đoán chỉ có lưu một số thôi, còn số còn lại thì nằm trong kho của nhóm Văn Học Google Mail nhưng nay đã được huỷ.


Ai ngờ viết chơi cho đỡ buồn đời làm vườn lại tiếp tục viết đến ngày nay. Kinh. Từ ngày mua cái vườn mình mới bắt đầu viết chuyện đời xưa. Chỉ có phần giọng nói mình thì hơi bị cà giựt chưa nguyên chất lắm. Thật sự trong đầu mình viết có lúc chữ hậu 75, chữ tiền 75 nên nếu Ây Ai làm được với giọng bắc hậu 75 và trước 75 thì vui hơn.


Chả biết 10 năm nữa kỹ thuật sẽ đi đến đâu. 10 năm về trước ông thần Nhị Anh, làm kỷ yếu bỏ lên Amazon là thấy lạ vì khi nào có người đặt mua thì họ mới bắt đầu in rồi gửi cho người mua. Nay Ay Ai làm kiểu này lại lồng hình ảnh Đà Lạt xưa vào thấy quá đỉnh cho ai buồn đời muốn xem mấy ngày tấm ảnh Đà Lạt xưa do nhiều người Đà Lạt xưa lưu trữ rồi gửi cho mình. Mình thấy nhiều người tải hình ảnh Đà Lạt xưa và bỏ nhạc, đây thuyết minh chuyện về người ở Đà Lạt xưa với hình ảnh thấy phê hơn.

Ông thần Nhị Anh cứ chia mỗi phần trong cuốn Mực Tím Sơn Đen do ông thần biên soạn 100 bài viết tiêu biểu của mình 10 năm về trước. Mỗi tập đọc dài độ đâu 90 phút, vừa lái xe vừa nghe thấy hay hay. Mình ngạc nhiên là không ngờ khi xưa, 10 năm về trước mình có thể đột phá tư duy viết bú xua la mua mà có nhiều bài rất cực đỉnh về tư duy của một kẻ lưu vong. Mình không ngờ có thể viết như Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen . Viết đến đây thì ông thần Nhị Anh gửi cho cái này nên tải lên đây cho tiện.


Đây là phần tiến sĩ Chử Nhị Anh giải thích trên trang nhà của trường và xưa tại Đà Lạt 

Trong Chương Một: Nguyễn Hoàng Sơn viết miệt mài gần 500 trang, về chuyện ngày xưa ở Đà Lạt, dưới mái trường Văn Học, thỉnh thoảng cả trăm cái tên và những mẩu chuyện hơn 60 năm trước, chính người trong cuộc cũng ngẩn tò te. Viết về cha, về mẹ, anh em, bạn bè, thầy cô với những chi tiết và nhận xét tinh vi.

Chương Hai: Hắn kể lại cuộc đời phiêu bạt bôn ba tung tăng khắp thế giới, ghi lại những ký ức về cô Tây bà Đầm, kẻ da đen người da trắng, những nét chấm phá của thời đại qua con mắt một sinh viên Việt xa nhà đầy thú vị.

Chương Ba: Hắn viết về cuộc sống ở Mỹ, những tính toán của một kiến trúc sư hoá địa chủ, những chọn lựa ngày thường với vợ con, công việc, rồi nhìn sâu về những tư duy của người Việt - hồi xưa, ngày nay - ở Mỹ, tại quê nhà sau nhiều năm trở về thăm viếng.

Chương Bốn: Trong phần Địa Cầu Ta, lại quay nhìn lại thế giới với con mắt người viết sử. Những tư duy về Cộng Sản, Tư Bản, Thực Dân, Người Việt đặt lên những câu hỏi không có trả lời, mà ngày nay sau mươi năm, dần dần đã hiển thị. Cuối cùng, Sơn Đen nhìn lại cuộc đời mình và những người chung quanh: "Trăm Năm Chung Một Chuyến Tàu".

https://youtube.com/playlist?list=PLa-jHHzi_0wp-7R_lTHJy-v7oocrAbKFy&si=u9tNOYZysnTA7M7x


Mà mình cũng không hiểu sao lại nhớ những chuyện đâu đâu của Đà Lạt khi xưa. Hèn gì đầu óc khi xưa ngu học cực ngu, cứ ngóng chuyện thiên hạ, không chịu học hành gì cả. Nay mới hiểu bạn học khi xưa kêu sao mình nhớ mấy chuyện đâu đâu. Những chuyện như tên Bùi Văn Đông, năm 6 ème trong lớp cứ độ 11 giờ là nó đem mì gói ra ăn này nọ. Thầy giảng thì thầy giảng nó cứ bẻ mì gói bỏ vào mồm nhau ngồm ngoàm. Xong om


https://youtu.be/iCPYKeJ_Os8?si=Z3Y3xJh7OvfMI6BD


Mấy video YouTube được chia ra 4 chương:

Chương Một: Những ngày xưa thân ái

Được chia thành 3 phần: những ngày xưa thân ái kể về Đà Lạt, gia đình, thầy cô và bạn học và gia đình. Đến những mảnh nhớ về tuổi thơ, đời sống tại Đà Lạt xưa và trong gia đình. Sau đó đến Mái trường xưa Thành Phố Xưa, kể về những mối tình học trò, những con hẻm Đà Lạt khi xưa. Chợ Đà Lạt và khu Hoà Bình.


https://youtu.be/1extaDa4fjI?si=4x-BUdLOX9zQ071w


Chương Hai: Dế Mèn Phiêu lưu ký, nói về khi mình đi tây, một mình trên đất lạ, du hành khắp âu châu thời sinh viên, rồi trở lại Đà Lạt lần đầu tiên và những nơi khác tại Việt Nam. Sàigòn mất, bắt đầu cuộc sống lưu vong, tỵ nạn ở âu châu rồi sang Hoa Kỳ.


Chương Ba: nói về quê hương mới

Chương này nói về cuộc sống sau khi rời Việt Nam, về cuộc sống làm ăn, gia đình học hành, con cái.


Chương Bốn: Tôi đi giữa Đám Bụi Mờ

Các bài viết về Địa Cầu Ta về những suy tư về đời sống, kinh tế, tình cảm người Việt. Cuối cùng là 100 năm chung một chuyến đò, nói về văn hoá lưu vong, giấc mơ Hoa Kỳ cuối cùng là Việt Nam trong mắt Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen .


Ông thần Nhị Anh để hai giọng nói; nam và nữ cho có vẻ âm dương. Mình thấy cũng hay nhưng giọng của Bội Quỳnh Hoa nghe khá hay. Cứ vào tài khoản của ông Nhị ANh trên yOutube (NhiANh Chu) để nghe và xem hình ảnh Đà Lạt xưa.

Ai muốn tìm bạn học quen Đà Lạt xưa thì vào trang này của cựu học sinh trường Văn Học Đà Lạt xưa. 

https://van-hocdalat.smugmug.com/

Nếu bác nào có ý kiến gì giúp ông thần Nhị Anh cải tiến thêm thì cho biết. Xin cảm ơn trước.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Mỏ dầu và hồi giáo

 DẦU MỎ CÓ GIÚP TIẾN LÊN XHCN ?

Đi chơi ở Nam Dương và Tân Gia Ba mình khám phá ra dân tình yêu chính phủ vì nhà cửa rẻ, mua từ chính phủ cho 99 năm. 80 % căn hộ chung đều do chính phủ kiểm soát, số còn lại của tư nhân. Câu hỏi về việc các nước giàu dầu mỏ như Libya hay vùng Vịnh có phù hợp để theo chủ nghĩa xã hội (XHCN) kiểu Liên Xô hay không thực sự rất sắc sảo. Trả lời ngắn gọn: có, các nước nhiều dầu mỏ và dân số ít là nhóm phù hợp nhất về mặt vật chất để thử mô hình XHCN kiểu Liên Xô. Tuy nhiên, chúng chỉ phù hợp về điều kiện kinh tế, hoàn toàn không phù hợp về điều kiện chính trị-xã hội, nên gần như chắc chắn sẽ thất bại hoặc biến dạng.



Nếu bỏ qua văn hóa, tôn giáo và quyền lực, dầu mỏ kết hợp với dân số ít tạo nên "thiên đường XHCN" trên giấy tờ. Tài nguyên tập trung, dễ quốc hữu hóa. Dân số ít nghĩa là chia đều dễ dàng. Không cần thị trường phức tạp. Nhà nước chỉ cần xuất dầu, thu ngoại tệ, rồi bao cấp giáo dục, y tế, nhà ở. Đây chính là mơ ước của XHCN cổ điển: không cần cạnh tranh, chỉ cần phân phối. Liên Xô từng nghĩ Iraq, Libya, Algeria là tương lai tự nhiên của XHCN, điều này không phải ngẫu nhiên.


Nhưng chính vì dầu mỏ, XHCN càng tệ hại. Dầu mỏ tạo ra cái gọi là "Rentier State" - nhà nước sống nhờ tiền thuê tài nguyên. Nhà nước không cần đánh thuế dân, không cần dân giàu, không cần doanh nghiệp, không cần đổi mới. Hệ quả là dân không có đòn bẩy chính trị, nhà nước không cần trách nhiệm giải trình, quyền lực tập trung tuyệt đối. XHCN cộng dầu mỏ tạo ra nhà nước toàn trị lý tưởng cho giới cầm quyền.


Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: XHCN kiểu Liên Xô giả định có giai cấp công nhân đông, sản xuất phức tạp, và nhà nước điều phối tốt hơn thị trường. Nhưng dầu mỏ không phải công nghiệp, không tạo việc làm, không sinh ra sáng tạo. XHCN ở các nước dầu mỏ chỉ còn là phân phối tiền, không phải tổ chức sản xuất.


Libya dưới thời Gaddafi là ví dụ "chuẩn giáo khoa" của thất bại này. Gaddafi quốc hữu hóa toàn bộ dầu mỏ, xóa bỏ kinh tế tư nhân, tạo phúc lợi rất cao với nhà miễn phí và học miễn phí, chống thị trường và chống phương Tây. Kết quả là GDP trên đầu người cao, nhưng không có tầng lớp trung lưu độc lập, không có thể chế, không có cơ chế kế thừa quyền lực. Khi Gaddafi sụp đổ, nhà nước tan rã ngay lập tức. Lý do đơn giản: toàn bộ xã hội sống nhờ một vòi dầu cộng một người. Không có gì khác đứng vững được khi hai thứ này biến mất.


Đối chiếu Libya hay Algeria với UAE hay Qatar cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Cả hai nhóm đều có dầu mỏ và đều quốc hữu hóa, nhưng Libya và Algeria quốc hữu hóa tuyệt đối, bóp chết kinh tế tư nhân, không thu hút vốn đầu tư, và theo ý thức hệ XHCN nghiêm ngặt. Trong khi đó, UAE và Qatar tuy cũng quốc hữu hóa dầu mỏ nhưng quản trị theo mô hình doanh nghiệp, nuôi dưỡng kinh tế tư nhân, thu hút vốn đầu tư rất mạnh, kết hợp phúc lợi với thị trường, và theo chủ nghĩa thực dụng chứ không phải ý thức hệ cứng nhắc. Vùng Vịnh không theo XHCN mà theo mô hình "nhà nước độc tài kết hợp thị trường mở và phúc lợi mua ổn định".



Vì vậy, các nước dầu mỏ phù hợp nhất để XHCN tồn tại ngắn hạn, nhưng không phù hợp để phát triển dài hạn và cực kỳ nguy hiểm về mặt chính trị. Chúng có thể sống được 20-40 năm, nhưng không tiến hóa thể chế, không tạo con người tự chủ, và rất dễ sụp đổ bạo lực. Dầu mỏ không cứu được XHCN - nó chỉ che giấu khuyết tật của XHCN cho đến khi mọi thứ nổ tung.


Nếu dầu mỏ là lời nguyền cho XHCN và nhiều nước khác, tại sao Na Uy lại thành công? Na Uy là trường hợp hiếm hoi vì họ không "chữa" lời nguyền dầu mỏ bằng mẹo kỹ thuật, mà vô hiệu hóa tận gốc cơ chế gây nghiện tài nguyên. Na Uy làm đúng những điều mà hầu hết nước dầu mỏ không muốn làm.


Các nước dầu mỏ thường gặp năm bệnh: nhà nước sống nhờ dầu nên không cần dân; đồng tiền lên giá làm công nghiệp chết (Dutch disease); quyền lực tập trung dẫn đến tham nhũng; phân phối tiền thay vì phát triển năng lực; và khi dầu biến động thì xã hội sốc, chính trị vỡ. Na Uy chặn từng bệnh ngay từ đầu.


Đầu tiên, Na Uy không dùng tiền dầu để chi tiêu trong nước. Toàn bộ lợi nhuận dầu đổ vào Quỹ tài sản quốc gia, và quỹ này đầu tư ra nước ngoài 100%. Hệ quả là không làm đồng kroner tăng giá, không bóp chết công nghiệp trong nước, không tạo "kinh tế ăn dầu". Phần lớn nước dầu mỏ làm điều ngược lại và chết ở đây.


Thứ hai, dù có dầu, Na Uy vẫn thu thuế cao. Nhà nước sống bằng thuế và chịu trách nhiệm giải trình. Dầu chỉ là tài sản của các thế hệ tương lai. Điều này giữ quan hệ dân-nhà nước là hợp đồng, không biến nhà nước thành "ông phát tiền". Các nước vùng Vịnh và Libya đứt gãy ở chỗ này.


Thứ ba, Na Uy có nhà nước can thiệp mạnh, nhưng Quốc hội thực quyền, báo chí tự do, tư pháp độc lập, và minh bạch tuyệt đối ngân sách dầu. Dầu mỏ không đi qua tay cá nhân hay phe nhóm, không tạo "tầng lớp dầu mỏ".


Thứ tư, Na Uy dùng dầu để đầu tư giáo dục, công nghệ biển, năng lượng, logistics, và tạo ngành phụ trợ cạnh tranh toàn cầu. Dầu nuôi năng lực, không nuôi lối sống. Libya, Algeria, Iraq thì ngược lại: dầu nuôi trợ cấp, không nuôi con người.


Và cuối cùng, đây là điểm rất "Bắc Âu" nhưng cực kỳ thực dụng: người Na Uy chấp nhận thế hệ hiện tại không xài tiền dầu để dành cho con cháu. Quỹ dầu lớn hơn GDP nhiều lần. Xã hội đồng thuận cao nên không có áp lực chính trị "chia ngay".


Khi so sánh Na Uy với Libya và vùng Vịnh, sự khác biệt thật rõ ràng. Na Uy đầu tư tiền dầu ra ngoài trong khi Libya chi tiêu trong nước còn vùng Vịnh vừa chi vừa đầu tư. Na Uy thu thuế dân cao trong khi Libya thu thấp và vùng Vịnh thu rất thấp. Na Uy có trách nhiệm giải trình rất cao trong khi Libya gần như không có và vùng Vịnh thấp. Kinh tế tư nhân Na Uy mạnh, Libya yếu, còn vùng Vịnh tuy có nhưng lệ thuộc nhà nước. Về độ bền vững, Na Uy rất cao, Libya đã sụp đổ, còn vùng Vịnh phụ thuộc hoàn toàn vào dầu.


Na Uy không thoát lời nguyền dầu mỏ vì họ giàu hay giỏi hơn, mà vì họ tự trói tay mình trước khi dầu mỏ trói họ. Đa số nước dầu mỏ dùng dầu để mua ổn định và trì hoãn cải cách. Na Uy dùng dầu để kéo dài kỷ luật và chấp nhận không "sướng" ngay. Nguyên lý quan trọng ở đây: nước dầu mỏ chỉ phát triển khi họ coi dầu là "tài sản tài chính", không phải "nguồn sống".


Quay lại câu hỏi ban đầu về các nước dầu mỏ và XHCN. Trong thực tế, việc thất bại hay thành công trong tương lai không quyết định việc có đi theo mô hình nào hay không. Thực chất là ý thức hệ. Người Hồi giáo với tín ngưỡng cao khó chấp nhận sự vô thần của cộng sản. Đây là nguyên nhân chính khiến Liên Xô thất bại ở Afghanistan cũng như không thể phủ XHCN được ở Trung Đông (thành trì của Hồi giáo) hay Indonesia.


Quyết định theo hay không theo XHCN không phải do hiệu quả kinh tế, mà do tính tương thích ý thức hệ-xã hội. Liên Xô thua ở thế giới Hồi giáo và Indonesia không phải vì nghèo hay giàu, mà vì xung đột cấu trúc niềm tin. Đây là nguyên nhân số 1, không thể vượt qua.


Cộng sản kiểu Liên Xô vô thần, coi lịch sử là động lực, nhà nước tối cao, và Đảng quyết định chân lý. Hồi giáo thì coi Thượng đế là tối cao, luật Chúa lớn hơn luật người, đạo là hệ thống xã hội hoàn chỉnh bao gồm luật pháp, đạo đức và chính trị. Không có vùng đệm thỏa hiệp. Cộng sản không thể "dung nạp" đạo Hồi, chỉ có thể bóp, kiểm soát, hoặc phá. Với Hồi giáo, niềm tin không thể tư nhân hóa như Thiên Chúa giáo hiện đại.


Liên Xô thất bại ở Afghanistan không phải vì sai lầm chiến thuật. XHCN cần nhà nước trung ương mạnh, hệ thống giáo dục thế tục, và Đảng kiểm soát xã hội. Afghanistan có xã hội bộ tộc, luật Sharia, quyền lực phân tán, và thánh chiến là khái niệm chính trị. Liên Xô va chạm trực diện với nền văn minh, không phải đơn thuần là chiến trường quân sự. Có thể thắng về mặt quân sự, nhưng không thể thắng Allah trong tâm trí xã hội đó.


Những nơi XHCN từng tạm đứng được ở Trung Đông như Syria (Ba'ath), Iraq (Ba'ath), Libya (Gaddafi), Yemen Nam đều có điểm chung: đàn áp Hồi giáo chính trị, thế tục hóa bằng bạo lực, và nhà nước an ninh cực mạnh. Chúng không phải xã hội Hồi giáo tự nhiên, mà là "XHCN cưỡng bức lên xã hội tôn giáo". Khi nhà nước yếu đi, Hồi giáo quay lại ngay lập tức.


Indonesia là trường hợp rất thú vị. Indonesia không phải Hồi giáo cực đoan nhưng PKI (đảng Cộng sản Indonesia) vẫn thua dù mạnh, dù có sự hỗ trợ từ Trung Quốc. Indonesia không vô thần. Pancasila coi Thượng đế là nền tảng quốc gia. Xã hội đa tôn giáo, nhưng tôn giáo là chính danh chính trị. Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô bị coi là mối đe dọa đối với nền tảng tồn tại của quốc gia. Năm 1965, quân đội Indonesia tiến hành thanh trừng PKI, hàng trăm nghìn người thiệt mạng. Điều quan trọng: không phải vì PKI kém, mà vì họ xung đột với nền tảng đạo đức quốc gia.


Trung Quốc là ngoại lệ và đây là điểm phân biệt then chốt. Trung Quốc thành công với XHCN vì Nho giáo đã suy, tôn giáo phân mảnh, và nhà nước trung ương rất mạnh. Mao phá sạch không gian thiêng và Đảng lấp chỗ trống. Điều này không thể làm được ở Hồi giáo, nơi niềm tin ăn sâu hơn nhà nước.


XHCN không bén rễ ở "vành đai Hồi giáo" vì ba lý do cấu trúc: không chấp nhận vô thần; không chấp nhận Đảng đứng trên Thượng đế; và đã có sẵn hệ thống công bằng xã hội tôn giáo như zakat, waqf, sharia. XHCN không mang lại thứ họ thiếu. Cộng sản chỉ thắng ở nơi nó thay thế được "niềm tin tối cao". Ở Hồi giáo, niềm tin đó đã có chủ.


Liên Xô thua ở Afghanistan vì đụng phải nền văn minh tôn giáo không thể thế tục hóa. XHCN không thể phủ Trung Đông vì ý thức hệ mâu thuẫn tuyệt đối và không gian thiêng không thể xóa. Indonesia chọn diệt cộng để bảo vệ nền tảng tôn giáo quốc gia.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

1984 của George Orwell linh nghiệm

 Lịch sử qua cái nhìn của George Orwell

Hồi mới sang Paris, có nhiều người kêu mình nên đọc sách của George Orwell nên mò vào thư viện mượn đọc. Nói cho ngay dạo đó đọc nhưng cũng không hiểu nhiều lắm. Sau này qua mỹ đọc lại mới giác ngộ cách mạng ý tưởng của ông ta khi nói về chế độ Stalininist hay các chế độ nắm quyền nhân danh tự do dân chủ bú xua la mua.

Vì quyền lực biến họ thành chế độ độc tài, kiểm soát mà ngày nay chúng ta thấy không những tại các quốc gia cộng sản như Trung Cộng, Việt Nam, Cuba, Triều Tiên,..mà ngay chính các nước tự xưng là tự do ngôn luận bú xua la mua. Ai nắm giữ quyền lực đều muốn ở muôn đời trên đó.


Ông này có cuộc đời khá lạ, sinh ra tại Ấn Độ, thuộc địa của Anh quốc, thuộc gia đình trung lưu, cha ông là một công chức trong chính quyền thuộc địa. Gia đình ông ta trở về Anh quốc sau đó. Ông theo học các trường danh tiếng rồi thay vì theo học đại học, ông ta gia nhập cảnh sát ở Miến Điện. Làm việc trong cho đế chế Anh quốc khiến ông ta mang mặc cảm tội lỗi về cách xử sự đối với người bản xứ và từ chức.


Ông ta trở về âu châu, sinh sống trong nghèo khó ở Paris, nói như ngày nay là đi thực tế, kiếm ý để viết sách sau này. Ông ta làm những công việc tay chân tại Paris rồi Anh quốc. Ông sống chung với giới bình dân nghèo khó và lấy tên “George Orwell” để khỏi gây liên luỵ đến dòng họ của mình.


Khi có cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha, giữa hai phe: Phát-xít của Franco mà người ta gọi là Franquiste, được Hitler và Mussolini ủng hộ và phe thân Cộng Sản được Stalin ủng hộ. đó là cuộc chiến quốc cộng đầu tiên tại âu châu nên các tên mê lý tưởng Cộng Sản cũng như Phát xít tại âu châu, bỏ nhà qua Tây Ban Nha tham dự cuộc chiến này. Tỏng đó có ông Orwell tham chiến với phía thân cộng sản, được Stalin ủng hộ.


Năm 1937, trên một mặt trận đầy bụi mù của cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, ông George Orwell trúng một viên đạn vào cổ. Tay bắn tỉa đã ngắm bắn ông ta nhưng may thay cho chúng ta, viên đạn chỉ sượt qua động mạch của ông vài ly. Nằm bất động trên mặt đất, nghẹt thở, ông Orwell tưởng mình sẽ chết, không phải vì Tổ quốc, không phải vì vinh quang mà vì sự thật. Cuộc đời cho Ông ta sống sót và từ ngày đó, có một điều trong thâm tâm ông vĩnh viễn rạn nức. Lý tưởng của tuổi trẻ bị lợi dụng bởi kẻ cầm quyền.


Đến Tây Ban Nha để chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít, ông phát hiện nơi tiền tuyến một kẻ thù còn thâm hiểm hơn: sự dối trá. Ông chứng kiến những lý tưởng cao đẹp bị bóp méo, những con người phản bội nhân danh công lý, và báo chí nhào nặn sự kiện cho đến khi chính thực tại bị xóa nhòa. Vết thương khép lại, vết sẹo còn đó. Nhỏ bé trên da nhưng tâm hồn ông Orwell mở rộng cho một cái nhìn khác biệt và đã lên tiếng khi đã trải nghiệm.


Từ vết thương ấy ra đời những cuốn sách cay đắng nhất của ông. Trong cuốn “Trại súc vật”, ông cho chúng ta thấy các cuộc cách mạng, một khi chiến thắng, có thể biến thành bạo quyền. Trong cuốn “1984”, ông đưa ra một lời cảnh cáo lạnh người: sự thật có thể bị hủy diệt, bị viết lại, bị thay thế bằng ngôn ngữ của quyền lực. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc và xoá hết các dấu tích tàn bạo, dối trá, chỉ đưa ra những điều hay của cách mạng, của kẻ cầm quyền.


Nhưng thiên tài, ý tưởng của Orwell chưa bao giờ sinh ra trong những phòng khách chính trị êm ái như Karl Marx, nó bén rễ trong sự nghèo khó và sự tỉnh táo. Ông từng lau sàn ở Paris, sống cùng thợ mỏ miền bắc nước Anh, ở giữa những kẻ bị lãng quên để hiểu thế giới từ phía dưới, tận cùng của xã hội, nơi của những kẻ bần cùng của xã hội tây phương sinh sống ra sao.


Với ông, viết lách không phải là một sự nghiệp mà là một bổn phận đạo đức. Ông cho rằng “Trong thời đại của sự lừa dối phổ quát, nói ra sự thật là một hành động cách mạng.” Khi viết cuốn “1984”, ông bị bệnh lao gặm nhấm, sống cô lập trên một hòn đảo băng giá ở Scotland. Ông viết giữa những cơn ho dồn dập, không chịu giữ gìn sức lực. Ông biết thời gian không còn nhiều. Ông muốn để lại một sự thật cuối cùng trước khi tiếng nói của mình tắt lịm. Và khi tiếng nói ấy tắt đi, ông không chỉ để lại những cuốn tiểu thuyết, Ông để lại một tấm gương. Một tấm gương mà cho đến hôm nay vẫn phản chiếu thế giới của chúng ta với độ trung thực đáng sợ.


George Orwell không chỉ viết về áp bức. Ông đã nhìn thấy nó, Ông đã chịu đựng nó; Ông đã chống lại nó và với một vết sẹo trên cổ cùng ngọn lửa bất khuất trong từng chữ, ông đã cảnh cáo chúng ta để chúng ta không bao giờ có thể nói rằng mình không biết.


Ngày nay, với kỹ thuật tân tiến, kẻ cầm quyền còn kiểm soát chúng ta một cách tinh vi hơn lười ông kể trong “1984”. Năm 1984, mình đang làm việc tại Thuỵ Sĩ. Phong trào Solidarnosc từ Ba Lan đã lan toả khắp âu châu. Giới trí thức tây phương bắt đầu đặt lại câu hỏi, về chủ nghĩa cộng sản, chiến thắng của cộng sản tại Đông NAm Á cũng như Phi châu khi đám khờ me đỏ, tàn sát 1/5 dân khờ me. Khi các chiếc thuyền nhỏ bé vượt biển Đông NAm Á từ thiên đường mù Việt Nam.


Họ đặt lại câu hỏi lý do người Việt ra đi sau khi đạt được hoà bình, liều chết mà theo cao uỷ tỵ nạn liên hiệp quốc thì chỉ có 50% người Việt vượt biển đến được bến bờ tự do. Phải đợi thêm 5 năm sau năm 1984 như ông Orwell đã cảnh cáo, Liên Sô mới sụp đỗ. Nhưng thế giới chưa kịp vui mừng thì khám phá ra các xứ tự xưng là tự do dân chủ cũng kiểm soát người dân tinh vi hơn với những phương pháp truyền thông để cấy vào đầu chúng ta những tư duy, không chống lại nhà cầm quyền. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 

Vespasienne, chỗ đi tè ở Paris xưa

Nơi đi tè của Tây ở Paris

Váy khi xưa rộng để mấy bà đứng tè vô tư, không ướt váy.

Đồng chí gái rất ghét Paris, lý do là đi kiếm chỗ mỗi lần mót tè là một vấn đề. Ngày nay chúng ta sống trong tiện nghi, vệ sinh nên quên hay không biết nhưng gì thế hệ cha ông ta đã trải qua. Mình có kể việc đổ bô của vua tại điện Versailles và vệ sinh của quý tộc Pháp khi xưa không như ngày nay. 


Đi chơi với bà cụ vừa rồi ở Nam Dương và Tân Gia Ba, mình hay hỏi mẹ mình có buồn tiểu không. Rồi kiếm chỗ dẫn mẹ đi. Lý do mình hỏi là vì có một bác sĩ người Mỹ nói với mình trong một chuyến đi làm từ thiện y tế tại Việt Nam. Ông ta hỏi phụ nữ Việt Nam không đi tè. Mình nói đi chớ. Ông ta kể là quan sát thấy phụ nữ đợi chờ tới phiên được khám bệnh, lấy nước nơi bình để cho ai cần uống, để đưa cho con, chồng hay bố mẹ còn họ thì không uống. Mình đoán là tại ở Việt Nam không có nhà vệ sinh công cộng nhiều nên phụ nữ không dám uống nước, thì mót tè. Do đó họ hay có vấn đề với thận. Ở Hoa Kỳ, chạy xe đi chơi với đồng chí gái thì cứ 1 tiếng lại phải dừng chỗ nghỉ chân trên xa lộ để đồng chí gái đi tè.


Lâu đài Versailles nguy nga tráng lệ mà không có chỗ đi vệ sinh. Vua sáng dậy ngồi trên cái ghế, có cái lổ như cái bàn cầu ngày nay rồi đại tiện xong thì có người vác bô đi đổ ngoài trời. Giới quý tộc đang tán nhau, mắc tè thì kêu “garçon”, tên bưng bô lại, rồi vén váy lên phủ trên cái bô rồi tè vô tư trong khi mi nhau hay tán nhau. Je t’aime mon amour. Vua Henry VIII bắt mấy bà tình nhân không được tắm 3 tháng 10 ngày trước khi thả gà ra đá với ông ta.


Coi phim xưa, sẽ thấy phụ nữ bận váy có vòng tròn khiến váy xoè rộng ra, lý do là để đứng tè không bị bắn ướt váy hay chân. Nhờ ít tắm nên người Pháp mới sáng chế ra nước hoa đắt tiền để áp đi mùi hôi của cơ thể. Ai buồn đời thì tìm đọc trên bờ lốc.

Pissotière cho hai người, bên ngoài để dán quảng cáo, lòi chân

Khi đi du lịch điều tiên quyết là kiếm chỗ có thể đi vệ sinh. Trong thành phố thì mình sử dụng ứng dụng Flush để tìm chỗ đi tè gần nhất. Còn leo núi thì kiếm chỗ trống, khuất đường mòn, không ai bò đến mà vô tư với gió trời. Khi mình mới đến Paris, hay đi lông bông khắp nơi để xem Paris có gì lạ không Sơn thì có vấn đề mắt tè. Vào quán thì không có tiền uống nước. Được cái dạo ấy họ có những nơi, được gọi là Vespasiennes. Chỗ đi tiểu lộ thiên, chỉ dành cho đàn ông còn đàn bà thì không có. Mình đoán là khi họ thành lập những địa điểm đái đường khi xưa, chỉ có đàn ông ra đường còn phụ nữ ở trong nhà. Không đi làm ở các công sở như ngày nay.

Cái này chỉ dành cho một người đứng lại tè, thiên hạ đi ngang đều thấy hết nhưng vô tư như người Paris. Cột trụ tè được làm theo một hình trụ nên người Pháp gọi Colonne Rambuteau, tên ông Prefet của vùng Seine, sau này cứ bị hắt xì hoài vì dân Paris đi tè, cứ gọi tên ông ra mà chửi nên ông ta tư duy đột phá gọi là Vespasienne.

Lý do là khi xưa, ra đường ở pháp rất là hôi thối, thiên hạ đại tiện ngoài đường hay tè, thêm mấy con ngựa, phọt kít đầy đường, chưa kể đạp cứt chó rồi khi mưa, tuyết xìn lầy đầy nơi. Chỉ sau này thời Napoleon đệ Tam mới kêu ông thần Haussmann, cho làm cống rãnh này nọ mới dẹp được mọi việc.


Tây gọi các địa điểm này là “vespasienne” có nguồn gốc từ hoàng đế la mã tên Vespasian (cai trị AD 69–79), chơi cha thiên hạ, đánh thuế nước tiểu trong các nơi công cộng để sử dụng trong việc ngâm da thú và giặt áo quần vì trong nước tiểu có ammoniac. Nghe nói ông này nói với con trai Titus là tiền không có mùi hôi (pecunia non olet) khi thiên hạ chửi ông ta đánh thuế nước đái. Nếu các bác nào đi Thổ Nhĩ Kỳ hay Tunisia, sẽ viếng các thành phố cỗ của La mà khi xưa, thì thường sẽ thấy trước cửa thành, sẽ có một nhà tắm họ gọi là Hammam, để người khách xa tắm rữa để không còn các vi khuẩn lạ trước khi được vào thành phố, nhiều khi họ đi đường cả tháng trên biển hay bộ nên người hôi hám, có thể bị bệnh. Mình có kể trong chuyến đi Thổ Nhĩ Kỳ cách đây mấy năm. Không tắm rữa, giặt quần áo thì chưa được vào.

Cái này ở đại lộ nên có đến 6 chỗ đứng tè, có cả điện đường để trời tối vẫn thấy đường mà tè. Sau này bổng nhiên có phong trào đồng tính nổi lên, là địa điểm để mấy ông đồng tính đến tìm nhau trong hơi thở nhà tè mà dân Paris gọi tiếng lóng là “tasses”. Hình cũ xưa khi mấy cây được trồng, dạo mình đi học thì cây lớn lắm che bóng mát.

Tại Paris, các địa điểm đi tè được xây dựng trong thời gian 1830-1834 trên các đại lộ chính như Boulevard Saint Michel, Montparnasse,… sau đó ông Prefet tên Claude-Philibert Rambuteau cho gắn thêm 400 địa điểm, chỉ đi tè chớ không có đại tiện. Các cấu trúc này khiến dân tình gọi là “colonnes Rambuteau” khiến ông này không thích lắm, tên mình mà họ gọi là chỗ đi tè nên đổi tên thành “vespasiennes” giúp cải thiện vấn đề vệ sinh. Rồi đến thời ông Haussmann thì cho gắn các địa điểm bằng gan có đến 2-8 chỗ đứng tè, bên ngoài dùng để bán quảng cáo, lấy tiền để trang trải chi phí.


Đến năm 1930 thì Paris có đến 1,230 địa điểm đi tè, được gọi là “pissotières,” “tasses (nơi các ông đồng tính gặp nhau)” hay “ginettes” theo tiếng lóng của dân cư Parisien. Hồi mình mới sang Paris, tiếng tây đã lọng ngọng mà gặp dân Paris, họ xổ toàn là tiếng lóng nên chới với, điển hình một quan pháp (franc) họ gọi là “balle” kiểu “T’as cent balles” nghĩa là có một franc không. Lý do là trước khi mình sang tây, thì chính phủ tây đổi tiền, thời De Gaulle vì lạm phát sau chiến tranh. 1 franc mới đổi 100 quan pháp cũ. Dân tây kêu quan cũ là Balle (tiếng lóng) nên 100 balles là 1 quan mới. Mình chới với, ngọng như bò đội nón nhưng độ 2 năm ở trường cao đẳng quốc gia mỹ thuật thì tiếng lóng mình nghề như tây, ngày nay khi mình về tây chơi, gặp lại bạn bè, nói chuyện chúng kêu tiếng lóng mày quá cổ lổ xỉ, cần được cập nhật hoá. Chán Mớ Đời 

Thường mình thấy sơn màu xanh, vào các công viên cũng hay thấy mấy địa điểm này

Từ năm 1960 trở về sau đến thời mình ở Paris thì các địa điểm này từ từ được tháo dỡ đi, và xây các địa điểm dưới đường hầm để cải tạo hình dáng của Paris . Đến khi mình gần ra trường thì họ bắt đầu gắn các nhà vệ sinh do công ty JC Decaux thiết bị, tự xử và có thể đi đại tiện và nam nữ đều được sử dụng. Hình như phải trả tiền. Mình chưa bao giờ sử dụng thì đi xứ khác kiếm cơm. Nghe nói ngày nay chỉ còn một cái duy nhất là ở đường Arago quận 14. Ai đi du lịch xứ này thì chụp hình một cái. Ngày nay có những địa điểm cho thiên hạ sử dụng gọi là Sanisettes, nghe nói có đến 400 địa điểm miễn phí. Những lần ghé Paris gần đây, em không sử dụng, ít thấy. Chỉ ghé tiệm ăn hay rượu, kêu chai nước suối rồi hỏi đi tè chỗ nào. Xong om

Hiện đại ngày nay do công ty JC Decault. Đi Úc Châu, Tân Tây Lan mình cũng thấy loại này, xem ra người Pháp đã xuất cảng được chỗ đi tè công cộng trên thế giới.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn