Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Sự hình thành Đế chế “Nail” của người Việt

 Đế chế “Nail” của người Việt tỵ nạn


Mình có kể về các motel tại Hoa Kỳ đa số do người gốc Ấn Độ sở hữu, các tiệm Donuts thì thuộc về người Cao Miên, các tiệm giặt ủi thì người Đại Hàn. Hôm nay đến cộng đồng người Việt tỵ nạn đã xây dựng một đế chế làm móng tay tại Hoa Kỳ. Cho thấy tuỳ theo đặc tính và văn hoá của mỗi cộng đồng di dân đã xây dựng một ngành nghề đặc biệt trong xã hội Hoa Kỳ.

Được biết người Mỹ gốc việt chiếm 1.7% dân số Hoa Kỳ nhưng họ có trên 51% thợ làm nail trên đất Mỹ, 80% người làm nail tại tiểu bang Cali. Chưa đến 2% dân số mà đã thay đổi kỹ nghệ Nail trên 8 tỷ mỹ kim hàng năm.


Đế chế Nail tại Hoa Kỳ khởi đầu từ ngày 30/4/1975. Hoa Kỳ di tản 125,000 người Việt ra khỏi Sàigòn. Đa số đến Hoa Kỳ với anh ngữ giới hạn, không tiền bạc, nhưng vài thập kỷ sau khi rời bỏ quê hương trong bối cảnh vội vả, họ đã xây dựng và thay đổi kỹ nghệ làm nail tại Hoa Kỳ. 50,000 người đó đã được đưa đến trại thủy quân lục chiến Pendleton tại trú. Tại đây, có một bà tài tử người Mỹ tên Tippy Hedrin, đến trại tỵ nạn làm thiện nguyện. Điều bà ta ngạc nhiên là các bà tỵ nạn cứ nhìn chăm chăm vào móng tay của bà. Lý do là ở Việt Nam ít phụ nữ nào sơn móng tay đẹp như móng tay bà này.

Bà tổ ngành nail của người Việt tại Hoa Kỳ 

Bà ta đột phá tư duy, sao không dạy mấy bà người Việt này làm móng tay để kiếm cơm nuôi con cái. Thế là bà ta kêu người làm nail cho bà dạy mấy bà tỵ nạn người Việt. Chỉ 20 phụ nữ người Việt theo học lớp này và từ đó dạy lại 100 người rồi hàng ngàn người Việt theo nghề Nail. Từ tỵ nạn đến chiếm hoàn toàn kỹ nghề làm móng tay với tổng số 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm cho người Mỹ tại Hoa Kỳ.


Đây là câu chuyện của những người mẹ, người cha hy sinh đời mình để củng cố đời con. Họ làm việc từ 10 đến 12 tiếng mỗi ngày. Sự giao thoa văn hoá người Việt và người gốc phi châu hay Mễ tây cƠ. Từ 1975 đến đầu 1990, có trên 1 triệu người Việt định cư tại Hoa Kỳ. Họ đến từng đợt, đa số không biết nhiều anh ngữ, không tín dụng cá nhân nhưng lịch sử nhiều khi rất lạ.

Trở lại 20 người Việt đầu tiên học làm nail. Sau đó thì họ đi làm cho chủ người Mỹ rồi họ đột phá tư duy, tại sao làm công cho thiên hạ nên rủ nhau mở tiệm riêng tuy nhỏ nhưng làm nhiều ăn nhiều làm ít ăn ít. Nó như người Việt bỏ công làm lời. Các người Việt đi làm cho tiệm nail rồi khi hiểu cách thức quản lý tiệm thì họ ra riêng, mở tiệm cho mình. Mình nghe kể là thợ làm xong, học đủ nghề thì xù chủ chạy ra mở tiệm riêng rồi kéo khách hàng về tiệm mình. Nên họ kêu nghề nail rất bạc bẽo.


Trước khi có sự hiện diện người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, ngành nail chỉ dành riêng cho tầng lớp người giàu có với thời gian nhiều, chả biết làm gì ra ngồi Salon để cho ai đó dũa móng tay hay móng chân. Đối với phụ nữ mỹ bình dân đi vào salon nail là một loại xa xỉ vì quá đắt đố với túi tiền của họ nhưng người Việt đã thay đổi sự việc. Người Việt mở tiệm nail, không có tiền nhiều nên thường mở trong các khu vực bình dân như người da đen hay Mễ tây cơ.


người Việt đã thay đổi khuôn mẫu làm nail tại Hoa Kỳ. Thay vì làm nail cho các người giàu có, họ lấy rẻ khiến dân bình thường, giá hữu nghị có thể tự thưởng cho mình vì mỗi set rẻ. Tương tự người cao miên mở tiệm bán Donuts có cả gia đình chung vào làm thì người Việt cũng có con cái giúp sau khi đi học về. Mình có người thân vượt biển sang Hoa Kỳ đi làm nail, mở tiệm rồi con cái đi học về ra giúp phụ cai quản trong tiệm.


https://www.bbc.com/news/magazine-32544343


Ngoài ra các tiệm của người Mỹ thì đến 5 giờ là đóng cửa, còn tiệm người Việt thì mở đến khi nào hết khách thì về. Họ lấy giá hữu nghị nên có đông khách và mở thêm các chi nhánh. Có người đi xuyên bang thực hiện giấc mơ Hoa Kỳ của họ. Từ từ các tiệm nail do người Việt mở khắp Hoa Kỳ. Đi đâu mà thèm ăn cơm Việt Nam thì chỉ ghé lại tiệm nail để hỏi địa chỉ tiệm ăn Việt Nam. Đa số người Việt tìm thấy cơ hội làm tiền trong các khu vực đông người da đen và người mễ. Mấy sắc dân này ưa thích màu mè,…nên làm móng tay rất nhiều kiểu, vẽ đủ thức, các tài tử hay đội banh này nọ. Cho thấy đế chế Nail của người Việt  không chỉ xây dựng trong cộng đồng người Việt mà toàn nước mỹ với các cộng đồng bạn.


Giá rẻ và sự bành trướng của ngành nail của người Việt vô hình trung tạo ra những mặt trái của ngành nghề. Các thợ đều làm nhiều giờ, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Khi khách đi ra thì các thợ nail ho, không có thời gian nghỉ ngơi để ăn trưa. Cả ngày 10-12 tiếng hít các chất hoá học như Acetone, cổ tay đau vì sau bao nhiêu năm cứ dũa nail, ngồi mỏi mệt, đau lưng. Thêm tiệm thường không được thoáng không khí lắm. Chúng ta chỉ thấy móng tay đẹp nhưng ít ai để ý đến hậu quả phía sau của những người hy sinh đời mẹ củng cố đời con. Giá rẻ mà tiền thuê tiệm càng ngày càng gia tăng nên khiến họ bị stress, thuế càng cao trong khi khách hàng thì muốn làm nhanh, để có nhiều khách hàng.

20 người việt đầu tiên hoc làm móng tay

Các người làm nail hít Acetone, acrylic, bột, keo suốt bao nhiêu năm sẽ gây hại cho sức khoẻ. Mình có chị bạn có người chị làm nail rồi bệnh quá nghỉ làm. Lâu lâu xe cứu thương đến chở vào nhà thương vì lộn xộn của sức khoẻ. Mình có người thân làm nail rồi về hưu vì bệnh hoạn và qua đời khá sớm. Nói chung vì kém anh ngữ nên khó tìm công việc khác, thêm gia đình ở Việt Nam xin tiền rồi cố gắng nuôi con ăn học trở thành bác sĩ kỹ sư. Mình có quen một chị gốc Đà Lạt, làm nail, nay con gái tốt nghiệp nha sĩ. Đó là sự hy sinh cho con cái được một tương lai khá hơn mình.


Đó là thế hệ đầu tiên của người Việt tỵ nạn nhưng thế hệ thứ 2 sẽ không tiếp nối con đường làm nail vì nay thế hệ này là kỹ sư, bác sĩ. Các tiệm nail này già theo thời cũng nghe chủ nhân. Ngày nay với luật pháp thay đổi nên có thể hệ thống làm nail kiểu người Việt từ 75 đến nay chắc sẽ gặp khó khăn vì con cháu không tiếp tục thêm và có thể đế chế Nail của người Việt sẽ biến mất trong tương lai.


Có điểm lạ là có thể ngành nail tại Hoa Kỳ sẽ đi theo một lối mới. Có nhiều người Việt trẻ sáng lập tiệm nail qua Instagram, mạng xã hội với khách hàng là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng trển các mạng xã hội. Như vậy họ có thể lấy giá tiền cao hơn như xưa. Các tiệm nail ngày nay nghe kể sang trọng lắm, giúp khách hàng đến để trải nghiệm chớ không phải lẹ lẹ có bộ móng tay đi ăn tiệc hay hẹn hò với bạn trai.


Có câu chuyện một cô tên Jenny, 27 tuổi mở tiệm nail lợi tức lên $600,000/ năm. Cô ta kể là khi dịch covid 19 không biết làm gì nên tự học làm nail qua mạng rồi muốn thực hành nghề nên làm miễn phí để có followers trên Instagram. Thế hệ đầu tiên học từ cô hay dì còn thế hệ hôm nay thì học qua kỹ thuật số. Khách hàng của cô Jenny không chỉ muốn làm nail mà muốn nghệ thuật, những design chụp hình được để tải lên mạng xã hội. Khách hàng phải hẹn từ mấy tháng. Mình có cô cháu làm lông mày, xâm xiết gì đó. Nghe nói khách hàng Mỹ hẹn tối thiểu 6 tháng. Cô cháu chỉ hẹn giờ giấc chớ không như thế hệ trước làm cả ngày, không có thời gian cho gia đình.


Cô Jenny này không giới hạn ở làm nail mà còn bán các sản phẩm khác. Ngành nail hiện nay có hai cách. Một cách cổ điển là một set độ $20, làm nhiều khách hạng, tích tiểu thành đại và thế hệ mới thì lấy giá cao hơn và có thể làm rất được nhiều tiền.


Nếu nhìn xa hơn, người Việt bớt sang Hoa Kỳ như các thập niên trước. Các chủ tiệm càng ngày càng già mà con cháu sẽ không tiếp nối sự nghiệp. Nhưng ngành nail có thể nói đã giúp cộng động người Việt tỵ nạn nhanh chóng, có công ăn việc làm nhanh chóng, không cần anh ngữ giỏi. Không cần đi học đại học, vẫn kiếm cơm nhanh chóng để nuôi gia đình và Việt Nam. Theo census thì người Việt tỵ nạn có lợi tức cao hơn người Mỹ trắng. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Quân đội bị lãng quên

 Quân đội bị bỏ quên


Khi đọc sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam từ người Mỹ hay Hà Nội viết thì tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến công lao và sự hy sinh trên 1 triệu người ở miền Nam. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc. Người Mỹ thì kêu các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà tham nhũng, bất tài trong khi Hà Nội chỉ kêu bọn nguỵ quân nguỵ quyền, tay sai đế quốc sài lang. Thật ra thì có vài ông tướng tham nhũng như ông Nguyễn Văn Toàn, khi làm tư lệnh quân khu II, đã cho đệ tử trao tiền cho Việt Cộng để người ông ta vào cưa cây đem bán cho ngoại quốc. Mình có kể vụ này rồi khi trinh sát 302 bắt gặp và bắn chết Việt Cộng và thiếu tá đưa tiền Việt Cộng. Nếu con chúng ta đọc thì chúng sẽ bị xấu hổ về cha ông của chúng. Ngày nay thì Hà Nội còn tham nhũng gấp vạn lần.


Khi mình sang Hoa Kỳ thì thấy đại học Hoa Kỳ tổ chức các buổi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Để diễn đàn thêm phần trung dung, họ mời đại diện Hà Nội, đại diện người Mỹ phản chiến và đại diện cộng đồng người Việt tỵ nạn. Vấn đề là cộng đồng người Việt không thống nhất đưa ai đi đại diện. Người muốn đi thì không rành anh ngữ, các sinh viên Việt Nam nói sẽ thông dịch rồi cuối cùng họ từ chối tham dự, chỉ kéo nhau lại biểu tình rồi ra về hồ hởi vì đã đi biểu tình chống cộng trong khi người Mỹ phản chiến và Hà Nội bên trong nói chuyện đưa ra quan điểm của họ cho thính giả. Nhiều người trong cộng đồng người Việt từng là sĩ quan cấp tá mà không hiểu cuộc chiến tranh tâm lý. Trình bày quan điểm tại sao Việt Nam Cộng Hoà thua và sự tàn ác của Việt Cộng. Cứ kêu bọn Việt Cộng không tin được, gian ác lắm. Ngoài ra mình dám chắc nội tuyến của Hà Nội khắp nơi trong các hội đoàn người Việt. Tìm cách gây lũng đoạn.


Dạo ấy mình hay ghé nhà ông Al Santoli, cựu chiến binh mỹ, có qua trại tỵ nạn giúp người Việt tỵ nạn và lấy vợ ở trại đem về mỹ. Chỉ có ông ta đơn độc nói về chiến tranh Việt Nam. Nên nhớ sau vụ Mỹ Lai, các cựu chiến binh mỹ về lại Hoa Kỳ hay bị người Mỹ lên án là những kẻ giết đàn bà con nít. Nên ít cựu chiến binh xuất hiện, nay thì khác nhưng họ đều lớn tuổi.


Có ông mỹ viết cuốn sách Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, nói về quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ quên để dấy lên sự đóng góp của quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu cho tự do. Những cuốn sách này nên khuyến khích con cháu chúng ta đọc để chúng tự hào về Việt Nam Cộng Hoà, thay vì chỉ đọc sách mỹ hay của Hà Nội đều gieo tiếng ác, hạ nhục kẻ thua cuộc.

Cuốn sách của Andrew Wiest góp phần lấp đầy một khoảng trống lớn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Trong khi hàng nghìn cuốn sách đã được viết về cuộc chiến từ góc nhìn của người Mỹ và phía cộng sản Việt Nam, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) lại thường bị các sử gia phương Tây xem như đúng theo những gì tuyên truyền cộng sản mô tả một lực lượng “tay sai”, nguỵ quân kém cỏi, với những nỗ lực hầu như không ảnh hưởng đến kết cục của cuộc chiến. Rất ít sự chú ý được dành cho những trải nghiệm, đóng góp và lòng dũng cảm của các binh sĩ ARVN, những người đã chiến đấu suốt nhiều thập kỷ trong điều kiện khắc nghiệt và vì những lý do mà ít người Mỹ thực sự hiểu rõ.


Có nhiều người miền Nam đem tâm tình viết hồi ký nhưng đường như để đánh bóng cá nhân của họ nhiều hơn. Ít được dịch ra anh ngữ hay pháp ngữ,… khi xưa sống tại Đà Lạt đọc báo và nghe radio thì tin tức chiến sự đều phe ta vô sự, hạ sát mấy chục cộng quân, bắt tù binh này nọ,… chỉ khi ra hải ngoại đọc tin tức hai bên thì mới khám phá ra chiến dịch Lam Sơn 719 là thất bại, chết rất nhiều cả hai bên ở Quảng trị,…


Nhớ dạo ấy, đài Sàigòn nói nhiều về đại tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh tại Hạ Lào, sau này đọc hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải thì ông ta kể Hà Nội bắt sống ông đại tá này và cho rêu rao trên đài phát thanh Hà Nội. Nhạc sĩ Tô Hải có viết cuốn hồi ký thằng Hèn, nói chung ông ta bị Hà Nội đì mệt thở.


Giáo sư Wiest kể lại câu chuyện đầy kịch tính về hai sĩ quan trẻ của Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ, những người có cuộc đời song hành một cách đáng kinh ngạc nhưng cuối cùng cuộc chiến lại đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau khi đối mặt với quyết định khắc nghiệt nhất mà một người lính có thể gặp phải. Cả hai đều xuất thân từ những gia đình trung lưu có học thức, đều sinh ra tại cố đô Huế, và đều phục vụ suốt sự nghiệp quân sự của mình trong Sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam Cộng Hoà mà theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội miền Nam. 


Cả hai ông Đính và Huệ đều có thành tích chiến đấu xuất sắc. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong trận tái chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, nơi họ thể hiện năng lực vượt trội đến mức đều được trao tặng huân chương quân sự của Hoa Kỳ (Ngôi Sao Đồng và Ngôi Sao Bạc) vì lòng dũng cảm và thành tích trong trận chiến kéo dài và đẫm máu này. Giáo sư Wiest chỉ ra rằng vai trò quan trọng của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến này phần lớn đã bị các sử gia Mỹ bỏ qua. Hình như mất cả tháng mới chiếm lại hoàn toàn Huế.


Sau Tết Mậu Thân, khi cuộc chiến dần kết thúc đối với quân đội Mỹ nhưng lại trở nên ác liệt hơn đối với Việt Nam Cộng Hoà, cả hai người tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình và bất ngờ rơi vào những tình huống tuyệt vọng, nơi lựa chọn duy nhất là đầu hàng và chuyển sang phía đối phương, đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, bị bắt, bị giam cầm, hoặc cái chết. Trần Ngọc Huệ, chiến đấu tại Lào vào đầu năm 1971, đã đưa ra một lựa chọn, trong khi Phạm Văn Đính, với tư cách là một chỉ huy trung đoàn đối mặt với tình thế vô vọng trong cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh năm 1972, lại chọn một con đường khác. Giáo sư Wiest đã giải thích những yếu tố chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của mỗi người.


Với tư cách là một bức chân dung về hai cá nhân sống động và quan trọng, cuốn sách này đưa ra tình huống, và câu chuyện của họ phản ánh hình ảnh của nhiều sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm đã chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ở một tầng ý nghĩa khác, Giáo sư Wiest dựa vào quan điểm của hai sĩ quan này để đưa ra một số phê bình chung về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Xuyên suốt cuốn sách, Giáo sư Wiest lặp lại những chỉ trích của Đính và Huệ rằng vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960, quân đội Hoa Kỳ đã “ép buộc” ban lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng quân đội Việt Nam Cộng Hoà thành một “quân đội quy ước” thay vì như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hoà và ông Diệm được cho là mong muốn một lực lượng tập trung vào chống nổi dậy, du kích chiến. Giáo sư Wiest khẳng định đây là một sai lầm chiến lược căn bản.


Thực tế, như bất kỳ ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam và các tác phẩm của tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp đều biết, chiến lược “chiến tranh nhân dân” của phía cộng sản không phải là một cuộc nổi dậy cổ điển. Họ tiến hành chiến tranh bằng một chiến lược kết hợp độc đáo giữa chiến tranh du kích quy mô nhỏ và các chiến dịch quy ước quy mô lớn. Một quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức chủ yếu để chống nổi dậy có lẽ đã bị tiêu diệt trước các đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng chính quy cộng sản bắt đầu từ năm 1964; thực tế, ngay cả lực lượng Việt Nam Cộng Hoà “quy ước” do Hoa Kỳ xây dựng trong chương trình Việt Nam hoá mà Wiest chỉ trích cũng tỏ ra quá yếu để chống lại những đòn đánh này. Chính sự yếu kém đó, chứ không phải việc Việt Nam Cộng Hoà không thể đối phó với du kích, đã buộc Hoa Kỳ phải đưa lực lượng bộ binh chiến đấu vào Việt Nam năm 1965. Chúng ta nhớ vụ áp dụng chương trình ấp chiến lược được áp dụng thành công ở Mã Lai nhưng thất bại ở Việt Nam vì văn hoá khác nhau.

Trung tá Đính đầu hàng Việt Cộng để cứu binh sĩ vì hết đạn, không được tiếp tế.

Cuối cùng, sự nghiệp quân sự của cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ đều bị hủy hoại khi các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà quy mô lớn mà họ chỉ huy bị các đơn vị Bắc Việt áp đảo trong những trận đánh quy mô trung đoàn lớn… có báo Hà Nội nói về vụ trung tá Đính đầu hàng như sau:


https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ngay-tro-ve-cua-trung-ta-Pham-Van-Dinh-trong-mua-he-do-lua-i303933/


Tại căn cứ Carroll, ông Phạm Văn Đính, chỉ huy tiểu đoàn 56 khi quân đội chính quy của Hà Nội tấn công cuối tháng 3 năm 1972. Theo người ta kể lại thì tiểu đoàn của ông thiếu đạn dược, không được tiếp viện. Và bị tổn hại khá nhiều. Cuối cùng ông ta liên lạc với cộng quân vào 2:30 chiều ngày 2 tháng 4 năm 1972, xin đầu hàng. Sự đầu hàng của ông ta khiến quân đội miền Nam mất thêm nhưng địa cứ khác như Mai Lộc vì tiểu đoàn này có pháo binh hạng nặng. Và đưa đến mất Quảng Trị và Hải Lăng. Hình như sau vụ này hai tướng Vũ Văn Giai và Hoàng Xuân Lãm bị cách chức, ông Vũ Văn Giai bị lên án 5 năm tù, sau 75 đi tù Việt Cộng. Còn ông Hoàng Xuân Lãm thì ngồi chơi xơi nước đến 75.

Trong khi ông Trần Ngọc Huệ thì bị bắt làm tù binh tháng 3 năm 1971 trong thời gian chiến dịch Lam Sơn 719. Ông ta được đưa ra Hà Nội nhốt tại Hoa Lò mà người Mỹ hay gọi Hà Nội Hilton. Ông ta được thả năm 1983 và sang Hoa Kỳ năm 1991 với gia đình. (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

51 năm nhìn lại Little Sàigòn

 51 năm từ Sàigòn đến Bolsa 

Nếu nhìn lại 51 năm qua, sự ra đi của người Việt tỵ nạn trong lúc hối hả trước ngày 30/4/75 thì phải công nhận như một phép lạ, cộng đồng người Việt đã thành lập lại một Tiểu Sàigòn, được xem là thủ đô của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Phước Lộc Thọ


Ngày hải hùng đó đã khiến chúng ta mất quê hương, chúng ta có thể xây dựng lại một quê hương ở nơi khác. Có nhiều người ra đi trong lúc vội vã không biết gia đình còn sống hay chết. Ngày nay theo thống kê có đến 189,000 người Mỹ gốc việt sinh sống tại quận Cam (Orange COunty). Cộng đồng người Mỹ gốc việt lớn nhất tại Hoa Kỳ. 40% người Việt sinh sống tại thành phố Westminster, 31% ở thành phố Garden Grove.


Có thể nói không có truyền thông như tờ báo đầu tiên Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập với luật sư Đạt Phan, con ông Phan Huy Quát. Thì có lẻ Little Sàigòn không đông như ngày nay vì các lớp người Việt tỵ nạn tiếp tục sang Hoa Kỳ và đọc báo và dọn về vùng này ở.


Năm 1979, chỉ có 30 business ở phố Bolsa, đến năm 1981 thì có 300 business ở đây rồi đến năm 1984 lên đến 600. Ngày nay, có trên 4,000 business ở trong phạm vi 3 dặm vuông. Người ta tính có trên 280 tiệm ăn, 42 tờ báo việt ngữ, 5 đài phát thanh, 2 đài truyền hình phát các chương trình khắp nơi trên thế giới.


Ở trung tâm Tiểu Sàigòn có Phước Lộc Thọ khiến ai đến đây lần đầu cảm thấy như vào một chỗ nào huyền thoại. Năm 1986, một người sở hữu 1/3 địa ốc ơ Bolsa muốn đặt tên là Asian Town nhưng cộng đồng không chịu và tranh chấp suốt 2 năm liền và đã thắng, khu vực này được đề bảng Little Sàigòn trên xa lộ để xe quẹo vào. Con đường Bolsa được đấu tranh để bảo vệ bản sắc của người Việt tỵ nạn và nhưng người Việt tỵ nạn đã xây dựng trung tâm cộng đồng người Việt lớn nhất tại hải ngoại. Mình nghe nói là Đài Loan bỏ tiền xây rất nhiều khu phố Bolsa. Sau này có người Việt tư bản đỏ sang đầu tư nữa.


Mọi sự khởi đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trực thăng di tản các người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, và cuộc chiến chấm dứt với triệu người vui và hàng triệu người buồn. 130,000 người Việt được người Mỹ di tản khỏi Việt Nam, được xem là cuộc di tản cấp tốc rộng lớn nhất ở thế kỷ 20 trong thời gian rất ngắn. Nghe CIA giải thích là nhờ báo cáo của điệp viên X92, Võ Văn Ba báo trước nên Hoa Kỳ mới có thời gian chuẩn bị cuộc di tản các thành phần có dính dang đến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


người Mỹ không muốn như trường hợp của người tỵ nạn Cuba là dồn về một nơi ở tiểu bang Florida, họ rãi người Việt khắp nơi trên nước Mỹ như 10,000 người ở tiểu bang Florida, 22,000 ở Pennylvania, 51,000 ở Arkansas và 50,000 ở trại thuỷ quân lục chiến Pendleton, tiểu bang California. Hơn 1/3 ở nam Cali.


Vấn đề là người Việt di tản ở trong các trại tiếp cư và đợi ai đó ở ngoài bảo lãnh họ, đúng hơn người Mỹ vì dạo đó rất ít người Việt ở Hoa Kỳ. Đa số là sinh viên du học. Các giáo phận công giáo tham gia, và các nhà thờ tin lành. Họ đưa người Việt đến các thành phố như Westminster, Garden Grove, Santa Ana,…nhưng khu vực không sang trọng, đúng hơn là nghèo. Lý do là tiền thuê nhà rẻ.


Rồi làn sóng tỵ nạn thứ 2 đến, từng năm 1979-1985, các thuyền nhân đến đảo ở đông Nam Á, được phỏng vấn đi mỹ. 800,000 người Việt tỵ nạn đến định cư tại Hoa Kỳ. Nghe cao uỷ tỵ nạn cho rằng 50% người vượt biển nằm lại trong lòng đại dương. 1000 người mỗi tháng tại Quận Cam.


Rồi làn sóng thứ 3 đến qua chương trình Orderly Departure Program (ODP), đoàn tụ gia đình.


Làn sóng thứ 4 cuối thập niên 1980 đến 1990, các tù nhân chính trị, cải tạo được Hoa Kỳ thâu nhận. Các làn sóng nhập cư người Việt đều đọc báo người Việt và các báo khác ở Bolsa, giúp họ dọn về định cư tại Quận Cam.


Mấy năm gần đây thì thấy có nhiều người Việt di dân qua đầu tư theo EB-5 hay các chương trình khác. Chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện con cháu của những người từng tuyên bố đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Mình có gặp vài người khi họ hỏi mua cái vườn của mình. Có đám chuyên gia giúp họ đầu tư qua Hoa Kỳ để hạ cánh an toàn. Nghe họ kể nằm bắt võng ở đầu Trường Sơn, tự xưng là di dân chớ không hoi ải tỵ nạn.


Khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Bolsa thì khu vực này đang chết. Mình nhớ khi mình đến Cali lần đầu tiên thấy nhiều vườn trồng dâu của người Nhật. Các dãy phố lụp xụp Chán Mớ Đời nhưng được cái là đất ở đây rẻ. Không như ngày nay.


Người mở tiệm bán tạp phô Việt Nam đầu tiên là ông Danh Quách nhưng ít khách lắm. Ông ta kể là 3 năm trời ít khách nhưng ổng a vẫn tiếp tục. Theo ông ta thì có lần thị trưởng thành phố và cảnh sát trưởng ghé tiệm ông và nói là cảm thấy không yên lòng về sự có mặt của tiệm ông ta. Người dân địa phương da trắng cảm thấy khó xử. Mình nhớ khi mới dọn về Westminster thì xung quanh là người Mỹ trắng rồi dần dần họ bán nhà bỏ chạy và người Việt dọn đến. Nay chỉ thấy gốc mít xung quanh.


Ông Quách không muốn bỏ đi và có dược sĩ Danh Quách dọn đến mở tiệm thuốc tây năm 1978, rồi tiệm Hoà bÌnh rồi Tân Mai. Rồi năm 1979 có được 30 business của người Việt. Đúng lúc có làn sóng người Việt thuyền nhân định cư tại đây khiến thương mại phát triển, khách đến mua đông như quân nguyên, nói tiếng Việt như người Việt.


Năm 1981, 300 business, 1984, 600 business rồi ông Triệu Phát đến Hoa Kỳ năm 1975, buồn đời mua đất rồi xây Phước lộc Thọ. Năm 1987, cảnh sát Westminster ước lượng mỗi cuối tuần có 20,000 đến 60,000 người đến mua sắm ăn phở ở Bolsa. Cứ ra khỏi xa lộ quẹo vào đường Brookhurst là kẹt xe, người Việt lại lái xe kiểu biết bố mày la ai, bóp kèn in ỏi.


Ở bolsa người Việt đã xây dựng lại truyền thống Tết, như diễn hành, rồi chợ Tết nơi hội tụ người Việt tỵ nạn từ xa về về đây mấy ngày tết để ăn tết với bạn bè và gia đình. Rồi đình chùa mọc lên như nấm. Giúp các con cháu chưa bao giờ biết Việt Nam có thể hoà mình vào không khí tết được tạo dựng lại bưởi cha mẹ ông bà. Với hội chợ tết này nọ hay chợ đêm khi hè đến, giúp người Việt tha hương có thể tìm lại chút gì để nhớ. Mình thấy đắt tiền nên chả bao giờ bò ra thêm kẹt xe.


Tiểu Sàigòn trở thành trung tâm văn hoá của người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Các cuốn sách bị cấm tại Việt Nam được sản xuất nhiều như bánh mì baguette mỗi ngày. Các băng nhạc video được thâu dựng rồi bán qua âu châu và Úc Châu.


người Việt bỏ nước ra đi chỉ còn lại ký ức quê hương và đã tạo dựng lại quê hương trên đất nước đã cưu mang họ. Nhưng họ không quên lý do tại sao phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Có một ngày mà hàng năm cộng đồng người Việt đều tụ tập lại để tưởng niệm nhưng người dã hy sinh trong cuộc chiến cho tự do và những người đã bỏ mình trên đường vượt biển. Họ đã mua đất để xây đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Vietnam warmemorial).


Xét ra thế hệ đầu tiên xây dựng để sống còn còn thế hệ thứ 2 thì xây dựng quyền lực. Năm 1992, ông Tony lâm đắc cử nghị viên của thành phố, người Việt đầu tiên đắc cử. Vào thập niên 1990 cử tri người Việt khá đông nên các đảng không thể làm lơ như xưa. Nhưng cộng đồng người Việt như cộng đồng cuba rất chống cộng. Khi ông John MacCain ra tranh cử tổn thống, có đến kiếm phiếu cũng như Bush cha. 


Theo thống kê thì 53% cử tri ở Tiểu Sàigòn bầu cho ông Trump. Lý do ông ta chống Trung Cộng. Mà người Việt tỵ nạn lại ghét tàu. Họ bảo thủ vì ký ức, những năm tháng dài bị Việt Cộng bỏ tù. Họ bỏ phiếu theo địa chính hơn là các chương trình phúc lợi địa phương.


Nhưng ngày nay, sau khi bám rể vào đời sống Hoa Kỳ, thì có sự rạn nứt trong giới cử tri. Theo thống kê thì cử tri gốc việt dưới 49 tuổi, 65% ghi danh là cử tri của đảng dân Chủ. Lý do là thế hệ thứ hai không trốn thoát khỏi Việt Nam. Họ không bị ở tù cải tạo, tiểu Sàigòn không phải là nơi định cư tạm của họ như thế hệ trước.


Thế hệ con cháu dọn đi các thành phố khác như Irvine, Costa Mesa, Laguna. Thế hệ này là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. Họ đã vào dòng chính của Hoa Kỳ.


Đó là bề ngoại bề nổi, mặt bằng của Tiểu Sàigòn, chúng ta thấy tiệm ăn mọc như nấm nhưng nếu nhìn kỹ thì trong khu Tiểu Sàigòn có đến 5  khu mobile homes mà đa số người Việt ở, với tiền thuê đất đắt như vàng. Các người lớn tuổi sinh sống ở đây cho tiện đường mua sắm, nơi mà họ đã cùng nhau tạo dựng. Các người cao tuổi sống nhờ tiền an sinh xã hội. 


Little Sàigòn có hai loại kinh tế. Một kinh tế khiến thiên hạ đến mua sắm và một cố gắng sống chật vật phía sau mặt bằng hoành tráng của Tiểu Sàigòn. 


50 năm nhìn lại, cộng đồng người Việt đã thành công xây dựng qua bao nhiêu làn sóng đến Hoa Kỳ. Chúng ta bỏ lại sau lưng quê hương để xây dựng lại một quê hương thứ hai trên đất mỹ. Nhưng tương lai thế hệ con cháu có thể sẽ không màn đến vì Irvine có tiệm ăn Tàu, việt. Ngày thành phố mình bây giờ bắt đầu có tiệm ăn tàu, Việt Nam, đại hàn mọc lên như nấm. Có lẻ sẽ ít xuống Bolsa nhất là xăng trên $6. Nhưng phải kể là các lớp người Việt đi trước đã bỏ công gầy dựng một trung tâm để chúng ta quay về như viếng lại ký ức của quê hương bỏ lại.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

người Tình Cindy

 Mordechai Vanunu và người Tình Cindy


Nhớ dạo mình làm việc ở Luân Đôn, có lần thiên hạ bàn tán về một ông người do thái bán tin tức cho một tờ báo Times, nói là do Thái có vũ khí nguyên tử rồi sau đó ông ta biệt tăm. Nay mình lò dò vào đọc tin tức của Do Thái thì khám phá ra ông ta bị bắt và dẫn độ về độ Thái và bị lên án 18 năm. Hình như mình có xem một phim tài liệu nói về ông này cũng như cặp điệp viên pháp, giả làm vợ chồng qua xứ  Tân Tây Lang đặt mìn tàu của hội Greenpeace nhưng không thành và bị bắt. Năm ngoái đến xứ Tân Tây Lan mình có bò lại bến tàu nơi cặp tây đầm điệp viên tây bị bắt.


Mordechai Vanunu sinh năm 1954 tại Marrakech, Morocco, trong một gia đình Do Thái có 11 người con. Năm 1963, gia đình ông di dân đến Israel và định cư tại Beersheba, miền nam đất nước. Thời đó ở Algeria xứ bên cạnh đuổi cổ dân Tây dân gốc do thái ra khỏi nước họ nên có lẻ vì vậy mà gia đình ông này và các người Do Thái dọn về Do Thái cho lành. Mình nghe nói là ở maroc trước kia các người đạo hồi, công giáo và do thái sống yên vui với nhau dưới thời tây cai trị nhưng khi mấy xứ này bắt đầu dành độc lập thì không còn anh em với nhau nữa. Đánh nhau chí choé. 


Giống như mọi công dân Israel, ông hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Sau đó, ông học triết học và địa lý tại Ben-Gurion University. Chính tại đây, ông bắt đầu đặt ra những câu hỏi lớn về chính phủ, công lý và đạo đức.


Năm 1976, ông làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Negev, gần Dimona, một cơ sở lớn giữa sa mạc. Israel luôn tuyên bố đây là cơ sở nghiên cứu hòa bình và chưa bao giờ chính thức xác nhận hay phủ nhận việc sở hữu vũ khí hạt nhân.


Trong 9 năm làm kỹ thuật viên hạt nhân, ông Vanunu vận hành hệ thống xử lý plutonium nằm sâu dưới lòng đất, sau nhiều lớp cửa an ninh. Ông tận mắt chứng kiến: Israel đang sản xuất vũ khí hạt nhân. Không phải vài quả mà có thể hàng chục, thậm chí hàng trăm. Hoàn toàn bí mật với thế giới, kể cả Liên Hiệp Quốc.


Dần dần, suy nghĩ của ông thay đổi, mầm mống phản động khơi mào. Ông tham gia các hoạt động chính trị cánh tả, quan tâm đến quyền của người Palestine. Năm 1985, hợp đồng của ông không được gia hạn. Chán Mớ Đời ông ta muốn biến đau thương thành hành động cách mạng. Ông ta đột phá tư duy, ông làm một việc thay đổi cả cuộc đời mình: Mang máy ảnh vào khu vực cấm, Chụp khoảng 60 bức ảnh chi tiết về cơ sở hạt nhân.


Năm 1986, ông rời Israel, đi qua châu Á rồi đến Úc. Tại Sydney, ông cải đạo sang Thiên Chúa giáo. Nói như người thiên chúa giáo là trở về đạo. Ông ta đã lầm đường lạc lối nên nay muốn cách mạng khoan hồng nên  Ông tin rằng mình có nghĩa vụ đạo đức phải nói ra sự thật. Ông liên hệ với tờ The Sunday Times ở London. Các chuyên gia độc lập xác nhận toàn bộ thông tin: Israel có chương trình vũ khí hạt nhân bí mật, Ước tính từ 100–200 đầu đạn


Khi bài báo sắp được công bố, ông ta được một số tiền nên vào bar ăn uống cho vui đời cô lựu thì choáng váng khi một giai nhân xuất hiện. Anh ta nghĩ ông bà nói quả không sai khi có tiền thì mấy cô gái dẫn xác đến nạp thân, lúc ông đói chả cô nào thèm nhìn mặt. Tin tưởng đã phát hiện ra mối tình hữu nghị sông liên sông núi liền núi. 


Cô gái đẹp nức nở là một nữ điệp viên tên “Cindy” (Cheryl Bentov) thua ông ta đến 14 tuổi, tiếp cận ông. Bên tai Cindy thỏ thẻ anh làm em ngưỡng mộ quá, ba má em có căn hộ ở la mã, hay cuối tuần này em nghĩ làm chúng mình bay qua La MÃ để cùng nhau viếng nhà thờ San Pedro. Ông ta nhất trí tưởng đến quỳ lạy chúa cho con lấy được Cindy, mời cô nàng đi ăn ở các tiệm sang trọng của La Mã và ăn gelato ở Trastevere. Thế là ông ta bị dụ sang Rome. Vừa chạy taxi từ phi trường về nhà chưa đầy 5 phút, ông ta chưa kịp đè Cindy xuống giường thì có tiếng gõ cửa. Cindy ra mở và các bác Mossad bước vào đè đầu ông ta và đánh thuốc mê trong giấc mơ bên cạnh em Cindy thơm như múi mít. Ngày 30/9/1986, ông bị đánh thuốc mê, bắt cóc và đưa bí mật về Israel.


Ngày 5/10/1986, bài báo vẫn được đăng. Cả thế giới biết sự thật. Ông  Vanunu bị xét xử bí mật, kết án phản quốc và gián điệp. Năm 1988, ông bị tuyên 18 năm tù. 11 năm trong phòng biệt giam, Một căn phòng 2m x 3m, Không giao tiếp, không con người, chỉ có im lặng nhưng ông không bao giờ hối hận. Chắc con cháu của Trương Bất Hối. Năm 1998, ông được chuyển ra khỏi biệt giam. Amnesty International gọi ông là “tù nhân lương tâm”. Ông được đề cử Nobel Hòa bình 17 lần nhưng chưa từng được trao. Vì DO Thái Lobby rất kiến hiệu ở Na Uy.


Ngày 21/4/2004, ông được trả tự do sau 18 năm. Nhưng… ông vẫn không thật sự tự do. Không được rời Israel. Không được nói chuyện với báo chí nước ngoài. Bị giám sát liên tục. Ông nhiều lần bị bắt lại chỉ vì nói chuyện với phóng viên. Năm 2007, ông bị kết án thêm 6 tháng tù vì… nói rằng ông muốn rời khỏi đất nước. Họ hỏi ông ta đi đâu, chắc là muốn sang đầu quân cho Ba Tư. Ông xin tị nạn ở Na Uy, Mỹ và nhiều nơi khác đều bị từ chối. Chán Mớ Đời 


Israel nói ông vẫn còn “bí mật trong đầu”. Một người rời khỏi cơ sở hạt nhân từ 40 năm trước… vẫn bị coi là nguy hiểm. Ông Vanunu nói:“Tôi không hối hận. Thế giới cần biết sự thật.” Xem như thành phần ngoan cố, không bao giờ cải tạo được.


Một người bình thường.

Một công việc ổn định.

Một cuộc sống có thể yên ổn.


Nhưng ông đã chọn nói ra sự thật. Đổi lại: 18 năm tù, 11 năm biệt giam và hàng chục năm bị hạn chế tự do. 


Có những người nói ra sự thật và được trao huy chương. Có những người nói ra sự thật… và sống 11 năm trong một căn phòng nhỏ hơn phòng tắm. Và Mordechai Vanunu đã nói ra sự thật. Và phải trả một giá quá đắt. Ông cụ mình cũng phải trả giá nói lên sự thật và bị bắt nhốt 15 năm cải tạo. Chán Mớ Đời 


Mình nghĩ chắc lúc đó ông ta chưa có vợ con, chớ một khi có vợ con thì họ sống hèn lại, để có thể đi làm để nuôi vợ nuôi con. Còn nói lên sự thật thì vợ con phải gánh chịu hậu quả. Mình làm mình chịu nhưng nếu ông ta có gia đình thì có lẻ không xẩy ra vấn đề này. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn