Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng

 Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng


Cách đây mấy năm có một phim kể về cuộc đời ông Vivien Thomas, người da đen vì kỳ thì nên không được đi học trường y khoa. Cũng như câu truyện về cuộc đời bác sĩ Ben Carson, nổi tiếng về phẫu thuật tim, sau trở thành bộ trưởng gia cư của Hoa Kỳ. Mình xin tóm tắc lại đây:


Tại Nashville, tiểu bang Tennessee, năm 1930, Vivien Thomas sinh ra trong một nước Mỹ bị chia rẽ bởi chủng tộc, luật pháp và những giới hạn vô hình. Miền Nam thời Jim Crow không chỉ hạn chế cơ hội, nó áp đặt số phận. Là một người da đen, Thomas được dạy từ khi sinh ra rằng ông không được phép trở thành điều gì. Nhưng ông vẫn nuôi một ước mơ: trở thành bác sĩ. Tương tự con cháu nguỵ quân nguỵ quyền sau 40/4/1975, đi kinh tế, không được đi học, cách mạng đã đặt số phận, thậm chí ngày này vẫn lơ lững.

Với quyết tâm mạnh mẽ, ông làm thợ mộc và dành dụm từng đồng để theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp và Công nghiệp Tennessee, với mục tiêu cuối cùng là vào trường y. Kế hoạch của ông cẩn thận và rất kỷ luật cho đến khi lịch sử can thiệp. Khi cuộc Đại Suy Thoái xảy ra, ngân hàng nơi ông gửi tiền bị phá sản. Chỉ trong chốc lát, toàn bộ số tiền tiết kiệm biến mất, và con đường chính thức dẫn đến ngành y cũng tan biến theo cánh chim về trời tha ma.


Mới mười chín tuổi, Thomas nhận công việc phụ tá phòng thí nghiệm tại Bệnh viện Đại học Vanderbilt, với mức lương mười hai đô la một tuần. Nhiệm vụ của ông rất đơn giản và bị giới hạn rõ ràng: dọn dẹp phòng thí nghiệm, chăm sóc động vật, và im lặng. Ông không được kỳ vọng sẽ suy nghĩ, đặt câu hỏi hay đóng góp ý kiến. Tương tự mình có anh bạn học khi xưa, đậu tú tài thì vào đại học y khoa Huế. Sau 75, đang ngồi tỏng lớp, Việt Cộng chạy vào kéo đầu đi ra, không cho học nữa. Lý do bố anh ta là sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà. Việt Nam sau 75 có rất nhiều vụ này, em mình đậu đủ điểm hay dư vào đại học cũng không được cách mạng cho đi học. Ở nahh đi đang len, hay làm thợ may.


Ông quan sát từng thí nghiệm. Ông lắng nghe những cuộc thảo luận vốn không dành cho mình. Ông đặt ra những câu hỏi chính xác và thông minh, nhanh chóng hiểu được mục tiêu của từng quy trình. Sự tò mò và khả năng hiểu sâu sắc của ông không qua được mắt của bác sĩ Alfred Blalock, người phụ trách phòng thí nghiệm. Blalock bắt đầu dạy Thomas các kỹ năng phẫu thuật, dù Thomas không có bằng y khoa hay đào tạo chính thức.


Thứ Thomas có là đôi tay vững vàng, trí nhớ xuất sắc và hiểu biết sâu về giải phẫu học. Chẳng bao lâu, ông đã thực hiện các ca phẫu thuật phức tạp trên động vật thí nghiệm với sự chính xác và tự tin. Đến năm 1933, trên thực tế Thomas không còn chỉ là một trợ lý, ông đã trở thành cộng sự nghiên cứu của bác sĩ Blalock. Nhưng trên giấy tờ, mọi thứ vẫn không thay đổi. Chức danh, tiền lương và cách đối xử với ông vẫn thấp hơn rất nhiều so với vai trò thật sự của ông.


Năm 1941, bác sĩ Blalock nhận chức Trưởng khoa Phẫu thuật tại Bệnh viện Johns Hopkins, nhưng chỉ với điều kiện Thomas phải đi cùng. Bệnh viện đồng ý, song một lần nữa chỉ trao cho Thomas một chức danh kỹ thuật thấp, phản ánh trật tự chủng tộc cứng nhắc của thời đại.


Tại Johns Hopkins, họ đối mặt với một thảm kịch y học. Trẻ sơ sinh đang chết vì một dị tật tim bẩm sinh gọi là tứ chứng Fallot, thường được gọi là “Hội chứng Trẻ Xanh.” Dị tật này khiến máu không đến được phổi đầy đủ, khiến cơ thể thiếu oxy. Phần lớn trẻ em không sống quá tuổi thơ. Mình có biết một ông kêu khi sinh ra bị hội chứng này, may nhờ được giải phẫu được nên sống đến ngày nay.


Bác sĩ Helen Taussig đặt ra một câu hỏi táo bạo: liệu phẫu thuật có thể làm tăng lưu lượng máu đến phổi hay không? Bác sĩ Blalock quay sang ông Vivien Thomas và hỏi liệu ông có thể tìm ra cách thực hiện điều đó.


Ông Thomas lao vào công việc. Trong nhiều tháng, ông phẫu thuật trên chó, thực hiện những ca chưa từng có tiền lệ. Ông thiết kế dụng cụ mới, sáng tạo kỹ thuật mới, và thất bại hết lần này đến lần khác trước khi thành công. Cuối cùng, ông phát triển một phương pháp nối động mạch dưới đòn với động mạch phổi, tạo ra một con đường mới cho máu đến phổi. Đó là một bước đi táo bạo và đầy rủi ro.


Ngày 29 tháng 11 năm 1944, họ tiến hành phẫu thuật cho một bé gái mười lăm tháng tuổi tên là Eileen Saxon. Bé chỉ nặng chín pound và đang hấp hối. Trong suốt ca mổ kéo dài bốn tiếng rưỡi, Blalock cầm dụng cụ, còn Thomas đứng phía sau trên một chiếc ghế đứng, lặng lẽ chỉ dẫn từng thao tác. Mình đoán là thời đó có sự kỳ thị chủng tộc nên có lẻ người da đen không được đụng đến cơ thể người da trắng.


“Vào sâu hơn.”(“Deeper.”)

“Lệch sang trái một chút.”(“A little to the left.”)

“Dùng chỉ khâu nhỏ hơn ở chỗ đó.”(“Use smaller sutures there.”)


Khi ca phẫu thuật kết thúc, đôi môi xanh tái của Eileen chuyển sang hồng. Các đầu ngón tay cũng hồng trở lại. Oxy cuối cùng đã đến được cơ thể bé. Ca mổ đã thành công. Thủ thuật này được biết đến với tên gọi shunt Blalock–Taussig. Nó đã làm thay đổi y học, cứu sống hàng nghìn trẻ em và đặt nền móng cho ngành phẫu thuật tim nhi khoa. Bác sĩ Blalock trở nên nổi tiếng toàn cầu trong khi Vivien Thomas thì không.


Trong hai mươi hai năm, Thomas đào tạo các bác sĩ nội trú phẫu thuật tại Johns Hopkins,  nhiều người sau này trở thành những tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực phẫu thuật tim. Ông là người thầy, người hướng dẫn, và thường là người có tay nghề cao hơn họ. Thế nhưng, ông chưa bao giờ được gọi là “Bác sĩ,” không được liệt kê là giảng viên, và không xuất hiện tên trên các công trình khoa học. Ông ăn cùng nhân viên bảo trì, trong khi những người ông đào tạo thì thăng tiến về địa vị và danh tiếng.


Mãi đến năm 1971, sau hơn bốn thập kỷ cống hiến, Johns Hopkins mới phong cho ông chức danh Giảng viên Phẫu thuật, không phải Giáo sư, mà chỉ là Giảng viên. Đến lúc đó, những người hiểu rõ nhất đều đã biết sự thật.


Năm 1976, bệnh viện vinh danh ông bằng một bức chân dung đặt cạnh bác sĩ Blalock. Trong buổi lễ, các học trò cũ đứng lên vỗ tay. Một số người đã rơi nước mắt. Cũng trong năm đó, Thomas được trao bằng tiến sĩ danh dự. Ở tuổi sáu mươi sáu, cuối cùng ông được gọi là Bác sĩ Vivien Thomas — sau bốn mươi sáu năm làm công việc của một bác sĩ phẫu thuật.


Vivien Thomas qua đời năm 1985, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi. Năm 2004, câu chuyện cuộc đời ông được giới thiệu rộng rãi qua bộ phim của HBO Something the Lord Made. Ngày nay, di sản của ông vẫn sống mãi qua các chương trình học, học bổng mang tên ông, và một phương pháp phẫu thuật đã cứu sống con người hơn tám mươi năm qua. Ai buồn đời như mình muốn xem cuốn phim tích cực thay vì nghe dân chửi và ma gà chửi nhau. Miễn phí trên YouTube 

 https://youtu.be/VZfjxShZd6Q?si=59qmJeo_qyQPNRZO


Trong phần lớn sự nghiệp, Vivien Thomas bị trả lương và đối xử thấp hơn rất nhiều so với năng lực thật sự của mình. Ông đứng trên một chiếc ghế nhỏ để người khác đứng trong ánh hào quang. Ông tiếp tục làm việc. Ông tiếp tục giảng dạy. Ông tiếp tục cứu người.


Họ gọi ông là người lao công. (They called him a janitor.)

Lịch sử gọi ông là người anh hùng. (History calls him a hero.)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Đất Xanh hay Mỏ Xanh.

 Đất Xanh hay Mỏ Xanh.


Nhớ lần đầu tiên mình sang Hoa Kỳ chơi, có anh bạn xưa ở Đà Lạt tặng cho cuốn sách có tựa đề “you can negotiate anything” của luật sư Herbert Cohen. Ngồi máy bay đọc thấy mê vì ông ta chỉ những chiêu thương lượng, kiểu nhẹ nhàng mà đa số ưa thích, kiểu Liên Sô la hét om sòm, mình thích nhất là cách giả ngu, người ta đã tìm cách close cái deal rồi tự nhiên chỉ cần bỏ nhỏ, hỏi một câu cực ngu, không dính dáng gì hết khiến đối tác ngớ, nghĩ mình ngu hay thiểu năng nên mất phương hướng, phải lập lại từ đầu. 


Sau này mình sang Hoa Kỳ làm việc, có đọc cuốn sách của ông Trump “Art of the deal” rồi sau đó 2 cuốn sách của cộng sự viên của ông ta nói rõ cách thương lượng của công ty về các Deal ở New York mà ông Trump thực hiện được nhờ cái tài, hay lối bỏ nhỏ khiến đối tác đều nghĩ ông ta có vấn đề nói chuyện cõi trên. Nay ông ta làm tổng thống khiến mình buồn cười khi nghe thiên hạ chửi ông ta ngu ngốc này nọ. Mình ngu lâu dốt bền đâu có làm gì được trong đời đâu, cuối đời vẫn phải đi làm nông dân, bán bơ sống qua ngày trong khi ông ta trở thành tỷ phú, này nọ. 


Mình đọc thêm về Greenland vì thời ông Trump lên lần đầu đã nói đến vấn đề này, mình có kể rồi. Nay tài liệu nói rõ hơn lý do. Khi thương lượng, người ta lúc nào cũng đưa ra một ý chính để thiên hạ dựa vào đó để thương lượng nhưng nếu ai hiểu thương lượng thì phải hiểu nguyên do chính. Báo chí chỉ đưa tin tức để bán cho thiên hạ nghe có lý nưhng không bao giờ nói lên sự thật.


Điển hình đi xem nhà bán, hỏi chủ nhà lý do bán thì họ đều nói là muốn mua nhà lớn bú xua la mua. Trong khi đó mình đã có tin tức họ thiếu nợ ngân hàng trả không nổi. Nên phải bán. Nên ngoài mặt vẫn làm như người đang mơ.


Sai lầm nguy hiểm nhất khi nói về “Greenland” là tin rằng câu chuyện này thực sự nói về Greenland. Chúng ta được bảo rằng đây là một cuộc khẩu chiến ngoại giao, một ám ảnh bất động sản, một sự quay ngược hỗn loạn về chủ nghĩa đế quốc thế kỷ 19. Báo chí xem nó như một màn trình diễn. Các nhà bình luận tranh cãi liệu chính quyền có nghiêm túc hay chỉ đang trêu ngươi. Người châu Âu bày tỏ phẫn nộ trước sự xúc phạm chủ quyền. Toàn bộ sự việc được đóng khung như tiếng ồn: kỳ quặc, đáng xấu hổ và rốt cuộc là không đáng kể. Cách đóng khung này thì dễ chịu. Và gần như chắc chắn là sai.


Cách đọc thông thường về “vở kịch Greenland” là sự bất tài ngoại giao diễn ra theo thời gian thực. Chính quyền đe dọa dùng vũ lực, bị bác bỏ, leo thang, lại bị bác bỏ, rồi rút lui sang ngôn ngữ mua bán. Các nhà bình luận lắc đầu. Người châu Âu tỏ ra bối rối. Những gì trông như loạng choạng thực ra là một chuỗi đàm phán kiểu Trump cổ điển. Mở đầu bằng một yêu sách gây sốc để yêu sách thực sự của Đan Mạch trở nên “hợp lý” hơn khi so sánh.


Trình tự như sau: Phát tín hiệu thâu tóm. Đan Mạch cười nhạo. Nhắc đến vũ lực. Đan Mạch giật mình. Khăng khăng nói đến vũ lực, to tiếng, lặp đi lặp lại. Đan Mạch đạt đỉnh phẫn nộ. Những quốc gia âu châu khác đứng về phía họ. Rồi xoay trục. Một đề nghị mua lại xóa sạch toàn bộ nợ quốc gia của Đan Mạch (142 tỷ USD) và gần như gấp đôi GDP của Greenland (~450 tỷ USD)… Và đột nhiên câu hỏi không còn là “các ông dám sao” mà là “khoan đã, bao nhiêu cơ?” Ngôn từ về vũ lực chưa bao giờ là kế hoạch. Nó là cái mỏ neo. Đan Mạch không còn bảo vệ chủ quyền trước một kẻ xâm lược đế quốc; Đan Mạch đang đánh giá một đề xuất tài chính. Khung câu chuyện đã dịch chuyển.


Phép toán không hề phi lý. Thương vụ có lẽ tự hoàn vốn trong vòng một thế hệ. Riêng khoáng sản đã đáng giá gấp nhiều lần giá mua. 57.000 cư dân Greenland trở thành triệu phú trên giấy. Đan Mạch trút bỏ một gánh nặng ngân sách và xóa nợ. Hoa Kỳ bảo đảm chuỗi cung ứng đất hiếm cho quân đội của thập niên 2030.


Điều đang diễn ra thực chất là một cuộc thôn tính chuỗi cung ứng khoác lên trang phục của tham vọng lãnh thổ. Mục tiêu không phải một hòn đảo; mà là hai cấu trúc địa chất ở Nam Greenland, Kvanefjeld và Tanbreez, nơi chứa các nguyên tố đất hiếm nặng mà không có chúng thì không thể chế tạo bất kỳ hệ thống vũ khí tiên tiến nào.


Dysprosium. Terbium. Những cái tên chẳng có ý nghĩa gì với công chúng nhưng lại có ý nghĩa sống còn với Lầu Năm Góc. Các nguyên tố này là không thể thay thế trong bộ truyền động của tiêm kích F-35, cánh lái dẫn đường của đạn chính xác, mảng sonar của tàu ngầm lớp Virginia, và nam châm vĩnh cửu của mọi động cơ xe điện. Trung Quốc kiểm soát hơn 90% khâu chế biến toàn cầu. Hoa Kỳ hầu như không kiểm soát gì. “Việc mua” Greenland không phải là một thương vụ đất đai. Đó là nỗ lực phá vỡ một thế kìm cổ.


Năm 2026, các thị trường dự đoán đã trở thành thứ gần nhất với tín hiệu giá trung thực về rủi ro địa chính trị. Và lúc này, chúng đang kể hai câu chuyện khác nhau. Kalshi, sàn giao dịch được Mỹ quản lý, định giá xác suất Hoa Kỳ thâu tóm Greenland ở khoảng 42%. Polymarket, nền tảng phi tập trung với cộng đồng tiền mã hóa toàn cầu và các nhà đầu cơ ngoài khơi, định giá ở mức 15–23%.


Đây không phải là kém hiệu quả thị trường mà là sự bất đồng về bản chất của quyền lực. Những người đặt cược trên Kalshi, các định chế, có trụ sở tại Mỹ, gắn chặt với hệ thống tài chính Mỹ tin rằng chính quyền sẽ ép thương vụ đi đến cùng. Họ đang định giá sự cưỡng bức. Những người đặt cược trên Polymarket quốc tế, hoài nghi về tính toàn năng của Mỹ, thường hoạt động ngoài phạm vi pháp lý của Mỹ—tin rằng sự kháng cự của châu Âu sẽ trụ vững. Họ đang định giá các chuẩn mực.


Khoảng chênh 20 điểm giữa hai thị trường này là tín hiệu quan trọng nhất thế giới lúc này. Nếu Polymarket tăng để gặp Kalshi, điều đó có nghĩa là “tiền thông minh” toàn cầu đã chấp nhận rằng Hoa Kỳ sẽ phá vỡ luật pháp quốc tế để bảo đảm sườn Bắc Cực.


Tương tự Venezuela, có mõ dầu nhiều nhất thế giới mà mấy ông tàu lại bò lại mua dầu thô rẻ nên phải thương lượng với vợ chồng bà chủ tịch quốc hội, bà lên làm tổng thống, không chơi với anh tàu nữa. Có tiền lệ cho sự chấp nhận như vậy. Vài tuần trước, một nhà giao dịch đặt cược 32.000 USD vào việc lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro và thu về hơn 400.000 USD khi lực lượng Mỹ bắt giữ ông ta. “Hiệu ứng Maduro” đã hiệu chỉnh lại khẩu vị rủi ro trên mọi thị trường địa chính trị. Các nhà giao dịch không còn định giá đàm phán ngoại giao. Họ đang định giá các cuộc thâu tóm thù địch.


Người quan sát trung bình thấy ba mẩu tin riêng rẽ: tranh chấp thương mại với châu Âu, một sự ám ảnh kỳ lạ với Greenland, và vài sự cố mất kết nối internet cục bộ ở vùng Baltic. Chúng không hề tách rời. Đó là ba mặt trận của một xung đột duy nhất.


Mặt trận tài nguyên: Chính quyền mỹ đang bảo đảm đầu vào khoáng sản cho quân đội thập niên 2030. Mỏ Tanbreez, giàu đất hiếm nặng, không vướng phức tạp uranium, do lợi ích phương Tây sở hữu là viên ngọc vương miện. Mỏ Kvanefjeld lân cận, có phần vốn của Trung Quốc thông qua Shenghe Resources, là vấn đề cần vô hiệu hóa. Kiểm soát Greenland giải quyết cả hai.


Mặt trận kinh tế: Các mức thuế công bố đối với Đan Mạch, Pháp, Đức, Anh và bốn quốc gia châu Âu khác không phải biện pháp bảo hộ. Chúng là các đòn đánh kinh tế dẫn đường chính xác nhằm vào những kẻ bất đồng chính trị. Thỏa thuận Thịnh vượng Công nghệ Mỹ–Anh trị giá 31 tỷ bảng, trung tâm dữ liệu của Microsoft, đầu tư R&D của Google đã bị đình chỉ vô thời hạn. Thông điệp rất rõ ràng: sự đồng thuận với mục tiêu địa chính trị của Mỹ là cái giá của vốn Mỹ.


Mặt trận động năng: Trong khi các nhà ngoại giao tranh cãi về thuế quan, tàu Nga kéo neo cào qua các tuyến cáp viễn thông ở Baltic. Tàu chở hàng Fitburg, bị Phần Lan và Estonia tịch thu, là một phần của “Hạm đội Bóng tối”, những con tàu có quyền sở hữu mờ ám hoạt động dưới ngưỡng chiến tranh công khai. Đây không phải tai nạn. Đó là các hoạt động tạo hình thế, dò tìm điểm yếu, phô diễn khả năng cắt đứt hạ tầng số gắn kết liên minh phương Tây.


Người quan sát trung bình thấy hỗn loạn. Thực tế tình báo thấy sự nhất quán: thâu tóm tài nguyên, cưỡng bức kinh tế và chuẩn bị động năng, phối hợp đồng thời. Phản ứng của châu Âu trước tất cả những điều này là viện dẫn luật pháp quốc tế, chủ quyền và trật tự dựa trên luật lệ. Những lời viện dẫn ấy thỏa mãn cảm xúc. Chúng cũng vô nghĩa về mặt chiến lược.

Luật pháp quốc tế chỉ vận hành giữa các tác nhân đồng ý bị ràng buộc bởi nó. Nó giả định sự thừa nhận lẫn nhau về tính chính danh, một khung quy tắc chung và một cơ chế thực thi đủ sức cưỡng chế tuân thủ. Không điều kiện nào trong số này tồn tại. Không có chủ quyền toàn cầu. Không có độc quyền bạo lực. Các thỏa thuận chỉ bền cho đến khi lợi ích phân kỳ.


Hoa Kỳ đã quyết định rằng việc bảo đảm chuỗi cung ứng đất hiếm quan trọng hơn việc duy trì dàn xếp hậu chiến với châu Âu. Các thị trường dự đoán đã định giá điều này. Các hoạt động phá hoại cáp đã chứng minh điều đó. Các thông báo thuế quan đã nói thẳng ra.


Các nhà lãnh đạo châu Âu có thể viện dẫn chuẩn mực. Họ không thể cưỡng chế thực thi. Và những tác nhân công khai bác bỏ khung khổ dù là kéo neo qua cáp ngầm hay đòi nhượng bộ lãnh thổ dưới áp lực kinh tế đều giành lợi thế trước những bên tự trói mình bằng các ràng buộc mà đối phương không công nhận.


Đây là sự bất đối xứng của thời khắc hiện tại. Nó không mới. Thucydides đã chỉ ra từ hai mươi lăm thế kỷ trước: kẻ mạnh làm những gì họ có thể, kẻ yếu chịu những gì họ phải chịu. Điểm mới của năm 2026 là tốc độ chiếc mặt nạ rơi xuống. Có lẻ vì vậy mà các tên tài phiệt ủng hộ ông Trump đắc cử vì ông ta tỉnh bơ khi nói chuyện khi thương lượng. Không mắc cỡ này nọ. Thiên hạ theo tiêu chuẩn được giáo huấn từ bé không chấp nhận nên chửi ông ta nhưng ai có học về thương lượng thì hiểu rõ lý do này.


Câu chuyện công chúng mang lại sự an ủi: đây là hỗn loạn, bất tài, một sự xấu hổ ngoại giao rồi sẽ tự tan biến. Thực tế vận hành thì không hề an ủi. Hoa Kỳ đang thôn tính một chuỗi cung ứng. Châu Âu đang bị ép buộc phải căn chỉnh. Nga đang thăm dò hạ tầng gắn kết liên minh. Công chúng bị phân mảnh trong các silo thông tin khiến phản ứng tập thể bất khả. Các thị trường dự đoán đang định giá những kết cục mà diễn ngôn chính thức vẫn coi là không tưởng.


Những tuyên bố trên báo chí không phải vô nghĩa. Nhưng hiếm khi mang tính quyết định. Các lực quyết định vận hành âm thầm, được dẫn dắt không phải bởi chuẩn mực mà bởi đòn bẩy, không phải bởi luật pháp mà bởi địa chất, không phải bởi nguyên tắc mà bởi logic không thể giản lược của việc ai kiểm soát các đầu vào cho thế hệ vũ khí tiếp theo (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Trí Tuệ Nhân Tạo và tương lai

 Trí Tuệ Nhân Tạo và tương lai

Dạo này thấy thiên hạ thất nghiệp như điên, nhà cửa xuống te tua nên không biết thế hệ con mình sẽ đi về đâu. Vào đại học, người ta kêu học cái này cái nọ để rồi ra trường chả có việc làm. Thậm chí các sinh viên tốt nghiệp các đại học danh tiếng như Harvard, mất hơn một năm trời để kiếm được việc mà không phải việc mong muốn, thêm lương thấp. Lại mang thêm cái nợ khổng lồ mượn để đi học trường danh tiếng.

Vấn đề ngày nay mọi việc thay đổi nhanh chóng. Mình dùng AI để làm kế toán cho cả năm nhanh kinh hồn. AI cho biết làm cái này và đưa thêm ý kiến có muốn làm cái này cái nọ. Không cần Quickbooks nữa. Mình nghĩ các loại khác như làm một tin, bảng tính, báo cáo, dòng mã, văn bản pháp lý, bản phân tích, thiết kế, hay chiến dịch marketing thì chắc chúng ta không còn chỉ cạnh tranh với con người nữa mà đang cạnh tranh với một thứ mà: Không bao giờ ngủ, có thể nhân bản lên hàng triệu phiên bản ngay lập tức, chi phí vận hành chỉ tính bằng xu, tự cải thiện theo cấp số nhân.


Cứ tưởng tượng thiết kế một căn nhà, có thể có nhiều cách và rẻ thêm đẹp nữa. Ngoài ra AI có thể vẽ nhanh nên mình không biết tương lai ngành kiến trúc sư đi về đâu. Không cần thợ vẽ nữa.


AI không cần văn phòng, phúc lợi hay giờ nghỉ cà phê nên rẻ, không cần trả giờ phụ trội. AI đã sống sẵn bên trong chính những phần mềm mà chúng ta đang dùng. Trí tuệ nhân tạo đọc cùng tài liệu, chạy cùng truy vấn, và tạo ra cùng loại sản phẩm, chỉ là nhanh hơn, rẻ hơn, và ngày càng tốt hơn.


Khi nghĩ đến các nhà phân tích, kế toán, trợ lý pháp lý hay bác sĩ chẩn đoán hình ảnh. Các lập trình viên tầm trung, chuyên viên mô hình tài chính như đầu tư mua cổ phiếu nào. Thậm chí cả nhiều vai trò “sáng tạo” mà bản chất chỉ là sắp xếp lại thông tin. Họ không dễ bị thay thế vì thiếu kỹ năng. Họ dễ bị thay thế vì công việc của họ tồn tại hoàn toàn trong môi trường mà AI sinh ra để thống trị: thông tin thuần túy.


Giờ hãy bước vào một công trường xây dựng, một trang trại, một nhà máy, một căn bếp công nghiệp. Ở đó, chúng ta phải đối mặt với: trọng lực, thời tiết, sự mỏi và hao mòn của vật liệu, môi trường con người hỗn loạn, khó đoán, nhu cầu phán đoán vật lý và sự khéo léo trong thời gian thực.


AI có thể thiết kế mối hàn, có thể mô phỏng hệ thống ống nước, có thể tối ưu hóa bản vẽ. Nhưng cho đến khi robot hình người đạt được độ trưởng thành và quy mô thực sự, vẫn cần con người cầm mỏ hàn, vặn ống, đứng trên thang, hay thu hoạch mùa màng trong bùn đất. Chính lực cản đó mới quan trọng, nó mua thêm thời gian vài năm, có thể cả một thập kỷ hoặc hơn. Mình có thấy các người máy được thiết kế để có thể làm các công việc của nông dân nhưng có thể rất lâu mới có thể mua vì khá đắt.


Điều này đã được nhắc đi nhắc lại: trong các nhà máy ô tô, hàn thân xe đã được tự động hóa từ lâu. Nhưng những công việc vật lý lặt vặt, vụn vặt, không theo khuôn mẫu. Vẫn là đôi tay con người rất cần thiết, Ít nhất là hiện tại.


Suốt nhiều thế hệ, xã hội bán cho chúng ta một kịch bản duy nhất: đi học đại học danh tiếng, dù tốn tiền, lấy bằng cấp cao, kiếm một công việc văn phòng sạch sẽ, trí thức vì nghề tay chân là dành cho những người “không thành công”, đúng hơn là không thông minh. Chúng ta bắt con cháu học học học mãi.


Chúng ta đã đẩy hàng triệu người rời xa con đường nghề nghiệp thực hành, tôn vinh tầng lớp làm việc với laptop, và coi thường lao động tay chân như lựa chọn hạng hai. Họ đã bỏ các trường dạy nghề tay chân, kỹ thuật ,… hàng năm có đến trên 3 triệu học sinh không tốt nghiệp trung học phổ thông tại Hoa Kỳ, họ bỏ các trường dạy nghề tỏng khi ở Âu châu, chỉ bắt buộc học chữ đến thi trung học. Sau đó thì có thể chuyển qua học nghề nếu không thích học chữ lên đại học. Học nghề sửa điện, thay ống nước, thợ hàn này nọ vẫn kiếm được tiền nhiều hơn.


Kết quả là gì? Một thế hệ gánh nợ, dán mắt vào màn hình, tạo ra các sản phẩm số mà AI giờ đây có thể sao chép với tốc độ siêu nhân. Trong khi đó, đứa trẻ phớt lờ kịch bản ấy, đi học hàn, đi điện, sửa HVAC, vận hành máy móc nặng lại vô tình xây dựng một trong những hàng rào chống tự động hóa bền vững nhất trên hành tinh hiện nay. Hóa ra, việc di chuyển các nguyên tử mới thật sự quan trọng.


Đây không phải là sự kết thúc của công việc mà là sự kết thúc của ảo tưởng rằng một số con đường nào đó mặc nhiên là an toàn. Sự phân hóa mới sẽ không còn là cổ trắng (trí thức) vs. cổ xanh (nhân công lao động). Nó sẽ là: những người biết “sử dụng” AI, khuếch đại kỹ năng, nhân bội năng suất, và liên tục thích nghi so với những người đứng yên chờ con sóng ập tới, đánh chiếc thuyền mong manh của họ tan theo biển sóng.


Robot tiên tiến rồi cũng sẽ thu hẹp khoảng cách với lao động vật lý. Nhưng thời gian là yếu tố sống còn. 5–10 năm tới sẽ giống như một cơn sóng xung kích siêu thanh đối với bất kỳ ai mà toàn bộ giá trị chỉ gói gọn trong việc “di chuyển các bit trên màn hình”.


Những công việc buộc bạn phải xuất hiện trong thế giới thật, lấm lem tay chân, và vật lộn với vật chất thực có một con hào tự nhiên mà phần mềm thuần túy chưa thể vượt qua, ít nhất là bây giờ. Xã hội đã dành hàng chục năm để nói với mọi người rằng nghề tay chân là thấp kém. Hóa ra, chính những nghề đó đang âm thầm xây dựng tuyến phòng thủ cuối cùng chống lại thứ công nghệ mà xã hội tôn thờ.


Cuộc cách mạng AI không chỉ nhắm vào việc làm. Nó đang nhắm thẳng vào những giả định của chúng ta về việc công việc nào còn đáng để làm và đang viết lại lịch sử của loài người thay đổi nhanh chóng hơn cả cách mạng kỹ nghệ.


Vấn đề là thế hệ con cháu của chúng ta sẽ phải đối đầu ra sao. Thằng con mình đi học đại học, ra kỹ sư đi làm không có kinh nghiệm nên được trả tiền lương thấp hơn một người thợ mộc hay thợ điện. Tại sao bỏ 4 năm tốn tiền đại học để lãnh lương thua một tên thợ vịnh. Trong 4 năm đại học, có thể học cái nghề sửa máy móc, máy giặt, truyền hình,…. Lợi tức cao hơn. Lý do là khoa bảng, cha mẹ muốn khoe con mình là kỹ sư. Mình thì bằng cấp chả cần, chỉ cần kiếm tiền nuôi vợ con là đủ. Chớ có bằng mà không có việc làm thì cạp đất mà ăn. Có bằng cấp đại học nhưng nếu không giỏi thì qua 40 tuổi là bị công ty sa thải khó kiếm việc lại, lại phải đi học nghề bán bảo hiểm hay nhà cửa. Với lương ở 40 tuổi, công ty có thể mướn 3 kỹ sư mới ra trường, có đầu óc nhanh nhẹn, làm tăng ca, không lo chuyện gia đình.


Tại sao chúng ta không nhìn rõ vấn đề, thay vì bị các trường Đại học khuyến dụ cho con cháu theo học đại học để rồi ra trường kiếm không được việc. Mình rất vui khi thằng con đồng ý theo học nghề của mình, chăm sóc vườn bơ, quản lý các căn nhà cho thuê và tiếp tục học nghề đi mua nhà cho thuê. Kỹ sư học ra đi làm vớ vẩn rồi nay AI được sử dụng khiến các kỹ sư trở thành vô dụng ngoại trừ những ai có tầm nhìn xa về kỹ thuật toán, về tương lai của công nghệ, trí tuệ nhân tạo. Có lẻ văn hoá của chúng ta bị ám ảnh bởi khoa bảng, phải có bằng cấp. Một nha sĩ ra trường ngày nay tại Hoa Kỳ có thể nợ trên $300,000. Và nếu theo học thêm về chuyên khoa thì $500,000. Mình có thằng cháu học bác sĩ ra nói là muốn làm về quản lý nhà thương chi đó vì ngày nay, chữa bệnh đã có internet. Cứ vào mạng rồi hỏi bệnh tình của bệnh nhân ra sao thì họ cho biết phải cho uống thuốc gì này nọ. Trong tương lai nhà thương sẽ bớt cần bác sĩ vì một số có thể sử dụng người máy như hiện tại họ đã sử dụng để mỗ, giải phẫu,… bác sĩ có thể chẩn đoán bệnh tình của bệnh nhân qua mạng.


Một bà mễ, không biết tiếng anh, đi chùi nhà lương một ngày $350, chả cần học đại học gì cả. Một người thợ sửa xe hơi có thể làm lương cao hơn và được trọng dụng hơn là một kỹ sư viết lập trình. Thế giới đang thay đổi với vận tốc khủng khiếp mà nếu con cháu chúng ta không ý thức được sự việc, chúng sẽ bị bỏ xa và sẽ được xếp vào giai cấp vô dụng, được chính phủ trợ cấp mỗi tháng một ít tiền để khỏi phải nổi loạn. Đó là tương lai của loài người, sinh con ít, sống già, được chính phủ chăm sóc rồi chết. Tương lai thế giới sẽ có dân số giảm và đa số chỉ là những người biết áp dụng, có viễn kiến về tương lai, sử dụng trí tuệ nhân tạo để làm đẹp cho đời cho người.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Thế hệ di dân người Việt đầu tiên

 Thế hệ di dân người Việt đầu tiên 


Tuần này đến phiên mình đọc diễn văn tại hội Toastmasters. Mình chọn đề tài về người Việt di dân để giải thích cho người Mỹ trắng về sự đóng góp của người Việt tỵ nạn. Mình thấy sự lên tiếng của mình với một nhóm mỹ trắng mỹ đen tuy ít độ 20 người nhưng có thể đem lại sự gần gũi, thông cảm của họ đối với người Việt tỵ nạn. Mình sinh hoạt với người Mỹ qua các hội hàng tuần, như hội Lions quốc tế với những phát biểu của mình về các vấn đề xã hội, kinh tế tại Hoa Kỳ nhất là lúc này vấn đề di dân rất sôi nổi. Từ những thông tin của mình có thể giải thích cho họ hiểu về người Việt tỵ nạn và họ sẽ là những phát ngôn viên cho cộng đồng, bạn bè của họ về người Việt tỵ nạn. Nếu mọi người Việt tại Hoa Kỳ đều làm như vậy thì cộng đồng người Việt sẽ được yêu thích bởi các cộng đồng người Mỹ khác.


Người Mỹ bị tuyên truyền của hai bên nên có phản ứng chống lại người di dân, cho rằng đa số sang Hoa Kỳ để ăn trợ cấp bú xua la mua. Còn người Việt chúng ta cứ chửi nhau bò vàng bò đỏ hay dân chửi và Mà Gà chả có đem lại lợi lộc cho cộng đồng người Việt. Tốt nhất là nói chuyện với người Mỹ về người Việt tỵ nạn nhất là sự thành công của người Việt. Có ông mỹ từng là giám đốc ngân hàng nói với mình là người Việt tại Hoa Kỳ có lợi tức cao hơn người Mỹ trắng khiến mình không tin nhưng xem lại qua thì đúng thật. 


https://www.pewresearch.org/race-and-ethnicity/fact-sheet/asian-americans-vietnamese-in-the-u-s/


Mình là người di dân nên phải lên tiếng, chớ người Mỹ nhất là mỹ trắng không rõ tường nên hay bị xách động. Diễn văn tuần này mình nói đến một người Mỹ gốc việt, tỵ nạn đã tặng tiền tươi cho đại học Irvine, và tên ông ta được đặt tên cho một toà nhà trong khuôn viên của đại học. Tò mò mình tìm kiếm thêm các người Việt di dân tỵ nạn đã đóng góp cho xứ sở này. Chửi bới nhau bò đỏ bò vàng bò xanh trên mạng không giúp người Mỹ hiểu được người Việt tỵ nạn. Vụ này mình có kể trong bài những người Việt giàu có tại Hoa Kỳ rồi. Qua bài diễn văn người Mỹ mới hiểu lịch sử bánh Mì, họ ăn bánh mì Việt Nam rất ngon nhưng khi mình kể chuyện về hai anh em họ Lê thành lập Lee's sandwiches thì họ cảm ơn đã cho họ biết nguồn gốc xuất xứ của Bánh Mì trên đất Mỹ. Càng nể phục người Việt tỵ nạn trên xứ này.


Theo mình hiểu người Việt sang xứ sở này có nhiều đợt. Đợt thứ nhất người ta gọi là người di tản buồn vì 30/4 đến cái ụp, họ lên tàu, lên máy bay rời khỏi Việt Nam nhanh chóng như một cơn ác mộng khiến một thời gian sau mới từ từ hội nhập vào xứ Hoa Kỳ này. Nói chung thế hệ này đa số là thuộc giới tinh hoa của Việt Nam Cộng Hoà. Làn sóng kế tiếp khiến thế giới chới với với tin tức Khờ Me đỏ diệt chủng người của họ rồi những chiếc tàu nhỏ bé ra khơi rời Việt Nam mà thế giới gọi là Thuyền Nhân (boat people). Những làn sóng này đã đánh thức lương tâm của nhân loại khiến các nước mở rộng bàn tay đóng chào các thuyền nhân với những con tàu như Đảo Ánh Sáng, Cap Anamur đi vớt người trên biển đông. Đồng chí gái và đại gia đình đều là thuyền nhân cũng như 2 người em của mình.


Các trí thức tây phương hân hoan đón chào sự chiến thắng của bộ đội miền bắc và Khờ Me Đỏ năm 1975 thì nay họ đã tĩnh mộng về cuộc cách mạng thế giới đại đồng với những lò cải tạo, tập trung khắp nơi hay cuộc diệt chủng tại xứ Cao Miên và nếu không có bộ đội Việt Nam đi nghĩa vụ quốc tế thì có lẻ khờ me đỏ đã giết thêm người của họ để xây dựng thiên đàn cộng sản mà trong cuốn Killing fields của ông Dith Pran đã phơi bày cho nhân loại rõ sự dã man của chế độ cộng sản. Nhớ xem phim này ở rạp Gaumont trên đại lộ Champs Elysees, xem xong người Pháp họ cúi mặt nhất là những người đã từng hoan hô, xuống đường chống đối chiến tranh Đông-Dương.


Sau này, ông Lý Quang Diệu, thủ tướng của Tân Gia Ba viết thư cho bà thủ tướng Anh quốc, nói là Hà Nội cho người vượt biển để làm tiền và tránh mầm mống chống đối trong nước nên tây phương ngưng các trại tỵ nạn, chuyển tiếp và dẫn độ người vượt biển về lại Việt Nam. Các cuộc bạo loạn tại các trại tỵ nạn ở Hương Cảng đã khiến thế giới giật mình, hết dám đón tiếp người Việt tỵ nạn. Có người kêu Hà Nội cho người đi theo này nọ nhưng không có bằng cớ nên ngọng. Buồn đời ông Phạm Văn đồng qua pháp xin viện trợ, lại tuyên bố với Paris Match là có trên 3 triệu người trong trại cải tạo khiến thiên hạ càng chới với.


Sau vụ đóng cửa các trại tỵ nạn, Hoa Kỳ cho người Việt đi theo các diện đoàn tụ, H.O. Hay ODP. Sau vụ Liên Xô sụp đỗ thì có một số người Việt đi lao động quốc tế ở các nước thuộc khối Liên Sô cũ, xù luôn, ở lại các xứ này. Mấy người này được bác và đảng gửi đi làm nhiệm vụ lao động quốc tế nên đa số vẫn trung thành với Hà Nội. Mấy năm gần đây thì có làn sóng hạ cánh an toàn nên có rất nhiều người giàu có cho con du học rồi tìm cách ở lại hay đầu tư tại Hoa Kỳ qua các chương trình như EB-5,….


Nhìn chung thì người Việt vượt biển đa số rất thành công. Thế hệ di tản thì đa số đi làm, ăn lương nhưng phải nói là sự hình thành cộng đồng của người Việt tại Hoa Kỳ là nhờ vào làn sóng di tản rồi đến thế hệ vượt biển. Có lẻ sống một thời gian với Việt Cộng nên tinh thần khoa bảng đã lùi về quá khứ, được xoá sạch. Trước kia, lá ngọc cành vàng này nọ, học thức ngại ngùng nhưng khi Việt Cộng vào thì kinh tế mới, đói quá phải đem đồ trong nhà ra bán ngoài chợ trời vô hình trung đã phá bỏ tinh thần khoa bảng. Hết còn e ngại, nữ sinh, sinh viên nên khi sang Hoa Kỳ họ lăn ra buôn bán, làm ăn thay vì đi học lại để có bằng cấp ông này bà nọ. Mình có quen vài người du học bên Liên Xô, đa số nói là để buôn bán làm ăn đóng thùng gửi về Việt Nam, sau này có nhiều người giàu có. Sau Liên Xô sụp thì một số đông con ông cháu cha không chịu về ở lại các nước Đông âu hay tìm cách qua Hoa Kỳ hết. Đánh cho mỹ cút nguỵ nhào rồi chạy qua mỹ đánh cho Mỹ nhào luôn.


Vấn đề ngày nay là đến thế hệ con cái , thế hệ thứ 2 của người Việt tỵ nạn thì đa số không làm ăn, trở thành bác sĩ, nha sĩ hay kỹ sư nên Bolsa bị bỏ trống và nhóm người Việt từ Việt Nam mới sang lấp vào khoảng trống đó. Thời người Việt di tản sang thì nhớ Sàigòn xưa nên mở Phở Pasteur, Phở 79,…nay người Việt sang sau này thì mở Phở Thìn, phở Công phở Phượng, góc phố Hà Nội,…cà phê Trung Nguyên, bú xua la mua.


Thế hệ con cháu mình sẽ dọn xa khu Tiểu Sàigòn. Như cháu mình lập gia đình, dọn về Laguna Niguel, Irvine,… ăn uống thì vùng Irvine đã có thức ăn Việt Nam và tàu, Đại hàn, Nhật Bản nên không cần phải kéo về khu Tiểu Sàigòn như trước đây. Con cháu sẽ lấy chồng lấy vợ với người Mỹ trắng, tàu, đại hàn nên từ từ sẽ phân loãng cái máu và văn hoá Việt Nam. Hôm kia ăn tết ở nhà mình, cháu kêu bằng ông chú lai Nhật Bản, lai tàu, lai Ý Đại Lợi, lai Ái Nhỉ Lan,…


Ngoài bolsa thì nghe nói vẫn còn đi diễn hành như các lễ tổ chức của người Mỹ. Thế hệ đi biểu tình từ từ cũng chống gậy hết đi biểu tình hô hào hay GẶP NHAU Ở PEEK Family hết. Không biết trong nghĩa trang này, đêm đêm họ có đi biểu tình hay không.


Mình nhớ lần đầu tiên về Hà Nội, thiên hạ dẫn đi ăn phở, mình thấy dân tình múc từng muỗng bột ngọt mà họ gọi mì chính gì đó, bỏ vào tô phở khiến mình thất kinh nên nghe phở chính gốc Hà Nội là mình sợ. Già rồi nên mình ăn phở 79 cho chắc ăn. Có lần ông chủ kêu mình muốn bán cái tiệm phở rồi sau này gặp lại ông ta kêu vợ đưa cho phía bên vợ tiếp quản, ở nhà buồn quá nên lâu lâu chạy ra quán. Đồng chí gái chào bác, hỏi ra ông ta hơn mình có một tuổi Chán Mớ Đời. Đếm tiền mấy chục năm nay nên già mau. Ông ta cho biết là tết thợ về Việt Nam ăn tết nên cho nghỉ, đóng cửa ăn tết bất đắc dĩ mấy tuần. Mình kêu thì đi chơi, du lịch, ông ta lại than đau chân đau gối. Chán Mớ Đời 


Thế hệ đầu tiên thành lập nên tiểu Sàigòn như phở 79, nay cũng giao cho ai đó thế hệ nào tiếp thu trong khi họ chuẩn bị những ngày vàng của hoàng hôn đời mình. Mình tải đây bài diễn văn cho Toastmasters.


Đầu năm chúc các bác được nhiều sức khoẻ. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Bài diễn văn 9-11 phút

From Food Trucks to Fortune: Vietnamese Immigrants 


Fellow Toastmasters and honored guests


(The other day, I saw a headline that caught my attention.)

A Vietnamese American  man had donated a large sum of money to the University of California, Irvine—and in return, a building on campus was named after him.

Naturally, I got curious.  

I started looking up wealthy Vietnamese Americans.  

Who were they?  

What did they do?  

How did they get there?

But as I read through story after story, I realized something.


Pause, make eyes contacts

Many first-generation Vietnamese immigrants arrived with little English, little money, and a lot of trauma.  

But they also arrived with something powerful: the instinct to trade, to build, and to adapt.

They were not just looking for jobs.  

They were looking for chances—  

chances to buy and sell,  

to open shops and restaurants,  

to turn skills into income,  

and income into opportunity.

Let me share a few of their stories.

As we say in business:  

One year of owning a business can equal ten years of working for someone else.

The Sandwich That Changed Everything

Let’s start with something familiar.

Bánh mì.


Pause


The founders of Lee’s Sandwiches, brothers Lê Văn Chiêu and Lê Văn Hương, came to America in 1979.  

They worked on food trucks. They saved money. Eventually, they bought their own truck.

At first, they sold hamburgers, noodles—whatever people would buy.  

They weren’t chasing a grand vision.  

They were simply surviving.

Then one weekend, their parents took their truck and started selling Vietnamese sandwiches near San Jose State University.

It became a hit.

They opened their first store in 1983. 4 years after their arrival to US.


But the real breakthrough came when they asked a simple question:  

“How do we make this appealing to Americans?”

They baked fresh bread.  

Added croissants.  

Smoothies.  

Coffee.

They didn’t abandon Vietnamese flavors.  

They wrapped those flavors in something familiar.

Today, Vietnamese sandwiches are mainstream in America—and Lee’s Sandwiches played a huge role in that.

This business grew from a single food truck to over 60 locations nationwide. I saw one in Taiwan during my last December visit.

And every time I see a Vietnamese-owned sandwich shop, I think:  

Without trade, there is no wealth.

Yet many Vietnamese parents still tell their children:  

“Study hard so you can work for a company your whole life.”

Meanwhile, the Chinese say:  

“If you want wealth—go into trade.”

Food for thought.


⸻ pause, make eyes contacts



Building a Community from Nothing

Another remarkable figure is Frank Jao, often called the builder of Little Saigon.

He founded Bridgecreek Development and built Phước Lộc Thọ, a massive Asian-style commercial center.

At the time, this was not an obvious idea.  

The safer path would have been to build something that looked like every other American shopping center.

The city wanted something American-looking.

He said,  

“No. This needs to look Asian.”

That one decision transformed the area into a cultural and economic landmark.  

Today, Phước Lộc Thọ isn’t just a mall—it’s a symbol.

It’s a place where you can hear Vietnamese spoken, smell grilled meats and coffee, and feel like you’ve stepped into another world—  

without ever leaving Orange County.

That kind of vision takes courage:  

the courage to believe that your culture has value,  

the courage to invest in it,  

and the courage to let it stand out instead of blending in.


⸻ pause, make eyes contacts



From Refugee to Billionaire Innovator

Then there’s Trung Dung.

He escaped Vietnam by boat after being imprisoned.  

He arrived in America with almost nothing.  I met him in 1990 when he was finishing his Ph.D at Boston University.

He studied computer science, and eventually founded a tech company called OnDisplay.

In 2000, he sold it for $1.8 billion.

His story appears in Dan Rather’s book The American Dream.

Think about that:  

From a refugee who couldn’t attend school,  

to a tech entrepreneur worth billions.

That is America—when talent meets opportunity,  

and when someone is willing to take the risk to trade their ideas with the world.


⸻ pause make eyes contacts



Kings of Garbage, Chili Sauce, and Plasma

And there are many more:

David Dương, who started by collecting cardboard boxes and built a billion-dollar waste management company.

David Trần, founder of Huy Fong Sriracha, who turned chili sauce into a global phenomenon.

Hoàng Kiều, who worked for $1.25 an hour, then pioneered plasma technology and became a billionaire.

These are not glamorous beginnings.

They are gritty beginnings.

Cardboard.  

Chili.  

Plasma.

Yet each of these men turned something ordinary—  

even something other people threw away—  

into something extraordinary.


And Then… There’s Me

After reading all these stories, I looked at myself.

I’m just a farmer.

No billion-dollar company.  

No building named after me.  

No book telling my story.

Life suddenly felt… a little depressing.

But then I realized something important.

Success doesn’t have one shape.  

It doesn’t always come with a headline or a campus building.

Not everyone needs to be a billionaire.  

Not everyone wants to be.

But every one of these people shared one thing:

They created value.

They didn’t wait for permission.  

They didn’t wait for perfect English.  

They didn’t wait to be accepted.

They started.

They used what they had—  

skills, recipes, land, ideas—  

and they traded those things with the world.

And that made me ask myself:  

“What value am I creating with what I have?”

For me, it might be farming.  Good and healthy avocados 

For you, it might be coding, teaching, designing, leading, or speaking right here at Toastmasters.


⸻ pause make eyes contacts



Closing



So the next time you eat a Vietnamese sandwich,  

or squeeze chili sauce onto your noodles,  

or walk through Little Saigon…

Remember this:

Behind these everyday things are refugee stories, trade instincts, and quiet courage.

And maybe—just maybe—  

the next great story of courage and trade  

won’t come from a billionaire,  

or from a man with a building named after him…

It might come from a farmer.

It might come from someone quietly running a small shop.

It might come from the person sitting in your chair,  

right now,  

wondering if they have what it takes to start.



If there is one lesson we can borrow from these Vietnamese immigrants, it’s this:

Don’t wait for the perfect moment.  

Start where you are.  

Trade what you have.  

Create value.

Because the quiet power of trade doesn’t just build businesses.  

It builds lives,  

it builds communities,  

and sometimes—  

it builds dreams bigger than anything we could have imagined.


Pause make eyes contacts



God bless America