Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng

Chiến dịch Phụng Hoàng

 Chiến dịch Phụng Hoàng

Nhớ hồi nhỏ, hay hóng chuyện ông cụ và người lớn nói chuyện, hay nhắc đến chiến dịch Phụng Hoàng. Lâu lâu ông cụ nói đừng ra đường, tránh đi lang thang vì tuần cảnh bắt đem vào Thao Trường thanh lọc mấy ngày. Mình đi học ở Yersin thấy xe nhà bình hốt thanh niên đem vào thao trường. Lâu lâu có ông cậu họ, sau này mới biết làm cho CIA hay đến nhà mình đậu xe rồi đi bộ đâu lên xóm trên. Hồi 75, Mỹ hẹn địa điểm để bốc cậu và gia đình di tản, về nhà thì khám phá ra bà vợ đã bỏ trốn, khám phá ra mợ ta là nằm vùng. Cuối cùng cậu tự tử tại nhà luôn, không di tản. Xem như 30/4 là ngày giỗ của cậu.



Trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Hoa Kỳ đang đánh cuộc chiến hao mòn, họ bỏ hàng tỷ đô-la để phá huỷ đường mòn Hochiminh, con đường tiếp tế súng đạn viện trợ của liên Sô và Trung Cộng qua ngõ Lào, Cam-Bốt để xâm chiếm miền Nam. Họ thả trên 2 triệu tấn bom. Lực lượng đặc biệt MACV-SOG đánh phá các chiến khu khiến Hà Nội phải đem mấy chục ngàn bộ đội để bảo vệ các căn cứ tại Lào. Cuộc phá hoại hạ tầng cơ sở với kỹ thuật tân tiến nhất chưa từng thấy trên thế giới, để phá huỷ con đường tiếp liệu của Hà Nội nhưng khí giới vần tiếp tục được đưa vào Nam. 


Sau này mình đi thám hiểm Sơn Đoòng mới hiểu sơ sơ về địa hình của vùng này, và hiểu sao mỹ bỏ bom chả ăn nhằm gì. Hy vọng có ngày sẽ đi viếng con đường mòn Hochiminh từ bắc vào Nam để xem ra sao.


Trong khi các tướng lãnh mỹ chú tâm vào các rừng già thì William Colby, cựu nhân viên CIA nhắm vào hạ tầng cơ sở của Việt Cộng, và nằm vùng tại miền Nam. Chương trình phá hoại này sau này, được ông ta giải thích tại quốc hội Hoa Kỳ. Ai buồn đời thì tìm trên YouTube. Ông ta nói lấy khẩu cung, tra tấn, ám sát Việt Cộng. Từ 1969 đến 1972 khi quân đội Hoa Kỳ rút lui sau hiệp định Paris, chiến dịch này đã 70% huỷ hoại hạ tầng cơ sở nằm vùng của Việt Cộng gần hết.

Mình nhớ dạo đó có máy bay Bà Già cất cánh từ phi trường Cam-Ly rải truyền đơn kêu gọi Việt Cộng hồi chánh với ông Nguyễn Văn Bé mỗi ngày cứ rảo rảo trên đài phát thanh tôi là nguyễn Văn Bé vẫn còn sống đây. Không biết sau 75 gia đình ông ta ra sao.


Khi các cường quốc họp mặt tại Geneva năm 1954, uống champagne và đồng ý cắt Việt Nam làm 2 tại vĩ tuyến 17. Thì có đến 1 triệu người từ miền bắc di cư vào Nam chọn thế giới Tự DO và 300,000 người miền Nam tập kết ra Bắc để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Ai nấy cũng nghĩ là theo hiệp định thì sau 2 năm sẽ có tổng tuyển cử. Nhưng đảng cộng sản Việt Nam, để lại miền nam nhiều cán bộ, mình không có số lượng nên bác nào biết thì cho em xin. Số cán bộ được lệnh ở lại như ông Lê Duẫn,…sau này chỉ huy cuộc chiến đánh chiếm miền Nam.


Năm 1956, tổng thống Ngô Đình Diệm huỷ bỏ cuộc tổng tuyển cử như đã định tại hiệp định Geneva. Lý do là dân số trên bắc vĩ tuyến 17 hơn dân số miền nam đến 4 triệu người. Đi bầu là thua cái chắc. Khi 4 cường quốc cấu kết ký hiệp định Geneva thì họ chả để ý đến dân số khi chia ranh giới 2 miền. Vùng trung chỗ Vinh, trở lên Thanh Hoá rất đông dân cư.



Năm 1959, Hà Nội ra sắc luật 15, cho phép vũ trang cuộc cách mạng tại miền nam. Họ thành lập Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, bình phong để đánh phá miền Nam. Theo chủ nghĩa của Mao Trạch Đông, kháng chiến như con cá bơi trong nước. Để sống còn, các nằm vùng cần được nhân dân hậu thuẫn, cơm nước, hầm trú,… có một bác quen kể là khi xưa nó về ban đêm, kêu mình nấu cơm cho nó ăn vì đói quá. Nay lên phượng xin nó cái giấy, để lên lên Sàigòn, nói kêu để đó tuần sau ghé lại. Nếu quốc gia trở lại, nó mà có núp trong quần tui, tui cũng đứng lên phủi quần cho quốc gia bắt nó.


Thật ra dân quê chả có ai muốn theo cách mạng, họ chỉ muốn yên ổn làm ăn. Mao chủ tịch từng nói quyền lực cách mạng đến từ nòng súng. Để kiểm soát vùng quê, Việt Cộng tung chiến dịch ám sát các người làm cho chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Mình nhớ trên Số 4 khi xưa, Việt Cộng ban đêm về bắn chết chủ tịch khu phố và bắt đi thanh niên trẻ theo họ làm cách mạng. Theo thống kê của Hoa Kỳ  thì họ giết trên 11,000 quân công cán chính, giáo viên, và bắt cóc trên 40,000 người. Mấy vụ đắp mô trên đường quốc lộ rồi bắt theo họ. Có một chị bạn học Yersin, có ông bố bị bắt cóc mất tích trên đường xuống đèo Prenn. Chắc họ giết vì nếu không thì có liên lạc viên đến nhà móc nối.


Có bà Dzung Krall kể là khi xưa ông bố tập kết rồi nằm vùng liên lạc nên gia đình tối nào cũng nghe đài MTGPMN để nghe giọng ông bố là ngoại trưởng của Mặt trận. Sau này qua Mỹ Việt Cộng móc nối để bà ta gặp lại ông bố và được CIA cài cắm ra sao để bắt mấy người Việt Cộng nằm vùng tại Hoa Kỳ. Hình như bà ta qua đời mấy năm trước.


Mình nghe kể khi xưa thời đánh tây cũng vậy. Ở Đà Lạt ai không theo việt minh thì họ giết. Nhạc sĩ Văn Cao có kể là ông ta là đặc công, được lệnh vào các nhà thuốc phiện, để giết mấy người theo Đại Việt hay Quốc Dân Đảng,… ông cụ mình khi xưa mới 17-18 tuổi Việt mInh ở làng kêu vào tổ chức của họ. Ông cụ không chịu nên đêm họ bao vây nhà như bài hát “Người anh Vĩnh Bình” của nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang kể. May ông cụ tính trước vì hồi chiều đi ngang đê, nghe tiếng hút gió báo hiệu của họ nên nhảy qua hàng rào hàng xóm rồi trốn vào nam. 20 năm sau Việt Cộng cho đi cải tạo 15 năm nữa. 40 năm sau mới về lại quê lần đầu.


Theo tài liệu thì vào năm 1967, Việt Cộng tạo dựng một chính phủ lâm thời ở các vùng xôi đậu có trên 85,000 cán bộ len lõi, trong các làng xã. Các người trẻ bị bắt đi làm dân công hay bộ đội, tạo dựng một hệ thống hạ tầng cơ sở, nhằm tiếp tế, phục vụ cho các bộ đội. Người Mỹ gọi là Việt Cộng Infrastructure (VCI).


Đường tiếp tế quân nhu qua ngõ Lào, và Cam Bốt chỉ đến biên giới. Còn phần chuyển giao từ biên giới đến các nơi Việt Cộng đóng quân là do VCI đảm nhiệm. Mình có đọc tài liệu của Hà Nội, họ có kể vụ đem tiền bạc, súng ống từ Cam-Bốt, giấu trong các ghe chở trên kinh Vĩnh Tế,… hệ thống giao liên tiếp tế của Việt Cộng rất kín. Toán 1 giao đến địa điểm B thì chỉ biết vậy chớ không biết phần 2, đi về đâu, ai sẽ lãnh nhiệm vụ này. Nên nếu bị bắt thì sẽ không bị lộ cả hệ thống.


Năm Mậu Thân, Việt Cộng tấn công cùng lúc trên 100 thành phố, làng xã tại miền nam. Từ bao nhiêu tháng hệ thống VCI chuyển súng ống qua con đường 528, hay sông ngòi. Các cán bộ VCI đem theo danh sách do nằm vùng thanh lập về các công chức, quân nhân Việt Nam Cộng Hoà, họ được đưa đến các nhà của các quân nhân cán chính Việt Nam Cộng Hoà, bắt các người này trình diện tại các trường học tỉnh lỵ. Họ giết không biết bao nhiêu người điển hình ở Huế. Có chị khi xưa giúp việc cho mình, năm Mậu thân ở Huế, Việt Cộng đến nhà trói ông anh ra đường bắn chết. Nghe nói chồng mụ Rớt nổi tiếng bán bún bò, bánh bộc lọc cũng bị kéo ra bắn chết. Sau Mậu Thân, họ khám phá ra các mồ tập thể mà nhà văn Nhã Ca có kể lại trong cuốn sách của bà.


Bộ trưởng bộ quốc phòng MacNamarra từ chức, các tướng lãnh mỹ không có chương trình nào để chiến thắng cuộc chiến. Ngày 31 tháng 3 năm đó, tổng thống Johnson ngưng đánh bom Hà Nội và nói sẽ không tái tranh cử. Họ muốn tìm giải pháp hoà bình rút khỏi Việt Nam. Tin tức tình báo của mỹ lúc đó rất lộn xộn, có nhiều tổ chức và không kết hợp với nhau nên cuối cùng họ hợp lại thành một tổ chức gọi là CORDS, chỉ vâng lệnh tướng Westmoreland. Nghĩa là nếu tổ chức này muốn 1 chiếc trực thăng thì quân đội phải phái đến ngay, được ưu tiên. Tổng thống Johnson chuyển qua Việt Nam-hoá quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


Ông William Colby, từng là CIA tại Sàigòn được bổ nhiệm để bổ nhiệm làm phó giám đốc điều hành CORDS, với trách nhiệm phá huỷ VCI và chiến dịch Phụng Hoàng ra đời. Nhiều người gọi là Phượng Hoàng nhưng mình thấy phù hiệu của chiến dịch này mang tên Phụng Hoàng. Họ thành lập các toán nhỏ đặc biệt, đêm đêm đi bắt các người lấy thuế cho Việt Cộng, các người giúp tải vận chuyển các chuyến giao hàng, tra tấn đủ trò hay ám sát,..kiểu Việt Cộng áp dụng như giết ông trưởng ấp TĂng VĂn Danh, sau này Việt Nam Cộng Hoà đặt tên đường TĂng VĂn Danh ở gần trường Bùi Thị Xuân.


Máy điện tử IBM được sử dụng để thu dụng các tin tức tài liệu. Họ thành lập các toán trinh sát, huấn luyện lính Việt Nam Cộng Hoà để hổ trợ các vụ này. Có lẻ vì vậy hai ông cố vấn mỹ đã được biệt phái về Đà Lạt để huấn luyện lính trinh sát đại đội 302. Thiếu tá Lê Xuân Phong có nói là được điều về Đà Lạt năm 1969, sau Mậu Thân. Chỉ tiếc là thiếu tá qua đời nếu không mình sẽ hỏi thêm về chiến dịch Phụng Hoàng tại Đà Lạt. Mình chỉ nhớ là ông Thanh, bầu của đội banh Đà Lạt và thủ quân Paul bị Việt Cộng nằm vùng gài lựu đạn nơi xe của họ sau khi ăn uống ở tiệm Nam Sơn. Và một số vụ đặt chất nổ tại Đà Lạt. Dân Đà Lạt khi xưa nói họ làm cho chiến dịch Phụng Hoàng.


Từ 1969 đến năm 1971, chiến dịch này thanh lọc tiêu diệt rất nhiều hệ thống hạ tầng cơ sở của Việt Cộng và thừa thắng xông lên , họ đánh tới các biên giới Cao Miên và Lào để cắt đường tiếp liệu cho bộ đội. Văn đề là chiến dịch Phụng Hoàng đang ở cao điểm thì Hoa Thịnh Đốn gây khó dễ. Năm 1971, truyền thông nói về chiến dịch này, báo cáo các vụ tra tấn, kiểu sau này ở Iraq, Á Phủ Hãn,… CIA bị lên án tra tấn tù binh,… ông Colby phải điều trần trước quốc hội. Ông này sau này chết rất mật mờ, đi thuyền một mình rồi chết ngoài khơi. Người biết nhiều quá nên cần phải được trừ khử.


Ông Colby báo cáo quốc hội là chương trình đã tiêu diệt 60-70% hệ thống nội tuyến của Việt Cộng nằm vùng. Lính mỹ cho biết ở Việt Nam, Việt Cộng không có theo tiêu chuẩn đạo đức gì cả. Có bác quen kể Việt Cộng ban đêm nằm vùng về kêu hàng xóm ra đứng xung quanh rồi họ lấy mả tấu, chặt đầu ông bố tước mặt người để làm gương không theo họ. Kinh


 Nhìn lại thì người Mỹ cho biết là chương trình này có 3 năm mà đạt được nhiều kết quả hơn là cả chục năm đánh bom các đường tiếp liệu của Hà Nội. Khiến Hà Nội bắt buộc không sử dụng MẶt Trận Giải Phóng với chiến thuật du kích nữa mà ra mặt với bộ đội chính quy. Chiến dịch Phụng Hoàng không được khai tử năm 1972 mà sau này Hoa Kỳ sử dụng lại tại các mặt trận khác.


Bây giờ mới hiểu lý do Việt Nam Cộng Hoà đánh qua Cam Bốt và Hạ Lào vì hệ thống VCI bị Phụng Hoàng tiêu diệt gần hết. Nếu Nixon không từ chức thì có thể cuộc diện cuộc chiến có thể thay đổi. Việt Nam Cộng Hoà không được viện trợ thêm nên chỉ còn cách là đầu hàng. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Anh hùng truyện cổ tích tây phương

 Anh hùng truyện cổ tích tây phương

Hồi con gái còn nhỏ mình hay mua video các phim của Disney cho con xem nhưng sau khi xem đến lần thứ 99 thì mình cảm thấy có cái gì không ổn lắm với các nàng công chúa của Disney. Nên ghi lại đây để xem có bác nào nghĩ như tư duy nông dân của em.


Lấy thí dụ phim Cinderella (Tấm Cám theo Việt Nam). Chúng ta thấy khởi đầu thấy Cinderella làm việc nhà và quạu, cô ta nói muốn đi dự dạ hội. Đùng một cái có bà tiên xuất hiện và đặt hàng online qua Amazon, giày, áo quần, vương miện,…được gờ-ráp giao tận nhà. Sau đó còn mở IPhone gọi Uber đem xe ngựa đến chở cho nàng đến hoàng cung.


Vào đến hoàng cung, cô nàng bận đồ mả MAdze in Trung Cộng nên rất rực rỡ trong một đêm vì ngày mai là quăn thùng rác. Hoàng tử thấy cô nàng nên bò lại mời nhảy Lambada nên từ từ cô ta nóng người vì lần đầu tiên được người khác phái ôm nên quên mất thời gian đến khi nghe tiếng chuông nhà thờ đánh báo giờ giới nghiêm thì cô ta lật đật bỏ chạy, quên chiếc giày. Hoàng tử bổng cảm thấy thương thương nhớ như Trương Chi nhớ Mỵ Nương và đi khắp xứ kêu các cô gái trong nhà bước ra để thử chiếc giày. Khi gặp lại CInderella, cô ta mừng quá vì phải trả lại cho Amazon, mà mất đi chiếc giày. Hoàng tử kêu xe chở về hoàng cung và sống bên nhau suốt đời đến khi hoàng tử gặp thêm một Cinderella khác.


Đàn ông được tô vẽ từ bé là mê gái, làm mọi cách để tìm cô con gái mình yêu. Và làm ô-sin cả đời cho gái. Còn con gái thì được dạy từ bé, lớn lên chả cần làm việc, học hành gì cả, cứ nằm ngủ rồi một hôm sẽ có một tên hoàng tử đến hôn lên môi làm vợ. Chán Mớ Đời 


Câu chuyện của Bạch Tuyết cũng tương tự. Cô nàng được 7 chú lùn cứu giúp cho ăn ở, không lấy tiền thuê share phòng. Rồi một hôm cô nàng gặp một hoàng tử lấy làm vợ, trở nên giàu sang phú quý. Cô ta đi xe ngựa về thăm 7 anh chú lùn rồi trở lại hoàng cung. Chả thấy cô nàng tặng quà, cho tiền xây dựng lại căn nhà, kinh tế 7 chú lùn vẫn te tua như ngày nào, vẫn ngày ngày xuống hầm mỏ đào cuốc. Không có kiểu một người lấy hoàng tử cả họ được nhờ.


Hay công chúa ngủ trong rừng. Cô nàng siêu lười nên ngủ ngày chưa đủ tranh thủ ngủ đêm đến khi một hôm, một hoàng tử đi lang thang gặp nàng và không xin phép hun cô nàng, khiến cô ta giật mình thức giấc và yêu hoàng tử ngay. Được đưa về hoàng cung ngủ thay vì ngủ trong rừng. Cho thấy truyện thần tiên của tây phương rất dễ dàng, làm giàu, chỉ cần gặp một hoàng tử là đời lên hương. Có lẻ vì vậy, các cô gái tây phương lớn lên chỉ mơ và đi tìm một hoàng tử giàu sang để lấy. Hoặc thuộc dạng đào mõ, anh chàng nào giàu có là nhảy vào.


Ngược lại công chúa của Disney về á châu là Hoa Mộc Lan. Khởi đầu thấy cô nàng làm việc chết ông, rồi phải đi hầu, mang thức ăn cho mọi người còn bị la mắng. Sau đó phải đăng lính đi thay cho cha già. Ra trận cô ta đánh giặc như điên, đánh thắng quân thù, vào hoàng cung cứu nhà vua được vua cảm tạ, toàn dân hoan hô anh hùng cứu quốc. Lúc đó cô ta mới được làm công chúa của Disney. Cô ta phải làm việc gấp 100 lần các công chúa da trắng. Khi cô ta về lại nhà gặp bà nội và mẹ. Hai người này kêu tốt và hỏi mày già rồi, sao chừng nào lấy chồng? Chán Mớ Đời 


Cuối cùng mình nói với con gái không nên tin vào mấy chuyện cổ tích. Đừng bao giờ tìm một hoàng tử mà phải tự túc tự cường như Hoa MỘc Lan. Chúng ta thấy so với các công chúa da trắng cứ tà tà là lấy hoàng tử, được chu cấp hết, đổi đời còn á đông phải nai lưng ra làm việc rồi dòng họ hỏi sao chưa lấy chồng.


Có dạo con gái bị áp lực công việc nên gọi mình than thở. Mình nói nên đọc cuốn sách của cựu ngoại trưởng Condi Rice, bà ta tuyên bố là phụ nữ thì phải bỏ công sức làm gấp đôi người Mỹ thêm người da màu thì phải nổ lực gấp 3 lần người Mỹ da trắng.


Đọc mấy truyện cổ tích cho con gái khi xưa mình thấy người tây phương, người Mỹ rất tích cực. Họ tạo điều kiện cho con cháu họ có tinh thần cứu giúp nhân loại, tự tin. Điển hình con họ hỏi: “bố con đến từ đâu?” Họ trả lời con được sinh ra trên thiên đường. Sau đó có con cò cuốn con vào cái khăn rồi bỏ trước cửa nhà bố mẹ. Bố mẹ nghe tiếng chim nên mở cửa thì thấy con. Chúa đã gửi con đến cho bố mẹ. Con là một người đặc biệt, là thiên sứ của thượng đế mang đến cho bố mẹ.


Trong khi bố mẹ Việt Nam thì khi con hỏi mình sinh ra từ đâu. Bố mẹ mình hay trả lời khi xưa, tao không biết chỉ thấy mày trong thùng rác ngoài chợ nên lượm đem về nuôi. Mai sau lớn lên thì mày phải trả nợ công tao nuôi mày. Xong om


Sau này có con khi chúng hỏi mình thì mình kêu con được sinh ra trên trời rồi con chim hạc ngậm cái tả bọc con, bay qua thùng rác ngoài chợ rồi thả con xuống thùng rác. Bố mẹ đi đổ rác nghe tiếng khóc nên mới mở nắp ra thấy con nên đem về nuôi. Phải nữa nạc nữa mở, thịt ba-rọi cho đúng tinh thần việt mỹ. Chán Mớ Đời 


Còn về các anh hùng trong truyện cổ tích. Buồn đời xem mấy truyện Manga của thằng con như Dragon Z Ball. Câu chuyện về cậu bé tên Goku, cả đời chỉ tập luyện làm việc để đánh thắng kẻ xấu. Kẻ tà phái, càng giỏi thì cậu ta cần tập luyện nhiều hơn để đánh thắng kẻ tà đạo. Anh ta đeo cái man rùa nặng 20 kí-lô để tập luyện. Rồi một ngày anh ta lớn lên và bị kẻ thù đánh bại và giết chết.


Goku lên trời. Ngọc Hoàng kêu ra nói mày phải tập luyện chăm chỉ hơn. Một thời gian sau, ngọc hoàng kêu mày tập tiến bộ rồi, ta cho phép ngươi về lại dương thế để đánh bại kẻ thù. Người tây phương chết thì người ta chúc Rest In Peace còn á đông thì kêu tiếp tục lao động tích cực hơn. Chán Mớ Đời 


Nếu để ý đến các anh hùng trong các chuyện hoạt hoạ cuả tây phương như Incredible Hulk. Ông này đi ngang qua cái máy quang tuyến tình cờ bị xẹt điện và trở thành một tên tay to bắp thịt cuồng cuộn. Chả cần đi tập gym trong khi mình đi nha sĩ hàng năm họ chụp hình quang tuyến mấy cái răng, phải che đủ trò nếu không bị ung thư.


Hay Peter Parker biến thành Người Nhện Spiderman. Ông ta bị con nhện cắn và trở thành người nhện. Ở trường bị tụi nó ăn hiếp ngày hôm sau trở thành người nhện bay veo veo khắp new York. Chả cần tập tiết gì cả. Gái bu theo như ruồi. Tương tự Bruce wayne và Tony Stark trở thành Batman và Iron Man. Cha giàu có, cha chết trở thành anh hùng cứu đời.


Hay là siêu nhân, Superman. Ông ta được sinh ra trên trời rồi được đem xuống trần gian để cứu nhân độ thế. Chả cần chiếu khán, xem như ông ta là di dân lậu nhưng người Mỹ vẫn hoan hô. Có lẻ ông ta là người da trắng nên có thể ở lại dương thế.


Còn Doctor Strange học hành chăm chỉ để trở thành bác sĩ giải phẫu não bộ nhưng rồi ông ta bị tai nạn. Bàn tay không thể nào giải phẫu nữa. Buồn đời ông ta như đa số người da trắng, vác ba-lô lên đường và đến một xứ lạ. Rồi ông ta được một bà da trắng giả dạng á đông cứu giúp khoẻ lại có thể đánh nhau với người ngoài hành tinh. Trong vòng 24 tiếng đồng hồ ông ta trở thành lãnh chúa các phù thuỷ. Trong khi đó, phù thuỷ Wong, người á châu, sống cả đời trong thiền viện, trở thành phụ tá người da trắng. Chán Mớ Đời 


Chúng ta xem phim hay đúng hơn là sống trong nền văn hoá của tây phương, được đề cao người da trắng. Họ là chủ nhân của mọi thứ. Hình ảnh các phim của Hồ ly Vọng được truyền tải khắp thế giới như tuyên truyền khiến dân chúng khắp thế giới đều có chung cảm nghĩ người da trắng là số 1, chúng ta phải bắt chước. Từ từ chúng ta mất dần bản thể, căn cước của chúng ta. Tóm lại là người nô lệ da vàng.


Mình ráng nói và viết tiếng Việt thuần, không thêm thắt bỏ thêm mấy từ ngoại quốc nhưng mỗi lần xem Podcast của người Việt tại Việt Nam thì thấy họ xổ tiếng mỹ nhiều quá như thể khoe ta đây là biết anh ngữ bú xua la mua. Chán Mớ Đời 


Mình đi chơi khắp nơi trên thế giới, đâu đâu cũng có sự hiện diện của văn hoá tây phương. Có coca cola khắp nơi, MacDonalds, Pizza Hut, thiên hạ bận áo quần Jean, xem phim mỹ, đeo kính RayBan, vác xách Louis Vuitton,… (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vụ án tiền Đông-Dương và thất bại của pháp tại Điện Biên PHủ

 Vụ án tiền Đông-Dương và thất bại của pháp tại Điện Biên PHủ


Buồn đời đọc tài liệu của pháp khi xưa về cuộc chiến tranh tại Việt Nam đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cáo chung nền cai trị thuộc địa cũ của Pháp quốc. Mình nhớ khi xưa, học lịch sử Việt Nam thì được biết dưới thời cai trị của thực dân pháp thì một đồng Đông-Dương có tỷ giá là 10 quan pháp (franc). Nay lại đọc tài liệu sau khi quân đội đồng minh giải phóng thủ đô Paris dưới ách cai trị của Đức quốc xã thì tướng De Gaulle ra lệnh tỷ giá 1 đồng bạc Đông-Dương ăn 17 đồng quan pháp đưa đến vụ xì-căn-đang mà người Pháp gọi: Affaire des piastresScandale des piastres hoặc Trafic des piastres) là một trong những vụ bê bối tài chính, chính trị lớn nhất của Đệ tứ Cộng hòa Pháp, diễn ra trong bối cảnh Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946–1954). Bây giờ mình mới hiểu sau này Việt Cộng vẫn tiếp tục sử dụng chiêu thức này sau khi tây về nưuosc để đánh thắng miền nam. Mình đã có kể rồi. Ai buồn đời thì tìm trên bờ lốc.


Đồng piastre (hay “bạc”) là đơn vị tiền tệ chính thức của Đông Dương thuộc Pháp, do Ngân hàng Đông Dương phát hành. Sau Thế chiến II, ngày 25–26/12/1945, chính quyền lâm thời Pháp (dưới sự lãnh đạo của tướng de Gaulle và Bộ trưởng Tài chính René Pleven) ấn định tỷ giá chính thức 1 piastre = 17 franc Pháp. Nên dân Việt Nam thời đó cho con đi tây học rẻ hơn là học ở Việt Nam. Tưởng tượng ở Sàigòn, Hà Nội cho con lên học ở nội trú ở Đà Lạt, giá gấp 4 lần cho con đi du học ở tây. Đà Lạt dạo ấy, gia đình ông Võ Quang Tiềm, ông NGuyễn Văn Phúng, ông Xu Tiếng, ông Võ Đình Dung,… xem như các đại gia ở Đà Lạt khi xưa đều cho con đi du học ở pháp ngay thời còn học trung học đệ nhất cấp. Không như sau này đậu tú tài rồi mới đi.


Trong khi đó, giá trị thực trên thị trường châu Á chỉ khoảng 8,5–10 franc. Sự chênh lệch này (khoảng 7–8,5 franc mỗi piastre) tạo ra một “dàn máy làm giàu” gần như hợp pháp: mua piastre (đồng Đông-Dương) với giá thấp ở Sài Gòn/Hà Nội rồi chuyển về Pháp đổi theo tỷ giá chính thức. Ngân khố Pháp (tức người nộp thuế) phải gánh phần chênh lệch.



Tiền Đông-Dương đại diện cho 3 xứ Việt Nam, Lào và Cam Bốt

Để được chuyển tiền, người ta cần giấy phép của Office Indochinois des Changes (Văn phòng Hối đoái Đông Dương). Các hình thức phổ biến gồm:

  • Lính Pháp (và cả lính thuộc địa) đứng tên chuyển “tiết kiệm” về nước (thực tế là tiền của doanh nhân hoặc giới làm ăn).
  • Doanh nghiệp lập hãng xuất nhập khẩu giả hoặc xuất hàng không bán được (phim hạng B, sách giáo khoa hết hạn, xi măng kém chất lượng, dù, bô vệ sinh…) để tạo lý do chuyển tiền.
  • Chuyển tiền “chính trị” cho các nhân vật thân Pháp (điển hình là Quốc trưởng Bảo Đại được cho phép chuyển số tiền tương đương hàng trăm triệu franc). Vụ này thì mới đọc được, mới hiểu lý do ông Bảo Đại thoái vị mà tiền đâu mà sống tà tà ở Hương Cảng. Trước đây có tài liệu cho biết các đại xì-thẩu Chợ Lớn, Bình Xuyên gửi tiền cho ông Bảo Đại, để ông ta cho phép buôn bán, sau ông Ngô Đình Diệm dẹp hết nên ông Bảo Đại hết tiền đánh bài nên qua Pháp sinh sống.
  • Mạng lưới bất hợp pháp: đưa vàng, đô la lậu vào Đông Dương, đổi lấy piastre rồi chuyển ngược về Pháp; thủy thủ và hải quan (nhiều người gốc Corse) đóng vai trò trung gian. Lý do đó người pháp hay gọi “clan des Corses). Nếu ai ở Đà Lạt chắc nhớ người đầu tiên xây các khách sạn ở Đà Lạt là ông Desanti, gốc Corse, sau này ông ta làm quản lý cho khách sạn Palace rồi khách sạn không trả tiền nên ông ta thưa kiện.

Theo ước tính của Jacques Despuech (cựu nhân viên Văn phòng Hối đoái), thiệt hại cho ngân khố Pháp có thể lên tới khoảng 100 tỷ franc mỗi năm(tương đương hàng tỷ đô la ngày nay).


Đặc biệt quan trọng nhất là Việt Minh cũng tham gia mạng lưới này (qua trung gian Trung Quốc và Việt Nam), dùng tiền thu được để mua vũ khí, một phần vũ khí sau đó quay lại chống lại quân Pháp. Trong khi đó quân đội Pháp lại cần tiền để chi trả cho chiến tranh nên phải bảo vệ người Thái Trắng ở vùng tự trị xung quanh biên giới Lào, gần Điện Biên Phủ, hổ trợ họ trồng thuốc phiện để đem về Sàigòn, Hà Nội để bán kiếm tiền cho quân đội pháp.


Các nhân vật nổi bật trong sự việc này:

  • Ông Mathieu Franchini: Ông chủ khách sạn Continental (đường Catinat, Sài Gòn), được coi là một trong những đầu mối quan trọng của mạng lưới Corse.
  • Nhà báo François-Jean Armorin (Franc-Tireur) điều tra và cáo buộc ông Franchini; ông thiệt mạng trong vụ rơi máy bay năm 1950 khi trở về Pháp, khiến dư luận nghi ngờ có yếu tố “thanh toán”. Sẽ kể sau về nhà báo tây đã gióng lên sự ăn gian buôn bán tiền Đông-Dương.
  • Jacques Despuech: Cựu công chức Văn phòng Hối đoái, bị sa thải trong hoàn cảnh đáng ngờ. Năm 1952 ông viết bài trên Le Monde, năm 1953 xuất bản sách Le Trafic des Piastres trở thành best-seller và kích động dư luận mạnh mẽ.
  • Các nhân vật bị nêu tên hoặc bị nghi ngờ: Bảo Đại, cựu Cao ủy Émile Bollaert, một số tướng lĩnh (Revers, Mast), quan chức và chính trị gia Pháp.

Vụ việc còn liên quan đến Affaire des généraux (vụ các tướng) năm 1949, khi báo cáo mật của tướng Revers về tình hình Đông Dương bị lộ ra ngoài và có liên hệ với mạng lưới piastre. Cho thấy các tướng của quân đội pháp chả để ý gì đến quân sĩ của họ, và cứ thế mà ăn tiền và báo cho mọi người biết tình hình, và quân đội pháp sẽ làm gì để họ kiếm lời. Sẽ kể sau. Kiểu trung tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh quân đoàn II, sai đàn em giao tiền đo-la cho Việt Cộng để họ cho người của ông vào rừng chặt cây bán cho ngoại quốc.


Áp lực dư luận và báo chí ngày càng lớn. Ngày 11/5/1953, 10 tháng trước khi người Pháp thất trận tại Điện Biên pHủ, chính phủ René Mayer quyết định hạ tỷ giá piastre xuống 10 franc, chấm dứt phần lớn hoạt động buôn lậu. Một ủy ban điều tra nghị viện được thành lập (7/1953), nhưng kết quả bị giữ bí mật một phần và vụ việc dần lắng xuống sau Hiệp định Genève 1954.


Vụ bê bối góp phần làm suy yếu niềm tin của dư luận Pháp vào cuộc chiến Đông Dương, củng cố hình ảnh “chiến tranh bẩn” (sale guerre), và trở thành một trong những biểu tượng của tham nhũng thuộc địa thời Đệ tứ Cộng hòa.


Sau Thế chiến II, Pháp cố giữ hệ thống thuộc địa Đông Dương trong khi chiến tranh với Việt Minh ngày càng tốn kém. Nên nhớ là lính Nhật Bản đã giải giới lính pháp trong 1 đêm. Nên sau thế chiến thứ 2 kết thúc, người Anh quốc và lính của Tưởng Giới Thạch đến Việt Nam để giải giới lính Nhật Bản. Nghe kể lính tàu đói quá bị phù, đến Việt Nam ăn nhiều quá đâm ra chết bội thực.


Một quyết định tài chính rất quan trọng được đưa ra cuối năm 1945: 1 piastre Đông Dương được ấn định chính thức ở mức 17 franc Pháp. Mình đoán là để kiếm tiền để trả chi phí vụ lính pháp trở lại Đông-Dương. Mình đoán người Pháp hạ giá tiền quan pháp để thuộc địa mua hàng hoá giúp kinh tế pháp gia tăng.


Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: giá trị thực của piastre thấp hơn rất nhiều. Theo Jacques Despuech, khoảng năm 1952, giá trị thực tế chỉ vào khoảng 8,50 franc, trong khi sức mua tại Đông Dương còn thấp hơn. Lý do kinh tế của Đông-Dương dạo đó rất mạnh.


Nói đơn giản: mua 1 piastre (đồng bạc Đông-Dương ) với giá khoảng 8–10 franc → đem đến ngân hàng chuyển tiền chính thức → đổi được 17 franc. Chênh lệch đó không phải tiền từ trên trời rơi xuống. Nó cuối cùng tạo ra một khoản chi phí cho hệ thống tài chính Pháp, tức người đóng thuế Pháp phải gánh.


Đây chính là “kẽ hở” làm phát sinh trafic des piastres. Một ví dụ rất đơn giản. Giả sử một người có: 1.000.000 piastres. Nếu mua chúng trên thị trường với giá trung bình 8,5 franc:

1.000.000 × 8,5 = 8,5 triệu franc


Nhưng nếu chuyển hợp pháp về Pháp theo tỷ giá chính thức:

1.000.000 × 17 = 17 triệu franc

Bỏ túi: 17 − 8,5 = 8,5 triệu franc. Hay 85%. Đó là lợi nhuận khổng lồ và đây mới chỉ là một vòng giao dịch.


Làm thế nào để biến tiền bất hợp pháp thành tiền “hợp pháp”? Đây mới là điểm tinh vi. Không phải chỉ cần mua thật nhiều piastre rồi đem tới ngân hàng. Việc chuyển piastre từ Đông Dương về Pháp chịu kiểm soát của Office Indochinois des Changes (OIC). Chính vì vậy, những người tham gia đường dây phải tạo ra một vỏ bọc thương mại.


Despuech, tác giả cuốn sách mô tả một mô hình đại khái như sau: Tại Saigon, Hà Nội, Chợ Lớn,…. Người ta thành lập một công ty thương mại, công ty này đặt hàng hàng hóa từ Pháp. Tại Paris, một công ty import-export lập hóa đơn gửi sang Saigon, hóa đơn có thể bị thổi giá (surfacturation). OIC nhìn thấy một giao dịch thương mại có vẻ hợp pháp. Tiền piastre được chuyển sang Pháp theo tỷ giá chính thức, phần tiền chênh lệch trở thành lợi nhuận.


Điều đáng chú ý là không nhất thiết phải có tiền mặt chạy qua biên giới. Một phần giao dịch có thể được thực hiện thông qua:

  • hóa đơn thương mại;
  • ngân hàng;
  • hối phiếu;
  • tài khoản ở nước thứ ba;
  • các công ty trung gian;
  • Hong Kong;
  • Bangkok;
  • Paris;
  • New York.

Đó là lý do vụ việc trở nên cực kỳ khó điều tra. Mình có kể khi xưa, trong thời chiến, Hà Nội đã cho người sang Hương Cảng, Paris để tìm cách chuyển ngân qua Nam Vang để mua thực phẩm cho bộ đội đánh mỹ cứu nước cũng như tại Sàigòn các đại xì-thẩu Chợ Lớn cũng nhúng tay làm giàu kiểu. Hà Nội chỉ cần có đô-la là có thể mua gạo cơm thực phẩm cho bộ đội đánh phe ta.


Theo các tài liệu mà Despuech công bố, cùng một hệ thống tài chính có thể phục vụ những người đang kiếm tiền từ chế độ thuộc địa và đồng thời tạo điều kiện cho Việt Minh tiếp cận ngoại tệ. Một bài của Le Monde năm 1953 dẫn lại tài liệu của Despuech và L’Observateur, cho rằng việc đầu cơ piastre đã giúp Việt Minh có được ngoại tệ mạnh. 


Hệ thống được mô tả đại khái như sau: Piastre tại Đông Dương, được dùng để mua USD, sau đó USD được đưa ra các trung tâm tài chính Châu Á như Hong Kong / Bangkok / Manila và Việt Minh có thể sử dụng ngoại tệ để mua: vũ khí + đạn dược + vật tư, y chang thời 1963-1975. Điều này đặc biệt quan trọng sau năm 1950, khi Trung Quốc cộng sản đã mở ra một nguồn cung cấp và tuyến hậu cần mới cho Việt Minh.


Điều mà các tài liệu đương thời cho thấy là một hệ thống tiền tệ bị bóp méo đã tạo ra những dòng tiền mà trong đó cả các nhà đầu cơ và những người chống Pháp đều có thể khai thác. Đây chính là điều làm vụ án trở thành một trong những nghịch lý tài chính lớn nhất của Chiến tranh Đông Dương.


Jacques Despuech không phải người ngoài cuộc hoàn toàn. Ông từng làm việc liên quan đến hệ thống kiểm soát ngoại hối ở Đông Dương và sau đó trở thành người công khai vạch ra cơ chế này. Ngày 20 tháng 11 năm 1952, Le Monde đăng bài của ông về “Le trafic des piastres”. Sau đó, năm 1953, ông xuất bản cuốn: “Le Trafic des piastres”, cuốn sách gây chấn động vì Despuech không chỉ giải thích hệ thống, ông còn:

  • đưa tên những người bị ông cho là có liên quan;
  • công bố tài liệu;
  • trình bày các hóa đơn;
  • chỉ ra những giao dịch đáng ngờ;
  • đề cập đến các ngân hàng và mạng lưới quốc tế;
  • và đặc biệt là mối liên hệ giữa hệ thống này với Việt Minh.

Le Monde khi giới thiệu cuốn sách năm 1953 ghi nhận rằng Despuech đưa ra khoảng 40 tấm tài liệu photocopy, trong đó có sơ đồ liên hệ ngân hàng, danh thiếp, địa chỉ và các chứng từ thương mại mà ông cho là có dấu hiệu surfacturation. 


Viết tới đây mới nhớ cách đây đâu 30 năm, có ông chú họ ở Thái Nguyên, viết thư cho mình. Ông chú nói là làm thầu khoán nên cần mình mua cho 20 xe chở xi-măng cũ. Mình có hỏi dùm thì công ty ở nam Cali có 20 chiếc và muốn bán mỗi chiếc dạo đó $15,000. Vấn đề là ông chú họ bảo mình phải niêm giá trong biên lai là gấp đôi là $30,000/ chiếc. Ở Hoa Kỳ đâu có vụ này, rồi ai đóng thuế dùm. Nên cuối cùng mình thấy phức tạp làm ăn với Việt Nam nên dẹp bỏ vụ buôn bán với Việt Nam.


Trong lịch sử Đông Dương cuối thời thuộc địa, có một mạng lưới người Corse rất nổi tiếng tại Saigon, Marseille và các trung tâm thương mại khác. Họ tham gia vào nhiều lĩnh vực: hải cảng → vận tải → thương mại → sòng bạc → nhà hàng → bảo kê → chính trị địa phương → các hoạt động kinh tế bán hợp pháp và phi pháp. Dân đảo Corse của Pháp nghèo nên họ đi tứ xứ làm ăn. Ông xây khách sạn đầu tiên ở Đà Lạt , tên Desanti, cũng gốc Corse. Họ chịu khó như dân miền trung Việt Nam, nhưng có điều là khi họ ở Sàigòn thì Không có nhớ đến dòng Seine như mấy ai đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh.


Từ thời thuộc địa, người Corse đã có một cộng đồng khá mạnh tại Đông Dương. Họ hoạt động trong: thương mại; nhà hàng và khách sạn; vận tải; cảng; các cơ sở giải trí; kinh doanh và môi giới. Một tài liệu về Amicale Corse de Cochinchine cho thấy cộng đồng Corse ở Nam Kỳ có tổ chức riêng và có mạng lưới xã hội khá chặt chẽ. Ông Despuech thậm chí viết một câu rất mạnh rằng người Corse “ở khắp nơi” trong đời sống thuộc địa. Ông đặc biệt nhắc đến những cơ sở lớn ở đường Catinat như Continental, Croix-du-Sud, Impérial và Hôtel des Nations, mà ông cho rằng là những nơi gặp gỡ của những người tham gia các hoạt động đầu cơ. Nhưng đây là nhận xét của Despuech, không phải bằng chứng rằng mọi cơ sở ấy đều là trung tâm tội phạm. 


Một cái tên nổi bật trong hồ sơ vụ đổi tiền là ông Mathieu Franchini. Ông đến Đông Dương từ năm 1922 và tự khai rằng mình đến trong hoàn cảnh nghèo khó, sau đó xây dựng được một cơ nghiệp rất lớn. Vụ này thì khả thí vì dân Corse nghèo đói tương tự dân miền nam nước Ý Đại Lợi như đảo Sicily. Đến năm 1953, ông Franchini đã trở thành nhà phân phối của General Motors; sở hữu Hôtel Continental và Hôtel Majestic. 2 khách sạn sang trọng nhất Sàigòn.


Trước khi Despuech trở thành nhân vật trung tâm của scandal, nhà báo Jean-François Armorin của tờ Franc-tireur đã điều tra vụ việc. Các tài liệu nghiên cứu sau này ghi nhận rằng Armorin đã phát hiện những dấu hiệu liên quan đến mạng lưới tội phạm Corse trong vụ Piastre. Ông Armorin chết trên chuyến bay từ Saigon về Paris khi máy bay gặp tai nạn.Sau đó, một số bài báo và người viết đương thời đặt câu hỏi liệu cái chết có liên quan đến cuộc điều tra của ông hay không. 


Ông Despuech nhấn mạnh rằng những giao dịch đáng ngờ không chỉ liên quan đến người Pháp. Trong cuốn sách của ông có những trường hợp liên quan tới người Việt Nam ở Paris, những người làm trung gian cho các khoản chuyển tiền có tính chất chính trị. Le Monde năm 1953 cũng ghi nhận rằng Despuech đặc biệt chú ý đến những “correspondants vietnamiens à Paris”. Điều này đưa chúng ta đến một câu hỏi cực kỳ quan trọng: Việt Minh có nằm trong hệ thống này không?


Có bằng chứng rằng các lực lượng chống Pháp đã khai thác những kẽ hở của hệ thống tiền tệ. Đây chính là điều làm vụ Piastre trở nên đặc biệt. Pháp đang chi hàng tỷ franc để đánh Việt Minh. Nhưng chính sách tỷ giá 17:1 lại tạo ra một hệ thống:


Chính phủ Pháp → trả giá cao cho piastre → người đầu cơ kiếm lợi → một phần tiền chạy qua các trung tâm tài chính châu Á → những người chống Pháp cũng có thể khai thác hệ thống đó. Một nghiên cứu gần đây về chiến tranh Đông Dương cũng nhấn mạnh nghịch lý này: tỷ giá nhân tạo đã tạo ra những khoản lợi lớn cho các cá nhân có quan hệ, đồng thời các nguồn đương thời cho rằng Việt Minh cũng tận dụng được hệ thống. 


Nếu chỉ là vài thương nhân Corse kiếm tiền, câu chuyện sẽ không trở thành scandal quốc gia. Điều làm Quốc hội Pháp phải điều tra là ông Despuech đưa ra những tài liệu liên quan đến cả quan chức, chính trị gia và những người có vị trí cao trong bộ máy thuộc địa. Le Monde mô tả cuốn sách năm 1953 của ông là một “hồ sơ” với rất nhiều tên tuổi, bao gồm:

  • quan chức cấp cao;
  • nhân viên Office Indochinois des Changes;
  • sĩ quan;
  • doanh nhân;
  • và những người liên quan đến các vụ chuyển tiền chính trị. 

Saigon → OIC → Paris → Hong Kong/Bangkok → vàng/USD → Việt Minh


Hãy lấy một ví dụ đơn giản: 1.000.000 piastres. Trong hệ thống tỷ giá chính thức 17:1, khoản tiền đó có giá trị trên giấy tờ:

1.000.000 × 17 = 17 triệu franc


Trong khi người muốn gom piastres có thể mua chúng với giá thấp hơn nhiều trên thị trường. Chính khoảng cách giữa giá chính thức và giá thực tế tạo ra lợi nhuận. Người tham gia không nhất thiết phải ôm tiền mặt từ Saigon bay sang Paris. Họ cần một giao dịch thương mại hoặc tài chính có vẻ hợp pháp để đưa giá trị của số piastres đó vào hệ thống chuyển tiền chính thức.


Sau 1949, Hong Kong trở thành một trung tâm tài chính cực kỳ quan trọng của châu Á. Nó nằm ngay cạnh Trung Quốc nhưng vẫn nằm dưới quyền Anh. Điều đó tạo ra một vị trí đặc biệt: Trung Quốc-Hong Kong- Đông Nam Á- Đông Dương. Tại đây có thể giao dịch: USD; vàng; tiền tệ châu Á; hàng hóa; tín dụng; vận tải biển.


Vì vậy, một khoản tiền bắt đầu dưới dạng piastre ở Saigon có thể sau nhiều giao dịch trở thành USD hoặc vàng ở Hong Kong. Và lúc ấy việc truy tìm nguồn gốc ban đầu trở nên cực kỳ khó. Hoa Kỳ cấm vận Ba-Tư nhưng xứ 1001 đêm vẫn ung dung tự tại vì có đường riêng để rữa tiền.


Bangkok quan trọng vì Thái Lan nằm ngoài hệ thống thuộc địa Pháp có: thương mại với Đông Dương; đường bộ; đường biển; các thương nhân Trung Hoa; thị trường vàng; mạng lưới tiền tệ khu vực.


Do đó, nếu muốn đưa giá trị ra khỏi Đông Dương, một tuyến như Saigon → Phnom Penh → Bangkok hoặc Saigon → Hong Kong có thể tạo ra một lớp trung gian bên ngoài sự kiểm soát trực tiếp của Pháp. Đó là cách Hà Nội đã thực hiện chuyển tiền vào Nam để đánh Việt Nam Cộng Hoà.


Việt Minh có nhiều nguồn tài chính:

  • thuế đánh vào các nhà tư thương như bà Nguyễn Thị Năm ở Hà Nội hay sau này dân buôn bán tại Đà Lạt có xe hàng Sàigòn-Đà Lạt đều phải đóng thuế cho Việt Cộng nếu không họ phá hay đặt mìn.
  • đóng góp; Mệ ngoại mình kể ông Hồ đi quyên góp vàng bạc của dân chúng để kháng chiến và cho tiền ông tướng tàu để ông ta kéo quân về nước.
  • kiểm soát vùng nông thôn;
  • buôn bán;
  • ngoại thương;
  • hỗ trợ từ Trung Quốc sau 1950;
  • các hoạt động tài chính bí mật.

Vì vậy piastre không phải nguồn tài chính duy nhất của Việt Minh nhưng ngoại tệ rất quan trọng vì Việt Minh cần mua những thứ mà họ không thể sản xuất trong nước: USD / vàng để mua hàng, vũ khí, đạn dược, radio, thuốc men, vật tư quân sự. Đặc biệt sau chiến thắng của Cộng sản Trung Quốc năm 1949 và việc Trung Quốc công nhận Việt Minh năm 1950, Việt Minh có một hậu phương quốc tế mới. Ông Võ Nguyên Giáp có viết là nếu không có Trung Cộng ủng hộ thì chắc chắn sẽ không kháng chiến. Một khoản tiền có thể đi từ Saigon → Hong Kong trong khi vũ khí đi: từ Trung Quốc → Việt Bắc. Điều đặc biệt là các vụ bán bán đa số là thuốc men,… mà mấy thứ này Sàigòn đâu cần nhiều, Việt mInh cần để đánh pháp khiến người Pháp sau khi khám phá ra khóc như mưa bất.


Ông Despuech không chỉ nói:“Có tham nhũng.” Mà đưa ra một luận điểm nguy hiểm hơn: chính phủ Pháp đang tạo điều kiện cho một hệ thống làm thất thoát tiền. Và trong hệ thống ấy: người Pháp kiếm tiền, người Việt Nam trung gian kiếm tiền, những mạng lưới quốc tế chuyển tiền và Việt Minh có thể khai thác một phần dòng tiền. Pháp đang vô tình làm suy yếu chính cuộc chiến của mình. Nghe nói có một luận án nghiên cứu lịch sử kinh tế về vụ việc cũng mô tả chính luận điểm này: Despuech cho rằng tham nhũng và sự thụ động của chính quyền đã tạo điều kiện cho những hoạt động làm lợi cho nỗ lực chiến tranh của Việt Minh. (Mình chưa đọc bản này)


Và rồi chúng ta đến câu hỏi lớn nhất, Việt Minh thực sự nhận được bao nhiêu tiền từ hệ thống Piastre? Có rất nhiều con số được lặp đi lặp lại, nhưng khi truy ngược về nguồn thì chúng thường quay lại ước tính của Despuech, chứ không phải một bản kiểm toán độc lập.


Liên quan vụ này người Pháp hay nhắc đến “Affaire des généraux” năm 1949 là một mắt xích cực kỳ quan trọng, và thực ra nó nối trực tiếp với câu chuyện piastres, mạng lưới Corse và Việt Minh mà chúng ta đang lần theo.


Affaire des généraux không phải ban đầu là một vụ tiền bạc. Nó là vụ rò rỉ một báo cáo quân sự tối mật của tướng Georges Revers cho phía Việt Minh. Sau đó mới xuất hiện những dấu vết về tiền, môi giới và các nhân vật trung gian. Như chính phủ Trump kêu có người rò rỉ tin tức Hoa Kỳ đánh bom Ba-Tư, cần phải được xử nghiêm ngặt.


Năm 1949, tướng Georges Revers là Tổng tham mưu trưởng Lục quân Pháp, được chính phủ cử sang Đông Dương để đánh giá tình hình chiến tranh. Chuyến đi này cực kỳ quan trọng cho tình hình Việt Nam vì tướng Revers nhận thấy tình hình nghiêm trọng hơn những gì Paris muốn tin. Ông đề nghị một số thay đổi căn bản:

  • xây dựng một quân đội Việt Nam; có vào những năm này, ông cụ mình đang đi lính Ngự Lâm Quân và sau đó được chuyển qua quân đội Việt Nam Cộng Hoà 
  • dựa nhiều hơn vào chủ nghĩa dân tộc Việt Nam để chống Việt Minh;
  • không cố giữ những vị trí biên giới quá khó phòng thủ;
  • xem xét rút khỏi một số cứ điểm ở biên giới Bắc Việt;
  • tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế, đặc biệt từ Anh và Thái Lan. 

Đây là một báo cáo rất nhạy cảm. Bởi nó có nghĩa là chính quân đội Pháp đang thừa nhận rằng chiến lược hiện tại có vấn đề. Báo cáo được in chỉ khoảng 50 bản, dưới sự kiểm soát đặc biệt trong một cơ sở quân sự. Chỉ 33 bản được phân phối chính thức; những bản còn lại được giữ trong hệ thống của Revers. Vậy mà vài tháng sau… Việt Minh có được báo cáo và đây là nơi vụ án bùng nổ.


Người ta nói đến ông Roger Peyré. Ông là một nhân vật có quan hệ với các tướng Revers và Charles Mast, đồng thời có liên hệ với SDECE, cơ quan tình báo đối ngoại Pháp. Theo hồ sơ được công bố, ông có những hoạt động kinh doanh rất đáng ngờ ở Đông Dương và đặc biệt quan tâm tới trafic des piastres. Đây là điểm mà hai câu chuyện bắt đầu lòi ra “Affaire des gênsraux” và “Affaire des piastres”.


Ông Peyré đi Đông Dương trước khi tướng Revers. Theo hồ sơ vụ án, ông tìm cách tiếp xúc với nhiều nhân vật để tạo ảnh hưởng đối với báo cáo mà tướng Revers sẽ viết. Ông muốn người ta đánh giá tướng Mast là người thích hợp để chỉ huy tình hình Đông Dương. Nói cách khác: ông Peyré không chỉ là người đưa tin, dường như đang cố tác động đến chính sách quân sự. Không biết ông ta có là đảng viên cộng sản pháp hay không.


Có một nhân vật người Việt trong vụ án này tên là Hoàng Văn Cơ, hậu duệ của ông Hoàng Cao Khải. Ông là một nhà báo, hoạt động chính trị và có vị trí trong hệ thống thông tin của chính quyền Việt Nam Quốc gia/Bảo Đại. Theo hồ sơ vụ án, Hoàng Văn Cơ có quan hệ với nhiều phe phái Việt Nam tại Paris. Vấn đề là ông cũng xuất hiện trong đường dây tiền bạc liên quan đến Peyré. Theo hồ sơ được tổng hợp, Peyré nhận từ Hoàng Văn Cơ hai tấm ngân phiếu, mỗi tấm trị giá 1 triệu franc, ngoài tiền mặt và một chiếc tủ lạnh trị giá khoảng 150.000 franc. 


Ngày 26/8/1949, đài phát thanh Việt Minh bắt đầu phát những đoạn nội dung của báo cáo. Đến 18/9/1949, tại Paris xảy ra một vụ việc tưởng như rất bình thường: Một cựu quân nhân Pháp tranh cãi với hai người Việt Nam gần Gare de Lyon. Cảnh sát can thiệp và trong hành lý của một người Việt Nam… người ta tìm thấy bản sao báo cáo Revers. Vụ “Affaire des généraux” chính thức bùng nổ. Mấy ông người Việt theo Việt Minh, cứ gặp tây là cãi dù biết mình đem tỏng người hồ sơ tối mật.


Nhưng câu hỏi làm thế nào Việt Minh có được báo cáo? Đây là phần hấp dẫn nhất. Điều tra của DST lần theo các bản sao. Một số bản được tìm thấy trong tay những người có liên hệ với Việt Minh. Một đường dây dẫn tới Trần Ngọc Danh, cựu đại diện Việt Minh tại Paris. Một đường dây khác dẫn tới hoàng tử Vĩnh Xá, người em họ của ông Bảo Đại nhưng cũng bị mô tả là một nhân vật hai mang, có liên hệ với cả các phe chống Bảo Đại và Việt Minh. Tổng cộng, điều tra viên phát hiện nhiều bản sao, trong đó có 72 bản được cho là đã lưu hành trong các tổ chức/người Việt liên quan. 


Nhưng câu hỏi vẫn còn: Ai là người đưa bản gốc cho họ? Tướng Revers đã đưa một bản báo cáo cho tướng Charles Mast. Vấn đề là tướng Mast không thuộc nhóm người chính thức cần được nhận báo cáo. Theo hồ sơ, tướng Mast nhận bản số 27. Tướng Mast lại có quan hệ với Roger Peyré và Peyré là người đang bị điều tra vì những hoạt động tài chính và quan hệ rất đáng ngờ.


Theo điều tra của DST, 2 tướng Mast và Revers phủ nhận các cáo buộc. Chính phủ cuối cùng quyết định không đưa vụ việc đến một kết luận hình sự đầy đủ; hồ sơ bị thu lại và vụ điều tra bị đóng theo quyết định của chính quyền Ramadier. 


Nhưng hậu quả chính trị rất lớn. Tướng Revers mất chức vào cuối năm 1949 và vụ việc trở thành một scandal lớn của Đệ Tứ Cộng hòa. Có một hậu quả quân sự mà chúng ta không nên bỏ qua. Báo cáo Revers đã đề cập đến vấn đề: biên giới Bắc Việt – Trung Quốc và khả năng Pháp không thể giữ mãi các vị trí như Cao Bằng và Lạng Sơn. Sau khi báo cáo bị lộ, phía Việt Minh biết được đánh giá chiến lược của quân đội Pháp. Nghiên cứu về trận Cao Bằng cho rằng thông tin từ Affaire des généraux giúp các nhà chiến lược Việt Minh và Trung Quốc hiểu rõ hơn dự định của Pháp, trong đó có khả năng rút khỏi khu vực biên giới. 


Một năm sau: Chiến dịch Biên giới 1950, Việt Minh đánh mạnh trên tuyến Route Coloniale 4 (RC4). Các đơn vị Pháp rút khỏi Cao Bằng vào tháng 10/1950 và bị phục kích. Đây là một trong những thất bại lớn nhất của quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương.


Từ đầu mình tưởng rằng có ba câu chuyện:

① Affaire des généraux — 1949: Rò rỉ bí mật quân sự.

② Affaire des piastres — 1950–1953: Tham nhũng và đầu cơ tiền tệ.

③ Mạng lưới Corse / quốc tế: Doanh nhân, môi giới, ngân hàng và các đường dây chuyển tiền nhưng thực tế chúng chồng lên nhau. Có những nhân vật xuất hiện ở nhiều câu chuyện. Roger Peyré, là một trong những chiếc cầu nối đáng chú ý nhất.


Sau khi nhìn vào Affaire des généraux, chúng ta có thể nói chính xác hơn: Hoàng Văn Cơ thực sự xuất hiện trong hồ sơ của vụ các tướng. Ông có quan hệ với các phe phái Việt Nam, trong đó có những người ủng hộ Bảo Đại; đồng thời tên ông xuất hiện trong điều tra về các khoản tiền trả cho Peyré. Nhưng không nên từ đó kết luận Hoàng Văn Cơ là đặc vụ Việt Minh. Chính hồ sơ lại mô tả tình hình phức tạp hơn: các phe Bảo Đại – quốc gia – Việt Minh có những quan hệ chồng chéo và đôi khi có những nhân vật hai mang. 


Hãy theo dòng thời gian thì nhận thấy:

1949

→ Revers điều tra Đông Dương

→ Peyré xuất hiện

→ báo cáo tối mật bị rò rỉ

→ Việt Minh biết được đánh giá chiến lược của Pháp tại Việt Nam 

→ Revers bị mất chức


1950

→ chiến tranh chuyển biến mạnh

→ thất bại RC4, Việt Minh phục kích lính tây khi họ rút lui về Nasan.


1950–1952

→ những câu hỏi về piastre ngày càng lớn


1952–1953

→ Despuech công khai hồ sơ

→ Quốc hội điều tra

→ vụ trafic des piastres trở thành scandal quốc gia


1953

→ tỷ giá piastre bị hạ từ 17 xuống 10 franc


Vì vậy, “Affaire des généraux” chính là chiếc chìa khóa để hiểu giai đoạn đầu của vụ Piastre. Và điều đáng kinh ngạc nhất là một số nhân vật và mạng lưới xuất hiện trước trong vụ rò rỉ quân sự năm 1949, rồi sau đó lại xuất hiện trong câu chuyện tiền bạc. Đây có lẽ là nhân vật quan trọng nhất để hiểu toàn bộ mạng lưới:

Peyré → tướng Mast → Revers → Hoàng Văn Cơ → Bảo Đại → Việt Minh → piastres → SDECE/DST.


Từ đó chúng ta mới có thể trả lời câu hỏi khó nhất: Peyré thực sự là một kẻ đầu cơ, một môi giới chính trị, một điệp viên hai mang, hay ông ta là người bị các cơ quan tình báo sử dụng?


Nằm gần hải cảng, phía dưới đường Catinat, khu này là một ốc đảo yên bình thực sự. Chỉ cách đó vài trăm mét, lựu đạn đã nổ trên sân thượng các quán cà phê. Sở Mật thám Pháp và các lực lượng dân quân Việt Nam đang tiến hành những cuộc thanh toán đẫm máu với những người ủng hộ Độc lập. Tất cả diễn ra dưới ánh mắt chế giễu của các compradore Trung Quốc (những người môi giới cho các hãng phương Tây) và giới tư sản Annam, những tay đầu cơ lớn  có thể tập hợp trong vài phút những khoản tiền khổng lồ mà tốt hơn đừng hỏi nguồn gốc, trừ khi muốn kết thúc cuộc đời trong dòng nước đục ngầu của một con rạch. Piastre – tên gọi của đồng tiền địa phương, đã trở thành một trong những ngoại tệ được săn đón nhất hành tinh kể từ khi, vào tháng 12 năm 1945 ở Paris, một viên chức vô danh của Bộ Tài chính ấn định tỷ giá chính thức tại chính quốc là 17 franc, gấp đôi giá trị thực tế (8,50 franc). Quyết định ngày 25 tháng 12 đó trở thành món quà Giáng sinh đẹp nhất mà Đệ tứ Cộng hòa dành cho giới làm ăn phi pháp.


Chấm dứt thời đại của những “BOF” (bơ – trứng – pho mát) làm giàu nhờ chợ đen dưới thời chiếm đóng. Giờ đến lượt những kẻ buôn lậu piastre, bị cuốn vào một cơn sốt vàng thực sự. Một số người đã xây dựng những gia sản khổng lồ chỉ trong vài tuần, thậm chí vài ngày. Nguyên tắc rất đơn giản: chỉ cần sống ở Đông Dương, đặc biệt là trong nền cộng hòa ngắn ngủi Cochinchine, và xin được giấy phép chuyển piastre về chính quốc, ở Sài Gòn piastre chỉ đáng 8,50 franc nhưng khi đổi ở Paris thì được 17 franc. Hệ thống ban đầu nhằm khuyến khích xuất khẩu từ Pháp sang các thuộc địa châu Á, sau đó nhanh chóng tách thành hai nhánh: một nhánh “hợp pháp” (ít nhất về nguyên tắc) và một nhánh bất hợp pháp. Những người hoạt động trong khuôn khổ pháp lý tuyệt đối là binh lính của đoàn quân viễn chinh được phép chuyển tự do về Pháp số tiền tiết kiệm của họ.


Và chỉ có trời mới biết các anh lính tây tiết kiệm đến mức nào: từ năm 1947 đến 1949, họ hầu như không tiêu một đồng piastre nào ở Đông Dương và làm tăng trưởng số vốn của mình. Hơn thế, tổng số tiền piastre được chuyển về còn vượt xa rất nhiều tổng số lương của quân nhân. Thế nhưng người ta vẫn thấy lính thủy, phi công, bộ binh và lính lê dương sống rất sung túc, đánh bạc những khoản tiền thiên văn tại Grand Monde Đại Thế Giới ở Chợ Lớn – khu phố Trung Hoa của Sài Gòn hoặc chi tiêu hào phóng cho gái mại dâm tại Parc à buffles, nhà chứa quân sự lớn nhất của thủ phủ Cochinchine. Thực tế, các quân nhân, với một khoản hoa hồng hợp lý, chỉ đóng vai người đứng tên cho các doanh nhân hoặc “tiểu bạch” muốn “làm piastre”, giống như sau này người ta làm CFA ở châu Phi. Khi làm tiền dễ dàng thì khó ai mà gian khổ đánh Việt Minh.  Thời Mỹ cũng có vụ đổi Đô-la đỏ và Xanh làm giàu.


Những “người hợp pháp” khác, cảm nhận được sự kết thúc của sự hiện diện Pháp, thề rằng họ muốn rời bỏ Đông Dương nơi họ đã sống hàng năm, thậm chí hàng thập kỷ. Người ta chứng kiến một cuộc di cư cảm động của những “người ra đi vĩnh viễn”, được phép chuyển không khó khăn thành quả lao động của mình, rồi vài tuần sau lại thấy họ ngồi trên sân thượng Continental, bị cơn “nhớ quê hương” không cưỡng nổi. Một số người ra đi như vậy năm, sáu, bảy lần, cho đến khi nhà chức trách siết chặt kiểm soát và chấm dứt những chuyến đi về liên tục đó.


Các doanh nhân thì bị cuốn vào một cơn sốt mua sắm thực sự. Rất nhanh, Sài Gòn trở thành thánh địa của các hãng xuất nhập cảng, thường được thành lập từ con số không và có địa chỉ ít nhiều giả tạo cả ở Pháp lẫn Đông Dương, thường nằm trong các quán rượu của bạn bè.


Đông Dương thuộc Pháp chứng kiến các hải cảng tràn ngập mọi loại hàng tồn kho không bán được chất đống trong kho ở Pháp: phim hạng B, sách giáo khoa hết hạn, xác tàu sắp tháo dỡ, bao xi măng không dùng được, hàng ngàn cây dù, bô vệ sinh… Người ta không thể liệt kê hết danh sách kiểu Prévert những hàng xuất khẩu của Pháp sang Sài Gòn mà chủ hàng thậm chí không đến nhận ở cảng, hoặc sau đó tìm thấy trên những bãi đất trống xung quanh thành phố. Tại Văn phòng Hối đoái trên đường Guynemer, khoảng hai mươi nhân viên hợp đồng người Pháp và bốn mươi thư ký Annam xử lý hồ sơ theo kiểu “may rủi”, từ chối một số khoản chuyển tiền, chấp nhận một số khác, theo những tiêu chí mà các khoản hối lộ khéo léo phân phối góp phần làm mềm mại hơn.


Phải giả định rằng các viên chức Văn phòng Hối đoái là những Adonis thực thụ, vì những cô gái xinh đẹp si mê những người đàn ông trung niên bụng phệ và chiều theo mọi ý thích của họ, cho đến ngày cô gái yêu cầu người tình “giúp một việc nhỏ”: ký một lệnh chuyển piastre cho mình hoặc cho những người bạn rất thân.


Giám đốc văn phòng cũng không hứng thú dọn sạch chuồng ngựa Augias, vì chính ông cũng chịu áp lực từ các Cao ủy liên tiếp (Bollaert hay Pignon), các nghị sĩ, bộ trưởng, thượng nghị sĩ hoặc tất cả những người Việt “thân Pháp” mà lòng trung thành tỷ lệ nghịch với số lượng và quy mô các khoản chuyển tiền được cấp. Nhà vô địch tuyệt đối trong lĩnh vực này là Hoàng đế Bảo Đại, sống thanh bạch nơi lưu vong ở Hồng Kông kể từ khi thoái vị năm 1946.


Người Pháp muốn ông trở lại Đông Dương, nhưng Hoàng thượng ngần ngại. Vì vậy, để dụ dỗ, người ta cho phép ông chuyển về chính quốc số piastre tương đương 500.000 đô la. Mình đọc tài liệu nghe nói người Tàu CHợ Lớn gửi cho ông ta tiền tiêu xài để được các thưuong vụ buôn bán với chính phủ Việt Nam.


Còn các lãnh đạo những hãng xuất nhập cảng lớn ở Bordeaux (Denis Frères, Alcan, Comptoirs France-Asie…) thì nhân lên gấp 10 lần, từ năm 1947 đến 1953, các hoạt động thương mại từ Pháp sang Đông Dương, đồng thời không quên thu về những khoản bồi thường chiến tranh hậu hĩnh cho những thiệt hại thực hoặc giả do quân Nhật gây ra từ 1940 đến 1945. Hàng trăm triệu piastre được chuyển mỗi năm từ Sài Gòn về Paris đã giúp các công ty này thoát hiểm sau thất bại năm 1954 và ký kết Hiệp định Genève. Cho thấy chiến tranh là nơi người ta làm giàu trên xương máu chiến sĩ.


Chi tiết lạ: không ít hàng nhập từ Pháp là thuốc men, đèn pin, giày dép, băng gạc… không hề được bán trên đường Catinat mà, nhờ những trung gian Trung Quốc và Annam không ai nghi ngờ, đã đến tay lực lượng Việt Minh, cũng là một bên tham gia vào mạng lưới buôn lậu này. Khi Ganay, giám đốc chi nhánh Ngân hàng Đông Dương, quyết định can thiệp vào những chuyện bẩn thỉu này, người hầu phòng kiêm tình nhân của ông bị Việt Minh bắt cóc cùng với một tượng nhỏ mà ông rất quý. Sau những cuộc thương lượng dài và kín đáo, ông lấy lại được người tình trẻ và tác phẩm nghệ thuật, nhưng từ đó mất khả năng nói bất cứ điều gì liên quan đến nạn buôn lậu piastre.


Một khi đã được phép chuyển tiền, người ta có thể lặp lại vô tận thao tác này. Chỉ cần đưa vàng lậu vào Sài Gòn, mỗi lượng ở Paris giá 586 franc nhưng ở Đông Dương lên tới 1.300 franc – hoặc đô la qua Hồng Kông, Colombo hay Macao. Bọn buôn lậu đổi chúng lấy piastre, rồi lại chuyển piastre về Paris.


Các thủy thủ trên những tàu khách tuyến Marseille – Sài Gòn chuyên làm những vụ này, và những nhân viên quan thuế người Corse ở hải cảng, mơ về một cuộc hưu trí sung túc trên đảo Đẹp, sẵn sàng nhắm mắt trước vài khoản hối lộ rồi chuyển ngay về nhà nhờ… Văn phòng Hối đoái.


Người ta từng thấy một ông già quý tộc bước xuống tàu với một cây đàn accordion trên tay. Xúc động trước cảnh cụ già vác nặng, một anh lính trẻ xung phong giúp. Không may anh là người yêu nhạc musette và muốn thử chơi thử cây đàn. Đàn vỡ tan, nhiều thỏi vàng rơi xuống đất trước mắt các nhân viên quan thuế.


Một cú sốc đã làm chấn động thế giới piastre. Ngày 18 tháng 9 năm 1949, một cuộc ẩu đả xảy ra tại nhà ga Lyon giữa một người lính vừa từ Đông Dương về và hai người Annam. Trong cặp của một trong hai người: Doc Dai Phuoc, nhân viên sứ quán Việt Nam, người ta tìm thấy bản sao báo cáo mật của tướng Revers gửi Paul Ramadier, Bộ trưởng Quốc phòng, sau chuyến thanh tra ở Đông Dương. Các cuộc khám xét trong giới Đông Dương ở Paris cho phép tìm thấy 38 bản báo cáo rất phê phán, trong đó Revers tố cáo gay gắt vụ bê bối buôn lậu piastre và điểm danh nhiều nhân vật, trong đó có một “M. Paul” bí ẩn mà một số nhà báo cho là Paul Auriol, con trai Tổng thống pháp.


Ngày 17 tháng 1 năm 1950, một ủy ban điều tra nghị viện có sự tham gia của nghị sĩ cộng sản Maurice Kriegel-Valrimont được thành lập. Nhưng ủy ban này không bao giờ có thời gian hoàn tất công việc. Còn những cáo buộc do Kriegel-Valrimont đưa ra và được báo chí cộng sản tiếp tục thì bị coi là vô giá trị vì xuất phát từ đồng minh của Việt Minh. Vụ bê bối thứ hai bùng nổ năm 1953 với việc xuất bản tại Éditions des Deux Rives cuốn sách của một viên chức khiêm tốn của Văn phòng Hối đoái Sài Gòn bị sa thải trong hoàn cảnh đáng ngờ: Jacques Despuech.


Le Trafic des Piastres (Nạn buôn lậu Piastre) trở thành sách bán chạy thực sự, nhất là khi các lãnh đạo công ty bị nêu tên kiện tác phẩm về tội phỉ báng. Họ thắng kiện chủ yếu nhờ thủ tục, nhưng báo chí đã nắm lấy vụ việc. Le MondeLibération (của d’Astier de La Vigerie), La Croix hay Le Populairedành nhiều bài viết cho vụ bê bối này, mỗi tờ cố gắng tấn công kẻ thù chính trị của mình: MRP, đảng Cấp tiến, UDSR của Pleven và Mitterrand, hoặc SFIO. Cuộc tranh luận càng nóng hơn vì Despuech chỉ rõ rằng việc tiếp tục cuộc chiến ở Đông Dương chẳng nhằm mục đích nào khác ngoài việc cho phép các hãng này và những kẻ lừa đảo được bảo kê chính trị vững chắc tích tụ những gia sản khổng lồ.


Chính phủ René Mayer, bị chất vấn tại Hạ viện, buộc phải quyết định ngày 11 tháng 5 năm 1953 hạ tỷ giá piastre Đông Dương từ 17 xuống 10 franc, qua đó hạn chế đáng kể khả năng làm giàu. Và 14 tháng sau, người Pháp tuyên bố đầu hàng tại Điện Biên Phủ. Và cáo chung luôn các thuộc địa của Pháp quốc tại Đông-Dương. Có lần nói chuyện với một cựu chiến binh pháp tại Đông-Dương, ông ta nói Sàigòn đã hủ bại người Pháp, sau đó người Mỹ và cuối cùng là bộ đội miền bắc. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn