Thị trưởng cuối cùng của Đà Lạt
Nhớ khi xưa, ông cụ mình làm cho ty công quản nước nên hay gặp ông Nguyễn Hợp Đoàn, cấp bậc đại tá, thị trưởng Đà Lạt kiêm tỉnh trưởng Tuyên Đức. Lý do là cái dinh tỉnh trưởng ở trên đồi cao mà ống nước của Đà Lạt khi xưa do Pháp thành lập cũ nên áp suất nước không lên nổi vì dân số thị dân gia tăng quá tải trong thời chiến. Ông cụ mình phải canh thời gian Đà Lạt không xài nước (ban đêm) để bơm nước lên cái bồn nước ở dinh tỉnh trưởng để gia đình ông ta có nước sử dụng.
Đại tá Nguyễn Hợp Đoàn, cựu tỉnh trưởng Tuyên Đức và thị trưởng Đà Lạt.Tình cờ tìm thấy tin tức về ông ta trên mạng thì khám phá ra ông ta thuộc loại sĩ quan hạng ngầu vì từng là tư lệnh của lực lượng đặc biệt, Biệt Cách Nhảy Dù trước khi được giao chức tỉnh trưởng Tuyên Đức kiêm thị trưởng Đà Lạt. Nhờ ông ta làm tỉnh trưởng suốt 5 năm trời khiến dân Đà Lạt sống yên ổn, ông ta từng nắm giữ Biệt Cách Nhảy Dù nên nhờ đại đội trinh sát 302 luôn đi hành quân xung quanh Đà Lạt.
Tháng cuối cùng của 1975, khi ông Thiệu ra lệnh rút lui thì có bổ nhiệm ông Nguyễn Hợp Đoàn làm đô trưởng Sàigòn kiêm luôn tỉnh trưởng Gia Định, nhưng rồi tình hình chiến sự lộn xộn đưa đến 30/04/1975. Ông và gia đình kịp thời di tản và định cư tại Houston, Texas. Nghe nói ông ta mở tiệm bán đồ trang trí nội thất và có ngỏ ý giúp thiếu tá Lê Xuân Phong khi ông ta vượt biên đến Hoa Kỳ, mở một tiệm bán đồ trang trí nội thất nhưng thiếu tá kể là không có khiếu buôn bán nên từ chối.
Mình chỉ nhớ con trai ông ta tên Nguyễn Thế Hùng , học Yersin cùng promo với mình, học chung ở Hội Việt Mỹ, nhớ trong lớp anh ta thích con gái của tiệm cà phê Au Meilleur Gout, đường Minh Mạng nên cứ rà rà hỏi chuyện cô này. Hình như học Bùi Thị Xuân, thấp thấp người nhưng rất xinh, chỉ nhớ cô ta má hồng, tóc ngắn. Không nhớ tên vì học một khoá chung ở trường Đoàn Thị Điểm, sau đó mình hích học ở trường Việt Anh hơn, gần nhà, khỏi leo dốc Nhà Làng. Đậu tú tài 74 thì anh chàng đi du học ở Mỹ, cùng thời với Đinh Việt Hùng (Pháp), con ông Đinh Văn Đệ, bí danh U4 nằm vùng và Nguyễn Văn Chương (Hoa Kỳ), con ông Đoàn, đại gia về cây ở Đà Lạt, trên số 4, chỗ nhà của Kháng, học chung khi xưa.
Nhớ có lần Việt Cộng pháo kích Đà Lạt, trúng ngay vườn chỗ ấp Ánh Sáng. Ông nhờ thiếu tá Lê Xuân Phong, đại đội 302 vào rừng bắn vài Việt Cộng đem về bỏ xác tại cái lỗ do Việt Cộng pháo kích để trấn an người dân địa phương. Tháng 3 năm 1975, Đà Lạt trước khi bỏ ngõ ông ta cũng nhờ tiều đoàn 204, đem một chiếc Molotova của Việt Cộng lên Đà Lạt, đậu ngay trước tiệm Hạnh Tâm và cột một thượng tá Việt Cộng bị bắt sống nơi xe để trấn an người dân thị xã. Ông ta có thụ khoá tâm lý chiến nên khá giỏi về chính trị.
Chính ông ta thành lập tiểu đoàn 204. Lý do là đại đội trinh sát 302 có lực lượng quân số rất đông so với cấp đại đội, trên 300 người lính. Do đó ông ta mới hỏi thiếu tá Lê Xuân Phong, chỉ huy đại đội trinh sát 302, thành lập tiểu đoàn 204. Mình nghe kể là tháng 3 năm 1975, tiều đoàn này bị tổn thất rất nhiều khi đánh chiếm lại Di-Linh, giúp thị dân Đà Lạt có đường chạy di tản về Sàigòn. Ai di tản được về Sàigòn lúc đó thì nên nhớ công và sự hy sinh rất nhiều lính của tiểu đoàn 204. Sau này họp thì các vị chỉ huy ra lệnh rút lui nên phải chạy về ngõ Phan Rang-BÌnh Tuy.
Theo tài liệu thì ông ta sinh ngày 28 tháng 8 năm 1930 tại Hải Dương và qua đời ngày 15 tháng 4 năm 2002. Vậy chết còn trẻ khi mới được 72 tuổi. Gia đình ông ta di cư vào nam khi đất nước chia đôi. Ông ta nhập ngũ ngày 15 tháng 4 năm 1951. Ông ta chết cùng ngày với ngày ông ta nhập ngũ. Ông ta tốt nghiệp khoá 4 của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Có thể lúc đó còn mang tên trường Lục Quân. Năm 1958, ông theo học Trường Chỉ huy và Tham mưu của Việt Nam Cộng hòa, rồi đến năm 1964 thì được nhận vào học tại Trường Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (USACGSC) và học tiếp lên Trường Chiến tranh Lục quân Hoa Kỳ(USAWC). Ông từng được coi là Thiếu tá trẻ nhất trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa khi mới 24 tuổi. Xem như ông ta giỏi anh ngữ vì được đi học ở Hoa Kỳ về tham mưu. Nghe nói ông ta không vào quốc tịch mỹ cho đến chết, vẫn giữ quốc tịch Việt Nam Cộng Hoà.
Nguyễn Hợp Đoàn trong trận Tết Mậu Thân tại Bộ Tư lệnh Quân sự Kontum năm 1968.
Ông từng giữ các chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 705, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 (Thái Bình), Trung đoàn trưởng Trung đoàn 14 Bộ binh Sư đoàn 9 Bộ binh, Phó Giám đốc Trường Tâm lý chiến Quốc gia, Tham mưu phó Quân đoàn IV Tâm lý chiến kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 9. Ông còn làm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Biệt cách Dù (Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù) vào năm 1961 và Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt Việt Nam Cộng hòa vào năm 1965. Cho thấy ông ta thuộc loại sĩ quan chiến đấu giỏi của Việt Nam Cộng Hoà.
Đại tá Nguyễn Hợp Đoàn tham chiến trong trận Đắk Tô năm 1967.
Ông từng làm Tỉnh trưởng Kon Tum năm 1965–1970, nơi mà cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968 của cộng sản đã bị thất bại nặng nề. Ông tỏ ra xuất sắc trong vai trò quân nhân và công chức, qua hai chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Tuyên Đức, và Thị trưởng Đà Lạt năm 1970–1975. Trong nhiệm kỳ thị trưởng của mình, Đà Lạt được xem là nơi trú ẩn an toàn. Ông đã góp phần xây dựng nơi đây dựa trên sự quyến rũ và vẻ đẹp của nó, đồng thời giữ cho thành phố này trở thành điểm đến yêu thích cho tuần trăng mật của người dân. Đà Lạt còn là trung tâm học tập với nhiều trường nội trú, đại học, học viện quân sự và chủng viện. Lò phản ứng hạt nhân duy nhất của Việt Nam Cộng hòa cùng các nhà khoa học và nhân viên liên quan đều được đặt tại Đà Lạt.
Ngoài các vụ đặt chất nổ tại Đà Lạt thì dạo ấy thị xã được xem là an bình, không bị pháo kích hàng đêm như các tỉnh khách ở miền Nam. Có dạo sau Mậu Thân, mình và ông cụ tối phải ra phố ngủ ở số 11 Duy Tân vì Việt Cộng hay về ban đêm, trên Số 4, bắt công chức và bắn chết. Sau này chiến dịch Phụng Hoàng đã thanh lọc khá nhiều nằm vùng như trong xóm mình có ông thần tên V, học sinh Trần Hưng Đạo bị bắt nhốt trên trung tâm thẩm vấn.
Bước sang năm 1975, với hy vọng đại tá Nguyễn Hợp Đoàn sẽ mang lại an ninh trật tự cho thủ đô Sài Gòn đang bị cộng sản tiến công ráo riết, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã bổ nhiệm ông làm Đô trưởng Sài Gòn tiếp theo. Đến gần cuối giai đoạn chiến tranh khi Sài Gòn sắp sửa thất thủ, đại tá Nguyễn Hợp Đoàn vẫn còn trụ vững và quyết chiến đến cùng trong khi mấy viên Quận trưởng Quân sự lân cận bỏ chạy mà không thèm kháng cự, tạo ra sự hỗn loạn khi dân tị nạn đổ vào Sài Gòn từ Quân đoàn I và II. Thiếu tá Lê Xuân Phong có kể khi di tản về Sàigòn thì có gặp lại đại tá Nguyễn Hợp Đoàn, đại tá Phan Văn Huấn, Biệt Cách Nhảy Dù và tìm cách tạo vòng đai chiến đấu ở Sàigòn nhưng rồi ông Dương Văn Minh lên banh-ta-lông hết.
Trên đường đi, đoàn người tị nạn phải gánh chịu thương vong nặng nề khi Sư đoàn 340 Bắc Việt pháo kích làm tổn thất nhân mạng hàng ngàn người. Gia đình mình kể là khi di tản, Việt Cộng pháo kích vào con lộ của người dân di tản. Tụi bây không đón, chào mừng chúng ông thì chúng ông cho chúng mày chết. Có chiếc xe Lam chở đầy người bóp còi liên tu-ti qua mặt xe ông cụ. Độ 10 phút sau thì xe ông cụ thấy xe lam banh-ta-lông vì trúng đạn pháo kích của Việt Cộng, họ chết thế cho gia đình mình. Ông chỉ ra lệnh rút quân sau khi nhận ra rằng cả thành phố và địa bàn của mình bị cô lập. Ông cho tiến hành một cuộc rút lui có trật tự, sát cánh cùng binh sĩ và cứu sống nhiều người dân. Thiếu tá Lê Xuân Phong kể là khi ra lệnh rút quân thì ông ta chỉ đi với một số lính của tiểu đoàn 204 vì không dám nói rõ hết lệnh của trên đưa xuống nên sau này có nhiều người lính trách.
Nhớ có dạo đại tá Nguyễn Hợp Đoàn nói ông cụ mình ra ứng cử hội đồng thị xã Đà Lạt, bảo đảm đắc cử. Ông cụ mình công chức và đoàn trưởng Nhân Dân Tự Vệ nên mỗi lần có bầu cử là phải đi gác các thùng phiếu, sợ Việt Cộng nằm vùng đến phá hoại. Nhớ dạo ấy có thấy truyền đơn Việt Cộng kêu gọi dân Đà Lạt tẩy chay bầu cử. Ông cụ kể là khi xe nhà binh đến lấy phiếu thì họ đổi các thùng phiếu đầy nhóc phiếu bầu cho ứng cử viên của chính quyền đưa ra nên không muốn ra vì không có tham vọng gì cả. Cho nên ngày nay Hà Nội cho bầu cử đắc cử 99% là chuyện thường ngày.
Từ 1955 đến 1975, suốt 20 năm Đà Lạt có nhiều thị trưởng thay phiên nhau quản lý Đà Lạt. Mình nghĩ chỉ có 2 ông thị trưởng đáng nhắc đến là ông Trần Văn Phước, được tổng thống Ngô Đình Diệm bổ nhiệm và ông Nguyễn Hợp Đoàn được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm và tại vị lâu nhất vì các người khác chỉ nắm quyên 1 năm là chạy. Mình có viết về sự đóng góp của thị trưởng Trần Văn Phước cho Đà Lạt như xây dựng Chợ Mới, viện đại học Đà Lạt, chỉnh trang lại khu thương mại Hoà BÌnh, xây cất xung quanh Đà Lạt và các bến xe đò. Rất liêm chính. Có ông Nguyễn Bá Thìn tự Long, làm tỉnh trưởng 3 năm tại Đà Lạt, thiếu tá Lê Xuân Phong kể là đi tù có gặp ông ta, sau đó ông ta chết trong trại cải tạo.
Nay xin kể về ông Nguyễn Hợp Đoàn, cảm ơn người đã giữ an ninh cho Đà Lạt suốt 5 năm trời. Thời gian ông ta làm tỉnh trưởng Tuyên Đức thì không có gì xây dựng nhiều vì tình hình chiến tranh khốc liệt. Mình chỉ biết có đường ống nước do chính phủ Tây Đức viện trợ mà ông cụ mình có thực hiện tại đường Hai Bà Trưng và Cường Để. Mình có thấy bản vẽ Đà Lạt muốn dời các bến xe ra ngay đường Nguyễn Tri Phương nhưng chưa thực hiện thì tan hàng. Được cái ngày nay Việt Cộng cũng dời bến xe ra đây theo bản vẽ của chế độ cũ. Dời bến xe để tránh xe tải nặng làm hư đường trong thành phố, dễ kiểm soát hơn là ngay ấp Ánh Sáng và sau khu nhà Đội Có.
Trong số thị trưởng Đà Lạt, có ông Đinh Văn Đệ đâu 6-12 tháng là nằm vùng của Việt Cộng. Ai buồn đời thì đọc đường dẫn của họ Đinh. Hình như nhà ông ta ở ngay cổng ra vào của tường Yersin cũ.
https://hodinh.vn/tin-tuc-nha-tinh-bao-dinh-van-de-nguoi-co-cong-lon-voi-dat-nuoc-352.html
AI cho tin tức về U4
Đinh Văn Đệ (1924–2020), còn gọi là Ba Đệ, là một điệp viên chiến lược mang bí danh U4 của lực lượng cách mạng, từng giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ viện trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa.
Thân thế và quá trình hoạt động nằm vùng
- Bí danh và tổ chức: Ông hoạt động với bí danh U4, thuộc Cụm điệp báo VĐ2 của lực lượng tình báo miền Nam.
- Chức vụ nắm giữ: Ông từng làm dân biểu Hạ nghị viện, Phó Chủ tịch Hạ viện và Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ viện Việt Nam Cộng hòa.
- Cơ duyên giác ngộ: Từ năm 1969, qua sự vận động và tác động của hoàn cảnh lịch sử (như sự kiện Mậu Thân 1968) cùng người em trai là sĩ quan tình báo Đinh Văn Huệ, ông chính thức nhận lời làm điệp viên nằm vùng.
- Nhiệm vụ tình báo: Nhờ vị thế chính trị cao cấp và mối quan hệ thân thiết với các tướng lĩnh như Tổng trưởng Quốc phòng Cao Văn Viên, ông dễ dàng ra vào Bộ Tổng tham mưu để thu thập và chuyển giao nhiều tài liệu, tin tức chiến lược quan trọng về phía cách mạng.
Sự kiện tháng 3 năm 1975
- Chuyến đi Mỹ: Vào tháng 3 năm 1975, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Cộng hòa sang Mỹ vận động viện trợ khẩn cấp.
- Bài diễn thuyết: Ông đã có bài phát biểu trước Quốc hội Mỹ phản ánh tình hình suy sụp và rối ren của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ.
- Báo cáo về chiến khu: Toàn bộ thái độ thờ ơ của phía Mỹ và thông tin thực tế từ chuyến đi đã được ông cấp tốc báo về tổng hành dinh, giúp cấp trên đẩy nhanh kế hoạch giải phóng miền Nam.
Giai đoạn sau năm 1975
- Sau ngày đất nước thống nhất, thân phận điệp viên U4 của ông mới dần được hé lộ.
- Ông tiếp tục làm việc tại cơ quan lãnh đạo của Thành phố Hồ Chí Minh và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
- Tìm hiểu chi tiết về hoạt động của nhân vật này qua bài viết trên U4 – điệp viên cộng sản làm 'quan lớn' trong Nghị viện VNCH.
Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen
Nguyễn Hoàng Sơn




