Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng

51 năm nhìn lại Little Sàigòn

 51 năm từ Sàigòn đến Bolsa 

Nếu nhìn lại 51 năm qua, sự ra đi của người Việt tỵ nạn trong lúc hối hả trước ngày 30/4/75 thì phải công nhận cộng đồng người Việt đã thành lập lại một Tiểu Sàigòn, được xem là thủ đô của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Phước Lộc Thọ


Ngày hải hùng đó đã khiến chúng ta mất quê hương, chúng ta có thể xây dựng lại một quê hương ở nơi khác. Có nhiều người ra đi trong lúc vội vã không biết gia đình còn sống hay chết. Ngày nay theo thống kê có đến 189,000 người Mỹ gốc việt sinh sống tại quận Cam (Orange COunty). Cộng đồng người Mỹ gốc việt lớn nhất tại Hoa Kỳ. 40% người Việt sinh sống tại thành phố Westminster, 31% ở thành phố Garden Grove.


Có thể nói không có truyền thông như tờ báo đầu tiên người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập với luật sư Đạt Phan, con ông Phan Huy Quát. Thì có lẻ Little Sàigòn không đông như ngày nay vì các lớp người Việt tỵ nạn tiếp tục sang Hoa Kỳ và đọc báo và dọn về vùng này ở.


Năm 1979, chỉ có 30 business ở phố Bolsa, đến năm 1981 thì có 300 business ở đây rồi đến năm 1984 lên đến 600. Ngày nay, có trên 4,000 business ở trong phạm vi 3 dặm vuông. Người ta tính có trên 280 tiệm ăn, 42 tờ báo việt ngữ, 5 đài phát thanh, 2 đài truyền hình phát các chương trình khắp nơi trên thế giới.


Ở trung tâm Tiểu Sàigòn có Phước Lộc Thọ khiến ai đến đây lần đầu cảm thấy như vào một chỗ nào huyền thoại. Năm 1986, một người sở hữu 1/3 địa ốc ơ Bolsa muốn đặt tên là Asian Town nhưng cộng đồng không chịu và tranh chấp suốt 2 năm liền và đã thắng, khu vực này được đề bảng Little Sàigòn trên xa lộ để xe quẹo vào. Con đường Bolsa được đấu tranh để bảo vệ bản sắc của người Việt tỵ nạn và nhưng người Việt tỵ nạn đã xây dựng trung tâm cộng đồng người Việt lớn nhất tại hải ngoại.


Mọi sự khởi đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trực thăng di tản các người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, và cuộc chiến chấm dứt với triệu người vui và hàng triệu người buồn. 130,000 người Việt được người Mỹ di tản khỏi Việt Nam, được xem là cuộc di tản cấp tốc rộng lớn nhất ở thế kỷ 20 trong thời gian rất ngắn. Nghe CIA giải thích là nhờ báo cáo của điệp viên X92, Võ Văn Ba báo trước nên Hoa Kỳ mới có thời gian chuẩn bị cuộc di tản các thành phần có dính dang đến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


người Mỹ không muốn như trường hợp của người tỵ nạn Cuba là dồn về một nơi ở tiểu bang Florida, họ rãi người Việt khắp nơi trên nước Mỹ như 10,000 người ở tiểu bang Florida, 22,000 ở Pennylvania, 51,000 ở Arkansas và 50,000 ở trại thuỷ quân lục chiến Pendleton, tiểu bang California. Hơn 1/3 ở nam Cali.


Vấn đề là họ ở trong các trại tiếp cư và đợi ai đó ở ngoài bảo lãnh họ, đúng hơn người Mỹ vì dạo đó rất ít người Việt ở Hoa Kỳ. Đa số là sinh viên du học. Các giáo phận công giáo tham gia, và các nhà thờ tin lành. Họ đưa người Việt đến các thành phố như Westminster, Garden Grove, Santa Ana,…nhưng khu vực không sang trọng, đúng hơn là nghèo. Lý do là tiền thuê nhà rẻ.


Rồi làn sóng tỵ nạn thứ 2 đến, từng năm 1979-1985, các thuyền nhân đến đảo ở đông Nam Á, được phỏng vấn đi mỹ. 800,000 người Việt tỵ nạn đến định cư tại Hoa Kỳ. 1000 người mỗi tháng tại Quận Cam.


Rồi làn sóng thứ 3 đến qua chương trình Orderly Departure Program (ODP), đoàn tụ gia đình.


Làn sóng thứ 4 cuối thập niên 1980 đến 1990, các tù nhân chính trị, cải tạo được Hoa Kỳ thâu nhận. Các làn sóng nhập cư người Việt đều đọc báo người Việt và các báo khác ở Bolsa, giúp họ dọn về định cư tại Quận Cam.


Mấy năm gần đây thì thấy có nhiều người Việt di dân vì đầu tư theo EB-5 hay các chương trình khác. Chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện con cháu của những người từng tuyên bố đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Mình có gặp vài người khi họ hỏi mua cái vườn của mình. Có đám chuyên gia giúp họ đầu tư qua Hoa Kỳ để hạ cánh an toàn.


Khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Bolsa thì khu vực này đang chết. Mình nhớ khi mình đến Cali lần đầu tiên thấy nhiều vườn trồng dâu của người Nhật. Các dãy phố lụp xụp Chán Mớ Đời nhưng được cái là đất ở đây rẻ. Không như ngày nay.


Người mở tiệm bán tạp phô Việt Nam đầu tiên là ông Danh Quách nhưng ít khách lắm. Ông ta kể là 3 năm trời ít khách nhưng ổng a vẫn tiếp tục. Theo ông ta thì có lần thị trưởng thành phố và cảnh sát trưởng ghé tiệm ông và nói là cảm thấy không yên lòng về sự có mặt của tiệm ông ta. Người dân địa phương da trắng cảm thấy khó xử. Mình nhớ khi mới dọn về Westminster thì xung quanh là người Mỹ trắng rồi dần dần họ bán nhà bỏ chạy và người Việt dọn đến. Nay chỉ thấy gốc mít xung quanh.


Ông Quách không muốn bỏ đi và có dược sĩ Danh Quách dọn đến mở tiệm thuốc tây năm 1978, rồi tiệm Hoà bÌnh rồi Tân Mai. Rồi năm 1979 có được 30 business của người Việt. Đúng lúc có làn sóng người Việt thuyền nhân định cư tại đây khiến thương mại phát triển, khách đến mua đông như quân nguyên, nói tiếng Việt như người Việt.


Năm 1981, 300 business, 1984, 600 business rồi ông Triệu Phát đến Hoa Kỳ năm 1975, buồn đời mua đất rồi xây Phước lộc Thọ. Năm 1987, cảnh sát Westminster ước lượng mỗi cuối tuần có 20,000 đến 60,000 người đến mua sắm ăn phở ở Bolsa. Cứ ra khỏi xa lộ quẹo vào đường Brookhurst là kẹt xe, người Việt lại lái xe kiểu biết bố mày la ai, bóp kèn in ỏi.


Ở bolsa người Việt đã xây dựng lại truyền thống Tết, như diễn hành, rồi chợ Tết nơi hội tụ người Việt tỵ nạn từ xa về về đây mấy ngày tết để ăn tết với bạn bè và gia đình. Rồi đình chùa mọc lên như nấm. Giúp các con cháu chưa bao giờ biết Việt Nam có thể hoà mình vào không khí tết được tạo dựng lại bưởi cha mẹ ông bà. Với hội chợ tết này nọ hay chợ đêm khi hè đến, giúp người Việt tha hương có thể tìm lại chút gì để nhớ. Mình thấy đắt tiền nên chả bao giờ bò ra thêm kẹt xe.


Tiểu Sàigòn trở thành trung tâm văn hoá của người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Các cuốn sách bị cấm tại Việt Nam được sản xuất nhiều như bánh mì baguette mỗi ngày. Các băng nhạc video được thâu dựng rồi bán qua âu châu và Úc Châu.


người Việt bỏ nước ra đi chỉ còn lại ký ức quê hương và đã tạo dựng lại quê hương trên đất nước đã cưu mang họ. Nhưng họ không quên lý do tại sao phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Có một ngày mà hàng năm cộng đồng người Việt đều tụ tập lại để tưởng niệm nhưng người dã hy sinh trong cuộc chiến cho tự do và những người đã bỏ mình trên đường vượt biển. Họ đã mua đất để xây đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Vietnam warmemorial).


Xét ra thế hệ đầu tiên xây dựng để sống còn còn thế hệ thứ 2 thì xây dựng quyền lực. Năm 1992, ông Tony lâm đắc cử nghị viên của thành phố, người Việt đầu tiên đắc cử. Vào thập niên 1990 cử tri người Việt khá đông nên các đảng không thể làm lơ như xưa. Nhưng cộng đồng người Việt như cộng đồng cuba rất chống cộng. Khi ông John MacCain ra tranh cử tổn thống, có đến kiếm phiếu cũng như Bush cha. 


Theo thống kê thì 53% cử tri ở Tiểu Sàigòn bầu cho ông Trump. Lý do ông ta chống Trung Cộng. Mà người Việt tỵ nạn lại ghét tàu. Họ bảo thủ vì ký ức, những năm tháng dài bị Việt Cộng bỏ tù. Họ bỏ phiếu theo địa chính hơn là các chương trình phúc lợi địa phương.


Nhưng ngày nay, sau khi bám rể vào đời sống Hoa Kỳ, thì có sự rạn nứt trong giới cử tri. Theo thống kê thì cử tri gốc việt dưới 49 tuổi, 65% ghi danh là cử tri của đảng dân Chủ. Lý do là thế hệ thứ hai không trốn thoát khỏi Việt Nam. Họ không bị ở tù cải tạo, tiểu Sàigòn không phải là nơi định cư tạm của họ như thế hệ trước.


Thế hệ con cháu dọn đi các thành phố khác như Irvine, Costa Mesa, Laguna. Thế hệ này là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. Họ đã vào dòng chính của Hoa Kỳ.


Đó là bề ngoại bề nổi, mặt bằng của Tiểu Sàigòn, chúng ta thấy tiệm ăn mọc như nấm nhưng nếu nhìn kỹ thì trong khu Tiểu Sàigòn có đến 5  khu mobile homes mà đa số người Việt ở, với tiền thuê đất đắt như vàng. Các người lớn tuổi sinh sống ở đây cho tiện đường mua sắm, nơi mà họ đã cùng nhau tạo dựng. Các người cao tuổi sống nhờ tiền an sinh xã hội. 


Little Sàigòn có hai loại kinh tế. Một kinh tế khiến thiên hạ đến mua sắm và một cố gắng sống chật vật phía sau mặt bằng hoành tráng của Tiểu Sàigòn. 


50 năm nhìn lại, cộng đồng người Việt đã thành công xây dựng qua bao nhiêu làn sóng đến Hoa Kỳ. Chúng ta bỏ lại sau lưng quê hương để xây dựng lại một quê hương thứ hai trên đất mỹ. Nhưng tương lai thế hệ con cháu có thể sẽ không màn đến vì Irvine có tiệm ăn Tàu, việt. Ngày thành phố mình bây giờ bắt đầu có tiệm ăn tàu, Việt Nam, đại hàn mọc lên như nấm. Có lẻ sẽ ít xuống Bolsa nhất là xăng trên $6. Nhưng phải kể là các lớp người Việt đi trước đã bỏ công gầy dựng một trung tâm để chúng ta quay về như viếng lại ký ức của quê hương bỏ lại.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa năm 1975 dưới mắt người Mỹ

 Sự sụp đổ của Việt Nam Cộng hòa năm 1975 dưới mắt người Mỹ 


Chiến tranh Việt Nam, theo mình đọc hay xem phỏng vấn trên các đài History về Việt Nam thì người Mỹ đa số đổ lỗi cho Việt Nam Cộng Hoà để tự giải thích sự thất bại của họ tại chiến trường Việt Nam. Họ viện dẫn thất bại vì lãnh đạo miền nam tham nhũng này nọ. Nhưng họ quên chính họ là những người dẹp ông Diệm để đưa các tướng lãnh lên lãnh đạo. Mấy người này thường khi xưa đi lính cho tây rồi được lên chức sĩ quan khi Pháp về nước, cho họ theo học vớ vẩn huấn luyện vài tháng thì lên sĩ quan. Ông cụ mình có hai cơ hội đi học khoá sĩ quan hay y tá, thì ông cụ chọn học y tá. Nên sau khi giải ngủ thì đi chính dạo, sau này vào tù cứu được nhiều người. Có người nhớ ơn hay ghé nhà đấm lưng cho ông cụ. Trình độ không giỏi lắm, thế hệ thứ hai được đào tạo có bài bản tại các trường sĩ quan như Võ Bị Quốc Gia, Thủ Đức vì có trình độ cử nhân. Thế hệ cấp tá này chưa kịp thay thế thì đã tan hàng. Chán Mớ Đời



Cái nguy hiểm là con cháu chúng ta sinh ra tại hải ngoại và theo học ở trường về lịch sử chiến tranh Việt Nam sẽ có cái nhìn lệch lạc về cuộc chiến và chúng sẽ không hiểu lý do chúng ta bỏ nước ra đi. Thậm chí có thể khinh khi cha ông của chúng vì tài liệu chiến tranh do kẻ thắng cuộc viết và Hoa Kỳ. Vì tin tức sách báo của người Mỹ viết đều để xoá bỏ mặc cảm và đổ lỗi cho Việt Nam Cộng Hoà. Anh nói với chúng tôi là cộng sản xấu, kêu chúng tôi phải chống lại rồi khi anh bắt tay với Trung Cộng để bán coca cola thì anh bỏ chúng tôi kêu lỗi chúng tôi không chiến đấu mà nghe nói có trên 1 triệu người miền nam chết hay bị thương còn Hà Nội thì 3 triệu người. Con số này thì không bao giờ biết rõ chỉ biết số thương vong của người Mỹ còn Việt Nam Cộng Hoà thì không ai nhắc đến còn Hà Nội thì sẽ không bao giờ công bố.


Có lẻ cảnh nhìn các nấm mồ ở nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hoà ở Biên hoà khiến mình thất kinh khi thấy hàng hàng lớp lớp các nấm mộ tử sĩ chết trẻ toàn là 19-20 tuổi.


Hôm qua có người gửi cho mình một bài viết của một giáo sư gốc việt, đi theo diện H.O. Vì ông bố đi tù mấy năm. Ổng ta kể là ở Việt Nam bị gọi con nguỵ, rồi sang Hoa Kỳ thì bị học sinh trong lớp nghe giảng về chiến tranh thì hỏi bên nào rồi kêu mày đáng bị thua nên cuối cùng anh ta theo học để dạy lịch sử Việt Nam theo những gì đã kinh qua. Chúng ta cần giải độc cho người Mỹ về chiến tranh Việt Nam.


Hôm trước, ở Texas, có vợ chồng anh bạn kể là khi đi học đại học, ông thầy nói soạn bài về chiến tranh Việt Nam nhưng họ không rành lắm nên cũng không giải thích được cho bạn học người Mỹ hiểu thêm về tình hình chiến tranh Việt Nam. Mình khi xưa cũn gì tờ nên phải kiếm sách báo vè chiến tranh Việt Nam đọc. Tin tức của Việt Nam Cộng Hoà, của người Mỹ, của Hà Nội để tự cho một kết luận thay vì nghe một chiều. Ai buồn đời tì vào đây đọc để hiểu thêm lý do Việt Nam Cộng Hoà thua.


https://www.wilsoncenter.org/sites/default/files/media/documents/publication/CWIHP_Working_Paper_73_Soviet-Vietnamese_Intelligence_Relationship_Vietnam_War.pdf


Sau hiệp định Paris, Người Mỹ có chương trình Việt Nam hoá chiến tranh, huấn luyện Việt Nam Cộng Hoà đánh trận như họ, dùng trực thăng rãi quân nhưng không cung cấp thêm khi tài, nhiên liệu gần như cúp viện trợ thì có máy bay cũng đâu có bay được. Có súng không đạn thì bù trớt.


Mình xem các buổi nói chuyện của ông Merle L. Pribbenow II, nói chuyện tại các lớp đại học Hoa Kỳ. Rất ấn tượng vì ông ta đọc, dịch tài liệu chiến tranh Việt Nam từ phía Hà Nội, cũng như Sàigòn để tìm hiểu thêm về cuộc chiến Việt Nam. Trước đây ở Berkeley, có một ông mỹ hình như CIA khi xưa tên Douglas Pike, có dịch thuật tài liệu của Hà Nội. Mình tóm tắc lại đây:


Ông Pribbenow II cho biết đưa ra một ý tưởng khá đơn giản nhưng rất khó nghe đối với nhiều người mỹ. Mình nghĩ cũng như đối với người Việt theo Việt Nam Cộng Hoà như mình. Nếu các bạn chỉ đọc tài liệu của Mỹ, các bạn sẽ không bao giờ hiểu đúng về Chiến tranh Việt Nam. Vì sao? Bởi vì trong suốt nhiều năm, chúng ta nhìn cuộc chiến này gần như chỉ từ một phía. Chúng ta có báo cáo, có số liệu, có phân tích… nhưng lại thiếu một thứ rất quan trọng: cách suy nghĩ của đối phương. Của Hà Nội. Ngày nay, mình hay đọc tài liệu, sách báo của Hà Nội để hiểu họ thêm. Mình có ông chú ruột bị B52 dập chết trên đường mòn Hồ Chí Minh trên đường vào Nam. Bố mình thì phản động còn Chú mình thì liệt sĩ.


Các bạn phải hiểu rằng thực ra có hai cuộc chiến đang diễn ra cùng lúc. Với Hoa Kỳ, đây là một phần của Chiến tranh Lạnh với Liên Xô và Trung Cộng:

Ngăn chặn cộng sản tràn ngập đông Nam Á qua thuyết Domino. Nhưng thực tế cho thấy là khi Đông-Dương rơi vào tay cộng sản thì các nước lân cận không theo cộng sản.

Giữ thế cân bằng toàn cầu.


Nhưng với phía Bắc Việt Nam, đây là:

Một cuộc chiến giải phóng dân tộc

Một cuộc chiến lâu dài

Một cuộc chiến mà họ sẵn sàng trả giá rất cao


Và chính sự khác biệt này tạo ra vấn đề. Người miền nam như mình thì hiểu cộng sản vì sau 75, Hà Nội đã chủ trường áp đặt lý thuyết cộng sản trên toàn nước Việt Nam. Nhưng trong thời chiến tranh họ dùng chiêu bài, kêu gọi đánh cho “Mỹ cút nguỵ nhào”. Chính phủ Ngô Đình Diệm không muốn lính mỹ đổ bộ tại miền Nam, vì sẽ giúp cho Hà Nội có chính nghĩa kêu đánh đuổi tân thực dân nên bị dẹp qua một bên.


Hoa Kỳ muốn kết quả nhanh trong khi Hà Nội chuẩn bị cho cuộc chiến kéo dài nhiều năm, thậm chí nhiều thập kỷ. Hình như mình có đọc đâu đó là ông Hồ có tuyên bố Việt Nam sẵn sàng chiến đấu 100 năm để dành lại độc lập. Người Mỹ thích nhanh chóng nên bỏ chạy. Sau này họ cố gắng ở Á Phủ Hãn nhưng sau 20 năm thì cũng bỏ của chạy lấy người.


Ông ta giải thích về chiến lược của Hà Nội sau khi đọc tài liệu của họ là Hà Nội là Họ không hề “liều lĩnh” như nhiều người nghĩ. Ngược lại: Họ tính toán rất kỹ, lên kế hoạch dài hạn và họ cực kỳ linh hoạt. Ông ta đưa ví dụ cuộc tấn công Mậu Thân. Về quân sự, họ chịu tổn thất nặng. Nghe nói trên 300,000 người nhưng về chính trị? Họ đã làm thay đổi hoàn toàn cách người Mỹ nhìn cuộc chiến khi người Mỹ xem các hình ảnh Việt Cộng tấn công toà đại sứ mỹ tại Sàigòn. Và trong chiến tranh, điều đó đôi khi quan trọng hơn thắng thua trên chiến trường.

Sách được bán trên Amazon


Vấn đề của Hoa Kỳ, chúng ta thắng rất nhiều trận đánh. Nhưng câu hỏi là: Thắng để làm gì?


Chiến lược của chúng ta bị chia cắt: Quân đội làm một việc, Chính trị làm một việc khác. Đó là vấn đề Dân Chủ, như hiện nay chính phủ Trump bỏ bom Ba Tư nhưng đảng Đối Lập lại công kích. Và quan trọng hơn: công chúng Mỹ dần mất niềm tin với phong trào phản chiến được sự hổ trợ của tình báo Liên Xô. Khi chúng ta thấy Jane Fonda, Joan Baez đến Hà Nội ngồi trên súng phòng không bắn hạ các phi công Hoa Kỳ. Khi điều đó xảy ra, kết quả gần như đã được quyết định.


Ông ta nói đến sự 30/4/1975. Nhiều người nghĩ rằng sự sụp đổ năm 1975 là đột ngột. Nhưng từ góc nhìn của ông ta và từ tài liệu phía Bắc, điều đó không hề bất ngờ. Hà Nội bắt đầu bằng một bước rất thông minh: Tấn công Phước Long, nhớ dạo ấy mình đang có mặt ở Sàigòn, chuẩn bị đi Tây, thấy thiên hạ đi biểu tình, giăng biểu ngữ toàn dân cùng với dân Phước Long này nọ. Để quan sát phản ứng của Mỹ và khi không có phản ứng… Hà Nội hiểu rằng:“Cơ hội đã đến.” Khi hiệp định Paris kết thúc với bộ đội miền bắc vẫn được phép ở lại miền nam thì xem như sự kết thúc Việt Nam Cộng Hoà chỉ là ngày tháng.


Nên nhớ dạo ấy ông Nixon, người đã hứa bú xua la mua, với ông Thiệu là sẽ bỏ bom Hà Nội này nọ nếu họ vi phạm hiệp định, nghe kể không biết có thật hay không vì bằng miệng. Đúng lúc ông thần này bị Watergate nên cuối cùng từ chức. Ông chủ tịch quốc hội Gerald Ford lên thay thế thì chới với, quốc hội không muốn viện trợ cho Việt Nam Cộng Hoà nữa. Nghe ông Đinh Văn Đệ, nằm vùng, được quốc hội Việt Nam Cộng Hoà cử đi xin viện trợ, ông này lại nói với đại biểu Hoa Kỳ quá muộn. Mình đọc trên báo Việt Cộng phỏng vấn ông ta có bí danh gì quên. Việt Nam Cộng Hoà họp về quân sự đều có mặt ông ta nên chuyển tin tức cho Việt Cộng hết. Chán Mớ Đời 


Sau đó mọi thứ diễn ra rất nhanh. Khi Cao Nguyên vùng hai chiến thuật sụp đổ: Quân đội Việt Nam Cộng Hoà mất tổ chức, Dân thường hoảng loạn bỏ chạy theo lính rút quân, lãnh đạo mất kiểm soát, và điều quan trọng nhất: Niềm tin biến mất. Một khi binh sĩ không còn tin rằng họ có thể thắng…thì cuộc chiến thực chất đã kết thúc.


Trong lúc Đà Lạt bỏ ngõ, gia đình mình di tản về Sàigòn Qua ngõ Phan rang rồi Bình Tuy, binh sĩ hay sinh viên trường võ Bị cũng bỏ chạy theo lệnh rút quân. Có chị bạn ở Đà Lạt cho biết là trước mấy ngày Đà Lạt bỏ ngõ thì có một người em bà con của ông bố, ngoài bắc được người Đà Lạt nằm vùng dẫn đến nhà nói chuyện. Có lẻ vì vậy ông bố quyết định ở lại. Ông bố này thuộc loại đại gia Đà Lạt khi xưa nên chắc cũng có đóng góp cho cách mạng nên sau 75 được tuyên dương là tư sản dân tộc này nọ rồi bị đánh tư sản. Cuối cùng bỏ của chạy lấy người đưa cả gia đình vượt biển hết.


Trong chiến dịch Frequent Wind, chúng ta thấy hình ảnh trực thăng trên nóc tòa nhà, di tản người Mỹ ra khỏi Việt Nam Cộng Hoà. Nhiều người nghĩ đó là thất bại về quân sự. Nhưng thực ra, đó là: Thất bại trong dự đoán, trong việc hiểu tốc độ sụp đổ. Mọi thứ diễn ra nhanh hơn tất cả những gì chúng ta chuẩn bị. Tương tự khi tổng thống Biden ra lệnh rút quân khỏi Á Phủ hãn, người dân cũng bỏ chạy trước bước tiến của Taliban. Súng ống để lại cho Ba Tư xài bắn máy bay mỹ.


Chiến tranh không chỉ là: Súng, Bom hay số lượng quân mà chiến tranh là: Ý chí, Chiến lược và khả năng hiểu đối phương. Chúng ta không thua vì không đủ mạnh. Chúng ta thua vì không hiểu đúng cuộc chiến mà mình đang tham gia. Chúng ta thấy BA Tư ngày nay, bom rơi banh ta lông nhưng vẫn kiên cường chống đế quốc sa tan.


Ông ta cho biết nếu các bạn muốn học lịch sử, không chỉ là Việt Nam, mà bất kỳ cuộc chiến nào, xin hãy nhớ điều này: Bạn phải nhìn từ cả hai phía. Nếu không, bạn chỉ đang nhìn một nửa sự thật.


Tương tự đồng bạc đều có hai mặt. Chúng ta phải quan sát cả hai bên. Mình đọc tài liệu của Hà Nội thì trong thời kỳ chiến tranh họ nghiên cứu tâm công của Nguyễn Trãi rất kỹ. Điển hình trong thế giới liên xô, chắc chắn là có sự chống đối, mầm mống phản động nhưng ít ai dám đưa mặt ra vì sẽ bị bỏ tù cải tạo. Ngược lại trong thế giới tự do thì các nước Tây Âu đều có đảng cộng sản hoạt động công khai và được pháp luật che chở mà ngay Ý Đại Lợi dạo ấy có đến 30% cử tri, Pháp có đến 25% cử tri bầu cho đảng cộng sản.


Nhờ đó mà Hà Nội được sự tiếp sức của Mạc Tư Khoa, khuyến khích thanh niên Tây Âu xuống đường, ở Hoa Kỳ thì lộn xộn vì vụ Civil Rights do ông Martin Luther King Jr. Dẫn đầu xen kẻ với phong trào kháng chiến. Ông Ngô Vĩnh Long, con của bà Ngô BÁ Thành được nhóm thiên tả tuyển, cho qua Hoa Kỳ du học, thành lập báo chí chống Sàigòn đủ trò. Tương tự sinh viên Nguyễn Thái Bình,…


Cứ tưởng tượng hàng ngày, xem truyền hình thấy chiếu cảnh dội bom napalm ở Việt Nam, dân tình bỏ chạy, người Mỹ đâu biết là người dân bỏ chạy vì sợ Việt Cộng mà nghĩ tại mỹ bỏ bom. Hay vụ Mỹ Lai, khi thấy hình ảnh đàn bà con nít bị quân đội mỹ giết, máu khắp nơi. Một tên sinh viên ở âu châu chắc chắn sẽ cảm thông và dần dần sẽ thiên về Hà Nội. Trở thành Việt kiều yêu nước. Trong khi đó các hình ảnh Mậu thân tại Huế, Việt Cộng tàn sát mấy ngàn người trong vòng mấy tuần chiếm đóng, không ai biết.


Trong khi chính phủ, lãnh đạo của Hà Nội được duy trì hoài, còn Hoa Kỳ thì cứ 4 năm bầu lại tổng thống và 2 năm bầu lại quốc hội nên chính sách không được định hướng hoàn toàn như Hà Nội. Tỏng những buổi nói chuyện của ông giáo sư, mình thấy cần đưa thêm tiếng nói của  người theo Việt Nam Cộng Hoà, và Mặt trận Giải pHóng Quốc Gia.


Tại sao Việt Nam Cộng Hoà là chống lại Hà Nội, vì không muốn xây dựng Việt Nam theo mô hình xã hội chủ nghĩa mà ngày nay chúng ta thấy lý do. Thiên hạ hay chửi mấy người theo Mặt Trận Giải Phóng, nhưng cũng nên cho họ tiếng nói. Họ phát sinh từ đối lập, và sợ bị bắt nên trốn vào Bưng, do Hà Nội tổ chức. Chúng ta thấy khi 300,000 người miền Nam tập kết ra bắc, Hà Nội đã bố trí người ở lại miền nam để thành lập cục R, để đánh phá miền Nam. Sau 75 thì thành viên của Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam hay chính phủ cách mạng lâm thời chi đó bị Hà Nội dẹp qua một bên. Lúc đầu họ để Nguyễn Hữu Thọ và Nguyễn Thị Bình sống sót vì Madame Bình được ngoại quốc biết đến, nể nang khi hoà đàm Paris. Còn thì bị dẹp tiệm hết như tướng Trần Văn Trà,… (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Đất Xanh hay Mỏ Xanh.

 Đất Xanh hay Mỏ Xanh.


Nhớ lần đầu tiên mình sang Hoa Kỳ chơi, có anh bạn xưa ở Đà Lạt tặng cho cuốn sách có tựa đề “you can negotiate anything” của luật sư Herbert Cohen. Ngồi máy bay đọc thấy mê vì ông ta chỉ những chiêu thương lượng, kiểu nhẹ nhàng mà đa số ưa thích, kiểu Liên Sô la hét om sòm, mình thích nhất là cách giả ngu, người ta đã tìm cách close cái deal rồi tự nhiên chỉ cần bỏ nhỏ, hỏi một câu cực ngu, không dính dáng gì hết khiến đối tác ngớ, nghĩ mình ngu hay thiểu năng nên mất phương hướng, phải lập lại từ đầu. 

Sau này mình sang Hoa Kỳ làm việc, có đọc cuốn sách của ông Trump “Art of the deal” rồi sau đó 2 cuốn sách của cộng sự viên của ông ta nói rõ cách thương lượng của công ty về các Deal ở New York mà ông Trump thực hiện được nhờ cái tài, hay lối bỏ nhỏ khiến đối tác đều nghĩ ông ta có vấn đề nói chuyện cõi trên. Nay ông ta làm tổng thống khiến mình buồn cười khi nghe thiên hạ chửi ông ta ngu ngốc này nọ. Mình ngu lâu dốt bền đâu có làm gì được trong đời đâu, cuối đời không ai mướn nên phải đi làm nông dân, bán bơ sống qua ngày trong khi ông ta trở thành tỷ phú, này nọ. 


Mình đọc thêm về Greenland vì thời ông Trump lên lần đầu đã nói đến vấn đề này, mình có kể rồi. Nay tài liệu nói rõ hơn lý do. Khi thương lượng, người ta lúc nào cũng đưa ra một ý chính để thiên hạ dựa vào đó để thương lượng nhưng nếu ai hiểu thương lượng thì phải hiểu nguyên do chính. Báo chí chỉ đưa tin tức để bán cho thiên hạ nghe có lý nhưng không bao giờ nói lên sự thật.


Điển hình đi xem nhà bán, hỏi chủ nhà lý do bán thì họ đều nói là muốn mua nhà lớn bú xua la mua. Trong khi đó mình đã có tin tức họ thiếu nợ ngân hàng trả không nổi. Nên phải bán. Nên ngoài mặt vẫn làm như người đang mơ.

https://youtu.be/BlRdyclVzzg

Sai lầm nguy hiểm nhất khi nói về “Greenland” là tin rằng câu chuyện này thực sự nói về Greenland. Chúng ta được bảo rằng đây là một cuộc khẩu chiến ngoại giao, một ám ảnh bất động sản, một sự quay ngược hỗn loạn về chủ nghĩa đế quốc thế kỷ 19. Báo chí xem nó như một màn trình diễn. Các nhà bình luận tranh cãi liệu chính quyền có nghiêm túc hay chỉ đang trêu ngươi. Người châu Âu bày tỏ phẫn nộ trước sự xúc phạm chủ quyền. Toàn bộ sự việc được đóng khung như tiếng ồn: kỳ quặc, đáng xấu hổ và rốt cuộc là không đáng kể. Cách đóng khung này thì dễ chịu. Và gần như chắc chắn là sai. Cuối cùng bà thủ tướng đan Mạch chửi bới ông Trump bị cử tri bầu cho người khác khiến bà ta phải từ chức.


Cách đọc thông thường về “vở kịch Greenland” là sự bất tài ngoại giao diễn ra theo thời gian thực. Chính quyền đe dọa dùng vũ lực, bị bác bỏ, leo thang, lại bị bác bỏ, rồi rút lui sang ngôn ngữ mua bán. Các nhà bình luận lắc đầu. Người châu Âu tỏ ra bối rối. Những gì trông như loạng choạng thực ra là một chuỗi đàm phán kiểu Trump cổ điển. Mở đầu bằng một yêu sách gây sốc để yêu sách thực sự của Đan Mạch trở nên “hợp lý” hơn khi so sánh.


Trình tự như sau: Phát tín hiệu thâu tóm. Đan Mạch cười nhạo. Nhắc đến vũ lực. Đan Mạch giật mình. Khăng khăng nói đến vũ lực, to tiếng, lặp đi lặp lại. Đan Mạch đạt đỉnh phẫn nộ. Những quốc gia âu châu khác đứng về phía họ. Rồi xoay trục. Một đề nghị mua lại xóa sạch toàn bộ nợ quốc gia của Đan Mạch (142 tỷ USD) và gần như gấp đôi GDP của Greenland (~450 tỷ USD)… Và đột nhiên câu hỏi không còn là “các ông dám sao” mà là “khoan đã, bao nhiêu cơ?” Ngôn từ về vũ lực chưa bao giờ là kế hoạch. Nó là cái mỏ neo. Đan Mạch không còn bảo vệ chủ quyền trước một kẻ xâm lược đế quốc; Đan Mạch đang đánh giá một đề xuất tài chính. Khung câu chuyện đã dịch chuyển. Đó là đàm phán.

Phép toán không hề phi lý. Thương vụ có lẽ tự hoàn vốn trong vòng một thế hệ. Riêng khoáng sản đã đáng giá gấp nhiều lần giá mua. 57.000 cư dân Greenland trở thành triệu phú trên giấy. Đan Mạch trút bỏ một gánh nặng ngân sách và xóa nợ. Hoa Kỳ bảo đảm chuỗi cung ứng đất hiếm cho quân đội của thập niên 2030.


Điều đang diễn ra thực chất là một cuộc thôn tính chuỗi cung ứng khoác lên trang phục của tham vọng lãnh thổ. Mục tiêu không phải một hòn đảo; mà là hai cấu trúc địa chất ở Nam Greenland, Kvanefjeld và Tanbreez, nơi chứa các nguyên tố đất hiếm nặng mà không có chúng thì không thể chế tạo bất kỳ hệ thống vũ khí tiên tiến nào.


Dysprosium. Terbium. Những cái tên chẳng có ý nghĩa gì với công chúng nhưng lại có ý nghĩa sống còn với Ngũ giác đài. Các nguyên tố này là không thể thay thế trong bộ truyền động của tiêm kích F-35, cánh lái dẫn đường của đạn chính xác, mảng sonar của tàu ngầm lớp Virginia, và nam châm vĩnh cửu của mọi động cơ xe điện. Trung Quốc kiểm soát hơn 90% khâu chế biến toàn cầu. Hoa Kỳ hầu như không kiểm soát gì. “Việc mua” Greenland không phải là một thương vụ đất đai. Đó là nỗ lực phá vỡ một thế kìm cổ.


Năm 2026, các thị trường dự đoán đã trở thành thứ gần nhất với tín hiệu giá trung thực về rủi ro địa chính trị. Và lúc này, chúng đang kể hai câu chuyện khác nhau. Kalshi, sàn giao dịch được Mỹ quản lý, định giá xác suất Hoa Kỳ thâu tóm Greenland ở khoảng 42%. Polymarket, nền tảng phi tập trung với cộng đồng tiền mã hóa toàn cầu và các nhà đầu cơ ngoài khơi, định giá ở mức 15–23%.


Đây không phải là kém hiệu quả thị trường mà là sự bất đồng về bản chất của quyền lực. Những người đặt cược trên Kalshi, các định chế, có trụ sở tại Mỹ, gắn chặt với hệ thống tài chính Mỹ tin rằng chính quyền sẽ ép thương vụ đi đến cùng. Họ đang định giá sự cưỡng bức. Những người đặt cược trên Polymarket quốc tế, hoài nghi về tính toàn năng của Mỹ, thường hoạt động ngoài phạm vi pháp lý của Mỹ, tin rằng sự kháng cự của châu Âu sẽ trụ vững. Họ đang định giá các chuẩn mực.


Khoảng chênh 20 điểm giữa hai thị trường này là tín hiệu quan trọng nhất thế giới lúc này. Nếu Polymarket tăng để gặp Kalshi, điều đó có nghĩa là “tiền thông minh” toàn cầu đã chấp nhận rằng Hoa Kỳ sẽ phá vỡ luật pháp quốc tế để bảo đảm sườn Bắc Cực. Tại sao dạo này chính phủ Hoa Kỳ dọa rút quân ra khỏi NATO. Truyền thông đưa ra lý do vớ vẩn là NATO không chịu giúp Hoa Kỳ đánh BA TƯ. Đó là thêm một đòn đàm phán để lấy Greenland. Các anh chị muốn Hoa Kỳ ở lại NATO thì để chúng tôi khai thác Greenland, còn không thì kêu Puchin doạ đủ thứ. Chúng ta thấy Puchin hơn 4 năm qua chưa đánh nổi một UKraina, nay có thể lại bị phản công. Mình đoán là cuối cùng Puchin và Ukraina sẽ ký kết hoà bình, Hoa Kỳ sẽ ở NATO và sẽ khai thác Greenland.


Tương tự Venezuela, có mõ dầu nhiều nhất thế giới mà mấy ông tàu lại bò lại mua dầu thô rẻ nên phải thương lượng với vợ chồng bà chủ tịch quốc hội, bà lên làm tổng thống, không chơi với anh tàu nữa. Có tiền lệ cho sự chấp nhận như vậy. Vài tuần trước, một nhà giao dịch đặt cược 32.000 USD vào việc lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro và thu về hơn 400.000 USD khi lực lượng Mỹ bắt giữ ông ta. “Hiệu ứng Maduro” đã hiệu chỉnh lại khẩu vị rủi ro trên mọi thị trường địa chính trị. Các nhà giao dịch không còn định giá đàm phán ngoại giao. Họ đang định giá các cuộc thâu tóm thù địch.


Người quan sát trung bình thấy ba mẩu tin riêng rẽ: tranh chấp thương mại với châu Âu, một sự ám ảnh kỳ lạ với Greenland, và vài sự cố mất kết nối internet cục bộ ở vùng Baltic. Chúng không hề tách rời. Đó là ba mặt trận của một xung đột duy nhất. Cso lẻ Puchin giúp ôgn Trump bằng cách cho tầu ngầm đi ngang các vùng gây cáp của Anh quốc khiến bộ trưởng bộ quốc phòng Anh quốc lên tiếng nhưng chả làm gì khiến dân Anh quốc nổi điên. Như cảnh cáo mày nên giữ Hoa Kỳ lại NATO nếu không tao xơi tái mày. Như để trả công Hoa Kỳ cho phép Puchin bán thêm dầu hoả để giảm giá dầu trên thế giới.


Mặt trận tài nguyên: Chính quyền mỹ đang bảo đảm đầu vào khoáng sản cho quân đội thập niên 2030. Mỏ Tanbreez, giàu đất hiếm nặng, không vướng phức tạp uranium, do lợi ích phương Tây sở hữu là viên ngọc vương miện. Mỏ Kvanefjeld lân cận, có phần vốn của Trung Quốc thông qua Shenghe Resources, là vấn đề cần vô hiệu hóa. Kiểm soát Greenland giải quyết cả hai.


Mặt trận kinh tế: Các mức thuế công bố đối với Đan Mạch, Pháp, Đức, Anh và bốn quốc gia châu Âu khác không phải biện pháp bảo hộ. Chúng là các đòn đánh kinh tế dẫn đường chính xác nhằm vào những kẻ bất đồng chính trị. Thỏa thuận Thịnh vượng Công nghệ Mỹ–Anh trị giá 31 tỷ bảng, trung tâm dữ liệu của Microsoft, đầu tư R&D của Google đã bị đình chỉ vô thời hạn. Thông điệp rất rõ ràng: sự đồng thuận với mục tiêu địa chính trị của Mỹ là cái giá của vốn Mỹ.


Mặt trận động năng: Trong khi các nhà ngoại giao tranh cãi về thuế quan, tàu Nga kéo neo cào qua các tuyến cáp viễn thông ở Baltic. Tàu chở hàng Fitburg, bị Phần Lan và Estonia tịch thu, là một phần của “Hạm đội Bóng tối”, những con tàu có quyền sở hữu mờ ám hoạt động dưới ngưỡng chiến tranh công khai. Đây không phải tai nạn. Đó là các hoạt động tạo hình thế, dò tìm điểm yếu, phô diễn khả năng cắt đứt hạ tầng số gắn kết liên minh phương Tây.


Người quan sát trung bình thấy hỗn loạn. Thực tế tình báo thấy sự nhất quán: thâu tóm tài nguyên, cưỡng bức kinh tế và chuẩn bị động năng, phối hợp đồng thời. Phản ứng của châu Âu trước tất cả những điều này là viện dẫn luật pháp quốc tế, chủ quyền và trật tự dựa trên luật lệ. Những lời viện dẫn ấy thỏa mãn cảm xúc. Chúng cũng vô nghĩa về mặt chiến lược.

Luật pháp quốc tế chỉ vận hành giữa các tác nhân đồng ý bị ràng buộc bởi nó. Nó giả định sự thừa nhận lẫn nhau về tính chính danh, một khung quy tắc chung và một cơ chế thực thi đủ sức cưỡng chế tuân thủ. Không điều kiện nào trong số này tồn tại. Không có chủ quyền toàn cầu. Không có độc quyền bạo lực. Các thỏa thuận chỉ bền cho đến khi lợi ích phân kỳ. Chúng ta đang thấy, Ba tư kêu trả 2 triệu mỹ kim cho mỗi tàu đi ngang eo biển Hormutz hay thả thuỷ lôi phóng toả cái eo biển này thì trả tiền đi hay không mua dầu, tàu chồi là bay mấy tỷ bạc. 2 triệu quá rẻ.


Hoa Kỳ đã quyết định rằng việc bảo đảm chuỗi cung ứng đất hiếm quan trọng hơn việc duy trì dàn xếp hậu chiến với châu Âu. Các thị trường dự đoán đã định giá điều này. Các hoạt động phá hoại cáp đã chứng minh điều đó. Các thông báo thuế quan đã nói thẳng ra.


Các nhà lãnh đạo châu Âu có thể viện dẫn chuẩn mực. Họ không thể cưỡng chế thực thi. Và những tác nhân công khai bác bỏ khung khổ dù là kéo neo qua cáp ngầm hay đòi nhượng bộ lãnh thổ dưới áp lực kinh tế đều giành lợi thế trước những bên tự trói mình bằng các ràng buộc mà đối phương không công nhận.


Đây là sự bất đối xứng của thời khắc hiện tại. Nó không mới. Thucydides đã chỉ ra từ hai mươi lăm thế kỷ trước: kẻ mạnh làm những gì họ có thể, kẻ yếu chịu những gì họ phải chịu. Điểm mới của năm 2026 là tốc độ chiếc mặt nạ rơi xuống. Có lẻ vì vậy mà các tên tài phiệt ủng hộ ông Trump đắc cử vì ông ta tỉnh bơ khi nói chuyện khi thương lượng. Không mắc cỡ này nọ. Thiên hạ theo tiêu chuẩn được giáo huấn từ bé không chấp nhận nên chửi ông ta nhưng ai có học về thương lượng thì hiểu rõ lý do này.


Chắc đa số chúng ta ít ai nhớ la có lần tổng thư ký Liên Sô Nikita Krushschev, ngay liên hiệp quốc ông ta tháo giày ra đập trên bàn, kêu sẽ bỏ bom nguyên tử tây phương hết khiến cũng xót đái. Sau này ngừoi ta khám phá ra ông ta cố ý, vì đem theo chiếc giày bỏ trong cặp của mình.


Câu chuyện công chúng mang lại sự an ủi: đây là hỗn loạn, bất tài, một sự xấu hổ ngoại giao rồi sẽ tự tan biến. Thực tế vận hành thì không hề an ủi. Hoa Kỳ đang thôn tính một chuỗi cung ứng. Châu Âu đang bị ép buộc phải căn chỉnh. Nga đang thăm dò hạ tầng gắn kết liên minh. Công chúng bị phân mảnh trong các silo thông tin khiến phản ứng tập thể bất khả. Các thị trường dự đoán đang định giá những kết cục mà diễn ngôn chính thức vẫn coi là không tưởng.


Những tuyên bố trên báo chí không phải vô nghĩa. Nhưng hiếm khi mang tính quyết định. Các lực quyết định vận hành âm thầm, được dẫn dắt không phải bởi chuẩn mực mà bởi đòn bẩy, không phải bởi luật pháp mà bởi địa chất, không phải bởi nguyên tắc mà bởi logic không thể giản lược của việc ai kiểm soát các đầu vào cho thế hệ vũ khí tiếp theo. Chúng ta đang chứng kiến lịch sử đang thay đổi nhanh chóng. Hy vọng mọi sự mang đến thịnh vượng cho Hoa Kỳ trong những thập niên tới.

 (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn