Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kỹ năng sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Đế chế “Nail” của người Việt hải ngoại

 Đế chế “Nail” của người Việt tỵ nạn


Mình có kể về các motel tại Hoa Kỳ đa số do người di dân gốc Ấn Độ sở hữu, các tiệm Donuts thì thuộc về người Cao Miên, các tiệm giặt ủi thì người Đại Hàn. Hôm nay đến cộng đồng người Việt tỵ nạn đã xây dựng một đế chế làm móng tay tại Hoa Kỳ. Cho thấy tuỳ theo đặc tính và văn hoá của mỗi cộng đồng di dân đã xây dựng một ngành nghề đặc biệt trong xã hội Hoa Kỳ.

Được biết người Mỹ gốc việt chiếm 1.7% dân số Hoa Kỳ nhưng họ có trên 51% thợ làm nail trên đất Mỹ, 80% người làm nail tại tiểu bang Cali. Xem ra mình quen nhiều người Việt làm nail ở Cali. Chưa đến 2% dân số mà đã thay đổi kỹ nghệ Nail trên 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm.


Đế chế Nail tại Hoa Kỳ khởi đầu từ ngày 30/4/1975. Hoa Kỳ di tản 125,000 người Việt ra khỏi Sàigòn. Đa số đến Hoa Kỳ với anh ngữ giới hạn, không tiền bạc, nhưng vài thập kỷ sau khi rời bỏ quê hương trong bối cảnh vội vả, họ đã xây dựng và thay đổi ngành làm nail tại Hoa Kỳ. Trong số người di tản 50,000 người đó đã được đưa đến trại thủy quân lục chiến Pendleton, California tạm trú, đợi người Mỹ bảo lãnh ra trại. Tại đây, có một bà tài tử người Mỹ tên Tippy Hedrin, nổi tiếng trong phim của Alfredo Hitcock “The Birds”, mẹ của nữ tài tử Melanie Griffith đến trại tỵ nạn làm thiện nguyện. Điều bà ta ngạc nhiên là các bà tỵ nạn, thay vì nhìn khuôn mặt Diễm kiều của bà, cứ nhìn chăm chăm vào móng tay của bà. Lý do là ở Việt Nam ít phụ nữ nào sơn móng tay đẹp như móng tay bà này.

Bà tổ ngành nail của người Việt tại Hoa Kỳ 

Bà ta đột phá tư duy, sao không dạy mấy bà người Việt này làm móng tay để kiếm cơm nuôi con cái. Thế là bà ta kêu người làm nail cho bà dạy mấy bà tỵ nạn người Việt. Chỉ 20 phụ nữ người Việt theo học lớp này và từ đó dạy lại 100 người rồi hàng ngàn người Việt theo nghề Nail. Từ tỵ nạn đến chiếm hoàn toàn kỹ nghệ làm móng tay với tổng số 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm cho người Mỹ tại Hoa Kỳ.


Đây là câu chuyện của những người mẹ, người cha, mất hết những gì ở Việt Nam, tỵ nạn ở xứ có nhiều cơ hội đổi đời, hy sinh đời mình để củng cố đời con. Ngoài ra còn để dành tiền gửi về giúp đại gia đình ở Việt Nam. Họ làm việc từ 10 đến 12 tiếng mỗi ngày. Đi chung xe với nhau trên xa lộ để đi làm. Sự giao thoa văn hoá người Việt và người gốc phi châu hay Mễ tây cƠ. Từ 1975 đến đầu 1990, có trên 1 triệu người Việt định cư tại Hoa Kỳ. Họ đến từng đợt, đa số không biết nhiều anh ngữ, không tín dụng cá nhân nhưng lịch sử nhiều khi rất lạ.

Trở lại 20 người Việt đầu tiên học làm nail. Sau đó thì họ đi làm cho chủ người Mỹ rồi họ đột phá tư duy, tại sao làm công cho thiên hạ nên rủ nhau mở tiệm riêng tuy nhỏ nhưng làm nhiều ăn nhiều làm ít ăn ít. Nói như người Việt bỏ công làm lời. Các người Việt đi làm cho tiệm nail rồi khi hiểu cách thức quản lý tiệm thì họ ra riêng, mở tiệm cho mình. Mình nghe kể là thợ làm xong, học đủ nghề thì xù chủ chạy ra mở tiệm riêng rồi kéo khách hàng về tiệm mình. Nên họ kêu nghề nail rất bạc bẽo. Vào đọc tin tức của nhóm làm nail ở Hoa Kỳ thấy thương họ.


Trước khi có sự hiện diện người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, đi tới tiệm nail chỉ dành riêng cho tầng lớp người giàu có với thời gian nhiều, chả biết làm gì ra ngồi Salon để cho ai đó dũa móng tay hay móng chân và tán dóc. Đối với phụ nữ mỹ bình dân đi vào salon nail là một loại xa xỉ vì quá đắt đối với túi tiền của họ nhưng người Việt đã thay đổi sự việc. Người Việt mở tiệm nail, không có tiền nhiều nên lúc đầu thường mở trong các khu vực bình dân như những khu vực của người da đen hay Mễ tây cơ.



Kết quả người Việt đã thay đổi khuôn mẫu làm nail tại Hoa Kỳ. Họ đã dân chủ hoá việc làm nail, thay vì làm nail riêng cho tầng lớp người giàu có, họ lấy giá rẻ khiến người dân bình thường, với giá hữu nghị có thể tự thưởng cho mình khi đi ăn tiệc vì mỗi set rẻ. Tương tự người cao miên mở tiệm bán Donuts có cả gia đình chung vào làm thì người Việt cũng có con cái giúp sau khi đi học về. Mình có người thân vượt biển sang Hoa Kỳ đi làm nail, mở tiệm rồi con cái đi học về ra giúp phụ cai quản trong tiệm. Ai buồn đời xem đường dẫn 

https://www.bbc.com/news/magazine-32544343


Ngoài ra các tiệm của người Mỹ thì đến 5 giờ là đóng cửa, còn tiệm người Việt thì mở đến khi nào hết khách thì về. Họ lấy giá hữu nghị nên có đông khách và mở thêm các chi nhánh. Có người đi xuyên bang thực hiện giấc mơ Hoa Kỳ của họ. Từ từ các tiệm nail do người Việt mở khắp Hoa Kỳ. Đi đâu mà thèm ăn cơm Việt Nam thì chỉ ghé lại tiệm nail để hỏi địa chỉ tiệm ăn Việt Nam. Đa số người Việt tìm thấy cơ hội làm tiền trong các khu vực đông người da đen và người mễ. Mấy sắc dân này ưa thích màu mè,…nên làm móng tay rất nhiều kiểu, vẽ đủ hình thức, các tài tử hay đội banh này nọ. Cho thấy đế chế Nail của người Việt  không chỉ xây dựng trong cộng đồng người Việt mà toàn nước mỹ với các cộng đồng bạn.


Mình có anh bạn, mẹ là 1 trong người 20 đầu tiên học nghề làm móng tay. Sau này mở trường dạy làm nail, nay anh bạn bỏ nghề bác sĩ để tiếp tục trường của bố mẹ để lại với cô em. Nay họ có chương trình dạy trên mạng, cho người Việt, người Mễ, và người ấn độ. Hoạt động theo phương cách làm ăn của mỹ, không còn tiểu thương như bố mẹ.


Giá rẻ và sự bành trướng của ngành nail của người Việt vô hình trung tạo ra những mặt trái của ngành nghề. Các thợ đều làm nhiều giờ, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Khi khách đi ra thì các thợ nail ho, không có thời gian nghỉ ngơi để ăn trưa. Cả ngày 10-12 tiếng hít các chất hoá học như Acetone, cổ tay đau vì sau bao nhiêu năm cứ dũa nail, ngồi mỏi mệt, đau lưng. Thêm tiệm thường không được thoáng không khí lắm. Chúng ta chỉ thấy móng tay đẹp nhưng ít ai để ý đến hậu quả phía sau của những người hy sinh đời mẹ củng cố đời con. Mình thấy có nhiều đàn ông cũng làm nail cho mấy bà mỹ. Giá rẻ mà tiền thuê tiệm càng ngày càng gia tăng nên khiến họ bị stress, thuế càng cao trong khi khách hàng thì muốn làm nhanh, để có nhiều khách hàng.

20 người việt đầu tiên hoc làm móng tay tại Cali.

Các người làm nail hít Acetone, acrylic, bột, keo suốt bao nhiêu năm sẽ gây hại cho sức khoẻ. Có chị bạn có người chị làm nail rồi bệnh quá nghỉ làm. Lâu lâu xe cứu thương đến chở vào nhà thương vì lộn xộn của sức khoẻ. Mình có người thân làm nail rồi về hưu vì bệnh hoạn và qua đời khá sớm. Nói chung vì kém anh ngữ nên khó tìm công việc khác, thêm gia đình ở Việt Nam xin tiền rồi cố gắng nuôi con ăn học trở thành bác sĩ kỹ sư. Mình có quen một chị gốc Đà Lạt, làm nail, nay con gái tốt nghiệp nha sĩ. Đó là sự hy sinh cho con cái được một tương lai khá hơn mình.


Đó là thế hệ đầu tiên của người Việt tỵ nạn nhưng thế hệ thứ 2 sẽ không tiếp nối con đường làm nail vì nay thế hệ này là kỹ sư, bác sĩ. Các tiệm nail này già úa theo thời cũng như chủ nhân. Ngày nay với luật pháp thay đổi nên có thể hệ thống làm nail kiểu người Việt từ 75 đến nay chắc sẽ gặp khó khăn vì con cháu không tiếp tục thêm và có thể đế chế Nail của người Việt sẽ biến mất trong tương lai.


Có dạo, một tổ hợp luật sư cứ cho người đi kiện các tiệm nail vi phạm vệ sinh y tế. Làm việc mỗi ngày 12 tiếng đồng hồ, chưa kể phải lái xe xa từ Bolsa đến Los Angeles hay xa hơn thì đâu có thì giờ lau chùi vệ sinh hoàn toàn như mỹ. Cuối cùng họ họp nhau mướn luật sư để kiện lại, khiến đám luật sư này bị mất bằng tại Cali.


Có điểm lạ là ngành nail tại Hoa Kỳ sẽ đi theo một lối mới. Có nhiều người Việt trẻ sáng lập tiệm nail qua Instagram, mạng xã hội với khách hàng là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng trển các mạng xã hội. Như vậy họ có thể lấy giá tiền cao hơn. Các tiệm nail ngày nay nghe kể sang trọng lắm, giúp khách hàng đến để trải nghiệm chớ không phải lẹ lẹ có bộ móng tay đi ăn tiệc hay hẹn hò với bạn trai.


Có câu chuyện một cô tên Jenny, 27 tuổi mở tiệm nail lợi tức lên $600,000/ năm. Cô ta kể là khi dịch covid 19 không biết làm gì nên tự học làm nail qua mạng rồi muốn thực hành nghề nên làm miễn phí để có followers trên Instagram. Thế hệ đầu tiên học từ các bà hay dì, khi mới sang Hoa Kỳ, có trường dạy qua mạng còn thế hệ hôm nay thì học qua kỹ thuật số. Khách hàng của cô Jenny không chỉ muốn làm nail mà muốn các móng tay trở thành những tác phẩm nghệ thuật, những design chụp hình được để tải lên mạng xã hội. Khách hàng phải hẹn từ mấy tháng. Mình có cô cháu làm lông mày, xâm xiết gì đó. Nghe nói khách hàng Mỹ hẹn tối thiểu 6 tháng. Cô cháu chỉ hẹn giờ giấc chớ không như thế hệ trước làm cả ngày, không có thời gian cho gia đình.


