Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Câu chuyện tình già 3 giờ sáng

Đi Tân Gia Ba chơi với Bà cụ và đồng chí gái thì rất cảm động khi nghe bà cụ kêu “đẹp quá con hỉ”, kêu gặp lại mình như trẻ hơn 10 tuổi. Trong chuyến đi mình có đọc được một câu chuyện về một người sở tại lớn tuổi, bà vợ qua đời, để lại ông một cuộc sống vắng vẻ, buồn chán. Xin tóm tắc như sau:

Người đàn ông goá vợ, mỗi ngày ra quán cơm ngồi ăn một mình trong nổi cô đơn khi người vợ đã qua đời. Khi chúng ta mất đi mới quý sự hiện diện của người bạn đời

 Tôi sống ở Bukit Ho Swee. Khu tập thể cũ. Loại HDB sơn màu pastel đã phai, hành lang hẹp đến mức hàng xóm nghe được cả tiếng bạn hắt xì. Ở đây yên tĩnh. Không phải kiểu yên bình. Mà là kiểu ai ở nhà nấy, đóng cổng sớm, không ai dây với ai. Nghe kể là 80% căn hộ ở Tân gia Ba thuộc của chính phủ nên mua hay thuê rẻ.

Dưới nhà có một quán cà phê. Chẳng có gì đặc biệt. Ghế nhựa, đèn huỳnh quang chói mắt. Một quán zi char, một quầy nước, một quán cơm bình dân, và một dì bán bánh mì kaya buổi sáng. Loại chỗ mà khách du lịch sẽ chẳng bao giờ tìm thấy, còn người Singapore thì đi ngang qua mỗi ngày mà không buồn nhìn.

Tôi bắt đầu để ý tới ông ấy khoảng một năm trước. Tối nào cũng vậy. 6 giờ 30. Cùng một bàn. Cùng một góc, quay mặt về phía cái TV chẳng ai xem. Ông ngồi xuống, gọi một ly kopi-o kosong và một dĩa cơm. Lúc nào cũng là cơm bình dân. Lúc nào cũng giống nhau: một món mặn, một món rau. Không thêm thắt. Ông ăn chậm. Không phải vì muốn thưởng thức, mà vì ăn xong rồi cũng chẳng biết đi đâu nữa.

Ăn xong, ông không về. Ông cứ ngồi đó, nhìn xuống mặt bàn. Thỉnh thoảng nhìn người qua lại. Thỉnh thoảng chỉ ngó hai bàn tay của mình. Ông chủ quầy nước sẽ tự động châm thêm kopi cho ông, không cần hỏi. Kiểu thỏa hiệp im lặng được xây bằng nhiều năm, dù chẳng biết tên nhau.

Một tối, tôi xuống mua đồ ăn mang về, quán gần như trống trơn. Chỉ có ông ấy, tôi, và ông chủ quầy nước đang lau quầy. Tôi ngồi cách hai bàn. Vừa ăn vừa lướt điện thoại. Như ai cũng vẫn làm. Rồi tôi nghe thấy gì đó. Rất nhỏ. Gần như không có. Nhưng trong một quán cà phê trống lúc 8 giờ tối, bất cứ âm thanh nào bạn cũng nghe được.

Ông đang nói chuyện. Với cái ghế trống phía đối diện. Không lớn tiếng. Không điên loạn. Chỉ là đang nói chuyện. Giọng điệu của người nói với một người từng ngồi đó. “Hôm nay nóng quá ha. Bà lúc nào cũng nói tôi uống nhiều nước. Tôi uống rồi mà.”  Ông ngừng lại, như chờ ai trả lời. “Con cá hôm nay cũng được. Bà sẽ nói mặn quá. Cái gì trong mắt bà cũng mặn hết.” Tôi đặt điện thoại xuống.

Ông nói chuyện với cái ghế đó suốt mười phút. Về thời tiết. Về đồ ăn. Về một chương trình trên Channel 8 ông xem chiều nay. Những chuyện bình thường. Chuyện vụn vặt hằng ngày. Kiểu chuyện chỉ kể cho người đã cùng mình đi qua cả đời. Nói xong, ông gấp khăn giấy, đặt lên dĩa, rồi lại ngồi đó. Im lặng. Hai tay đặt trên bàn. Như thể cuộc trò chuyện đã kết thúc, và giờ họ chỉ ngồi cạnh nhau. Kiểu như những cặp vợ chồng già vẫn làm. Tôi không rời mắt được. Mà cũng không dám nhìn thẳng. Tôi cứ giả vờ ăn, nhưng trong ngực như có cái gì đó vừa rạn nứt ra.

Đêm nào ông cũng đến. Tôi bắt đầu để ý kỹ hơn. Thứ Hai. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Ghế trống. Thứ Ba. Vẫn vậy. Thứ Tư. Vẫn vậy. Thứ Năm…ông gọi hai ly kopi. Đặt một ly bên kia bàn. Không hề động tới. Để nó nguội lạnh. Đêm đó tôi chuyển bàn. Không có kế hoạch. Không chuẩn bị câu nào. Tôi chỉ bưng dĩa cơm sang ngồi ngay bàn bên cạnh. Đủ gần để mở lời. Đủ xa để nếu cần thì vẫn giả vờ như chẳng quen.

Chú, cơm bình dân ở đây cũng được ha?” Ông ngẩng lên, ngạc nhiên. Như thể quên mất rằng vẫn có người nhìn thấy ông. “Cũng được. Nhưng hồi trước ngon hơn. Cô bán trước…wah, thịt kho tàu của cổ. Vợ tôi lúc nào cũng gọi gấp đôi phần.” Lần đầu tiên ông nhắc đến bà với một người lạ. Có lẽ cũng là lần đầu ông nói chuyện đàng hoàng với ai đó trong quán này sau rất lâu.

Ông tên là Tân. Bảy mươi tám tuổi. Sống tầng chín. Cùng block với tôi. Ở đó từ năm 1970, ngay sau khi kampung cũ bị dỡ sau vụ cháy. Nuôi ba đứa con trong một căn hộ ba phòng. Lái xe buýt cho SBS suốt ba mươi lăm năm. Nghỉ hưu năm 2003. Vợ ông mất hai năm trước. Đột quỵ. Nhanh. Bà đang ở chợ Beo Crescent một buổi sáng, mua ikan bilis thì ngã xuống ngay cạnh sạp rau. Xe cấp cứu tới SGH thì bà đã đi rồi.

“Bà đi chợ mỗi ngày đó. Ngày nào cũng đi. Mưa cũng đi. Tôi nói, ‘Aiyah, hôm nay đừng đi nữa.’ Bà nói, ‘Vậy tối nay ông ăn gì?’ Ông cười khi kể. Nụ cười như được giữ lại bằng những sợi chỉ mỏng manh.

Bà đi rồi, tôi chẳng biết làm gì. Năm mươi hai năm bà nấu cho tôi. Giặt đồ. Nhắc tôi uống thuốc. Tôi còn không biết bật máy giặt sao nữa. Năm mươi hai năm mà tôi không tự giặt nổi quần áo mình.”Ông tự học. Bằng YouTube. Ở tuổi bảy mươi tám. Thằng cháu trai chỉ cho ông một lần, dịp Tết Âm lịch…lần cuối cùng có ai đến thăm. Giờ ông thức lúc 2 giờ sáng xem video nấu ăn vì không ngủ được, mà căn nhà thì quá yên tĩnh.

Anh biết cái gì tệ nhất không? Không phải nấu ăn. Không phải dọn dẹp. Tệ nhất là giờ ăn tối. Mỗi tối, 6 giờ, bà ngồi ở bàn bếp. Hai đứa ăn với nhau. Nói chuyện tào lao. Than phiền hàng xóm. Cười những chuyện cũ rích. Giờ tôi ngồi đó, cái ghế trống. Nhà yên đến mức tôi nghe rõ tiếng kim đồng hồ.

Đó là lý do ông xuống quán cà phê. Không phải vì đồ ăn. Mà là vì tiếng người. Vì âm thanh của những người khác đang sống. Bởi trên căn hộ phía trên, mọi thứ như một bảo tàng của người đã mất, và sự im lặng ở đó là kiểu im lặng khiến người ta quên rằng mình vẫn còn thở.

Tôi hỏi về con cái ông. Ông im lặng. Một khoảng im dài. “Con trai tôi ở KL. Đi làm. Thỉnh thoảng gọi. Chắc một tháng một lần. Rất nhanh. ‘Ba, ba khỏe không?’ ‘Khỏe.’ ‘Rồi, bye.’ Vậy đó. Con gái…ở Woodlands. Xa. Nó có gia đình riêng. Hai đứa nhỏ. Bận. Tôi hiểu. Ở Singapore mà. Lần cuối tôi gặp nó là dịp Thanh Minh. Đi nghĩa trang chung. Xong rồi thôi.”

Còn cháu ngoại, cháu nội thì sao chú?” “Thằng cháu đó hả. Nó đang đi nghĩa vụ quân sự. Nó nhắn tin chúc mừng sinh nhật tôi vào tháng Chín. Nhầm tháng. Sinh nhật tôi là tháng Ba.” Ông cười. Nhưng không phải kiểu buồn cười.

Tôi không trách tụi nó. Cuộc sống Singapore mà. Ai cũng bận. HDB mắc. Con cái thì học thêm. Công việc thì tăng ca. Làm xong hết mấy thứ đó, còn thời gian đâu nữa. Tôi hồi đó cũng vậy. Mẹ tôi…tôi gửi bà vô viện dưỡng lão ở Yishun. Nói cuối tuần ghé. Mà lâu lâu lại bận. Bà không nói gì. Nhưng giờ tôi hiểu cái mặt bà lúc đó muốn nói gì rồi.”

Ông nhìn sang cái ghế trống. “Giờ tôi là người ngồi chờ. Buồn cười ha. Đời đúng là vòng tròn.” Tôi bắt đầu ngồi với ông. Không phải tối nào. Nhưng đa phần tối. Tuần ba, bốn lần, tôi xuống lúc 6 giờ 30, mua đồ ăn rồi ngồi vào bàn của ông. Có lúc nói chuyện. Có lúc chỉ ăn trong im lặng. Cả hai cùng nhìn cái TV chẳng ai xem, ăn cơm bình dân, chỉ đơn giản là có mặt ở đó.

Ông kể tôi nghe chuyện đi lái xe buýt hai mươi năm. Cùng một tuyến: Bukit Merah tới Tampines. Ông thuộc mặt khách quen. Cô dì lúc nào cũng chuẩn từng đồng lẻ. Đám học sinh chạy hộc tốc bắt xe ở Queenstown. Một cô gái trẻ đi xe mỗi sáng suốt ba năm, rồi tự nhiên biến mất…tới giờ ông vẫn tự hỏi không biết đời cô ấy rẽ đi đâu.

Ông kể về vợ mình. Cách bà trả giá với ông bán cá ở chợ Beo Crescent mỗi sáng chỉ vì hai chục xu. Cách bà cất tất cả phong bao lì xì Tết trong một cái hộp thiếc dưới gầm giường…bốn mươi năm tiền lì xì không mở ra đếm. Cách bà ngân nga mấy bài hát tiếng Phúc Kiến khi nấu ăn mà không hề biết mình đang hát.

Tôi nhớ nhất là tiếng bà ngân nga. Anh biết không, khi một người ở bên mình mỗi ngày, mình không còn nghe họ nữa. Rồi họ đi. Tự nhiên cái im lặng ồn ào kinh khủng.”

Một tối thứ Năm, ông không đến. 6 giờ 30. 7 giờ. 7 giờ 30. Bàn của ông trống trơn. Tôi lên nhà. Tầng chín. Gõ cửa. Không ai trả lời. Tôi gõ thêm lần nữa. Cửa mở. Ông mặc áo ba lỗ, quần đùi. Mắt đỏ. Trên tay cầm một khung ảnh.

Chú khoẻ chứ? Hôm nay chú không xuống.”

“Hôm nay là sinh nhật bà.” Ông đưa tôi xem tấm hình. Một người phụ nữ trẻ, mặc sườn xám đỏ, cười rạng rỡ. “Năm 1971. Năm đầu tụi tôi cưới nhau.” Cả ngày ông ở trong nhà. Ngồi nhìn hình. Nói chuyện với bà. Nấu món bà thích nhất — cá hấp gừng với xì dầu — rồi bày lên bàn.

Hai cái dĩa. Hai chén cơm. Hai đôi đũa.

Năm nào tới sinh nhật bà tôi cũng nấu cho bà. Tôi biết bà không còn ở đây. Nhưng tay tôi vẫn nhớ bà thích ăn thế nào. Gừng phải xắt thiệt mỏng. Xì dầu không được nhiều. Nếu tôi ngừng nấu, thì chẳng còn ai trên đời nhớ được bà thích ăn cá thế nào nữa. Vậy là bà mất luôn thiệt rồi.”

Tôi ngồi xuống. Hai chú cháu ăn với nhau. Cá rất ngon. Gừng mỏng. Xì dầu vừa miệng. Đêm đó về đến nhà, tôi gọi cho mẹ. Bình thường hai mẹ con nói chuyện khoảng tuần một lần. Ngắn gọn. “Má ăn cơm chưa?” “Ăn rồi.” “Vậy ha.” “Ừ.” Như kịch bản học thuộc lòng. Nhanh gọn, kiểu Singapore.

Nhưng tối đó tôi nói lâu hơn. Ba mươi phút. Tôi hỏi má về một ngày của má. Má nấu gì. Hàng xóm dưới nhà còn chơi mạt chược tới nửa đêm không. Lúc đầu má có vẻ ngạc nhiên. “Sao hôm nay con hỏi nhiều vậy? Con có chuyện gì không?” “Con không sao, má. Chỉ muốn nói chuyện thôi.”

Đầu dây bên kia im lặng một chút. Rồi má tôi nói một câu đã rất lâu tôi không nghe. “Má mừng vì con gọi. Nhà dạo này yên lắm.” Nhà dạo này yên lắm. Y chang câu ông Tân nói. Cùng những chữ đó. Cùng cái tông giọng đó. Chỉ khác người.

Ông Tân vẫn đến quán mỗi tối. 6 giờ 30. Bàn trong góc. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Tôi cũng ngồi với ông hầu hết các tối. Trở thành thói quen. Thỉnh thoảng ông chủ quầy nước rảnh tay cũng qua ngồi chừng mười phút. Có hôm dì bán zi char gửi sang thêm một đĩa đồ ăn.

Cho chú Tân, nói là quán mời.”

Một cái bàn nhỏ ở quán cà phê Bukit Ho Swee. Đôi khi ba, bốn người. Đa phần là hai. Đó là cả thế giới của ông bây giờ.

Tuần trước, ông nói một câu mà tới giờ tôi vẫn không ngừng nghĩ tới.

Anh biết không, hồi đó tôi lái xe buýt. Mỗi ngày tôi chạy ngang qua bao nhiêu người. Hàng ngàn. Tôi thấy họ nhưng chẳng biết họ là ai. Giờ tôi già. Tôi ngồi đây. Người ta đi ngang qua. Họ thấy tôi mà chẳng biết tôi là ai. Cũng vậy thôi. Chỉ là bây giờ tôi là người ngồi ở trạm xe buýt.”

Ông nhấp một ngụm kopi.

Còn anh. Anh ngồi xuống. Anh ăn với tôi. Anh nghe một ông già nói tào lao về vợ, về xe buýt, về con cá. Không ai bắt anh làm vậy. Nhưng anh làm. Và tôi muốn nói với anh…đây là điều quan trọng nhất có người làm cho tôi từ ngày bà mất tới giờ.”

Tôi không biết trả lời sao. Chỉ nói: “Mai, giờ này nữa hả chú?

Giờ này chứ đâu. Tôi còn chỗ nào để đi đâu.”

Ông cười. Lần này là nụ cười thật sự.

Đó là câu chuyện của ông. Và từ khi đọc xong, tôi không còn như trước nữa.

Điều tôi rút ra là:

Ba mẹ bạn sẽ không nói với bạn là họ cô đơn. Họ sẽ không bảo, “Nhà im lắm.” Họ sẽ không thú thật là họ đang nói chuyện với một cái ghế trống trong bữa tối. Họ sẽ chỉ nói, “Má/ba khoẻ.” Họ sẽ nói, “Đừng lo.” Họ sẽ nói, “Con bận mà, không sao, để lần sau.

Nhưng “lần sau” thành tháng sau.  

Tháng sau thành Tết.  

Tết thành Thanh Minh.

Rồi một ngày, chính bạn sẽ là người ngồi ở quán cà phê, nói chuyện với cái ghế trống, ước gì có ai ngồi xuống với mình. Bạn không cần phải bay về nhà. Không cần một cử chỉ hoành tráng. Không phải sửa hết mọi thứ. Chỉ cần gọi. Nói chuyện lâu hơn hai phút. Hỏi hôm nay họ ăn gì. Hỏi về hàng xóm. Hỏi những chuyện không đầu không đuôi. Để họ có người mà kể.

Hoặc tốt hơn nữa…nếu có thể, hãy bước xuống nhà.  Đi tới quán cà phê.  Ngồi với họ. Ăn dĩa cơm bình dân đó. Xem cái TV chẳng ai để ý. Không biết nói gì cũng không sao. Chỉ cần có mặt ở đó. Vì sẽ đến một ngày cái ghế đó trống thật sự. Và bạn sẽ ước gì được nghe họ than món cá mặn thêm một lần nữa. Đừng đợi tới khi cái ghế trống rồi mới nhận ra trước đó nó đầy ắp. Tối nay, hãy ngồi xuống cạnh ai đó.

Câu chuyện nói về người già như mình, từ từ con cháu dọn ra riêng, lủi thủi còn hai vợ chồng. Nhưng rồi một ngày sẽ đến, người chồn thay người vợ ra đi trước, để lại nổi trống vắng của cuộc đời. Chúng ta khi xưa bận con cái, công ăn việc làm nên không có thời gian để ý đến cha mẹ rồi khi có chút thời gian thì cha mẹ đã vắn số, để rồi có người kêu đổi thiên thu để thấy nụ cười của mẹ.

Như ông Tân, vợ chết sớm, chả biết làm gì ngoài sự trống vắng. Ông ta xuống quán ăn để khẳng định mình là có mặt trên cỏi đời vì thức ăn không ăn nhưng cũng phải ăn vì lo sợ cái im lặng trong căn hộ của mình. Mỗi tuần mình cố gắng nói chuyện với bà cụ ở Đà Lạt. Cố nhìn mụ vợ, ôm mụ mỗi ngày vì biết đâu một ngày nào đó, sẽ không còn thấy nhau. Câu chuyện hơi tiêu cực nhưng cũng khiến mình suy nghĩ về cuộc đời.

Đi chơi mà đọc câu chuyện thật tế về cuộc đời nên hơi buồn. Nghĩ lại thì bà vợ của ông này hên là đi sớm, trước ông ta. Vì nếu ông ta đi trước thì bà ta còn buồn hơn cả ông chồng. Mình thấy bố vợ mình qua đời sớm nên mẹ vợ loay hoay buồn vì không có ai cãi nhau hàng ngày. Cái may đến là trả nhớ về không. Như ông anh vợ nói là may mẹ trả nhó về không, giúp con cháu từ từ quen với cảnh xa mẹ và quên mẹ dần dần nên khi mẹ qua đời, con cháu bớt đau khổ. Vì đã quen xa cách mẹ vài năm trước, không nhận ra con cháu.

Nàng trao một nữa nỤ cười

Làm Ta mất một đời làm ô-sin


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng

 Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng

Hoa Kỳ là một nước đa chủng, với quá khứ và sự thành lập của nước này, để lại nhiều hậu quả tâm lý. Được cái là người Mỹ đã dần dần thay đổi theo chiều hướng lịch sử nhân văn đã giúp xứ này trở nên một cường quốc như ngày nay. Anh là người da đen, chị là người da vàng,…đều có thể đóng góp vào cho sự phát triển của xứ này. Bằng chứng là tháng qua, hai anh em ông Nhữ Huy Hoàng, gốc Việt, đến Hoa Kỳ 50 năm với hai bàn tay trắng. Làm ăn thành công và cuối đời hiến tặng mấy triệu mỹ kim cho đại học tiểu bang Cali Irvine. Mình thấy người Tàu cũng cho đại học USC, người địa hàn cho đại học rất nhiều. Mình hay tìm những tấm gương sáng này để tự đông viên và cho các đứa con đọc, hy vọng sau này con cháu mình sẽ có thể đóng góp vào xây dựng quốc gia này, đã cho bố mẹ chúng một cơ hội làm lại cuộc đời.


Cách đây mấy năm có một phim kể về cuộc đời ông Vivien Thomas, người da đen vì sự kỳ thì màu da nên không được đi học trường y khoa. Đúng hơn là vì nhiều vấn đề khác nữa, sẽ kể sau. Cũng như câu truyện về cuộc đời bác sĩ Ben Carson, nổi tiếng về phẫu thuật tim, sau trở thành bộ trưởng gia cư của Hoa Kỳ. Có cuốn phim về ông ta trước khi ông tuyên bố tranh cử tổng thống, được bổ nhiệm bộ trưởng dưới thời ông Trump. Mình xin tóm tắc lại đây:


Tại Nashville, tiểu bang Tennessee, năm 1930, Vivien Thomas sinh ra trong một nước Mỹ bị chia rẽ bởi chủng tộc, luật pháp và những giới hạn vô hình. Miền Nam thời Jim Crow không chỉ hạn chế cơ hội, nó áp đặt số phận. Là một người da đen, Thomas được dạy từ khi sinh ra rằng ông không được phép trở thành điều gì. Nhưng ông vẫn nuôi một ước mơ: trở thành bác sĩ. Tương tự con cháu nguỵ quân nguỵ quyền sau 30/4/1975, đi kinh tế, không được đi học, cách mạng đã đặt số phận, thậm chí ngày này vẫn lơ lững.


Mình về Sàigòn, có cô cháu học đại học Sàigòn, ngày nay họ bỏ vụ không cho con cháu nguỵ quân nguỵ quyền học đại học như sau 75. Cô cháu muốn giới thiệu bạn trai thì mình nghĩ là chắc cũng hai đứa tính chuyện tương lai với nhau ra sao. Nói chuyện thì mình mới biết bạn trai cô cháu là gốc Bến tre, quê hương đồng khởi, thành trị cách mạng nên kể là cô cháu có ông ngoại thuộc thành phần phản động, bị tù 15 năm. Có người em rể, hông chuyên 3 đời nhưng lấy em gái của mình nên phấn đấu vô đảng gần 20 năm trời không được. Hai tháng sau, bạn trai về quê hương đồn khởi thăm gia đình và được lệnh cắt đứt liên lạc với cháu phản động vì sẽ ảnh hưởng đến công danh sự nghiệp sau này. Không có đảng tịch là ngọng, không ngất đầu lên được.

Với quyết tâm mạnh mẽ, ông làm thợ mộc và dành dụm từng đồng để theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp và Công nghiệp Tennessee, với mục tiêu cuối cùng là vào trường y khoa. Kế hoạch của ông cẩn thận và rất kỷ luật cho đến khi lịch sử can thiệp. Khi cuộc Đại Suy Thoái xảy ra, ngân hàng nơi ông gửi tiền tiết kiệm đẻ theo học đại học bị phá sản. Chỉ trong chốc lát, toàn bộ số tiền tiết kiệm biến mất, và con đường chính thức dẫn đến ngành y cũng tan biến theo cánh chim về trời tha ma.


Mới mười chín tuổi, Thomas nhận công việc phụ tá phòng thí nghiệm tại Bệnh viện Đại học Vanderbilt, với mức lương mười hai đô la một tuần. Nhiệm vụ của ông rất đơn giản và bị giới hạn rõ ràng: dọn dẹp phòng thí nghiệm, chăm sóc động vật, và im lặng. Ông không được kỳ vọng sẽ suy nghĩ, đặt câu hỏi hay đóng góp ý kiến. Tương tự mình có anh bạn học khi xưa, đậu tú tài thì vào đại học y khoa Huế. Sau 75, đang ngồi trong lớp, Việt Cộng chạy vào kéo đầu đi ra, không cho học nữa. Lý do bố anh ta là sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà. Việt Nam sau 75 có rất nhiều vụ này, em mình đậu đủ điểm hay dư vào đại học cũng không được cách mạng cho đi học. Ở nhà đi đang len, hay làm thợ may.

Ông quan sát từng thí nghiệm. Ông lắng nghe những cuộc thảo luận vốn không dành cho mình. Ông đặt ra những câu hỏi chính xác và thông minh, nhanh chóng hiểu được mục tiêu của từng quy trình. Sự tò mò và khả năng hiểu sâu sắc của ông không qua được mắt của bác sĩ Alfred Blalock, người phụ trách phòng thí nghiệm. Blalock bắt đầu dạy Thomas các kỹ năng phẫu thuật, dù Thomas không có bằng y khoa hay đào tạo chính thức.


Thomas có đôi tay vững vàng, trí nhớ xuất sắc và hiểu biết sâu về giải phẫu học. Chẳng bao lâu, ông đã thực hiện các ca phẫu thuật phức tạp trên động vật thí nghiệm với sự chính xác và tự tin. Đến năm 1933, trên thực tế Thomas không còn chỉ là một trợ lý, ông đã trở thành cộng sự viên nghiên cứu của bác sĩ Blalock. Nhưng trên giấy tờ, mọi thứ vẫn không thay đổi. Chức danh, tiền lương và cách đối xử với ông vẫn thấp hơn rất nhiều so với vai trò thật sự của ông.


Năm 1941, bác sĩ Blalock nhận chức Trưởng khoa Phẫu thuật tại Bệnh viện Johns Hopkins, nhưng chỉ với điều kiện Thomas phải đi cùng. Bệnh viện đồng ý, song một lần nữa chỉ trao cho Thomas một chức danh kỹ thuật thấp, phản ánh trật tự chủng tộc cứng nhắc của thời đại.


Tại Johns Hopkins, họ đối mặt với một thảm kịch y học. Trẻ sơ sinh đang chết vì một dị tật tim bẩm sinh gọi là tứ chứng Fallot, thường được gọi là “Hội chứng Trẻ Xanh.” Dị tật này khiến máu không đến được phổi đầy đủ, khiến cơ thể thiếu oxy. Phần lớn trẻ em không sống quá tuổi thơ. Mình có biết một ông kêu khi sinh ra bị hội chứng này, may nhờ được giải phẫu được nên sống đến ngày nay.


Bác sĩ Helen Taussig đặt ra một câu hỏi táo bạo: liệu phẫu thuật có thể làm tăng lưu lượng máu đến phổi hay không? Bác sĩ Blalock quay sang ông Vivien Thomas và hỏi liệu ông có thể tìm ra cách thực hiện điều đó.


Ông Thomas lao vào công việc. Trong nhiều tháng, ông phẫu thuật trên chó, thực hiện những ca chưa từng có tiền lệ. Ông thiết kế dụng cụ mới, sáng tạo kỹ thuật mới, và thất bại hết lần này đến lần khác trước khi thành công. Cuối cùng, ông phát triển một phương pháp nối động mạch dưới với động mạch phổi, tạo ra một con đường mới cho máu đến phổi. Đó là một bước đi táo bạo và đầy rủi ro.


Ngày 29 tháng 11 năm 1944, họ tiến hành phẫu thuật cho một bé gái mười lăm tháng tuổi tên là Eileen Saxon. Bé chỉ nặng chín pound và đang hấp hối. Trong suốt ca mổ kéo dài bốn tiếng rưỡi, bác sĩ Blalock cầm dụng cụ, còn ông Thomas đứng phía sau trên một chiếc ghế đứng, lặng lẽ chỉ dẫn từng thao tác. Mình đoán là thời đó có sự kỳ thị chủng tộc nên có lẻ người da đen không được đụng đến cơ thể người da trắng. Thậm chí không được đứng gần. Nhớ vụ xe buýt thì người da trắng ngồi phía trước còn da đen thì phía sau. Cầu tiêu thì da đen và da màu riêng, không được vào chỗ dành cho người da trắng.

Và ông ta như ra lệnh cho vị bác sĩ người da trắng phẩy thuật.

“Vào sâu hơn.”(“Deeper.”)

“Lệch sang trái một chút.”(“A little to the left.”)

“Dùng chỉ khâu nhỏ hơn ở chỗ đó.”(“Use smaller sutures there.”)


Khi ca phẫu thuật kết thúc, đôi môi xanh tái của Eileen chuyển sang hồng. Các đầu ngón tay cũng hồng trở lại. Oxy cuối cùng đã đến được cơ thể bé. Ca mổ đã thành công. Thủ thuật này được biết đến với tên gọi shunt Blalock–Taussig. Tên của hai vị bác sĩ mỹ trắng còn ông Thomas tìm ra cách phẫu thuật không được đến. Nó đã làm thay đổi y học, cứu sống hàng nghìn trẻ em và đặt nền móng cho ngành phẫu thuật tim nhi khoa. Bác sĩ Blalock trở nên nổi tiếng toàn cầu trong khi Vivien Thomas thì không.


Trong hai mươi hai năm, Thomas đào tạo các bác sĩ nội trú phẫu thuật tại Johns Hopkins, nhiều người sau này trở thành những tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực phẫu thuật tim. Ông là người thầy, người hướng dẫn, và thường là người có tay nghề cao hơn họ. Thế nhưng, ông chưa bao giờ được gọi là “Bác sĩ,” không được liệt kê là giảng viên, và không xuất hiện tên trên các công trình khoa học. Ông ăn cùng nhân viên bảo trì, trong khi những người ông đào tạo thì thăng tiến về địa vị và danh tiếng.


Mãi đến năm 1971, sau hơn bốn thập kỷ cống hiến, Johns Hopkins mới phong cho ông chức danh Giảng viên Phẫu thuật, không phải Giáo sư, mà chỉ là Giảng viên. Đến lúc đó, những người hiểu rõ nhất đều đã biết sự thật.


Năm 1976, bệnh viện vinh danh ông bằng một bức chân dung đặt cạnh bác sĩ Blalock. Trong buổi lễ, các học trò cũ đứng lên vỗ tay. Một số người đã rơi nước mắt. Cũng trong năm đó, Thomas được trao bằng tiến sĩ danh dự. Ở tuổi sáu mươi sáu, cuối cùng ông được gọi là Bác sĩ Vivien Thomas, sau bốn mươi sáu năm làm công việc của một bác sĩ phẫu thuật.


Vivien Thomas qua đời năm 1985, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi. Năm 2004, câu chuyện cuộc đời ông được giới thiệu rộng rãi qua bộ phim của HBO Something the Lord Made. Ngày nay, di sản của ông vẫn sống mãi qua các chương trình học, học bổng mang tên ông, và một phương pháp phẫu thuật đã cứu sống con người hơn tám mươi năm qua. Ai buồn đời như mình muốn xem cuốn phim tích cực thay vì nghe dân chửi và ma gà chửi nhau. Miễn phí trên YouTube 

 https://youtu.be/VZfjxShZd6Q?si=59qmJeo_qyQPNRZO


Trong phần lớn sự nghiệp, Vivien Thomas bị trả lương và đối xử thấp hơn rất nhiều so với năng lực thật sự của mình. Ông đứng trên một chiếc ghế nhỏ để người khác đứng trong ánh hào quang. Ông tiếp tục làm việc. Ông tiếp tục giảng dạy. Ông tiếp tục cứu người.


Họ gọi ông là người lao công. (They called him a janitor.)

Lịch sử gọi ông là người anh hùng. (History calls him a hero.)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Đất Xanh hay Mỏ Xanh.

 Đất Xanh hay Mỏ Xanh.


Nhớ lần đầu tiên mình sang Hoa Kỳ chơi, có anh bạn xưa ở Đà Lạt tặng cho cuốn sách có tựa đề “you can negotiate anything” của luật sư Herbert Cohen. Ngồi máy bay đọc thấy mê vì ông ta chỉ những chiêu thương lượng, kiểu nhẹ nhàng mà đa số ưa thích, kiểu Liên Sô la hét om sòm, mình thích nhất là cách giả ngu, người ta đã tìm cách close cái deal rồi tự nhiên chỉ cần bỏ nhỏ, hỏi một câu cực ngu, không dính dáng gì hết khiến đối tác ngớ, nghĩ mình ngu hay thiểu năng nên mất phương hướng, phải lập lại từ đầu. 


Sau này mình sang Hoa Kỳ làm việc, có đọc cuốn sách của ông Trump “Art of the deal” rồi sau đó 2 cuốn sách của cộng sự viên của ông ta nói rõ cách thương lượng của công ty về các Deal ở New York mà ông Trump thực hiện được nhờ cái tài, hay lối bỏ nhỏ khiến đối tác đều nghĩ ông ta có vấn đề nói chuyện cõi trên. Nay ông ta làm tổng thống khiến mình buồn cười khi nghe thiên hạ chửi ông ta ngu ngốc này nọ. Mình ngu lâu dốt bền đâu có làm gì được trong đời đâu, cuối đời vẫn phải đi làm nông dân, bán bơ sống qua ngày trong khi ông ta trở thành tỷ phú, này nọ. 


Mình đọc thêm về Greenland vì thời ông Trump lên lần đầu đã nói đến vấn đề này, mình có kể rồi. Nay tài liệu nói rõ hơn lý do. Khi thương lượng, người ta lúc nào cũng đưa ra một ý chính để thiên hạ dựa vào đó để thương lượng nhưng nếu ai hiểu thương lượng thì phải hiểu nguyên do chính. Báo chí chỉ đưa tin tức để bán cho thiên hạ nghe có lý nưhng không bao giờ nói lên sự thật.


Điển hình đi xem nhà bán, hỏi chủ nhà lý do bán thì họ đều nói là muốn mua nhà lớn bú xua la mua. Trong khi đó mình đã có tin tức họ thiếu nợ ngân hàng trả không nổi. Nên phải bán. Nên ngoài mặt vẫn làm như người đang mơ.


Sai lầm nguy hiểm nhất khi nói về “Greenland” là tin rằng câu chuyện này thực sự nói về Greenland. Chúng ta được bảo rằng đây là một cuộc khẩu chiến ngoại giao, một ám ảnh bất động sản, một sự quay ngược hỗn loạn về chủ nghĩa đế quốc thế kỷ 19. Báo chí xem nó như một màn trình diễn. Các nhà bình luận tranh cãi liệu chính quyền có nghiêm túc hay chỉ đang trêu ngươi. Người châu Âu bày tỏ phẫn nộ trước sự xúc phạm chủ quyền. Toàn bộ sự việc được đóng khung như tiếng ồn: kỳ quặc, đáng xấu hổ và rốt cuộc là không đáng kể. Cách đóng khung này thì dễ chịu. Và gần như chắc chắn là sai.


Cách đọc thông thường về “vở kịch Greenland” là sự bất tài ngoại giao diễn ra theo thời gian thực. Chính quyền đe dọa dùng vũ lực, bị bác bỏ, leo thang, lại bị bác bỏ, rồi rút lui sang ngôn ngữ mua bán. Các nhà bình luận lắc đầu. Người châu Âu tỏ ra bối rối. Những gì trông như loạng choạng thực ra là một chuỗi đàm phán kiểu Trump cổ điển. Mở đầu bằng một yêu sách gây sốc để yêu sách thực sự của Đan Mạch trở nên “hợp lý” hơn khi so sánh.


Trình tự như sau: Phát tín hiệu thâu tóm. Đan Mạch cười nhạo. Nhắc đến vũ lực. Đan Mạch giật mình. Khăng khăng nói đến vũ lực, to tiếng, lặp đi lặp lại. Đan Mạch đạt đỉnh phẫn nộ. Những quốc gia âu châu khác đứng về phía họ. Rồi xoay trục. Một đề nghị mua lại xóa sạch toàn bộ nợ quốc gia của Đan Mạch (142 tỷ USD) và gần như gấp đôi GDP của Greenland (~450 tỷ USD)… Và đột nhiên câu hỏi không còn là “các ông dám sao” mà là “khoan đã, bao nhiêu cơ?” Ngôn từ về vũ lực chưa bao giờ là kế hoạch. Nó là cái mỏ neo. Đan Mạch không còn bảo vệ chủ quyền trước một kẻ xâm lược đế quốc; Đan Mạch đang đánh giá một đề xuất tài chính. Khung câu chuyện đã dịch chuyển.


Phép toán không hề phi lý. Thương vụ có lẽ tự hoàn vốn trong vòng một thế hệ. Riêng khoáng sản đã đáng giá gấp nhiều lần giá mua. 57.000 cư dân Greenland trở thành triệu phú trên giấy. Đan Mạch trút bỏ một gánh nặng ngân sách và xóa nợ. Hoa Kỳ bảo đảm chuỗi cung ứng đất hiếm cho quân đội của thập niên 2030.


Điều đang diễn ra thực chất là một cuộc thôn tính chuỗi cung ứng khoác lên trang phục của tham vọng lãnh thổ. Mục tiêu không phải một hòn đảo; mà là hai cấu trúc địa chất ở Nam Greenland, Kvanefjeld và Tanbreez, nơi chứa các nguyên tố đất hiếm nặng mà không có chúng thì không thể chế tạo bất kỳ hệ thống vũ khí tiên tiến nào.


Dysprosium. Terbium. Những cái tên chẳng có ý nghĩa gì với công chúng nhưng lại có ý nghĩa sống còn với Lầu Năm Góc. Các nguyên tố này là không thể thay thế trong bộ truyền động của tiêm kích F-35, cánh lái dẫn đường của đạn chính xác, mảng sonar của tàu ngầm lớp Virginia, và nam châm vĩnh cửu của mọi động cơ xe điện. Trung Quốc kiểm soát hơn 90% khâu chế biến toàn cầu. Hoa Kỳ hầu như không kiểm soát gì. “Việc mua” Greenland không phải là một thương vụ đất đai. Đó là nỗ lực phá vỡ một thế kìm cổ.


Năm 2026, các thị trường dự đoán đã trở thành thứ gần nhất với tín hiệu giá trung thực về rủi ro địa chính trị. Và lúc này, chúng đang kể hai câu chuyện khác nhau. Kalshi, sàn giao dịch được Mỹ quản lý, định giá xác suất Hoa Kỳ thâu tóm Greenland ở khoảng 42%. Polymarket, nền tảng phi tập trung với cộng đồng tiền mã hóa toàn cầu và các nhà đầu cơ ngoài khơi, định giá ở mức 15–23%.


Đây không phải là kém hiệu quả thị trường mà là sự bất đồng về bản chất của quyền lực. Những người đặt cược trên Kalshi, các định chế, có trụ sở tại Mỹ, gắn chặt với hệ thống tài chính Mỹ tin rằng chính quyền sẽ ép thương vụ đi đến cùng. Họ đang định giá sự cưỡng bức. Những người đặt cược trên Polymarket quốc tế, hoài nghi về tính toàn năng của Mỹ, thường hoạt động ngoài phạm vi pháp lý của Mỹ—tin rằng sự kháng cự của châu Âu sẽ trụ vững. Họ đang định giá các chuẩn mực.


Khoảng chênh 20 điểm giữa hai thị trường này là tín hiệu quan trọng nhất thế giới lúc này. Nếu Polymarket tăng để gặp Kalshi, điều đó có nghĩa là “tiền thông minh” toàn cầu đã chấp nhận rằng Hoa Kỳ sẽ phá vỡ luật pháp quốc tế để bảo đảm sườn Bắc Cực.


Tương tự Venezuela, có mõ dầu nhiều nhất thế giới mà mấy ông tàu lại bò lại mua dầu thô rẻ nên phải thương lượng với vợ chồng bà chủ tịch quốc hội, bà lên làm tổng thống, không chơi với anh tàu nữa. Có tiền lệ cho sự chấp nhận như vậy. Vài tuần trước, một nhà giao dịch đặt cược 32.000 USD vào việc lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro và thu về hơn 400.000 USD khi lực lượng Mỹ bắt giữ ông ta. “Hiệu ứng Maduro” đã hiệu chỉnh lại khẩu vị rủi ro trên mọi thị trường địa chính trị. Các nhà giao dịch không còn định giá đàm phán ngoại giao. Họ đang định giá các cuộc thâu tóm thù địch.


Người quan sát trung bình thấy ba mẩu tin riêng rẽ: tranh chấp thương mại với châu Âu, một sự ám ảnh kỳ lạ với Greenland, và vài sự cố mất kết nối internet cục bộ ở vùng Baltic. Chúng không hề tách rời. Đó là ba mặt trận của một xung đột duy nhất.


Mặt trận tài nguyên: Chính quyền mỹ đang bảo đảm đầu vào khoáng sản cho quân đội thập niên 2030. Mỏ Tanbreez, giàu đất hiếm nặng, không vướng phức tạp uranium, do lợi ích phương Tây sở hữu là viên ngọc vương miện. Mỏ Kvanefjeld lân cận, có phần vốn của Trung Quốc thông qua Shenghe Resources, là vấn đề cần vô hiệu hóa. Kiểm soát Greenland giải quyết cả hai.


Mặt trận kinh tế: Các mức thuế công bố đối với Đan Mạch, Pháp, Đức, Anh và bốn quốc gia châu Âu khác không phải biện pháp bảo hộ. Chúng là các đòn đánh kinh tế dẫn đường chính xác nhằm vào những kẻ bất đồng chính trị. Thỏa thuận Thịnh vượng Công nghệ Mỹ–Anh trị giá 31 tỷ bảng, trung tâm dữ liệu của Microsoft, đầu tư R&D của Google đã bị đình chỉ vô thời hạn. Thông điệp rất rõ ràng: sự đồng thuận với mục tiêu địa chính trị của Mỹ là cái giá của vốn Mỹ.


Mặt trận động năng: Trong khi các nhà ngoại giao tranh cãi về thuế quan, tàu Nga kéo neo cào qua các tuyến cáp viễn thông ở Baltic. Tàu chở hàng Fitburg, bị Phần Lan và Estonia tịch thu, là một phần của “Hạm đội Bóng tối”, những con tàu có quyền sở hữu mờ ám hoạt động dưới ngưỡng chiến tranh công khai. Đây không phải tai nạn. Đó là các hoạt động tạo hình thế, dò tìm điểm yếu, phô diễn khả năng cắt đứt hạ tầng số gắn kết liên minh phương Tây.


Người quan sát trung bình thấy hỗn loạn. Thực tế tình báo thấy sự nhất quán: thâu tóm tài nguyên, cưỡng bức kinh tế và chuẩn bị động năng, phối hợp đồng thời. Phản ứng của châu Âu trước tất cả những điều này là viện dẫn luật pháp quốc tế, chủ quyền và trật tự dựa trên luật lệ. Những lời viện dẫn ấy thỏa mãn cảm xúc. Chúng cũng vô nghĩa về mặt chiến lược.

Luật pháp quốc tế chỉ vận hành giữa các tác nhân đồng ý bị ràng buộc bởi nó. Nó giả định sự thừa nhận lẫn nhau về tính chính danh, một khung quy tắc chung và một cơ chế thực thi đủ sức cưỡng chế tuân thủ. Không điều kiện nào trong số này tồn tại. Không có chủ quyền toàn cầu. Không có độc quyền bạo lực. Các thỏa thuận chỉ bền cho đến khi lợi ích phân kỳ.


Hoa Kỳ đã quyết định rằng việc bảo đảm chuỗi cung ứng đất hiếm quan trọng hơn việc duy trì dàn xếp hậu chiến với châu Âu. Các thị trường dự đoán đã định giá điều này. Các hoạt động phá hoại cáp đã chứng minh điều đó. Các thông báo thuế quan đã nói thẳng ra.


Các nhà lãnh đạo châu Âu có thể viện dẫn chuẩn mực. Họ không thể cưỡng chế thực thi. Và những tác nhân công khai bác bỏ khung khổ dù là kéo neo qua cáp ngầm hay đòi nhượng bộ lãnh thổ dưới áp lực kinh tế đều giành lợi thế trước những bên tự trói mình bằng các ràng buộc mà đối phương không công nhận.


Đây là sự bất đối xứng của thời khắc hiện tại. Nó không mới. Thucydides đã chỉ ra từ hai mươi lăm thế kỷ trước: kẻ mạnh làm những gì họ có thể, kẻ yếu chịu những gì họ phải chịu. Điểm mới của năm 2026 là tốc độ chiếc mặt nạ rơi xuống. Có lẻ vì vậy mà các tên tài phiệt ủng hộ ông Trump đắc cử vì ông ta tỉnh bơ khi nói chuyện khi thương lượng. Không mắc cỡ này nọ. Thiên hạ theo tiêu chuẩn được giáo huấn từ bé không chấp nhận nên chửi ông ta nhưng ai có học về thương lượng thì hiểu rõ lý do này.


Câu chuyện công chúng mang lại sự an ủi: đây là hỗn loạn, bất tài, một sự xấu hổ ngoại giao rồi sẽ tự tan biến. Thực tế vận hành thì không hề an ủi. Hoa Kỳ đang thôn tính một chuỗi cung ứng. Châu Âu đang bị ép buộc phải căn chỉnh. Nga đang thăm dò hạ tầng gắn kết liên minh. Công chúng bị phân mảnh trong các silo thông tin khiến phản ứng tập thể bất khả. Các thị trường dự đoán đang định giá những kết cục mà diễn ngôn chính thức vẫn coi là không tưởng.


Những tuyên bố trên báo chí không phải vô nghĩa. Nhưng hiếm khi mang tính quyết định. Các lực quyết định vận hành âm thầm, được dẫn dắt không phải bởi chuẩn mực mà bởi đòn bẩy, không phải bởi luật pháp mà bởi địa chất, không phải bởi nguyên tắc mà bởi logic không thể giản lược của việc ai kiểm soát các đầu vào cho thế hệ vũ khí tiếp theo (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Trí Tuệ Nhân Tạo và tương lai

 Trí Tuệ Nhân Tạo và tương lai

Dạo này thấy thiên hạ thất nghiệp như điên, nhà cửa xuống te tua nên không biết thế hệ con mình sẽ đi về đâu. Vào đại học, người ta kêu học cái này cái nọ để rồi ra trường chả có việc làm. Thậm chí các sinh viên tốt nghiệp các đại học danh tiếng như Harvard, mất hơn một năm trời để kiếm được việc mà không phải việc mong muốn, thêm lương thấp. Lại mang thêm cái nợ khổng lồ mượn để đi học trường danh tiếng.

Vấn đề ngày nay mọi việc thay đổi nhanh chóng. Mình dùng AI để làm kế toán cho cả năm nhanh kinh hồn. AI cho biết làm cái này và đưa thêm ý kiến có muốn làm cái này cái nọ. Không cần Quickbooks nữa. Mình nghĩ các loại khác như làm một tin, bảng tính, báo cáo, dòng mã, văn bản pháp lý, bản phân tích, thiết kế, hay chiến dịch marketing thì chắc chúng ta không còn chỉ cạnh tranh với con người nữa mà đang cạnh tranh với một thứ mà: Không bao giờ ngủ, có thể nhân bản lên hàng triệu phiên bản ngay lập tức, chi phí vận hành chỉ tính bằng xu, tự cải thiện theo cấp số nhân.


Cứ tưởng tượng thiết kế một căn nhà, có thể có nhiều cách và rẻ thêm đẹp nữa. Ngoài ra AI có thể vẽ nhanh nên mình không biết tương lai ngành kiến trúc sư đi về đâu. Không cần thợ vẽ nữa.


AI không cần văn phòng, phúc lợi hay giờ nghỉ cà phê nên rẻ, không cần trả giờ phụ trội. AI đã sống sẵn bên trong chính những phần mềm mà chúng ta đang dùng. Trí tuệ nhân tạo đọc cùng tài liệu, chạy cùng truy vấn, và tạo ra cùng loại sản phẩm, chỉ là nhanh hơn, rẻ hơn, và ngày càng tốt hơn.


Khi nghĩ đến các nhà phân tích, kế toán, trợ lý pháp lý hay bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Các lập trình viên tầm trung, chuyên viên mô hình tài chính như đầu tư mua cổ phiếu nào. Thậm chí cả nhiều vai trò “sáng tạo” mà bản chất chỉ là sắp xếp lại thông tin. Họ không dễ bị thay thế vì thiếu kỹ năng. Họ dễ bị thay thế vì công việc của họ tồn tại hoàn toàn trong môi trường mà AI sinh ra để thống trị: thông tin thuần túy.


Giờ hãy bước vào một công trường xây dựng, một trang trại, một nhà máy, một căn bếp công nghiệp. Ở đó, chúng ta phải đối mặt với: trọng lực, thời tiết, sự mỏi và hao mòn của vật liệu, môi trường con người hỗn loạn, khó đoán, nhu cầu phán đoán vật lý và sự khéo léo trong thời gian thực.


AI có thể thiết kế mối hàn, có thể mô phỏng hệ thống ống nước, có thể tối ưu hóa bản vẽ. Nhưng cho đến khi robot hình người đạt được độ trưởng thành và quy mô thực sự, vẫn cần con người cầm mỏ hàn, vặn ống, đứng trên thang, hay thu hoạch mùa màng trong bùn đất. Chính lực cản đó mới quan trọng, nó mua thêm thời gian vài năm, có thể cả một thập kỷ hoặc hơn. Mình có thấy các người máy được thiết kế để có thể làm các công việc của nông dân nhưng có thể rất lâu mới có thể mua vì khá đắt.


Điều này đã được nhắc đi nhắc lại: trong các nhà máy ô tô, hàn thân xe đã được tự động hóa từ lâu. Nhưng những công việc vật lý lặt vặt, vụn vặt, không theo khuôn mẫu. Vẫn là đôi tay con người rất cần thiết, Ít nhất là hiện tại.


Suốt nhiều thế hệ, xã hội bán cho chúng ta một kịch bản duy nhất: đi học đại học danh tiếng, dù tốn tiền, lấy bằng cấp cao, kiếm một công việc văn phòng sạch sẽ, trí thức vì nghề tay chân là dành cho những người “không thành công”, đúng hơn là không thông minh. Chúng ta bắt con cháu học học học mãi.


Chúng ta đã đẩy hàng triệu người rời xa con đường nghề nghiệp thực hành, tôn vinh tầng lớp làm việc với laptop, và coi thường lao động tay chân như lựa chọn hạng hai. Họ đã bỏ các trường dạy nghề tay chân, kỹ thuật ,… hàng năm có đến trên 3 triệu học sinh không tốt nghiệp trung học phổ thông tại Hoa Kỳ, họ bỏ các trường dạy nghề tỏng khi ở Âu châu, chỉ bắt buộc học chữ đến thi trung học. Sau đó thì có thể chuyển qua học nghề nếu không thích học chữ lên đại học. Học nghề sửa điện, thay ống nước, thợ hàn này nọ vẫn kiếm được tiền nhiều hơn.


Kết quả là gì? Một thế hệ gánh nợ, dán mắt vào màn hình, tạo ra các sản phẩm số mà AI giờ đây có thể sao chép với tốc độ siêu nhân. Trong khi đó, đứa trẻ phớt lờ kịch bản ấy, đi học hàn, đi điện, sửa HVAC, vận hành máy móc nặng lại vô tình xây dựng một trong những hàng rào chống tự động hóa bền vững nhất trên hành tinh hiện nay. Hóa ra, việc di chuyển các nguyên tử mới thật sự quan trọng.


Đây không phải là sự kết thúc của công việc mà là sự kết thúc của ảo tưởng rằng một số con đường nào đó mặc nhiên là an toàn. Sự phân hóa mới sẽ không còn là cổ trắng (trí thức) vs. cổ xanh (nhân công lao động). Nó sẽ là: những người biết “sử dụng” AI, khuếch đại kỹ năng, nhân bội năng suất, và liên tục thích nghi so với những người đứng yên chờ con sóng ập tới, đánh chiếc thuyền mong manh của họ tan theo biển sóng.


Robot tiên tiến rồi cũng sẽ thu hẹp khoảng cách với lao động vật lý. Nhưng thời gian là yếu tố sống còn. 5–10 năm tới sẽ giống như một cơn sóng xung kích siêu thanh đối với bất kỳ ai mà toàn bộ giá trị chỉ gói gọn trong việc “di chuyển các bit trên màn hình”.


Những công việc buộc bạn phải xuất hiện trong thế giới thật, lấm lem tay chân, và vật lộn với vật chất thực có một con hào tự nhiên mà phần mềm thuần túy chưa thể vượt qua, ít nhất là bây giờ. Xã hội đã dành hàng chục năm để nói với mọi người rằng nghề tay chân là thấp kém. Hóa ra, chính những nghề đó đang âm thầm xây dựng tuyến phòng thủ cuối cùng chống lại thứ công nghệ mà xã hội tôn thờ.


Cuộc cách mạng AI không chỉ nhắm vào việc làm. Nó đang nhắm thẳng vào những giả định của chúng ta về việc công việc nào còn đáng để làm và đang viết lại lịch sử của loài người thay đổi nhanh chóng hơn cả cách mạng kỹ nghệ.


Vấn đề là thế hệ con cháu của chúng ta sẽ phải đối đầu ra sao. Thằng con mình đi học đại học, ra kỹ sư đi làm không có kinh nghiệm nên được trả tiền lương thấp hơn một người thợ mộc hay thợ điện. Tại sao bỏ 4 năm tốn tiền đại học để lãnh lương thua một tên thợ vịnh. Trong 4 năm đại học, có thể học cái nghề sửa máy móc, máy giặt, truyền hình,…. Lợi tức cao hơn. Lý do là khoa bảng, cha mẹ muốn khoe con mình là kỹ sư. Mình thì bằng cấp chả cần, chỉ cần kiếm tiền nuôi vợ con là đủ. Chớ có bằng mà không có việc làm thì cạp đất mà ăn. Có bằng cấp đại học nhưng nếu không giỏi thì qua 40 tuổi là bị công ty sa thải khó kiếm việc lại, lại phải đi học nghề bán bảo hiểm hay nhà cửa. Với lương ở 40 tuổi, công ty có thể mướn 3 kỹ sư mới ra trường, có đầu óc nhanh nhẹn, làm tăng ca, không lo chuyện gia đình.


Tại sao chúng ta không nhìn rõ vấn đề, thay vì bị các trường Đại học khuyến dụ cho con cháu theo học đại học để rồi ra trường kiếm không được việc. Mình rất vui khi thằng con đồng ý theo học nghề của mình, chăm sóc vườn bơ, quản lý các căn nhà cho thuê và tiếp tục học nghề đi mua nhà cho thuê. Kỹ sư học ra đi làm vớ vẩn rồi nay AI được sử dụng khiến các kỹ sư trở thành vô dụng ngoại trừ những ai có tầm nhìn xa về kỹ thuật toán, về tương lai của công nghệ, trí tuệ nhân tạo. Có lẻ văn hoá của chúng ta bị ám ảnh bởi khoa bảng, phải có bằng cấp. Một nha sĩ ra trường ngày nay tại Hoa Kỳ có thể nợ trên $300,000. Và nếu theo học thêm về chuyên khoa thì $500,000. Mình có thằng cháu học bác sĩ ra nói là muốn làm về quản lý nhà thương chi đó vì ngày nay, chữa bệnh đã có internet. Cứ vào mạng rồi hỏi bệnh tình của bệnh nhân ra sao thì họ cho biết phải cho uống thuốc gì này nọ. Trong tương lai nhà thương sẽ bớt cần bác sĩ vì một số có thể sử dụng người máy như hiện tại họ đã sử dụng để mỗ, giải phẫu,… bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh tình của bệnh nhân qua mạng.


Một bà mễ, không biết tiếng anh, đi chùi nhà lương một ngày $350, chả cần học đại học gì cả. Một người thợ sửa xe hơi có thể làm lương cao hơn và được trọng dụng hơn là một kỹ sư viết lập trình. Thế giới đang thay đổi với vận tốc khủng khiếp mà nếu con cháu chúng ta không ý thức được sự việc, chúng sẽ bị bỏ xa và sẽ được xếp vào giai cấp vô dụng, được chính phủ trợ cấp mỗi tháng một ít tiền để khỏi phải nổi loạn. Đó là tương lai của loài người, sinh con ít, sống già, được chính phủ chăm sóc rồi chết. Tương lai thế giới sẽ có dân số giảm và đa số chỉ là những người biết áp dụng, có viễn kiến về tương lai, sử dụng trí tuệ nhân tạo để làm đẹp cho đời cho người.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn