Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng

Cuộc chiến tranh lạnh thế kỷ 21 Hoa Kỳ-Trung Cộng

 Tóm tắc cuốn sách  “Bienvenue en économie de guerre” của David Baverez

Hôm qua tình cờ xem cuộc phỏng vấn trên đài Lệ Figaro với ông David Baverez, một nhà đầu tư Pháp ở Hương Cảng, tốt nghiệp luật tại Pháp. Thấy ông ta nói sơ sơ về hiện tình của âu châu giúp mình giác ngộ phần nào khi về âu châu 1 tháng, nói chuyện bạn bè và xem truyền hình của pháp và Ý Đại Lợi. Các nước này như đang trong tình trạng lấn cấn chưa biết đi đường nào thêm người già về hưu quá đông khiến ngân sách quốc gia quá eo hẹp. Pháp quốc có đến 5 chính phủ trong vòng 2 năm qua, hôm trước thấy quốc hội pháp không thông qua ngân sách vì tiền đánh thuế tối đa được 18 tỷ mà tiền chi ra lên trên 30 tỷ. Thế là ngọng.


Ông ta phang một câu là Đức quốc sẽ cướp tiền (pillera) của người Pháp qua công khố phiếu. Bà thủ tướng Nhật Bản mới lên đã phá vụ công khố phiếu nên tiền Yen xuống như diều phải mưa. Chắc năm sau ráng đi Nhật Bản thêm một lần nữa vì giá rẻ. Buồn đời mình kiếm cuốn sách của ông ta đọc “Bienvenue en économie de guerre”. Em xin tóm tắc lại đây để hiểu chút tình hình thay vì bắt chước thiên hạ chửi loạn cào cào.


Trong cuốn sách xuất bản tháng 5 năm 2024, ông David Baverez khẳng định rằng thế giới đã bước vào một kỷ nguyên mới mà ông ta gọi nền kinh tế thời chiến. “économie de guerre”. Theo ông, năm 2022 đánh dấu một bước ngoặt lịch sử quan trọng, giống như các năm 1914, 1945 hay 1989. Sự chuyển đổi này chấm dứt hơn ba thập kỷ của nền kinh tế thời bình dựa trên toàn cầu hoá và hợp tác mà ông ta gọi “trente ans glorieux” mà người Mỹ cũng như người âu châu ăn trên xương máu của người Tàu và các xứ khác khi họ chuyển đổi nơi sản xuất qua các xứ này để tránh sự tàn phá môi trường. người Mỹ cũng như người âu châu như bị nghiện sống vui vẻ, đi chơi, nghỉ hè, làm 35 tiếng một tuần.


Đùng một cái, Covid xảy ra khiến các chuỗi cung ứng bị gián đoạn, người Mỹ và âu châu tĩnh mộng, than trời tỏng khi đó các anh ba tàu cười há há, không có tụi tao chúng mày chết. Các nước âu châu và Hoa Kỳ chới với đang tìm cách làm chủ lại tình hình kinh tế nhưng có lẻ đã quá muộn.


Sự kết thúc của nền kinh tế thời bình (1989–2022): Trong hơn 30 năm sau khi Bức tường Berlin sụp đổ, phương Tây sống trong một môi trường kinh tế lý tưởng: tự do thương mại, chuỗi cung ứng toàn cầu trơn tru, niềm tin giữa các quốc gia, thị trường giữ vai trò quan trọng hơn địa chính trị.

Nền tảng của thời kỳ này là sự phụ thuộc lẫn nhau: càng thương mại, càng ít xung đột. Theo ông tây Baverez, mô hình này giờ đã sụp đổ.


Năm 2022: khởi đầu của sự bất ổn toàn cầu. Hai sự kiện lớn đã chấm dứt nền kinh tế thời bình: Chiến tranh Nga–Ukraine. Cuộc chiến đưa xung đột trở lại châu Âu, gây khủng hoảng năng lượng, lạm phát và bất ổn chiến lược. Ngày nay  chúng ta khám phá ra các nước âu châu đều mua khí đốt và dầu hoả của Nga cho nên cấm vận bú xua la mua nhưng anh Puchin vẫn vui vẻ lên đài truyền kêu gọi mấy anh tây ăn caviar, uống vodska.


Thêm Đại hội XX của Đảng Cộng sản Trung Quốc, Tập Cận Bình củng cố quyền lực tuyệt đối và đẩy Trung Quốc theo hướng kiểm soát chặt chẽ, ít cởi mở hơn. Mình xin mở dấu ngoặc ở đây vì mình có theo dõi vài nhân vật người Tàu chống Trung Cộng ở Hoa Kỳ và đài Loan. Mấy người này thì mạnh miệng kêu Tập thị hết thời này nọ. Có thể họ chỉ là công cụ tuyên truyền của Hoa Kỳ hay Trung Cộng để ru ngủ lòng dân Hoa Kỳ.


Ông họ Tập này khơi khơi kêu sẽ đánh chiếm Đài Loan này nọ, rồi bà thủ tướng Nhật Bản mới lên ngôi đã đe doạ Trung Cộng không được đụng tới người em gái sầu mộng Đài Loan của mình.Kết quả: ngày nay địa chính trị quay lại làm yếu tố quyết định trong kinh tế. Trung Cộng với chương trình Vành Đai và Con Đường mà mình có dịp hiển thị tại các xứ Liên Xô cũ như Tajikistan, Uzbekistan, Kazakhstan , Kyrgyzstan , Georgia,… hay ở Phi CHâu như Tanzania, Ai Cập, Jordan,…


Bây giờ mình mới hiểu lý do bộ quốc phòng Hoa Kỳ được cải danh thành bộ chiến tranh. Cho thấy thời đại chiến tranh kinh tế đã đến rồi. Hoa Kỳ tìm cách chận Venezuala bán dầu cho Trung Cộng nhân danh đánh chìm các tàu chở ma tuý. Xin nhắc lại là mấy ông ba tàu san xuất fentanyl để đưa vào Hoa Kỳ. Cũng như trước đây khi Hoa Kỳ chiếm đông Á Phủ Hãn đã kêu người dân sở tại bỏ rau cãi trồng thuốc phiện để đưa các nước như Nga và Trung Cộng. 


Nền kinh tế thời chiến: khung vận hành mới: Trong kỷ nguyên mới này, bốn cơ chế thay thế các quy tắc trước đây: Ngờ vực thay thế sự tin tưởng: các quốc gia bảo vệ chuỗi cung ứng sống còn. Pháp lý trở nên bất ổn: trừng phạt, hạn chế công nghệ, kiểm soát xuất khẩu. Cứ thấy ông Trump ký sắc lệnh trừng phạt hay thu lại luật lệ trước đây. Xung đột trở thành cách điều chỉnh quan hệ quốc tế: cạnh tranh Mỹ–Trung, chiến tranh năng lượng, cạnh tranh công nghệ. Và sự phụ thuộc trở thành vũ khí: khí đốt Nga, đất hiếm Trung Quốc, chip Đài Loan. Trung Cộng vừa ra lệnh cấm bán đất hiếm là thấy ông Trump xuống nước ngay. Nhưng chỉ để câu giờ trước khi có thể khai thác đất hiếm ở Hoa Kỳ cũng như các xứ khác. Nguy hiểm nhất là ngày nay thế giới không còn được điều hành bởi thị trường, mà bởi sức mạnh.


Ông Baverez đề nghị diễn giải lại ESG (Énergie – Sécurité – Guerre). Theo ông, ưu tiên thật sự của các quốc gia phải là: Năng lượng: nền tảng của chủ quyền. An ninh: hạ tầng, dữ liệu, lương thực, vận tải. Chiến tranh: chuẩn bị cho xung đột quân sự, mạng và công nghiệp. Đây là khung phân tích realist nhất theo ông.


Đây là phần được tác giả cảnh báo mạnh mẽ nhất. Châu Âu đang phụ thuộc vào ba yếu tố:

Năng lượng: khí Nga, dầu Trung Đông. Ngày nay về âu châu thấy thiên hạ cứ chống đi xe hơi này nọ trong khi đó không có dầu hoả, thậm chí cũng chống sử dụng năng lượng nguyên tử. Mình đọc báo đức thì thấy họ phỏng vấn thanh niên đức, mấy người này trả lời thà bị Nga xâm chiếm, đô hộ còn hơn đánh nhau ra mặt trận. 

Công nghiệp: sản xuất tại Trung Quốc. Cái gì cũng made in China, tước đây anh cứ để mấy anh ba tàu sản xuất bán rẻ cho anh tây bà đầm xài. Bây giờ thì tá hoả tam tinh vì khơi khơi anh ba tàu có thể ngưng bán cung cấp đồ phụ tùng này nọ là ngọng. Họ nói đưa qua Việt Nam hay các nước khác nhưng quá trễ thêm qua Việt Nam thì cũng như ở Trung Cộng vì đa số công xưởng ở Việt Nam được làm việc đàng hoàng là có cái dù che của Trung Cộng nên không bị công an hỏi han.

Quân sự: bảo vệ chủ yếu dựa vào Hoa Kỳ. Cứ dựa vào NATO canh gác cho mình ngủ như CUba và Việt Nam canh gác cho thế giới đại đồng ngủ bình yên. Bao nhiêu lính mỹ đóng tại âu châu. Nay anh mỹ ngang xương kêu không trả tiền nữa. Thế là ngọng.


Ông Baverez thậm chí dùng khái niệm “Yemen hoá châu Âu”: châu Âu có nguy cơ trở thành chiến trường giữa các siêu cường. Chúng ta thấy qua vụ tiếp tế cho Ukraina, có sự sức mẻ khi Hung Gia Lợi, và vài nước khác vì lợi ích của xứ họ nên không muốn tiếp tục đóng góp.


Lạm phát kéo dài và sự kết thúc của “just-in-time”. Từ covid đến giờ lạm phát Hoa Kỳ lên như điên, ăn tô phở bây giờ hết dám ăn vì gần $20. Theo ông Baverez, lạm phát hiện nay mang tính cơ cấu, không còn tạm thời: lý do là tài nguyên khan hiếm, chuỗi cung ứng phân mảnh, chi phí an ninh năng lượng tăng, xu hướng tái công nghiệp hoá. Do đó, mô hình “just-in-time” phải nhường chỗ cho “just-in-case”, dự trữ và bảo đảm an toàn chiến lược.


Châu Âu cần làm gì? Ông Baverez đưa ra nhiều giải pháp:

Tái công nghiệp hoá các lĩnh vực then chốt: năng lượng, quốc phòng, chip, dược phẩm.

Xây dựng chiến lược chung giữa 27 nước.

Tạo liên minh giữa địa chính trị – kinh tế – doanh nghiệp.

Đầu tư mạnh vào quốc phòng và an ninh mạng.

Điều quan trọng nhất là xây dựng tự chủ chiến lược.


Đọc cuốn sách của ông tây này giúp em hiểu rõ thêm lý do họ muốn chiến tranh Ukraina kéo dài. Để âu châu có thời gian tái cấu trúc lại kỹ nghệ hoá của họ vì nhân danh bảo vệ môi trường này nọ. Cũng như Hoa Kỳ dẹp qua một bên. Thật ra đọc tài liệu của Trung Cộng thì thấy họ tiến mạnh về trí tuệ nhân tạo. Thấy mấy ông thần ả rập đầu tư vào Hoa Kỳ rất nhiều tiền, nay mình mới bắt đầu hiểu sự việc cho cuộc chiến tranh lạnh giữa Hoa Kỳ-Trung Cộng.


Sang năm mình sẽ đi Trung Cộng lại để xem sau 18 năm xứ này tiến xa như thế nào vì nghe thân hữu đi về kể chuyện thấy hấp dẫn. Mình có đọc báo Trung Cộng nhưng muốn xem tận mắt thay vì ngồi đọc tin tức tuyên trườn của mỹ và âu châu rồi kết luận theo sự tuyên truyền. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn

Tướng George Marshall khôi phục lại âu châu

 Chiến Tranh và Hoà Bình

Dạo này dân cư mạng ồn ào trên các mạng xã hội. Người nguyền rủa Hoa Kỳ bán đứng Ukraine như Việt Nam Cộng Hoà, Á-Phú-Hãn, các đồng minh. Người thì hoan hô, kêu cuộc chiến không phải của người Mỹ hay người Pháp. Bên pháp số chống đối tổng thống Macron thì kêu ông Macron hân hoan tuyên bố sẽ cung cấp 100 chiến đấu cơ Rafale cho Ukraina trong vòng 10 năm nữa, khiến cổ phiếu công ty chế tạo máy bay này tăng vọt lên 10% trong khi ngân quỹ không được quốc hội duyệt phê. Họ kêu thu thuế được 18 tỷ mà phải xài đâu 30 tỷ (không nhớ số chính xác, chỉ lướt qua). Dân tình kêu tiền đâu, bán cho Ukraine, họ hết tiền, hết người để đánh. Chết rất nhiều. Mình theo dõi bên ủng hộ Ukraina, bên ủng hô Puchin thì cả hai bên chết rất nhiều và đào ngủ cả hai bên cũng nhiều. Mình thích đọc tài liệu của hai bên để có một nhận định riêng ít bị tuyên truyền.


Khi xưa, còn bé mình nghe đài Sàigòn buổi chiều kêu Việt Cộng bỏ lại mặt trận 120 xác chết, và bao nhiêu bị thương, phe ta vô sự rồi buồn đời tối mình mở đài Hà Nội ra nghe thì cũng cùng trận đánh, phe ta diệt 400 tên lính nguỵ,… cho nên mình thất kinh từ đó, không bao giờ tin vào một tin tức. Sau này đọc tin tức cả hai bên thì được biết Mùa Hè Đỏ Lửa, hai bên chết kinh hoàng. Mình hỏi ông chú họ ở quê, chú kể là hãi hùng, đại đội của chú chỉ sống sót vài người, chú bị thương nhẹ nên may được trở về quê quán. Đọc hồi ký các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà cũng nghe kể tan thương lắm.

