Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Cuộc Cách Mạng hàng không Pan Am

 


 Cuộc Cách Mạng Boeing 747


Nhớ dạo về Sàigòn làm giấy tờ đi Tây, đi ngoài đường thấy các công ty hành không như Pan Am, Air France thấy phê, cứ tưởng tượng một ngày nào đó được ngồi trên chiếc phi cơ của mấy công ty này chắc sướng như đi Tây. Rồi cuối cùng mình được đi máy bay Air France qua Tây. Cái vé này cũng khẩm bạc cho bà cụ mình nhưng được đi tây là chả nghĩ gì thêm. Nhớ hôm được sổ thông hành ở bộ Nội Vụ, sau đó chạy lại toà lãnh sự Pháp để được cái chiếu khán xong thì mình có bò lại công ty Air france để hỏi giá đi tây. Bước vào thấy máy điều hoà không khí, mát rượi, thấy sang và hạnh phúc quá đổi. Nông dân thị xã Đà Lạt về thủ đô là phải biết.

Chiếc máy bay Boeing 747 đầu  tiên

Trong chuyến bay từ Luân Đôn qua New York, lần đầu tiên mình được đi máy bay Boeing 747, to nhất các loại máy bay thời đó. Thấy sướng như đi Mỹ nhưng sau này không thấy loại máy bay này nữa trong khi đó Airbus của âu châu lại làm chiếc máy bay to đùng A380 mà mình có dịp đi Hán Thành. Lần cuối được đi A380 là khi bay sang Dubai. Buồn đời mình tìm tài liệu đọc về Boeing 747, lý do ngày nay không bay nữa.


Vào giữa thập niên 1960, vận tải hàng không quốc tế vẫn là một lãnh vực xa xỉ cho người dân bình thường. Nông dân như mình khi xưa, nói đi Tây như chuyện lên trời. Năm 2025, ứng dụng TripIt cho biết mình bay năm nay 79,896 dặm xem như 3.2 lần vòng quanh trái đất, viếng 13 quốc gia và 48 thành phố. Các chuyến bay xuyên đại dương chủ yếu phục vụ giới thượng lưu, chính khách và doanh nhân. Giá vé cao, năng lực vận chuyển hạn chế và chi phí vận hành lớn khiến việc bay quốc tế vượt xa khả năng tài chính của đa số dân chúng. Xem phim xi-nê thấy họ đẩy xe với gà nướng đủ trò thấy sang quá cở thợ mộc. Hình như khi tổng thống Bill Clinton và bộ trưởng Robert Reich được học bổng Rhodes đi học bên Anh quốc, họ phải đi bằng tàu thuỷ.

Người sáng lập ra công ty Pan Am, Juan Trippe

Năm 1965, một vé bay xuyên Đại Tây Dương có giá tương đương nhiều tháng lương của một công nhân bình thường. Du lịch quốc tế khi ấy không phải là nhu cầu đại chúng, mà là đặc quyền của thiểu số cực giàu, lắm tiền.


Trong hoàn cảnh đó, ông Juan Trippe, Tổng giám đốc Pan American World Airways (thường được đọc vắn tắc Pan Am), hãng hàng không quốc tế hàng đầu thế giới dạo ấy (sau này bị phá sản) đã đưa ra một tầm nhìn mang tính cách mạng vào thời ấy. Sau này khi mình ở Âu Châu thì công ty hàng không Virgin của Anh quốc nổi tiếng vì vé máy bay sang New York rất rẻ khiến đám đông trẻ lên đường sang New York chơi cuối tuần rồi bay về. Có quen một tên tây, hắn làm việc ở New York, lâu lâu hắn bay về thăm cô bồ, nhìn hắn mình quá ngưỡng mộ khi đi nhảy đầm nghe hắn nói chuyện bên mỹ. Mình cứ nhìn hắn mà nuốt nước miếng trong đầu lại kêu u chau u chau. Trong khi cô bồ hắn mặt vênh lên trên trời khi được mấy cô bạn ngưỡng mộ nhưng rồi hai người này cũng chả lấy nhau.


Ông Juan Trippe không chỉ là một nhà quản lý hàng không giỏi, mà còn là một nhà chiến lược có tầm nhìn toàn cầu. Ông tin rằng hàng không không nên chỉ phục vụ giới giàu có, mà phải trở thành phương tiện kết nối toàn nhân loại, đại chúng hoá việc du lịch bằng phi cơ. Mục tiêu của Trippe rất rõ ràng: giảm giá vé bằng cách gia tăng sức chở hành khách, từ đó đưa chi phí bay quốc tế về mức mà tầng lớp trung lưu có thể trả để được đi du lịch xa. Mình có kể vụ Duty Free, ai buồn đời thì tìm lấy đọc để hiểu lịch sử hàng không.


Để đạt được điều này, ông đưa ra một yêu cầu chưa từng có tiền lệ trong lịch sử hàng không dân dụng. Trong một cuộc họp với các lãnh đạo Boeing, ông Trippe yêu cầu hãng chế tạo một máy bay có thể chở 400 hành khách vượt đại dương, gần ba lần năng lực của Boeing 707, chiếc máy bay thương mại lớn nhất lúc bấy giờ.

Đề xuất này khiến các giám đốc Boeing suýt bị sặc cơm trong miệng, như bò đội nón, bị coi là liều lĩnh, thậm chí điên rồ. Những thách thức kỹ thuật và rủi ro tài chính là vô cùng lớn. Một thất bại có thể kéo theo sự sụp đổ của cả Pan Am lẫn Boeing. Hôm trước, mình đọc một bài kể về công ty hàng không Nhật Bản ANA, cũng sử dụng chiến lược này với Airbus sau này. Mình nhất trí, nhớ đi Nhật Bản với bà cụ, mình đi hạng thương gia, thấy rất sướng cuộc đời. Vấn đề là đối với phụ nữ khi mình giới thiệu họ việc gì mà họ ưa thích là khổ. Mình mua vé hạng thương gia cho mẹ nên phải mua cho vợ. Vấn đề là mụ vợ nay cứ đòi đi máy bay hạng thương gia. Chán Mớ Đời 


Tuy nhiên, ông Juan Trippe đã đưa ra một quyết định mang tính lịch sử: Pan Am cam kết đặt mua trước 25 chiếc máy bay, dù chúng chưa được thiết kế. Cam kết tài chính khổng lồ này đã buộc Boeing phải chấp nhận thách thức chế tạo máy bay khổng lồ. Dạo ấy chưa có Airbus ra đời. Chỉ khi mình sang Pháp thì mới thấy xuất hiện Airbus, mình có tên bạn tây học ra trường rồi về Toulouse làm cho Airbus.


Để chế tạo chiếc máy bay mới, Boeing xây dựng một nhà máy hoàn toàn mới tại thành phố Everett, tiểu bang Washington, công trình có thể tích lớn nhất thế giới vào thời điểm đó. Kết quả của nỗ lực này là Boeing 747, chiếc “jumbo jet” đầu tiên trong lịch sử ra đời.

Khi xưa đi Máy Bay là như đi trên trời, họ cho ăn mệt nghỉ. Nay đi thương gia đường bay dài thì tha hồ ăn. Họ có hai bữa chính nhưng giữa hai bữa nếu đói thì cứ gọi chiêu đãi viên, họ đem đồ ăn ra như Phô-mát, Sandwich này nọ.


Ra mắt năm 1968, chiếc máy bay Boeing 747 gây chấn động giới hàng không toàn cầu. Máy bay có thân rộng hai lối đi, tầng trên đặc trưng, chiều cao tương đương tòa nhà sáu tầng và trọng lượng cất cánh tối đa hơn 330 tấn. Ukraina có chiếc máy bay to nhất thế giới và bị phá huỷ bởi Puchin trong cuộc chiến.


Dù bị hoài nghi, chuyến bay thử nghiệm đầu tiên vào ngày 9 tháng 2 năm 1969 đã chứng minh 747 không chỉ bay được, mà còn bay rất êm và hiệu quả. Hình như bộ quốc phòng của Hoa Kỳ có mua mấy chiếc để  sử dụng bắt đài radar trên không.


Ngày 22 tháng 1 năm 1970, chuyến bay Pan Am số 1 từ New York đến London đánh dấu lần đầu tiên Boeing 747 vận hành thương mại. Không gian khoang hành khách rộng rãi, tiện nghi vượt trội và khả năng di chuyển tự do trong cabin đã thay đổi hoàn toàn trải nghiệm bay. Những chiếc 747 đời đầu thậm chí còn có phòng sinh hoạt chung, quầy bar, cầu thang xoắn và giường ngủ cho các chuyến bay dài. Xem xi-nê họ hay chiếu cái cầu thang lên tầng trên nơi các bọn nhà giàu ăn uống, vui chơi.


Tuy nhiên, giá trị lịch sử lớn nhất của 747 không nằm ở sự sang trọng, mà ở năng lực vận chuyển. Việc phân bổ chi phí cho hàng trăm hành khách giúp giá vé giảm rất nhiều, mở ra cơ hội du lịch quốc tế cho tầng lớp trung lưu. Chỉ trong vài năm, Boeing 747 nhanh chóng được các hãng hàng không lớn trên thế giới đưa vào khai thác. Các tuyến bay quốc tế mở rộng nhanh chóng, tần suất tăng cao.


Nhớ năm 1986, mình sang Hoa Kỳ lần đầu tiên, công ty TWA hạ giá, mỗi vé $50 cho 10 chuyến bay tại Hoa Kỳ nên mình mình bay đi viếng 10 thành phố của Hoa Kỳ. Sau đó công ty này phá sản. Chán Mớ Đời 


Hệ thống hạ tầng hàng không toàn cầu buộc phải thích nghi: đường băng được gia cố, nhà ga mở rộng, thiết bị mặt đất được thiết kế lại. Đồng thời, giao lưu kinh tế, văn hóa và xã hội giữa các châu lục tăng tốc chưa từng thấy. Các nhà sử học gọi giai đoạn thập niên 1970 và đầu 1980 là “thời kỳ hoàng kim của kỹ nghệ hàng không”, trong đó Boeing 747 giữ vai trò trung tâm.


Sự thành công của 747 cũng dẫn đến những hệ quả không lường trước. Khi bay trở nên phổ biến, các hãng hàng không cạnh tranh khốc liệt về giá khiến nhiều công ty bị phá sản như Pan Am, TWA,… Để tối đa hóa lợi nhuận, họ tăng mật độ ghế ngồi, loại bỏ các không gian sinh hoạt chung và giảm dần mức độ tiện nghi. Dần dần, trải nghiệm sang trọng từng gắn liền với 747 biến mất, nhường chỗ cho mô hình vận tải hiệu quả nhưng chật chội. Và rẻ như ngày nay bay từ Paris đến Venise chỉ có 49 Euro nhưng nếu đem theo hành lý này nọ là họ chém không nương tay. Cũng như mình bay từ Los Angeles đến Paris có $200.


Từ cuối thế kỷ XX, vai trò chở hành khách của Boeing 747 dần được thay thế bởi các máy bay hai động cơ tiết kiệm nhiên liệu hơn. Tuy nhiên, 747 tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong vận tải hàng hóa toàn cầu. Năm 2023, Boeing chính thức kết thúc dây chuyền sản xuất 747 sau 54 năm, với tổng cộng 1.574 chiếc được chế tạo.


Di sản của Boeing 747 không chỉ là một thành tựu kỹ thuật. Đó là sự thay đổi căn bản trong cách con người tiếp cận khoảng cách. Nhờ tầm nhìn của ông Juan Trippe, du lịch quốc tế đã trở thành một phần bình thường của đời sống hiện đại. Chiếc 747 không làm phá sản ngành hàng không như lo ngại ban đầu. Ngược lại, nó đã định hình lại toàn bộ ngành, biến điều từng không thể thành quen thuộc, và đưa thế giới lại gần nhau hơn.


Ngày nay, đi máy bay có nhiều loại, rẻ, đắt tiền tuỳ theo khách hàng. Tháng 8 vừa rồi mình về âu châu, đi hãng Norse thì một vé từ Los Angeles - Roma hay Paris, giá có $200, thêm thuế này nọ nhưng nếu mình cần đem theo hành lý thì phải trả thêm $80, ăn uống thì phải trả thêm, ngồi ghế nào được lựa chọn thì trả thêm, cuối cùng như các chuyến bay khác. Keo kiệt như mình thì chỉ trả như vậy rồi vô Lounge Centurion ăn rồi đem đồ ăn và nước lên máy bay ăn và uống.


Nghe nói họ có dự định sản xuất loại máy bay bay cực nhanh và rộng lớn. Nếu họ qua được cái ải EPA, năng lượng xanh đã hạn chế đủ loại máy bay, cấm máy bay, đánh thuế đủ loại thì trong tương lai, có thể chúng ta sẽ thấy nhiều loại máy bay như Los Angeles bay về Việt Nam chỉ mất 5 tiếng thay vì cả ngày. Hay nhanh hơn. Một tiếng là tới Sàigòn. Nhưng chắc là cả ngàn hành khách.


Mình nhớ mãi lần đầu tiên đi máy bay qua tây với hãng hàng không Air France, quá cảnh tại Vọng Các, Tân Đề Li , Téheran. Cứ mỗi lần quá cảnh, họ kêu xuống máy bay rồi dẫn đi vòng vòng đến chỗ nào ngồi đợi họ bơm xăng máy bay, dọn dẹp rồi tới giờ lên lại máy bay. Mình nông dân cứ nhìn xung quanh, miệng há mồm, cứ u châu u châu hay hè hay hè. Mới đó mà đã 52 năm kinh. Cũng thời gian này mình đến Paris để hỏi Paris có gì lạ không Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 

1984 của George Orwell linh nghiệm

 Lịch sử qua cái nhìn của George Orwell

Hồi mới sang Paris, có nhiều người kêu mình nên đọc sách của George Orwell nên mò vào thư viện mượn đọc. Nói cho ngay dạo đó đọc nhưng cũng không hiểu nhiều lắm. Sau này qua mỹ đọc lại mới giác ngộ cách mạng ý tưởng của ông ta khi nói về chế độ Stalininist hay các chế độ nắm quyền nhân danh tự do dân chủ bú xua la mua.

Vì quyền lực biến họ thành chế độ độc tài, kiểm soát mà ngày nay chúng ta thấy không những tại các quốc gia cộng sản như Trung Cộng, Việt Nam, Cuba, Triều Tiên,..mà ngay chính các nước tự xưng là tự do ngôn luận bú xua la mua. Ai nắm giữ quyền lực đều muốn ở muôn đời trên đó.


Ông này có cuộc đời khá lạ, sinh ra tại Ấn Độ, thuộc địa của Anh quốc, thuộc gia đình trung lưu, cha ông là một công chức trong chính quyền thuộc địa. Gia đình ông ta trở về Anh quốc sau đó. Ông theo học các trường danh tiếng rồi thay vì theo học đại học, ông ta gia nhập cảnh sát ở Miến Điện. Làm việc trong cho đế chế Anh quốc khiến ông ta mang mặc cảm tội lỗi về cách xử sự đối với người bản xứ và từ chức.


Ông ta trở về âu châu, sinh sống trong nghèo khó ở Paris, nói như ngày nay là đi thực tế, kiếm ý để viết sách sau này. Ông ta làm những công việc tay chân tại Paris rồi Anh quốc. Ông sống chung với giới bình dân nghèo khó và lấy tên “George Orwell” để khỏi gây liên luỵ đến dòng họ của mình.


Khi có cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha, giữa hai phe: Phát-xít của Franco mà người ta gọi là Franquiste, được Hitler và Mussolini ủng hộ và phe thân Cộng Sản được Stalin ủng hộ. đó là cuộc chiến quốc cộng đầu tiên tại âu châu nên các tên mê lý tưởng Cộng Sản cũng như Phát xít tại âu châu, bỏ nhà qua Tây Ban Nha tham dự cuộc chiến này. Tỏng đó có ông Orwell tham chiến với phía thân cộng sản, được Stalin ủng hộ.


Năm 1937, trên một mặt trận đầy bụi mù của cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, ông George Orwell trúng một viên đạn vào cổ. Tay bắn tỉa đã ngắm bắn ông ta nhưng may thay cho chúng ta, viên đạn chỉ sượt qua động mạch của ông vài ly. Nằm bất động trên mặt đất, nghẹt thở, ông Orwell tưởng mình sẽ chết, không phải vì Tổ quốc, không phải vì vinh quang mà vì sự thật. Cuộc đời cho Ông ta sống sót và từ ngày đó, có một điều trong thâm tâm ông vĩnh viễn rạn nức. Lý tưởng của tuổi trẻ bị lợi dụng bởi kẻ cầm quyền.


Đến Tây Ban Nha để chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít, ông phát hiện nơi tiền tuyến một kẻ thù còn thâm hiểm hơn: sự dối trá. Ông chứng kiến những lý tưởng cao đẹp bị bóp méo, những con người phản bội nhân danh công lý, và báo chí nhào nặn sự kiện cho đến khi chính thực tại bị xóa nhòa. Vết thương khép lại, vết sẹo còn đó. Nhỏ bé trên da nhưng tâm hồn ông Orwell mở rộng cho một cái nhìn khác biệt và đã lên tiếng khi đã trải nghiệm.


Từ vết thương ấy ra đời những cuốn sách cay đắng nhất của ông. Trong cuốn “Trại súc vật”, ông cho chúng ta thấy các cuộc cách mạng, một khi chiến thắng, có thể biến thành bạo quyền. Trong cuốn “1984”, ông đưa ra một lời cảnh cáo lạnh người: sự thật có thể bị hủy diệt, bị viết lại, bị thay thế bằng ngôn ngữ của quyền lực. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc và xoá hết các dấu tích tàn bạo, dối trá, chỉ đưa ra những điều hay của cách mạng, của kẻ cầm quyền.


Nhưng thiên tài, ý tưởng của Orwell chưa bao giờ sinh ra trong những phòng khách chính trị êm ái như Karl Marx, nó bén rễ trong sự nghèo khó và sự tỉnh táo. Ông từng lau sàn ở Paris, sống cùng thợ mỏ miền bắc nước Anh, ở giữa những kẻ bị lãng quên để hiểu thế giới từ phía dưới, tận cùng của xã hội, nơi của những kẻ bần cùng của xã hội tây phương sinh sống ra sao.


Với ông, viết lách không phải là một sự nghiệp mà là một bổn phận đạo đức. Ông cho rằng “Trong thời đại của sự lừa dối phổ quát, nói ra sự thật là một hành động cách mạng.” Khi viết cuốn “1984”, ông bị bệnh lao gặm nhấm, sống cô lập trên một hòn đảo băng giá ở Scotland. Ông viết giữa những cơn ho dồn dập, không chịu giữ gìn sức lực. Ông biết thời gian không còn nhiều. Ông muốn để lại một sự thật cuối cùng trước khi tiếng nói của mình tắt lịm. Và khi tiếng nói ấy tắt đi, ông không chỉ để lại những cuốn tiểu thuyết, Ông để lại một tấm gương. Một tấm gương mà cho đến hôm nay vẫn phản chiếu thế giới của chúng ta với độ trung thực đáng sợ.


George Orwell không chỉ viết về áp bức. Ông đã nhìn thấy nó, Ông đã chịu đựng nó; Ông đã chống lại nó và với một vết sẹo trên cổ cùng ngọn lửa bất khuất trong từng chữ, ông đã cảnh cáo chúng ta để chúng ta không bao giờ có thể nói rằng mình không biết.


Ngày nay, với kỹ thuật tân tiến, kẻ cầm quyền còn kiểm soát chúng ta một cách tinh vi hơn lười ông kể trong “1984”. Năm 1984, mình đang làm việc tại Thuỵ Sĩ. Phong trào Solidarnosc từ Ba Lan đã lan toả khắp âu châu. Giới trí thức tây phương bắt đầu đặt lại câu hỏi, về chủ nghĩa cộng sản, chiến thắng của cộng sản tại Đông NAm Á cũng như Phi châu khi đám khờ me đỏ, tàn sát 1/5 dân khờ me. Khi các chiếc thuyền nhỏ bé vượt biển Đông NAm Á từ thiên đường mù Việt Nam.


Họ đặt lại câu hỏi lý do người Việt ra đi sau khi đạt được hoà bình, liều chết mà theo cao uỷ tỵ nạn liên hiệp quốc thì chỉ có 50% người Việt vượt biển đến được bến bờ tự do. Phải đợi thêm 5 năm sau năm 1984 như ông Orwell đã cảnh cáo, Liên Sô mới sụp đỗ. Nhưng thế giới chưa kịp vui mừng thì khám phá ra các xứ tự xưng là tự do dân chủ cũng kiểm soát người dân tinh vi hơn với những phương pháp truyền thông để cấy vào đầu chúng ta những tư duy, không chống lại nhà cầm quyền. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 

Vespasienne, chỗ đi tè ở Paris xưa

Nơi đi tè của Tây ở Paris

Váy khi xưa rộng để mấy bà đứng tè vô tư, không ướt váy.

Đồng chí gái rất ghét Paris, lý do là đi kiếm chỗ mỗi lần mót tè là một vấn đề. Ngày nay chúng ta sống trong tiện nghi, vệ sinh nên quên hay không biết nhưng gì thế hệ cha ông ta đã trải qua. Mình có kể việc đổ bô của vua tại điện Versailles và vệ sinh của quý tộc Pháp khi xưa không như ngày nay. 


Đi chơi với bà cụ vừa rồi ở Nam Dương và Tân Gia Ba, mình hay hỏi mẹ mình có buồn tiểu không. Rồi kiếm chỗ dẫn mẹ đi. Lý do mình hỏi là vì có một bác sĩ người Mỹ nói với mình trong một chuyến đi làm từ thiện y tế tại Việt Nam. Ông ta hỏi phụ nữ Việt Nam không đi tè. Mình nói đi chớ. Ông ta kể là quan sát thấy phụ nữ đợi chờ tới phiên được khám bệnh, lấy nước nơi bình để cho ai cần uống, để đưa cho con, chồng hay bố mẹ còn họ thì không uống. Mình đoán là tại ở Việt Nam không có nhà vệ sinh công cộng nhiều nên phụ nữ không dám uống nước, thì mót tè. Do đó họ hay có vấn đề với thận. Ở Hoa Kỳ, chạy xe đi chơi với đồng chí gái thì cứ 1 tiếng lại phải dừng chỗ nghỉ chân trên xa lộ để đồng chí gái đi tè.


Lâu đài Versailles nguy nga tráng lệ mà không có chỗ đi vệ sinh. Vua sáng dậy ngồi trên cái ghế, có cái lổ như cái bàn cầu ngày nay rồi đại tiện xong thì có người vác bô đi đổ ngoài trời. Giới quý tộc đang tán nhau, mắc tè thì kêu “garçon”, tên bưng bô lại, rồi vén váy lên phủ trên cái bô rồi tè vô tư trong khi mi nhau hay tán nhau. Je t’aime mon amour. Vua Henry VIII bắt mấy bà tình nhân không được tắm 3 tháng 10 ngày trước khi thả gà ra đá với ông ta.


Coi phim xưa, sẽ thấy phụ nữ bận váy có vòng tròn khiến váy xoè rộng ra, lý do là để đứng tè không bị bắn ướt váy hay chân. Nhờ ít tắm nên người Pháp mới sáng chế ra nước hoa đắt tiền để áp đi mùi hôi của cơ thể. Ai buồn đời thì tìm đọc trên bờ lốc.

Pissotière cho hai người, bên ngoài để dán quảng cáo, lòi chân

Khi đi du lịch điều tiên quyết là kiếm chỗ có thể đi vệ sinh. Trong thành phố thì mình sử dụng ứng dụng Flush để tìm chỗ đi tè gần nhất. Còn leo núi thì kiếm chỗ trống, khuất đường mòn, không ai bò đến mà vô tư với gió trời. Khi mình mới đến Paris, hay đi lông bông khắp nơi để xem Paris có gì lạ không Sơn thì có vấn đề mắt tè. Vào quán thì không có tiền uống nước. Được cái dạo ấy họ có những nơi, được gọi là Vespasiennes. Chỗ đi tiểu lộ thiên, chỉ dành cho đàn ông còn đàn bà thì không có. Mình đoán là khi họ thành lập những địa điểm đái đường khi xưa, chỉ có đàn ông ra đường còn phụ nữ ở trong nhà. Không đi làm ở các công sở như ngày nay.

Cái này chỉ dành cho một người đứng lại tè, thiên hạ đi ngang đều thấy hết nhưng vô tư như người Paris. Cột trụ tè được làm theo một hình trụ nên người Pháp gọi Colonne Rambuteau, tên ông Prefet của vùng Seine, sau này cứ bị hắt xì hoài vì dân Paris đi tè, cứ gọi tên ông ra mà chửi nên ông ta tư duy đột phá gọi là Vespasienne.

Lý do là khi xưa, ra đường ở pháp rất là hôi thối, thiên hạ đại tiện ngoài đường hay tè, thêm mấy con ngựa, phọt kít đầy đường, chưa kể đạp cứt chó rồi khi mưa, tuyết xìn lầy đầy nơi. Chỉ sau này thời Napoleon đệ Tam mới kêu ông thần Haussmann, cho làm cống rãnh này nọ mới dẹp được mọi việc.


Tây gọi các địa điểm này là “vespasienne” có nguồn gốc từ hoàng đế la mã tên Vespasian (cai trị AD 69–79), chơi cha thiên hạ, đánh thuế nước tiểu trong các nơi công cộng để sử dụng trong việc ngâm da thú và giặt áo quần vì trong nước tiểu có ammoniac. Nghe nói ông này nói với con trai Titus là tiền không có mùi hôi (pecunia non olet) khi thiên hạ chửi ông ta đánh thuế nước đái. Nếu các bác nào đi Thổ Nhĩ Kỳ hay Tunisia, sẽ viếng các thành phố cỗ của La mà khi xưa, thì thường sẽ thấy trước cửa thành, sẽ có một nhà tắm họ gọi là Hammam, để người khách xa tắm rữa để không còn các vi khuẩn lạ trước khi được vào thành phố, nhiều khi họ đi đường cả tháng trên biển hay bộ nên người hôi hám, có thể bị bệnh. Mình có kể trong chuyến đi Thổ Nhĩ Kỳ cách đây mấy năm. Không tắm rữa, giặt quần áo thì chưa được vào.

Cái này ở đại lộ nên có đến 6 chỗ đứng tè, có cả điện đường để trời tối vẫn thấy đường mà tè. Sau này bổng nhiên có phong trào đồng tính nổi lên, là địa điểm để mấy ông đồng tính đến tìm nhau trong hơi thở nhà tè mà dân Paris gọi tiếng lóng là “tasses”. Hình cũ xưa khi mấy cây được trồng, dạo mình đi học thì cây lớn lắm che bóng mát.

Tại Paris, các địa điểm đi tè được xây dựng trong thời gian 1830-1834 trên các đại lộ chính như Boulevard Saint Michel, Montparnasse,… sau đó ông Prefet tên Claude-Philibert Rambuteau cho gắn thêm 400 địa điểm, chỉ đi tè chớ không có đại tiện. Các cấu trúc này khiến dân tình gọi là “colonnes Rambuteau” khiến ông này không thích lắm, tên mình mà họ gọi là chỗ đi tè nên đổi tên thành “vespasiennes” giúp cải thiện vấn đề vệ sinh. Rồi đến thời ông Haussmann thì cho gắn các địa điểm bằng gan có đến 2-8 chỗ đứng tè, bên ngoài dùng để bán quảng cáo, lấy tiền để trang trải chi phí.


Đến năm 1930 thì Paris có đến 1,230 địa điểm đi tè, được gọi là “pissotières,” “tasses (nơi các ông đồng tính gặp nhau)” hay “ginettes” theo tiếng lóng của dân cư Parisien. Hồi mình mới sang Paris, tiếng tây đã lọng ngọng mà gặp dân Paris, họ xổ toàn là tiếng lóng nên chới với, điển hình một quan pháp (franc) họ gọi là “balle” kiểu “T’as cent balles” nghĩa là có một franc không. Lý do là trước khi mình sang tây, thì chính phủ tây đổi tiền, thời De Gaulle vì lạm phát sau chiến tranh. 1 franc mới đổi 100 quan pháp cũ. Dân tây kêu quan cũ là Balle (tiếng lóng) nên 100 balles là 1 quan mới. Mình chới với, ngọng như bò đội nón nhưng độ 2 năm ở trường cao đẳng quốc gia mỹ thuật thì tiếng lóng mình nghề như tây, ngày nay khi mình về tây chơi, gặp lại bạn bè, nói chuyện chúng kêu tiếng lóng mày quá cổ lổ xỉ, cần được cập nhật hoá. Chán Mớ Đời 

Thường mình thấy sơn màu xanh, vào các công viên cũng hay thấy mấy địa điểm này

Từ năm 1960 trở về sau đến thời mình ở Paris thì các địa điểm này từ từ được tháo dỡ đi, và xây các địa điểm dưới đường hầm để cải tạo hình dáng của Paris . Đến khi mình gần ra trường thì họ bắt đầu gắn các nhà vệ sinh do công ty JC Decaux thiết bị, tự xử và có thể đi đại tiện và nam nữ đều được sử dụng. Hình như phải trả tiền. Mình chưa bao giờ sử dụng thì đi xứ khác kiếm cơm. Nghe nói ngày nay chỉ còn một cái duy nhất là ở đường Arago quận 14. Ai đi du lịch xứ này thì chụp hình một cái. Ngày nay có những địa điểm cho thiên hạ sử dụng gọi là Sanisettes, nghe nói có đến 400 địa điểm miễn phí. Những lần ghé Paris gần đây, em không sử dụng, ít thấy. Chỉ ghé tiệm ăn hay rượu, kêu chai nước suối rồi hỏi đi tè chỗ nào. Xong om

Hiện đại ngày nay do công ty JC Decault. Đi Úc Châu, Tân Tây Lan mình cũng thấy loại này, xem ra người Pháp đã xuất cảng được chỗ đi tè công cộng trên thế giới.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

4 mùa chính trị chửi nhau


 4 mùa chính trị

Có ông Đại tá KGB của Liên sô đào thoát lâu rồi vào thập niên 70 của thế kỷ trước và giải thích trong một buổi phỏng vấn khi xưa, nay YouTube mới được tải lên nên xem để nghĩ và suy luận về hiện tình đất nước ngày nay. Phe cực hữu thì sẽ nói đúng rồi còn phe cấp tiến sẽ bài bác. Mình ghi lại đây để các bác xem có đúng như ông ta nói hay không. Nên nhớ giới tinh hoa, đa số là giáo sư trong đại học, vẫn muốn sử dụng chủ nghĩa Mát-xít, để thay đổi xã hội tây phương.


Ông Yuri Bezmenov (tên giả Tomas Schuman), một cựu nhân viên KGB đào tẩu sang Phương Tây năm 1970, đã mô tả chi tiết 4 giai đoạn phá hoại ý thức hệ (ideological subversion) trong các buổi phỏng vấn và bài giảng những năm 1980. Đây là chiến lược chiến tranh tâm lý dài hạn của Liên Xô nhằm lật đổ một quốc gia từ bên trong mà không cần chiến tranh trực tiếp. Ông nhấn mạnh rằng 85% hoạt động KGB tập trung vào “các biện pháp tích cực” (active measures) này, chỉ 15% là gián điệp cổ điển.

Xin tóm tắt những gì ông Yuri Bezmenov giải thích:

1.  Giai đoạn 1: Phi đạo đức hóa (Demoralization) – Thời gian: 15–20 năm
Đây là giai đoạn dài nhất và quan trọng nhất. Mục tiêu là làm suy đồi nền tảng đạo đức, văn hóa và tinh thần của xã hội Hoa Kỳ hay các nước khác ở tây phương. Chúng ta thấy người Mỹ xuống đường chống đối chiến tranh Việt Nam. Mình theo dõi các trang nhà của cựu quân Nhân Mỹ tại Việt Nam thì ai nấy đều kêu chúng ta thất bại không tại chiến trường mà tại Hoa Kỳ. Có 3 tổng thống mỹ đã tránh bị đưa qua Việt Nam như George Bush COn, Bill Clinton và Donald Trump. Nói chung, xứ nào cũng vậy, con nhà giàu thì tránh ra chiến trường. Chỉ có con nhà nghèo được tuyên dương tổ quốc ghi ơn.

  Tác động chính: Giáo dục, tôn giáo, truyền thông, cấu trúc xã hội, quan hệ lao động, pháp luật.

•  Phương pháp: Thâm nhập vào hệ thống giáo dục để dạy thế hệ trẻ những ý tưởng chống lại giá trị truyền thống (ví dụ: coi chủ nghĩa yêu nước là lỗi thời, tôn giáo là mê tín, gia đình truyền thống là lạc hậu). Làm méo mó thông tin qua truyền thông, khuyến khích chủ nghĩa tiêu dùng, nghiện ngập, phân biệt đối xử ngược.

•  Kết quả: Con người mất khả năng đánh giá thông tin đúng sai, không còn tiêu chuẩn đạo đức, dễ bị thao túng. Ông Bezmenov nói rằng đến những năm 1980, giai đoạn này ở Mỹ đã hoàn tất, một người bị phi đạo đức hóa sẽ bác bỏ sự thật dù có bằng chứng rõ ràng. Khi mình sang Hoa Kỳ thì người Mỹ rất chuộng tôn giáo lắm nhưng từ từ họ bớt đi nhà thờ, có lẻ mất niềm tin về các vụ xì-can-đan về các linh mục hay mục sư ấu dâm nhưng cũng có thể xã hội Hoa Kỳ đã được xâm nhập bởi các ý tưởng phá hoại của Liên Xô như ông cựu KGB giải thích. Thật ra thì ông này thuộc dạng cấp thấp trong hàng ngủ KGB nên không thể vội vàng tin ngay. Thường người ta hay lấy tin tức rồi “chia verbe” cho những gì họ tin vào, sẽ mất đi sự bình tỉnh để nhìn rõ vấn đề.

•  Ông Bezmenov nhấn mạnh: “Exposure to true information does not matter anymore” (Tiếp xúc với thông tin thật cũng không còn ý nghĩa). Ngày nay, phải công nhận chúng ta không còn tin vào tin tức do đài truyền hình hay báo chí phát tin. Khi xưa, mình mua báo hàng ngày để đọc hay xem CNN hay Fox nay thì chịu vì không còn hợp quan điểm của mình. Chúng ta chỉ tin vào những tin tức hợp với nhãn quan chính trị, tôn giáo của mình. Ai cấp tiến thì đọc xem tin tức của phe Dân Chủ, ai theo Cộng Hoà thì cứ đọc tin tức MAGA. Rồi đưa lên mạng bú xua la mua. Rất nguy hiểm như con ngựa bị che mắt nên cứ chạy về hướng trước.


2.  Giai đoạn 2: Bất ổn định hóa (Destabilization) (Thời gian: 2–5 năm). Tập trung vào các cấu trúc thiết yếu của xã hội: Kinh tế, quan hệ ngoại giao, quốc phòng, pháp luật và trật tự.

•  Phương pháp: Tạo xung đột nội bộ, khuyến khích các nhóm cực đoan, làm suy yếu chính quyền, gây lạm phát, đình công, bất ổn xã hội. Hồi mình ở Pháp, cứ thấy các đoàn thể lao động đình công mút mùa lệ thuỷ. Nay lên mạng xã hội pháp là cứ thấy chửi bới nhau, có quá nhiều đảng phái. Hoa Kỳ thì mấy năm gần đây có vài nhóm quá khích, nghe nói họ mới bắt được vài tên muốn đánh bom nhân dịp đầu năm nay. Lâu lâu có vụ xả súng bắn ở trường học không biết có phải bị ảnh hưởng bởi những gì ông KGB kể.

•  Kết quả: Xã hội mất khả năng tự bảo vệ, người dân bắt đầu coi kẻ thù là “lựa chọn thay thế” (ví dụ: “Thà đỏ còn hơn chết”). Mình có đọc phỏng vấn của mấy người trẻ ở Đức quốc, họ cho rằng thà để cho Puchin chiếm đóng còn hơn là phải ra trận. Ngày xứ Đức quốc này mà tinh thần yêu nước đã bị hủy diệt. Hôm qua đọc báo, nghe nói dân đức của Đông Đức khi xưa, muốn trở lại thời xưa.


3.  Giai đoạn 3: Khủng hoảng (Crisis), Thời gian: Chỉ 6 tuần
Điểm bùng nổ: Bạo lực, hỗn loạn, sụp đổ kinh tế hoặc chính trị. Năm 1968, ở Pháp có vụ “Mai 68”, được xem là cách mạng văn hoá, sinh viên, học sinh xuống đường bạo động khiến chính quyền của tổng thống Đe Gaulle lung lay, ông ta phải lên đài truyền hình nói sẽ cải cách mới chấm dứt. Thêm hè nên dân pháo ngưng vụ làm cách mạng đi chơi cái đã.

•  Người dân hoảng loạn, kêu gọi “người cứu tinh”, có thể là lãnh đạo độc tài hoặc mời gọi sự can thiệp từ bên ngoài. Chúng ta thấy vụ xảy ra tại Georgia và Ukraine. Gần đây tại Hoa Kỳ, các nhóm AntiFa này nọ xuống đường, đập phá này nọ. Chính phủ Trump cho lính đến dẹp loạn và tuyên bố nhóm Antifa là khủng bố mới thấy trật tự lại. Cho thấy sự cương điều có thể đưa đến chế độ độc tài. Cái này rất nguy hiểm khi chúng ta nghe phái MAGA chửi bới các ông bà toà ra lệnh ngưng dẫn độ người di dân lậu. Nhưng đó là những gì hiến pháp Hoa Kỳ cho phép. Có thể các quan toà chả để ý đến các người di dân lậu bị truật xuất nhưng họ có lợi thế để thiên hạ biết đến. Cho thấy 3 cơ quan chính của Hoa Kỳ có quyền kiểm soát nhau, tránh tình trạng một chế độ độc tài như các nước khác. Phải đưa lên tối cao pháp viện để giải quyết.

•  Đây là lúc có thể xảy ra nội chiến hoặc xâm lược mà không gặp kháng cự mạnh. Chính quyền ra tay nhanh và rất mạnh tay nay chả ai lo nữa.


4.  Giai đoạn 4: Bình thường hóa (Normalization)  (Thời gian: Vô hạn)
Ý thức hệ của kẻ phá hoại trở thành “bình thường mới”.

•  Dập tắt mọi bất đồng, củng cố quyền lực mới. Xã hội ổn định dưới chế độ mới, thường là chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa hoặc tương tự. Ngày nay điển hình là nước El Salvador, băng đảng lộng hành, rồi một ông lên cho vào tù hết. Quan toà chống đối, giải thể chức luôn nhưng ít ai nói đến nhưng sự độc tài bắt đầu, bù lại người dân sống không lo âu vì băng đảng nữa.

•  Bezmenov ví dụ các nước Đông Âu sau Thế chiến II: Sau khi Liên Xô kiểm soát, họ gọi đó là “bình thường hóa”. Cứ xem mùa xuân Prague và năm 1956 tại Budapest khi xe tăng của Liên Xô tiến vào hai nước này, bắt nhốt hết những người chống đối. Khi thấy quan tài, người dân lo sợ, hết dám chống đối, từ từ bình thường hoá sự đàn áp của các lãnh đạo cộng sản.


Ngày nay, bên Trung Cộng, có phong trào của giới trẻ là nằm lì, không muốn lao động. Thứ nhất là họ bị thất nghiệp khá nhiều nghe đâu 30%. Một cách im lặng chống lại chỉ thị của nhà nước. Hay cách đây 35 năm, sinh viên xuống đường biểu tình, họ cho xe tăng ra cán và bắn chết đám biểu tình khiến thiên hạ sợ nên im luôn. Hôm trước, mình có xem phim tài liệu khi ở Đài Loan, có video xét xử ông tướng nào không tuân lệnh cho lính bắn vào dân, bị nhốt ngay đưa ra toà,…

Ông Bezmenov cảnh cáo rằng quá trình này diễn ra công khai, nhưng xã hội được KGB nhắm thường không nhận ra cho đến khi quá muộn. Lời ông vẫn được tranh luận ngày nay, một số coi là tiên tri, số khác cho là phóng đại thời Chiến tranh Lạnh. Ai buồn đời thì xem đường dẫn. Mình đọc vài còm thì có một còm của một người ngoại quốc, cho biết họ đã từng sinh sống tại Hoa Kỳ và ngày nay cho rằng đã quá trễ để Hoa Kỳ thay đổi. Liên Sô đã thành công dù đã thua cuộc chiến tranh lạnh nhưng cuộc chiến tranh chính trị thì đã thắng, tuy trễ hơn. Tương tự khi xưa Việt Nam Cộng Hoà bị thua tại Hoa Kỳ, khi người Mỹ không còn chấp nhận kéo dài cuộc chiến. Không muốn viện trợ Việt Nam Cộng Hoà nữa.


 https://youtu.be/0fx1BYwCwCI?si=7XTiGIraGh7Sl8ne

Ai buồn đời thì xem ông giáo sư tại MIT, mình theo dõi ông ta khá lâu tuy thiên tả nhưng để hiểu thêm vấn đề. Chính sách tại Hoa Kỳ, và sự lũng đoạn của chính quyền với người Mỹ. Nên đọc và xem thuyết trình cả hai phía để có một nhận định riêng cho mình.

https://youtu.be/hZnuc-Fv_Tc?si=4VS_DCAlvyqpP5jg


Ví dụ hiện đại về giai đoạn Demoralization (Phi đạo đức hóa). Theo ông Yuri Bezmenov, giai đoạn Demoralization là giai đoạn dài nhất (15-20 năm), nhằm làm suy đồi nền tảng đạo đức, văn hóa, giáo dục và truyền thông của xã hội. Mục tiêu là làm con người mất khả năng phân biệt đúng-sai, bác bỏ sự thật dù có bằng chứng rõ ràng, và trở nên dễ bị thao túng. Ông nhấn mạnh rằng giai đoạn này tập trung vào giáo dục (thay đổi thế hệ trẻ), tôn giáo (làm suy yếu niềm tin), truyền thông (méo mó thông tin), và cấu trúc xã hội (gia đình, quan hệ lao động). Lý dị là một điểm yếu trong cái móc xích tạo dựng một xã hội lành mạnh. Bao nhiêu gia đình đổ vỡ nên khó có một xã hội đồng nhất.


Ông ta có nói đến ngày nay, nếu nói đến trại cải tạo thì người Mỹ trẻ khó tin và sự việc. Tương tự giới trẻ ngày nay ở Việt Nam chưa bao giờ nghe đến hơn 1 triệu người quân nhân, công chức của Việt Nam Cộng Hoà bị đày trong các tù cải tạo. Ngoại trừ gia đình nào có cha ông bị đi tù.


Ngày nay, nhiều người áp dụng mô hình của Bezmenov vào các hiện tượng xã hội ở Mỹ và phương Tây, coi chúng là ví dụ của Demoralization. Thật ra đây là quan điểm chủ quan, thường từ góc nhìn bảo thủ, và bị chỉ trích là phóng đại hoặc áp dụng sai lý thuyết Chiến tranh Lạnh vào thay đổi xã hội tự nhiên. Dưới đây là một số ví dụ thường được nhắc đến:

1.  Thay đổi trong giáo dục và trường học

•  Nhiều ý kiến cho rằng chương trình học hiện đại nhấn mạnh “tư tưởng thức tỉnh” (woke culture), lý thuyết giới tính (gender theory), và lý thuyết chủng tộc phê phán (critical race theory), làm suy yếu giá trị truyền thống như yêu nước, gia đình hạt nhân, và đạo đức Judeo-Christian. Qua âu châu mình thấy bạn bè khi xưa, rủ mình đi nhà thờ này nọ, nay chả thấy họ đi lễ hay đọc kinh cảm ơn thiên chúa đã cho bữa ăn hằng ngày. 30% giới trẻ không đi nhà thờ.

•  Ví dụ: Các cuộc tranh cãi về sách giáo khoa dạy về lịch sử Mỹ như “dự án 1619” (nhấn mạnh vai trò nô lệ), hoặc chương trình giáo dục giới tính từ sớm, được coi là làm thế hệ trẻ nghi ngờ lịch sử và giá trị quốc gia.

•  Bezmenov từng nói giáo dục là “nền tảng” của giai đoạn này, vì nó ảnh hưởng đến một thế hệ đầy đủ.


2.  Suy giảm niềm tin vào truyền thông và sự thật

•  Hiện tượng “tin giả” (fake news), phân cực truyền thông xã hội (social media polarization), và mất lòng tin vào báo chí chính thống. Nhiều người bác bỏ sự thật dù có bằng chứng (ví dụ: tranh cãi về bầu cử 2020 hoặc vaccine COVID), giống câu nói nổi tiếng của Bezmenov: “Exposure to true information does not matter anymore.” Vụ này rất nguy hiểm vì chúng ta cứ tiếp tục ăn những thức ăn mình thích, từ từ sẽ bội thực. Như bà viết diễn văn cho tổng thống Reagan nói, bà ta phải đọc hai bên để có tinh thần ổn định, tìm được chỗ đứng ở giữa. Nếu không sẽ trở thành bò đỏ và bò vàng. Chả ai nghe ai.

•  Mất lòng tin vào chuyên gia và tổ chức (theo khảo sát Edelman Trust Barometer 2025, người dân tin doanh nghiệp hơn chính phủ về sự thật). Vụ này thì mình hết tin vào chính phủ khi họ loan tin này nọ.


3.  Thay đổi văn hóa xã hội và gia đình

•  Khuyến khích chủ nghĩa cá nhân cực đoan, phân chia giới tính/giới tính sinh học, và suy yếu cấu trúc gia đình truyền thống (tỷ lệ ly hôn cao, sinh ít con). Mình không có tài liệu nên không rõ vụ này nhưng tự do cá nhân, tài chính, luật lệ phổ biến, bảo vệ người phụ nữ nên đàn ông phải chu cấp nên đưa đến ly dị dễ dàng. Trung Cộng ngày nay ra luật mới, phụ nữ khi ly dị chồng Không được chia tài sản, hy vọng người đàn bà sẽ suy nghĩ kỹ lại trước khi đâm đơn ly hôn.

•  Phong trào LGBTQ+ và “woke culture” được một số coi là làm suy đồi đạo đức truyền thống, tạo xung đột nội bộ (ví dụ: tranh cãi về quyền transgender trong thể thao hoặc giáo dục). Vụ này thì khá phức tạp nhưng cần suy nghĩ chính chắn trước khi phán quyết.

•  Suy giảm vai trò tôn giáo: Nhiều người trẻ ở Mỹ không theo tôn giáo nào (nones), coi tôn giáo là “mê tín”.


4.  Phân cực chính trị và mất đoàn kết quốc gia

•  Xã hội Mỹ chia rẽ sâu sắc về các vấn đề như di cư, biến đổi khí hậu, quyền súng, dẫn đến người dân không còn đồng thuận về giá trị cốt lõi. Một số áp dụng Bezmenov để nói Mỹ đang ở giai đoạn cuối Demoralization hoặc chuyển sang Destabilization. Có thể Nga của Puchin tiếp tục gây ảnh hưởng bằng cách mua ảnh hưởng, cũn gcos thể Trung Cộng cũng sử dụng chính sách này để làm suy giảm Hoa Kỳ như bán rẻ Fentanyl cho nhóm buôn ma tuý của Mễ tây cơ để đầu độc giới trẻ Hoa Kỳ. Chúng ta thấy con trai của đạo diễn phim “Harry meet Sally” bij nghiện ngập, xin tiền để mua ma tuý, không được nên giết cả cha lẫn mẹ.

•  Nhiều nhà sử học và chuyên gia coi Bezmenov phóng đại vai trò KGB (ông chỉ là nhân viên cấp thấp, không phải lãnh đạo). Lý thuyết của ông bị dùng để giải thích mọi thay đổi xã hội là “âm mưu cộng sản”, trong khi thực tế là do tiến bộ tự nhiên, công nghệ, và bất bình đẳng kinh tế.

•  Không có bằng chứng cụ thể về kế hoạch subversion hiện đại từ Nga/Trung Quốc theo đúng 4 giai đoạn, dù có “active measures” như disinformation trên mạng xã hội.


Có tin này mình đọc nhưng kiểm chứng. Ai biết thì cho mình xin. Họ nói về người Tàu mua các trường học tư của Hoa Kỳ khắp 19 tiểu bang.


Chinese owned groups have been buying up schools across the United States, including Spring Education Group with ownership of 240 schools across 19 states. 


They're funded by a Chinese investment firm whose CEO has been described as, quote, an ardent Chinese nationalist.”


“They're not here to make money. They're not invest to make money. They're here to take over American education and turn our classroom into the little red classroom and our education into American education with CCP characteristics — Communism is the solution to the problems that capitalism created in America. That is what they want, and that is very, very dangerous”


Mình xin phép mở ngoặc để Giới thiệu về Dự án 1619, gây tranh cãi rất xôi động.


Dự án 1619 (The 1619 Project) do Tạp chí The New York Times (NYT) khởi xướng, được ra mắt vào tháng 8 năm 2019. Dự án nhằm tái định lại khung lịch sử Mỹ bằng cách đặt hậu quả của chế độ nô lệ và đóng góp của người Mỹ da đen vào trung tâm của câu chuyện quốc gia. Tên gọi lấy từ năm 1619, đánh dấu 400 năm kể từ khi những người châu Phi bị bắt làm nô lệ đầu tiên đến thuộc địa Virginia (lúc đó là thuộc địa Anh). Hôm qua thấy video clip của ông bác sĩ da đen, từng làm bộ trưởng nhà cửa dưới thời ông Trump kỳ trước, kêu nô lệ có từ ngàn xưa. Đó là lịch sử, chúng ta không thể nào lấy lịch sử, buộc con cháu chúng ta phải trả nợ sự việc cách đây mấy trăm năm. Dự án được hình thành bởi nhà báo Nikole Hannah-Jones, với sự tham gia của các nhà văn, nhà thơ và nghệ sĩ chủ yếu là người Mỹ gốc Phi, nhằm nhấn mạnh góc nhìn từ cộng đồng da đen. Nó được hỗ trợ bởi Trung tâm Pulitzer và một nhóm sử gia từ Viện Smithsonian để nghiên cứu và kiểm chứng sự kiện.

Mục tiêu chính là kể lại lịch sử chế độ nô lệ Mỹ một cách chân thực, thường bị bỏ qua hoặc bóp méo trong giáo dục phổ thông, và khuyến khích thảo luận công khai về di sản của nô lệ hóa đối với xã hội hiện đại. Hannah-Jones đã nhấn mạnh rằng dự án không phải là lịch sử thay thế mà là cách nhìn toàn diện hơn về nguồn gốc nước Mỹ. 

Chuyện này mình đồng tình vì lịch sử Hoa Kỳ được giảng dạy không đúng lắm. Họ không nói đến người da đỏ bị bắt gửi về âu châu làm nô lệ. Dạy cho chúng ta biết sự thật, còn bắt trả nợ cho hậu duệ của người nô lệ thì mệt.

Dự án bắt đầu với một ấn bản đặc biệt 100 trang của Tạp chí NYT vào ngày 18/8/2019, bao gồm 10 bài luận, một bài luận ảnh, và các tác phẩm thơ ca cùng tiểu thuyết. Các chủ đề chính bao gồm các chế độ nô lệ ảnh hưởng đến các khía cạnh của xã hội Mỹ hiện đại:  

•  Dân chủ và lý tưởng lập quốc: Bà Nikole Hannah-Jones lập luận rằng lý tưởng dân chủ của Mỹ là “giả tạo” khi được viết ra, và người Mỹ da đen đã đấu tranh để biến chúng thành sự thật. Dân chủ nhưng người Mỹ da đen không được lấy người da trắng, hay ăn chung ngồi chung trên xe buýt. Ban đầu, bài viết cho rằng một lý do chính khiến thuộc địa Mỹ cách mạng là để bảo vệ chế độ nô lệ. Chủ nghĩa tư bản: Matthew Desmond mô tả chủ nghĩa tư bản Mỹ tàn bạo bắt nguồn từ đồn điền nô lệ, nơi lao động cưỡng bức và bạo lực tạo nền tảng cho kinh tế hiện đại. Họ quên nói đến là chính tư bản mới tạo ra sự phát triển liên tục, nuôi người dân ăn no. Mình có kể chủ nghĩa tư bản khởi đầu từ bên Hoà Lan, khi họ bắt đầu gửi các tàu đi kiếm các nguyên liệu ở các nơi xa. Còn sự bạc đãi, đàn áp nhân công này nọ thì chúng ta đã thấy xuất hiện từ cổ đại. Khi người la mã chinh phục được xứ nà thì bắt làm nô lệ.

•  Y tế và phân biệt chủng tộc: Linda Villarosa thảo luận về các huyền thoại về sự khác biệt sinh học giữa các chủng tộc, được dùng để biện minh cho nô lệ và vẫn tồn tại trong y khoa ngày nay. Âm nhạc và văn hóa: Wesley Morris khám phá cách âm nhạc da đen như Jazz, Blue đại diện cho sự tự do nghệ thuật, trong khi Khalil Gibran Muhammad nói về lịch sử đường (sugar) như “vàng trắng” thúc đẩy nô lệ. Giao thông và phân cách: Kevin Kruse liên hệ tắc nghẽn giao thông ở Atlanta với di sản phân biệt chủng tộc. Nói cho cùng thì nếu không có nô lệ làm nền tảng cho sự phát triển, khai phá nong nghiệp thì có lẻ Hoa Kỳ sẽ không giàu mạnh như ngày nay.

•  Chăm sóc sức khỏe: Jeneen Interlandi giải thích lý do Mỹ thiếu chăm sóc y tế phổ quát là do chính sách sau Nội chiến nhằm loại trừ người da đen. Hệ thống tù tội: Bryan Stevenson liên kết sự tàn bạo trong tù tội với nỗi sợ hãi người da đen từ thời nô lệ. Cái này mình không đồng ý vì lực sử kể rằng khi họ cho đào con kênh ở Louisiana thì họ thích mướn dân di cư từ Ái Nhĩ Lan, lý do là nếu mướn nô lệ htif khi mọt nô lệ bị bệnh hay tai nạn chết thì họ phải đền cho chủ người nô lệ $300, tỏng khi người di dân Ái Nhỉ Lan thì chả đền gì cả, chỉ đem đi chôn, rồi mướn người khác.

•  Khoảng cách giàu nghèo: Trymaine Lee thảo luận về khoảng cách tài sản do phân biệt đối xử, redlining (phân biệt địa lý), và cướp đoạt. Mình thấy rõ vấn đề như luật GI Act, nhằm giúp các cựu chiến binh, được mượn tiền đi học hay mua nhà không cần tiền đặt cọc. Chỉ có 5% người da đen được hưởng các phúc lợi của chương trình này. Các ngân hàng không cho mượn tiền khi họ mua nhà trong khu vực đa số có người da đen ở hoặc cho vay tiền lười cao hơn. Có thể văn hoá người da đen không suy nghĩ như người da trắng. Ngược lại, mình đọc nhiều sách của một giáo sư đại học, người da đen. Ông này, cho biết khi còn trẻ là một người theo chủ nghĩa mát xít, nay ông ta theo bảo thủ và lên tiếng cho rằng đảng Dân CHủ sử dùng chiêu bài người da đen để hưởng lợi, và khiến người da đen nạn nhân hoá họ và chỉ trông mong được đền bù vì cha ông khi xưa la nô lệ. Ông ta cho biết sinh viên học sinh da đen khi xưa rất giỏi nhưng từ khi Civil Act được ra đời thì có sự tụt hậu và gia đình người da đen bị banh ta lông. Mình có kể trên bờ lốc. Rất dài để tóm tắc lại đây.

Ngoài ra, Dannielle Bowman nói về các địa điểm buôn nô bị lãng quên, và thơ ca của Clint Smith về Hành trình Giữa (Middle Passage). Dự án còn bao gồm phần đặc biệt trên báo chủ nhật với Smithsonian về buôn nô xuyên Đại Tây Dương, và bài viết về thể thao chuyên nghiệp.

Từ năm 2019 đến 2025, dự án đã mở rộng đáng kể: 

•  Chương trình giáo dục: Trung tâm Pulitzer phát triển chương trình giảng dạy miễn phí cho trường học, với kế hoạch bài học cho các cấp độ khác nhau. Hàng ngàn bản tạp chí được phân phối đến trường học, bảo tàng và thư viện. Nhờ đó mà mình mò được tài liệu về lịch sử Hoa Kỳ trung thực hơn. Chúng ta thấy họ phá tượng của tướng Robert Lee và chống đối lá cờ miền nam này nọ là từ dự án này.

•  Podcast: Series âm thanh “1619” trên podcast The Daily, sau đó trở thành series riêng vào năm 2020.

•  Sách: Năm 2021, xuất bản The 1619 Project: A New Origin Story (mở rộng các bài luận thành sách dài), và sách thiếu nhi The 1619 Project: Born on the Water của Hannah-Jones và Renée Watson. Ai buồn đời thì nên kiếm đọc.

•  Phim tài liệu: Tháng 1/2023, Hulu phát hành series 6 tập do Hannah-Jones sản xuất, thắng giải Emmy cho Phim tài liệu xuất sắc năm 2024.

•  ai buồn đời muốn tìm hiểu thêm thì theo dõi đường dẫn các hội thảo như “Live at the Smithsonian” và tài liệu giáo dục tại 1619education.org.

Dự án nhận được nhiều lời khen từ giới truyền thông và học thuật vì đã làm nổi bật vai trò trung tâm của nô lệ và phân biệt chủng tộc trong lịch sử Mỹ. Nikole Hannah-Jones nhận Giải Pulitzer cho Bình luận năm 2020 nhờ bài luận mở đầu, được ca ngợi vì đã thúc đẩy cuộc trò chuyện công khai về nô lệ. Viện Báo chí Arthur L. Carter của Đại học New York xếp nó vào top 10 tác phẩm báo chí thập niên 2010-2019. Các nhà phê bình như Alexandria Neason (Columbia Journalism Review) và Ellen McGirt (Fortune) gọi nó là “sâu sắc” và “cần thiết” để sửa chữa câu chuyện nguồn gốc Mỹ.  Các chính trị gia Dân chủ như Kamala Harris khen ngợi nó là “cuộc tính toán mạnh mẽ”.

Dự án trở thành trung tâm của “cuộc chiến lịch sử” ở Mỹ, bị chỉ trích từ cả cánh tả và hữu. Các sử gia như Gordon S. Wood, James M. McPherson, Sean Wilentz, Victoria E. Bynum và James Oakes gửi thư cho NYT năm 2019, khen ngợi nỗ lực về nô lệ nhưng phản đối các tuyên bố như Cách mạng Mỹ nhằm bảo vệ nô lệ, cho rằng thiếu bằng chứng và thay thế hiểu biết lịch sử bằng ý thức hệ. Khi xưa, mình học lịch sử mỹ thì nói là nội chiến vì muốn bãi bỏ chế độ nô lệ nhưng trên thực tế là không. Mình có kể rồi. Họ tranh luận rằng không có thuộc địa nào bày tỏ lo ngại về việc Anh bãi bỏ nô lệ năm 1776, vì phong trào bãi nô chưa tồn tại.

Các phê bình khác bao gồm: Xem 1619 là “nguồn gốc thực sự” của Mỹ, bỏ qua nô lệ sớm hơn (như năm 1526 ở Florida) và nô lệ giữa người bản địa. Bóp méo lịch sử chống nô lệ, kinh tế nô lệ, và vai trò của Abraham Lincoln (bị miêu tả như ủng hộ chủ nghĩa da trắng thượng đẳng). Tư tưởng thiên vị, xóa nhòa lịch sử chống nô lệ và bóp méo nô lệ như đặc trưng duy nhất của Mỹ hoặc tư bản. 

Cánh hữu chỉ trích mạnh mẽ: Newt Gingrich gọi là “tuyên truyền”, Ted Cruz so sánh với “tuyên truyền”, Donald Trump thành lập Ủy ban 1776 năm 2020 để thúc đẩy giáo dục yêu nước (bị Biden hủy năm 2021).  Đến năm 2021, 27 bang Mỹ giới thiệu dự luật cấm sử dụng trong trường học, như Florida dưới thời Ron DeSantis cấm qua luật chống lý thuyết chủng tộc phê phán. Ông thần thống đốc Florida, có lẻ sẽ ra tranh cử vào năm 2028 nên dạo này thấy ông ta lên đài khá nhiều. Ông ta kêu gọi bỏ đóng thuế điền địa. Cái này thì mình nhất trí. Nhưng thành phố lấy tiền đâu để trả chi phí. 

Biên tập viên Jake Silverstein bảo vệ dự án năm 2019, từ chối sửa chữa lớn và gọi nó là “dịch vụ công chúng đáng khen”. Năm 2020, NYT chỉnh sửa bài của Hannah-Jones để thêm “một số thuộc địa” thay vì “các thuộc địa”, và xóa cụm “hiểu 1619 là nguồn gốc thực sự” khỏi trang web mà không ghi chú.  Hannah-Jones giải thích trên Twitter rằng chỉnh sửa là nhỏ, và dự án không thay đổi nội dung chính. Các lãnh đạo NYT như Dean Baquet và A.G. Sulzberger ủng hộ nó giữa tranh cãi nội bộ.

Tóm lại, các ví dụ trên là cách nhiều người theo MAGA áp dụng lý thuyết Bezmenov vào hiện tại, coi chúng là dấu hiệu xã hội đang bị “phi đạo đức hóa”. Mình nghĩ phức tạp hơn nhưng có ông mỹ tên Gus Hall, tổng thư ký đảng cộng sản Hoa Kỳ, đã từng ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ, đạt được trên 1 triệu phiếu. Ông ta tuyên bố sẽ không tranh cử nữa vì đảng Dân Chủ Hoa Kỳ sẽ thực hiện chương trình của đảng cộng sản Hoa Kỳ. Chán Mớ Đời 


Chúng ta bị dẫn dắt bởi truyền thông do giới cầm quyền nắm giữ nên cứ tha hồ đọc Fake News rồi chửi nhau cho có vẻ dân chủ. Chán Mớ Đời 


Mình nghĩ một quốc gia thường được thành lập dựa trên một huyền thoại như Việt Nam về con rồng cháu tiên, Nhật Bản là con của thái dương thần nữ,…Hoa Kỳ thì được xây dựng dựa trên nền Cộng Hoà và lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc nhưng dần dần hậu thế sẽ đặt câu hỏi và tìm sự thật. Tương tự Việt Nam được thống nhất sau năm 1975, nhưng ngày nay người ta bắt đầu tìm tòi về Việt Nam Cộng Hoà, đặt lại câu hỏi về ngọn đuốc cách mạng, văn hoá đồi trụy,…


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn