Showing posts with label Lịch sử. Show all posts
Showing posts with label Lịch sử. Show all posts

Lý do Hoa Kỳ không sử dụng hệ thống đo đạc thập phân


Mình đi làm ở Ý Đại Lợi, Thụy Sĩ, Đức quốc và anh quốc thì không gặp vấn đề khi vẽ vì các xứ này sử dụng hệ thống như tại Việt Nam. Chỉ khi bò sang Mỹ đi làm thì gặp phải hệ thống đo đạc “imperial measurements “ do hậu quả nền cai trị của Anh quốc. Ở Anh quốc, lúc mình sang làm việc thì họ cũng mới bắt đầu sử dụng hệ thống này. Lý do là các kỹ nghệ gia cho rằng hệ thống đo đạc cũ của Anh quốc sẽ làm cản trở sự xuất cảng của Anh quốc khắp thế giới vì đa số dùng hệ thống đo đạc metric. 

Khi mới sang Hoa Kỳ nghe nói Hoa Kỳ sắp thay đổi hệ thống đo đạc để có thể xuất cảng khắp thế giới nhưng sống gần 40 năm vẫn thấy đo đạc như xưa. Có các xứ khác sản xuất để bán cho người Mỹ nên họ chả cần thay đổi gì thay đổi rất tốn tiền. Nội tiền thay các bản chỉ đường là phải đóng thuế mệt thở để thay đổi. Cửa nhà hư mà mua tấm mới để thay là mệt. Cứ như thay hệ thống điện nước trong nhà là khùng. Lúc đầu cũng phải học feet, pounds và miles từ từ quên đo đạc bằng mét, kí lô và kí lô mét. 

Buồn đời mình tìm tài liệu đọc thì thất kinh. Lý do là Hoa Kỳ có thể sử dụng hệ thống thập phân từ năm 1866. Chính phủ liên bang gọi hệ thống thập phân , thường được gọi là SI (International System of Units) và muốn sử dụng hệ thống để buôn bán dễ dàng. Vấn đề là chính phủ không ép buộc các công ty kỹ nghệ nên cứ lừ đừ như người say rượu từ bấy lâu nay.

Ai ra quảng trường Trafalgar, luân đôn, nơi có tượng ông tướng Wellington đã đánh bại Napoleon, sẽ thấy bản chỉ dẫn một chân bộ Anh quốc ra sao.

Hệ thống Imperial, còn gọi là hệ thống đo lường Anh, có nguồn gốc từ hệ thống đo lường được sử dụng ở Anh trước khi Đế quốc Anh thành lập. Các hệ thống đo lường cổ ở Anh đã tồn tại từ thời La Mã, và sau đó được điều chỉnh qua nhiều thế kỷ bởi các triều đại và các quy định khác nhau.

 Khi xưa học Hội Việt Mỹ, trong cuốn Lê Bá Kông II, có bài nói về Hiến pháp Magna Carta (1215): Văn bản lịch sử này đã yêu cầu có các tiêu chuẩn chung cho cân nặng và đo lường trên khắp vương quốc.

Đạo luật về cân đo đo lường (Weights and Measures Act) 1824: Đạo luật này đánh dấu sự khởi đầu của hệ thống Imperial chính thức. Đạo luật đã thiết lập các đơn vị đo lường chuẩn cho khối lượng, chiều dài, và dung tích, nhằm bảo đảm sự đồng nhất trên toàn Đế quốc Anh.

Đạo luật về cân đo đo lường (Weights and Measures Act) 1878: Đạo luật này tiếp tục điều chỉnh và chuẩn hóa thêm các đơn vị đo lường Imperial, làm cho hệ thống này trở nên cụ thể và thống nhất hơn.

Hệ thống thập phân được thành lập từ cuộc cách mạng Pháp quốc. Trong thời quân chủ chuyên chế, xứ pháp nghe nói có đến đủ loại cách tính ngày giờ, khoảng cách, cân nặng, họ tính đến cả 250,000 đơn vị. Sau cuộc cách mạng, các nhà cách mạng xem đây là cơ hội để thay đổi, thành lập một hệ thống quốc tế để khắp nơi có thể sử dụng và họ đề nghị các nhà hàng lâm khoa học, thiết lập một hệ thống cho mọi người để tiện việc giáo dục, buôn bán và khảo sát trong khoa học.

Các nhà hàng lâm của viện hàng lâm Pháp đề nghị sử dụng khoảng cách đo từ Bắc Cực đến Equator dựa trên đơn vị thập phân, lít cũng như cubic để tính lượng khối… cũng như điện lực và từ trường. Kiểu thời gian, múi giờ được đo và lấy làm chuẩn tại Greenwich, Anh quốc.

Hệ thống mới được chính phủ Pháp phê chuẩn nhưng người dân rất chậm để theo và thay đổi. Năm 1866, ý tưởng sử dụng hệ thống SI này được ban hành luật tại Hoa Kỳ, cho phép hệ thống thập phân được sử dụng trong ngành thương mại. Đến năm 1875 thì có hiệp ước quốc tế về hệ thống mét được ký bởi các nước lớn trên thế giới như Nga, Đức quốc, và Pháp quốc. Nhưng Hoa Kỳ vẫn chưa áp dụng hệ thống này dù đã ký kết .

Khi mình làm việc tại Anh quốc thì họ đã sử dụng hệ thống mét nhưng không hiểu sao Hoa Kỳ vẫn cà khịa. Các nhà kỹ nghệ cho rằng áp dụng hệ thống thập Phân  rất khó, nhất là tốn tiền. Quan trọng nhất là chính phủ ban hành luật có thể vi hiến tại các tiểu bang.

Hệ thống Imperial (hay còn gọi là hệ thống đo lường Anh) vẫn được sử dụng ở một số quốc gia, đặc biệt là Hoa Kỳ, vì một số lý do lịch sử và văn hóa. Hệ thống Imperial đã được sử dụng trong nhiều thế kỷ và trở thành một phần của truyền thống văn hóa ở các quốc gia như Hoa Kỳ. Sự thay đổi sang hệ thống thập phân (metric) sẽ đòi hỏi sự điều chỉnh lớn và nhiều người có thể không muốn từ bỏ những gì họ đã quen thuộc. Ở trường đa số học sinh đều sợ toán học.

Học truyện Kiều thì nghe tả Từ Hải to lớn mà mình không hình dung được qua hệ thống thập phân. Vai năm thước rộng, lưng mười thước cao. Ông Nguyễn Du mua được cuốn sách Đoạn Trường Tân Thành của thời nhà Minh nên có thể ăn phải đặc sản Quảng trị nên nổ cho vui. Lớn lên một tí đọc truyện Kim Dung hay Tam Quốc Chí lại ngọng vì họ nói đến hệ thống tính toán người Tàu mà mình không đổi sang hệ thống thập phân, học ở trường nên Chán Mớ Đời.

Việc chuyển đổi toàn bộ hệ thống đo lường của một quốc gia từ Imperial sang metric đòi hỏi một chi phí lớn. Từ việc thay đổi biển báo giao thông, tài liệu kỹ thuật, sách giáo khoa đến các thiết bị đo lường công nghiệp, tất cả đều cần phải thay đổi, và điều này có thể rất tốn kém. Vấn đề là các công ty lớn có thể có tiền bạc và nhân lực để chuyển đổi trong khi các công ty nhỏ sẽ gặp khó khăn khi thay đổi hệ thống đo đạc. Ngoài ra nền giáo dục càn phải sửa đổi lại để dạy các thế hệ mai sau hệ thống mét và hệ thống Anh quốc. Mình nhớ khi sang Anh quốc thì mấy ông đồng nghiệp tuy vẽ theo hệ thống mét nhưng họ vẫn cứ nói chuyện theo hệ thống Anh quốc như half pint khi đi uống bia hay cân nặng Pounds,… dài bao nhiêu inch, mấy yard khiến mình hay bị ngọng vì không hiểu. Chỉ có khi sang Hoa Kỳ thì mới học thuộc và biết cách chia và nhân (tính nhẩm).

Người dân đã được giáo dục và đào tạo theo hệ thống Imperial trong nhiều thế hệ. Sự thay đổi hệ thống đo lường sẽ đòi hỏi việc điều chỉnh lại hệ thống giáo dục và đào tạo. Học sinh Mỹ rất dốt toán mà nay bắt chúng học hệ thống thập phân thì chúng lại ngọng hơn. Nay đi thi toán toàn thế giới, đội tuyển Hoa Kỳ toàn là gốc người Tàu.

Nhiều ngành công nghiệp và thương mại đã thiết lập và vận hành dựa trên hệ thống Imperial. Việc chuyển đổi có thể gây ra sự gián đoạn trong sản xuất và kinh doanh. Cứ tưởng tượng máy móc bằng hệ thống Anh quốc nay đổi qua thập phân là ngọng. Tốn tiền mua cái mới nhất là cửa.

Thói quen và sự quen thuộc với hệ thống hiện tại cũng đóng một vai trò quan trọng. Nhiều người có thể cảm thấy không thoải mái hoặc gặp khó khăn khi phải học và sử dụng một hệ thống mới. Mình đây, mất 30 năm học và sử Dụng hệ thống thập phân rồi khi sang Hoa Kỳ học hệ thống Anh quốc, nay bắt đổi lại là ngọng. Thật ra thì cũng dễ vì đã học và sử dụng rồi nên khi đi chơi ở các xứ sử dụng hệ thống mét mình vẫn tính toán được.

Dù vậy, hầu hết các quốc gia trên thế giới đã chuyển sang hệ thống metric vì dễ dàng sử dụng của nó. Hệ thống metric dựa trên hệ thập phân, dễ hiểu và dễ sử dụng hơn, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học và kỹ thuật. Tuy nhiên, ở những nơi mà hệ thống Imperial vẫn được sử dụng, các lý do nêu trên khiến chuyển đổi trở nên chậm chạp và khó khăn.

Hệ thống Imperial được sử dụng rộng rãi trong Đế quốc Anh và các thuộc địa, bao gồm cả Hoa Kỳ, Canada, Úc, và Ấn Độ vào thế kỷ 19 và 20. Ngày nay mấy xứ này sử dụng hệ thập phân ngoại trừ Hoa Kỳ  

Dù Hoa Kỳ chính thức tách khỏi Anh sau Chiến tranh Độc lập, hệ thống đo lường mà họ sử dụng vẫn dựa trên các đơn vị Imperial, dù có một số khác biệt nhỏ. Có lẻ vì vẫn tiếp tục sử dụng bộ hình luật của Anh quốc  

Thế kỷ 20: Hầu hết các quốc gia từng là thuộc địa của Anh đã chuyển sang sử dụng hệ thống metric để phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn giữ hệ thống Imperial  

Bắt đầu từ năm 1965, Anh Quốc bắt đầu chuyển đổi sang hệ thống metric, và đến nay hầu hết các lĩnh vực kỹ thuật và khoa học đã hoàn toàn chuyển đổi, dù trong đời sống hàng ngày nhiều người vẫn sử dụng các đơn vị Imperial như dặm, inch, và pound. Nhất là tiền tệ của họ vì họ dùng Sterling Pound nên lúc đầu không hiểu rõ. Họ nói nặng một Pound (lbs) trong khi đưa cho mình tờ giấy tiền sterling. Chán Mớ Đời 

Hoa Kỳ ngày nay: Vẫn sử dụng hệ thống Imperial trong cuộc sống hàng ngày, như đo lường chiều dài (inch, foot), khối lượng (pound), và dung tích (gallon).

Đo lường qua hệ thống Anh quốc thì mình quen sử dụng và có thể hình dung ra sao so với hệ thống mét. Chỉ có vấn đề là dung lượng thì mình hơi bị ngọng vì ounce, gallon… Chán Mớ Đời 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Có người còm nên mình tải về đây 

Nếu Mỹ đổi qua dùng hệ thống thập phân thì sẽ có một vấn đề về cơ khí. Nếu ai có mua những máy móc từ các nước khác thì biết họ xài mấy con ốc và nút đo bằng mm hay cm. Thí dụ như 8 ly,7 phân, 2 tấc  vv. Nhờ vậy tìm kiếm các con ốc, long đền hay nút vặn rất dế dàng. Ngược lại mấy cha nội Mỹ vì một inch là đơn vị nhỏ nhất mà cũng còn rất lớn (khoảng 3 phân (cm)) nên mấy chả chia ra làm phân số. Ở Mỹ đến giờ này mấy chục năm rồi mà tôi vẫn chưa mua được con ốc hay lông đền chính xác vì ai mà nhớ 1/32, 5/4, 1/8 vv. của mấy con ốc đó. Lại còn có một bộ khóa tùm lum tùm la bằng phân số,  thay vì 8 mm hay 6 mm hay 6.5mm vv. Lại còn vấn đề nhiệt độ và đo lường, vv. Bởi vậy nên tôi tẩy chay hệ thống của Anh và xài thập phân trên điện thoại vv. Đo cửa sổ để mua màn che thì phải tính từ bộ ra inch hoặc ngược lại vì 1 bộ có 12 inch. Còn ăn uống thì mỗi lần nghe nói ounce tôi phải hình dung ra cái ly lớn nhỏ mới đoán được. Còn chiều cao thì mỗi lần Mỹ hỏi anh cao bao nhiêu, tôi nó 1 thước 65 thì nó không hiểu nên phải nhớ là 5 bộ 4 inch. Còn cân nặng thì 70 kí lô, phải đổi ra 160 pounds, vv. Về sau này nghe mấy anh Mỹ nói ám chỉ cái gì làm hết trọi thì họ nói "all nine yards" mới đầu không hiểu nhưng sau này mới khám phá ra túc cầu Mỹ (không được chơi bằng chán) cầm banh bầu dục chạy đến đích khoảng gần 9 thước. Mà đến giờ này tôi cũng không hiểu trò chơi này khéo léo ở chỗ nào. Còn coi đá banh thì mê hơn, dạo này có giải vô địch Âu Châu nên càng thích.

Chỉ có mỗi một thứ của Mỹ mà tôi thích là đồng đô la xanh của họ thôi. Triệu triệu phú đô la là mục đích của sự nghiệp tôi. Hóa ra Mỹ cũng có thứ đo lường mà tôi chấp nhận và ham muốn haha

Tại sao cấm

 Tại sao Hoa Kỳ lại cấm 



Sau Đệ Nhị Thế Chiến, nhiều quốc gia, bao gồm cả Mỹ và các nước thuộc khối tự do, đã phải đối mặt với những thách thức lớn hậu chiến về tái thiết kinh tế và xã hội. Trong bối cảnh này, chính sách và quan điểm về phá thai đã trải qua những thay đổi quan trọng nhất là tại các quốc gia theo thiên chúa giáo.


Yếu tố quan trọng nhất đã thay đổi đạo Đức Tây phương là phụ nữ được xem là đơn vị lao động kinh tế, đóng góp vào sự tái phát triển của quốc gia. Lý do là khi xưa, phụ nữ được xem là ở nhà, sinh con đẻ cái, phục vụ chồng đi làm ngoài xã hội. Trong thời gian chiến tranh, đàn ông bị đưa ra mặt trận, nên các chính phủ phải tuyển dụng phụ nữ trong nhà máy sản xuất tất cả cho tiền tuyến.

Sau thế chiến, các chính phủ cũng như phụ nữ đã quen ra ngoài đi làm việc nên được khuyến khích tham gia ngoài xã hội làm việc. Một mặt các chính phủ muốn giới hạn sinh sản vì sẽ khiến phụ nữ ở nhà, mất năng suất lao động nên có các chương trình khuyến khích ngừa thai. 

Hồi nhỏ mình thấy mấy bà hàng xóm hay đến nhà nói chuyện với mẹ mình về phương pháp Ogino, đặt vòng xoắn chi đó. Mình hay hóng chuyện người lớn nên thắc mắc hỏi nên bị ăn tát khá nhiều. Sau này mới hiểu mấy bà trong xóm ít con đều được theo chương trình giới hạn sinh đẻ. Ông Ogino này sinh ra thuộc gia đình Nakamura nhưng được gia đình Ogino nhận nuôi. Ông ta kêu phương pháp ngừa thai của ông không chính xác lắm.

Các chính phủ Tây phương cũng như khối Liên Xô khuyến khích ngừa thai và cho phép phá thai vì tất cả cho sự nghiệp sản xuất và thế giới đại đồng. Cả hai khối chạy đua để xem ý thức hệ nào hay hơn trong suốt thời kỳ chiến tranh lạnh.

Hậu quả là ngày nay, thế giới có trên 7 tỷ người nhưng dân số bị lão hoá. Cứ tưởng tượng nếu họ không cho phép phá thai, hay uống thuốc ngừa thai thì dân số thế giới còn gia tăng khủng khiếp. Nhất là chúng ta không có thể có một cuộc sống đầy đủ sung túc hơn thế hệ cha mẹ, ông bà của chúng ta. Theo tiêu chuẩn của dân số học thì mỗi cặp vợ chồng cần sinh ít nhất 2.1 con cái để thay thế mình. Mà nay ở Âu châu chỉ có 1.1 thậm chí 0.8 như ở Đức quốc và Ý Đại Lợi. Bên Trung Cộng với chỉ tiêu trai hay gái chỉ 1 con thì còn ít hơn.

Bà cụ mình sinh ra 4 con trai và 7 cô con gái. Nội mua băng vệ sinh cho 7 cô con gái là đủ nghèo. Mình có kể vụ dân số bị lão hoá sẽ gây vấn nạn trong tương lai vì người trẻ ít, phải đóng thuế nuôi mấy ông bà già sống lâu.

Hôm nay, đọc báo thấy các nhóm chống phá thai đã thành công vì tối cao pháp viện Hoa Kỳ đã phê chuẩn sự cấm phá thai tại Hoa Kỳ.

Tại sao ngày nay, Hoa Kỳ lại cấm phá thai lại? Các biểu ngữ kêu gào bởi các phụ nữ “cơ thể của tôi thuộc về tôi, tôi có quyền làm gì thì làm”,…

Theo mình hiểu, khi xưa, các chính trị gia muốn người Mỹ ít sinh con đẻ cái vì tốn tiền, họ cần phụ nữ làm việc để buôn bán các sản phẩm thị trường, đẩy mạnh xã hội tiêu thụ. Càng mua sắm sẽ giúp kinh tế phát triển chớ trước đệ nhị thế chiến, phụ nữ ở nhà giữ tiền, lo mua sắm chi tiêu, đâu có vụ mua sắm áo quần thời trang như ngày nay.

Cái hay của chủ nghĩa tư bản là khiến thiên hạ mua sắm, làm giàu cho họ, cứ khuyến khích phụ nữ đi làm vì khi họ có tiền là tiêu xài, kêu tiền tui làm ra nên tui có quyền mua sắm, tiêu xài. Dần dần nợ chồng chất, vợ chồng cãi nhau và ly dị. 50% ly dị tại Hoa Kỳ là vì tài chánh.


Buồn đời mình tìm tài liệu để đọc thì thất kinh. Xin tóm tắc như sau:


Giai đoạn 1945-1965: được gọi là giai đoạn của thế hệ babyboomers vì sau chiến tranh, Hoa Kỳ bổng gặp một hiện tượng là người Mỹ đẻ nhiều nên họ gọi thế hệ babyboomers. Dạo ấy người Mỹ chết trung bình ở tuổi 61.5 mà ngày nay với sự phát triển tiến bộ của khoa học giúp người Mỹ sống trung bình đến 82 tuổi. Nghĩa là thêm 20 năm, 1 thế hệ khiến các nhà lãnh đạo nhức đầu vì không biết lấy tiền đâu để nuôi họ nhất là y tế.

Sau chiến tranh, nhiều quốc gia bắt đầu chú trọng đến việc tăng gia sản xuất và tái thiết kinh tế. Tuy nhiên, vấn đề phá thai vẫn là một chủ đề nhạy cảm và thường bị coi là bất hợp pháp tại nhiều nơi.


- Sự thay đổi bắt đầu xuất hiện với sự gia tăng của phong trào quyền phụ nữ và ý thức về sức khỏe sinh sản. Việc kiểm soát sinh sản và quyền phá thai bắt đầu được thảo luận rộng rãi hơn. Các chính phủ đưa ra các chương trình phụ nữ quyền để tạo dư luận, kêu gọi tự do phá thai. 


Các phụ nữ gốc Ukraine khi xưa, cởi phăng ngực ra bị chính phủ bắt bớ, đánh đập rồi phải chạy trốn qua pháp. Nay các phong trào nữ quyền hình như không nghe đến trên truyền thông. Chính sách quốc gia muốn phụ nữ sinh con đẻ cái nên dẹp bớt các phong trào đòi bình đẳng.


Giai đoạn 1960-1970:

- Mỹ và châu Âu: Vào cuối thập niên 1960, một số quốc gia bắt đầu nới lỏng các luật lệ về phá thai. Ở Mỹ, phong trào quyền phụ nữ đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, dẫn đến việc xem xét lại các luật lệ nghiêm ngặt về phá thai.

- 1973: Quyết định Roe v. Wade của Tòa án Tối cao Hoa Kỳ đã công nhận quyền phá thai của phụ nữ, làm thay đổi cơ bản luật pháp và chính sách về phá thai ở Mỹ. Phán quyết này thiết lập rằng phụ nữ có quyền phá thai trong ba tháng đầu thai kỳ mà không bị chính phủ can thiệp. Vụ này khi sang Hoa Kỳ cứ nghe báo chí nói đến khiến mình điên đầu, chả hiểu gì cả.


Do đó bác nào ủng hộ phá thai thì nên bầu cho Đảng dân chủ vì nhiệm kỳ tới tối cao pháp viện sẽ thay 2 quan toà. Nếu ông Biden thắng thì sẽ đề cử người nào ủng hộ phá thái còn ông Trump thì lại càng khó phá thai. Ở Cali, con nít học trung học dưới tuổi vị thành niên, dính bầu, có quyền đi phá thai không cần báo cho bố mẹ biết. Thường đi bác sĩ, họ bắt ký giấy cho phép bác sĩ chữa bệnh cho con nít dưới 18 tuổi nhưng phá thai thì không cần ký gì cả. Kinh


Giai đoạn 1970-2000:

- Châu Âu: Nhiều nước châu Âu cũng đã thông qua các luật lệ mới cho phép phá thai hợp pháp, phản ánh sự thay đổi trong quan điểm xã hội về quyền sinh sản và sức khỏe phụ nữ. Thuốc ngừa thai được sử dụng rất phổ thông. Ở Việt Nam, có tên bạn học chung, bổng một hôm thấy hắn đứng trước nhà bồng con. Sang Tây mình hỏi mấy cô đầm thì họ giải thích uống thuốc ngừa thai chi đó khiến mình như bò đội nón.


- Liên Xô và các nước Đông Âu: Sau khi chiến tranh thế giới thứ 2 kết thúc, một số quốc gia thuộc khối Đông Âu, Liên Xô, đã hợp pháp hóa phá thai từ sớm để kiểm soát dân số và thúc đẩy phụ nữ tham gia lực lượng lao động để xây dựng thế giới đại đồng. Đi viếng Uzbekistan và Georgia, mình hỏi thiên hạ thì thất kinh, nhất là Uzbekistan là một nước theo hồi giáo nhưng với bác lê-nín của chúng ta thì dẹp hết. Các nhà thờ hồi giáo và trường học đều dẹp hết cũng như các nhà thờ tại Georgia dành cho hợp tác xã.


Phá thai và tăng gia sản xuất

- Sức khỏe phụ nữ và lực lượng lao động: Phá thai hợp pháp đã giúp cải thiện sức khỏe sinh sản của phụ nữ, giảm thiểu rủi ro từ những ca phá thai không an toàn. Điều này góp phần tăng cường khả năng làm việc và đóng góp của phụ nữ vào nền kinh tế. Xin nhắc lại bảo hiểm y tế cho phụ nữ đắt hơn đàn ông vì phụ nữ đi bác sĩ nhiều hơn.

- Kiểm soát sinh sản: Chính sách phá thai hợp pháp cho phép các gia đình kiểm soát số người trong gia đình của họ, giúp họ tập trung vào việc làm và phát triển kinh tế. Mình đọc tài liệu về dấn số học thì Nhật Bản cũng tương tự, khuyến khích người Nhật giới hạn sinh con sau chiến tranh. Do đó mới thấy họ tiến bộ giàu có nhanh chóng và Trung Cộng bắt chước họ cũng như Nam Hàn và ngày nay lãnh hậu quả của sự ngưng đẻ, dân số bị lão hoá.

- Bình đẳng giới: Quyền phá thai được xem như một phần của phong trào bình đẳng giới, giúp phụ nữ có quyền kiểm soát cơ thể và quyết định sinh sản của mình, từ đó thúc đẩy sự tham gia của phụ nữ trong các hoạt động kinh tế và xã hội. Theo mình các chính sách của chính phủ luôn luôn được đi kèm với những phong trào hổ trợ bởi chính phủ như trường hợp nữ quyền bình đẳng,…


Dạo mình mới sang New York làm việc, có ông Giuliani nổi tiếng khi làm Mayor của thành phố New York này. Ông ta thuộc Đảng Cộng Hoà nhưng đắc cử ở quê hương chính gốc của Đảng Dân Chủ. Ai nấy đều ca tụng ông này đã giảm tỷ lệ tội ác tại thành phố này. Sau này thành phố Los Angeles mướn ông cảnh sát trưởng của thành phố New York để giúp giảm tội ác nhưng chẳng thấy xuống gì cả. Sau này, người ta giải thích là vì 20 năm về trước, khi Hoa Kỳ hợp thức hoá việc phá thai nên các cô bé trẻ nhiều khi ở trung học cấn thai, có thể phá thai nên giảm thiểu số mẹ đơn côi. Con trai làm mấy cô trẻ cấn thai rồi trốn luôn hay bị tù nên các người mẹ đơn thân trẻ, phải vất vả làm việc nhiều nơi để nuôi con nên khó có thể giúp con mình một cuộc sống lành mạnh. Các khu vực nghèo dễ đưa đến tội ác.


Chính sách phá thai sau Đệ Nhị Thế Chiến đã trải qua nhiều thay đổi quan trọng, phản ánh sự phát triển của xã hội và nhận thức về quyền của phụ nữ. Việc hợp pháp hóa và cải thiện tiếp cận dịch vụ phá thai không chỉ giúp bảo vệ sức khỏe sinh sản của phụ nữ mà còn góp phần vào tăng trưởng kinh tế và sản xuất của các quốc gia.


Mình thấy ông Steve Jobs, và ông Bill Gates, được xem là thế hệ của mình, hơn vài tuổi, đều là con nuôi. Dạo ấy Hoa Kỳ chưa cho phép phá thai nên mẹ hai ông này đều sinh ra rồi cho con để người khác nuôi. Phá thai là tuỳ thuộc tự do của mỗi người. Sau khi phá thai được pháp luật hóa thì không biết bao nhiêu Bill Gates hay Steve Jobs đã không sc sinh ra cũng như các tội phạm khác. 


Ngày nay dân số của các nước Tây phương giảm rất rõ, người ta suy đoán Ý Đại Lợi sẽ không còn trong 50 năm tới, vì người dân không chịu đẻ. Các nhóm hữu khuynh lại ra đời, mạnh lên, kêu gọi cấm phá thai. Có thể các chính trị gia, cai trị chúng ta sợ không có người đi làm đóng thuế nuôi chúng ta về già, sống dai nên họ giựt dây các phong trào chống đối phá thai cũng như khi xưa, họ đã làm với việc phá thai. Nay chỉ cần hát lại những bài hát xưa, nhưng ngược lại. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tại sao phải đền

 



Dạo này thấy các trí thức gia Hoa Kỳ, khơi khơi kêu Hoa Kỳ phải bồi thường cho các hậu duệ của những người bị người da trắng bốc lột, bắt làm nô lệ khiến mình thất kinh. Họ đổ lỗi lý do một số người Mỹ ngày nay nghèo khổ vì ông bà của họ bị bắt làm nô lệ, chịu nhiều oan ức của giai cấp cầm quyền, nên tinh thần bị tổn thương, không được ưu đãi như người da trắng. Không ai nói đến đạo luật cấm người Tàu kỳ thị đủ trò, bị đánh đập khi di cư sang Hoa Kỳ để làm việc trên các công trường làm đường hoả xa. Nói cho đúng là đủ trò. Vấn đề là ai trả tiền đền bù.

Ở Pháp, mình nhớ tổng thống pháp hay bộ trưởng Kuchner đã lên tiếng xin lỗi về việc chính phủ pháp đã hành sử rất tệ bạc với các người lính gốc việt, được tuyển mộ khi xưa, đem sang Âu châu đánh giặc dùm cho Tây trắng. Còn bồi thường thiệt hại thì rất khó. Được cái là họ đã nhận lỗi lầm như người gia nã đại đã xin lỗi người eskimo. 


Dạo người Pháp tuyển mộ người Việt đi lính cho Tây, gây rất nhiều thảm hoạ gia đình vì ai không có tiền lo lót là bị các tên tuần phủ ghi danh cho đi lính Tây. Đa số chết nhưng có một số trở về, kiếm mấy tên tuần trưởng thịt. Khá vui, lâu rồi mình có đọc một tài liệu về vụ này. Mình có hai anh bạn ở Đà Lạt có ông ngoại đi lính cho Tây, sống sót trở về, sau 1918, được cho phép lên Đà Lạt định cư. Được xem là một trong 100 người đầu tiên được phép lên Đà Lạt ở.

Nếu khi xưa người da đỏ làm cái tường như vậy, không cho người Anh quốc bò lên bờ thì hợp chủng quốc không bao giờ ra đời.

Nếu bắt người Mỹ hôm nay, xem như tất cả người nào có quốc tịch Hoa Kỳ, đen trắng vàng đỏ đều phải Nai lưng ra đóng thuế để trả tiền bồi thường cho những hậu duệ của những người nô lệ khi xưa. Những con cháu của họ đâu có bị đàn áp, bị bắt làm nô lệ. Nói như Hà Nội không có nợ máu nhân dân với nhóm người này. Tại sao bắt họ trả nợ cho ông bà của họ.


Tháng trước đi chơi ở Phi Luật Tân, mình có dịp trò chuyện với một bà người anh, lấy chồng gốc Ai Cập, cựu thuộc địa của Anh quốc, về chủ nghĩa thực dân và vai trò của Anh quốc khi xưa trên thế giới. Bà ly dị nên buồn đời đi chơi cho khuây khoả cuộc đời.


Khi mình ở Luân Đôn, có đồng nghiệp người gốc Ái nhỉ lan, tô cách Lan nhiều. Hai xứ này nằm trong United Kingdom, tuy là độc lập nhưng dân họ đói phải chạy sang Anh quốc kiếm việc làm. Không biết ngày nay có thay đổi không. Lần trước mình ghé lại Luân Đôn thì thấy dân Pakistan, Ấn Độ nhiều hơn xưa. Tưởng đang đứng ở Mumbai.


Anh quốc và Ái nhỉ Lan là hai hòn đảo đều là nơi sinh sống của những người vô danh, sau đó bị những giống người Celtic “thay thế” vào khoảng 1.000 năm trước Công nguyên. Khi xưa, mình tò mò đi xem người Anh quốc hoà tấu nhạc Celtic nhưng không biết có thật hay họ chế bú xua la mua. Nước Anh bị người La Mã chinh phục vào thế kỷ thứ nhất sau Công nguyên. Các bộ lạc Celtic đã gây chiến, đặc biệt là do Nữ hoàng Boudica lãnh đạo. Xứ này có đặc biệt là phụ nữ cai quản. Ông vua Charles đệ Tam, sinh ra và đợi đến 73 tuổi mới lên làm vua, chưa được một năm lại nghe bị ung thư. Chán Mớ Đời. Chống trả lại sự xâm chiếm nhưng người La Mã được tổ chức và trang bị tốt hơn khiến Người dân địa phương đã phải thuần phục hay bị giết. Kiểu hàng thì sống chống thì chết.

Đó là thời xâm chiếm và biến Anh quốc thành thuộc địa khiến sử gia la mã Tacitus lên tiếng, kêu họ biến thành sa mạc và gọi đó là thanh bình. Tương tự sau này quân đội của Mông Cổ hay Hun, xâm chiếm các vùng Âu châu, cướp bóc, biến nhiều nơi thành bình địa. Đa số giống dân ở miền nam Anh quốc bị tàn sát khiến một số đất đai bị bỏ hoang. 


Ái nhỉ lan không bị quân đội la mã xâm chiếm và khi quân đội lamã rút khỏi Anh quốc thì các bộ lạc ái nhỉ lan tấn công Anh quốc như bộ lạc Scoti, sau này được gọi là Scotland, Tô cách lan. Coi phim Brave Heart thì được diễn tả người Anh quốc là bọn man rợ nhưng nếu xét lịch sử của hai xứ này trước kia thì lại khác.


Trong khi người ái nhỉ Lan đến từ phương Tây thì giống bộ lạc người Anglo-Saxon đến phía đông của Anh quốc. Rồi hai hòn đảo Anh quốc và Ái Nhỉ Lan bị nhóm người từ Na Uy, Đan mạch và Norman xâm chiếm. Norman là giống dân vùng Normandie của pháp ngày nay. Lịch sử Âu châu khi xưa có rất nhiều vương quốc rồi từ từ cá lớn nuốt cá bé biến thành các quốc gia của Âu châu ngày nay. 


Phải mất 6 năm trời ròng rả ông William mà khi xưa học lịch sử Tây gọi là Guillaume le conquerant mới lên ngôi vua của xứ Anh quốc. Rồi đâu mất 100 năm người Anh quốc và Norman mới đổ bộ lên xứ ái nhỉ Lan. Phải mất đến gần 600 năm sau người Norman mới thôn tín được ái nhỉ Lan. Vấn đề là Anh quốc bị xâm chiếm ngược lại bởi các đoàn di dân đến từ ái nhỉ Lan để tìm việc làm. Lính Mông cổ giết hết nên không bị người bị chiếm đóng trả thù hay chạy về xứ họ kiếm ăn.


Vấn nạn này đang xẩy ra tại các nước Âu châu. Các nước như Pháp quốc, Hòa Lan, Bỉ, Anh quốc,… có các thuộc địa cũ, họ cần nhân công nên nhập cảng nhân viên tại các thuộc địa cũ. Các người này sang làm việc rồi về nước lấy vợ đem qua nhưng khi già thì con cháu sinh đẻ tại Âu châu, không muốn về xứ, quê hương xưa. Thế là ngọng. Dạo này phong trào cực hữu lên cao muốn đuổi dân di dân về nước như ông thủ tướng mới của Hoà Lan tuyên bố.  

Thường là nước giàu có chiếm đóng các nước nghèo nhưng tại Việt Nam thì ngược lại. Miền Bắc Việt Nam thì nghèo đói hơn miền nam nên sau 75, dân miền Bắc chạy vào nam đông như quân nguyên còn dân miền nam xuống tàu vượt biển vì không thể chạy ra Bắc vì nghèo đói hơn miền nam. Chán Mớ Đời 


Người Anh quốc xem người ái nhỉ Lan là giai cấp thấp hèn, gọi họ là bogtrotters và tiếng tăm người ái nhỉ Lan được bay xa đến tận Hoa Kỳ, thuộc Địa của Anh quốc, vùng đất hứa sau này. Khi mình ở Anh quốc thì người Anh quốc tuy không ra mặt nhưng họ coi thường dân Ấn Độ, da đen, người Tàu đủ trò.


Trước năm 1865, nô lệ da đen có giá trị là $900/ người tương đương với $30,000 hôm nay. Các chủ đồn Điền không muốn nô lệ của họ chết nên bao nhiêu việc nặng khó nhọc đều để cho người ái nhỉ Lan làm. Điển hình là năm 1832, thành phố New Orleans cho đào con kinh mà ngày nay được gọi là new basin canal. Người ta cho biết là các việc nặng nhọc này đều giao phó cho người gốc ái nhỉ Lan vì nếu ai chết thì sẽ được thay thế ngay lập tức còn nô lệ da đen thì phải tốn cả $1000. Các công nhân ái nhỉ Lan không có chủ và không có giá trị về tài chính. Họ cho biết có trên 8000 người ái nhỉ Lan chết khi đào con kênh này. Ngày nay chúng ta rên khóc cho người nô lệ da đen nhưng ít ai hiểu rõ lịch sử của các cộng đồng di dân khác.


Ngày nay cộng đồng người gốc ái nhỉ Lan đều giàu có ở hai xứ Anh quốc và Hoa Kỳ. Hàng năm có lễ thánh Patrick, duyệt binh đủ trò. Vấn đề quan trọng nhất ngày nay tại ba xứ Anh quốc, ái nhỉ Lan và Hoa Kỳ là người nhập cư. Người dân của ba xứ này không thích người nhập cư. Chán Mớ Đời 


Về mặt chính trị và xã hội thì mình không rành lắm nhưng nhập cư di dân có ảnh hưởng trong đời sống của chúng ta. Trong khi những người nhập cư làm tăng GDP và số lượng việc làm, họ thực sự có thể làm giảm mức độ giàu có thực sự của người Mỹ trung bình. Họ sẽ cố gắng làm việc để đạt được trình độ lối sống của người Mỹ trung bình như trường hợp người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Cố gắng tạo dựng  giấc mơ Hoa Kỳ, mua được nhà, cho con học đại học để đạt đến giai cấp trung lưu.


Vấn nạn ngày nay tại Cali, có trên 5.5 triệu người di dân lậu, đủ loại. Da trắng, da đen, da vàng nhưng đông nhất vẫn là các người đến từ Mễ Tây cơ và Trung Mỹ. Họ ở lậu nên nhiều khi phải làm việc lậu nên lương bổng không cao. Vấn đề là nếu một mai, chính phủ nào chống đối nhóm người di dân lậu, muốn trục xuất họ ra khỏi Cali hay Hoa Kỳ. Ai sẽ thay thế họ?


Mình có hỏi ông thợ mộc người Mỹ gốc Ý Đại Lợi, lý do không mướn người Mỹ da trắng. Ông ta cho biết bọn này lừơi lắm. Đi làm thì tới trễ, cứ sau ăn cơm là bắt đầu dọn dẹp tà tà, xếp đồ nghề lên xe để về. Cuối tuần thì thì không muốn làm tăng ca. Cali được xem là tiểu bang sản xuất nông phẩm nhiều nhất nước Mỹ. Vấn đề là không tìm được người Mỹ làm việc trong ngành canh nông. Họ phải mướn thợ từ Mễ Tây Cơ sang theo mùa. Mấy là máy móc bắt đầu thay thế một phần.


Trong tương lai, khi máy móc thay thế con người làm việc thì chúng ta sẽ đi về đâu. Có còn giữ được cuộc sống trung lưu hay sẽ biến thành giai cấp vô dụng vì không có công ăn việc làm, đơn vị sản xuất. Trước đây mình nghĩ làm nghề tay chân chắc sẽ không bị mất việc nhưng nay thấy người máy, làm trong ngành xây dựng, hay hái trái cây đúng chở to lớn còn nhỏ thì đợi thêm vài tuần hay tháng thì mình thất kinh. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 







Đà Lạt, Petit Paris

 Đà Lạt, Petit Paris 
Trước khi đi Việt Nam, có anh quen trên mạng, gốc Đà Lạt gửi cho mình một bờ lốc hay trang nhà về thời Tây, trong đó có một bài nói về Đà Lạt mà họ gọi là Petit Paris. Nói cho ngay mình sinh sống tại Paris đúng 8 năm nhưng không thấy có nét gì Đà Lạt tương tự như Paris nên nghĩ thiên hạ ở Việt Nam, chưa bao giờ đến Paris nên cứ phán bú xua la mua. Nếu nói Đà Lạt có chút gì như Lausanne bên Thuỵ Sĩ ki mình đi dạy ở đại học bách khoa tại thành phố này thì hơi giống nhưng hồ Leman to đùng.

Như chúng ta biết là người Pháp xây dựng Đà Lạt làm nơi nghỉ dưỡng cho binh sĩ và các công chức và dân của họ thay vì chở về Pháp quốc bằng tàu thuỷ, mất thòi gian và tốn kém. Ngoài ra họ cần quảng cáo để các người Pháp hay từ Âu châu lên đây nghỉ dưỡng. Do đó họ phải viết bài giới thiệu về Đà Lạt. Có lẻ vì vậy mà họ gọi Đà Lạt là Petit Paris để câu du khách. Sau đây mình tóm tắt lại bài viết mang tựa đề Trải nghiệm mùa đông tại Đà Lạt, Đông-Dương (passez l’hiver à Dalat, Indochine). 

Article parue le 12 septembre 1955 par l'Agence Publia-Asia 
Toutes Publicités - Presse - Cinéma - Affiches - Calendrier - Vitrines - Créateur de "7 jours à Saïgon et des Planimètres de Saïgon -Cholon
Editeur de l'annuaire officiel des P.T.T. 
61/b rue Pierre Tél : 21.481 Saïgon
Tấm quảng cáo trải nghiệm mùa đông tại Đà Lạt, tiểu Paris 

Tấm quảng cáo đề Đà Lạt cách Paris độ 7 ngày máy bay của hãng hàng không Air France, 22 ngày tàu thủy cách Hải cảng Marseille, 5 tiếng đồng hồ bằng ô tô từ Sàigòn hay 1 đêm ngủ xe lửa couchette từ Sàigòn. Cái này thì mình đoán là xe lửa chạy từ Sàigòn ra Phan Rang sau đó chuyển qua đèo Song Pha lên Đà Lạt. 

Họ quảng cáo đến viếng thăm các người dân bản địa cùng như các môn thể thao như bơi lội, quần vợt, cưỡi ngựa, chèo thuyền, đánh cù,… và săn bắn như săn cọp, trâu, voi,… không quên nhắc đến khách sạn Palace và Du Parc với 120 phòng có phòng tắm riêng. Đặc biệt là có pension từ 65 đến 90 quan một ngày. Chắc kiểu Homestay ngày nay, ở nhà thiên hạ vừa được nuôi ăn cho những ai không đủ tiền để trả khách sạn xịn như Palace hay đông du khách.
Khi xưa lên Đà Lạt chạy xe này, đoán là đèo Prenn
Đây là một căn nhà ở cite Decoux, xây để bán rẻ hay cho thuê. Mình có kể vụ này rồi.

Sau này người Pháp có xây cất một khu vực nhà để cho thuê mà họ gọi là cité Decoux. Các căn nhà cho các gia đình có con cái lên Đà Lạt nghỉ hè, mướn ở đây cho rẻ vì 3 tháng hè. Khu này nằm gần trường học Trần Hưng Đạo sau này, cạnh hồ Vạn Kiếp. Hình như sau này khu vực này dành cho công chức hay giáo sư trường ở. Mình có đến nhà anh bạn có ông anh là giáo sư trường Trần Hưng Đạo.



Đây là phần lộ trình từ Sàigòn đến Định Quán mất 110 km. Có lẻ vì vậy mà khi xưa, mỗi lần dân Đà Lạt đi xe đò về Sàigòn, thường dừng lại tại Định Quán. Hơi mờ, ai tò mò thì thu nhỏ lại.
Lộ trình từ Định Quán đến Đà Lạt.

Bài viết cho biết khi rời khỏi Sàigòn, có thể lấy đại lộ Albert qua Dakao, chạy độ 30 km đến Biên Hoà theo quốc lộ 20. Chạy qua cầu Bình Lợi trên sông Sàigòn và chiếc cầu ở Biên Hoà vì đường một chiều sẽ giảm tốc độ di chuyển. Sau khi rời Biên Hoà sẽ chạy qua các vườn trồng cao su, những làng người tỵ nạn từ miền Bắc, mình đoán chắc khu vực Hố Nai, và họ khuyến cáo không nên chạy qua các khu vực này vì con nít chơi ngoài đường. Mình nghe kể khi xưa, dân Hố Nai rất dữ dằn. Họ cho biết đi đêm thì nên cẩn thận vì có nhiều xe be chở cây trên đường này không mở đèn phía sau xe.

Tại Định quán có những tảng đá kỳ dị lơ lửng chèo veo. Rồi đến một đoạn đường xình lầy khi vào mùa mưa. Sau đó sẽ lên đèo Bảo Lộc độ 10 cây số.
Quảng cáo tiệm ăn giữa đường Sàigòn-Đà Lạt 


Sau khi rời Blao thì sẽ thấy các đồn điền trà và cà phê trong đó có đồn điền của ông ngoại mình, sau này bà vợ sau và cô con gái nuôi đánh bài cúng hết gia tài. Có những thác nước nhưng đường đi đầy đỉa vào mùa mưa rồi đến Djiring, nơi linh mục Jean Cassaigne với trại cùi do ông ta sáng lập. Cách quốc lộ 20, độ 7 cây số là thác Pôngur và thác Gougah cách quốc lộ 300 thước. Mình không biết sau 75, Hà Nội có xây dựng các trại cùi hay không.

Liên Khương là phi trường được sử dụng nhiều nhất trong thời chiến để đi chuyển từ Đà Lạt -Sàigòn. Sau đó thì du khách sẽ lên đèo Prenn trước khi đến Đà Lạt.
.
Quảng cáo hàng không Việt Nam khi xưa



Có bác nào lớn tuổi hơn em, còn nhớ chỗ này là chỗ nào thì cho em xin. Có thể Cầu Đất.


Bà đầm này chắc cũng bỏ của chạy lấy người sau này khi Việt Cộng đóng ở Núi Voi

Đà Lạt cách 50 cây số, vậy độ Phi Nôm.

Chợ Đà Lạt cũ trước khi họ xây chợ Mới năm 1963.

Khi quảng cáo về du lịch Đà Lạt được in ra thì mình chưa ra đời nhưng nói chung thì 19 năm sau khi mình đi Tây thì chặng đường Sàigòn-Đà Lạt cũng ít thay đổi. Xe đò Minh Trung ngừng tại định Quán cho bà con đi vệ sinh và ăn uống. Xe chạy qua Hố Nai thì tài xế lái chậm lại, rồi thấy vườn cao su, đến sông Đồng Nai, Biên Hoà, xa lộ Biên Hoà rồi đến Hàng Xanh. 

Đọc bài này thì giúp mình đi về miền quá khứ vì ngày nay đi đường này thì chả thấy gì cả ngoài nhà và nhà xây san sát bên quốc lộ. Ngày nay, con cháu mình đi đường này thì không còn nhìn thấy những gì khi xưa mình đã đi qua. Bánh xe lịch sử đã nghiền nát ký ức một thời. Chán Mớ Đời 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen
Nguyễn Hoàng Sơn