Hiển thị các bài đăng có nhãn Bè bạn. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bè bạn. Hiển thị tất cả bài đăng

Cầu Quẹo Đà Lạt xưa

 Cầu Quẹo xưa


Hôm kia thấy cô nào gốc Đà Lạt xưa, tải tấm ảnh nhà của cô ta ở Ngã Ba Chùa khiến mình thật kinh vì mấy tấm ảnh này kéo mình về ký ức xưa của Đà Lạt. Khúc này có vài người học chung với mình khi xưa ở Yersin. Như Phong Hạnh, nhà cây xăng Esso, nhà thuốc sâu Bích Châu, nhà Hồng Đức, … mình học chung với Nguyễn Văn Khoa, nhà trên số 4, hay cúp cua đi đá banh với mình ở sân Cô Giang, bố mẹ cho thuê tiệm bánh Bảo Hiên Rồng Vàng, chuyên bán bánh bánh xu-xê hay phu-thê cho dân đi hỏi vợ. Mình được ăn bánh của tiệm này một lần khi bà dì mình có người đi hỏi. Mình xin phép tác giả, con của tiệm Vinaco đăng lại mấy tấm ảnh này.

Đường Phan đình Phùng trước 75, chụp chỗ cây xăng Esso. Bên trái thấy tiệm Vinaco, sửa xe Lambretta. Chỗ cột điện là cái cầu mà khi xưa lúc chưa làm bằng xi-măng, người ta gọi là Cầu quẹo. Lý do là chỗ khu chợ Cây, có con đường lên chợ là đường Duy Tân, thời tây gọi là Maréchal Foch, chạy từ bùng binh Hải Thượng, chạy lên khu Hoà BÌnh. Dạo ấy đường Duy Tân chỉ một chiều như đường Minh Mạng, Tăng Bạt Hổ, còn chạy xuống khu người Việt thì bằng đường Minh Mạng, Tăng Bạt Hổ, còn đi xa thì đường Hàm Nghi rồi đến Ngã Ba Chùa thì quẹo lại. Có lẻ từ đó dân gian Đà Lạt xưa gọi là Cầu Quẹo. Còn đường Phan Đình Phùng là đường Cầu Quẹo. Lâu rồi, ông thần nào ở khu vực này có kiểm chứng dùm mình có mấy ống cống to đùng nằm ở dưới cầu.. Có một chị kể là có lần nói chuyện với một bà lão dân Đà Lạt, bà ta kêu đường Cầu QUẸO KHIẾN CHỊ TA KÊU BÀ NÀy LỘN XỘN ĐẦU ÓC ĐẾN KHI ĐỌC Mực Tím Sơn Đen thì mới thấy chị ta nghĩ sai cho bà lão Đà Lạt xưa.
Đường Duy Tân khi xưa, chỉ có một chiều đi lên và đi xuống là đường Tăng Bạt Hổ hay Minh Mạng. Còn chạy một vòng thì phải đi về Hàm Nghi rồi quay lại hay quẹo lại.


Hôm trước mình có tải một bài về ty thông tin Đà Lạt khi xưa bị đập phá để xây cầu thang nối Khu Hoà Bình với chợ Đà Lạt lầu 2. Trước đó khi có chợ Cây thì họ có “Phòng Thông Tin” ở khu Chợ Cây, sau bị cháy nên họ cho xây Chợ Cũ và ty thông tin. 2 ông tây này mình có truy ra tên tuổi và có kể trên bờ lốc.

Sau Mậu Thân, nhà Khoa trên Số 4 banh ta lông nên dọn về ngã ba chùa, ở lầu trên còn phía dưới vẫn cho Bảo Hiên Rồng Vàng thuê. Phan thị Thu Thuỷ, người em tên Tuấn, ở bên cạnh Bảo Hiên Rồng Vàng còn đối diện có tên Cường thì phải, khi xưa hay chạy chiếc xe Honda Monkey. Nhà ngay góc đường mòn băng qua vườn ông Ba Đà đến đường Hai Bà Trưng. Hôm trước có một chị lộn Phan thị Thu Thuỷ học Yersin và Phan thị Bích Thuỷ học Văn Học. Cũng ở gần đây.

Nhìn qua đường Phan Đình Phùng thì thấy tiệm bán thuốc sâu Bích Châu, có con học Yersin, thấy 1 chút tiệm Bảo HIên Rồng Vàng
Hình này thì thấy mấy thùng gỗ đựng rau cải cho lính mỹ, chất đầy chỗ vạc đất này bên phải khiến mình nhớ đến thời đi đóng thùng gỗ ở nhà ông Lào ở xóm Địa Dư. Nay muốn gặp lại để hỏi chuyện ngày xưa nhưng đều đi tây hết.