Trên tờ Foreign Affairs, có đăng vụ phụ nữ Nga hối hả lấy chồng, đối tượng là những chàng trai sắp sửa được đưa ra mặt trận, vào lò nghiến thịt. Lý do là những người tử trận được tiền tử đền bù khá nhiều và có thể được trả lương cả đời nhằm khuyến khích họ ra đi. Họ sẽ hát ngày thành hôn tôi bận đồ hành quân và vợ tôi chỉ mong cho tôi sớm hy sinh cho Puchin …. Cho thấy người Nga vẫn vui khi có chiến tranh vì được lãnh tiền vì chiến tranh.


Mình thích sự trào phúng của người Pháp vì có nhiều người đưa thí dụ Pháp quốc ký giấy “letter of intent” bán cho Ukraina 100 phi cơ chiến đấu Rafale như: hội phụ huynh muốn gây quỹ nên mua bột mì, đường bú xua la mua rồi bỏ công làm bánh này nọ, sau đó đem bán rồi cúng hết tiền cho chương trình của trường. Chính phủ Macron nói bán 100 chiến đấu cơ Rafale nhưng Ukraine không có tiền thì xem như cho không. Tạo công ăn việc làm và làm giàu cho công ty chế tạo Rafale, đã giúp ông ta lên ngôi tổng thống. Cũng có thể chỉ nói cho vui làm trò để lấy tinh thần cho lính Ukraina tiếp tục đánh. Nghe phía bên Puchin thì cũng muốn đàm phán. Cần giữ đất đã chiếm vì nếu không thì dân nga sẽ thịt ông ta. Mà ông Zelensky cũng lâm vào tình trạng nếu mất đất thì dân chúng Ukraina cũng thịt ông ta. Có lẻ ông Zelensky sẽ bị ám sát trước khi ký kết ngưng bắn. Rồi vài năm sau, Puchin lại cho quân xua qua Ukraina nữa như Hà Nội đã làm sau khi bị đánh tơi bời hoa lá năm Mậu Thân. Dân chúng miền nam không nổi dậy chạy theo họ mà bỏ chạy nên họ dẹp vụ giải phóng miền nam và ra mặt đưa bộ đội vào Nam bất kể ký kết hiệp đình Paris.


Sáng nay, lại nghe Hung Gia Lợi kêu được Hoa Kỳ cho phép mua dầu khí rẻ của Nga và sẽ chia cho Serbia. Mấy ông tây bà đầm ở Âu Châu hô hào đánh cho Puchin bay đầu nhưng lại mua dầu khí rẻ của Puchin thì làm sao cấm vận được. Họ được mua dầu khí rẻ thì càng tốt. Chiến tranh càng kéo dài dân âu châu càng lợi. Họ chỉ hô hào đạo đức giả.


Nhớ khi xưa, học lịch sử Hoa Kỳ, sau khi Hitler tự tử, nay lại nghe tin tức ở Á Căn Đình cho rằng ông này đã chạy sang Á Căn Đình sống đến chết. Quân đội đồng minh chiến thắng thì có chương trình MArshall nhằm tái thiết Tây Âu lại. Cứ tưởng tượng đang đứng giữa trung tâm một thành phố châu Âu năm 1945. Không có tiếng xe cộ. Không có tiếng rao buôn bán. Chỉ có mùi khói, những bức tường cháy xém, và tiếng bước chân nặng nhọc của những con người đang cố gắng sống sót sau một cơn ác mộng kéo dài sáu năm. Những cây cầu gãy đôi, những trường học chỉ còn là đống gạch. Những nhà máy không còn máy móc và tệ hơn tất cả: không còn hy vọng. Có thể nói là tuyệt vọng.


Hình ảnh này mình đã nhìn thấy năm Mậu Thân, khi lên Cây Số 4, phụ gia đình dì Ba Ca, xây lại căn nhà, dấu vết bom napalm vẫn đầy , nghẹt mùi cháy của bom phosphore. Hình ảnh dượng Ba Ca đứng nhìn căn nhà gỗ đã tương, chỉ còn nền xi-măng. Dượng và mấy người con trai mỗi ngày làm hắc-lô để xây lại. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã tài trợ một số tiền. Hình ảnh hoang tàn của chiến tranh khiến mình hoảng sợ, chả muốn đánh nhau, tham dự cuộc chiến.

Hình ảnh mình đã thấy ở Số 4 sau khi Việt Cộng rút lui và trận mưa bom napalm mà từ khu vực nhà mình đứng thấy rõ các cuộc oanh tạc. Lúc đầu thấy máy bay bà già bay vòng vòng rồi nghe cái tạch, rồi thấy đạn khói bay xuống đất khói bay lên rồi vài phút sau là khu trục cơ bay đến thả bom. Dạo đó chưa học hyperbol nhưng sau này lớn lên học là hiểu liền nhờ chứng kiến thật khi xưa. Có ai biết lý do Việt Cộng lại cắm quân lại Số 4? Vì dân số 4 có nhiều người nằm vùng?


Trong bối cảnh Tây Âu thời hậu chiến, xuất hiện một nhân vật, dáng khắc khổ, ít khi cười, nói chuyện thẳng thắn nhưng rất chậm rãi, không ồn ào phô trương. Tên của ông là George Catlett Marshall. Trong chiến tranh, ông từng chỉ huy hơn tám triệu binh sĩ, nhiều hơn cả lực lượng của Mỹ ngày nay. Ông góp phần định hình chiến lược đánh bại phe Trục. Tướng Eisenhower, cựu tổng thống Hoa Kỳ từng nói:“Marshall là người đàn ông vĩ đại nhất tôi từng gặp.”


Nhưng điều khiến ông Marshall trở nên một tướng lãnh độc nhất, không phải là khả năng chỉ huy chiến tranh mà là khả năng nhìn thấy hòa bình khi thế giới chỉ thấy tro tàn. Tương tự ngày nay, dân cư mạng cứ hô hào Ukraine phải đánh tới người dân cuối cùng. Mình xem biểu đồ ngân sách của âu châu và Hoa Kỳ viện trợ cho Ukraine từ khi cuộc chiến khởi đầu thì thất kinh, người Mỹ đóng góp rất nhiều mà nay âu châu kêu gọi đóng góp thêm khiến người Pháp kêu trời. Tiền đâu ra. Lúc đầu mình tưởng chỉ có Hoa Kỳ nay khám phá ra âu châu cũng banh ta lông về kinh tế. Chúng ta cần chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng kinh tế sắp tới.

Ông Trump lên kêu không cung cấp viện trợ nữa thế là ngọng. Mình nghe nói nhưng chưa có tin chính thức là chính quyền Ukraina cũng tham nhũng lắm. Đồ viện trợ qua tay chính phủ Ukraina rồi trở lại các tay khác ở Âu châu và Hoa Kỳ. 


Trong một buổi điều trần tại thượng viện, tướng George C. Marshall ngồi im lặng trong khi các thượng nghị sĩ tranh luận, giọng nói của họ vang lên khi họ cố gắng biến chiến thắng khó nhọc của Thế chiến II thành sự trả thù. Đó là năm 1947, và châu Âu đã tan vỡ. Các thành phố nằm trong đống đổ nát, người dân chết đói, và trật tự chính trị từng gắn kết lục địa này đang sụp đổ. Toàn bộ các quốc gia đứng bên bờ vực hỗn loạn. Các người dân địa phương trả thù nhau vì tội làm pháp gian, đức gian, ý gian,… các phụ nữ có sinh hoạt với đức quốc xã trong thời chiến tranh, bị cạo đầu, bôi nhọ, chửi bới. Thêm Stalin cắt đất, khiến nhiều dân tộc phải rời bỏ chốn chôn nhau cắt rốn đi về một xứ nào đó họ chưa bao giờ biết. Như trường hợp bà Inge, sinh ra trong vùng đất ở Ba Lan, sau đệ nhị thế chiến bị tống cổ về Đức quốc. Phải học tiếng đức vì được xem là người đức thay vì Ba Lan như xưa.


Hoa Kỳ đã có thể quay lưng. Họ có thể tuyên bố chiến thắng của mình và bỏ mặc châu Âu chịu đau khổ. Nhiều người trong Quốc hội mong muốn điều đó. George Catlett Marshall, hiện là Ngoại trưởng, lại có một tầm nhìn khác. Ông đề nghị một điều mà ít ai có thể tưởng tượng được: tái thiết chính những quốc gia mà nước Mỹ đã chiến đấu chỉ hai năm trước đó như Đức quốc và Nhật Bản thêm Ý Đại Lợi. Nhờ đó có thể giúp Hoa Kỳ khôi phục các xưởng sản xuất, tái thiết sau thế chiến thứ 2. Giúp người giúp ta 100 lần 100 giàu có.


Ngày 5 tháng 6 năm 1947, ông đứng trên bục giảng tại Đại học Harvard, đọc bài diễn văn tốt nghiệp chỉ kéo dài chưa đầy mười phút. Không có những khoảng lặng kịch tính như mình học ở hội Toastmasters hay những lời kêu gọi cảm xúc, không có những lời hoa mỹ để nhận được tràng pháo tay. Thay vào đó, ngoại trưởng Marshall nói một cách thẳng thắn, thực tế về sự tàn phá ở châu Âu và trách nhiệm của những người đã thoát khỏi nó. “Chính sách của chúng ta không nhằm vào bất kỳ quốc gia hay học thuyết nào,” ông nói, “mà là chống lại nạn đói, nghèo đói, tuyệt vọng và hỗn loạn.” Ai buồn đời thì nghe bài diễn văn của ông ta:

https://youtu.be/dg9_GqXa770?si=Xc6IxauqhZcY-PX3


Mấy ông tàu cũng bắt chước ý định này với chương trình “Vòng đại và Con Đường”, giúp họ phát triển, có công ăn việc làm cho người Tàu lại thêm có ảnh hưởng ở các các xứ mà họ thực hiện chương trình này như ở Phi Châu và các nước thuộc Liên Xô cũ mà mình đã từng ghé. Puchin thay vì đem quân đi đánh thiên hạ, cứ dùng tiền bán dầu hoả rồi thành lập các chương trình như Trung Cộng là được lòng dân thế giới, giúp đất nước giàu có.


Đằng sau những lời lẽ bình tĩnh ấy là một người đàn ông đã chứng kiến ​​chiến tranh sâu sắc hơn bất kỳ ai. Với tư cách là Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Marshall đã chỉ huy lực lượng quân sự lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, hơn tám triệu quân dưới quyền. Ông đã giám sát mọi hoạt động, mọi kế hoạch, mọi cuộc di chuyển từ Bắc Phi đến Normandy. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ tìm kiếm sự chú ý của đám đông. Nếu ai có dịp đi viếng vùng Normandie, nên ghé lại các nghĩa địa chôn lính mỹ chết khi được gửi sang âu châu. Nghĩa trang Biên Hoà của lính Việt Nam Cộng Hoà không bằng những nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ tại vùng này. Lính chết nhiều khi đổ bộ xuống bờ biển Normandie. Khi viếng những nghĩa trang này, thì không ai có khả năng hô hào chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, toàn là lính trẻ không. Mình ghé lại nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hoà, ở Biên Hoà, thấy toàn là lính chết ở tuổi 19, 20. Ukraina hay Nga, đều có những người mẹ, hay vợ khóc khi được tin con hay chồng hy sinh cho cuộc chiến vô nghĩa.


Như ông thượng tá mình gặp, chủ một tiệm ăn ở Vịnh Hạ Long. Ông ta than bỏ cả tuổi trẻ vào nam đánh mỹ cút nguỵ nhào, nay về quê mở tiệm ăn, phải phục vụ bọn đế quốc du khách mỹ và nguỵ quân nguỵ quyền như anh. Chán Mớ Đời. Sau 10 năm say men chiến thắng khiến dân từ có cơm để ăn phải ăn bo bo mà Liên Xô cho ngựa ăn để sống. Phải quay đầu lại năn nỉ Hoa Kỳ xin bang giao. Cho thấy cuộc chiến vo nghĩa, thêm ông Lê Duẫn cuối đời như giác ngộ cách mạng kêu “chúng ta đánh cho Nga, cho Tàu”.  


Khi Tổng thống Roosevelt đề nghị ông cơ hội lãnh đạo cuộc đổ bộ của quân Đồng minh vào châu Âu, Marshall đã từ chối, chỉ nói: “Tổng thống phải quyết định nơi nào tôi hữu ích nhất.” Ông hiểu tầm quan trọng của sự lãnh đạo, nhưng ông cũng biết khi nào nên để người khác chỉ huy. Roosevelt đã chọn Eisenhower cho Ngày D, và Marshall ủng hộ quyết định này mà không hề phàn nàn. 


Giờ đây, khi sự tàn phá của chiến tranh lan rộng từ chiến trường đến sinh mạng của hàng triệu thường dân, ông Marshall nhận thấy rằng việc giành lại hòa bình sẽ đòi hỏi cùng một kỷ luật và sự hy sinh đã giúp giành chiến thắng trong chiến tranh. Ông đề nghị một chương trình mà sau này được gọi là Kế hoạch Marshall là một nỗ lực to lớn để tái thiết Tây Âu, không phải thông qua chiếm đóng hay trừng phạt, mà thông qua viện trợ. Kế hoạch này sẽ tiêu tốn 13 tỷ đô la, một số tiền tương đương hơn 170 tỷ đô la theo giá trị hiện đại.


Kế hoạch này kêu gọi thực phẩm, máy móc và chuyên môn của Mỹ đổ vào các nền kinh tế đang bị tàn phá của châu Âu. Kế hoạch này sẽ giúp xây dựng lại các nhà máy, khôi phục nông trại và ổn định chính phủ. Nó cũng sẽ gắn kết tương lai của châu Âu với Hoa Kỳ, tạo ra mối liên kết tin tưởng thay vì oán giận. Nhờ đó mà kinh tế và kỹ thuật Hoa Kỳ phát triển rất nhanh sau cuộc chiến khiến khắp nơi thế giới, ai nấy đều có nhà và xe hơi. Một nhân công mỹ có thể nuôi một vợ và con, có chiếc xe hơi.


Trong nước, ý tưởng này đã vấp phải sự phản đối dữ dội. Những người chỉ trích cáo buộc Marshall lãng phí tiền của Mỹ, "nuôi dưỡng người nước ngoài" khi các cựu chiến binh Mỹ vẫn cần sự giúp đỡ. Tương tự ngày nay, người ta hô hào ủng hộ Ukraine đánh Puchin nhưng chả thấy ai tự nguyện lên đường sang Ukraine đánh Puchin. Một số người thậm chí còn gọi kế hoạch này là phản quốc, cho rằng nó sẽ củng cố sức mạnh cho những kẻ thù cũ như Đức và Ý. Tại Thượng viện, cuộc tranh luận trở nên gay gắt. Tuy nhiên, Marshall vẫn giữ bình tĩnh. Ông không tranh luận hay biện hộ. Ông chỉ đơn giản nêu ra sự thật và để logic của lòng trắc ẩn tự lên tiếng.


“Hoa Kỳ sẽ giúp tái thiết toàn bộ châu Âu.” Không chỉ giúp một nước, không chỉ giúp đồng minh, mà là toàn bộ lục địa chìm trong bóng tối. Ông không hứa cứu trợ nhân đạo đơn thuần mà đề nghị một phương thuốc chữa tận gốc: giúp các quốc gia tự đứng vững. Một phóng viên đã viết “Marshall không nói bằng lửa, mà bằng sự tỉnh thức.” Và chính sự tỉnh thức ấy đã thay đổi thế giới.


Trong vòng bốn năm, kết quả là không thể phủ nhận. Sản lượng công nghiệp của châu Âu đã tăng hơn 35%. Nạn đói giảm, chính phủ ổn định, và những kẻ thù cũ trở thành đồng minh. Kế hoạch này không chỉ tái thiết các thành phố mà còn xây dựng lại niềm tin vào nền dân chủ, vào sự hợp tác, và vào chính nước Mỹ. Như chúng ta thấy Tây Đức và Nhật Bản, phát triển thậm chí ngày nay người Nhật và người Nam Hàn làm cái tượng của tướng McArthur.


Công nghiệp Tây Âu vượt mức trước chiến tranh. Người dân có việc làm trở lại. Nhà cửa được xây mới. Hệ thống dân chủ được củng cố. Các quốc gia kề vai hợp tác thay vì nghi ngờ. Ngay cả những nước từng là đối thủ trong chiến tranh cũng nhận viện trợ. Marshall hiểu rằng: Hòa bình bền vững không thể xây trên lòng thù hận. Chỉ có thể xây trên thịnh vượng chung.


Do đó khi nghe thiên hạ chửi nhau này nọ. Quá dễ vì họ không phải hy sinh nhân mạng, tài chính nên tha hồ hét bú xua la mua đến tên cuối cùng cũng đánh. 


Kế hoạch Marshall trở thành nền tảng cho Cộng đồng Kinh tế châu Âu, rồi Liên minh châu Âu sau này. Kế hoạch Marshall cung cấp 13 tỷ đô la, một con số khổng lồ thời bấy giờ. Nhưng số tiền ấy vẫn chưa phải là điều đặc biệt nhất. Lần đầu tiên trong lịch sử, một cường quốc chiến thắng chọn xây dựng thay vì trừng phạt. Có lẻ ông ta học được bài học thế chiến thứ nhất, khi quân chiến thắng trừng phạt Đức quốc khiến phòng trào Đức quốc Xã lên ngôi và tìm cách trả thù tạo nên thế chiến thứ 2.


Họ gửi lúa mì đến nuôi dân đói, gửi than để sưởi ấm mùa đông, máy móc để dựng lại nhà máy. Gửi vốn để mở lại thương cảng và gửi cả niềm tin rằng tương lai có thể tốt hơn. Một nhà sử học viết: “Kế hoạch Marshall không chỉ mang hàng hóa đến châu Âu. Nó mang lại hy vọng.”


Khi George Marshall nhận giải Nobel Hòa bình năm 1953, ông trở thành người lính chuyên nghiệp đầu tiên làm được điều này. Đứng trước khán giả ở Oslo, ông đã nhận giải thưởng với cùng một sự khiêm nhường lặng lẽ đã định hình cuộc đời ông. "Hòa bình", ông nói, Tôi là một người lính. Tôi hiểu chiến tranh tàn phá thế nào và tôi biết hòa bình đáng giá ra sao.” Ông không nói về chiến thắng, không nói về vinh quang. Ông nói về điều duy nhất khiến chiến thắng có ý nghĩa: khôi phục lại cuộc sống của con người.


Không lâu sau đó, ông từ giã sự nghiệp chính trị. Không giống như nhiều người cùng thời, ông không viết hồi ký, không có bài phát biểu nào để tôn vinh thành tích của mình, và cũng không tìm kiếm chức vụ chính trị nào. Ông chưa bao giờ đấu tranh để được công nhận, mà chỉ đấu tranh vì kết quả. Khi ông qua đời vào năm 1959, không có tượng đài cá nhân hay lời tri ân nào được viết ra. Chỉ có một di sản được khắc trên những con phố được xây dựng lại của châu Âu và sự ổn định của một thế giới mà ông đã góp phần cứu vãn.


George C. Marshall đã dành cả cuộc đời để làm chủ nghệ thuật chỉ huy, nhưng hành động lãnh đạo vĩ đại nhất của ông không đến trong chiến tranh mà là trong hòa bình. Vào thời điểm thế giới sẵn sàng trừng phạt, ông đã chọn tái thiết. Vào thời điểm cơn giận dễ dàng đến, ông đã chọn lòng nhân từ.


Ông đã chứng minh rằng sức mạnh thực sự không phải là sức mạnh hủy diệt, mà là lòng can đảm để khôi phục lại những gì sự hủy diệt đã lấy đi. Một nhà ngoại giao châu Âu từng nói: “Nếu không có Marshall, có lẽ châu Âu vẫn còn chia rẽ, đói nghèo và sợ hãi.”


Khi mình ở Pháp quốc, có viếng vùng Normandie, nơi có mấy nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ, đã nằm xuống để “giải phóng” nước pháp. Ngược lại người Pháp rất ghét người Mỹ kêu “les amerloques” này nọ, chửi Hoa Kỳ không thương tiếc. Nếu không có người Mỹ nhảy vào cuộc chiến thì có lẻ ngày nay người Pháp nói tiếng đức. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn

Bánh mì và làm cách mạng

 Bánh mì và cách mạng

Mình có kể về bánh mì và baguette của tây được sử dụng để kiến tạo một văn hoá nhằm buôn bán sản phẩm xa-xỉ, sang trọng của Pháp. Nhớ hồi ở Pháp, tây đầm kể là bà hoàng hậu Marie-Antoinette, nghe người dân đói, không có bánh mì ăn, bà ta nói sao họ không ăn Brioche “S’ils n’ont pas de pain, qu’ils mangent de la brioche !” khiến thiên hạ buồn điên với bà cành vàng lá ngu này, sau này, dân tây đầm làm cách mạng, kéo bà ta pháp trường chém đầu giúp bà ta, đưa bà về thiên quốc ăn Brioche. Cho thấy thời nào, giới nắm quyền hành đều không rõ dân tình như ở Việt Nam có bà cán bộ nào kêu mỗi nhà mua 3 cái lu chứa nước mưa là chết ngập lụt.

Bánh mì, nhìn bề ngoài, chỉ là một loại thực phẩm phổ biến. Nhưng trong lịch sử nhân loại, đặc biệt tại châu Âu, bánh mì chứa đựng ý nghĩa sâu xa về sinh tồn, kinh tế và chính trị. Cuốn Pain et liberté đã cho thấy bánh mì là một trong những yếu tố tác động trực tiếp đến trật tự xã hội Pháp trong nhiều thế kỷ. Tuy nhiên, khi bánh mì du nhập sang Việt Nam trong thời Pháp thuộc, vai trò của nó hoàn toàn khác. Thay vì trở thành một nguồn sống gắn liền với sự sống còn vật chất của người dân như tại Pháp, bánh mì lại trở thành một biểu tượng văn hoá. Ăn chơi cho vui.


Thật ra người Pháp hay nói muốn hiểu lịch sử của Pháp quốc thì cần hiểu về lịch sử bánh mì xứ họ. Như vua Gia Long từng nói “có đói nói mới nghe”. Người Pháp họ ăn bánh mì hàng ngày như người Việt ăn cơm nên thiếu bánh mì là có vấn đề. Từ thời Trung Cổ, bánh mì chiếm 50–70% khẩu phần của dân nghèo. Do đó khi bánh mì khan hiếm thì dân nổi dậy. Các chính quyền luôn theo đuổi “ổn định giá bánh mì” để chi phối xã hội. Nghe kể trước khi người Pháp sử dụng đĩa nĩa, họ cắt bánh mì thành lát để làm đĩa để hứng thức ăn. 


Dưới thời kỳ quân chủ, mà tây đầm gọi Ancien régime, chế độ cũ, nhà vua triều đình kiểm soát bánh mì đưa đến cuộc cách mạng long trời lỡ đất mà người Pháp xuống đường chém đầu vua chúa và gọi “pain et liberté”, bánh mì và tự do. Có mấy ông đi làm cách mạng mới sửa lại là “liberté, égalité, fraternité” ớ ẩm. Dân ngu khu đen như mình, nông dân chỉ biết có cơm hay bánh mì mà ăn thôi, còn tự do, bình đẳng và bác ái thì chỉ để cho mấy ai tự xưng là trí thức kêu gào, chửi thiên hạ ngu lâu dốt bền.


Khi xưa, học lịch sử, ông tây cứ nói về cuộc cách mạng 14 tháng 7, thời đó Pháp quốc có đâu 28 triệu dân, 80% người Pháp ăn bánh mì trừ cơm, trung bình 3 ký lô thực phẩm mỗi ngày. Bánh mì thời đó cứng như đá. Vì bánh mì trấu, khác với giới quý tộc ăn bánh mì với bột mì trắng được xay bỏ trấu đi. Nên nhớ là thời trung cổ,… âu châu mà thất mùa là chết đói nhiều, các vua chúa đàn áp nông dân , tá điền bị thu tô. May sau này, ông Kha luân Bố tìm ra châu Mỹ, mới đem về giống ngô, khoai tây, giúp người âu châu bớt nạn đói vì lúa thất mùa thì ăn ngô, ăn khoai tây. Mấy loại thực phẩm này đã giúp người âu châu bớt đói, chiến tranh ít lại vì khi xưa, đói là họ đi ăn cướp thằng bên cạnh. Đi Georgia, mới khám phá ra các nhà được xây như các tháp để tránh bị ăn cướp của làng bên cạnh. Chúng đói thì đến ăn cướp.

Vua chúa kiểm soát giá ngũ cốc, hạn chế các thương lái “đầu cơ” lúa mì. Nhớ đọc đâu đó, sau khi ông Diệm bị lật đỗ thì người Tàu Chợ Lớn đầu cơ tích trữ gạo miền nam, khiến ông Kỳ đem bắt một người Tàu đầu cơ tên là Tạ Vinh, đem ra bắn khiến giá cả gạo đều xuống ngày hôm sau. Nghe bà Kỳ kể là người Tàu đem tiền tới cúng nhưng ông Kỳ đuổi về, cứ bắn làm gương. Ngày nay khi chúng ta đi Cao Miên, Thái Lan, Nam dương ,…đều thấy người gốc Tàu nắm hết ngành kinh tế.


Chính quyền lo sợ nhất bánh mì thiếu đưa đến bạo loạn như vụ tăng giá 1775 dẫn đến “La Guerre des Farines” (Chiến tranh Bột Mì). Các cơ quan như “police du grain” được lập để giám sát kho lúa. Chính quyền coi lương thực là ưu tiên chiến lược, giống như an ninh quốc gia.


Năm 1788, sau cuộc cách mạng, Pháp quốc giúp người Mỹ đánh lại thực dân Anh quốc, dành độc lập, thuế má đủ trò. Trước cách mạng ai cũng kêu bọn vua chúa tàn ác này nọ, nhưng khi cách mạng lên thì cứ đánh thuế còn bạo hơn nhóm quân chủ. Giá cả thực phẩm gia tăng như hiện nay, sau covid lên cái vù như rồng gặp mưa. Khi xưa đi tây ăn uống thấy đắt như tây nay đi tây thấy thức ăn rẻ gấp đôi ở Hoa Kỳ. Ở Paris thì khác chớ về tỉnh nhỏ hay qua Ý Đại Lợi, cho dù khu du khách thức ăn vẫn rẻ gấp đôi bên mỹ.


Bánh mì như ngọn lửa cách mạng như mình đã kể vụ “La Commune” nổi loạn được mấy tháng rồi bị dẹp tắt một cách tàn bạo, đưa lên máy chém hơn 20,000 tên nổi loạn. Tây gọi « émeutes de subsistance » . Mấy bà phụ nữ khi xưa xuống đường đòi hỏi bánh mì, cướp các tiệm bánh mì và các chợ lúa mì như tây gọi Journée des Poêles à frire (27 avril 1789), họ cướp bóc chợ búa, khách sạn như một truyền thống Công Lý Nhân dân, khi bánh mì được xem là quyền tự nhiên của con người. Ngày nay, ở các siêu thị ở Cali, thiên hạ vô tiệm chiếm lấy thức ăn, quần áo dưới $900, đi ra như chơi. Cho nên mình rất phục các bác Dân Chủ, xem đó là quyền tự nhiên, lấy đồ trong tiệm hay siêu thì khi thiếu. Khiến nay có nhiều tiệm đóng cửa, dân tình phải đi xa để chôm chỉa.


Hôm qua đọc đâu đó có người kể là sau 75, người chủ nhà đến đòi tiền nhà, người mướn nhà kêu chủ nhà có nợ mấu nhân dân, đòi viết báo cáo tội danh, chịu cực chịu khó để dành tiền bao nhiêu năm mới xây được căn nhà cho thuê. Để dành tiền, là phản cách mạng. Sợ quá nên mất trắng căn nhà với bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Hôm qua xem truyền hình của pháp. Họ kêu muốn người Pháp đầu tư xây nhà cửa cho thuê thì phải huỷ bỏ luật Squat đi. Thiên hạ ở lì không được đuổi đi thì bố ai dám cho thuê. Mình có lần xem video, một tên di dân lậu ở Tây Ban Nha, cầm búa đồi đập đầu ông chủ nhà và kêu nà này là nhà của tao. Ông ta sợ bị phang cái búa nên bỏ chạy. Chính phủ không có tiền xây nhà cho dân ở, khuyến khích người có tiền xây nhà cho dân ở miễn phí. Hoan hô Dân Chủ.

Ai buồn đời thì xem trên YouTube chương trình bằng pháp ngữ

Sự chiếm đóng nhà lao Bastille và bánh mì như một biểu hiện nền cộng hòa. Theo tin tức mình học khi xưa do ông Tây giảng dạy là người dân Paris đói quá lại nghe nói giới quý tộc sa đọa ở điện Versailles nên nổi máu cách mạng lên, xuống đừng chém giết. Thật ra cuộc cách mạng 1789 được dấy lên bởi nhưng tin tức hay tin đồn cho hay giới quý tộc muốn bỏ đói người vì có đói nói mới nghe. Các vệ binh Thụy sĩ được mướn để đàn áp và phá các lò bánh mì. Dạo đó đám trí thức đã biết sử dụng Fake News. Khi người dân paris chiếm đóng ngục bastille thì giải thoát tù nhân nhưng thật ra ít có tù nhân, lấy súng và đồng thời bánh mì trở thành biểu tượng của tự do. Tự do không đói. Ai muốn mở tiệm bán bánh mì lấy tên Bánh Mì Tự Do. Bảo đảm sạt nghiệp ngay.


Khi xưa học sau cuộc cách mạng là cuộc thanh trừng (terreur) tàn khốc đưa người Pháp của chế độ cũ lên máy chém. Hôm qua là nhà cách mạng anh hùng hôm nay cho lên máy chém. Sau này qua tây đọc thêm tài liệu thì người ta nói đến terreur alimentaire, khủng bố thực phẩm khi nhóm Jacobin ( cấp tiến) thực thi giá biểu tối đa của bánh mì , đưa đến các vụ hành quyết mấy chủ lò bánh mì, được đấu tố là phá hoại nền cộng hòa. Ngày xưa học lịch sử tây điên khùng với tên các nhóm, phe phái sau cuộc cách mạng. Việt Nam bắt chước đấu tố địa chủ cường hào ác bá. 


Vào thế kỷ 19: kỹ nghệ hoá được khởi đầu tại Pháp quốc, lúa mì được cơ giới hóa nhờ máy xay và vận chuyển bằng đường sắt. Nhờ đó bánh mì “trắng” trở nên phổ biến hơn vì khi xưa chỉ nhà giàu, giới quý tộc mới ăn bột mì trắng. Nhưng khủng hoảng kinh tế 1846–1848 khiến giá bánh mì lại tăng dẫn đến Cách mạng 1848. Công nhân trong các hầm mõ và hãng xưởng bắt đầu xem bánh mì là quyền tối thiểu của người lao động. Biến Bánh mì trở thành vũ khí tranh đấu giai cấp.


Viết tới đây mình mới nhớ thời ông Gorbachov lên ngôi. Ông ta cho đệ tử đi viếng Tây Âu để tìm hiểu tại sao họ khá hơn mình. đến luân đôn, mấy tên đệ tử hỏi muốn đi thăm nhà máy làm bánh mì khiến mấy tên đối tác Anh quốc mặt như ngỗng ị, nói chúng tôi không có nhà máy làm bánh mì. Bọn sô viết không tin kêu dẹp hết chương trình viếng thăm ngày mai dẫn chúng tôi đi xem chỗ nào họ làm bánh mì. 


Hôm sau họ dẫn đến các lò bánh mì, dạo ấy còn người Anh quốc làm chủ thức khuya dậy sớm làm bánh mì khiến mấy tên sô viết chưng hửng mới hiểu kinh tế thị trường. Không cần tem phiếu hay ông Yeltsin sang Mỹ cũng kêu dừng xe lại chạy vô siêu thị thấy toàn là thịt và thịt, thức ăn chất hàng núi. 


Mình nhớ xem Vietecetra phỏng vấn ông Bùi Kiến Thành, con bác sĩ Tín, dầu khuynh diệp khi xưa, Việt kiều yêu nước tại pHáp kể là sau 75, ông Phạm Hùng cho người sang pháp hỏi ông ta cách giúp Việt Nam thoát khỏi sự nghèo đói, xuống cấp hơn Sàigòn khi xưa. Ông ta trả lời trong lịch sử loài người, chưa có một quốc gia nào do người nghèo mà giúp đất nước giàu sang. Anh nghèo vì anh không biết cách làm giàu. Ông Thành hình như về Việt Nam sinh sống và làm cố vấn cho Hà Nội.


Từ dạo đó bánh mì của pháp được xuất cảng qua các nước khác dưới màu cờ chính trị bánh mì. Như ở Anh quốc được gọi Du pain ou du sang ! Bánh mì hay máu. Ở Ái Nhĩ Lan tương tự nạn đói xảy ra khi họ bị bắt buộc xuất cảng lúa mì qua Anh quốc, tạo dựng nạn đói kinh khiếp khiến hàng triệu người bỏ nước ra đi qua Hoa Kỳ. Tương tự Ý Đại Lợi cũng có đến 4 triệu người bỏ nước ra đi.


Thời kỳ Phục Hưng và Chế độ Quân chủ Tháng Bảy: Dưới thời Louis-Philippe, cuộc khủng hoảng 1846–1847 (mùa màng thất bát và công nghiệp hóa) đã châm ngòi cho cuộc bạo loạn Buzançais (1847), trong đó nông dân đã hành hình một chủ cối xay đầu cơ. Đỉnh điểm là cuộc Cách mạng năm 1848, với khẩu hiệu "Bánh mì hay chì (plomb có nghĩa đạn chì)!" (hoặc "Bánh mì hay là chết!"), được hô vang trong các cuộc biểu tình. Có những điểm mơ hồ: bánh mì giải phóng người Pháp, nhưng cũng chia rẽ họ. 


Dưới thời thanh trừng khủng bố sau cách mạng, ông Robespierre cho việc phân phối khẩu phần là một "đức tính cộng hòa",(vertu république) trong khi phe Thermidorian lại tự do hóa thị trường, khiến giá cả tăng vọt. Trong khi đó bánh mì là nhu cầu chính ở 40% ở các giáo xứ. Paris dạo đó có đến 1,200 lò bánh mì, với ý thức hệ Bánh Mì như quyền làm người trong bản tuyên ngôn của cách mạng 1789.  Các cuộc cách mạng bên Pháp quốc, nơi bánh mì được chuyển giao từ đặc ân của hoàng gia qua một bổn phận của nền cộng hoà. Nói cho ngay, các cuộc cải cách từ cách mạng 1789 đến 1850 với La Commune, cho thấy các cải cách điền địa chủ giúp các địa chủ, và các sự bất bình đẳng vẫn kéo dài đến ngày nay.


Cho thấy suốt lịch sử của pháp cho thấy cách các cuộc cách mạng đã biến bánh mì thành một vấn đề dân chủ. Người Pháp muốn biến thành "Xứ sở không tưởng dân chủ: Bánh mì cho tất cả". Ai cũng no ấm, đưa đến chủ nghĩa cộng sản, xây dựng thế giới đại đồng mà người cộng sản sau 75 năm tìm cách xây dựng tại Liên Sô, đã thất bại. Liên sô có thể đưa con người lên không gian, xây dựng hoả tiễn bắn xa, với đầu đạn nguyên tử nhưng vẫn thất bại trong việc cung cấp bánh mì cho người dân của họ hàng ngày, mà chúng ta thấy dân tình của xứ Liên Xô phải xếp hàng cả ngày để mua bánh mì hay thực phẩm.


Một chế độ không thể nuôi dân họ, cung cấp điểu căn bản nhất là bánh mì hay gạo cơm thì không sớm thì chày sẽ bị xoá bỏ trong lịch sử. Năm nay chúng ta thấy các nhà cầm quyền bị dân chúng nhất là giới trẻ, không có tương lai đứng dậy đập phá như ở Nepal, phi Châu và mấy hôm nay ở Mễ Tây Cơ.


Ngày nay, ở Hoa Kỳ cũng như Pháp quốc, mình thấy nhiều nhà hàng không những do người Việt làm chủ mà ngay người bản địa cũng treo bảng bán bánh mì thịt. Bánh mì xuất hiện tại Việt Nam do người Pháp đem sang từ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20, bánh mì nhanh chóng trở thành biểu tượng của đô thị hóa, của văn minh phương Tây, của quyền lực văn hóa và kinh tế của thực dân. Tương tự mình đã kể về nhạc cải cách mượn từ người Pháp.


Nhân tố quan trọng nhất để hiểu sự khác biệt là Việt Nam sống bằng lúa gạo, không phải lúa mì. Trong suốt hàng ngàn năm, cơm là nền tảng của văn hóa, ổn định xã hội và an ninh lương thực. Điều này có nghĩa là bánh mì, dù có phổ biến ở thành thị, không bao giờ trở thành món ăn gắn liền với sự sống còn của đại bộ phận dân cư. Nhớ khi xưa, sáng ở nhà có người đưa bánh mì của lò bánh mì từ đường Phan Đình PHùng, rồi mấy anh em pha sữa đặc hên thì có ovaltine rồi lấy bánh mì chấm ăn, hay sang hơn thì bà cụ mua bơ mỹ về từng cục bực tổ chảng khác với bơ lon Bretel. Trét ăn nhất là khi mua bánh mì Vĩnh CHấn còn nóng hổi, trét bơ vào ăn cực ngon.


Khi người Pháp xây dựng nhà máy xay bột, lò bánh và quán cà phê kiểu Tây tại Hà Nội, Hải Phòng, Sài Gòn, bánh mì trở thành dấu ấn của văn minh châu Âu. Người Việt lần đầu biết đến ruột bánh trắng mềm, phô mai, bơ, pa tê, jambon, những thứ hoàn toàn xa lạ với khẩu vị truyền thống. Bánh mì, vì thế, mang tính văn hóa nhiều hơn tính kinh tế. Không như bên tây trở thành nhu yếu phẩm mà con người có thể chết sống với. Nói cho ngay chỉ có thành phố lớn mới có bánh mì, lúc đầu làm cho tây ăn nhưng rồi các vị theo tầng lớp tân học, bắt chước ông tây bà đầm để ăn như quan thầy của họ.


Người Việt không thụ động tiếp nhận bánh mì. Ngược lại, họ tái tạo nó theo cách rất riêng: thay đổi bột để bánh nhẹ hơn, vỏ mỏng giòn hơn; thêm đồ chua, rau thơm, nước mắm, thịt nướng. Tất cả mang đậm phong cách ẩm thực bản địa. Sự lai hoá này tạo nên bánh mì Việt Nam, khác hẳn bánh mì Pháp truyền thống. Tương tự phở, lúc đầu họ nấu Pot-au-feu của người Pháp rồi từ từ biến chế qua cách ăn của người Việt.


Quá trình này xảy ra ngay trong thời thuộc địa. Điều đó cho thấy người Việt đã dùng văn hóa ẩm thực như một cách chiếm lĩnh lại không gian của thực dân, bằng việc biến sản phẩm của “mẫu quốc” thành món ăn mang bản sắc Việt. Đây chính là hình thức kháng cự văn hóa mềm. Nói như các nhà cách mạng chống tây nhưng thích nhảy đầm uống rượu nho. 


Bánh mì, tưởng chừng chỉ là một món ăn bình thường, lại đóng những vai trò lịch sử khác nhau tùy vào bối cảnh xã hội. Tại Pháp, bánh mì gắn với mạng sống, với quyền lực và với cách mạng. Nó là biểu tượng của sự sụp đổ của chế độ cũ và của sự ra đời của một xã hội mới dựa trên quyền của con người. Ngược lại, trong Việt Nam thời thuộc địa, bánh mì không mang chức năng sinh tồn mà chủ yếu là biểu tượng văn hoá thực dân. Qua quá trình bản địa hóa, bánh mì trở thành một phần của bản sắc Việt Nam hiện đại, minh chứng cho khả năng tiếp thu và sáng tạo của người Việt trước sự áp đặt của văn hóa ngoại lai. Đi tây ăn được mấy lát bánh mì, về mỹ kể chuyện vớ vẩn. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn