Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Tại sao giới trí thức lại thường theo chủ nghĩa xã hội?

 Tại sao giới trí thức lại thường theo chủ nghĩa xã hội?


Mình nhớ dạo đi học ở Paris, cãi lộn với tây đầm mệt nghĩ. Cuối tuần xem chương trình Bernard Pivot thì lại càng Chán Mớ Đời khi thấy các tác giả mới ra sách nói chuyện về xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản, thiên đường, thế giới đại đồng rồi đùng một cái họ khám phá vụ Khờ-Me đỏ sát hại chính đồng bào của họ. Rồi cuốn sách Killing Fields ra đời rồi đến cuốn phim nói về cuộc đời ông Dith Pran, mà mình có ăn cơm với ông ta một lần ở New York.


Dạo ấy ở Pháp quốc có đến 25% cử tri bầu cho đảng Cộng sản pháp. Nhớ ông bí thư của đảng cộng sản pháp mỗi lần lên đài truyền hình là phải nghe ông ta lập lại mấy lần “c’est un scandal”. Hàng năm họ có lễ hội được gọi Fête de l’humanité. Người đi đông như quân Tây đầm. Sau này mình sang Ý Đại Lợi làm việc thì còn chới với hơn nữa vì đảng cộng sản mạnh hơn cả bên tây. Đâu năm 1981 hay 1982 chi đó, người Pháp bầu ông François Mitterand làm tổng thống với sự ủng hộc ủa đảng cộng sản (25% cử tri pháp) và chính phủ Mitterand hồ hởi áp dụng các chương trình cải tiến xã hội với các chưogn tình phúc lợi khiến Pháp quốc ngày nay te tua.


Giới trí thức âu châu có thể bị hấp dẫn bởi những học thuyết mở đường cho một dạng “kỹ nghệ xã hội”, quan niệm cho rằng các thay đổi tích cực phải được thúc đẩy từ trên xuống, theo chiều dọc. Như các tác giả như Émile Zola, Balzac,… chỉ trích về giai cấp nhà giàu trưởng giả mà khi xưa, ông tây bà đầm bắt mình đọc nhưng chả hiểu gì cả. Sau này qua Tây mới đọc lại, mới giác ngộ cách mạng lý do. Tại sao? Bởi nếu tiến bộ nảy sinh từ việc áp dụng “công thức” cho một xã hội lý tưởng, thì giới trí thức sẽ trở thành những người bảo chứng cho hạnh phúc của đồng bào mình, được trao một sứ mệnh: dẫn dắt xã hội tới một tương lai tốt đẹp hơn. Ngược lại, nếu tiến bộ chủ yếu xuất hiện từ dưới lên, từ sáng kiến tự phát của các cá nhân, từ xã hội dân sự, từ thị trường thì giới trí thức chỉ còn vai trò mô tả và phân tích, chứ không thể tạo ra ảnh hưởng đáng kể, ít nhất là không phải ảnh hưởng tích cực đáng kể. Nói chung họ chỉ lý thuyết chớ chưa bao giờ trải nghiệm thành lập công ty này nọ.


Thiên hạ đến nhà mình hay cho ý kiến không công, phải làm cái này làm cái kia hay khi họ đến vườn thì dặn mình phải làm cái này cái nọ. Trồng cây này trống trái kia, đủ trò. Hình ảnh tương tự các trí thức muốn thay đổi xã hội đủ trò nhưng chả làm gì cả. Tương tự khi xưa, mình vẽ thiết kế nhà cửa hay các toà cao ốc này nọ nhưng khi va chạm thực tế thì khó thực hiện vì ngân sách của khách hàng rất thấp so với ý tưởng của mình đưa ra. Ngoại trừ các đồ án ở Saudi Arabia.


Friedrick Hayek nhận xét, “Ý tưởng tái thiết hoàn toàn xã hội, hấp dẫn giới trí thức hơn nhiều so với những suy tư thực dụng của những người chủ trương cải thiện dần dần trật tự hiện hữu.” Trong L’Opium des intellectuels (Thuốc phiện của giới trí thức), Raymond Aron kể rằng giới trí thức Pháp thời Chiến tranh Lạnh thường có thái độ thù địch với Hoa Kỳ, chính vì nước Mỹ đạt được những bước tiến khổng lồ nhờ sáng kiến cá nhân của công dân chứ không phải nhờ một “ý tưởng thiên tài” nào đó (chủ nghĩa cộng sản) được áp đặt cho toàn xã hội. Nhớ dạo đó ở âu châu gần như tuần nào cũng có biểu tình chống Pershing, hoả tiễn nguyên tử của mỹ được đặt tại Anh quốc và các nước âu châu khác, chỉ hướng về phía liên sô.


T tiến Thomas Sowell nhận thấy rằng giới trí thức có xu hướng nghiên cứu, ca ngợi và say mê những giai đoạn lịch sử có nhiều thay đổi về luật pháp (quyền mới, phúc lợi xã hội mới…), những thứ mà họ có thể tưởng tượng rằng mình góp phần tạo nên nhưng lại dửng dưng trước những cải thiện về đời sống con người, đôi khi còn quan trọng hơn nhiều, đến từ sức sống của xã hội dân sự (ngay cả khi chính những tiến bộ ấy đã tạo điều kiện cho các thành tựu xã hội ở các thập niên sau). 


Cho tới tận ngày nay, khoa học xã hội vẫn không mấy hứng thú với sự cải thiện phi thường về mức sống chỉ trong vài thập niên ở Hương cảng, Đài Loan, Tân Gia Ba hay Nam Hàn. Những nơi đạt được điều đó nhờ giảm vai trò của chính phủ trong nền kinh tế. Điều này đặt ra một câu hỏi: liệu những trí thức tự nhận là theo đuổi công bằng xã hội thực sự ưu tiên cải thiện số phận của những người bất hạnh nhất, hay họ ưu tiên khẳng định tầm quan trọng của chính mình trong việc cải thiện số phận ấy? Gustave Le Bon viết: “Điều các nhà giáo điều thực sự quan tâm, không phải là sự xuất hiện của chủ nghĩa xã hội, mà là sự xuất hiện của những người xã hội chủ nghĩa.”


Theo cùng một hướng, nhà tiểu luận Vera Nikolski cho thấy giới trí thức thường đánh giá thấp vai trò của tiến bộ kỹ thuật trong việc giải phóng phụ nữ (đồ gia dụng, thuốc tránh thai, phá thai, sự gia tăng năng suất khiến sức mạnh thể chất trở nên kém quan trọng hơn) và đánh giá quá cao vai trò của các tư tưởng bình đẳng. Cũng lưu ý rằng vào thế kỷ XIX, trong lúc John Stuart Mill kêu gọi các trường đại học đào tạo “những bộ óc có khả năng cải tạo và tái sinh xã hội”, mô tả tầng lớp tinh hoa trí thức là “những cái đầu suy nghĩ, đi trước phần còn lại của xã hội”, không có họ thì đời sống con người sẽ trì trệ”, thì cuộc Cách mạng Công nghiệp lại đang biến đổi tận gốc điều kiện sống của nhân loại. Cuộc cách mạng ấy được dẫn dắt, trong số những người khác, bởi Thomas Edison và Henry Ford,những người gần như không được học hành bài bản và bởi anh em họ Wrightnhững người thậm chí còn chưa tốt nghiệp trung học. 


Cuộc thảo luận này có thể gợi ra một câu trả lời cho câu hỏi: làm sao giải thích được “sự mê đắm bạo chúa” của giới trí thức? Tại sao trong suốt thế kỷ XX họ lại tỏ ra dễ dãi với những nhà độc tài khát máu nhất?” Mình nhớ cãi lộn với đám tây đầm về Mao Trạch Đông, chúng rất phục Mao chủ tịch, kêu cuộc cách mạng văn hoá, nghe nói đã giết trên 60 triệu người Tàu, phá vỡ cái cũ để xây dựng cái mới, một thiên đường của giới vô sản. Nhiều tên tôn thờ Stalin nhưng lại chửi Hitler nên mình cũng chả hiểu nhiều. Đối với mình Stalin, Hitler hay Mao Trạch đông, những kẻ độc tài đều là những tên đồ tể.


Nhà triết học Roger Scruton trả lời: “Giới trí thức tự nhiên bị quyến rũ bởi ý tưởng về một xã hội được hoạch định, bởi họ tin rằng mình sẽ là người điều hành nó.” Theo ông Mikhail Bakunin, “mục tiêu thật sự của các trí thức Marxist là thiết lập một nền cai trị của giới học giả” tức một chế độ nơi các lý thuyết gia Marxist nắm quyền lực. Sai lầm của các nền dân chủ tự do, theo họ, chính là vì chúng quá tự do: chúng “dành chỗ cho hành động tự phát của mọi người, từ bỏ tham vọng xây dựng trật tự xã hội theo một kế hoạch và khuất phục tương lai theo ý chí của mình” (Raymond Aron). Ngược lại, nếu chủ nghĩa cộng sản lại hấp dẫn giới trí thức, có lẽ là một chế độ dựa trên sự bóc lột công nhân bởi giới trí thức.


Nhớ trước khi ông vua Charles của Anh quốc công du Hoa Kỳ, nhiều người Mỹ xuống đường trương biểu ngữ “No King” nhưng khi ông vua xứ sương mù đến Hoa Kỳ thì quốc hội Hoa Kỳ ai nấy đều vỗ tay như bắp rang ông vua khiến mình ngu lâu dốt sớm là càng ngu bền vững. Mình thì không thích vua chúa từ thời Bảo đại nên khi xưa ở Paris, ông Gignac người viết cuốn Con Rồng Annam, mỗi tuần đi gặp vua Bảo Đại để phỏng vấn để ghi lại chi tiết để viết. Có hỏi mình muốn gặp vua hay không thì mình chỏ biết lắc đầu.


George Orwell đã đưa ra phân tích tương tự từ năm 1946. Ở Anh, ông viết, những trí thức ủng hộ Joseph Stalin thường là “những cá nhân tầm thường, bất mãn với hệ thống, khao khát nhiều quyền lực và sự công nhận hơn”. Những người ấy nhìn sang Liên Xô và thấy hoặc tưởng rằng thấy một hệ thống loại bỏ tầng lớp thượng lưu, giữ giai cấp công nhân đúng vị trí của nó và trao quyền lực tuyệt đối cho những người như họ. Mong muốn thầm kín của họ: thay thế chủ nghĩa xã hội bình đẳng bằng một xã hội phân tầng nơi giới trí thức cuối cùng cũng có thể cai trị hoàn toàn đám nông dân ngu dốt.


Sau chuyến đi tới CubaSimone de Beauvoir đã kể lại cách bà, Jean-Paul Sartre và Fidel Castro cùng đi khắp hòn đảo, đặc biệt để Castro có thể “quở trách” nông dân và “yêu cầu họ làm tốt hơn”. Một hôm họ đi ngang qua những công nhân đang xây một ngôi làng. Chỉ nhìn thoáng qua, Castro đã nhận ra những sai sót trong thiết kế kiến trúc. Thế là ông “nằm dài xuống đất và vẽ trên cát sơ đồ của cả ngôi làng; rồi người ta mang cho ông một mảnh bìa để ông chép lại bản vẽ. Những người nông dân hoan hô ông: họ sẽ làm theo chỉ dẫn của ông.” Bà Beauvoir còn kể rằng công nhân Cuba “luôn ngẩng đầu nhìn lên” để xem trực thăng của Castro có tới không, hy vọng ông sẽ từ trên trời hạ xuống để soi sáng cho họ bằng trí tuệ của mình. Khó có thể tìm được hình ảnh ẩn dụ nào đẹp hơn. Lâu lâu thấy đài truyền hình chiếu cảnh bác Kim Ủn của bắc Triều Tiên, chắp tay sau đít đi kinh lý, mấy tên tướng hay cán bộ đáng tuổi ông nội của bác Kim, cầm bút và sổ tay ghi lia lịa những lời dạy của bác Kim. Sau này chắc Bác Kim sẽ cho xuất bản cuốn sách đỏ (Petit livre rouge) như Mao Trạch Đông khi xưa làm. Mình có mua cuốn này để đọc.


Khi đọc cuộc phỏng vấn trong đó Beauvoir bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với chế độ độc tài Cuba, thật khó để không nhận ra một dạng chủ nghĩa gia trưởng trí thức, một sự say mê lãng mạn đối với mô hình xã hội nơi một tầng lớp tinh hoa “khai sáng” dẫn dắt quần chúng đi đúng đường. Vài năm trước đó, bà từng vui mừng khi chế độ Maoist, thông qua bộ máy tuyên truyền, giữ cho người dân “được cập nhật các sự kiện, được giải thích ý nghĩa và nguyên nhân của chúng” và “được giáo dục chính trị”. Như Orwell nhận xét, một số trí thức không nhìn cách mạng như “một phong trào quần chúng mà họ muốn tham gia”, mà coi nó là “một tập hợp các cải cách mà họ, những học giả sẽ áp đặt lên người khác, những thành viên thuộc tầng lớp thấp hơn”. Có lẻ vì vậy mà các trí thức pháp rất ủng hộ Pol Pot, nghe nói ông này tốt nghiệp tiến sĩ và luận án của ông ta có nói về cuộc xây dựng một xã hội mà sau này khi nắm quyền ông ta đã thực hiện bằng cách giết hết 30% dân chúng Cao Miên.


Dựa trên tác phẩm Capitalism, Socialism and Democracy, Joseph A. Schumpeter lập luận rằng chủ nghĩa tư bản tưởng thưởng cho những người hành động thực tế, những người tạo ra giá trị cho người tiêu dùng, trong khi lại đánh giá thấp sự thông minh trừu tượng và tài hùng biện. Từ đó nuôi dưỡng sự bất mãn của giới trí thức, tự xem là giới tinh hoa.


Chủ nghĩa xã hội thì nâng những người ấy lên thành các nhà hoạch định và điều phối trung tâm, đem lại địa vị và sự bảo vệ khỏi áp lực thị trường. Chủ nghĩa tư bản tưởng thưởng cho người tạo ra giá trị; chủ nghĩa xã hội nâng vị thế của người điều khiển.


Giới trí thức được xem là những “thợ ngôn từ”, hình thành cảm giác mình “xứng đáng” từ thời đi học, nơi khả năng ngôn ngữ đem lại địa vị cao nhất. Sau đó họ bất mãn với chủ nghĩa tư bản vì hệ thống này lại thưởng cho khả năng tạo ra giá trị thực tế cho người tiêu dùng hơn là trí tuệ trừu tượng.


Tiến sĩ Thomas Sowell, một người da đen, từng là một người Mát-xít gộc như thượng nghị sĩ Bernie Sanders, gọi họ là “những người được xức dầu” (the anointed). Những người đánh giá quá cao kiến thức của bản thân trong việc thiết kế xã hội, đổ lỗi cho chủ nghĩa tư bản về mọi tệ nạn xã hội trong khi phớt lờ các đánh đổi và trí tuệ thực tiễn phân tán trong xã hội, đồng thời thúc đẩy những tầm nhìn giúp nâng cao vai trò của chính họ như những nhà hoạch định và phê bình. Có lẻ mấy ông trí thức mỹ thì mình thích nhất ông da đen này vì ôgn ta viết sách hay trả lời phỏng vấn rất dễ hiểu.


Giới trí thức sống trong các tháp ngà, tưởng tượng ra một thế giới huy hoàng, chuyên chính vô sản bú xua la mua. Muốn thực hiện chương trình của họ thì phải dùng bạo lực, ép buộc người khác tuân theo lời họ nếu không thì giết. Như Tố Hữu khi xưa từng viết: “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ" (từ bài thơ Giết giặc hoặc Thơ đấu tố)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyện người hàng xóm mỹ

 Chuyện người hàng xóm mỹ


Hôm qua, mình đem mấy quả bơ qua sang cho bà hàng xóm đối diện nhà vì thấy bà trong ga-ra mở. Bà ta kêu là đồng chí gái đã đưa hôm qua rồi nhưng vẫn lấy thêm. Nhà to đùng mà chỉ có hai vợ chồng ở từ 40 năm qua. Có lẻ người hàng xóm thân thiện nhất của xóm này cũng là công an khu vực vì cái gì xảy ra trong xóm là họ đều biết trước và nói lại cho mình. Đi chơi thì nhờ bà ta canh dùm nhà, đem thùng rác vào.

Thở bằng mũi và miệng


Ai chết ai mới dọn tới hay dọn đi bà ta đều biết rõ ràng. Kinh. Ông chồng trước đây là cảnh sát viên còn bà ta làm giáo viên. Hai vợ chồng công chức nhà nước nên về hưu lương bổng thoải mái đi chơi đủ trò. Vào ga-ra thì khám phá ra các thùng giấy đầy nhóc mới hỏi bà ta. Bà ta cho biết ông chồng có hai lá thận bị hư nên mỗi ngày phải truyền mấy bịch nước chi đó vào người, tổng cộng là 9 bịch mỗi ngày. Tối ông ta ngủ cạnh nhà cầu tiêu để dễ đi tiểu. Hình như năm ngoái ông ta bị tông xe trên xa lộ, nằm bệnh viện mấy ngày. Đâu hai năm trước ông ta bị mỗ tim. Kinh. Sau đó thấy ông ta yếu và gầy hẳn xuống. Được cái là không tốn tiền mua mấy thùng nước truyền vào người. Cứ mỗi tháng có chiếc xe chở mấy trăm thùng đến, nhét đầy ga-ra.


Mình có anh bạn gốc Đài Loan, hôm trước đi thăm thấy te tua vì ăn uống phải truyền qua đường ống, trẻ hơn mình cả một con giáp. Cho thấy sức khoẻ rất cần thiết. Bệnh tật không đến cái rụp mà từ từ như mưa lâu thấm đất. Lúc bác sĩ phác giác ra thì đã quá muộn màng. Chán Mớ Đời 


Xem các phim tài liệu ngắn, thường là các bác sĩ hay tự xưng bác sĩ nói sơ sơ về vấn đề nào đó rồi rao bán thuốc. Bác sĩ bán thuốc kiếm nhiều tiền hơn chữa bệnh. Được cái là cũng học thêm chút gì về thông tin y tế. Từ đó mò thêm tin tức để đọc.


Vấn đề là mới xem ông bác sĩ này nói như vậy, phải làm thế này thế nọ thì kỹ thuật toán nó tung các video khác trên youtube, hay trên mạng về vấn đề mới xem thì thấy một bác sĩ khác nói trái ngược người đầu tiên nên mình chả biết đâu là bến bờ. Phải mò tài liệu sách vỡ lòng đọc cho hết Chán Mớ Đời. 

Há mồm khi ngủ. Mấy người Tàu cũng nói về vụ ngủ thở bằng mồm và bằng mũi 

Theo tài liệu của học trò giáo sư Feymann, đoạt giải Nobel về vật lý quantum thì có nhiều điều khá vui, giải thích được những thắc mắc. Điển hình tại sao về già thiên hạ hay đi tiểu đêm. Họ giải thích là trong ngày chúng ta hoạt động nên cơ thể đi đứng khiến chất lỏng chạy xuống chân nên khi đi ngủ thì nằm thẳng thì nước hay chất lỏng chảy ngược về thận khiến hai lá thận làm việc mệt thở và đưa đến mót tiểu. Họ khuyên trước khi đi ngủ ngồi trên sofa duỗi chân lên cao để nước chảy tuần tự về sẽ khiến mình mót tè trước khi ngủ. Có dạo mình thấy họ kêu ngủ phải bỏ cái gối dưới chân nhưng không giải thích nay thì hiểu sự việc nhưng họ nói và giải thích không như vật lý. Cứ nghe ai nói rồi bắt chước bỏ lên mạng để câu like hay view kiếm tiền từ YouTube hay Facebook.


Mình có anh quen, nha sĩ, lần đầu tiên đến nhà mình, đem theo chai whisky nhưng mình lại không uống rượu nên một mình anh ta chơi chai rượu. Kinh. Sau này quen thân thì anh ta giải thích là khi xưa ở Việt Nam, sau 75 uống rượu nấu của thiên hạ, không biết độ cồn bao nhiêu, không giới hạn như ở Hoa Kỳ nên hai lá thận xem như banh ta lông. Anh ta không uống nước vì thận lọc rất lâu nên chỉ uống rượu.


Mình đọc hai cuốn sách của một ông Mỹ và ái Nhĩ Lan bị vấn đề ngủ khó khăn. Lý do khi ngủ cái mồm của họ há to như cá sấu nên mất nhiệt và ngáy như Tây ba lô. Họ chữa được nhờ thở bằng mũi và tối ngủ thì dán cái mồm lại với băng keo. 1 ông được đại học standford thử nghiệm. Mình thử theo phương pháp của họ, công nhận không phải thức đêm và hay nhất là ngủ rất sâu. Sáng xem biểu đồ giấc ngủ, thấy rõ ràng khác với lúc trước. Lúc ngậm mồm lại thì sẽ có ít gas carbonique trong người, nên Oxygen từ mũi sẽ được đưa vào huyết quản nhiều hơn để nuôi các tế bào.


 Họ giải thích cơ thể con người được “thiết kế” để thở bằng mũi, không phải bằng miệng. Khi thở qua mũi, không khí được lọc, làm ấm và làm ẩm trước khi vào phổi. Quan trọng hơn, xoang mũi sản sinh ra Nitric Oxide, một phân tử giúp giãn mạch máu và tăng khả năng hấp thụ oxy vào máu. Ngược lại, khi thở bằng miệng, thì không khí đi thẳng vào phổi mà không qua xử lý. Thiếu Nitric Oxide sẽ không giúp giãn mạch máu khiến hiệu quả trao đổi khí giảm. Điều này dẫn đến một tình trạng giống như “thiếu oxy nhẹ” kéo dài suốt đêm, khiến cơ thể không được phục hồi tối ưu. Nên sáng ra vẫn cảm thấy mỏi mệt, ngủ chưa đủ.


Khi thở bằng miệng làm thay đổi cấu trúc đường thở khi ngủ; lưỡi dễ tụt ra sau và Đường thở bị thu hẹp. Điều này dẫn đến hiện tượng ngáy và, nghiêm trọng hơn, Sleep Apnea (ngưng thở khi ngủ). Vấn đề mỗi lần ngưng thở, dù chỉ vài giây: Não bị đánh thức để “khởi động lại” việc thở và chu kỳ ngủ sâu bị gián đoạn. Vụ này khá nguy hiểm, thay vì ngưng thở vài giây mà có thể ngưng thở luôn. Mình có vài thân hữu ngủ rồi đi luôn. Hậu quả là người ngủ không đạt được giai đoạn ngủ sâu (deep sleep) và ngủ REM, hai giai đoạn quan trọng nhất cho phục hồi thể chất và tinh thần. Có lần đi chơi với vợ chồng tên bác sĩ người Phi, anh ta đem theo cái máy để ngủ ban đêm. Kinh. Leo núi sơ sơ mà thấy anh ta chới với. Anh ta béo lắm.


Một yếu tố sinh lý quan trọng nhưng ít người biết là vai trò của CO₂ trong việc vận chuyển oxy. Khi thở bằng miệng, chúng ta thường thở nhanh và ngắn hơn, làm giảm nồng độ CO₂ trong máu. Điều này liên quan đến Bohr Effect, một cơ chế cho phép oxy tách khỏi hemoglobin để đi vào tế bào.


Khi CO₂ quá thấp: Oxy bị “giữ lại” trong máu và tế bào không nhận đủ oxy cần thiết. Nói cách khác, dù có oxy trong máu, cơ thể vẫn không sử dụng được hiệu quả, giống như có tiền trong ngân hàng nhưng không rút ra tiêu được.


Thở bằng miệng làm tăng tốc độ mất nước qua hơi thở, dẫn đến: khô miệng, khô họng và cảm giác khó chịu. Những yếu tố này gây ra các lần thức giấc ngắn trong đêm. Dù người ngủ thường không nhớ những lần tỉnh giấc này, chúng vẫn phá vỡ cấu trúc tự nhiên của giấc ngủ. 


Thở bằng mũi thường liên quan đến nhịp thở chậm và sâu, giúp kích hoạt hệ thần kinh phó giao cảm, trạng thái thư giãn của cơ thể. Ngược lại, thở bằng miệng có xu hướng: nhanh hơn và ngắn hơn.


Khoa chỉ mình cách thở bằng mũi khi đi bộ hay tập Hồng Gia hay Thái Cực Quyền thì thấy không mệt. Như năm ngoái mình đi bộ 375 km ở Ý Đại Lợi thì chả thấy mệt gì cả khi thở bằng mũi thay vì bằng mồm. Tương tự khi đi Thái Cực Quyền hay kéo nội công Hồng Gia, nếu mình giữ nhịp thở đều thì khi đối thủ tác động tay chân vào cơ thể của mình thì thay vì phản công, tinh thần của mình bình lặng, từ từ nhận thức được cái lực của đối thủ và sẽ bẻ cái lực của họ. Lý do là hơi thở không bị ngắt quảng vì khi bị ngắt quảng dù chỉ một tích tắc là mất lực và sẽ bị đối thủ đàn áp.


Dạo này mình kết nối được cả cơ thể khi kéo nội công Hồng Gia nhờ xương cụt được bẩy đúng khiến toàn khối cấu kết lại chỉ có đều là hơi mệt nhưng cố giữ hơi thở ở bụng thì ít mệt. Chớ trước đây khi mình thở vô ra đều thì toát mồ hôi nhiều còn nay thì ít hơn và ít mệt.


Mình chỉ lấy băng keo trong, cắt một miếng độ 1 inch (3 cm) rồi dán lên cái mồm của mình để khoá cái miệng lại rồi ngủ rồi. Sáng dậy thì lột ra, uống ly nước ấm với chút muối biển. Xong om


Hôm trước có chị tập ở Đông Phương Hội kêu “Đông Phương Hội giúp chị nhiều lắm”. Mình hỏi giúp về điều gì thì chị ta cho biết như ăn được ngủ được. Chị ta năm nay lên 83 tuổi mà sáng 5 giờ sáng dậy, lái xe một mình đi tập. Có một chị tập đâu cả năm rồi. Lúc đầu chị ta đến tập ho như thiên hạ hát karaoke ở Bolsa. Chị ta đi làm xa nên chỉ tập được 30 phút là chạy, hôm nào làm việc ở nhà thì có thể tập đến cuối giờ. Nay thì chị ta bớt ho rồi.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Những Kẻ phản bội của Liên Sô

  “lịch sử ngắn gọn” về Liên Xô:


Dạo này chiến tranh Ba Tư và Do Thái và Hoa Kỳ khiến thiên hạ để ý vì dính dáng đến cái hồ bao của họ chớ thường chả ai để ý. Hay chiến tranh Ukraina-Nga, không ai nhắc đến nữa vì quá lâu, mất tính câu like. Nghe nói Ukraina sản xuất các Drone và bán cho Hoa Kỳ và các nước tỏng vùng trung đông để chóng lại hoả tiễn Ba tư. Lý do là Rẻ Hơn. Như vụ 40,000 người dân Ba Tư nổi dậy bị vệ binh cộng hoà hồi giáo giết như chém chuối trong vườn. 


Hoa Kỳ hay Do Thái bỏ bom trúng cái trường học khiến mấy học sinh bị giết chết. Không biết các vệ binh cố tình bám vào dân như chiến lược của Việt Cộng khi xưa để Hoa Kỳ không dội bom hay tình báo sai đưa đến vụ thiệt hại này. Vụ này học sinh chết khiến cả thế giới lên tiếng chửi bới này nọ nhưng tuyệt nhiên chả thấy ai, kể cả đức giáo hoàng nói đến vụ 40,000 nạn nhân bị chính quyền ba tư tàn sát. Cho thấy bỏ bom 168 học sinh tàn nhẫn hơn giết 40,000 người. Chán Mớ Đời 


Thấy các chế độ độc tài khát máu thì sớm muộn gì cũng bị dẹp tiệm mà các tên lãnh đạo đều là tội đồ cả. Điển hình chế độ Liên sô từ 1917 đến 1991. Chưa tới 100 năm. Ông LÊNIN làm cách mạng muốn lật đổ Sa Hoàng bị mật vụ lùng kiếm nên chạy qua Thuỵ Sĩ. Muốn về nước phải làm chi đó cho nước pHỔ, để giúp chấm dứt chiến tranh với Sa Hoàng. Nói như người nga là Nga Gian vì bắt tay với ngoại bang thêm người đức cho ông ta tiền để về làm cách mạng để Sa Hoàng bị lộn xộn mà không đánh nhau với nước Phổ nữa. Do đó người đức mới để ông ta yên ấm ngồi xe lửa đi từ Thuỵ Sĩ qua Đức quốc an toàn, mới về lại xứ Sa Hoàng để thực hiện cuộc cách mạng long trời lỡ đất đã giết chết không biết bao nhiêu người.


 Ông ta chiếm chính quyền nhưng cai trị chưa được bao lâu thì lăn đùng ra chết vì bệnh phong tình. Ngay sau khi Lenin qua đời, họ mới đột phá tư duy nhân vật số hai của Đảng, đồng chí Trotsky, người hoạch định thực hiện cách mạng, lại là một kẻ phản bội. Kamenev, Zinoviev, Bukharin và Stalin đã lật đổ Trotsky và đày ông ra khỏi Liên Xô. Ông Trotsky này chạy qua tới Mễ Tây Cơ, đồng chí Stalin lại sai người ám sát ông ta. Có cuốn phim kể về vụ này. 


Nhưng chỉ vài năm sau, người ta lại phát hiện rằng Kamenev, Zinoviev và Bukharin cũng là kẻ thù của nhân dân và phần tử phá hoại đảng và nhà nước. Khi đó, đồng chí dũng cảm Genrikh Yagoda đã cho xử bắn họ. Không lâu sau, Yagoda với tư cách là một điệp viên của kẻ thù lại bị Yezhov xử bắn. Chán Mớ Đời 


Nhưng thêm vài năm nữa, hóa ra Yezhov cũng chẳng phải đồng chí gì, mà chỉ là một kẻ phản bội và gián điệp cho ngoại bang. Và Beria đã cho xử bắn Yezhov. Tình đồng chí qua yêu thương.


Sau khi Stalin qua đời, mọi người nhận ra rằng Beria cũng là kẻ phản bội. Rồi Zhukov lật đổ và xử bắn Beria. Nhưng chẳng bao lâu, Khrushchev phát hiện ra Zhukov là kẻ thù và kẻ âm mưu. Và ông đã đày Zhukov đi vùng Ural. Cái này lạ vì khác với mấy đồng chí trước đây, đều bị đem ra xử bắn đây lại đày đi tù. Bắt đầu mất cảnh giác cách mạng. Bị tiểu tư sản hoá, mất lập trường cách mạng.


Một thời gian sau nữa, người ta công bố rằng chính Stalin cũng từng là kẻ thù, phần tử phá hoại và phản bội. Cùng với ông, phần lớn Bộ Chính trị cũng bị quy kết như vậy. Khi đó, các đảng viên trung thực, do Khrushchev lãnh đạo, đã đưa Stalin ra khỏi lăng và giải tán Bộ Chính trị, cùng với Shepilov người đã “gia nhập cùng họ”. Mình đi viếng Georgia, quê hương của Stalin, có ghé lại căn nhà của ông ta và viện bảo tàng thì kinh khủng vì người ta chỉ thích các tên đồ tể.


Vài năm trôi qua, lại phát hiện rằng Khrushchev là một kẻ duy ý chí, lưu manh vì dám đem giày vào họp ở liên hIệp Quốc rồi rút ra đập bàn doạ bom nguyên tử cả đám, phiêu lưu và là kẻ thù của nhân dân. Rồi Brezhnev buộc Khrushchev phải về hưu. Chẳng bao lâu sau, Brezhnev qua đời, và người ta nói rằng ông là một lão già lú lẫn, phần tử phá hoại và là nguyên nhân của thời kỳ trì trệ. Sau đó còn có thêm hai “lão già lú lẫn” nữa, nhưng chẳng ai kịp nhớ tới họ, vì họ lần lượt qua đời rất nhanh như Andropov, cựu lãnh đạo KGB.

Thấy tấm ảnh này trên nhóm cựu quân Nhân Mỹ tại Việt Nam. Không biết là ban nhạc người phi luật tân hay Việt Nam 


Rồi một nhà lãnh đạo trẻ trung, năng động là Gorbachev lên nắm quyền. Và hóa ra toàn bộ Đảng đều là một đảng của những kẻ phá hoại và kẻ thù nhân dân hết nhưng giờ đây ông sẽ sửa chữa tất cả… Và đó là lúc Liên Xô sụp đổ. Và Gorbachev hóa ra cũng là một kẻ thù và kẻ phản bội đảng và nhà nước. Sau này ông Yeltsin lên thì họ cũng kêu ông này là tay sai ngoại bang, Nga gian chi đó. Rồi ông Puchin lên ngôi thì còn tại vị. Không biết sau khi ông ta xuống hay qua đời, có đồng chí nào lại đọc diễn văn chửi bới ông ta hay không. Chán Mớ Đời 


Tính lại các nhà lãnh đạo cộng sản đều là kẻ thù nhân dân, kẻ phá hoại hết. Học tập chưa sửa sai hết. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Đế chế “Nail” của người Việt hải ngoại

 Đế chế “Nail” của người Việt tỵ nạn


Mình có kể về các motel tại Hoa Kỳ đa số do người di dân gốc Ấn Độ sở hữu, các tiệm Donuts thì thuộc về người Cao Miên, các tiệm giặt ủi thì người Đại Hàn. Hôm nay đến cộng đồng người Việt tỵ nạn đã xây dựng một đế chế làm móng tay tại Hoa Kỳ. Cho thấy tuỳ theo đặc tính và văn hoá của mỗi cộng đồng di dân đã xây dựng một ngành nghề đặc biệt trong xã hội Hoa Kỳ.

Được biết người Mỹ gốc việt chiếm 1.7% dân số Hoa Kỳ nhưng họ có trên 51% thợ làm nail trên đất Mỹ, 80% người làm nail tại tiểu bang Cali. Xem ra mình quen nhiều người Việt làm nail ở Cali. Chưa đến 2% dân số mà đã thay đổi kỹ nghệ Nail trên 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm.


Đế chế Nail tại Hoa Kỳ khởi đầu từ ngày 30/4/1975. Hoa Kỳ di tản 125,000 người Việt ra khỏi Sàigòn. Đa số đến Hoa Kỳ với anh ngữ giới hạn, không tiền bạc, nhưng vài thập kỷ sau khi rời bỏ quê hương trong bối cảnh vội vả, họ đã xây dựng và thay đổi ngành làm nail tại Hoa Kỳ. Trong số người di tản 50,000 người đó đã được đưa đến trại thủy quân lục chiến Pendleton, California tạm trú, đợi người Mỹ bảo lãnh ra trại. Tại đây, có một bà tài tử người Mỹ tên Tippy Hedrin, nổi tiếng trong phim của Alfredo Hitcock “The Birds”, mẹ của nữ tài tử Melanie Griffith đến trại tỵ nạn làm thiện nguyện. Điều bà ta ngạc nhiên là các bà tỵ nạn, thay vì nhìn khuôn mặt Diễm kiều của bà, cứ nhìn chăm chăm vào móng tay của bà. Lý do là ở Việt Nam ít phụ nữ nào sơn móng tay đẹp như móng tay bà này.

Bà tổ ngành nail của người Việt tại Hoa Kỳ 

Bà ta đột phá tư duy, sao không dạy mấy bà người Việt này làm móng tay để kiếm cơm nuôi con cái. Thế là bà ta kêu người làm nail cho bà dạy mấy bà tỵ nạn người Việt. Chỉ 20 phụ nữ người Việt theo học lớp này và từ đó dạy lại 100 người rồi hàng ngàn người Việt theo nghề Nail. Từ tỵ nạn đến chiếm hoàn toàn kỹ nghệ làm móng tay với tổng số 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm cho người Mỹ tại Hoa Kỳ.


Đây là câu chuyện của những người mẹ, người cha, mất hết những gì ở Việt Nam, tỵ nạn ở xứ có nhiều cơ hội đổi đời, hy sinh đời mình để củng cố đời con. Ngoài ra còn để dành tiền gửi về giúp đại gia đình ở Việt Nam. Họ làm việc từ 10 đến 12 tiếng mỗi ngày. Đi chung xe với nhau trên xa lộ để đi làm. Sự giao thoa văn hoá người Việt và người gốc phi châu hay Mễ tây cƠ. Từ 1975 đến đầu 1990, có trên 1 triệu người Việt định cư tại Hoa Kỳ. Họ đến từng đợt, đa số không biết nhiều anh ngữ, không tín dụng cá nhân nhưng lịch sử nhiều khi rất lạ.

Trở lại 20 người Việt đầu tiên học làm nail. Sau đó thì họ đi làm cho chủ người Mỹ rồi họ đột phá tư duy, tại sao làm công cho thiên hạ nên rủ nhau mở tiệm riêng tuy nhỏ nhưng làm nhiều ăn nhiều làm ít ăn ít. Nói như người Việt bỏ công làm lời. Các người Việt đi làm cho tiệm nail rồi khi hiểu cách thức quản lý tiệm thì họ ra riêng, mở tiệm cho mình. Mình nghe kể là thợ làm xong, học đủ nghề thì xù chủ chạy ra mở tiệm riêng rồi kéo khách hàng về tiệm mình. Nên họ kêu nghề nail rất bạc bẽo. Vào đọc tin tức của nhóm làm nail ở Hoa Kỳ thấy thương họ.


Trước khi có sự hiện diện người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, đi tới tiệm nail chỉ dành riêng cho tầng lớp người giàu có với thời gian nhiều, chả biết làm gì ra ngồi Salon để cho ai đó dũa móng tay hay móng chân và tán dóc. Đối với phụ nữ mỹ bình dân đi vào salon nail là một loại xa xỉ vì quá đắt đối với túi tiền của họ nhưng người Việt đã thay đổi sự việc. Người Việt mở tiệm nail, không có tiền nhiều nên lúc đầu thường mở trong các khu vực bình dân như những khu vực của người da đen hay Mễ tây cơ.



Kết quả người Việt đã thay đổi khuôn mẫu làm nail tại Hoa Kỳ. Họ đã dân chủ hoá việc làm nail, thay vì làm nail riêng cho tầng lớp người giàu có, họ lấy giá rẻ khiến người dân bình thường, với giá hữu nghị có thể tự thưởng cho mình khi đi ăn tiệc vì mỗi set rẻ. Tương tự người cao miên mở tiệm bán Donuts có cả gia đình chung vào làm thì người Việt cũng có con cái giúp sau khi đi học về. Mình có người thân vượt biển sang Hoa Kỳ đi làm nail, mở tiệm rồi con cái đi học về ra giúp phụ cai quản trong tiệm. Ai buồn đời xem đường dẫn 

https://www.bbc.com/news/magazine-32544343


Ngoài ra các tiệm của người Mỹ thì đến 5 giờ là đóng cửa, còn tiệm người Việt thì mở đến khi nào hết khách thì về. Họ lấy giá hữu nghị nên có đông khách và mở thêm các chi nhánh. Có người đi xuyên bang thực hiện giấc mơ Hoa Kỳ của họ. Từ từ các tiệm nail do người Việt mở khắp Hoa Kỳ. Đi đâu mà thèm ăn cơm Việt Nam thì chỉ ghé lại tiệm nail để hỏi địa chỉ tiệm ăn Việt Nam. Đa số người Việt tìm thấy cơ hội làm tiền trong các khu vực đông người da đen và người mễ. Mấy sắc dân này ưa thích màu mè,…nên làm móng tay rất nhiều kiểu, vẽ đủ hình thức, các tài tử hay đội banh này nọ. Cho thấy đế chế Nail của người Việt  không chỉ xây dựng trong cộng đồng người Việt mà toàn nước mỹ với các cộng đồng bạn.


Mình có anh bạn, mẹ là 1 trong người 20 đầu tiên học nghề làm móng tay. Sau này mở trường dạy làm nail, nay anh bạn bỏ nghề bác sĩ để tiếp tục trường của bố mẹ để lại với cô em. Nay họ có chương trình dạy trên mạng, cho người Việt, người Mễ, và người ấn độ. Hoạt động theo phương cách làm ăn của mỹ, không còn tiểu thương như bố mẹ.


Giá rẻ và sự bành trướng của ngành nail của người Việt vô hình trung tạo ra những mặt trái của ngành nghề. Các thợ đều làm nhiều giờ, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Khi khách đi ra thì các thợ nail ho, không có thời gian nghỉ ngơi để ăn trưa. Cả ngày 10-12 tiếng hít các chất hoá học như Acetone, cổ tay đau vì sau bao nhiêu năm cứ dũa nail, ngồi mỏi mệt, đau lưng. Thêm tiệm thường không được thoáng không khí lắm. Chúng ta chỉ thấy móng tay đẹp nhưng ít ai để ý đến hậu quả phía sau của những người hy sinh đời mẹ củng cố đời con. Mình thấy có nhiều đàn ông cũng làm nail cho mấy bà mỹ. Giá rẻ mà tiền thuê tiệm càng ngày càng gia tăng nên khiến họ bị stress, thuế càng cao trong khi khách hàng thì muốn làm nhanh, để có nhiều khách hàng.

20 người việt đầu tiên hoc làm móng tay tại Cali.

Các người làm nail hít Acetone, acrylic, bột, keo suốt bao nhiêu năm sẽ gây hại cho sức khoẻ. Có chị bạn có người chị làm nail rồi bệnh quá nghỉ làm. Lâu lâu xe cứu thương đến chở vào nhà thương vì lộn xộn của sức khoẻ. Mình có người thân làm nail rồi về hưu vì bệnh hoạn và qua đời khá sớm. Nói chung vì kém anh ngữ nên khó tìm công việc khác, thêm gia đình ở Việt Nam xin tiền rồi cố gắng nuôi con ăn học trở thành bác sĩ kỹ sư. Mình có quen một chị gốc Đà Lạt, làm nail, nay con gái tốt nghiệp nha sĩ. Đó là sự hy sinh cho con cái được một tương lai khá hơn mình.


Đó là thế hệ đầu tiên của người Việt tỵ nạn nhưng thế hệ thứ 2 sẽ không tiếp nối con đường làm nail vì nay thế hệ này là kỹ sư, bác sĩ. Các tiệm nail này già úa theo thời cũng như chủ nhân. Ngày nay với luật pháp thay đổi nên có thể hệ thống làm nail kiểu người Việt từ 75 đến nay chắc sẽ gặp khó khăn vì con cháu không tiếp tục thêm và có thể đế chế Nail của người Việt sẽ biến mất trong tương lai.


Có dạo, một tổ hợp luật sư cứ cho người đi kiện các tiệm nail vi phạm vệ sinh y tế. Làm việc mỗi ngày 12 tiếng đồng hồ, chưa kể phải lái xe xa từ Bolsa đến Los Angeles hay xa hơn thì đâu có thì giờ lau chùi vệ sinh hoàn toàn như mỹ. Cuối cùng họ họp nhau mướn luật sư để kiện lại, khiến đám luật sư này bị mất bằng tại Cali.


Có điểm lạ là ngành nail tại Hoa Kỳ sẽ đi theo một lối mới. Có nhiều người Việt trẻ sáng lập tiệm nail qua Instagram, mạng xã hội với khách hàng là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng trển các mạng xã hội. Như vậy họ có thể lấy giá tiền cao hơn. Các tiệm nail ngày nay nghe kể sang trọng lắm, giúp khách hàng đến để trải nghiệm chớ không phải lẹ lẹ có bộ móng tay đi ăn tiệc hay hẹn hò với bạn trai.


Có câu chuyện một cô tên Jenny, 27 tuổi mở tiệm nail lợi tức lên $600,000/ năm. Cô ta kể là khi dịch covid 19 không biết làm gì nên tự học làm nail qua mạng rồi muốn thực hành nghề nên làm miễn phí để có followers trên Instagram. Thế hệ đầu tiên học từ các bà hay dì, khi mới sang Hoa Kỳ, có trường dạy qua mạng còn thế hệ hôm nay thì học qua kỹ thuật số. Khách hàng của cô Jenny không chỉ muốn làm nail mà muốn các móng tay trở thành những tác phẩm nghệ thuật, những design chụp hình được để tải lên mạng xã hội. Khách hàng phải hẹn từ mấy tháng. Mình có cô cháu làm lông mày, xâm xiết gì đó. Nghe nói khách hàng Mỹ hẹn tối thiểu 6 tháng. Cô cháu chỉ hẹn giờ giấc chớ không như thế hệ trước làm cả ngày, không có thời gian cho gia đình.


Cô Jenny này không giới hạn ở làm nail mà còn bán các sản phẩm khác. Khách đến tiệm sẽ được mời mọc mua đủ thứ khác. Ngành nail hiện nay có hai cách. Một cách cổ điển là một set độ $20, hy vọng khách hàng boa hậu hĩnh, làm nhiều khách hạng, tích tiểu thành đại và thế hệ mới thì lấy giá cao hơn và có thể làm rất được nhiều tiền và ít giờ. Có lẻ quen được boa hậu hĩnh, mình để ý mấy người làm nail đến vườn mình mua trái cây, trả mình rất sang cả $100/ thùng còn bác sĩ đến thì chỉ muốn miễn phí, xin thêm cho đại gia đình, chuyên viên ở phòng mạch. Chán Mớ Đời 


Nếu nhìn xa hơn, người Việt bớt sang Hoa Kỳ như các thập niên trước. Các chủ tiệm càng ngày càng già mà con cháu sẽ không tiếp nối sự nghiệp. Nhưng ngành nail có thể nói đã giúp cộng động người Việt tỵ nạn nhanh chóng, có công ăn việc làm, không cần anh ngữ giỏi. Không cần đi học đại học, vẫn kiếm cơm nhanh chóng để nuôi gia đình và Việt Nam. Theo census thì người Việt tỵ nạn có lợi tức ($89,000) cao hơn người Mỹ trắng ($69,000). Chán Mớ Đời 

Pew Research Center +2

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Bài diễn văn ngắn gọn 7-9 phút lại tại hội Toastmasters 

 



The Nail Empire of Vietnamese Refugees


Good Morning Toastmasters and honored guests,



Pause


Let me start with a simple question:


When you walk into a nail salon in California…

what language do you expect to hear?


For many of us, the answer is clear: Vietnamese.


Vietnamese Americans make up less than 2% of the U.S. population—yet they represent over half of all nail technicians nationwide… and about 80% in California.


That’s not just participation.

That’s transformation.


This morning, I want to tell you the story of how a group of refugees—  arriving with nothing—built an empire.



——Pause  make eyes contacts



A Beginning Born from Loss


This story begins on April 30, 1975—the fall of Saigon. Exactly 51 years ago. 


Over 125,000 Vietnamese fled their homeland.

They arrived in America with little English, no money, and no clear future.


Many were temporarily housed at Camp Pendleton near San Diego


And here’s where something unexpected happened.


A Hollywood actress named Tippi Hedren—famous for The Birds directed by Alfred Hitchcock—visited the camp as a volunteer.


She expected admiration for her fame.


Instead… the women stared at her nails.


Not her face.

Not her celebrity.


Her nails.


Why?


Because in Vietnam, few had ever seen such perfectly manicured hands.


And in that small moment, Tippi Hedren saw something others missed—

an opportunity.


She asked a simple question:

“What if I teach them this skill?”


She brought in her personal manicurist.

Twenty Vietnamese women signed up.


Just twenty.



From 20 Women to an Industry


Those twenty women learned fast.


Then they taught others.

Those others taught more.


And step by step, salon by salon, city by city…

a network formed.


At first, they worked for American salon owners.


But then came a turning point.


They asked:

“Why not open our own?”


So they did.


Small shops.

Long hours.

Family-run.


They worked 10… 12 hours a day.

Shared rides.

Saved every dollar.


And slowly, something powerful happened:


They didn’t just join the industry.


They changed it.


⸻ pause  make eyes’ contacts



Democratizing Beauty


Before Vietnamese salons, nail care in America was a luxury.


Expensive.

Exclusive.

Reserved for the wealthy.


But Vietnamese entrepreneurs had a different model.


Lower prices.

Faster service.

Accessible locations.


They opened in working-class neighborhoods—serving Black, Latino, and immigrant communities.


They stayed open late—long after others closed.


And they welcomed everyone.


They turned nail care from a luxury…

into something everyday people could afford.


In business terms, they expanded the market.


In human terms, they gave people a small piece of dignity—

the ability to treat themselves.


⸻ pause, make eyes’ contacts


The Hidden Cost of Success


But every success story has a hidden side.


Behind those polished nails… are worn hands.


Many technicians inhale chemicals daily—acetone, acrylics, glue.


They sit for hours, bending over, straining their backs and wrists.


Some skip meals.

Some sacrifice their health.


I’ve known people who had to quit due to illness.

Others who didn’t get that chance.


And yet—they kept going.


Why?


Because they weren’t just building a business.


They were building a future for their children.


⸻ pause make eyes’ contacts


The Real Dream


This is not just a story about nails.


It’s a story about parents.


Parents who lost everything…

so their children could gain everything.


You’ll hear stories like this:


A mother works in a nail salon for 20 years.

Her daughter becomes a dentist.


A father works double shifts.

His son becomes an engineer.


That was the dream.


Not for themselves.


But for the next generation.


⸻ pause make eyes contacts



A New Generation, A New Direction


Today, things are changing.


The second generation is stepping away from traditional salons.


They’re becoming doctors, engineers, entrepreneurs.


And the nail industry itself is evolving.


Young Vietnamese artists are now using platforms like Instagram.


They create nail art—not just services.


Clients don’t just want polished nails anymore.


They want designs.

Stories.

Something worth posting.


Some charge hundreds per session.

Appointments booked months in advance.


From survival…

to artistry.



Will the Empire Last?


So here’s the question:


What happens next?


Many salon owners are aging.

Fewer new Vietnamese immigrants are arriving.

And fewer children want to continue the business.


The empire that began in 1975…

may one day fade.


But even if it does—


its impact will not.



Closing


Because this story is not really about nails.


It’s about resilience.


It’s about adaptation.


It’s about seeing opportunity… where others see nothing.


From 20 women in a refugee camp—

to a multi-billion-dollar industry.


That is not luck.


That is vision, sacrifice, and relentless effort.


So the next time you walk into a nail salon…


Take a moment.


Look beyond the colors.

Beyond the designs.


And remember—


you are witnessing a piece of history

built by hands that refused to give up.


Thank you.