Còn học Văn Học thì có Nguyễn Đắc Hớn, nhà bán phân bón cạnh tiệm Vinaco mà ông cụ mình hay mua ở đây khi nhà có vườn trong Suối Tía. Hồ Thanh Hải, có anh Hồ Thanh Hỷ học chung với mình hồi nhỏ ở Yersin. Hình như gia đình hai anh em này, trước khi dọn qua đường Phan Đình Phùng, ở dốc từ đường Thi Sách lên Calmette, cạnh nhà ông bà ấm Thảo. Cao Minh Đức còn bà 10 Võ có tiệm thuốc Tây ngay ngã ba chùa , Nguyễn Lương Đô…. Còn học Thái Cực Đạo có Dũng Lasan. Người to đùng, rất dễ thương, hiền lành dù rất giỏi võ.


Nhớ có ông cán sự ty công chánh, dấu tên, chạy chiếc công xa ở khu vực này, lớ quớ sao cán một thằng bé chết tươi. Để cứu ông ta khỏi ngồi tù, cấp trên kêu ông ta đi công tác tuy là ngày chủ nhật. Tuy phải đền cho gia đình thằng bé.

Hình chụp từ trong tiệm ra nên bị chói, thấy trạm giảm điện thế cạnh trạm cây xăng Esso. Xa xa trên dốc Hàm Nghi, có mấy nhà thuộc cư xá công chức. Sau Mậu Thân họ có đập vài căn để làm hợp tác xã rau cải Đà Lạt, rồi từ từ làm đồn Nhân Dân Tự vệ. Trong một hai cái nhà phiá sau trụ điện giảm thế là nhà xay bột. Lâu lâu nhà mình đổ bánh căn hay bánh xèo thì hay đem gạo đến đây chiều trước thì hôm sau, ghé lại lấy. Mình gửi mấy tấm ảnh cho chị bạn ở cạnh Bảo Hiên Rồng Vàng thì được tin nhắn như sau: “Hai ông bà Vinaco rất hiền lành, con của ông bà lúc đó còn nhỏ mình không còn nhớ.”


Khúc này có chiếc cầu mà người Đà Lạt xưa hay gọi Cầu Quẹo và đường Phan Đình Phùng trước 75 là đường cầu quẹo. Thời tây thì họ gọi đường này là Rue des Jardins. Mình nhớ mại mại chỗ này có con suối nên ty công chánh có làm một cái cầu. Họ đặt mấy ống cống to đùng ở dưới rồi bỏ đất đá trên rồi cán nhựa đường để nước trên cao từ ấp Mỹ Lộc, chùa Linh Sơn , dốc Hàm Nghi chảy xuống, thoát qua đường chảy đến con suối từ Mả Thánh chảy về suối Cam -Ly. Trước thời ông Diệm, cầu làm gỗ như cầu Bá Hộ Chúc sau đó thời ông Diệm thì bắt đầu làm Cầu bằng xi-măng cốt sắt. Dạo đó mình học vườn trẻ Ấu Việt nên ngày ngày đi ngang cầu Bá Hộ Chúc. 


Ngay ngã ba có cây xăng Esso mà người Đà Lạt hay gọi cây xăng ngã ba chùa. 

Đây hình của anh Thi Đà Lạt gửi cho mình, xin phép đăng lên đây để cho người Đà Lạt xưa tìm lại chút hình ảnh xưa. Đám tang ông nội anh ta, đám tang đi từ Suối Cát Nam thiên đến Mả thánh, đây là chỗ Ngã Ba Chùa, cây xăng Esso, (cây xăng Ngã Ba Chùa) có trạm điện giảm thế bên cạnh, phía sau thấy dãy nhà của bà Mười Võ. Mình có kể rồi trên bờ lốc
Thấy cái dốc Hàm Nghi chạy xuống rồi chia ra làm 3, có cái tam giác là trạm biến điện và cây xăng. Thấy dãy nhà của bà Mười Võ, mẹ của Cao Minh Đức học 12 A trường Văn Học xưa. Sau đó có thấy sơ sơ trường của mấy bà sơ Trinh Vương
Đường Cầu Quẹo (Phan Đình Phùng) thấy tiệm Đức Lợi, khúc này gần chỗ tiệm của ông bà Sơn Hà, bán gạo, nhớ bên cạnh có tiệm trại hòm. Phía xa thấy trên đồi Hàm Nghi, nhà thờ Tin Lành

Cuốn vỡ của Hồ Thanh Hy, học chung với mình ở Yersin. Sau này nghe anh ta kể là thầy dạy cô em mình. Nay ở San Diego. (Còn tiếp)


Khi nào rảnh thì kể tiếp. Nhìn hình ảnh về Đà Lạt nhiều quá nên hoa cả mắt. Có mấy tấm ở đường này nhiều lắm mà mệt mắt nhìn.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nah 

Đi tìm một nữa của mình

 Đi tìm một nữa của mình

Khi xưa, đọc truyện tiểu thuyết bà Tùng Long, thấy bà này hay nói đến đi tìm một nữa của mình nên chả hiểu gì cả. Đến khi qua pháp thì đọc thêm về các huyền thoại hy-lạp thì mới thất kinh. Đa số các huyền thoại hy-lạp đều là đề tài của nền văn mình tây phương như người Việt mình hay nhắc đến sự tích 100 cái trứng.


Tò mò mình kiếm sách như Illiad, Ulyssus qua lời kể của Homer, hay Symposium (Bữa tiệc) của Plato (Platon) qua lời kể của nhà hài kịch Aristophanes… đọc để khi nói chuyện với người Pháp thì còn hiểu được, chớ khi họ nói ví von về những huyền thoại hy-lạp hay những gì trong thánh kinh mà đực ra như ngỗng ị thì mất mặt người Việt tỵ nạn. Có lần trong khi nói chuyện với đầm, chả hiểu sao mình nhớ đến cuốn “ Horace” của Pierre Corneille mà khi xưa ông tây bắt học như học sinh trường Việt, học Kim Vân Kiều khiến mình Chán Mớ Đời. Buồn đời mình kêu “mon coeur est romain, hélas! Je suis Sabin” cho nó vần”ain” và “in”. Thật ra trong cuốn Horace thì bà vợ người Sabine, kêu “Je suis romaine, hélas ! puisque mon époux l'est” nhưng mình chế thêm khiến tây đầm kêu hay hay hay.


Theo huyền thoại của hy-lạp thì thời xa xưa, con người vốn không phải như hiện nay. Ban đầu có ba loại người:

  • Nam – Nam (sinh từ Mặt Trời) không biết có phải khi xưa đã có đồng tính, vì khi ở Pháp, người Pháp hay nói đến người huy-lạp có rất nhiều người đồng tính 
  • Nữ – Nữ (sinh từ Đất), lesbian? Phụ nữ yêu phụ nữ
  • Nam – Nữ (sinh từ Mặt Trăng) tức là người lưỡng tính

Mỗi người có hình dạng tròn, có 4 tay, 4 chân, 1 đầu với 2 mặt, Có 2 bộ phận sinh dục và di chuyển bằng cách lăn. Mình không hiểu vì đã có 4 chân nhưng có lẻ hai chân đi tới và 2 chân đi ngược, nên phải lăn. Họ rất mạnh mẽ, kiêu ngạo và dám tấn công các vị thần trên đỉnh Olympus. Vì quá mạnh và kiêu ngạo, loài người dám tấn công cả các vị thần trên đỉnh Olympus. Thần Zeus lo sợ, bèn họp hội đồng thần linh để bàn cách xử lý. Cuối cùng Zeus quyết định:“Ta sẽ chẻ chúng ra làm đôi. Như vậy chúng sẽ yếu đi một nửa, mà số lượng lại tăng gấp đôi, nên sẽ có nhiều lễ vật dâng lên ta hơn.” Zeus dùng sét chẻ đôi từng người. Sau đó ông bảo thần Apollo:

  • Xoay mặt của mỗi nửa về phía trước (về phía vết cắt), có lẻ vì vậy mà phía trước thường phẳng lì, không hiểu sao phụ nữ lại có hai quả dưa phì ra. Không thấy họ nói đến.
  • Kéo da lại và khâu ở giữa bụng (tạo thành cái rốn)
  • Nếu chúng vẫn còn ngang ngược, Zeus sẽ chẻ tiếp lần nữa, để chúng phải nhảy lò cò bằng một chân như độc cước đại hiệp.

Từ đó, mỗi nửa con người luôn khao khát tìm lại nửa còn lại của mình như thuận vợ thuận chồng tát biển đông cũng cạn. Khi tìm được, họ ôm lấy nhau rất chặt, muốn hòa làm một như thuở ban đầu, thậm chí sẵn sàng chết vì nhau nếu không được ở bên như Juliette và Romeo.


Aristophanes giải thích: người thuộc giống Nam ban đầu sẽ tìm đàn ông (tình yêu đồng giới nam), người thuộc giống Nữ ban đầu sẽ tìm phụ nữ (tình yêu đồng giới nữ), người thuộc giống lưỡng tính sẽ tìm người khác giới (tình yêu dị tính). Đó chính là nguồn gốc sâu xa của tình yêu và khát vọng “một nửa của mình”. Mình thấy nhiều người quen, trên 7 bó, lỡ lần đò mà ngày nay vẫn đi kiếm một nữa của mình. Nghe họ kể là lái xe đường quốc lộ số 1, dọc bờ biển đến 1, 2 giờ sáng, nghe nhạc tây. Mình tưởng là về già thì chắc chả muốn đi tìm ai nữa. Hoá ra người ta vẫn cô đơn, cần sự hiện diện của một người bạn để đối ẩm, trò chuyện hay nhiều khi chả cần nói năng gì cả, chỉ cần sự hiện diện của một người tâm giao bên cạnh, đủ thấy bình yên.


Aristophanes không chỉ kể chuyện để giải trí. Ông muốn nói rằng: Tình yêu thực chất là nỗi nhớ về sự hoàn chỉnh đã mất. Mình chưa thấy phụ nữ nào, không bắt ông chồng làm theo ý mình, để hoàn chỉnh họ, giúp đời họ tốt hơn. Con người vốn dĩ không phải là cá thể độc lập hoàn toàn, mà luôn mang trong mình khát vọng trở về trạng thái “một thể”. Nếu không sẽ bắt chước Tuấn Vũ hát “người yêu cô đơn”, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng có thai, yêu ai cũng có bầu,..


Từ đó, mỗi nửa con người luôn khao khát tìm lại nửa còn lại của mình. Khi tìm được, họ ôm lấy nhau không rời, muốn hòa làm một như thuở ban đầu. Đó chính là nguồn gốc của tình yêu và khát vọng “đi tìm một nửa của mình”. Huyền thoại này giải thích tại sao con người luôn cảm thấy thiếu vắng và muốn tìm kiếm người “định mệnh”. Nó cũng là nguồn gốc của khái niệm soulmate (bạn tâm giao / một nửa linh hồn) trong văn hóa phương Tây. Nôm na là khao khát một mối tình hữu nghị, sông liền sông, núi liền núi.


Nếu có thể viết lại huyền thoại của hy-lạp, mình sẽ nói con người khi xưa, không nhất quán với chính mình vì hai nữa của mình cứ chống chọi với nhau suốt 24 tiếng mỗi ngày nên phải bò đến thần Zeus nhờ chẻ làm đôi, tách ra. Họ sẽ đi tìm người bạn tâm giao sau này nhưng một khi không hợp nhau nữa thì sẽ ly dị.


Đi tìm một nữa, có thể là một người con trai, đồng tính, hay một người con gái (lesbian) hay người khác giới tính như khi xưa người lưỡng tính. Thời đó, Plato chưa nghĩ đến chuyện ly dị, có lẻ khi xưa, lấy nhau là họ ăn đời ở kiếp còn ngày nay thì vui thì ở, buồn thì đi.


Họ đã tìm thấy đúng nửa còn lại của mình. Họ yêu nhau sâu sắc và không muốn rời xa nhưng dù có ở bên nhau cả đời, họ vẫn mãi mãi là hai cơ thể riêng biệt. Họ không bao giờ có thể thực sự “hòa làm một” như thuở nguyên thủy nữa. Nếu họ hoà hợp được, ít khắc khẩu, có cùng một chủ đích trong tương lai thì sẽ ăn nên làm ra, còn không thì lụn bại, mất hết tiền bạc, và đưa nhau ra toà, ly dị, hát bài nghìn trùng xa cách.


Chính vì vậy, tình yêu vừa là niềm hạnh phúc lớn nhất, vừa là nỗi day dứt không bao giờ nguôi. Nó là khát vọng về sự toàn vẹn đã mất, một khát vọng mà con người sẽ mang theo đến hơi thở cuối cùng. Đây chính là lý do Aristophanes cho rằng tình yêu không chỉ là chuyện cảm xúc hay dục vọng, mà là nỗi nhớ về chính bản thân mình đã bị chia cắt. Nôm na như ngày này, là ký ức ngày xưa và hiện tại. Chúng ta luôn luôn có những hoài niệm về miền quá khứ, để so sánh với hiện tại. Nổi ray rức ấy sẽ đi với chúng ta hết suốt cuộc đời.


Lấy vợ được 35 năm thì mình thấy đi tìm phần nữa của mình thì hơi ba-láp, ba-sàm. Phải định nghĩa lại là đàn ông ngu, đi tìm người để mình xung phong làm ô-sin, làm người chồng nhân-dân. Chán Mớ Đời


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Chuyện ngày xưa xa

 Chuyện ngày xưa xa


Mình hay vào trang của nhóm Đông-Dương cũ, để đọc bài hay xem tài liệu về chiến tranh Tây-Việt, và những gì xảy ra vào thời đó, để có thể hiểu thêm về cuộc đời của song thân. Ông cụ thì chống Việt Minh, còn bà cụ thì theo Việt Minh, bị tây bắt bỏ tù còn ông cụ thì Việt Cộng bỏ tù 15 năm tình cũ. Mấy người tham gia nhóm này đa số là người Pháp, có người gốc Việt. Họ không muốn tranh cãi ai thua hay ai thắng, thực dân hay bốc lột. Họ chỉ muốn tìm hiểu về cha ông của họ, vì tuổi thanh xuân đã sang Việt Nam, đi lính hay làm công chức, rồi có người gục ngã trên chiến trường. Tương tự người Việt đi bộ đội vào Nam với danh nghĩa giải phóng miền Nam, còn người miền Nam thì đi quân dịch với danh nghĩa bảo vệ thế giới tự do. Họ có mấy tấm ảnh của bố, ông nội, ông cố khi xưa ở Việt Nam, đăng lên để hy vọng có ai đó khi xưa, cũng ở chung đại đội, có chút gì tin tức về tổ tiên của họ.

Cha nằm trên giường bệnh, không nhớ sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà nào đã đến thăm

Vì lý do đó mà mình phải làm gia phả của gia đình bên nội rồi bên ngoại để sau này con cháu có thể tìm lại để đọc. Hôm trước có cô cháu bên bên vợ đưa cho một bản sao gia phả bên ngoại, mới khám phá ra, đồng chí gái thuộc hệ thứ 7 của vua Gia Long. Kinh. Mình sẽ nhờ người ở Việt Nam chuyên viết lại gia phả để ông ta biên tập lại, rồi gom vào gia phả bên ông cụ mình.


Những ai quan tâm đến lịch sử Đông Dương đều biết vai trò của các giáo sĩ thừa sai, đến Đông-Dương để truyền đạo. Do đó có nhiều người lên án nhà thờ thiên chúa giáo đã làm nền tảng cho cuộc xâm chiếm Đông-Dương của đế quốc Pháp. Hồi nhỏ học lịch sử cận đại của Việt Nam rồi các phong trào Cần Vương, sau đó đến của kháng chiến chống Pháp đưa đến người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Người Việt thắng Pháp, dàng lại độc lập nhưng tại sao lại đất nước bị chia đôi.


Đó là câu hỏi mình đặt ra khi học sử Việt Nam cận đại khi xưa. Sau này ra hải ngoại đọc sách báo ngoại quốc thì mới hiểu Việt Nam chỉ là một nước nhỏ, các đảng phái đều bị chi phối bởi ngoại quốc. Như ngoại trưởng Trần Văn Đổ kể là khi hiệp định Geneve sau chiến thắng Điện Biên Phủ, người Việt chết như rạ nhưng các cường quốc tự động chia ra làm 2. người Việt chết cho cuộc kháng chiến chống pháp, là công cụ cho cường quốc. Tóm lại là cuộc chiến uỷ nhiệm và người Việt hăng hái nhân danh chi đó để đánh nhau, bỏ tù nhau rồi lại đi xin viện trợ, xin bỏ lệnh cấm vận này nọ. Và khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận thì Việt Nam mới khá như ngày nay.


Trong các giáo sĩ tây phương phải nói đến một người, đã mang tính quyết định của Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) trong sự hình thành của đất nước Việt Nam hiện đại. Nhớ ngày xưa, học sử Việt Nam cận đại, đều nhắc đến ông cha này. Tuy nhiên, dù ảnh hưởng của vị Giám mục Adran là vô cùng to lớn, vẫn còn nhiều nhà truyền giáo khác, ít được biết đến hơn, nhưng cũng để lại dấu ấn sâu sắc đối với đời sống của người dân bản địa. Một trong số đó là Đức cha Jean Cassaigne, nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris).

Làng người phong tại Di-Linh do cha thành lập để cứu chữa họ rồi sau đó cha cũng bị lây bệnh.

Cha Jean Cassaigne sinh ngày 30 tháng 1 năm 1895 tại thị trấn Grenade-sur-l’Adour, thuộc vùng Landes của nước Pháp. Ông mồ côi mẹ từ khi còn rất nhỏ. Cha ông gửi ông sang Tây Ban Nha tiếp tục việc học tại một trường của Dòng Sư huynh các Trường Kitô giáo, gần thành phố Saint-Sébastien, vùng Basque, phía bắc của Tây Ban Nha, gần dãy núi Pyrénées ngăn hai nước pháp và Tây Ban Nha. Điểm vui là phiá bên pháp cũng có một vùng được gọi là Basques. Cũng đòi tự trị này nọ như bên Tây Ban Nha, do Liên Sô giật dây khi xưa. Sau này Liên Sô tan rã thì cũng mất luôn phong trào này cũng như ở đảo Corse.


Sau khi trở về Pháp năm 1912, cha Jean Cassaigne bày tỏ nguyện vọng trở thành một nhà truyền giáo. Nhưng đến năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Ông được động viên vào trung đoàn Bộ binh số 6, phục vụ với vai trò y tá quân đội và liên lạc viên. Trung đoàn của ông tham gia nhiều trận đánh khốc liệt nhất của cuộc chiến, từ trận sông Marne, trận Verdun, đặc biệt là tại Đồi 304 (Côte 304), cho đến các chiến dịch tại vùng Ailette. Cuộc chiến này tàn khốc, giết không biết bao nhiêu người từ hai bên.


Có lẽ chỉ khi hình dung được mức độ khốc liệt của chiến trường Verdun, người ta mới hiểu hết lòng dũng cảm cần có để làm nhiệm vụ liên lạc hay cáng thương trên Đồi 304. Ngọn đồi này khống chế toàn bộ thung lũng Esnes ở phía nam cùng các làng Malancourt và Haucourt ở phía bắc. Quan trọng hơn, đây là vị trí chiến lược nhằm yểm trợ cho các trận đánh tại Mort-Homme.




Quân Đức liên tục tìm mọi cách chiếm lấy ngọn đồi, nã pháo không ngừng nghỉ rồi mở hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác. Quân Pháp vẫn giữ được vị trí ấy, nhưng phải trả giá bằng khoảng 10,000 sinh mạng chỉ trong 300 ngày giao tranh liên tiếp. Ở vùng Triéste, Ý Đại Lợi, vào thời gian này có đến trên 500,000 người trẻ chết trận. Năm kia mình có ghé sang thành phố này nhưng trời tối nên không đi viếng nghiã trang này. Kinh hoàng.


Sau khi xuất ngũ năm 1919, ông Jean Cassaigne gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris vào năm sau. Ngày 19 tháng 12 năm 1925, ông được thụ phong chức linh mục. Ngày 6 tháng 4 năm 1926, ông xuống tàu lên đường sang Đông Dương. Điểm đến đầu tiên của ông là Cái Mơn, một cộng đồng Công giáo lớn thuộc tỉnh Bến Tre, nơi ông dành một năm để học tiếng Việt.


Sau một năm sống tại đồng bằng sông Cửu Long, Đức cha Dumortier cử ông lên Di Linh để thành lập một giáo điểm giữa đồng bào dân tộc Ko Ho. Khi ấy, vùng đất này hầu như chưa có người Việt sinh sống, nên ông lại phải học thêm tiếng của người bản địa. Ông đã biên soạn nhiều công trình ngôn ngữ học có giá trị, trong đó có:

  • Cẩm nang và hội thoại thông dụng bằng tiếng Mọi (Koho và Phau Sore) dành cho các chủ đồn điền, thợ săn và người nghỉ dưỡng (khu vực Djiring – Đà Lạt). Mấy từ Đà Lạt, Blao, Djiring,…đều do các giáo sĩ phiên âm từ người sở tại.
  • Từ điển tiếng Koho của tỉnh Thượng Đồng Nai, cho đến ngày nay vẫn được xem là một tài liệu tham khảo quan trọng.

Có anh bạn kể khi xưa, đi dạy ở vùng kinh tế mới cạnh Đà Lạt, phải học tiếng của người CHu-Ru, may là người Mỹ khi xưa, đến vùng này giảng đạo Tin lành nên họ có nghiên cứu ngôn ngữ chu-ru giúp anh ta học nhanh. Mình có ghé lại một giáo xứ gần Đà Lạt, có gặp mấy em người Chủ-Ru, nói tiếng Việt bằng giọng bắc vì thầy cô đều từ ngoài bắc vào dạy.


Tại vùng cao nguyên Di Linh, cha Jean Cassaigne sớm chứng kiến cảnh nghèo đói cùng cực của đồng bào các dân tộc thiểu số, bị đẩy ra khỏi môi trường sinh sống truyền thống, mất đi nguồn sống từ rừng núi, nhiều người rơi vào cảnh suy dinh dưỡng lâu dài và vì thế rất dễ mắc bệnh tật. Trong số họ, đáng thương nhất là những người mắc bệnh phong (cùi, hủi). Họ bị chính gia đình ruồng bỏ, bị cộng đồng xa lánh và bị bỏ mặc trong rừng sâu, sống cô độc chờ cái chết. Cảnh tượng ấy khiến cha Jean Cassaigne vô cùng xúc động.


Cha quyết định hiến trọn cuộc đời mình để chăm sóc những con người bất hạnh nhất ấy. Cùng với một số cộng sự, ông thành lập làng Kala, gần Djiring (Di Linh). Ngôi làng gồm những căn nhà sàn được xây dựng theo đúng kiến trúc truyền thống của người bản địa. Cha đặt tên cho nơi ấy là “Thành phố Niềm Vui” (Cité de la Joie). Từng bước một, cha đưa những người phong từ trong rừng về sinh sống tại Kala, coi họ như chính con cái của mình. Cha cho họ ăn, chữa bệnh cho họ, chăm sóc từng vết thương và quan trọng hơn cả là trả lại cho họ phẩm giá của những con người vốn đã bị cả xã hội lãng quên.


Ngay từ năm 1929, trại phong đã chăm sóc khoảng một trăm bệnh nhân, một con số rất lớn vào thời điểm ấy. Với sự trợ giúp của Các Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô (Filles de la Charité de Saint-Vincent-de-Paul), cha Jean Cassaigne tiếp tục công việc đầy nhân ái này suốt hơn mười năm.


Đến năm 1941, cuộc đời cha bước sang một chương mới. Đức Giáo hoàng Piô XII bổ nhiệm ông làm Giám mục và Đại diện Tông tòa Sài Gòn. Ngày 24 tháng 6 năm 1941, đúng lễ kính Thánh Gioan Tẩy Giả, ông được tấn phong giám mục.v Hơn ba nghìn người đã đến tham dự thánh lễ tấn phong tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Đặc biệt xúc động là sự hiện diện của một đoàn đông đảo người Ko Ho từ Djiring.


Trong trang phục truyền thống của dân tộc mình, họ vượt hàng trăm kilômét để về Sài Gòn tham dự buổi lễ, đại diện cho cộng đoàn Kitô hữu mà chính cha Jean Cassaigne đã gây dựng giữa núi rừng Tây Nguyên. Đó không chỉ là một nghi lễ tôn giáo, mà còn là lời tri ân của những con người từng bị lãng quên dành cho vị mục tử đã đem lại cho họ niềm hy vọng và một cuộc sống mới.


Ngày 10 tháng 3 năm 1945, ngay sau cuộc đảo chính của Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương, quân đội Nhật nhanh chóng nắm quyền kiểm soát toàn bộ bộ máy hành chính của Liên bang Đông Dương và bắt giữ hầu hết các viên chức dân sự cũng như các sĩ quan quân đội Pháp.


Một nhân chứng của thời kỳ ấy là ông Jean Orsini, khi đó còn là một sĩ quan trẻ, sau này trở thành trung tá, đã để lại những ghi chép đặc biệt quý giá. Ông kể lại: “Đức cha Cassaigne cho tôi biết rằng hôm trước ngài vừa tiếp Đại tá Amano…” Qua lời chứng này, có thể thấy chính quyền quân sự Nhật đã muốn giao cho Đức cha Jean Cassaigne đứng ra điều hành Nam Kỳ (Cochinchine) sau khi toàn bộ giới chức Pháp bị bắt giữ.


Đó là một đề nghị đầy quyền lực nhưng Đức cha Cassaigne đã từ chối. Ngài không chấp nhận đảm nhận bất kỳ vai trò chính trị nào. Đối với ngài, sứ mạng của một giám mục là phục vụ con người, chứ không phải cai trị họ. Tuy nhiên, ông Jean Orsini đã thuyết phục ngài nhận lời thành lập một tổ chức hoàn toàn mang tính nhân đạo, với mục đích duy nhất là cứu trợ cộng đồng người Pháp đang lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn tại Sài Gòn.


Từ đó ra đời Ủy ban tương trợ Pháp tại Sài Gòn (Comité français d’entraide de Saïgon). Trên thực tế, tổ chức này nhanh chóng trở thành cơ quan duy nhất của người Pháp vẫn còn được chính quyền Nhật cho phép hoạt động. Ủy ban đảm nhận rất nhiều công việc: phân phát lương thực và hàng cứu trợ; hỗ trợ các gia đình gặp khó khăn; giải quyết nhiều thủ tục hành chính và trong một số trường hợp, còn đảm nhiệm cả công tác hộ tịch.


Vì vậy, mặc dù chưa bao giờ mong muốn, Đức cha Jean Cassaigne trên thực tế đã trở thành người đứng đầu cộng đồng người Pháp tại Sài Gòn trong những tháng cuối của thời kỳ Nhật chiếm đóng. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc và nước Pháp được giải phóng, hoàn cảnh ấy lại khiến ngài rơi vào vòng điều tra vì mang tội pháp gian, tiếp tay với kẻ thù. Ngài bị đưa ra trước các cơ quan thanh tra trong phong trào “thanh lọc sau chiến tranh” (épuration) với cáo buộc cấu kết với kẻ thù. Tỏng thời gian đệ nhị thế chiến, Đông-Dương được chính quyền Vichy, do thống chế Pétain điều hành, bổ nhiệm ông Jean Decoux làm toàn quyền Đông-Dương.


Nhưng cuộc điều tra nhanh chóng chứng minh một sự thật hoàn toàn khác. Mọi hành động của Đức cha Cassaigne đều chỉ nhằm bảo vệ thường dân Pháp, cứu giúp những người đang lâm cảnh khốn cùng trong thời kỳ hỗn loạn. Ngài chưa bao giờ cộng tác với quân đội Nhật vì mục đích chính trị hay quân sự. Do đó, tất cả các cáo buộc đều bị bác bỏ.


Không những được tuyên bố vô tội, công lao của ngài còn được chính thức ghi nhận. Chính phủ Pháp đã trao tặng ngài Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) để tôn vinh những đóng góp đặc biệt ấy. Điều đáng chú ý là, trong suốt biến cố lịch sử đầy sóng gió đó, cha Jean Cassaigne vẫn giữ nguyên một lập trường: cha không đứng về phía một chính quyền nào, chỉ đứng về phía những con người đang cần được cứu giúp.


Vài năm sau khi được minh oan và tiếp tục sứ vụ Giám mục Sài Gòn, một biến cố lớn xảy đến với chính cuộc đời Đức cha Jean Cassaigne. Ngài mắc bệnh phong. Chính căn bệnh mà suốt mấy chục năm ngài đã tận tụy chữa trị cho biết bao người, nay lại đến với bản thân mình. Đối với nhiều người, đó có thể là một bi kịch. Nhưng đối với cha Jean Cassaigne, đó dường như chỉ là một phần tự nhiên của con đường mà Thiên Chúa đã dành cho ngài.


Ý thức rằng bệnh tật sẽ khiến mình không còn đủ khả năng điều hành giáo phận, ngài đã trình đơn xin từ nhiệm lên Tòa Thánh. Đơn xin ấy được chấp thuận.


Năm 1955, thay vì ở lại Sài Gòn để hưởng sự chăm sóc và những điều kiện thuận lợi dành cho một vị giám mục, ngài lại đưa ra một quyết định khiến nhiều người xúc động. Ngài tự nguyện trở về Djiring (Di Linh), không phải để nghỉ hưu, không phải để dưỡng bệnh mà để sống những năm cuối đời giữa những người phong và đồng bào dân tộc mà ngài vẫn luôn coi là gia đình thực sự của mình.


Ngài trở lại Kala. Vẫn căn làng nhỏ năm xưa. Vẫn những căn nhà sàn đơn sơ. Vẫn những con người mà xã hội từng ruồng bỏ. Ở đó, ngài tiếp tục chăm sóc bệnh nhân, động viên người đau yếu, cầu nguyện với họ và chia sẻ với họ từng ngày của cuộc sống. Lần này, ngài không còn chỉ là vị linh mục hay vị giám mục đến giúp người phong. Ngài đã trở thành một người phong sống giữa những người phong. Không còn khoảng cách. Không còn sự khác biệt. Chỉ còn tình yêu thương và sự đồng cảm.


Đức cha Jean Cassaigne qua đời ngày 31 tháng 10 năm 1973, sau gần nửa thế kỷ gắn bó với vùng đất Tây Nguyên và con người Việt Nam. Theo đúng di nguyện của mình, ngài không được an táng trong một nhà thờ lớn hay một nghĩa trang dành cho các giám mục.


Ngài được chôn cất tại nghĩa trang nhỏ của trại phong Kala, giữa những con người mà ngài đã dành trọn cuộc đời để phục vụ. Điều cảm động hơn nữa là ngôi mộ ấy chính do ngài tự chuẩn bị từ trước. Nó nằm ngay cạnh mộ của người đầu tiên được ngài cải đạo, như một dấu chỉ rằng, ngay cả sau khi qua đời, ngài vẫn muốn được ở lại với những người mình yêu thương.


Trong suốt cuộc đời, Đức cha Jean Cassaigne đã được trao nhiều phần thưởng cao quý. Ngài là:

  • Sĩ quan Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) của Pháp;
  • Huân chương Chiến tranh 1914–1918 (Croix de Guerre) vì lòng dũng cảm trong Thế chiến thứ nhất;
  • Huy chương Danh dự của nền Cộng hòa Việt Nam.

Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất của ngài không phải là những tấm huân chương. Đó là tình yêu và lòng biết ơn của hàng ngàn người phong, của đồng bào Ko Ho và của biết bao người Việt Nam đã được ngài cứu giúp.


Cuộc đời của Đức cha Jean Cassaigne là minh chứng rằng lòng bác ái chân chính không phân biệt dân tộc, màu da hay địa vị. Từ chiến hào Verdun đến núi rừng Di Linh, từ Tòa Giám mục Sài Gòn đến trại phong Kala, ngài luôn chọn đứng về phía những người yếu thế nhất.


Bởi vậy, trong lịch sử Việt Nam, cha Jean Cassaigne không chỉ được nhớ đến như một vị Giám mục của Giáo hội Công giáo, mà còn như một nhà nhân đạo vĩ đại, người đã hiến trọn cuộc đời mình để mang lại hy vọng, phẩm giá và tình thương cho những con người bị lãng quên nhất.


Mình thích tìm đọc tiểu sử những người như vậy để cố gắng noi theo trên con đường hướng thiện, giúp mình bớt gian ác, không cần phải lên mạng xã hội, chửi thiên hạ này nọ, chỉ cần đóng góp một tí gì cho cộng đồng xung quanh mình là đủ. Mình gặp nhiều sơ ở các vùng núi ở gần Đà Lạt, hy sinh cuộc đời để giúp đỡ các người dân tộc thiểu số, giúp họ thuốc men….khiến mình khâm phục.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn