Gặp lại cô Xuân Lan Đà Lạt

 Gặp lại người Đà Lạt 


Đi Nam Cực và Nam Mỹ về, có chị bạn gọi điện thoại, nói vợ thầy Hàn đang ở đây. Mình nói chị ta lấy hẹn với cô vì 50 năm rồi, mình không gặp lại cô. Chỉ nhớ khi xưa, cô được xem là đẹp nhất trong mấy cô giáo tại Đà Lạt. Mình có một người em học với cô tại trung tâm giáo dục Hùng Vương một thời.


Chị bạn kêu cô ta đi chơi rồi, tuần sau mới về. Mình nghĩ có duyên thì gặp còn không, thì không biết ngày nào vì mình hôm nay mình bay về Việt Nam, leo động Sơn Đòng. Lần đầu tiên mình du lịch sang Hoa Kỳ, có ghé vùng Virginia chơi, thăm gia đình thầy Chử Bá Anh. Nhất Anh cho mình số điện thoại của thầy Hàn để gọi hỏi thăm nhưng không thấy thầy mời đến nhà chơi. Lý do thầy không nhớ mình vì chỉ học có một năm anh văn, sinh ngữ phụ. Trong cuộc đời, có người mình gặp rồi không bao giờ gặp lại, có người còn nợ với nhau thì gặp thường.

Cô Xuân Lan và ca sĩ Ngân Hà

Như chị bạn, dạo mình ở Pháp, thì liên lạc được với thầy Chử Bá Anh, rồi được tin tức chị bạn học chung khi xưa, giờ sinh ngữ. Chị ta học ban A nhưng sinh ngữ chính là pháp văn nên học chung nên biết nhau. Sang Hoa Kỳ thì chị ta lấy chồng, dọn qua Texas, không ai biết địa chỉ. Đến khi nhà cửa Texas te tua thì gia đình chị bạn dọn sang Cali thì mới gặp lại. Ngày nay thì xu hướng đi ngược lại, dân Cali bỏ xứ chạy qua Texas.


Sau này, mình dọn về Cali, mới liên lạc lại được và cô nàng đại diện nhà trai, đi hỏi vợ cho mình, rồi biến mất. Một hôm đi ăn cưới, cháu của người bạn học chung khi xưa. Nghe họ giới thiệu ca sĩ Ngân Hà, mình hỏi đồng chí gái, sao bà ca sĩ này trông thấy quen quen. Mụ vợ kêu bạn anh chứ ai. Mình không có khiếu nhớ phụ nữ. Như tuần rồi, gặp lại cô bạn, giúp mình trang hoàng sân khấu hôm mình lên xe bông về phục vụ đồng chí gái, cũng á khẩu, trả nhớ về không. Chán Mớ Đời 


Hôm kia, chị bạn gọi lại, hẹn hôm qua, trưa đi ăn với cô Xuân Lan. Mừng quá, vì trễ một ngày là xem như không gặp lại người Đà Lạt xưa.


Mình đem bơ và quýt lại cho chị bạn. Chị ta kêu ối giời ơi, tôi đậu xe xa, làm sao khiêng nổi. Chị ta kể khi xưa, giờ thầy Hàn thì không bao giờ nghỉ học cả, dù đau ốm. Thế là thêm một cô học trò mê thầy khi xưa. Thầy cao ráo, đẹp trai nên có nhiều nữ sinh mê lắm. Nghe kể có cô học trò tên Thu, đến tận nhà để thăm thầy. Kinh


Cuối cùng cô được con gái đưa đến. Câu đầu tiên cô hỏi: “sơn đen đây à, đâu có đen”. Mình hỏi cô sao biết sơn đen. Cô nói qua nhóm Việt Phạm, học trò của thầy ở trường Trần Hưng Đạo. Cô hỏi mình học chung với Phạm Trọng Việt, mình nói không, bạn với em anh Việt. Cô cho biết là con gái gửi cho cô bài mình viết về mấy tấm ảnh chụp mấy ông Mỹ với thầy cô ở Bùi Thị Xuân và Trần Hưng Đạo.


Không ngờ những cái thắc mắc của mình về mấy tấm ảnh đó, phải đi kiếm tác giả để hỏi, mới hiểu ra là chụp khi họ tặng học bổng cho các học sinh xuất sắc của hai trường. Mình chỉ muốn giải toả những thắc mắc của mình, không ngờ lại giúp thiên hạ nhớ lại thầy, chồng, bố của họ khi xưa.


Đi Việt Nam về chắc mình sẽ viết nhiều về Đà Lạt vì mới nhận thêm tài liệu của Đà Lạt xưa. Để được rồi sẽ ghi lại.

Thầy Hàn và thầy Viêm khi xưa ở Đà Lạt 

Mình phục cô vẫn vui vẻ, dù thầy đã qua đời từ năm 2017. Cô kể đi chơi đâu với đâu, xem ca nhạc, thích ca sĩ nào lại hợp với chị bạn về ca nhạc. Mình chỉ ngồi như vịt nghe sấm. Cô kể về gặp thầy khi xưa, ra sao, thầy đi du học về thì làm đám cưới, dọn lên Đà Lạt từ năm 1965 đến khi mất nước…. Mình quên hỏi cô là khi xưa, có một ông cũng họ Hoàng Trọng Cang, làm lớn ở Đà Lạt, có phải anh của thầy Hàn. Chuyện nổ như bắp rang Đà Lạt thủa nào nên quên.

Thầy cô có tất cả 4 người con, rất thành công. 2 người ở miền đông và 2 người ở miền Tây Hoa Kỳ nên mỗi năm, cứ mùa đông về, cô bay qua Cali nắng ấm tình người, thăm con cháu, trốn cái lạnh miền đông Bắc.


Thầy cô bỏ hết tiền bạc để xây căn biệt thự gần viện đại học Đà Lạt, rồi 75 đến, chạy về Sàigòn rồi di tản qua Mỹ. Mất hết nhưng bù lại thì con cái được sang Hoa Kỳ, học hành đến nơi đến chốn. Xem như bù đắp.


Cuối cùng mình phải chào tạm biệt cô và chị bạn vì phải chuẩn bị, xếp vali đi Việt Nam sáng nay.


Để xem, khi mình về lại Cali, nếu cô còn ở đây thì sẽ tổ chức một buổi họp mặt đồng hương Đà Lạt cho cô.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo phơi nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Hình ảnh Đà Lạt xưa và nay #2

 Hôm nay, rảnh một tí nên tải lên thêm mấy tấm ảnh Đà Lạt cũ và nay để ai đã xa Đà Lạt, có thể mường tượng lại thị trấn sương mù này.

Hình trên chụp chắc lúc mình mới ra đời, lúc đó vẫn còn chợ Cũ ở khu Hoà BÌnh. Có xe ngựa nên mình đoán trước 1963 vì hồi nhỏ mình còn thấy xe thổ mộ tại Đà Lạt, chỉ sau khi ông Diệm bị lật đổ thì Đà Lạt mới cấm xe ngựa trong thành phố. Mình còn nhớ hồi nhỏ, Tết đi xe ngựa từ khu Hoà BÌnh qua ấp Xuân An, thăm gia đình ông Dụ, chú ruột của mẹ mình.

Dãy phố này có những đại gia Đà Lạt dạo ấy. Nhà hàng Chic Shanghai, chủ cây xăng Caltex, và rạp Hoà BÌnh, có tiệm của ông bà Võ Quang Tiềm, bà con với mệ ngoại mình. Tiệm thuốc tây của một người Pháp, sau này bán lại cho Nguyễn Văn An, rể của ông Phạm Quỳnh. Vậy là khá xưa. Mẹ mình biết bà Nguyễn Văn An từ khi còn ở Huế. Hình như em bà ta là tác giả bài hát: như có bác hồ trong ngày giải phóng. Tên Phạm Tuyên thì phải. Có lò bánh mì Vĩnh Chấn,… 

Hình này vẫn chỗ cũ, sót lại tiệm Chấn Ích, có thời đổi thành Vĩnh Ích, bây giờ đổi nữa tên Chánh Ích (tác giả tấm ảnh chú thích)

Hình dưới thì mình chịu, không biết mô tê chi cả.

Đây là đường Hải Thượng, có hai trung tâm luyện thi tú tài: trường Văn Học ở đầu đường Hoàng Diệu, và Việt Anh bên tay phải, có cổng đi vào. Đối diện là phòng mạch bác sĩ Đính, nơi mẹ mình có lần sinh một người em tại đây, không nhớ cô nào. Bà cụ sinh ra 11 người con. Mình thì nhà thương ông Phán, cô em kế thì nhà bảo sanh Trương thị Lập, đường Phan Đình Phùng, dưới phòng mạch bác sĩ Phạm Trọng Lương. Mấy người kia thì nhà bảo sanh Tôn Thất Chí, Hiền Chi và một người tại phòng mạch ông bác sĩ Đính. Nay thì mình chịu, khi xưa chạy ngang đây rất im lặng, chỉ có tan trường thì ồn ào, nay thì kẹt xe ngay bồn binh. Có một anh bạn cũ, hay đứng mỗi ngày ở bùng binh, nơi mấy quán ăn, để nhìn một cô học sinh BÙi Thị Xuân, đi học về, tên Nhung thì phải, nhà ở cư xá Phạm Ngũ LÃo. Cư xá này có nhiều cô đẹp như Hàng Thị Ngọc HIền,…

Chỗ cổng trường Việt Anh, mình có một kỷ niệm khá ớn xương sườn. Dạo ấy mình đâu 16 tuổi nhưng đã lái xe hơi nhưng không có bằng. Mình chở người em đi học Hùng Vương về nhà, chạy ngang cổng trường, đúng lúc xe con cóc của cô Phạm Kế Viêm, chở thầy đi dạy ở đây, chạy ra làm cái rầm. Cô Viêm là chị dâu của bà dì mình, dược sĩ ở đường Duy Tân. Cô chạy vào trường rồi thấy Viêm đi ra, thấy mình nên kêu đi đi. Thầy biết ông cụ mình. Lúc đó mình run, mặt xanh như đít nhái.

Đây là cây xanh Kim Cúc, chỗ đầu đường Lý Thái Tổ, chạy về đèo Prenn. Con của chủ cây xăng này, hình như học Yersin. Mỗi lần đi xuống thác Datanla hay Tùng Nghĩa là phải đi ngang đây. 
Chỗ này là phòng mạch bác sĩ Giản, bên tay phải, cạnh trường học Minh Trí. Mình đoán chụp sau 75. Chắc do ông người Nhật Bản Kuro chụp. Bên tay phải phòng mạch bác sĩ Giản có con hẻm đi vào xóm trong. Mình không quen ai trong đó nên ít khi vào. Đi tới chút nữa thì có con hẻm rẽ bên tay phải, băng qua mấy cái vườn rau đến cư xá Địa Dư rồi lên cái dốc là gặp đường Hai Bà Trưng. Còn bây giờ thì chả biết đâu là đâu.
Hình trên chụp sau 75, trước Đổi Mới. Hình ảnh mình thấy như năm 1992 khi về Đà Lạt lần đầu tiên, te tua hơn trước 75. Chỗ cột điện là mảnh đất trống cạnh tiệm giày Hồ Út, nớ có cái am thờ ai, kế bên tiệm hớt tóc Như Ý của gia đình Đinh Anh quốc. Bên tay phải là cái talus, chống đất của đường Minh Mạng, phía tiệm bi da Hồng Ngọc, có nhà của bác sĩ Hách. Xa xa là góc của Mình Mạng và Phan Đình Phùng, có tiệm bán nước đá THuỷ Tinh.
Rạp Ngọc Hiệp xưa, mình đoán trước thời ông Diệm, nhìn từ đường Minh Mạng. Nhớ hồi nhỏ, ông bà cụ dẫn đi xem xi-nê ở rạp này. Trước khi chiếu phim thời sự, có màn chào cờ. Mọi người đứng dậy chào cờ, có hình Ngô Tổng Thống với lá cờ Việt Nam Cộng Hoà. Dạo ấy, người lương hay kêu Nhất Chúa nhì Cha thứ ba Ngô Tổng Thống. Một lần khác đi xem đại nhạc hội Trần Văn Trạch, có màn vũ sexy của vũ nữ Tuyết Nhung, không phải cô Cẩm Nhung bị tạt át xít. Lúc nhạc dạo bản nhạc Ét măm bô đi ra đi vô hết năm trăm, mình thấy một cô chạy ra , lắc Mông Lắc đít, rồi mọi đàn ông đều đứng dậy lý do là ông ngồi trước cao quá, nên ông ngồi phía sau đứng dậy, thế là cả rạp đứng dậy hết ngoại trừ mấy bà, còn mình thì có đứng cũng không thấy gì vì nhỏ quá. 
Bên tay phải có mấy tiệm hớt tóc, tắm nước nóng và tiệm đánh bi da MInh Tâm, nơi ông Trung Ba Tai hay đánh cá độ. Bây giờ, rạp này trở thành một khách sạn. Hình như mình có gặp ông chủ khách sạn này, khi viếng thăm quận Cam, tại nhà người bạn, dân ấp Thánh Mẫu. Em rể của bạn đồng chí gái.
Cầu Ông Đạo thời ông Diệm chấp chính. Bến xe Sàigòn Đà Lạt chưa được thành lập với cây xăng Caltex. Mấy chỗ này được xây dựng dưới thời thị trưởng Trần Văn Phước, xây chợ mới Đà Lạt và sửa sang lại khu Hoà BÌnh mới đưa bến xe Đà Lạt xuống đây. Dãy nhà cho công chức ở đường Thành Thái có 1 tầng nay thì toàn là khách sạn mọc lên 100 hoa đua nở.
Chỗ này, khi xưa thanh niên đến tuổi quân dịch là ớn đi đến đây nên vắng hoe vì sợ tuần cảnh chận hỏi giấy tờ. Đầu đường bên phải là cà phê Hạnh Tâm, đi vào thì có Nam Đô ngân hàng, tiệm chụp hình Văn Khánh, có một tiệm hớt tóc nhưng không bao giờ vào. Khi xưa mình cắt tóc ở dốc Nhà Làng, và đường Hàm Nghi, cạnh tiệm phở Bằng.
Khu Hoà BÌnh với kiến trúc khá tối giản, nay chỉ thấy pano quảng cáo hay chi đó, đọc không ra che hết mấy cửa sổ thông hơi,…
Hình này của ông Bill Robie chụp nên mình bỏ lên đây để ông ta thấy lại. Đa số các tấm ảnh màu Đà Lạt khi xưa, đều do ông ta chụp. Mình có kể về ông ta, phi công trực thăng, quyên tiền để tặng học bổng cho học sinh Bùi Thị Xuân và Trần Hưng Đạo. Hình này chụp từ rạp Ngọc Lan xưa
Hình này gần Ngã Ba CHùa, hình như là trường học Trưng Vương của mấy bà sơ, dạy con nít. Vài cô em mình khi xưa có đi học tại đây. Hình này chụp sau 75. Đối diện trường này là xưởng cưa ông Xu Huệ, nơi mình tập Thái Cực Đạo với võ sư Nguyễn Bình, có tiệm hớt tóc của ông dượng mình, cạnh quán cơm của gia đình một tên học chung với mình khi xưa. Có lần bị nằm vùng đặt chất nổ, tương tự cây xăng Ngã Ba Chùa. Xưởng cưa của ông Xu Huệ tên là Xưởng cưa Thuận Thành ? 
Trường Trưng Vương của các soeur dòng Mến Thánh Giá ở phía đối diện của trường Mầm non 7… trường Mầm non này của nhà nước mở ra …còn trường Trinh Vương sau 1975 vẫn hoạt động nhưng không do các soeur quản lý nứa mà thuộc sở Giáo dục … sau chuyển về đuối diện  xưởng cưa Thuận Thành  vãn giữ tên trường như cũ … và các Soeur mới được trả lại trường năm 2022 đang sửa sang làm mới lại ….

Có cái hẻm đi vào trong xóm, ngoài ra phía bên kia có con đường mòn đi băng qua nhà vườn ông Ba Đà, có cái giếng mà khi xưa, mình hay đi xách nước ở đó. Đầu đường, có tên học Yersin chung với mình, hay chạy chiếc xe Honda Monkey, không nhớ tên. Tên này với một đám, có lần muốn đánh hội đồng một tên học chung lớp tên Hoà, bà con chi với Võ Hoàng Đa, nhà bảo sanh Hiền CHi. Tên Hoà, to con hơn, biết võ nên mấy tên này chả đụng tới sợi lông hắn. Nghe nói tên Hoà nay là đại gia ở Việt Nam. Có sang Hoa Kỳ chơi nhưng mình không gặp lại.

Đất làm vườn ở khu vực này đều mướn từ gia đình ông bà Võ Đình Dung.

60 năm cuộc đời, có nhiều thay đổi nên không nên la làng. Ngay chính chúng ta cũng thay đổi tư duy, cách ăn bận huống chi Đà Lạt. Chán Mớ Đời 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo phơi nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 






Xi-nê một thời để nhớ

 Hôm nay họp mặt tại câu lạc bộ Toastmasters, có đề tài về những phim ảnh hưởng nhất trong đời. Khi họ hỏi mình, để trả lời, mình nghĩ có lẻ cuốn phim gây ấn tượng nhất khi còn ở Việt Nam là phim Bác sĩ Zhivago mà ngay người Mỹ cùng tuổi mình ở câu lạc bộ cũng nhớ đến cuốn phim này. Đẹp và có thể dùng để tuyên truyền chống Liên Xô. Phim này, mình xem lại nhiều lần tại Ý Đại Lợi, Thuỵ Sĩ, Anh quốc và Hoa Kỳ. Tại rạp cung có và trên đài truyền hình.

Phim này mình xem không biết bao nhiêu lần. 2 lần tại rạp Hoà Bình dù dài Lê thê. Cảnh tuyết mùa đông quá đẹp. Nghe nói quay bên Tây Ban Nha, như mấy phim cao bồi spaghetti. Xem phim này khiến mình muốn đi tây nhưng đi Nam Cực về thì phải công nhận đẹp hơn là trong phim của David Lean.

Rạp này vớt tiền của mình khá nhiều, nhất là phim tàu sau Mậu Thân với Tân Độc Thủ Đại Hiệp,..

Khi xưa, đi xem xi nê tại Đà Lạt nhất là khi có phim hay, ngày tết thì có màn chen lấn kinh hoàng. Chui lọt đến quầy bán vé là một đấu tranh trường kỳ, la ó, thậm chí còn đánh nhau như ngày nay, họ đi chùa hay xin ấn. Sau 75, nghe kể có màn xếp hàng, đặt cục gạch. Ai đó báo cáo trên mạng là mấy ngày Tết vừa qua, có đến trên 3,500 người nằm viện vì đánh nhau. Chắc nhậu rồi say, đánh đấm nhau.


Khi xưa, ở Đà Lạt có vụ kiểm duyệt các cảnh nóng. Đang xem đến màn hai anh chị ôm nhau thì xẹt biến qua cảnh khác hay ông thợ chiếu phim lấy tờ báo che lại. Bên Tây thì phim có kiểm duyệt cho trẻ em dưới 18 tuổi. Bên Hoa Kỳ cũng vậy, cấm đem trẻ em vào nhưng cho xem líp ba ga để hốt bạc.


Có lẻ thời gian xem phim tại Đà Lạt để lại dấu ấn cho mình nhiều là khi chùa Linh Sơn, đúc cái chuông mà ngày nay, thấy treo trước cửa chùa bên tay trái. Mệ ngoại dẫn mình lên chùa, mệ vào chùa để làm công quả hay tụng kinh, mình ở ngoài, đứng xem xi nê Charlot và Lảurel and Hardy. Mấy ông Phật Tử, lấy tấm vải, căng ra từ hai cây gần mấy thang cấp, có hai con rồng. Đặt máy chiếu, cứ hết một phim ngắn độ 15, 20 phút, là phải ngưng đổi phim, phải quay lại đủ trò, con nít như mình chạy đi xuống vườn chè, tè.


Trong chùa, cứ nghe thiên hạ tụng kinh, ngoài này thì con nít như mình chạy chơi, đủ tò, xem phim do ty thông tin Đà Lạt, đem chiếu cho xem. Đúng là xem xi nê chùa, không phải trả tiền.


Qua Tây thì không có màn này nhưng phải đứng xếp hàng ngoài trời, nóng vào mùa hè còn lạnh cóng chân vào mùa đông. Mùa hè thì thiên hạ muốn chui vào xi-nê để có máy lạnh, còn mùa đông thì được sưởi ấm. Mùa đông mình hay đi xem cinematheque ở Trocadero hay trung tâm văn hoá Pompidou. Có phòng ấm, đến suất cuối, 10 giờ bò về nhà là đúng 11 giờ đêm, lên giường ngủ. Khỏe re. Mùa hè thì sau khi đi làm ra, ăn tiệm là bò vô rạp xi nê để hưởng cái lạnh mát rượi trước khi về ngủ trên căn gác nóng hầm. Giá vé cho sinh viên rẻ. Mình tìm trên mạng để xem có tấm ảnh nào về những nơi khi xưa thì khám phá Paris có một cinematheque mới được xây sau này ở Bercy.


Đi xem phim ở cinematheque, lâu lâu có phim câm nên phải có một người ngồi đánh dương cầm trong khi chiếu phim. Dạo ấy, mình thấy đã châm, đã thấy hiện đại khi xem phim mỹ như E.T., Star Wars so với những phim câm khi xưa. Xem phim câm, nghe nhạc đệm dương cầm rất lạ, trải nghiệm không khí khác so với xem trong rạp surround sound. Được cái là không phải đọc phụ đề.

Nhớ có lần xem một phim Gia-nã-đại, nói tiếng pháp, đúng hơn là quebec. Nói chung 60 phút đầu, mình chả hiểu họ nói gì cả vì giọng rất khó nghe. Sau này sang ở Lausanne, Thuỵ Sĩ cũng tưng tự nhưng từ từ nghe hiểu được.

Đây tấm ảnh tiêu biểu khi xem phim câm, có người đánh dương cầm theo thứ tự của cuốn phim. Thường rạp chiếu nhỏ chớ to đùng như ngày nay thì đánh chả ai nghe

Ở trên đại lộ Champs Elysees, có một rạp Gaumont mình rất thích vì ghế ngồi rất êm. Ngồi xuống ghế thì thấy cứng, từ từ cái ghế nó trụt xuống theo trọng lượng của mình, ngồi êm kể gì. Mình hay coi ở đây vì gần nhà, xong phim thì đi bộ về, còn không thì xem ở khu Saint Michel, Odeon, gần trường có giá cho sinh viên.


Sang Hoa Kỳ đi xem phim, có màn mua bắp rang nổ vào ăn với uống coca. Ở tây, nói chuyện trong rạp là bị thiên hạ xì tới xì lui, kêu ta gueule huống chi ăn nhóp nhép bắp rang, hút Coca Cola tụt tụt.


Lâu lắm, không đi xem xi-nê ở rạp vì không có nhu cầu. Ở nhà, cứ mở Netflix, Prime và YouTube, xem phim tha hồ. Thích phim nào thì mở xem, không thích thì đổi trong khi ở rạp xi nê, không hay cũng phải ngồi nán, vì đã trả tiền. Nhớ dạo mới sang tây, mình thấy người Pháp mua cuốn báo, nói về chương trình đài truyền hình trong tuần. Hình như dạo ấy, bên tây chỉ có 2 đài truyền hình phát hình thường xuyên đến 12 giờ đêm. Thêm một đài TF3. Có phim hay là họ phải có mặt đúng giờ ở nhà để xem. Không có vụ nhấn “Pause” khi muốn đi tiểu như ở nhà bây giờ. Cả nhà đang xem thì mấy đứa con kêu “ngừng”. Rồi chạy vào nhà tắm.


Cứ tối thứ 4 hay thứ 6 gì đó, mình không biết vì không có truyền hình, dân tây tranh thủ về sớm để xem bộ phim đài truyền hình của Mỹ Dallas. Trong tuần thì báo chí bình luận về JR sẽ bị gì. Còn tối thứ 7 thường là ca nhạc còn tối chủ nhật là phim xi nê cũ. Mình rất ngạc nhiên vì thường dân tây, kêu người Mỹ không có văn hoá nhưng mê xem phim truyền hình Mỹ.


Xi nê bên tây đa số là phim Mỹ được ưa chuộng nhưng họ lồng tiếng pháp. Mình thích xem phim phụ đề pháp ngữ nên phải lựa rạp chiếu phụ đề để nghe tiếng Mỹ như tập nghe cho quen. Mấy tên bạn tây đầm thường chỉ thích đi xem phim nói tiếng pháp vì chúng không thích đọc phụ đề. Mình dân mít nên quen xem xi nê, nói tiếng tây ở Đà Lạt, phụ đề tiếng Mỹ, tiếng Việt, tiếng tàu. Xem xi nê phải đọc phụ đề việt ngữ mệt thở. Chỉ có mấy phim Việt Nam như Nàng, Chân Trời Tím, Từ Sàigòn đến Điện Biên Phủ,….là không có phụ đề.


Khi mình ở New York, tên ở chung có truyền hình nên cũng hay coi nhưng rồi có phòng trào xem phim bộ, lồng tiếng việt nên ra phố tàu, mướn về xem. Cho tên mỹ ở chung nhà xem rồi mình dịch ra tiếng mỹ cho hắn hiểu. Mỗi lần hết phim là hắn như điên cuồng, phải đợi mai đi làm về, ghé phố Tàu để trả băng video để mướn mấy tập tiếp theo.


Thế hệ con mình không biết, không trải nghiệm xem xi nê kiểu này. Nay chỉ cần mở truyền minh thông minh rồi lựa phim để coi. Không thích thì chuyển phim khác. Chúng có thể xem trên iPhone hay iPad, laptop,… tải về laptop mấy cuốn phim thích coi rồi lên máy bay mở để xem. Muốn ngừng khi nào cũng được. Ngày xưa, đi xi nê, mót đái cũng không dám đi. Coi xi nê trên đài truyền hình cũng vậy. Phải ngồi xem từ đầu đến cuối. Dạo đó truyền hình của Pháp, là của chính phủ nên không có trò quảng cáo khi xem đá banh, xi nê. Sau này có Canal+ mới bắt chước Hoa Kỳ, có quảng cáo nhưng dân tây lại thích hơn dù có quảng cáo. Đài của chính phủ thì chán như con gián.


Có bà nói là sau khi xem phim Shark, bà ta hết dám bò xuống biển để bơi vì hình ảnh cô gái bơi ban đêm, bị con cá ăn thịt để lại dấu ấn tàn nhẩn. Có người nói về E.T., người nói đến Star War. Sang Hoa Kỳ mình mới hiểu lý do, các phim Mỹ được ưa chuộng vì tư duy của họ không bị hạn chế. Mấy phim như Back to the future,…


Nói chung khi đi du lịch hay làm việc ở các xứ, văn hoá của Mỹ có rất nhiều ảnh hưởng bởi truyền hình. Các đài truyền hình địa phương mua bản quyền, chuyển ngữ hay phụ đề rồi chiếu cho người dân sở tại xem. Con nít được xem mấy chương trình Disney,…từ bé nên lớn lên, chúng chỉ thích nghe nhạc Mỹ, ăn hamburger, uống Coca Cola. Đó là cuộc chiến văn hoá mà cựu bộ trưởng văn hoá pháp, Jacques Lang lên tiếng báo động.


Trong lịch sử loài người, văn hoá nào được ưa chuộng nhất, sẽ giúp nước đó hùng mạnh như La-Hy, Nhà Tống, Ấn Độ,… ngày nay với kỹ thuật, con người được nối kết, giải trí bởi các kỹ thuật khác nhau. Xi nê từng là món giải trí cho nhân loại. Máy chục năm về trước, mình thích xem phim Tàu của Trung Cộng vì mới lạ. Nay thấy toàn là tuyên truyền nên Chán Mớ Đời.


Dạo mình sang Pháp, rát thích xem phim Ý Đại Lợi với những đạo diễn trẻ, đầy ý tưởng giới lạ như Federico Fellini,.. sau một thời gian bị cấm đoán dưới thời phát xít của Mussolini, giới trí thức được bung ra nhiều sáng tạo. Tương tự mình nhìn lại sau 1954, khi các trí thức miền Bắc di cư vào Nam, họ như cá gặp nước, bơi lội trong vùng sáng tạo vô biên. Các sáng tác về âm nhạc, sách báo khá đa dạng song song với sách vỡ tuyên truyền của chính phủ.



Ngày nay, mở Netflix xem phim ý thì chán như con Gián. Phim Đức khi xưa với những đạo diễn như Fassbender, Herzot,..quá hay này H tì cũng chán. Phim tây ngày xưa với loại Film Noir, nay cũng chán. Mỗi cuốn phim thực hiện ở Âu châu, đều được sản xuất chung với nhiều công ty thuộc Liên Hiệp Âu Châu, để có tiền thực hiện nên hằm bà lằng. 


Đi A Căn Đình, thấy họ quảng cáo phim Avatar II đầy nơi. Ai nấy đều chống Mỹ cưu nước rồi lại bò vào xi nê xem phim Mỹ và vỗ tay. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo phơi nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 







Chuyện cuối tuần

Cuối tuần, mình lên vườn, xem ra sao trước khi đi Việt Nam. Đồng chí gái rủ đi leo núi với mấy chị bạn nhưng mình chịu. Ai làm việc cho, làm vườn cũng như leo núi, nhiều khi còn châm hơn vì không có gậy, vác bao nặng cả 100 cân anh, đựng trái bơ, đi lên đi xuống đồi, không có đường mòn. Bắt đầu mùa bơ nên mình hái 1 ít cho cô cháu bán. Khi về, để trong ga ra đến khi cô cháu đến lấy thì thiếu mấy thùng 20 cân anh. Hỏi ra, bạn đồng chí gái đến nhà, đồng chí gái tặng khiến mình Chán Mớ Đời. Mụ vợ kêu ông chồng cô bạn, có đến nhà mình chơi vài lần, cùng tuổi với mình, đi theo mấy bà không nổi, phải trở lại xe ngồi thở nên tặng bơ để anh ta ăn bồi dưỡng sức khoẻ. Mình trời thương vẫn cho leo núi được dù tóc đã bạc.

Đi vườn về, đồng chí gái đưa áo dài, bảo bận vào đi ăn sinh nhật lần thứ 70 của 1 người chị dâu, được tổ chức hoành tráng tại nhà hàng. Mình gần 7 bó nên đồng chí gái cho lên lão làng, bắt bận áo dài, khăn đóng. Đến nơi chỉ có một mình Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo ăn bơ Sơn đen bận áo dài, còn mọi người thì bận đồ tây. Mình đi chào mấy người lớn tuổi trong đại gia đình từ vụ covid đến giờ, chưa gặp lại. Sau đó về chỗ ngồi, xem trên màn ảnh, hình ảnh của gia đình chị dâu từ Việt Nam, đến khi vượt biển rồi Hoa Kỳ. Đoạn đường 70 năm đời người, lưu lạc từ Hà Nội vào Nam, rồi sang Hoa Kỳ.

Mỗi ngày mình ăn 3 cử bơ theo môn Thiền Bơ. Thiên hạ hỏi sao bơ mình chín mà không bị đen ruột. Lý do là không bị ngâm thuốc bảo quản như bơ mua từ siêu thị. Thường thì bơ được hái mấy tháng trước, được ngâm thuốc bảo quản và chuyên chở trong xe lạnh từ Mễ Tây Cơ và Peru đến Cali. Bơ Cali thì trái nào tốt. Và to thì họ bán cho Nhật Bản, Xong om

Đồng chí gái từ đâu đi lại với một bà, hỏi nhớ ai đây không khiến mình ngọng, nhìn bà ta như bò đội nón. Bà này lại cười, kêu khi xưa tụi mình có date nhau khiến mình càng tăm tối. Bà ta nói, anh bước vào cửa là em nhận ra anh ngay. Thiên hạ hay kêu mình có trí nhớ nông dân nhưng khi gặp mấy bà là mình ngọng. May bà này, không kêu mình có con rơi với bà ta, nằm vạ giữa nhà hàng, bắt trả tiền chu cấp con rơi. Cuối cùng đồng chí gái kêu T khiến mình càng chới với.


Cô này thì lâu lắm không gặp lại. Thua mình ít nhất cũng 15 tuổi. Khi xưa làm dược sĩ, sau có 4 con thì ở nhà nuôi con để ông chồng nha sĩ lao động. Mình nhớ ngày đám cưới mình, cô nàng xung phong, trang hoàng sân khấu. Cô ta rất xinh mà nay có 4 con, theo chủ nghĩa Chúa cho bao nhiêu nhận bấy nhiêu. Như Francis Cabrel hét ngày xưa. “Elle a du faire toutes les guerres de la vie,…pour être si te tua”. Quay lại thấy mình may mắn, đồng chí gái sau 31 năm khói lửa, nội chiến từng ngày với mình, vẫn còn tươi như ngày nào, dù có lên cân, phải dang tay nối vòng tay lớn mới ôm được. Kinh

Đồng chí gái với người ân nhân cho mượn tiền vượt biển

Gặp lại nhiều người quen, không gặp từ khi Covid xẩy ra thấy mọi người già hẳn. Chắc mình cũng vậy. Có một bác, mẹ của cô có 4 con, kêu không nhìn thấy mình, chỉ nghe giọng thôi vì con mắt bị loà. . Khi xưa, hai bác ngõ ý thay mặt ông bà cụ mình đi hỏi đồng chí gái cho mình. Mọi năm, mình đều gọi điện thoại hỏi thăm nhưng từ mấy năm nay không gặp, thấy lạ lắm. Ai nấy đều xuống sắc. Buồn


Gặp anh của chị dâu, kêu gửi email bài mình viết về PB858, con thuyền đã đưa vợ mình và toàn gia đình anh ấy, đến bờ tự do, kèm thêm phiên bản tiếng anh, để đưa cho con anh ta và mấy đứa cháu đọc. Anh ta là người hoạch định chuyến vượt biển này, có đồng chí gái trên chiếc tàu. Chuyến tàu toàn đại gia đình ra đi.


Hôm qua, gặp lại cặp vợ chồng đã cho đồng chí gái mượn tiền để đi vượt biển. Khi xưa, ở Sàigòn, sau khi học xong đại học tổng hợp, không công ăn việc làm, đồng chí gái đi theo, đúng hơn là làm tài xế xe ôm, chở một chị, em dâu của ông anh, đi chợ, bỏ mối thuốc tẩm cho thiên hạ ở ngoài chợ.


Một hôm, chị ấy hỏi đồng chí gái, sao không đi, ở đây không có tương lai. Đồng chí gái kêu không có tiền, chị ta kêu sẽ cho mượn rồi qua bên kia bờ tự do, đi làm trả lại. Đồng chí gái kêu ông anh kế cần đi hơn vì sợ bị bắt đi bộ đội, qua Campuchia đánh khờ me đỏ. Vậy thì thêm 2 cây vàng.

Nhận hình chụp trên tàu với hai ông Mỹ. Họ từng làm việc tại ấn độ nên giới thiệu một công ty du lịch ấn độ, chắc tháng 11 đi nữa. Người Mỹ hay là viết nhật ký. Ông Steve, đạo Mormon, gửi nhật ký ông ta viết về chuyến đi Nam Cực, gửi cho bạn bè, gửi cho mình luôn. Một ông kêu xem tin tức, thống kê của ngân hàng Citi, nơi ông ta làm khi xưa, thấy lợi tức người A đông di cư, lợi tức hàng năm trên 50K, còn người Mỹ da trắng thì gần 40K/ năm

Thế là đồng chí gái và ông anh kế đi chung chuyến tàu định mệnh, đã đưa họ đến bờ tự do sau 6 ngày lênh đênh trên biển Đông. Tàu bị tài công phá hỏng vì không đưa được người của họ đi. Dân canh me, báo công an, nhưng rồi may mắn, cũng thoát khỏi hải phận Việt Nam.


Mình có viết kể về chuyến vượt biển, sau đó viết lại bằng anh ngữ để mấy đứa con đọc để hiểu chúng từ đâu đến. Tại sao bố mẹ chúng lại bỏ nước ra đi. Mấy người đi chung chuyến tàu với vợ, kêu mình gửi cho họ bài anh ngữ để đưa con cháu đọc. Kể cho chúng thì chúng ngọng, phải vẽ bản đồ, giải thích rõ ràng thì chúng mới hiểu. Có lần mấy đứa cháu hỏi mình, có gửi bản việt ngữ nhưng chúng dùng Google để dịch thì Chán Mớ Đời. Mình đành dịch ra anh ngữ, cho mấy đứa con, quên gửi cho mấy đứa cháu.

Có tấm ảnh này rất giản dị nhưng giải định được lý do sơn đen phải thua đồng chí gái khi đấu tranh tư tưởng, quán triệt đường lối cách mạng. Chán Mớ Đời 

Gặp lại người đã giúp mình vượt qua số phận, cho mượn tiền để ra đi, tìm một tương lại mới khi tất cả đã bế tắt tại Việt Nam. Đồng chí gái rất cảm động. Mình giới thiệu cho con ân nhân của mẹ chúng. Cặp vợ chồng này ở tiểu bang khác, ít khi về Cali.


Sáng chủ nhật, mình nhắn tin một chị đồng hương Đà Lạt, ở gần vườn, học sinh Bùi Thị Xuân, đến hái bưởi rồi tặng chị ta một thùng bơ theo tinh thần dân Đà Lạt xưa. Gọi tên mỹ, chuyên kiếm nhà mua cho mình đi ăn trưa rồi tặng hắn một thùng 20 cân anh bơ tha hồ mà ăn, để kiếm nhà mua cho mình trong khi mình đi Việt Nam và Thái Lan. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo ăn bơ Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 

Vòi nước uống công cộng Wallace tại Paris

Hôm nay, 1 ông thần quen, đăng tấm ảnh chụp ở Paris khi xưa khiến mình thất kinh. Không phải hình của ông ta giữa Paris lạnh giá mà mình thấy lại hình ảnh thân thương của Fontaine de Wallace, phía sau. Mấy vòi nước để dân Paris, khát nước, ghé lại uống mà mình vẽ nhiều lần, thời đi học. Các vòi nước này xuất hiện nhiều nơi trong thủ đô Paris, để giúp người dân uống nước hay lấy nước từ muà Xuân đến mùa Thu. Mùa đông thì tắt, tránh bị đông lạnh, làm hư hại các đường dẫn nước. 

Thiên hạ chụp ảnh tạo dáng, ông này chả nhớ gì cả về Paris, kêu không biết dù chụp hình ngay bên cạnh. Đối với mình là hình ảnh đầu tiên, đập vào mắt khi mới đến Paris. Hai điểm cần nhất khi đi ngoài phố Paris là chỗ đi tiểu công cộng và nước uống khi khát.

Mấy chỗ này hay để như vậy. Khi hư, họ tháo mấy tấm lưới bằng sắt lên, leo xuống để sửa chửa mấy ông nước.

Dạo mình mới đến Paris, thấy mấy vòi nước phong ten này, mang tên một người Anh quốc, Wallace nên thấy lạ. Lý do là người Pháp không thích người Anh quốc, từ thời Nã Phá Luân bị thất trận, đúng hơn là cuộc chiến 100 năm, giữa hai nước, có chung một hoàng tộc, tranh dành ngôi báu. Ngày xưa, mấy ông tây bà đầm dạy về lịch sử của pháp đến mờ mắt, chả hiểu gì cả vì ở đâu đâu, không dính dáng gì đến Việt Nam.


Hè đi vòng vòng Paris để xem biết tình hình, khát nước thì ghé lại cái phông ten này, đem theo cái bình nước để hứng nước uống. Nhất là khi mình tập vẽ, cần nước để pha màu thuỷ mạc. Mắc tè thì có chỗ đi tiểu công cộng mà người Pháp hay gọi Vespasienne, hay Pissoir qua tên một hoàng đế la mã tên Vespasien, cha của hoàng đế Titus, nổi tiếng vì đánh thuế người la mã, đi tiểu nơi công cộng. Tuần lễ đầu tiên đến Paris, mình đi viếng vườn Lục Xâm Bão mà ông Cung Trầm Tưởng làm thơ. Đi vòng vòng thì mót đái, thấy cái pissoir này, chạy vào tè lần đầu tiên tại Paris phê luôn.


 Sau này, mình về Paris thì họ dẹp mấy chỗ này, bù vào đó là những cầu tiêu công cộng của công ty Decaux, bị hư hoài vì dân tình thích xã hội chủ nghĩa, không muốn trả tiền nên phá. Du khách đi kiếm chỗ đi tiểu phải hát Nắng Paris mà anh chợt nóng vì đi kiếm chỗ cho em đi tiểu. Vào tiệm cà phê thì phải mua cái gì trong khi ở Hoa Kỳ, hay mấy nước khác như A Căn Đình, CHí lợi mà mình đi chơi vừa qua. Mót tiểu thì chạy đại vào khách sạn, tiệm ăn, tè một phát rồi đi. Chủ vui vẻ chào hasta la vista.


Ông Richard Wallace, người Anh quốc, sống gần cả đời tại Paris. Ông ta cho tiền để gắn và đem nước miễn phí qua các vòi phong ten, đến cho người dân tại Paris vào thế kỷ 19.


Mình nghe tây kể là trong thời gian chiến tranh Pháp-Phổ 1870-1871 và thời La Commune (Công Xã). Hoàng đế Napoleon đệ Tam choảng nhau với ông hoàng xứ Phổ, Otto von Bismarck. Quân đội pháp bị thua xiểng niềng. Hoàng đế tây bị truất phế và đệ tam cộng hoà được thành lập. Khi bị bao vây, cư dân ở Paris, đói quá nên ăn chuột, chó mèo và mấy con thú ở sở thú Paris. Thời đại La Commune ở Pháp, ít được nhắc đến trong chương trình giáo dục lịch sử Pháp. Ông tây khi xưa dạy Sử-Địa, chỉ nói phớt qua đến khi mình sang Pháp, kiếm sách đọc mới lòi ra vụ này.


Sau khi truất phế hoàng đế Napoleon đệ tam, cháu của ông Bonaparte, dòng họ này cứ đem chiến tranh đến cho nhân loại như gia đình Bush. Người dân bầu quốc hội mới. Mấy ông  thần đại biểu muốn hoà đàm , không đánh nhau nữa, khiến dân Paris, nổi loạn do một số trưởng giả và công nhân, đứng dậy chống đối.

Ngoài ra, khi ông Baron Haussmann, đập phá các khu vực cổ để xây dựng các đường xá rộng hơn, để nhân dân nổi dậy thì có thể đem cà nông ra bắn, triệt hạ hết hầu để tránh một cách mạng 14/7 lần nữa. Khi người dân chống đối, lính, công an của vua Louis 16, đi lùng kiếm thì dân núp khắp nẻo đường của Paris, khó tìm. Nên hoàng đế Napoleon III, ra lệnh cho ông Haussman, phá bỏ các khu nhỏ bé để thành lập các đại lộ như ngày nay. Paris nay còn vài khu vực nhỏ bé như xưa. Họ gọi nhóm cách mạng, chống đối này là Les Communards de Paris. Cuối cùng thì nhóm nổi loạn này bị dẹp tắt.


Trong thời gian hổn loạn này, ông Wallace sống tại Paris và chứng kiến sự đói khát của người dân nghèo nên có ý định tự bỏ tiền, gắn những phong ten này khắp Paris để cho dân tình có thể lấy nước uống và dùng.


Khởi đầu, họ cho gắn 50 cái phông ten, làm bằng gan sắt, sơn màu xanh lá cây vào năm 1872, xem như 102 năm trước khi mình đến Paris, vẫn thấy và sử dụng. Nghe nói nay vẫn còn hoạt động ngoại trừ mấy chỗ pissoir, đi tiểu công cộng. Nghe nói sau này có đến hơn 100 cái.


Ông Wallace phát hoạ ra hình ảnh của phông ten, rồi đưa cho điêu khắc gia Charles-Auguste Lebourg, thực hiện mẫu cuối cùng.

Đi trên đường, hay thấy mấy chỗ đi tè công cộng, sơn màu xanh để hoà với thiên nhiên, cây cối.

Trong cuộc chiến với quân Phổ, và cuộc nổi loạn La Commune, các hạ tầng cơ sở của Paris bị phá hỏng, người dân không có nước uống, xài. Người ta múc nước từ sông Seine, kéo xe bò để bán cho dân Paris. Nước dơ vì bao nhiêu cống rảnh từ Paris đều chảy sông Seine như Đà Lạt chảy về suối Cam Ly. Do đó mà người Pháp ở Paris, bắt đầu uống rượu và bia để khỏi bị nhiễm độc khi quân Phổ bao vây và cuộc nổi loạn La Commune. Mình đọc tài liệu, kể khi xưa, mấy ông bán thịt, làm thịt ngựa, bò xong thì bỏ xương, da,… dưới sông Seine nên khá hôi tanh vào mùa Hè. Nhất là khu vực La Cité. Kinh 

Từ đó say rượu và nạn nghiện rượu đến với dân lao động mà nhà văn Emile Zola tả trong các truyện của ông ta. Ở Việt Nam, mình chưa bao giờ đọc Balzac, hay Emile Zola nhưng khi qua tây, bạn bè kêu mình nên đọc. Mượn thư viện về đọc thì khám phá ra mấy ông muốn làm cách mạng, chắc bị ảnh hưởng bởi mấy cuốn truyện này.


Ngày nay, uống rượu rất đắt chớ thời xưa, rượu được làm ra, rẻ lắm vì ít ai uống. Dạo mình ở Tây, trưa đi ăn cơm tiệm, bình dân, một carafe de vin (bình rượu) rẻ hơn một chai nước suối. Rượu thường thôi mà người Pháp gọi vin de table. Rượu chỉ để dành khi đi lễ nhà thờ. Nghe kể khi Paris bị bao vây bởi quân Phổ, lính vệ quốc đến mấy quán rượu để uống rượu khi khát vì nước sông Seine quá độc. Say quá nên bị quân Phổ đánh chết bỏ.


Có lẻ vì lý do này mà ông Wallace thương cảm, bỏ tiền ra thành lập một hệ thống cung cấp nước cho người dân thủ đô đến ngày nay, do Eau de Paris quản lý. Dân tây thì chém giết lẫn nhau, một người ngoại quốc bỏ tiền cung cấp nước miễn phí cho dân tây dùng. Chuyện đời khó hiểu.


Nhiều khi mình nghĩ nếu người Pháp không đô hộ Việt Nam, không dạy tinh thần pháp chửi bới nhau, tự cho mình là đúng, đánh nhau như người Pháp thì có lẻ người Việt không bị ảnh hưởng mấy ông tây, đánh nhau chí choé nhân danh Tự Do, Bác Ái và Công Bằng bú xua la mua. Từ 1945, đánh nhau tới 1975, nay vẫn tiếp tục trên mạng, với bò đỏ bò vàng. Chán Mớ Đời 


Có hai loại phông ten này, đứng trên các lề đường và gắn ở tường. Mình nhớ ít thấy loại gắn bờ tường. Lúc đầu mới thấy cái phông ten rất lạ vì có 4 tượng phụ nữ. Sau này học lịch sử nghệ thuật mới khám phá ra ông Phidias của Hy Lạp đã bắt mấy bà đội nóc nhà, nóc đình từ lâu. Ngày nay, ai đến viếng Parthenon Ở Hy Lạp, sẽ thấy vài tượng phụ nữ đội cái mái nhà của đền, bên tay trái của đền chính.


4 người phụ nữ tượng trưng cho 4 mùa; lòng tốt (mùa đông), giản dị (mùa Xuân), từ thiện (mùa Hè) và sự tỉnh táo (mùa Thu). Mỗi phụ nữ đều khác nhau. Tượng trưng cho lòng tốt thì được điêu khắc gia cho cong đầu gối trái, Giản dị thì cong đầu gối phải,.. theo mình thì điêu khắc gia tìm cách làm cho bức tượng chung đẹp, sau này dân tây hay giải thích vớ vẩn cho có vẻ trí thức.


Địa điểm mà người dân Paris thích nhất là chỗ đi tiểu công cộng, họ gọi pissoir, do động từ Pisser (đi tè). Họ còn gọi là Vespasienne cho có vẻ trí thức, nhắc nhở đến ông hoàng đế la mã tên Vespasien. Ông này là người đầu tiên, cho trang bị các chỗ đi tiểu ở nơi công cộng, để đánh thuế, kiếm tiền cho nhà nước.


Paris thì đi bộ mệt thở, qua các chặng Métro. Dạo mới sang thì mỗi lần đi métro thì phải mua vé. Sau này, mới có mấy thẻ mua đi hàng tháng, lên xuống chỗ nào cũng được, trước kia thì khá mắc. Mình không nhớ phụ nữ ra sao, còn trong công viên hay trên đường bộ hành, có những chỗ để khi buồn tiểu, ghé lại tè. Khi xưa, phụ nữ không đi làm, ít ra đường nên các chỗ đi tiểu chỉ được thực hiện cho đàn ông đứng tiểu. Sau này, phụ nữ đi làm nên có vấn đề cho họ. 


Có vấn đề mình không quen là họ cứ để nước chảy hoài cả ngày cả đêm để không làm mùi khai nước tiểu. Sau này thì họ dẹp mấy chỗ này, bù vào đó, họ gắn các cầu tiêu công cộng của công ty Decaux. Lúc mình sắp sửa rời khỏi Paris thì có công ty Decaux, thiết kế mấy nhà vệ sinh cho hai giới nhưng mình chưa bao giờ sử dụng.


Hôm nào rảnh mình kể chuyện đời xưa ở Paris.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo ăn bơ Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 





Hình Ảnh Đà Lạt trước và sau 75

Mình tính không muốn kể về Đà Lạt xưa nữa, thích nói chuyện ngày mai hơn. Thiên hạ quen và không quen, lại gửi cho hình ảnh xưa của Đà Lạt khiến mình lại tò mò, xem đây là đâu trong ký ức. Càng bay về vùng trời ký ức thì lại lòi ra đủ thứ kỷ niệm, đành phải viết lại nếu không nó lùng bùng trong đầu khó chịu.


Hôm nay, nhận được 29 tấm ảnh Đà Lạt xưa và nay của một người không quen gửi tặng. Tác giả lấy tấm ảnh xưa trước 75, rồi đến lại ngay góc ấy để chụp lại không gian ngày nay để so sánh xưa và nay khiến mình thất kinh. Tác giả là dân Số 4, nay sinh sống tại Sàigòn, còn trẻ, muốn tìm lại gốc tích quê xưa. Có một cô, khoe với mình đã thực hiện một cuốn sách về di sản Đà Lạt. Hóa ra giới trẻ Đà Lạt ngày nay, cũng chú ý về lịch sử Đà Lạt, cũng như thế hệ ông bà, cha mẹ họ đến lập nghiệp ra sao. Tương tự như mình khi xưa, muốn tìm hiểu về cuộc đời ông bà cụ, ông bà nôi và ngoại,…


Nhớ năm 1992, về lại Đà Lạt lần đầu tiên thì hình ảnh Đà Lạt như các tấm ảnh của ông người nhật Doi Kuro chụp. Phải công nhận te tua nhưng vẫn còn dáng xưa của Đà Lạt, khi mình vội vã rời bỏ, chỉ có là không sơn phết lại như một cô gái già, không son phấn. Trước 75, gần tết, mấy phố tiệm nhà cửa được người Đà Lạt, quét vôi lại để ăn tết. , . Nên ngày Xuân với mai anh đào nở rộ, rất đẹp.


Suốt 20 năm ở hải ngoại, mình ấp ủ những hình ảnh Đà Lạt xưa ấy, mong có ngày trở về, nhìn lại Đà Lạt để rồi thất vọng, ra đi. Mình tải lên đây để ai xa xứ Đà Lạt, có thể tưởng tượng lại nét đẹp ngày xưa của Đà Lạt.

Đây là hình khi xưa, đầu đường Duy Tân, bên trái là tiệm bánh mì Vĩnh Chấn, có cái lò điện. Đối diện là tiệm VĨnh Hoà, kế bên là tiệm thuốc tây Minh Tâm, của cô Minh và chú Phấn, con của ông bà Võ Quang Hàm. Mấy dãy phố này là do ông Võ Đình Dung xây cất, sau về hưu và bán lại cho các chủ nhân mấy tiệm ở đây. Ông Võ Đình DUng là một trong 5 người của hội đồng thị xã Đà Lạt khi xưa. 2 người Việt và 3 người Pháp. Mình có kể trong bài sự hình thành khu Hoà Bình.
Sự khác biệt giữa 80 năm trời. Dãy phố này kéo dài đến đường Thành Thái. Khác biệt kiến trúc của tấm ảnh trên rất giống nhau, chiều cao, cùng mái, cửa sổ,…làm theo tiêu chuẩn của kiến trúc sư pháp đề đặt ra trong họa đồ chính, 
phát triển Đà Lạt, 6 mét chiều ngang, cho phép 2 tầng. Tiệm ăn Chic Shanghai gồm 2 căn nhập lại. Sau này đến thời Việt Nam Cộng Hoà sau 63, mới có vụ nhà thầu xây cao hơn 4 tầng như khách sạn Thuỷ Tiên và khách sạn Mộng Đẹp. Bắt đầu sự tàn phá kiến trúc, không gian mà người Pháp và đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà, tiếp tục xây dựng.

Hội An được du khách tây mến, yêu thích vì những căn nhà cổ. Thành phố này, có một quan lớn, biết giữ gìn không cho xây cất bừa bãi nên còn giữ chút gì không gian xưa, giúp dân tình kiếm sống với ngành du lịch. 

Sau Mậu Thân, chiến tranh gia tăng khắp nơi, dân tình ở quê, chạy giặc vào Đà Lạt nhiều nên cắm dùi chiếm đất xây nhà cửa, không theo các bản đồ phát triển của người Pháp để lại. Để hôm nào, rảnh mình viết về dân số Đà Lạt từ khi thị xã được thành lập đến nay, để hiểu lý do Đà Lạt phát triển một cách man rợ. Khởi đầu từ đệ nhị cộng hoà, với khách sạn Mộng Đẹp và Thuỷ Tiên. Ông chủ khách sạn Mông Đẹp, nGuyễn linh Chiểu, thầu khoán xây chợ Đà Lạt, xây hơn một tầng theo giấy phép, chạy chọt mấy ông lớn sau khi ông Diệm bị lật đổ nên tha và khách sạn Thuỷ Tiên cũng chơi cha kiểu này, khiến dân Đà Lạt quen thói, không theo bản vẽ của thành phố. Có gì thì dúi tí tiền cho mấy ông lớn Đà Lạt xưa.

Thời ông Diệm, có ông thị trưởng Trần Văn Phước xây cất các công trình như chợ Đà Lạt, khu Hoà BÌnh,…. Bản hiệu các tiệm buôn bán tại Đà Lạt rất nhỏ, theo kích thích đàng hoàng. Mình quên rồi vì đọc lâu ngày nhưng có chuẩn mực. Nhớ đến chỗ ông thợ vẽ các pano, Nguyễn Đình Nghi, đường Minh Mạng, cạnh nhà sách Khai Trí, đối diện bi-da Hồng Ngọc. Thấy ông ta làm sẵn các pano theo kích thước quy định.

Người dân cắm dùi, xây nhà loạn lên, mấy đại gia chặt cây Đà Lạt để cung ứng cho việc xây nhà, giàu to. Đà Lạt phát triển nhanh chóng, không theo lề lối. Với tư duy ao làng nên xây lại căn nhà như ở quê với mấy tấm tôn và nhà gỗ. Dạo ấy nhà xây bằng gỗ thông đầy. Đường Hai Bà trưng và Cường Để, thương phê bình căm đùi, xây nhà đủ kiểu. Xóm mình cũng vậy.
Đây là đầu đường Minh Mạng, chỗ tiệm Viễn Xương LOng, Đức Xương Long của gia đình Huỳnh Quốc Lương trong một buổi rước lễ Phật đản hay Thánh Mẫu. Dãy phố này cũng do ông Võ Đình Dung xây cất rồi bán lại cho các chủ tiệm ở đây. Thiết kế kiến trúc ngày nay, không cần kiến trúc sư vì không cần cửa sổ, cứ lấy mấy pano quảng cáo là xong việc. Khu Hoà bÌNh được khởi đầu bởi dãy nhà của ông Đội Có hai tầng, chỗ bến xe Tùng nGhĩa, sau đó đến dãy phố Bùi Thị Hiếu. 

Sau này, ông Võ Đình Dung mới xây dãy phố nhà hàng Mekong, Việt Hoa và dãy phố Chic Shanghai. Nếu nhìn kỹ, theo kiến trúc và kích thước do kiến trúc sư trưởng thành phố ấn định. Nay thì chỉ thấy bảng quảng cáo và cờ xí.
Chỗ này chụp từ cầu thang chợ đi lên góc Lê Đại HÀnh. Trăm hoa đua nở, trăm nhà đua tiếng
Khu Hoà Bình, chỗ tiệm đồng hồ Tiến Đạt, không gì thay đổi, ngoại trừ các đường dây điện thoại, chằn chịt. Ngược lại phía bên đồi, chỗ nhà lao xưa thì khách sạn xây đầy.
Đường Mình Mạng, góc chưa thay đổi lắm, ngoại trừ dây điện thoại 
Khu rạp Hoà Bình không thay đổi, ngoại trừ các ống điện bắt trên tường cho đèn đêm. Khi xưa, có lẻ sang trọng hơn một tí, nay thì móc treo đồ bán như chợ trời. Tiến Đạt thành Phương, Anh Lân thành Hiếu Hằng,…
Bao nhiêu cửa sổ bị che lấp bởi mấy pano quảng cáo. Chắc trong phòng rất ẩm vì không mở cửa sổ.
Đường Hàm Nghi, khu Hoà Bình. Thấy tiệm sách Liên Thanh, góc Bùi Thị Hiếu. Hình này chụp sau 75, chắc do ông Kuro chụp vì trước 75, khá sạch sẽ, sơn vôi mỗi năm. Chỗ nhà cao tầng là giang sơn của Easy Rider
Chợ Cũ hay Chợ Cây, sau khi chợ Đà Lạt mới, được xây dưới thời đệ nhất cộng hoà, chỗ này được ông chủ tiệm Chic Shanghai mướn để xây lại thành khu phố Hoà BÌnh và rạp xi nê Hoà Bình. trở thành rạp xi nê Hoà BÌnh. Nay hàng ghế đã được thay đổi. Mình nhớ khi xưa có 3 loại màu cho ghế; xanh đỏ vàng nay thì không nhận ra phía trong của rạp chiếu bóng
Góc Đường Tăng Bạt Hổ và Hàm Nghi, bên hông tiệm ăn Mekong, nơi làm đám cưới ông bà cụ mình 68 năm về trước. Hình như bây giờ cũng là tiệm cà phê, thấy quảng cáo man rợ. Hôm nay, có ông thần nào, hỏi mình còn nhớ đến chị Yvonne, ngồi két ở tiệm Mekong. Dạo ấy đâu có tiền để vào mấy chốn này. Khá lắm là ngồi lề đường ở dốc Minh Mạng, uống ly sữa đậu nành của bà 7 Quốc. Có một lần đi bộ từ chợ về, đi ngang đây thì thấy ông cụ mình đang ngồi uống cà phê với bạn. Ông cụ chạy ra kêu mình vào, kêu chai nước cam vàng BGI cho uống. Vào đây ngửi mùi tiệm ăn, phê không thể tả. Đó là lần đầu và cũng lần cuối được ngồi trong tiệm ăn này. Nhớ là ngồi ghế nệm, màu đỏ Bordeaux, không phải mấy ghế đẩu với chân bằng sắt nhé. Không như ở mấy tiệm phở, lấy ghế đẩu rồi chồng lên nhau. Khi có khách thì lấy cho ngồi.
Góc đường Lê Đại Hành, có chiếc xe Jeep của ông cụ mình vì dạo ấy, Đà Lạt chỉ có độc nhất một chiếc xe Jeep sơn màu xanh da trời. Khách sạn Mộng Đẹp, (Modern), sau khi quân đội Mỹ rời Việt Nam. Nay được dịch thành Nice Dream. Phía bên đồi nhà lao, nơi mẹ mình bị tây nhốt 6 tháng trời, nay được xây cất hết đất luôn.
Nếu mình không lầm thì đây là đường La Sơn Phủ Tử gần Mả thánh, cuối đường mình thấy cái dốc lên đường Ngô Quyền. Thấy chiếc xe Lam, chở hoa liểng đi trước, như xe của chú Thành, người làng Dưỡng Mong vì Đà Lạt có 2 chiếc có đầu xe như của chú và chiếc xe tang chở hòm đi sau. Sau khi đọc bài này, người gửi ảnh cho biết là đám tang của ông ngoại của anh ta, nhà ở Ngô Quyền năm 1981. Ngay bên trái của tấm ảnh là nhà của Trần Văn Tiến, có xe hàng chở hàng Sàigòn Đà Lạt. Nay bảo mình nhận ra chỗ nào không thì chịu.
Cà phê Tùng nổi tiếng Đà Lạt. Cột điện xi măng được thay thế bằng cột điện bằng sắt nhỏ hơn nhưng dây điện thoại đầy. Bên cạnh là giày Tân Việt, còn đi tới một tí là nhà in Lâm Viên. Sau này mấy người con đổi thành khách sạn Europa. Thiên hạ cứ hỏi mình biết tiệm cà phê này, cà phê nọ,.. thú thật khi xưa, mình không uống cà phê thêm còn bé, không có tiền để đến những nơi này. Chỉ nhớ có gặp một cô, kêu là con gái của tiệm cà phê ở đường Phan Bội CHâu. Nay là tiến sĩ, dạy ở đại học Pomona, đang tìm cách sản xuất cà phê hưu cơ. Có nhớ một ông thần tên Thông, con trai của tiệm cà phê Tùng này, học chung với mình ở Yersin khi xưa nhưng không chơi với nhau. Chỉ nhớ là có học chung và gặp lại Phước, con nhà in Lâm Viên. Con gái tiệm Liên Thanh hình như có học chung ở petit lycee, còn tiệm Đại Việt, không chơi nên không có kỷ niệm để kể. Chán Mớ Đời  (Còn tiếp)

Hôm nào mình về Đà Lạt, phải đến tiệm cà phê buổi sáng Chez Nous ở đường Phan Đình Phùng uống thử, nghe nói ngon cực đỉnh, cà phê gốc.

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo ăn bơ Sơn đen 



Nguyễn Hoàng Sơn