Cô Jenny này không giới hạn ở làm nail mà còn bán các sản phẩm khác. Khách đến tiệm sẽ được mời mọc mua đủ thứ khác. Ngành nail hiện nay có hai cách. Một cách cổ điển là một set độ $20, hy vọng khách hàng boa hậu hĩnh, làm nhiều khách hạng, tích tiểu thành đại và thế hệ mới thì lấy giá cao hơn và có thể làm rất được nhiều tiền và ít giờ. Có lẻ quen được boa hậu hĩnh, mình để ý mấy người làm nail đến vườn mình mua trái cây, trả mình rất sang cả $100/ thùng còn bác sĩ đến thì chỉ muốn miễn phí, xin thêm cho đại gia đình, chuyên viên ở phòng mạch. Chán Mớ Đời 


Nếu nhìn xa hơn, người Việt bớt sang Hoa Kỳ như các thập niên trước. Các chủ tiệm càng ngày càng già mà con cháu sẽ không tiếp nối sự nghiệp. Nhưng ngành nail có thể nói đã giúp cộng động người Việt tỵ nạn nhanh chóng, có công ăn việc làm, không cần anh ngữ giỏi. Không cần đi học đại học, vẫn kiếm cơm nhanh chóng để nuôi gia đình và Việt Nam. Theo census thì người Việt tỵ nạn có lợi tức ($89,000) cao hơn người Mỹ trắng ($69,000). Chán Mớ Đời 

Pew Research Center +2

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

51 năm nhìn lại Little Sàigòn

 51 năm từ Sàigòn đến Bolsa 

Nếu nhìn lại 51 năm qua, sự ra đi của người Việt tỵ nạn trong lúc hối hả trước ngày 30/4/75 thì phải công nhận như một phép lạ, cộng đồng người Việt đã thành lập lại một Tiểu Sàigòn, được xem là thủ đô của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Phước Lộc Thọ


Ngày hải hùng đó đã khiến chúng ta mất quê hương, chúng ta có thể xây dựng lại một quê hương ở nơi khác. Có nhiều người ra đi trong lúc vội vã không biết gia đình còn sống hay chết. Ngày nay theo thống kê có đến 189,000 người Mỹ gốc việt sinh sống tại quận Cam (Orange COunty). Cộng đồng người Mỹ gốc việt lớn nhất tại Hoa Kỳ. 40% người Việt sinh sống tại thành phố Westminster, 31% ở thành phố Garden Grove.


Có thể nói không có truyền thông như tờ báo đầu tiên Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập với luật sư Đạt Phan, con ông Phan Huy Quát. Thì có lẻ Little Sàigòn không đông như ngày nay vì các lớp người Việt tỵ nạn tiếp tục sang Hoa Kỳ và đọc báo và dọn về vùng này ở.


Năm 1979, chỉ có 30 business ở phố Bolsa, đến năm 1981 thì có 300 business ở đây rồi đến năm 1984 lên đến 600. Ngày nay, có trên 4,000 business ở trong phạm vi 3 dặm vuông. Người ta tính có trên 280 tiệm ăn, 42 tờ báo việt ngữ, 5 đài phát thanh, 2 đài truyền hình phát các chương trình khắp nơi trên thế giới.


Ở trung tâm Tiểu Sàigòn có Phước Lộc Thọ khiến ai đến đây lần đầu cảm thấy như vào một chỗ nào huyền thoại. Năm 1986, một người sở hữu 1/3 địa ốc ơ Bolsa muốn đặt tên là Asian Town nhưng cộng đồng không chịu và tranh chấp suốt 2 năm liền và đã thắng, khu vực này được đề bảng Little Sàigòn trên xa lộ để xe quẹo vào. Con đường Bolsa được đấu tranh để bảo vệ bản sắc của người Việt tỵ nạn và nhưng người Việt tỵ nạn đã xây dựng trung tâm cộng đồng người Việt lớn nhất tại hải ngoại. Mình nghe nói là Đài Loan bỏ tiền xây rất nhiều khu phố Bolsa. Sau này có người Việt tư bản đỏ sang đầu tư nữa.


Mọi sự khởi đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trực thăng di tản các người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, và cuộc chiến chấm dứt với triệu người vui và hàng triệu người buồn. 130,000 người Việt được người Mỹ di tản khỏi Việt Nam, được xem là cuộc di tản cấp tốc rộng lớn nhất ở thế kỷ 20 trong thời gian rất ngắn. Nghe CIA giải thích là nhờ báo cáo của điệp viên X92, Võ Văn Ba báo trước nên Hoa Kỳ mới có thời gian chuẩn bị cuộc di tản các thành phần có dính dang đến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


người Mỹ không muốn như trường hợp của người tỵ nạn Cuba là dồn về một nơi ở tiểu bang Florida, họ rãi người Việt khắp nơi trên nước Mỹ như 10,000 người ở tiểu bang Florida, 22,000 ở Pennylvania, 51,000 ở Arkansas và 50,000 ở trại thuỷ quân lục chiến Pendleton, tiểu bang California. Hơn 1/3 ở nam Cali.


Vấn đề là người Việt di tản ở trong các trại tiếp cư và đợi ai đó ở ngoài bảo lãnh họ, đúng hơn người Mỹ vì dạo đó rất ít người Việt ở Hoa Kỳ. Đa số là sinh viên du học. Các giáo phận công giáo tham gia, và các nhà thờ tin lành. Họ đưa người Việt đến các thành phố như Westminster, Garden Grove, Santa Ana,…nhưng khu vực không sang trọng, đúng hơn là nghèo. Lý do là tiền thuê nhà rẻ.


Rồi làn sóng tỵ nạn thứ 2 đến, từng năm 1979-1985, các thuyền nhân đến đảo ở đông Nam Á, được phỏng vấn đi mỹ. 800,000 người Việt tỵ nạn đến định cư tại Hoa Kỳ. Nghe cao uỷ tỵ nạn cho rằng 50% người vượt biển nằm lại trong lòng đại dương. 1000 người mỗi tháng tại Quận Cam.


Rồi làn sóng thứ 3 đến qua chương trình Orderly Departure Program (ODP), đoàn tụ gia đình.


Làn sóng thứ 4 cuối thập niên 1980 đến 1990, các tù nhân chính trị, cải tạo được Hoa Kỳ thâu nhận. Các làn sóng nhập cư người Việt đều đọc báo người Việt và các báo khác ở Bolsa, giúp họ dọn về định cư tại Quận Cam.


Mấy năm gần đây thì thấy có nhiều người Việt di dân qua đầu tư theo EB-5 hay các chương trình khác. Chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện con cháu của những người từng tuyên bố đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Mình có gặp vài người khi họ hỏi mua cái vườn của mình. Có đám chuyên gia giúp họ đầu tư qua Hoa Kỳ để hạ cánh an toàn. Nghe họ kể nằm bắt võng ở đầu Trường Sơn, tự xưng là di dân chớ không hoi ải tỵ nạn.


Khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Bolsa thì khu vực này đang chết. Mình nhớ khi mình đến Cali lần đầu tiên thấy nhiều vườn trồng dâu của người Nhật. Các dãy phố lụp xụp Chán Mớ Đời nhưng được cái là đất ở đây rẻ. Không như ngày nay.


Người mở tiệm bán tạp phô Việt Nam đầu tiên là ông Danh Quách nhưng ít khách lắm. Ông ta kể là 3 năm trời ít khách nhưng ổng a vẫn tiếp tục. Theo ông ta thì có lần thị trưởng thành phố và cảnh sát trưởng ghé tiệm ông và nói là cảm thấy không yên lòng về sự có mặt của tiệm ông ta. Người dân địa phương da trắng cảm thấy khó xử. Mình nhớ khi mới dọn về Westminster thì xung quanh là người Mỹ trắng rồi dần dần họ bán nhà bỏ chạy và người Việt dọn đến. Nay chỉ thấy gốc mít xung quanh.


Ông Quách không muốn bỏ đi và có dược sĩ Danh Quách dọn đến mở tiệm thuốc tây năm 1978, rồi tiệm Hoà bÌnh rồi Tân Mai. Rồi năm 1979 có được 30 business của người Việt. Đúng lúc có làn sóng người Việt thuyền nhân định cư tại đây khiến thương mại phát triển, khách đến mua đông như quân nguyên, nói tiếng Việt như người Việt.


Năm 1981, 300 business, 1984, 600 business rồi ông Triệu Phát đến Hoa Kỳ năm 1975, buồn đời mua đất rồi xây Phước lộc Thọ. Năm 1987, cảnh sát Westminster ước lượng mỗi cuối tuần có 20,000 đến 60,000 người đến mua sắm ăn phở ở Bolsa. Cứ ra khỏi xa lộ quẹo vào đường Brookhurst là kẹt xe, người Việt lại lái xe kiểu biết bố mày la ai, bóp kèn in ỏi.


Ở bolsa người Việt đã xây dựng lại truyền thống Tết, như diễn hành, rồi chợ Tết nơi hội tụ người Việt tỵ nạn từ xa về về đây mấy ngày tết để ăn tết với bạn bè và gia đình. Rồi đình chùa mọc lên như nấm. Giúp các con cháu chưa bao giờ biết Việt Nam có thể hoà mình vào không khí tết được tạo dựng lại bưởi cha mẹ ông bà. Với hội chợ tết này nọ hay chợ đêm khi hè đến, giúp người Việt tha hương có thể tìm lại chút gì để nhớ. Mình thấy đắt tiền nên chả bao giờ bò ra thêm kẹt xe.


Tiểu Sàigòn trở thành trung tâm văn hoá của người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Các cuốn sách bị cấm tại Việt Nam được sản xuất nhiều như bánh mì baguette mỗi ngày. Các băng nhạc video được thâu dựng rồi bán qua âu châu và Úc Châu.


người Việt bỏ nước ra đi chỉ còn lại ký ức quê hương và đã tạo dựng lại quê hương trên đất nước đã cưu mang họ. Nhưng họ không quên lý do tại sao phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Có một ngày mà hàng năm cộng đồng người Việt đều tụ tập lại để tưởng niệm nhưng người dã hy sinh trong cuộc chiến cho tự do và những người đã bỏ mình trên đường vượt biển. Họ đã mua đất để xây đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Vietnam warmemorial).


Xét ra thế hệ đầu tiên xây dựng để sống còn còn thế hệ thứ 2 thì xây dựng quyền lực. Năm 1992, ông Tony lâm đắc cử nghị viên của thành phố, người Việt đầu tiên đắc cử. Vào thập niên 1990 cử tri người Việt khá đông nên các đảng không thể làm lơ như xưa. Nhưng cộng đồng người Việt như cộng đồng cuba rất chống cộng. Khi ông John MacCain ra tranh cử tổn thống, có đến kiếm phiếu cũng như Bush cha. 


Theo thống kê thì 53% cử tri ở Tiểu Sàigòn bầu cho ông Trump. Lý do ông ta chống Trung Cộng. Mà người Việt tỵ nạn lại ghét tàu. Họ bảo thủ vì ký ức, những năm tháng dài bị Việt Cộng bỏ tù. Họ bỏ phiếu theo địa chính hơn là các chương trình phúc lợi địa phương.


Nhưng ngày nay, sau khi bám rể vào đời sống Hoa Kỳ, thì có sự rạn nứt trong giới cử tri. Theo thống kê thì cử tri gốc việt dưới 49 tuổi, 65% ghi danh là cử tri của đảng dân Chủ. Lý do là thế hệ thứ hai không trốn thoát khỏi Việt Nam. Họ không bị ở tù cải tạo, tiểu Sàigòn không phải là nơi định cư tạm của họ như thế hệ trước.


Thế hệ con cháu dọn đi các thành phố khác như Irvine, Costa Mesa, Laguna. Thế hệ này là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. Họ đã vào dòng chính của Hoa Kỳ.


Đó là bề ngoại bề nổi, mặt bằng của Tiểu Sàigòn, chúng ta thấy tiệm ăn mọc như nấm nhưng nếu nhìn kỹ thì trong khu Tiểu Sàigòn có đến 5  khu mobile homes mà đa số người Việt ở, với tiền thuê đất đắt như vàng. Các người lớn tuổi sinh sống ở đây cho tiện đường mua sắm, nơi mà họ đã cùng nhau tạo dựng. Các người cao tuổi sống nhờ tiền an sinh xã hội. 


Little Sàigòn có hai loại kinh tế. Một kinh tế khiến thiên hạ đến mua sắm và một cố gắng sống chật vật phía sau mặt bằng hoành tráng của Tiểu Sàigòn. 


50 năm nhìn lại, cộng đồng người Việt đã thành công xây dựng qua bao nhiêu làn sóng đến Hoa Kỳ. Chúng ta bỏ lại sau lưng quê hương để xây dựng lại một quê hương thứ hai trên đất mỹ. Nhưng tương lai thế hệ con cháu có thể sẽ không màn đến vì Irvine có tiệm ăn Tàu, việt. Ngày thành phố mình bây giờ bắt đầu có tiệm ăn tàu, Việt Nam, đại hàn mọc lên như nấm. Có lẻ sẽ ít xuống Bolsa nhất là xăng trên $6. Nhưng phải kể là các lớp người Việt đi trước đã bỏ công gầy dựng một trung tâm để chúng ta quay về như viếng lại ký ức của quê hương bỏ lại.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

người Tình Cindy

 Mordechai Vanunu và người Tình Cindy


Nhớ dạo mình làm việc ở Luân Đôn, có lần thiên hạ bàn tán về một ông người do thái bán tin tức cho một tờ báo Times, nói là do Thái có vũ khí nguyên tử rồi sau đó ông ta biệt tăm. Nay mình lò dò vào đọc tin tức của Do Thái thì khám phá ra ông ta bị bắt và dẫn độ về độ Thái và bị lên án 18 năm. Hình như mình có xem một phim tài liệu nói về ông này cũng như cặp điệp viên pháp, giả làm vợ chồng qua xứ  Tân Tây Lang đặt mìn tàu của hội Greenpeace nhưng không thành và bị bắt. Năm ngoái đến xứ Tân Tây Lan mình có bò lại bến tàu nơi cặp tây đầm điệp viên tây bị bắt.


Mordechai Vanunu sinh năm 1954 tại Marrakech, Morocco, trong một gia đình Do Thái có 11 người con. Năm 1963, gia đình ông di dân đến Israel và định cư tại Beersheba, miền nam đất nước. Thời đó ở Algeria xứ bên cạnh đuổi cổ dân Tây dân gốc do thái ra khỏi nước họ nên có lẻ vì vậy mà gia đình ông này và các người Do Thái dọn về Do Thái cho lành. Mình nghe nói là ở maroc trước kia các người đạo hồi, công giáo và do thái sống yên vui với nhau dưới thời tây cai trị nhưng khi mấy xứ này bắt đầu dành độc lập thì không còn anh em với nhau nữa. Đánh nhau chí choé. 


Giống như mọi công dân Israel, ông hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Sau đó, ông học triết học và địa lý tại Ben-Gurion University. Chính tại đây, ông bắt đầu đặt ra những câu hỏi lớn về chính phủ, công lý và đạo đức.


Năm 1976, ông làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Negev, gần Dimona, một cơ sở lớn giữa sa mạc. Israel luôn tuyên bố đây là cơ sở nghiên cứu hòa bình và chưa bao giờ chính thức xác nhận hay phủ nhận việc sở hữu vũ khí hạt nhân.


Trong 9 năm làm kỹ thuật viên hạt nhân, ông Vanunu vận hành hệ thống xử lý plutonium nằm sâu dưới lòng đất, sau nhiều lớp cửa an ninh. Ông tận mắt chứng kiến: Israel đang sản xuất vũ khí hạt nhân. Không phải vài quả mà có thể hàng chục, thậm chí hàng trăm. Hoàn toàn bí mật với thế giới, kể cả Liên Hiệp Quốc.


Dần dần, suy nghĩ của ông thay đổi, mầm mống phản động khơi mào. Ông tham gia các hoạt động chính trị cánh tả, quan tâm đến quyền của người Palestine. Năm 1985, hợp đồng của ông không được gia hạn. Chán Mớ Đời ông ta muốn biến đau thương thành hành động cách mạng. Ông ta đột phá tư duy, ông làm một việc thay đổi cả cuộc đời mình: Mang máy ảnh vào khu vực cấm, Chụp khoảng 60 bức ảnh chi tiết về cơ sở hạt nhân.


Năm 1986, ông rời Israel, đi qua châu Á rồi đến Úc. Tại Sydney, ông cải đạo sang Thiên Chúa giáo. Nói như người thiên chúa giáo là trở về đạo. Ông ta đã lầm đường lạc lối nên nay muốn cách mạng khoan hồng nên  Ông tin rằng mình có nghĩa vụ đạo đức phải nói ra sự thật. Ông liên hệ với tờ The Sunday Times ở London. Các chuyên gia độc lập xác nhận toàn bộ thông tin: Israel có chương trình vũ khí hạt nhân bí mật, Ước tính từ 100–200 đầu đạn


Khi bài báo sắp được công bố, ông ta được một số tiền nên vào bar ăn uống cho vui đời cô lựu thì choáng váng khi một giai nhân xuất hiện. Anh ta nghĩ ông bà nói quả không sai khi có tiền thì mấy cô gái dẫn xác đến nạp thân, lúc ông đói chả cô nào thèm nhìn mặt. Tin tưởng đã phát hiện ra mối tình hữu nghị sông liên sông núi liền núi. 


Cô gái đẹp nức nở là một nữ điệp viên tên “Cindy” (Cheryl Bentov) thua ông ta đến 14 tuổi, tiếp cận ông. Bên tai Cindy thỏ thẻ anh làm em ngưỡng mộ quá, ba má em có căn hộ ở la mã, hay cuối tuần này em nghĩ làm chúng mình bay qua La MÃ để cùng nhau viếng nhà thờ San Pedro. Ông ta nhất trí tưởng đến quỳ lạy chúa cho con lấy được Cindy, mời cô nàng đi ăn ở các tiệm sang trọng của La Mã và ăn gelato ở Trastevere. Thế là ông ta bị dụ sang Rome. Vừa chạy taxi từ phi trường về nhà chưa đầy 5 phút, ông ta chưa kịp đè Cindy xuống giường thì có tiếng gõ cửa. Cindy ra mở và các bác Mossad bước vào đè đầu ông ta và đánh thuốc mê trong giấc mơ bên cạnh em Cindy thơm như múi mít. Ngày 30/9/1986, ông bị đánh thuốc mê, bắt cóc và đưa bí mật về Israel.


Ngày 5/10/1986, bài báo vẫn được đăng. Cả thế giới biết sự thật. Ông  Vanunu bị xét xử bí mật, kết án phản quốc và gián điệp. Năm 1988, ông bị tuyên 18 năm tù. 11 năm trong phòng biệt giam, Một căn phòng 2m x 3m, Không giao tiếp, không con người, chỉ có im lặng nhưng ông không bao giờ hối hận. Chắc con cháu của Trương Bất Hối. Năm 1998, ông được chuyển ra khỏi biệt giam. Amnesty International gọi ông là “tù nhân lương tâm”. Ông được đề cử Nobel Hòa bình 17 lần nhưng chưa từng được trao. Vì DO Thái Lobby rất kiến hiệu ở Na Uy.


Ngày 21/4/2004, ông được trả tự do sau 18 năm. Nhưng… ông vẫn không thật sự tự do. Không được rời Israel. Không được nói chuyện với báo chí nước ngoài. Bị giám sát liên tục. Ông nhiều lần bị bắt lại chỉ vì nói chuyện với phóng viên. Năm 2007, ông bị kết án thêm 6 tháng tù vì… nói rằng ông muốn rời khỏi đất nước. Họ hỏi ông ta đi đâu, chắc là muốn sang đầu quân cho Ba Tư. Ông xin tị nạn ở Na Uy, Mỹ và nhiều nơi khác đều bị từ chối. Chán Mớ Đời 


Israel nói ông vẫn còn “bí mật trong đầu”. Một người rời khỏi cơ sở hạt nhân từ 40 năm trước… vẫn bị coi là nguy hiểm. Ông Vanunu nói:“Tôi không hối hận. Thế giới cần biết sự thật.” Xem như thành phần ngoan cố, không bao giờ cải tạo được.


Một người bình thường.

Một công việc ổn định.

Một cuộc sống có thể yên ổn.


Nhưng ông đã chọn nói ra sự thật. Đổi lại: 18 năm tù, 11 năm biệt giam và hàng chục năm bị hạn chế tự do. 


Có những người nói ra sự thật và được trao huy chương. Có những người nói ra sự thật… và sống 11 năm trong một căn phòng nhỏ hơn phòng tắm. Và Mordechai Vanunu đã nói ra sự thật. Và phải trả một giá quá đắt. Ông cụ mình cũng phải trả giá nói lên sự thật và bị bắt nhốt 15 năm cải tạo. Chán Mớ Đời 


Mình nghĩ chắc lúc đó ông ta chưa có vợ con, chớ một khi có vợ con thì họ sống hèn lại, để có thể đi làm để nuôi vợ nuôi con. Còn nói lên sự thật thì vợ con phải gánh chịu hậu quả. Mình làm mình chịu nhưng nếu ông ta có gia đình thì có lẻ không xẩy ra vấn đề này. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyến bay Air Việt Nam định mệnh và ý chí của sự sống còn

 


Chuyến bay định mệnh và ý chí của sự sống còn


Lâu rồi hình như mình có đọc bài của ai kể là khu vực vùng Phan Rang, Nha Trang Khánh Hoà có một vùng dễ bị rớt máy bay nên ông ta không dám bay vào vùng này. Hôm nay nhận được một bài của một ông thần quen trên mạng, gửi cho một bài kể về một cô gốc Hoà Lan, làm việc ngân hàng ở Hương Cảng, đi chơi ở Việt Nam với bạn trai để tạo những kỷ niệm đẹp lãng mạn để sau này hát người con gái không cần dĩ vãng, chỉ còn mối tình mang theo thì chiếc phi cơ của hãng hàng không Việt Nam chắc máy bay của Nga vì năm 1992, bị rơi trên từ Sàigòn bay đến Cam Ranh. Cả máy bay chết hết chỉ có cô ta sống sót. Kinh. 


Năm 1992 là năm em về Việt Nam lần đầu sau khi nghe tin ông cụ ra trại cải tạo. Chỉ đi máy bay đến Sàigòn thôi còn đi xe thuê bao lên Đà Lạt. Nhưng lần sau mới đi máy bay lên Đà Lạt cho nhanh vì ngồi xe mất cả ngày.


Nếu chúng ta từng bị trục trặc khi đi chơi, cảm thấy chuyến đi của mình “toang” vì chuyến bay bị trễ, khách sạn hết phòng, cà phê nguội ngắt giọt đắng thì nên đột phá tư duy, hít một hơi sâu và nhớ đến câu chuyện của cô Annette Herfkens. Bởi vì vào năm 1992, kỳ nghỉ lãng mạn với mối tình hữu nghị sông liền sông ở hương Cảng nơi cô ta làm việc với một ông cùng sở của cô không chỉ “trục trặc” mà là trục trặc ở cấp độ khá đặt thù. Với rừng rậm sinh tồn dù chưa bao giờ cô ta tham gia qua một kỳ huấn luyện của lực lượng đặc biệt. Bằng cách nào đó, cô vẫn sống sót. Không chỉ sống sót, mà còn với một sự bình tĩnh đến mức khiến phần còn lại của chúng ta trông như sẽ hoảng loạn chỉ vì mất Wi-Fi 5 phút. Nhớ khi xưa có xem phim một chiếc máy bay rớt trên núi Andes và những người sống sót phải ăn thịt các hành khách khác để sống sót. Kinh

Câu chuyện của cô, được kể trong Turbulence: A True Story of Survival, bắt đầu như nhiều bi kịch vĩ đại khác: bằng tình yêu, nói nhẹ Tây là commencer par l’amour. Cô Annette và người bạn trai Willem đang trên đường đến Việt Nam cho một kỳ nghỉ nâng cao tình yêu đôi lứa đáng lẽ phải rất đẹp. Để đánh dấu mối tình hữu nghị với tính cách lãng mạn như trong xi-nê với nhìn hoàng hôn, bãi biển, có thể thêm vài ly cocktail hơi mắc tiền. Họ đột xuất tư duy khi nghe bài hát Nha Trang ngày về mình tôi trên bãi khuya nên quyết định bay từ Sàigòn ra Nha Trang. 


Nhưng thay vào đó, nhờ sự kết hợp “hoàn hảo” giữa thời tiết xấu và sai sót con người, chiếc máy bay của họ, Vietnam Airlines Flight 474, quyết định “làm quen” với một sườn núi. Hình như sương mù. Có chiếc trực thăng của quân đội Việt Nam bay đến vùng này để tìm kiếm chiếc máy bay nhưng cũng rớt luôn, do đó mình nhớ có nghe ai nói đến vùng này đã có vấn đề trước 75. Ai nhớ thì cho em xin lý do. Em nghe vụ này trên 40 năm nên không nhớ rõ lý do.


https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam_Airlines_Flight_474


Thông thường, khi gặp tai nạn máy bay, đa số mọi người sẽ… không sống sót. Được cái là máy bay rớt trên các ngọn cây nên sự đụng chạm tương đối bớt mạnh hơn là chạm đất. Nhưng cô Annette, rõ ràng, đã không nhận được thông báo đó từ PA, của tiếp viên trưởng là đeo mặt nạ oxy gì vào như mỗi lần máy bay sắp cất cánh là thấy tiếp viên hàng không cứ ra hiệu kéo dây thòng xuống.. 


Có lẻ chưa tới số hay thánh Phao Lồ không cho vào cổng thiên đường nên trở lại nhân thế. Chiếc máy bay này nhỏ, 3 động cơ nghe nói đâu có 23 hành khách và phi đoàn có 6 người. Mình nhớ có lần bay từ Boston qua Ottawa, đi máy bay hai chong chóng khiến mình thất kinh. Máy bay cũ khi xưa hành khách đi được xem là sang nhưng sau khi ngồi Boeing 747 thì thấy sợ.

Máy bay trên đường đáp xuống phi trường, đụng cây nên phi công mất tay lái không lên lại được và tuông luôn. Khi cô tỉnh dậy giữa rừng, bị thương, xung quanh là xác máy bay và quan trọng nhất không hề có đồ cấp cứu. Nghe nói có vài người sống sót bị thương nặng nhưng cứu hộ đến trễ nên họ qua đời luôn, ngoài trừ cô này. Chấn thương của cô rất nghiêm trọng: gãy xương, tổn thương nội tạng, và đủ đau đớn để khiến bất kỳ người bình thường nào cũng muốn nằm xuống và “diễn sâu” lần cuối. Nhưng cô Annette đã làm một điều rất bất ngờ. Cô không la hét. Không hoảng loạn. Thậm chí cũng không độc thoại về số phận.


Thay vào đó, cô nghĩ: “Được rồi. Bước một: đừng chết.” Hóa ra, đây là một chiến lược cực kỳ hiệu quả. Ý chí muốn sống rất quan trọng, muốn vượt qua để tồn tại sống còn. Sáng hôm qua mình cho mọi người tập Trạm Trang Công 30 phút, nhưng họ đứng hết 30 phút. Tại vì khi chúng ta luyện ý chí mạnh thì khi đau ốm, sẽ có ý chí vượt khỏi để chữa bệnh còn nếu không thì sẽ buông xuôi. Mình thấy nhiều người bệnh đến Đông Phương Hội nhờ Khoa chữa bệnh nhưng rồi họ không chịu tập tành gì cả để tạo dựng lại sức mạnh, cứ thích mì ăn liền. Kiếm thuốc tiên như Tần Thuỷ Hoàng. Rồi bỏ cuộc.


Trong tám ngày, cô Annette nằm lại trong rừng Việt Nam, không thể đi lại, sống nhờ nước mưa mà cô hứng được bằng các mảnh vỡ của máy bay. Nhịn đói 8 ngày thì được nhưng cần nhất là uống nước. Mình hay nhịn đói 12 ngày nhưng bắt buộc phải uống nước. 


Nhưng điều đáng nể nhất không phải là thể chất mà là tinh thần. Cô Annette mô tả trạng thái tâm trí của mình như một sự bình tĩnh kỳ lạ, gần như kiểu “làm việc chuyên nghiệp”. Không kịch tính, không hoảng loạn kiểu phim ảnh. Mình nghĩ khi nhịn đói thì neuron của cô ta làm việc hăng say nên bình tỉnh. Người ta giải thích khi xưa, tổ tiên chúng ta đi săn, khi đói thì mới đi săn và lúc đó tâm trí rất sáng suốt để có thể săn thú được. Mình nhớ nhịn đói độ ngày thì 8 trở lên thì tinh thần rất sáng suốt. Cô không nghĩ về toàn bộ thảm kịch (bao gồm cả mất mát người cô yêu). Thay vào đó, cô thu nhỏ thế giới của mình lại thành những nhiệm vụ đơn giản:


Uống đủ nước.  

Giữ tỉnh táo.  

Sống đến cơn mưa tiếp theo. Hy vọng cấp cứu sẽ đến sớm. 


Đây có lẽ là danh sách “to-do list” căng thẳng nhất trong lịch sử. Trong lúc đó, khu rừng thì đóng vai một chủ Airbnb ngoài trời cực kỳ khó chịu. Nóng, ẩm, côn trùng, đặc biệt là muỗi, mà với sự nhiệt tình của chúng, rõ ràng đã chờ sẵn một “bữa tiệc banker châu Âu”. Không biết có vắc ở vùng này hay không chớ dạo mình đi Sơn Đoòng thì có hai người bị vắc bu như vắc. Vậy mà cô Annette vẫn chịu đựng được. Không thuốc chống muỗi. Không đồ ăn vặt. Không podcast truyền động lực. Chỉ có ý chí sống và một quyết tâm rất… không muốn chết một cách lãng xẹt trong rừng già Việt Nam. Ông cụ mình khi xưa bị bệnh sốt rét sau nhưng năm ở quán ngủ, phải uống thuốc quinine mệt thở. Sau này lại ở trại cải tạo. 


Điều làm câu chuyện này đặc biệt không chỉ là việc cô sống sót mà là cách cô sống sót. Không có cảnh chạy xuyên rừng như phim hành động, không đánh nhau với thú hoang, không dựng bè bằng dây leo rồi phát biểu truyền cảm hứng hay live stream. Chiến lược của cô đơn giản hơn nhiều:


Làm ít lại. Nghĩ rõ ràng. Đừng làm tình hình Chán Mớ Đời hơn.


Nếu bị thả vào rừng, nhiều người sẽ ngay lập tức thử làm điều gì đó hoành tráng nhưng sai lầm như cố đi bộ với xương gãy hoặc hét cho đến khi mất nước. Cô Annette thì khác. Cô tiết kiệm năng lượng như một nhân viên ngân hàng kỳ cựu né tránh những cuộc họp không cần thiết. 


Sau tám ngày, đội cứu hộ cuối cùng cũng tìm thấy ra hiện trường. Và ở đó họ tìm thấy người sống sót độc nhất là cô. Gần như kiệt sức, nhưng rõ ràng vẫn còn sống. Chúng ta có thể tưởng tượng sự bối rối của đội cứu hộ: “Chúng tôi đến để tìm thi thể… sao lại có người chưa chịu ‘hợp tác’ với hoàn cảnh thế này?”


Sự sống sót của cô thật sự phi thường. Bác sĩ kinh ngạc. Về mặt thống kê, logic, thực tế thì cô không thể sống. Nhưng cô đã sống.


Phần cuối của Turbulence nói về một điều không kém phần khó khăn: sống tiếp sau khi đã sống sót. Cô Annette phải đối mặt với mất mát, hậu chấn tâm lý, và cảm giác tội lỗi của người sống sót. Nay cô ta sống ở New York, có con. Cuốn sách không né tránh và nói lên điều đó. Nhưng từ đó, cô rút ra một bài học mạnh mẽ:


Con người mạnh mẽ hơn họ nghĩ, đặc biệt khi họ ngừng hoảng loạn và bắt đầu suy nghĩ. Vì vậy, lần tới khi cà phê của chúng bị pha sai, điện thoại hết pin, hay chuyến bay bị hoãn, hãy nhớ đến cô Annette Herfkens giữa rừng. Không thức ăn. Không trợ giúp. Xung quanh là thảm họa. Nhưng vẫn bình tĩnh nghĩ: “Được rồi. Cố gắng đừng làm mọi thứ Chán Mớ Đời hơn.”


Hóa ra, sống sót không phải là người mạnh nhất hay nhanh nhất. Mà là người, khi mọi thứ sụp đổ, vẫn có thể bình tĩnh nói: “Ừ… đừng làm mọi thứ te tua thêm nữa.” Tinh thần lạc quan sẽ giúp chúng ta vượt qua những trở ngại trước mắt vì sau cơn mưa trời lại sáng. Vấn đề là mưa rơi đến bao giờ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn