Showing posts with label Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Việt Nam. Show all posts

Trả hết về người

 Hôm trước, gặp ông Tám Bolsa, nghe ông ta kể mấy ông bạn thân, bị tiểu đường nên nay hết rờ vợ, xao lãng việc nộp thóc. Ngạc nhiên mình hỏi thì ông Tám Bolsa nói tiểu đường khiến đàn ông liệt dương. Tò mò mình tìm tài liệu đọc thì rút vài điều thú vị. Đàn ông bị liệt dương còn phụ nữ cũng na ná khi về già, cũng hết muốn chồng nộp thóc, chẳng bù lại thời mới cưới nhau, làm rung chuyển giường hàng đêm.

Ông Tám còn kêu mấy ông bạn già khi hội họp, đi tiểu đều nhường ông ta đi trước vì họ có vấn đề đi tè lâu.

Theo thống kê thì hơn phân nữa những ai bị tiểu đường đều có vấn đề liên đới đến thoả mãn sinh lý. Điểm may là có cách để chửa trị, ngoại trừ không muốn nhìn chồng hay mụ vợ sau bao nhiêu năm máu lửa, nội chiến từng ngày.


Theo nghiên cứu của tiểu bang Massachussetts về đàn ông lớn tuổi, đàn ông có bệnh tiểu đường thì khả năng bị bệnh liệt dương lên đến gấp 3 đàn ông bình thường. Người Mỹ gọi “erectile dysfunction (ED)”. Bệnh này đến với người đàn ông bị tiểu đường sớm hơn 10-15 năm đàn ông bình thường. Căn bệnh này có thể đưa đến những vấn đề khác cho người đàn ông như bệnh trầm cảm, thiếu tự tin, lo ngại khi hành lạc…

Về phụ nữ cũng có những vấn đề về sinh lý khi bị bệnh tiểu đường. Họ không còn hứng thú khi làm tình, sợ đau khi hành lạc, không còn cảm nhận sự khoái cảm. Ngoài ra hay bị lộn xộn ở chỗ kín, đường tiểu hay bị nhiễm trùng như urinary tract infections (UTIs),…

Lý do chính là lượng đường Glucose cao, gây ảnh hưởng đến sức khoẻ và sinh lý. Theo nghiên cứu thì chỉ số A1C (đo lượng đường lâu dài) càng cao thì vấn đề con chim đa đa không hồi phục được đành bay xa như bài hát. Nhiều khi đàn ông lo sợ dương vật không cương hoành tráng được nên bị khủng hoảng tâm lý. Ngược lại lượng A1C của phụ nữ đưa đến không thích giao hợp chưa được các nghiên cứu xác nhận. Nhưng lượng A1C càng cao thì chỉ số bị UTIs càng nhiều khiến ông chồng chỉ biết ngồi ca buồn vào hồn không tên, thức giấc nữa đêm mò vợ, nàng biểu đừng đụng tôi… lượng đường Glucose cao thì dẫn đến tình trạng đau khi giao hợp.

Đầu óc cần thoải mái mới giúp con chim đa đa hoành tráng lên được. Khi lên cân nhiều thì giảm lượng nitric oxide (NO) trong cơ thể. Loại này giúp các cơ bắp thư giản, giúp máu chảy về vùng cấm địa để giúp cương con chim đa đa. Khi béo phì thì khiến đối tượng cảm thấy ít hấp dẫn về ngoại hình.

Phụ nữ có vấn đề về hormone, làm xáo trộn về sinh lý, nhất phụ nữ béo phì. Tương tự đàn ông béo phì thì sẽ giảm testosterone, đưa đến sự giảm thèm ân ái và con chim đa đa bay xa.

Đời sống hàng ngày không được chuẩn lắm khi ăn uống không điều độ, uống rượu, hút thuốc, không tập thể dục, bị stress,… đủ thứ trong cuộc sống hiện tại dẫn đến những vấn đề sinh lý không bình thường.

Vấn nạn của bệnh liệt dương là có khả năng khiến đàn ông bị bệnh trầm cảm. Các nghiên cứu khác cũng đưa đến kết luận về phụ nữ béo phì và bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường và bệnh trầm cảm sẽ khiến chúng ta không thích gần gũi với người hôn phối, thậm chí ngủ riêng phòng. Nhiều vụ ly dị xẩy ra vì một trong người không còn thích giao cấu, gần gũi khi lên giường.


Xem truyền hình thấy quảng cáo nhiều về mấy loại thuốc trị bệnh liệt dương. Thấy ông chồng vui vẻ, bà vợ mặt sáng sủa như mặt trời cách mạng, ôm nhau đi bên nhau về ánh hoàng hôn của cuộc đời. Vấn đề là chỉ hiệu nghiệm cho độ 50% đàn ông bị bệnh tiểu đường loại 1 và loại 2. Nghe nói có máy bơm cho dương vật cường dương hay chích vào gì đó. Ngoài ra có phẫu thuật. Mình nhớ ông Larry quen, kể là có giải phẫu lâu rồi khiến con chim đa đa lúc nào cũng tung cánh chim bay về tổ ấm khiến mấy bà bạn ngạc nhiên. Ông ta không dám nói thật sợ mấy bà Chán Mớ Đời. Ông ta còn giao hợp đến năm 82 tuổi, khi bị bệnh ung thư thì nói bác sĩ cho uống thuốc gì đó khiến con chim tắt tiếng luôn. Ông ta kể được bác sĩ cho toa thuốc cường dương, một loại tương tự Viagra nhưng rẻ hơn.

Những ai có lượng ít testosterone thì nếu chữa lành vụ này sẽ giúp con chim phấn khởi hồ hởi lại. Tin mừng cho đàn ông bị bệnh tiểu đường. Có một cách trị liệu mới gọi là low-intensity shockwave therapy, dùng một chiếc đũa tạo những làn sóng âm thanh để giúp máu lưu thông đến dương vật mà tờ báo Sexual Medicine Reviews nhận xét rất hiệu nghiệm cho những ai bị bệnh tiểu đường. Bác nào đã thử rồi, cho mọi người biết. Em sẽ giữ kín danh tánh. Cảm ơn.

Ngoài ra các nhà nghiên cứu cho rằng thay đổi đời sống có thể giúp phục hồi chức năng của con chiêm đa đa như tham khảo các cố vấn về gia đình, ngưng hút thuốc, giảm cân, ngừng uống rượu hoặc chuyển đổi các loại thuốc vì có nhiều thuốc gây hiệu ứng phụ như trường hợp ông Larry, từ khi bác sĩ cho ông ta uống một loại thuốc gì để trị bệnh ung thư nơi mũi thì con chim đa đa của ông ta tan nát đời luôn.

Về phụ nữ bị tiểu đường thì bác sĩ khuyến khích giảm cân, tập thể dục, chữa trị cá nhân hay cùng với người bạn đời, dùng dầu để bớt khô hay dùng gia laser vào âm hộ để cấu tạo lại các làn da,… đừng sử dụng thuốc khiến giảm thiểu sự ham muốn sinh lý như ông Larry uống thuốc chữa bệnh ung thu. Nhất là giảm stress.

Họ khuyến khích ăn uống theo chế độ Địa Trung Hải, để giảm cân, giảm đường,… mình nhớ có xem một phim tài liệu về người Peru, ăn khoai tây đen chôn trên núi. Có ông lão trên 100 tuổi có cô vợ trẻ và có con nhỏ 10 tuổi kinh. Tháng 4 vừa rồi, leo núi Machu Pichu, mình có ăn được một lần nhưng chả thấy gì cả. Chắc leo núi cả ngày nên tối chỉ muốn ngủ để lấy lại sức. Ngược lại đi Ai Cập và Jordan vừa rồi, ăn uống theo chế độ Địa Trung Hải, thêm đi chơi không bị stress nên hay mi đồng chí gái. Chán Mớ Đời 

Người ta khuyên nên ăn uống theo chế độ Địa Trung Hải và tham gia các sinh hoạt cộng đồng để tránh bệnh trầm cảm. Quan trọng là nên nói cho bác sĩ hay nhóm y tế của mình thay vì đợi họ nêu lên vấn đề. Đây là một vấn đề tế nhị nên ít ai dám hỏi mà nếu không hỏi thì khó mà hiểu được vấn đề để giúp cuộc sống mình vui tươi hơn nhất là lao vào vùng trầm cảm.

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo giang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 





Thổ Nhĩ Kỳ #2

 “Hồi mình lấy nhau có bao giờ nghĩ đến có một ngày mình sướng như ri”. Đó là lời đồng chí gái nói khi lên xe, thăm viếng các di tích lịch sử. Đi chơi, chỉ có 2 vợ chồng, người tài xế và hướng dẫn viên, ngồi xe Van 10 chỗ ngồi, hiệu Mercedes, có máy lạnh, tủ lạnh,.. sướng quá xá nên hết Chán Mớ Đời 

Sau 30 năm khói lửa, nội chiến từng ngày, hai vợ chồng đi chơi như đi tuần trăng mật lại. Sau ngày cưới hai vợ chồng có đi tuần trăng mật nhưng mình buồn như mất sổ gạo. Lý do là 24 tiếng trước khi lên xe bông, bị sa thải. Dạo ấy kinh tế Cali te tua.

Đền nữ thần Artemis, nữ thần săn bắn mà trong phim the Hunger Game, tài tử Jennifer Lawrence được xem là ẩn dụ của nữ thần Artemis. Nữ thần này song sinh với thần Apollon nên thường có hai cái đền được xây cạnh nhau.
Những gì còn lại của đền Apollo, song sinh với nữ thần Artemis


Kỳ này đi vui, nhất là đồng chí gái đã báo tin cho công ty là nghỉ việc, hưu trí sớm, mua obamacare vì chưa đủ tuổi có medicare. Đi chơi đồng chí gái không bị vướng bận công ăn việc nên đầu óc tươi tỉnh, ăn được ngủ được nên hơi tròn tròn. Chán Mớ Đời 


Mình nói bớt ăn đường và tinh bột nhưng cô nàng ăn ngày chưa đủ tranh thủ ăn đêm. Rồi đi viếng các cửa hàng. Mình rất ngạc nhiên là vẫn kiên trì, ngồi đợi đồng chí gái dưới cái nắng kinh hồn, tuy đỡ hơn Dubai. 30 năm đồng chí gái đã cải tạo được mình, dạy cho mình cái tính kiên nhẫn. Mình thích viếng thăm các di tích lịch sử còn cô nàng thì mấy cửa hàng, nhất là hàng nhái. Đúng hơn là cái nào cũng nhái hết. Kêu mua cái này rẻ, đeo chưa được 1 tiếng đã rớt, phải đợi về Cali, ra Phước Lộc Thọ sửa lại nhưng vẫn thích đồ dổm. Chán Mớ Đời 


Đi Dubai thì mình không thích thức ăn lắm vì đã mỹ hoá hoàn toàn, không khác gì ở Cali. Có thể công ty du lịch từ Việt Nam, rút kinh nghiệm, du khách từ Việt Nam thích ăn đồ á đông nên chở đến các tiệm ăn lai Thái, lai đại hàn và tàu hay thức ăn mỹ tây.

Meze món ăn khai vị của họ rất độc đáo. Mới ngồi xuống bàn là họ đem bánh mì phồng to lên ra với mấy món meze để ăn trong khi chờ đợi món chính. Ăn chơi ngon hơn ăn thiệt
Món này được xem là món Kebab của họ, vừa thịt gà vừa thịt bò và thịt cừu. Có món cà tím độn thịt của họ khá ngon. Lúc nào cũng có cà chua nướng.
Họ ăn rau cũng nhiều nhưng có lẻ họ ăn đồ ngọt nhiều và tinh bột nên thấy dân ở đây cũng khá to béo. Họ uống coca cola rất nhiều. Vào tiệm ăn thấy họ uống loại này và fanta.

Ngược lại đi Thổ Nhĩ Kỳ thì mình được trải nghiệm thực phẩm của người địa phương nên hấp dẫn nhất là đọc về chế độ dinh dưỡng của vùng Địa Trung Hải. Sáng ra ăn sáng ở khách sạn, đủ loại thức ăn nên không biết đâu mà rờ. Mình mê nhất là món phô mát làm bằng sữa cừu, nhẹ hơn sữa bò. Ngày nào cũng ăn nhiều loại phô mát khác nhau.


Thực phẩm Thổ Nhĩ Kỳ ít chiên xào nên ít dầu mỡ. Họ ăn rau rất nhiều, tươi lắm không bị hái non như ở Hoa Kỳ. Mình tránh ăn trái cây vì mùa đông Cali không lạnh lắm. Vùng này có đặc sản là trái lựu nhưng tháng 9 mới đến mùa. Chỉ thấy ở Istanbul, không biết họ lấy từ đâu mà ngoài đường, có mấy xe ép trái lựu uống ngon cực.

12 giờ trưa mà không thấy thằng tây con đầm nào ngồi ăn. Phố xá vắng như chùa bà đanh.

Trước khi đi, mình có đọc sơ những di tích lịch sử về kiến trúc La-hy nên nhờ công ty du lịch lên chương trình. Mình tính mướn xe như ông thần nhà văn Đỗ Khiêm nói. Mình thấy ông thần này ở xứ này năm ngoái nay, mình bò lại thì ông thần đi đâu. Xem lại đi máy bay rẻ hơn là lái xe vì mướn xe mỗi ngày là $70, chưa kể tiền xăng khủng. Vé máy đâu $50/ người.


Thôi để công ty du lịch lo. Công ty này cứ mua vé máy bay cho mình, lo cho người ra đón mình tại phi trường rồi đưa về khách sạn. Sáng hôm sau, hướng dẫn viên freelance đến đón và đưa đi thăm viếng mấy danh lam thắng cảnh của vùng, đỡ mất thời gian. Họ lại dẫn đi ăn mấy chỗ chỉ có dân địa phương lại vãng, ăn rất ngon và rẻ.


Hôm qua, họ không ở lại ăn với hai vợ chồng vì phải ra phi trường đón khách nên họ dẫn đến một tiệm ăn của người địa phương, rất ngon. Vấn đề là không ai nói anh ngữ nên phải lấy ông chú của mình tên gú gồ ra để dịch. Khá vui

Cổng Adrian, hoàng đế của La mã, như Khải hoàn môn
Phố xá trên nguyên tắc đông du khách. Hàng năm có đến 3 triệu người đến vùng này nhưng năm nay thì te tua. Sau covid thêm ông thần Putin chơi cha thiên hạ, muốn thanh toán nốt súng đạn cũ nên đem ra bắn như pháo bông qua các thành phố Ukraine. Thiên hạ cấm vận nên du khách ít đi, thêm họ sợ xứ này không an toàn vì ở gần Ukraine và Nga.

Dạo này bắt đầu già nên đầu óc mình không còn nhậy học một ngoại ngữ khác. Ngược lại thằng con mình, như mình khi xưa, nói vài câu tiếng Thổ Nhĩ Kỳ khá vững. Cũng có thể nó chưa lấy vợ. Lấy vợ rồi đầu óc bị lộn xộn khi nghe vợ chửi mắng hàng ngày.


Đi chơi với hai đứa con cũng vui, tuy ngắn ngủi. Con gái thì cứ ôm bố. Trước khi đi, cô bạn thân báo tin ông bố nằm coma nên nó cũng hơi hoảng, chợt nhận ra cuộc đời khá ngắn ngủi, đầy bất ngờ, không ai sống lâu cả. Nên tận dụng ngày hôm nay sống vui vẻ với người thân, làm những gì có thể làm chung với nhau vì không ai biết ngày mai sẽ đưa ta về đâu.


Nó đi chơi nên cho thuê căn phòng của nó cho ai đó muốn ở New York 1 tuần lễ. Kiểu AirBnB, lấy lại chút vốn khi đi chơi.


Khi hai đứa con bay về Hoa Kỳ để đi làm lại thì hai vợ chồng lên máy bay, để bay vòng vòng các vùng có di tích lịch sử về nền văn minh la-hy.

Con đường phố chợ thời la mã có ảnh hưởng với các bazar ngày nay

Sau này, khi đi viếng hết mấy chỗ mình muốn đi, mình sẽ đi chơi, viếng thăm các nơi được kể trong thiên hùng ca Odyssee, mà ông Homer đã tả. Kỳ này mình tính đi Troyes và Pegasus, gần thành phố Istanbul nhưng thấy họ làm giả con ngựa thành Troyes nên Chán Mớ Đời. Còn Pegasus, tên con ngựa, thiên mã của ông thần Hercules cũng vậy, đọc thấy không còn gì cả, chỉ làm vớ vẩn vài chuyện để câu du khách.


Thời sinh viên mình có đi qua Lipari, ở Sicily, Ý Đại Lợi, nơi mà khi ông Ulyssus đi tàu ngang đây, kêu thuỷ thủ trên thuyền, cột ông ta vào cái cột buồm để ông ta không bị các lời mời gọi của các ngư nữ. Mình mê mấy thiên hùng ca của ông Homer. Hy vọng có thời gian để đi viếng những nơi này. Mình nhớ có đọc một cuốn sách, nói về các địa danh này với tên mới ngày nay.


Mai sẽ bay đi vùng Capadoccia, nổi tiếng có mấy tảng đá to lớn như nấm. Mình sẽ đi máy bay hãng Pergasus, tên thiên mã của thần Hercules. Hy vọng không bị trễ. Đi hai lần máy bay nội địa đều bị trễ cả hai. Trễ máy bầu nữa 2 tiếng.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo giang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Biệt đội Thiên Nga của Việt Nam Cộng Hoà

 Tình cờ đọc một bài báo của Hà Nội, nói về Biệt Đội Thiên Nga của Việt Nam Cộng Hoà khiến mình thất kinh. Bài báo khen mấy người nằm vùng như Phạm Ngọc Thảo, Phạm Ngọc Ẩn, Vũ Ngọc Nhạ, Đinh Văn Đệ,.. ngược lại họ lại chửi Biệt Đội Thiên Nga nào là Thiên Nga Chân dài, rắn độc, đủ thứ từ ngữ chửi bới. Tò mò đọc mới khám phá ra biệt đội cảnh sát của Việt Nam Cộng Hoà khi xưa, được huấn luyện để trà trộn vào các tổ chức thân cộng ở Sàigòn khi xưa như hội Phụ NỮ Đòi Quyền Sống của bà Ngô Bá Thành, các tổ chức tôn giáo thân cộng như ni cô Huỳnh Liên, linh mục Nguyễn NGọc Thanh,.. mà khi xưa mình thường nghe báo chí nói về họ nhưng sau 75, không thấy họ đâu hết.

Mình đồng ý là trong chiến tranh, hai bên đều tìm cách cài gián điệp vào đối phương để lấy tin tức mật lợi cho mình như trường hợp Ukraine vừa qua, khám phá ra trùm tổ an ninh hoạt động cho Putin. Hà Nội cài được người của họ trong chính quyền, quân đội miền nam thì Việt Nam Cộng Hoà cũng phải cài người của họ trong hàng ngủ của Hà Nội ở miền nam như trường hợp điệp viên X92 mà Frank Snepp, có kể là điệp viên giỏi nhất của họ được cài trong mật khu Việt Cộng. Ông này sau 75 bị bắt, vì không chịu di tản và tự tử trong tù. Mình có kể vụ này rồi.

Thiếu tá cảnh sát quốc gia Nguyễn Thanh Thuỷ, đứng đầu biệt đội Thiên Nga

Tò mò mình lên mạng kiếm được tài liệu nói về BIệt Đội Thiên Nga, mà người đứng đầu là thiếu tá Nguyễn Thanh Thuỷ, từng là sinh viên trường Chính Trị KInh Doanh Đà Lạt. Sau 75, bị đi tù đến 13 năm rồi được di dân qua Hoa Kỳ theo diện H.O.

Tình cờ đọc bài báo của Hà Nội về Biệt Đội Thiên Nga của Việt Nam Cộng Hoà 

Được biết năm 1965, Việt Nam Cộng Hoà thành lập học viện Cảnh Sát Quốc Gia, để đào tạo các sĩ quan của ngành cảnh sát, nhận học viên cả nam cả nữ qua cuộc thi tuyển vào. Tốt nghiệp sẽ được đưa đi khắp 4 vùng chiến thuật.

Qua hồi ký của ông Đặng Chí Bình, điệp viên được Việt Nam Cộng Hoà huấn luyện để xâm nhập vào miền bắc để hoạt động. Đa số đều bị bắt khi vừa nhảy toán, trên đường xâm nhập bằng đường biển và đường mòn. Lý do là nằm vùng của Hà Nội nằm trong dinh tổng thống và các ngõ ngách của chính phủ và quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Chính ông Đinh Văn Đệ, cựu thị trưởng Đà Lạt, sau này làm đại biểu Đà Lạt ở quốc hội, kể trên báo Việt Cộng là ông ta nằm vùng rồi đi sang Hoa Kỳ với phái đoàn miền nam để xin viện trợ, ông ta nói nhỏ với quan chức Hoa Kỳ là không nên, hết hy vọng. Chán Mớ Đời 

Ông Đặng Chí Bình còn kể người huấn luyện ông ta là người của Hà Nội. Khi họ lấy cung ông ta ở Hoả Lò thì có đưa hình ông ta chụp với ông Phan tại Sàigòn. Mình có ông cậu bà con, làm trong chiến dịch Phượng Hoàng, tháng 4/75, về nhà sửa soạn đem vợ đi di tản, khám phá ra vợ mình là nằm vùng nên tự sát luôn. Chắc bao nhiêu tin mật đều được bà mợ chuyển cho Hà Nội.

Sau Mậu Thân, để chống lại sự xâm nhập của nằm vùng, Việt Nam Cộng Hoà gia tăng huấn luyện một nhóm cảnh sát đặc biệt toàn là nữ, dễ qua mặt Hà Nội. Họ gọi biệt đội Thiên Nga, trực thuộc khối Đặc Biệt của bộ tư lệnh Cảnh Sát Quốc Gia. Biệt Đội này có nhân lực khắp 4 vùng chiến thuật. Dạo ấy nam phải đi lính nên khó mà trà trộn vào sinh hoạt của xã hội miền nam lúc bấy giờ.

Mình xin trích lại đây một phần bài mình đọc trên mạng về sự thành lập của biệt đội Thiên Nga, đăng trên hươngdươngtxt.com 

Công việc khởi đầu gặp rất nhiều khó khăn, từ vấn đề tuyển mộ, đào tạo nhân viên...cho đến công tác tìm đầu mối, xây dựng cơ sở, giám thị, v.v...

-Biệt Đội Thiên Nga Trung Ương có văn phòng tại Khối Đặc Biệt

-Biệt Đội Thiên Nga Thủ Đô và 11 quận có văn phòng tại Bộ Chỉ Huy Cảnh Sát Quận Đô Thành

-Biệt Đội Thiên Nga Vùng I, II, III, IV và tại các tỉnh trên toàn quốc từ Quảng Trị đến Cà Mau

 Biệt Đội Thiên Nga Trung Ương có 4 ban: Ban Hành Chánh, Ban Tổ Chức Phát Triển, Ban Huấn Luyện và Ban Hoạt Vụ. Nhiệm vụ của Thiên Nga Trung Ương là thành lập cơ sở văn phòng, tuyển mộ nhân viên, tổ chức huấn luyện, tìm đầu mối, phát triển công tác. Đồng thời, Biệt Đội Thiên Nga Trung Ương đôn đốc và hướng dẫn các Bộ Chỉ Huy Cảnh Sái Quốc Gia, thành lập Biệt Đội Thiên Nga địa phương ở 11 quận Đô Thành và tại các tỉnh. Biệt Đội Thiên Nga địa phương tuyển mộ nữ nhân viên gửi về Biệt Đội Thiên Nga Trung Ương ở Sài gòn để đưa đi thụ huấn các khoá học tình báo tại trường Tình Báo Trung Ương. Các phụ nữ được tuyển mộ phải có ít nhất là văn bằng Trung học Đệ nhất cấp hoặc cao hơn, ngoại trừ các quả phụ của Cảnh Sát không đòi hỏi điều kiện văn bằng như trên, nhưng ít nhất phải có bằng Tiểu học.

Các nữ nhân viên được tuyển lựa này gồm đủ mọi lứa tuổi, mọi thành phần khác nhau trong xã hội: có thể là người bán rau cải ở chợ, bán hàng rong, bán vé xe bus, nhân viên bưu điện, điện lực, thư ký văn phòng, học sinh, sinh viên, cô giáo và vũ nữ, v.v...Các nữ nhân viên lần lược được học qua các lớp Tình báo căn bản (4 tuần), Theo dõi (6 tuần), Cán bộ điều khiển (8 tuần),...và đặc biệt là khoá tác xạ tại trường Tình Báo Trung Ương. Khóa sinh phải đủ điểm cho lớp trước mới có thể lên lớp kế tiếp. Trong thời gian thụ huấn, các khóa sinh phải ở nội trú và mang bí số.

Việc giảng dạy do các Giảng viên Tình báo phụ trách, còn giám thị do các nhân viên Thiên Nga Trung Ương đảm nhận. Các khóa sinh sau khi thụ huấn chuyên môn trở về đơn vị tại các địa phương, nơi đã gởi đi học, và bắt đầu nhận công tác do các ngành Đặc Biệt phân nhiệm. Công tác trực thuộc sự hướng dẫn của phụ tá Đặc Biệt địa phương và báo cáo thành quả công tác về Thiên Nga Trung Ương.

Tại Trung Ương, ngoài các lớp kể trên, các nữ nhân viên Thiên Nga còn theo học các lớp kỹ thuật như: nhiếp ảnh (chụp hình bí mật), học lái xe gắn máy và xe hơi, một số được học thêm các lớp thẩm vấn. Biệt Đội Trưởng, phụ tá Biệt Đội Trưởng Thiên Nga Trung Ương và các Cán Bộ Điều Khiển đều là nữ Sĩ Quan Cảnh Sát tốt nghiệp khoá I Học Viện Cảnh Sát Quốc Gia. Riêng Biệt Đội Trưởng và Phụ Tá đã tốt nghiệp thêm khóa Trưởng Phòng Đặc Biệt tại trường Tình Báo Trung Ương vào năm 1967

Ngoài các nữ Sĩ quan và nhân viên Cảnh Sát chính thức, Biệt Đội Thiên Nga còn sử dụng một số rất đông nữ hồi chánh viên, nữ can phạm chính trị, các công nhân hãng, xưởng, nhân viên các cơ quan chính phủ (ngoài cơ quan cảnh sát), các bạn hàng chợ, các học sinh sinh viên trường trung học và đại học...để làm mật báo viên cho Biệt đội. Số cộng tác viên gấp nhiều lần số nhân viên chính thức.

Các nhân viên Trung Ương đi công tác hoạt vụ đều có học khóa chuyên môn tình báo để được hướng dẫn rõ ràng chi tiết công tác họ phải đảm nhận cũng như cách thức bảo vệ an ninh tối đa cho họ. Các nữ nhân viên hoạt vụ đều có bí số và bí danh. Tùy vào công tác, họ được tạo cho một nguỵ tích với tất cả giấy tờ tùy thân và lý lịch mới.

Nhằm mục đích nhu cầu bảo mật công tác, Biệt Đội Thiên Nga Trung Ương có những kiosque buôn bán lẻ, có điện thoại công cộng để làm nơi liên lạc (hộp thư sống và chết), v.v...và một nhà an toàn làm nơi tiếp xúc với tình báo viên, mật báo viên, nhất là tình báo viên từ mật khu về. Vì là Biệt Đội tình báo nữ mang tên loài chim Thiên Nga, nên mỗi kế hoạch công tác đều có ám danh của một loài chim khác như Sơn Ca, Hoạ Mi, Hải Âu, Hoàng Oanh, Hoàng Yến, v.v...Còn các công tác phối hợp với các cơ quan bạn thì dùng ám danh của sông núi như Trùng Dương, Trường Sơn, v.v...Do sự thay đổi cơ cấu của Khối Đặc Biệt và để thích ứng với tình hình chính trị phức tạp nên cuối năm 1972, Biệt Đội Thiên Nga mang ám danh mới: Đoàn Đặc Nhiệm G423g để bảo mật hoạt động.

Song song với việc xây dựng tổ chức, đào tạo nhân viên, Biệt Đội Thiên Nga Trung Ương luôn nổ lực tìm đầu mối, lập kế hoạch công tác, tìm cách xâm nhập, len lỏi vào các hội đoàn Phụ Nữ Việt Nam, hội đoàn bạn hàng các chợ, hội Phụ nữ đòi quyền sống, các lực lượng đấu tranh thuộc thành phần thứ ba, các thành phần tôn giáo khuynh tả có Việt Cộng xách động, các tổ chức sinh viên học sinh đấu tranh thân Cộng Sản để kịp thời ngăn chặn những tên Việt Cộng nằm vùng, triệt phá những âm mưu có nguy hại cho an ninh quốc gia. Không những thế, Biệt Đội Thiên Nga còn xâm nhập vào tận mật khu của Việt Cộng để thu thập tin tức tình báo góp phần tiêu diệt các cơ sở đầu não của Cộng Sản.

Nhìn lại quá trình công tác của các nữ nhân viên Thiên Nga, phải thừa nhận rằng công việc của họ rất nguy hiểm, tính mạng lúc nào cũng bị đe dọa. Qua các tài liệu tịch thu được của Việt Cộng, sau những thất bại nặng nề, chúng rất đề cao cảnh giác “nữ Thiên Nga”. Việt Cộng luôn tìm cách ám sát những ai chúng nghi ngờ là nhân viên Thiên Nga. Còn các nhân viên Thiên Nga len lỏi vào các hội đoàn tham dự các cuộc biểu tình, tuyệt thực, chống đối nên cũng phải chịu “hưởng” hơi, cay, dùi cui của Cảnh Sát. Các chị em Thiên Nga còn phải hy sinh những tình cảm riêng tư, thời gian dành cho gia đình, vượt qua nhiều khó khăn trở ngại để làm tròn bổn phận công dân yêu nước đấu tranh cho lý tưởng tự do.

Thật khó có thể ghi lại hết những chiến công thầm lặng của các nữ chiến sĩ tình báo Thiên Nga, tuy vậy những công tác sau đây là ví dụ điển hình về các hoạt động của Biệt Đội Thiên Nga.

Một trong các công tác mà Việt Cộng vẫn còn tức tối là việc cung cấp lương thực thực phẩm cho phái đoàn Quân Sự Bốn Bên vào họp tại trại David, Tân Sơn Nhất, Sài Gòn. Mặc dù chúng nghi ngờ nên chúng đề nghị chọn nhà thầu cung cấp thực phẩm cho hai phái đoàn Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (tức CS Bắc Việt) và Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, nhưng cuối cùng nhà thầu chúng chọn lại là của Biệt Đội Thiên Nga. Công tác này mang ám danh là Trùng Dương, hoạt động cho đến ngày cuối cùng 28-04-1975.

Công tác mang ám danh là Hải Âu đã cài được một nhân viên Thiên Nga vào Hội đoàn phụ nữ đối lập và tạo được niềm tin nên được Việt Cộng chọn đi học lớp tình báo chung với chúng.

Công tác len lỏi vào Hội phụ nữ đòi quyền sống, hoạt động chung với một cán bộ nằm vùng. Mãi đến sau 1975, tên nữ cán bộ mới biết đến người thư ký của Ban Xã Hội là nhân viên Thiên Nga. Lúc ấy tên nữ cán bộ là Đại úy Công an tức tối đề nghị gia tăng 6 tháng tù trong khi chị nhân viên Thiên Nga đã có giấy ra trại. Công tác này mang ám danh Hoạ Mi.

Trong 5 năm liền, một nữ Huyện uỷ viên của Việt Cộng đã hợp tác với Biệt Đội Thiên Nga. Sau 30-04- 1975, chị vẫn giữ chức Huyện uỷ của một Huyện gần Saigon. Cho đến sáu tháng sau đó, Việt Cộng mới truy ra được từ hồ sơ còn sót lại ở địa phương, nên đã khai trừ chị khỏi Đảng Cộng Sản và giam chị ở Chí Hoà. Chị đã may mắn không bị chúng xử tử hình. Sau tôi gặp lại chị ở trại Hàm Tân, chị mới vỡ lẽ tôi- người tên Năm tiếp xúc với chị năm xưa-là Thiếu Tá Biệt Đội Trưởng Thiên Nga. Công tác này được mang tên Hoàng Oanh.

Các công tác, hoạt động của Thiên Nga càng thành công tốt đẹp bao nhiêu thì Việt Cộng càng tức tối lên án, càng đề cao cảnh giác với nhân viên Thiên Nga. Do đó những bản án không xét xử trả thù hèn hạ dành cho các nữ nhân viên Thiên Nga của Cộng Sản là từ 3 năm đến 13 năm trong các trại tù “cải tạo”. Tuy vậy các chị em nhân viên của Thiên Nga vẫn hãnh diện, giữ vững nhân cách, lập trường, vượt qua những giao lao của năm tháng tù đày.

Tôi rất xúc động khi phải nhắc lại quá khứ của Biệt Đội Thiên Nga, với những anh thư đã đem hết những hăng say, nhiệt tình, tinh thần chống Cộng mãnh liệt của tuổi trẻ, hiến dâng để bảo vệ đất nước miền Nam Việt Nam . Tôi rất hãnh diện về Biệt Đội Thiên Nga, các nữ nhân viên từ Hạ sĩ quan đến Sĩ quan, cùng các cộng tác viên đã giữ trọn khí tiết trong lúc sống khổ sở trong lao tù hay trong sự kềm kẹp của chế độ Cộng Sản ngoài xã hội, sau khi được thả về. Tôi mong ước một ngày gần đây những nữ Thiên Nga hải ngoại sẽ gặp lại các bạn Thiên Nga còn ở lại Việt Nam , tay bắt mặt mừng trong niềm vui thấy đất nước thật sự có tự do dân chủ.

Tôi viết bài này, cũng mong quý bạn có cái nhìn rõ hơn về người Cảnh Sát Quốc Gia, trong đó có những nữ Cảnh Sát, những chị bán hàng, những anh chị em sinh viên...đã có một thời hiến dâng máu xương cho đất nước. (Thiếu tá Nguyễn Thanh Thuỷ) hết trích 

Bà thiếu tá Nguyễn Thanh Thuỷ, tốt nghiệp khoá đầu tiên sĩ quan học viện Cảnh Sát Quốc Gia, từng học trường chính trị kinh doanh Đà Lạt. Sau này được giao phó thành lập và đứng đầu 1 toán nữ điệp viên, cài trong mật khu và nhóm thân cộng tại miền Nam. Theo mình chưa chắc một số nhóm họ thân cộng. Trong một thể chế dân chủ thì người ta gọi là Đối Lập. Cho thấy khi xưa, chính quyền Việt Nam Cộng Hoà cũng khá dễ dãi đối với phe chống lại ông Thiệu. Ngày nay, chúng ta hay nói về những người chống chính quyền Việt Nam Cộng Hoà là thân cộng. 

Ở trong một xã hội dân chủ thì người ta phải chấp nhận sự đối lập. Ông Trump lên bên Dân Chủ ngày nào cũng chửi, ông Biden lên thì bên cộng hoà cũng chửi. Nhưng nhờ có đối lập chửi bới mới khiến chính quyền thận trọng không làm bừa vì người dân sẽ bỏ phiếu bất tín nhiệm. Điển hình ông thủ tướng Anh quốc, phải từ chức vì thuộc cấp bất mãn về đường lối ông ta lãnh đạo.

Có thể nhiều nhóm bị nằm vùng trà trộn vào và có nhóm được Hà Nội thành lập.

Sinh viên đại học Đà Lạt, biểu tình ở Khu Hoà Bình. Mình hỏi một anh bạn, tốt nghiệp viện đại học Đà Lạt, dạy trường Bùi Thị Xuân về vụ này thì anh ta cho biết. Hồi đó thấy chúng rủ đi thì đi theo chớ có biết gì đâu. Để hôm nào mình hỏi anh ta thêm về vụ này để hiểu thêm thời con nít của mình khi thấy lựu đạn cay bên chùa Linh Sơn, sinh viên mỗi chiều là cứ phát loa như cái loa phường mình nghe ở quê ông cụ vào buổi sáng.

Dạo trước 75, mình hay thấy báo chí đưa tin về các cuộc biểu tình của Phong trào phụ nữ đòi quyền sống, hội quả phụ tử sĩ Việt Nam, hội nữ Phật tử Lòng Hoa, nhóm công giáo của linh mục Chân Tín và Nguyễn NGọc Lan. Thương phế binh cắm dùi, đủ trò. Nhóm ni cô Huỳnh Liên và vài nhân vật của phía Ấn Quang móc nối đưa điệp viên của Biệt Đội Thiên Nga và mật khu để huấn luyện và hoạt động cho Việt Cộng đến 1975 mới bị phát giác. Nhìn lại thì ở ngoài bộ đội miền Bắc đánh khắp nơi, trong thành phố thì có nằm vùng, chính quyền của ông Thiệu, kể ra là giỏi mới cầm cự được lâu, xem như 10 năm.

Mình có nói chuyện với vài người Mỹ thì họ cho biết chính quyền Việt Nam Cộng Hoà dạo ấy tốt vì có đối lập, khác với Nam Hàn, Đài Loan và các nước Nam Mỹ.

Nói cho ngay, Hà Nội rất giỏi về tình báo, cho người của họ trà trộn vào chính quyền Việt Nam Cộng Hoà. Giới sinh viên học sinh thì các lãnh tụ như Huỳnh Tấn Mẫm lại được ông Kỳ và ông Dương Văn Mình bao che, là thế nào. Có lẻ họ chống lại ông Thiệu nên tìm cách dùng ông Mẫm làm con cờ chính trị cho họ.

Một vài thành viên của biệt đội Thiên Nga. Nghe nói họ tuyển lựa toàn mấy cô đẹp

Mấy người nghệ sĩ như Kim Cương và Thanh Nga đều là nằm vùng của Hà Nội. Họ móc nối để bà Kim Cương để lấy Phạm Duy Lân, không biết có bà con với gia đình họ Phạm Duy, Đổng Lý VĂn PHòng bộ thông tin. Ông này được bà Thanh Nga tháp tùng khi đi phó hội nghị Paris. Hay chuyện Thẩm Thuý Hằng được bố trí lấy Tony Oánh, bộ trưởng kinh tế, phó thủ tướng một thời. Mình biết một đại gia Đà Lạt, khi xưa từng là người tình của bà Thẩm Thuý Hằng. Có lẻ vì vậy mà sau 75, ông Tony Oánh không đi mỹ dù bạn học ở Hoa Kỳ bảo lãnh. Mình có đọc một bài báo trên báo mỹ không nhớ là ở đâu, chắc NYT. Bạn của ông ta làm lớn ở Hoa Kỳ.

Ai tò mò thì tìm đọc cuốn sách Biệt Đội Thiên nga của bà Nguyễn Thanh Thuỷ, có bán trên Amazon.

Mình mò mò tìm về những tin tức về chiến tranh Việt Nam thì thấy khi xưa, ở miền nam, không có chiến tuyến, không biết ai là bạn, ai là kẻ thù vì nằm vùng xâm nhập quá đông. Năm 1954, có đến 1 triệu người từ miền Bắc di cư vào nam, và 300,000 người từ miền nam tập kết ra Bắc. Khởi đầu cuộc chiến thì được xem miền nam thắng thế về mặt chính trị vì có hơn 1 triệu người bỏ làng quê, cha ông đất tổ để vào nam tránh nạn cộng sản trong khi đó chỉ có 300,000 tập kết ra Bắc.

Sau đó người thân của những người tập kết ra Bắc, được nằm vùng móc nối làm nội tuyến cho Hà Nội. Trong khi đó ở ngoài Bắc, dân chống đối chế độ đã bỏ vào nam, còn lại thì bị đàn áp trong xã hội cộng sản. Ông Đặng Chí Bình điệp viên được gửi ra Bắc, kể là ông ta tìm cách về Hà Nội không bị lộ diện. Có gặp người ở Hà Nội để móc nối nhưng khi vào nhà thờ gặp một cha cố, đưa thư của linh mục Hoàng Quỳnh thì phải, sau đó ông ta phát hiện ra bị theo dõi và cứ thế mà ông ta được họ thả đi vòng vòng để xem có gặp ai khác rồi tóm cổ ông. Sau này, được thêm hai cuốn tiếp thì Ông cho biết chính ông linh mục là người chỉ điểm ông ta cho công an, phản gián Hà Nội. Chán Mớ Đời 

Mình nghe kể một ông cậu bà con, có người em làm cho chiến dịch Phượng Hoàng, tự tử sau 75. Ông này thì từng làm trưởng ty cảnh sát Đà Lạt, lại nằm vùng cho Việt Cộng. Người ta nghi ngờ thì ông cho Việt Cộng đặt mìn ở nhà cậu, nhưng xa một tí để khỏi chết. Cuối cùng thì được thuyên chuyển đi đâu. Lần đầu tiên về Đà Lạt, mình có gặp cậu, kể mới đi Gia-nã-đại về (năm 1992). Mình ngạc nhiên nên hỏi ông cụ, mới kể. Chán Mớ Đời 

Có dạo ở Đà Lạt cứ lâu lâu nghe mìn nổ, nằm vùng đặt mìn ở cây xăng Ngã Ba Chùa, ngay bên cạnh nhà bà dì của mình. Trụ sở khu phố I ở đường Duy Tân, để giết ông trưởng phó khu phố. Ông này không chết, lại chết thằng bé nào. Mình nghe kể vài khu phố trưởng là nằm vùng nên mình không biết đâu là bến bờ. Nghĩ lại cũng đúng vì ở Số 4, khu phố 2, nơi mình cư ngụ thì họ hay về ban đêm để giết mấy ấp trưởng,… ai mà sống sót chắc nằm vùng cho họ.

Ông Nguyễn Hưng Quốc ở Úc Đại Lợi, có kể sau 75, đi theo ông thầy đến nhà của ông Hoài Thanh, phê bình văn học của Hà Nội, dọn vào Sàigòn. Ông này nói theo cơ bản bọn nGuỵ là xấu nhưng sao chúng sáng tác quá hay,… không nhớ rõ nguyên câu.

45 năm sau, Việt Cộng toàn hát nhạc Bolero của Sàigòn khi xưa, nhạc Hà Nội sáng tác trong thời chiến tranh không ai hát hay nghe. Ngay nhạc sĩ Trần Tiến còn tuyên bố trên truyền hình là hãy dẹp bỏ Nhạc Đỏ đi. 

Mình hay xem phim đại hàn nói về thời sau 1953, khi đất nước họ bị chia đôi như Việt Nam để so sánh xem lý do nào họ trở thành cường quốc như ngày nay. Giới cầm quyền của Nam HÀn xiết chăt, kiểm soát dân miền nam Triều Tiên rất mạnh, vì có nằm vùng của Bắc Hàn cài ở lại, hay có thân nhân ở miền Bắc, rất độc tài như các nhóm quân phiệt. Trong khi miền nam Việt Nam thì cứ cho phép đối lập để bị Hà Nội lợi dụng thành lập các nhóm của Hà Nội, để tìm cách đánh về mặt chính trị quốc tế.

Được cái là Đài Loan và Nam Hàn dần dần họ nới rộng ra, cho phép tự do ngôn luận, đối lập như ở Tây Phương. Họ trở nên giàu có thịnh vượng. Nhìn các nước á châu lại buồn cho Việt Nam. Chán Mớ Đời 

Trước 1989, Ba Lan thuộc khối Varsovie, GDP hàng năm mỗi đầu người là đâu trên $1,700. Sau 35, GDP mỗi đầu người lên đến trên $17,000. Dân Ukraina thấy đường lối của Ba Lan phát triển xứ họ nên muốn theo nên mới xẩy ra vụ Putin đánh chiếm.

Nguyễn Hoàng Sơn 

Lò vi-sóng là tiếng gọi tử thần?

 Có một bác, bạn hàng với bà cụ mình, 20 năm trước đi Úc Đại Lợi thăm con cháu, nói với cô em mình là bác mê nhất là cái lò hâm thức ăn (lò vi-sóng). Nay về Việt Nam, nhà nào cũng có trang bị một cái lò vi-sóng cả. Nói cho ngay, lò vi-sống giúp các người nội trợ ít tốn thời gian đẻ nấu ăn nhất là chúng ta sống trong thời đại mà thời gian đi nhanh chóng cho kịp các CPU. Nay lại có lò dryer, bỏ thịt vào 15 phút sau chín.

Ngày nay, lò vi-sóng được thông dụng thường nhật. Vợ chồng đi làm cả ngày, về nhà, chỉ việc lấy đồ ăn trong ngăn đá hay tủ lạnh, bỏ vào lò ví sóng, và phút sau là có bữa cớm cho cả gia đình.

Lò vi-sóng sử dụng các “vi-sóng”, những làn sóng bé li-ti. Các làn sóng được xem là các điện từ trường (electromagnetic field EMF), tạo bởi một Magnetron. Có độ run 2.4 tỷ lần/ giây đồng hồ, khiến các phân tử của nước trong thức ăn tạo cộng hưởng ở tầng số cao và sinh nhiệt.

Thông thường chúng ta nấu ăn thì nhiệt từ bên ngoài đi vào trong, như nướng thịt gà, ngoài bị cháy mà trong vẫn chưa chín. Bên tây, có khi người ta luộc sơ sơ thịt heo rồi ướp cho thấm rồi mới nướng để tránh tình trạng ngoài chín trong sống.

Nấu bằng lò vi-sóng, khởi đầu bởi các tế bào và phân tử tại các điểm có nước, tạo ra năng lượng mà người ta gọi là hệ ứng nhiệt.

Vấn đề là khi chúng ta sử dụng lò vi-sóng, các vi-sóng không chỉ nằm phía trong lò vi-sóng. Nó có thể xuyên qua các tường nhà, trần nhà hay chính bản thân của mình nếu đứng gần. Tiện đây, mình nhắc lại, các làn sóng của wi-fi cũng gây lộn xộn cho cơ thể của mình. Mình đọc tài liệu thì bên Úc Đại Lợi, trong điện thoại cầm tay của mình, có cảnh báo cho khách hàng là điện thoại cầm tay, có thể đưa đến nguy hiểm cho sức khoẻ của họ như thể trước mấy bao thuốc lá, họ phải đề hút thuốc có thể đưa đến ung thư.

Do đó, chúng ta nên tiêu thụ sinh tố C cho nhiều. Ki lò nguyên tử Fukushima bị hỏng, người ta truyền sinh tố C cho các nhân viên, lãnh nhiệm vụ vào lò nguyên tử để sửa chửa. Sinh tố C  giúp phòng ngừa các phóng xạ.

Có tên bạn đại hàn, chuyên về công nghệ, nói cho mình biết là không nên dùng chế độ 5 Gờ trong nhà, vì các làn sóng có thể đi xuyên qua tường, trần nhà, cơ thể. Hiện nay chỉ đụng rồi rồi phản lại nên mình tránh ngồi cạnh cái router đang phát sóng. Tốt nhất là xài các ether nét, cắm vào máy điện toán. Vấn đề là điện thoại cầm tay, thì cắm ở đâu. Trên xe, mình thường để điện thoại ở ghế bên cạnh, để tránh xa từ trường và để khỏi đụng tới nó khi kẹt xe. Ai gọi điện thoại thì chạy thẳng vào xe hơi nên có thể trả lời.

Tương tự lò vi-sóng khi được sử dụng sẽ làm các vi-sóng xuyên qua lò, tường trần nhà nên tránh đứng bên cạnh. Đi xa xa một tí để tránh bị các phóng xạ.


Năm 2011, tổ chức y tế thế giới WHO, chính thức công bố là EMF thuộc loại 2B có khả năng tạo ra ung thư. Ngoài ra các máy của lò vi-sóng tạo ra các điện từ trường được đo tới 10 milligauss. Ngày xưa, học điện, phải làm tính 3 cái này, khá nhức đầu. Người ta lại cho biết, chỉ cần hứng độ 4 milligauss là có thể bị ung thư máu. Chán Mớ Đời 

Chế độ Đức quốc Xã, đã chế tạo các lò vi-sóng để giúp nấu thực phẩm cho quân đội họ, khi tham chiếm Nga Sô. Nga sô đã cấm sử dụng lò vi-sóng năm 1976 sau rất nhiều nghiên cứu, thử nghiệm. Họ chỉ cho phép sử dụng khi chế độ LIên-Xô sụp đổ.


Mình kể sau đay vài điểm chính khi sử dụng lò vi-sóng:

Nấu ăn bằng lò vi sóng, tạo thành các d-Bitrosodienthanolamines, một loại ung thư.

Nếu hâm sữa bằng lò vi-sóng, sẽ giúp các chất đạm biến thành các chất ung thư.

Các nhà thương Thuỵ Sĩ cho biết, lò vi-sóng gia tăng các chất béo. Ngoài ra còn giảm các hồng huyết cầu và bạch huyết cầu. Kinh

Nếu hâm nóng các loại trái cây đông lạnh, sẽ hoán chuyển một số glucose và galacto có mầm ung thư. Ngay nấu sơ sơ các rau cải tỏng lò vi-sóng cũng tạo các mầm ung thư.

Các khoa học gia Nga Sô nghiên cứu các thực phẩm được nấu hay hâm bằng lò vi-sóng mất từ 60% đến 90% các chất dinh dưỡng. Các sinh tố C, B, E các khoán chất khác đều bị tiêu huỷ. Chán Mớ Đời 

Nếu hâm Thức ăn, bỏ chút nước là 97% các antioxidants đều bay hết. Cái này thì được thấy làm khi nấu khoai lang tím. Cô nàng lười nấu, lại nghe ai nói là tốt cho cơ thể, ngăn ngừa bệnh ung thư nên mua khoai lang tím, bỏ vào cái đĩa, đổ tí nước rồi phủ giấy nhựa trên cãi đĩa. Mấy phút sau là ăn. Chán Mớ Đời 

Ngoài ra, nếu nấu hay hâm trong các hộp thức ăn nhựa (to go) hay mua từ siêu thị, các chất độc ung thư có thể lan ra như polyethylene terpthalate (PET), benzene, to luyên, y lên từ các hộp đựng pizza, popcorn (bắp rang) mà đi xem xi-nê, thấy họ làm thơm lừng lựng.

Người ta khuyên là nên dùng các loại nồi như hấp thức ăn, như người Việt hông xôi. Đem thức ăn đông lạnh từ trước để xã đá. Nấu ít, ăn liền, để tránh hâm đi hâm lại. Vấn đề là làm sao thuyết phục được đồng chí gái vì mụ vợ cứ kêu mình tuyên truyền chống phá nhà nước. Chán Mớ Đời 

Ngày nay, các tin tức lẫn lộn từ những khoá học gia được mua bởi các công ty thực phẩm và những chống nên tuỳ chúng ta, muốn tin hay không là quyền tự do của mỗi người. Chán Mớ Đời 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo giang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

  

“In desperation” Trong nổi khốn cùng

Mình xin giới thiệu một bài viết của ông Nguyễn Thế Thăng. Sau tháng 4 1975, ông ta vào chiến khu Việt Cộng để tiếp tục chiến đấu với các chiến hữu, tương tự vài người lính trinh sát của đại đội 302 xưa của Đà Lạt mà mình đã kể. 

Bài viết được đăng trên một tập san War, Literature & the Arts về quân đội Hoa Kỳ. Bài này do ông Lê Văn trên diễn đàn Adran Đà Lạt dẫn. Mình không chia sẻ trực tiếp được từ trang cá nhân của ông ta nên mạn phép chép lại, luôn tiện chép luôn bài bằng anh ngữ đăng trên tập san của quân đội Hoa Kỳ, cho ai không đọc được tiếng Việt.

See English version below

 TRONG NỖI KHỐN CÙNG

Tác Giả: Nguyễn Thế Thăng

January 31, 2022 90

Tại Việt Nam, trước 1975, Nguyễn Thế Thăng tốt nghiệp khoá K2DH/ĐH/CTCT, Đại Học Chiến Tranh Chính Trị. Sau tháng Tư, 1975, ông cùng các chiến hữu vào mật khu tiếp tục chiến đấu chống cộng. Tháng 10-1975, sau nhiều nỗ lực chống trả, mật khu chống cộng bị chiến xa cộng sản tràn ngập, tác giả bị thương rồi bị bắt với vũ khi trên tay, bị mang “triển lãm” tại huyện Thống Nhất, Đồng Nai. Bài viết sau đây là hồi ký về những ngày tháng khốn cùng kể trên.

Câu chuyện không liên quan tới nước Mỹ, nhưng bản Anh ngữ của bài viết - do chính tác giả dịch - đã được chọn đăng trong tập san "War, Literature Art" cua Học Viện Quân Lực Hoa Kỳ (USAF Academy). Phải chăng tờ tạp chí này coi đây như một phần ký ức cần soi sáng của người Mỹ về chiến tranh Việt Nam.

Sau đây là câu chuyện điển hình về Nỗi Thống Khổ Bi Hùng mà Người Lính Cộng Hoà hằng gánh chịu sau ngày mất nước với lòng can đảm bền bỉ tuyệt đối của người luôn vững tin về Chính Nghĩa của Quân, Dân Miền Nam cũng như của toàn Dân Tộc Việt Nam.

***

Suốt cuộc đời tôi trên mảnh đất quê hương bất hạnh, có lẽ mùa Ðông 1975 là một cái đông lạnh lẽo nhất. Không biết có phải vì miền Nam Việt Nam vừa trải qua một cuộc đổi đời khủng khiếp, hay vì lúc ấy tôi đang bị cùm tại Trại A9 Long Thành, Biên Hoà (Ngã Ba Thái Lan) trong một dãy nhà tôn vách gỗ mà không hề có lấy một tấm mền mỏng che thân! Ban ngày ngủ, ban đêm phải thức trắng ngồi xoa bóp liên tục khắp cả người cho ấm. Ôi đêm dài vô tận trong cái lạnh thấu xương cộng thêm vết thương trên người còn tươi máu.

Chính từ chuỗi ngày đêm nơi tầng cuối địa ngục này lại trở thành một phước duyên cho tôi tập tễnh bước vào Thiền để sống sót và tồn tại đến ngày nay.

Trước và sau ngày 30/4/75 tôi đã không hề có ý định chạy ra nước ngoài. Khoảng đầu tháng 6/75, tôi lên Trà Cổ (Hố Nai, Biên Hoà) rồi từ đó vào rừng gia nhập Liên Ðoàn 5 của Ðại Úy Lê Ðình Thạch (trước đây thuộc Sư Ðoàn 5 Bộ Binh) gồm một số Biệt Kích Dù, Biệt Ðộng, Cảnh Sát, Ðịa Phương Quân…

Chúng tôi sống trong các mật khu cũ của việt cộng vùng Sông Buông, Sông Mây (đầu Chiến Khu D). Việt cộng tràn ra thành phố, bỏ ngõ mật khu của họ lại với đầy đủ chòi, lán, vọng gác trên cây, bếp với nồi niêu xoong chảo, nương khoai, vườn rau và một số rất lớn lựu đạn chày chỉ còn được dùng để đánh cá vì hệ thống kích hoả bị hư đến hơn 60%. Chúng tôi thường tấn công những kho gạo Tân Bình, Tân Bắc, Trà Cổ… Trước khi vác gạo về mật khu, chúng tôi dọn sạch kho đem bỏ từng bao trước cửa mỗi nhà dân. Dân địa phương và gia đình cũng tiếp tế cho chúng tôi rất nhiều thực phẩm khác. Vũ khí cũ như M16, M79 dần dần hết đạn, chúng tôi phải đánh Việt cộng để lấy AK, B40…

Ðến khoảng tháng 9/75, lực lượng chúng tôi đã có khoảng 80 người. Biết không thể chống cự nổi bọn cộng sản đang say men chiến thắng, chúng tôi dự trù sẽ đi đường bộ băng ngang Kampuchia đến vùng biên giới Kampuchia - Thái Lan để dưỡng quân rồi tùy cơ ứng biến. Trong vùng còn có một toán thuộc Liên Ðoàn Biệt Cách 81 (trước 30/4/75) hoạt động độc lập dưới sự chỉ huy của một người tên Wòng A Cẩu. Chúng tôi cũng đang liên lạc để sáp nhập với một lực lượng khác do Thiếu Tá Tam (Thiếu Tá Nguyễn Phước Trường) chỉ huy. Có một linh mục tham gia tên Trần Học Hiệu — Linh Mục Hiệu sau này đã bị giết chết trong tù. Khoảng tháng 10/75, việt cộng đưa hai Trung Đoàn có bốn chiến xa yểm trợ tấn công đơn vị chúng tôi và đơn vị của Thiếu Tá Tam. Chúng tôi trải quân ra thật rộng với từng tổ tam tam chế, đóng chốt trên tất cả những yếu điểm, kể cả những chòi trên ngọn cây, bình tĩnh sử dụng thật tiết kiệm từng viên đạn một. Chiến đấu trong hơn bốn ngày đêm, chúng tôi đã mất hơn nửa quân số. Sau khi Anh Thạch hy sinh, chúng tôi phải xé lẻ tan hàng.

Ba người theo tôi đi về Phước Long. Ðến 10g sáng (?), chúng tôi lọt ổ phục kích gần Xã Vĩnh Cửu (?), một Trung Đội cộng sản nằm dài theo bụi tre cách khoảng mười lăm, hai mươi thước bắn xối xả vào chúng tôi đang di chuyển giữa đồng trống, quần áo tôi bị thủng nhiều lỗ, một viên AK xuyên qua đầu gối (đang ở thế ngồi chồm hổm để bắn lại) làm tôi ngã vật ra sau nhưng vẫn tiếp tục bắn đồng thời ra lệnh ba thuộc cấp thoát thân.

Chuẩn Úy Nguyễn Thạch Ðiệp nhất định liều chết để lôi tôi đi… Tôi hét lên, Ðiệp vẫn không buông tôi ra, tôi phải chĩa súng vào người Ðiệp gằn giọng nếu không chạy đi, tôi phải bắn chú, Ðiệp rớm nước mắt “dạ” rồi vọt liền, cùng lúc với đợt xung phong xáp lá cà của địch, một tên dùng nguyên khẩu súng với trái đạn B40 đập lên đầu tôi, tôi né qua một bên, bị trúng vào gáy rồi ngất đi. Hình như một tên chỉa AK vào đầu tôi định bóp cò, một tên khác la lên:

- Đừng bắn, thằng này cấp cao, tài liệu sống, đem nó về”.

Lúc tỉnh dậy thấy mình đang nằm trên võng vải nylon, máu me ướt sũng lưng, bọn việt cộng thay nhau khiêng tôi đi. Ngang qua một số dân địa phương đang làm rẫy, tôi thoáng nghe vài tiếng kêu… Giê-Su Ma!

Toán cộng sản đưa tôi về huyện Thống Nhất, tỉnh Ðồng Nai (Biên Hoà), nhốt tôi trong một căn nhà không có nóc — bị pháo kích sập, chỉ còn bốn bức tường với các cửa đóng kín bằng những tấm ván lớn chéo nhau. Tôi được đặt trên một bao tải cũ, gối đầu trên một cục gạch thẻ, trên người chỉ còn một quần lót dính đầy máu đã khô, đầu gối được bó lại bằng chính cái áo trận của tôi.

Ðêm đó trời mưa như trút, cả người tôi ướt như chuột nằm chịu trận suốt mấy giờ. Vết thương đau nhức khủng khiếp, máu vẫn tiếp tục loang loang theo nước mưa. Sau cùng vì quá lạnh, sức đã kiệt, tôi lên tiếng kêu gọi bộ đội xin chuyển tôi đi nơi khác, không nghe tiếng trả lời, tôi ráng lết vào sát chân tường để núp. Nếu lúc đó cửa có mở tôi cũng không thể trốn đi vì đầu gối chân phải đã bị bắn xuyên từ bên này sang bên kia, xương bánh chè bị vỡ nát. Bị bắt tại trận với vũ khí trên tay thế này chắc chắn 100% là chết, nếu lỡ sau này có sống sót, có lành cũng thành phế nhân, tôi đành quyết định chọn con đường tự sát. Ráng đập đầu vào tường nhưng sức không còn. Thử cắn lưỡi thì thú thật đau quá, không đủ can đảm. Có lẽ phải nhờ Việt cộng giết giùm thôi.

Tôi bắt đầu la lên chửi rủa cộng sản, chửi đích danh Hồ Chí Minh khan cả tiếng. Tôi tiếp tục chửi tất cả những tên đầu não cộng sản lúc bấy giờ mà tôi nhớ được như… Lê Duẫn, Trường Chinh, Phạm Văn Ðồng, Phạm Hùng, Lê Ðức Thọ… Rồi không biết ngất đi từ lúc nào. Khi tỉnh dậy toàn thân tê tái, tê như đóng băng, đầu vẫn gối trên cục gạch, thân vẫn nằm trên cái bao tải ướt sũng, trên người gần như trần truồng được đắp lại bằng… một tấm tôn! Ngoài kia gió vẫn rít gào, trời vẫn vô tình mưa rả rích, nước mưa vẫn gõ nhịp đều đặn trên tấm tôn lạnh lùng…

Sáng hôm sau việt cộng triệu tập một cuộc mít-tinh dân chúng huyện Thống Nhất để triển lãm mục đích răn đe với khoảng hơn bốn mươi xác những “tên ác ôn đã đền tội”. Mười một người bị bắt (tất cả đều bị thương), số còn lại trốn thoát. Chúng khiêng tôi ra đặt nằm phía sau một chiếc xe Jeep mui trần cho bà con xem. Rất nhiều tiếng đả đảo từ những tay cò mồi. Không ít những giọt nước mắt nghẹn ngào. Vẫn vỏn vẹn một chiếc quần lót đẫm máu, tôi ngồi thẳng người, bình tĩnh nhếch mép cười khi nghe những tiếng hô đòi tử hình kẻ “tội phạm”. 

Lúc đó đối với tôi hai tiếng “tử hình” nghe không còn ghê rợn nữa mà thật bình thường vì đó chính là điều tôi mong đợi và chấp nhận như một sòng phẳng tất nhiên. Một cô trung niên, mặt khá xinh, người nhỏ nhắn, có vẻ rất hung hăng, vừa xô đẩy những bộ đội giữ trật tự, vừa hô to:

- Ðả đảo những tên “xâm lăng” (?) khốn nạn, hoà bình không muốn chỉ muốn chiến tranh, những tên mặt người dạ thú, giả nhân giả nghĩa, giết hại dân lành… Hãy để cho tôi nhổ vào mặt nó, đập vào mặt nó, tôi mới hả dạ!

Tôi nghĩ mụ này là “việt cộng cái” giả dạng thôi, lòng tôi thanh thản đến lạ lùng. Hãy để chúng trổ tài bịp bợm. Tôi chỉ muốn thoát ra khỏi cõi đời ô trọc bằng bất cứ giá nào, bằng bất cứ cách nào, dù xấu nhất. Tôi mỉm cười nhìn thẳng vào mắt mụ khi mụ vung nắm đấm. Mụ không nhổ vào mặt tôi. Mụ cũng không đập vào mặt tôi. Mụ luồn tay vào bụng tôi làm như đấm tôi vậy, miệng vẫn tiếp tục chửi rủa. Tôi cảm thấy cái gì đó nằng nặng trên bụng, liếc nhanh, thì ra đó là một quả quít nhỏ, tôi vội lấy tay che lại, nụ cười thành trơ trẽn biến mất, nhường chỗ cho sự ngạc nhiên đầy lý thú và cảm thông rất nhanh. Ðôi mắt diễn viên trong một thoáng lạc đi rồi trở lại ngay với vở kịch còn dang dở! Cô ấy trạc tuổi tôi hoặc nhỏ hơn chút ít. Ðến bây giờ, tôi vẫn hằng ước mong có được một dịp tái ngộ người ân nhân tuyệt vời này – Không phải vì đơn thuần quả quít mà vì giá trị khích lệ trong một hoàn cảnh quá hy hữu.

Những ngày và đêm tiếp theo là thủ tục hỏi cung. Bộ đội chánh quy từ miền Bắc tương đối nhẹ tay, một vài người nói và làm như miễn cưỡng, một người đã lén pha cho tôi một ly sữa sau lần tôi bị ngất đi vài giờ, nhưng những tay “giải phóng – cộng sản người miền Nam” thì thật tàn bạo… Chính nơi đây tôi đã được nhìn thấy thế giới bên kia sau những lần chết đi, có lần kéo dài đến sáu, bảy tiếng… Tôi đã nhẹ nhàng thanh thoát, lướt bay trên những cánh đồng đầy hoa, không một chút bụi. Không cảm giác áo quần mặc trên mình dù rằng quần áo rất đẹp, không tơ lụa nào sánh bằng, hình như kết bằng mây ngũ sắc. Cả không gian thật tươi mát, thật sạch như vừa trải qua một cơn mưa nhẹ. Bầu trời không một áng mây, không có mặt trời nhưng lại rất sáng và trong suốt như pha lê. Tôi đã nhớ lại từng chi tiết nhỏ cả quãng đời đã qua từ khi nhập thế. Những điểm tốt cùng với bao nhiêu điều xấu. Vui vẻ, hài lòng, thảnh thơi trước những việc thiện. Hối hận, ăn năn, dằn vặt, đau khổ trước những điều bất thiện. Có lẽ đó là “Toà Phán Xét” theo giáo lý đạo Thiên Chúa.

Có thể đó chính là Niết Bàn và Ðịa Ngục theo Phật Giáo chăng? Tôi đã nghe và hiểu những con chim đang hót những lời tán tỉnh. Tôi đã thấy những con cá giành ăn và nghe chúng cãi nhau. Chính nhờ vậy tôi lại càng không sợ chết nữa, trái lại còn mong muốn được ra đi thật sớm. Tôi như tỉnh ngộ và nhận rõ rằng cái xác này tuyệt nhiên không phải là tôi. Nó chỉ là một phương tiện, một địa chỉ tạm trú của một trong vô lượng vô số kiếp mà thôi. Quá đủ rồi. Tôi đã thoát ra và ngắm nhìn cái xác này bất động. Mấy lần đầu, tôi nghĩ đó chỉ là những giấc mơ.

Sau vài lần lập đi lập lại thành xác tín, thành khẳng định những gì bên kia cửa tử, tôi khẩn khoản một cách chân tình, một cách rất bình thản: Các anh thấy tôi đã chết nhiều lần, tôi đã được qua thế giới bên kia, đẹp lắm, bình yên lắm, tôi thề sẽ không bao giờ oán hận các anh, tôi hứa sẽ mang ơn nếu các anh cho tôi một viên đạn vào đầu để tôi được đi luôn, không phải trở lại cõi đời này.

Thật bất ngờ, kể từ hôm đó, họ không hề đụng chạm đến tôi nữa. Một lần, một tay cán bộ bắt tôi nhận diện những đồng ngũ đã hy sinh qua những tấm hình chụp trắng đen. Anh Thạch nằm chết bên cạnh khẩu M60 không còn một viên đạn. Mắt anh một nhắm, một mở. Miệng anh như mỉm cười. Tôi lặng người, nước mắt lưng tròng. Tay cán bộ giả vờ nhìn đi chỗ khác. Tôi cố tình tìm nhưng không nhìn thấy xác Chuẩn Úy Vũ Thế Cường, là anh họ của tôi — anh ruột mẹ tôi là Vũ Thế Nghiệp tức nhà báo Thần Phong hai năm sau đó bị xử bắn tại Thủ Ðức. Vĩnh biệt các anh và hẹn ngày gặp lại, tôi khẽ thì thầm.

Quay trở về mùa Ðông 1975 tại Trại A9 Long Thành. Trại nằm ngay tại Ngã Ba Thái Lan gồm nhiều dãy nhà tôn vách ván nơi đang tập trung học tập các cựu viên chức hành chánh Việt Nam Cộng Hoà. Chúng tôi khoảng năm mươi người gồm nhiều thành phần bị nhốt trong dãy nhà ngang cuối cùng có hàng rào kẽm gai quây kín. Tất cả tù nhân bị cùm hai chân, xiềng một tay vào ban đêm, ban ngày chỉ xiềng một tay vào một chân.

Cùng trại có một người lớn tuổi tên là Phan Xuân Hạ, bị bắt vì nghi ngờ là sĩ quan cao cấp Việt Nam Cộng Hoà đang trốn tránh. Cụ rất hiên ngang, dõng dạc. Nghe cái tên quen quen, tôi hỏi cụ có liên hệ gì với với một người bạn cùng khoá là Phan Xuân Mai không. Cụ chỉ mỉm cười: Con cháu trong nhà thôi. Bà Minh Ðăng — Không biết tên thật, chủ đại bài gạo Minh Ðăng, Biên Hoà — người phụ nữ duy nhất bị bắt vì tiếp tế nguyên một xe gạo vào rừng, đã dùng sợi dây xích làm xâu chuỗi, không biết bà đã đọc bao nhiêu kinh mà sợi xích sáng bóng như thép ròng vậy.

Nguyễn Văn Chi, người bị đánh hội đồng nhiều nhất trong suốt hơn hai tháng vì bị nghi ngờ là Thiếu Úy Trần Văn Chi — Thiếu Úy Chi bị một viên đạn xuyên qua vai phải, trốn thoát, hiện đang ở San Jose - California, Ngô Ðình Chiến bị bắn xuyên qua bả vai trái, tay trái bị liệt. Nguyễn Văn Cân bị ghẻ toàn thân chỉ trừ hai con mắt, Nguyễn Y người Bình Ðịnh — trông giống hệt hình Quang Trung Ðại Ðế, Trịnh Văn Thương bị bắn xuyên qua đùi, Phạm Văn Thận với chiếc jacket với hàng chục lỗ đạn…

Cũng trong trại này có một người lính cũ của tôi, Ðào Văn Lành, không biết bị bắt bao giờ và về tội gì. Anh được làm trong nhà bếp, phụ giúp nấu cơm cho trại. Một lần đem cơm cho tù nhân, anh nhận ra tôi nhưng không dám nói, chỉ ra hiệu. Tôi thì vẫn… muôn đời Lục Quân Việt Nam, cứ bô lô ba la, cứ vui trước đã, đằng nào cũng chết, vui ngay cả với tử thần như một thân hữu đang đợi trông. Cơm ngày hai bữa trưa và chiều, mỗi người được hơn một chén cơm với “thịt cọp”. Thịt cọp có nghĩa là muối hột, khi nhai kêu cọp cọp.

Tôi chỉ ăn một nửa muối, phần còn lại dùng pha nước để tự rửa vết thương. Thỉnh thoảng được một chút canh nấu bằng lá cải già hay bí rợ với muối. Một hôm Lành lén trao cho tôi một lon sữa bò trong đó có phân nửa chất nước đen đen, quẹo quẹo mà Lành nói là nước cá kho. Chao ơi, nó ngon làm sao. Mỗi bữa ăn, tôi chỉ dám chan một muỗng cà phê trên chén cơm hẩm mà tưởng như đang thưởng thức món cá cao lâu ngày nào. Khoảng hơn mười ngày sau, khi vắng bóng người, Lành hỏi nhỏ:

- Nước cá kho tôi cho ông có ngon không?

- Cám ơn Lành, đang thiếu thốn mà được như thế không gì so sánh bằng.

Lành thật thà:

- Ông biết không, tụi nó kêu tôi rửa cá khô, nguyên cả ký lô cá khô tôi rửa bằng một tô nước thôi, nước đó tôi cô lại còn nửa lon cho ông xài đỡ. Ráng sống, ráng nhịn cho qua nghe ông!

Rồi cũng qua một mùa Ðông. một mùa Ðông tang thương, thê lương trên khắp nẻo đường đất nước. Cả miền Nam biến thành một trại tù khổng lồ. Bốn tháng sau tôi bị chuyển về giam tại xã Ngãi Giao, quận Ðức Thạnh — Phước Tuy/Bà Rịa. Chỉ cùm hai chân ban đêm nhưng ban ngày vẫn phải đeo xiềng vô một chân để đi lao động — mục đích giữ tù không chạy trốn. Từng đoàn tù với xiềng xích kêu loảng xoảng trên đoạn đường gần làng Bình Giả, tôi lẩm bẩm hát bài Việt Nam Quê Hương Ngạo Nghễ (Nguyễn Ðức Quang) thật thấm thía:

… Ta khua xích kêu vang dậy trước mặt mọi người,

nụ cười muôn đời là một nụ cười không tươi.

Nụ cười xa vời, nụ cười của lòng hờn sôi.

Bước tiến ta tràn tới tung xiềng vào mặt nhân gian!

Trung Úy Nguyễn Văn Tài lúc nào cũng chỉ một câu vọng cổ trong Chuyện Tình Lan Và Ðiệp: “Em tên là Nguyễn Thị Lan(g), xác còn nằm đó mà hồn tan(g) lâu rồi!”

Ở đây tuy ấm hơn nhưng rất khó ngủ vì hàng sư đoàn rệp tấn công suốt đêm. Cũng tại nơi này, hai thằng em tôi là Ðồng Quang Nhường và Nguyễn Văn Hiển bị đánh chết. Hai em trốn trại bị bắt lại. Chúng trói hai tay hai chân rồi treo lên xà nhà như đang khiêng hai con heo. Ðích thân thằng trại trưởng dùng búa gỗ (một khúc cây tròn đường kính cỡ 15cm, dài khoảng 30-40cm, đục một lỗ ở giữa tra cán vào, cán dài khoảng 1m, dùng để đập tôn cho bằng). Nó vung thẳng cánh đập một nhát vào đầu Ðồng Quang Nhường nghe bộp như đập một quả dừa. Nguyễn Văn Hiển ngoái đầu qua nhìn, thuận tay nó vớt một búa ngay quai hàm của Hiển, quai hàm trẹo lặt qua một bên, máu vọt ra có vòi. Tôi nhắm mắt lại kêu Trời! Cố bịt miệng để khỏi la thành tiếng.

Cả hai xác Nhường và Hiển co giật vài lần rồi buông thõng. Vài phút sau, chúng cắt giây thả hai xác xuống. Tôi và ba người nữa tình nguyện đi chôn. Cả hai xác còn nóng hổi được đặt nằm trên tấm gỗ dài cỡ 1 thước 8, rộng 25 phân, hai cánh tay đong đưa theo nhịp bước, nhất là theo cái cà thọt khấp khểnh chân què của tôi. Hiển máu vẫn còn chảy toong toong trên đường. Cái đầu của Nhường ọp ẹp như quả cà chua úng, hai mắt lồi lên, mặt sưng tím bầm. Ðất tổ ong mà dụng cụ đào chỉ là mấy cái cuốc xẻng cũ sứt sẹo. Trung Úy Tài nhỏ con nhất nhưng là người khoẻ nhất, hăng hái nhất… Mấy ông ráng đào sâu sâu cho hai đứa nó. Cố gắng mãi đến tận mặt trời lặn cũng chỉ đào xuống được khoảng bảy tấc! Cả hai xác đều bị chôn nguyên trạng, không áo quan, không poncho hay chiếu bó lại. Tôi ráng gom vài mảnh báo cũ phủ mặt cho hai em. Xếp vài cục đá xung quanh đầu rồi lấp đất nhè nhẹ như sợ hai đứa đau.

Ðêm đó tôi không tài nào ngủ được. Khoảng nửa khuya, dưới ánh đèn heo hắt, tôi nhìn thấy thật rõ ràng: Nguyễn Văn Hiển đang đứng bên cửa sổ phòng giam, không nói gì, đôi mắt thật buồn nhìn về xa xăm. Tôi nói thầm: Hiển ơi, thôi em hãy đi đi, đừng luyến tiếc gì cõi đời giả tạm này, nghiệp báo em đã trả xong, đừng oán ghét, đừng hận thù, hãy để cho lòng thanh thản mà siêu thoát…

Tôi cứ nói như thế, lặp đi lặp lại, dỗ dành, van lơn, lâu lắm, bóng Hiển tan dần rồi biến mất. Hình như có tiếng người trở mình bên cạnh. Tôi xoay qua: Trong bóng tối mờ mờ, tôi nhận ra Ðồng Quang Nhường, hai anh em như đang nằm trên một toa xe lửa, dưới lưng cái gì bầy hầy như phân trâu bò. Tôi hỏi nhỏ: Chúng nó đưa anh em mình đi đâu đây? Chúng nó sẽ đưa anh ra Bắc nhưng anh đừng lo — Nhường lúc nào cũng lạc quan — mọi việc sẽ rất tốt đẹp, rồi anh sẽ vinh quang nơi xứ người. Tôi cười khẩy: Mẹ kiếp, miền Bắc chính là xứ người, không phải xứ của anh em mình, nhưng cái thân tàn tật tù tội trên đất cáo Hồ thì vinh với quang cái khỉ khô gì. Nhường cười. Hai anh em cùng cười với nhau. Tôi bừng tỉnh. Chơ vơ. Thì ra đó chỉ là một ác mộng.

Mấy tháng sau tôi nhận được lệnh: Tha thụ hình, cho phép đi cải tạo. Tôi bị chuyển qua Trại Lê Lợi. Nơi đây tuy không bị còn bị cùm hay xiềng nhưng ở trong khu cách ly. Bên kia hàng rào nhìn thấy Ngô Bá Lai, Nguyễn Hữu Tạo và một số rất đông bạn bè khác, nhận ra nhau trong ánh mắt thật ngỡ ngàng, tủi nhục, chua xót, đắng cay. Ngô Bá Lai nháy mắt bảo tôi ra nhà vệ sinh, hai đứa trật quần ra ngồi bên nhau trao đổi tin tức. Lai ân cần hỏi tôi thiếu thốn gì không. Một tháng sau chuyển qua trại Long Giao. Tôi vào trại với hai cổ tay và cánh tay bị trói chặt ra sau lưng bằng dây điện thoại, hai chân trần với vỏn vẹn một bộ đồ trên người và một túi vải nhỏ đeo trước ngực. Phạm Văn Bông nhận tôi về tổ, trong cùng tổ có Trần Ngọc Hoàn; cùng đội, cùng trại có Nguyễn Quyết Thắng, Nguyễn Nhự, Chung Gia Phong, Bùi Ðức Hùng, Nguyễn Thành An, Ðặng Kim Cương, Trương Hội, Phạm Ðức Thịnh… Trại bên có Nguyễn Ðức Phương. Bạn bè chia sẻ cho tôi thật nhiều đồ dùng và thực phẩm. Phạm Tuế tặng tôi một chiếc quần treillis còn khá mới.

Ngày 23/5/1977, chuyển ra miền Bắc trên chuyến tàu Sông Hương. Nằm trong toa xe lửa trên đoạn đường từ Hải Phòng lên bến phà Sông Hồng với toàn phân trâu, phân bò, tôi cứ mãi miên man nghĩ về từng chiến hữu trong chiến khu, nghĩ thương hai thằng em bị thảm sát trong tù, về thân phận mình, về dân tộc và quê hương cơn quốc nạn. Ðôi mắt cay cay chiều xót xa…



Người lính Nguyễn Thế Thăng

——oo0oo——


Hình: Ông bà Nguyễn Thế Thăng và trưởng nữ, 23 tuổi, vừa tốt nghiệp Tiến Sĩ Dược Khoa hạng danh dự tại OHSU (Oregon Health… Science University).

Tony Thang Nguyen

Bản anh-ngữ

In Desperation

The winter of 1975 was the bleakest season of my existence in my unfortunate country. Vietnam had just undergone a brutal change and I was in chains. I was held captive in a low-ceilinged steel-roofed structure called Camp A-9, in Longthanh City, not far from where the Cobra King Division from Thailand was once stationed. These nights were excruciatingly cold and seemingly endless. Without the slightest cover, I dozed off during daytime so I could massage my body the entire night long to keep myself warm. And I was nursing an open, bleeding wound that I had no way to keep it clean other than to douse it with some salty water, lick it and chew out the rotting flesh.

Neither before nor after the Fall of Saigon in April of 1975 did it enter my mind to leave Vietnam. Instead, I made my way to join the Resistant Force founded by Ledinh Thach, a former Captain of RVNAF 5th Infantry Division. We were a fighting force composed of people from Special Forces, Paratroops, Rangers, Infantry, Police and Paramilitia. My rank was Captain.

We occupied the abandoned former Viet Cong secret strongholds as they swept into the cities. These areas, called River Buong and River May, were still strewn with necessities for a campsite, such as tents, cottages, look-out posts on tree-tops, cooking utensils as well as a tended root and vegetable patch. Left behind was also a great quantity of local-made hand grenades, mostly damaged by moisture; we used these solely for catching fish. We often ransacked rice warehouses nearby, in such places as Tanbinh, Tanbac and Traco. Before withdrawing back to our campsite, we never forgot to liquidate the warehouse and leave a full sack of rice at the front door of every nearby civilian dwelling. They in turn supplied us with other necessary staples. For weapons, we had some M16s or M79s, but with less and less ammunition as the time went by. So we attacked VC outposts to get their AK47s and B40s.

We all agreed to make our way to the border of Thailand, by a jungle trail across Cambodian territory. We would then make further decisions after some rest. We knew that there was an 81st Airborne Ranger unit under the leadership of Wong A Cau stationed somewhere nearby and we tried to join forces with them, as well with a contingent led by Commandant Nguyen Phuoc Truong, also known as Major Tam. We also had a priest with us, Catholic Father Hieu (full name Tranhoc Hieu. Father Hieu was later killed by the communists during his imprisonment).

One day in October 1975, the Viet Cong started attacking our unit as well as Major Tam’s. They had two regiments of more than one thousand infantrymen and four T54 tanks encircling us. We were eighty men strong. We spanned a wide area, and met them in tactical three man units. We positioned ourselves at every strategic spot, even on the tree-top lookouts. We used our ammunition sparingly, making our shots count. And thus we fought them for four days and nights and lost about half of our comrades. When Captain Thach was killed, we decided to dissolve the unit. Three men came with me, making our way toward the Cambodian border through PhuocLong Province. At ten a.m. the next day a Viet Cong platoon, spread behind and along a range of bamboo trees, barely forty to sixty feet away, ambushed us near Vinhcuu hamlet. We were crossing an open field and thus were sitting ducks to them. The bullets were flying, tearing my jacket with holes. Then I was hit in my right knee as I was crouching to return the fire. I fell backwards, still firing. I ordered the three men of my unit to escape. But W.O. Nguyenthach Diep was hell-bent on dragging me along with him. Ignoring my protest, he would not release his grip on me. Pointing my gun at him, I ordered sternly: “Release me at once and go or this bullet is for you.” Tears brimming in his eyes, he answered, “Yes, sir” and disappeared. The enemy was soon swarming over me in a hand-to-hand combat. One tried to hit me on the head with his B40 launcher, but I swerved my head, and it hit the back of my neck. I fell down unconscious. In a blur, I seemed to see another Viet Cong pointing his AK to my head about to pull the trigger. Another voice warned, “Don’t kill him. This fellow is an officer. We can get more info from him. Let’s bring him back.” When I next regained consciousness, I found myself on a nylon hammock, my back soaked through with my fresh blood. The VC soldiers were carrying me through the rice field where some villagers were tending to their crops. I overheard faint voices saying “Jesu Ma” (Oh my God).

I was detained in Thongnhat district, Dongnai province. My cell was in a bombarded house whose roof was missing. Its wooden windows were nailed shut with crisscross boards. My head rested on a big brick. My body lay on a jute sack and was totally bare except for my bloodstained underwear. I found my army shirt wrapped around my broken knee. I endured the excruciating pain in the endless cold rain for several hours and then I raised my voice and asked my jailers to move me to a drier spot. No one answered. I dragged myself to a corner to seek shelter. Were the door to open at that moment, I would not be able to go anywhere, as the bullet that felled me had gone through my right knee, shattering my kneecap. Evaluating the situation, I was quite certain that I could no way escape a death sentence—I was caught red-handed with a deadly weapon in my hands, fighting my way. Were I to escape death through any unexplainable occurrence, I still would surely become an invalid. Committing suicide was the only best way. I tried to hit my head against the wall but I had no strength left. Biting my tongue was too painful and my stamina failed me. Only one solution was left and that was to let the Viet Cong do the killing for me. I began to call Ho Chi Minh by name and yelled out invectives against him until I was hoarse. No result. Then I called the Viet Cong top leaders names that I could remember, such as Le Duan, Truong Chinh, Phamvan Dong, Pham Hung, Leduc Tho... I kept insulting them until I passed out.

When I came to, I found myself the same as I was before, stiff and numb and cold. My head still rested on a brick, my body was still lying on the jute sack, almost naked but now covered by a damaged rusty metal sheet. The wind went on howling, the rain unfeelingly pouring, raindrops pounding rhythmically on the damned metal.

The following morning, the Viet Cong called a general meeting of all the population of the Thongnhat District. They displayed about forty corpses of our men killed in the attack that they labeled 40 “cruel rebels” who had been “punished.” Eleven of us were captured, all of us wounded. The rest, about thirty men, had escaped. The Viet Cong brought me to the back of an army Jeep for the populace to view. Some shouted slogans like, “Death to the traitor,” while some others tried to stifle their cries. I sat back in my bloodshot, flimsy underwear, slightly smiling. Death was what I wished and waited for. A death sentence was therefore no longer ominous to me. It was just a normal consequence of my actions.

A young woman about my age shoved the guards aside so that she could have a closer look. She said, “this traitor, this invader, doesn’t bow to peace but goes on killing innocent victims.” She went on, her rage feeding on itself: “I want to spit on his face, to crush the skull of this creature that bears a human face but fosters inside a bloodthirsty animal.” I sat, unmoved, thinking she was just a female “Victor Charlie” performing her play. I just wanted to see this comical tragedy end. I was ready to die in whatever form, or by whatever means. I met her gaze steadily while she raised her fist against me. Instead of swinging at my face, or spitting on me, her hand touched my belly. I looked down in haste and saw a small tangerine there. I quickly covered it with my hand and met her eyes in wonder. With a glimpse of recognition for my gratitude she went on with her performance. At present time, I still wish for an opportunity to somehow meet this wonderful actress again, and thank her, for the tangerine, yes, but most importantly for the moral uplift she provided me.

Then began the days of interrogations. Interrogators from the regular PAVN from the North were somewhat bearable. Some seemed reluctant to be tough. One of them even stealthily brought me a cup of hot milk, after I had passed out. But at night, groups of VC’s came to torture me. They punched and kicked and hit me with wooden clubs. Sometimes, they stood on my broken knee, and jumped up and down on it. This went on for six or seven days. It seems they had selected me for special treatment because I was the only high ranking officer there at that time.

The interrogators from the Liberation Army of the South were the cruelest. The intense pain of their torture occasionally caused me to pass out, sometimes for several hours. During these periods, I saw myself floating above fields covered with colorful, giant flowers. I was clothed in the richest material made from the gossamer of a rainbow. The air was pure and fresh like after a light rain. And the atmosphere was crystal clear and bright even with no sunlight. I could recall every detail of my entire life as far back as the day I was born. I was happy when recalling my good deeds and then remorseful or ashamed of my bad actions. Was this the “Judgment Day” according to the Christian doctrine, or the “Nirvana and Hell Stage” of Buddhism? I don’t know, but suddenly I understood the twitter of birds and the chatter of fish, quarreling over a morsel of food. I therefore was no longer afraid of death. On the contrary, I yearned for the earliest moment when I could leave this earth behind. I wanted to exit this body of mine, which only housed my real being while it evolved through endless stages of transmigration of my soul. It was simply one among trillions of temporary addresses. When I awoke from each of these comatose bouts, I thought that all I had seen were simply dreams. But as the same experiences kept reoccurring, I then firmly believed in my afterlife. I told my torturers, sincerely and in earnest, “Please help me get through death’s portal. I have seen beauty and serenity on the other side of death. I will be forever grateful to you if you put a bullet in my brain and end it all. I don’t want to continue this terrible life. I promise I will not bear any grudge against any of you, ever and ever.” Mysteriously, my tormentors left me alone after that.

One day, a high-ranking member of the VC cadre showed me some black- and-white pictures of my slain comrade-at-arms for identification. I first of all recognized Captain Thach lying dead next to his empty M60, one eye closed, the other opened, a seeming smile on his lips. My heart sank. Tears sprang to my eyes.

The VC turned his head away as if he saw nothing. I also tried to find the body of my cousin, Warrant Officer Vuthe Cuong. His was not among the pictures. (His father, Vuthe Nghiep, was my uncle, my mother’s full brother. Nghiep was a journalist writing under the pseudonym of Than Phong. He was executed two years in Thu Duc, a borough of Saigon city). I said a silent prayer: “Good bye for now, my dear brothers, until we meet again.”

At Camp A9, most of the inmates were former governmental officials of the Republic of Vietnam. The camp consisted of rows of bunkhouses, steel-roofed, and walled with thin wooden boards. Perpendicular to the last row house was a bunkhouse surrounded by layers of barbed wire. About fifty of us occupied it. At night only one of our arms was unfettered; but on the contrary, during daytime, one hand and both legs were free. Here were some of my cellmates: a gentleman named Phanxuan Ha, who was suspected to be a high-ranking officer of the RVN Armed Forces using a fake ID card. He bore himself with poise and dignity. I asked him whether he had any relationship to a classmate of mine in the National Polwar College by the name of Phanxuan Mai. He smiled and said, “Oh, he might be a younger relative.” There was also a woman named Mrs. Minh Dang, the only female to be incarcerated with us. Her crime was that she supplied us “rebels” with a whole truckload of rice. Her iron chain became her rosary, and she fingered it while praying until it shone like polished stainless steel. Nguyenvan Chi was the one who was mistreated and tortured the most, as they mistook him for 2nd Lt. Tranvan Chi. (The real Lt. Chi bore a bullet through his right shoulder, but later made it to California USA). And there was Ngodinh Chien with his left arm paralyzed as the result of a bullet through his left shoulder, and Nguyenvan Can who had sores all over his body, except for his eyes. Another man from Binhdinh province looked like former Emperor QuangTrung. Trinhvan Thuong had a bullet wound through his calf; Phamvan Than wore a jacket peppered with dozens of bullet holes.

Also in this cell house I met a former soldier of mine named Daovan Lanh. I had no idea when and why he was incarcerated. But by then he was assigned kitchen duty for the camp. One day, while bringing rice rations to us prisoners, he recognized me, and just nodded as a sign of acquaintance. As for myself, a real infantryman of our RVNAF, I held my cheerful countenance. I joked with everyone, as I was expecting my certain death to come as a welcome friend. Every day we were fed twice, a single bowl of rice with “tiger” meat. A play on the onomatopoeic sound kop, kop, translated into “cop,” a tiger. The “tiger meat” was really rock salt, which when chewed gave out that sound. I used only half of my ration of salt to eat; the other half I used in a solution to wash my wounded knee before licking it with my own tongue. Once in a great while, we were fed with some cabbage soup or pumpkin seasoned with salt. Then one day, Lanh, the cook, surreptitiously gave me half of a small can of something dark and viscous, which he said was reduced fish sauce. Oh my, it was divine. I used only one spoonful each time on my bowl of stale rice, and it brought back to me flavors of high-end restaurant fare I used to enjoy.

A dozen days later, when no one was around, Lanh whispered to me, “Did you find the “sauce” o.k.?” “Many, many thanks to you, my friend,” I said. “In the dire straits I am in now, what you gave me has no comparison.” Lanh said, “They (the VC cadres) asked me to wash about two pounds of dried fish. I washed that whole thing with only one bowl of water. Then I reduced the water by half and that was the sauce you got. Please use it–try to endure and survive, OK?”

The winter passed by, a winter of grief and sorrow befalling all Vietnam that had suddenly turned into a huge prison. Four months later the VC transferred me to Ngaigiao hamlet, Ducthanh district. Though my cell was warmer than the previous one, it was far more difficult to rest. Swarms of bedbugs devoured us all night long.

At night, both my feet were shackled. In the daytime, when we went to our labor duty, only one foot was fettered. And thus we went through the Binhgia village narrow paths, with clanging chains marking our steps. I muttered a song entitled “Vietnam, Vietnam, our indomitable country,” and bitterly felt the meaning of the words, “I shake my shackles noisily in the face of everyone.” My smile was not a natural one. It was a far-fetched one. It was an enraged one. I will step up and smash this chain on the face of those people. 1st Lt. Nguyenvan Tai would sing over and over one line from a romantic opera called ‘The saga of Lan and Diep’: “My name is Nguyenthi Lang, my body lies here, but my soul has gone elsewhere a long time ago.”

It was in this camp that I witnessed the horrible death of two of my soldiers, named Dongquang Nhuong and Nguyenvan Hien. They had tried to escape from the camp but were recaptured. The VC bound their hands and feet and hung them upside down from the roof-trestle as one would hang two pigs. The head of the camp came out and picked up a wooden hammer used to straighten sheets of corrugated tin plates. It was about five to six inches in diameter, over a foot in length. A handle around four feet long bore into the middle. With one single strong blow, the man swung the hammer right onto Dongquang Nhuong’s head as if it were a coconut. With a thud-like noise it hit its aim. Nguyenvan Hien turned his head to see his friend and received a blow right in his jaw. The jaw fell apart while blood shot out jet-like. I closed my eyes and stifled a scream. The two bodies squirmed a few times and then hung lifeless. They lowered the bodies. I and three other men volunteered to bury them. The bodies, still warm, were laid upon a plank about six foot long and nine inch wide. We walked forward, the dead men’s arms swinging with the uneven steps of our gait. Hien’s head was still oozing blood. Nhuong’s head looked like a gigantic overripe tomato, with its eyes bulging and its face discolored and swollen.

The rocky soil was extremely hard to dig, particularly so when we only had some old, broken shovels. Lt. Tai, the smallest man but also the strongest and most dedicated, encouraged us, saying, “Let’s try to dig a deep grave for them, men.” We tried and huffed and puffed. At dusk, we had reached less than three feet. So we buried our two comrades as they were, with nothing to wrap their bodies, neither poncho nor mat. I gathered some old newspapers and covered their faces. Then I picked up a few pebbles and lined them around their heads, and ever so lightly, I covered their faces.

That night, it was impossible for me to fall asleep. Around midnight, under the feeble light of our cell I clearly saw Nguyenvan Hien standing by the window, looking out with sorrowful eyes in an immense empty silence. I muttered quietly words of consolation: “Hien, dear, be gone in peace. Leave this cruel world behind.

You have paid your dues. Be free from anger and hate. Let your mind soar to immortal bliss.” And thus I kept repeating my pleas and prayers until Hien’s ghost blurred into nothingness. I then felt something, perhaps a body moving next to me. I turned around and found Dongquang Nhuong lying with me on something liked the floor of a moving train, our backs damp as we were lying on cattle dung. I whispered to him, “Where do you think they are moving us to?” He replied, “Do not fret, big brother, they’re taking you to the North, but everything will be all right with you. You’ll be then successful overseas.” He laughed. Nhuong was always optimistic. I laughed with him and asked, “What? The North has never been our country. It’s our enemy’s land. And talk about success? How do you expect an inmate, an invalid to boot, to succeed at anything on that forsaken land of those cruel communists? OK, big success considering anyway.” We both roared with laughter. I awoke. I was lonely by myself. It was just a dream, and I was awake in a nightmare.

A few months later, an order came concerning my condition: “This inmate is relieved from punishment and is allowed to enlist in a re-education camp.” I was moved to Le Loi Camp. Here, though no longer under shackles, inmates were kept away from the population. I recognized quite a few of my friends over the barbed wire, such as Ngoba Lai and Nguyenhuu Tao. We just acknowledged each other by a glint of the eye, feeling ashamed, confused and bitter. Ngoba Lai winked at me and walked to the direction of the outhouse. There crouching next to each other, we exchanged information. Lai asked if I really needed anything but I gratefully refused his help, his condition was not much better than mine. A month later, I was sent to camp Long Giao. My arms were again tied behind me with telephone wires. My feet were bare, and I had nothing on me other than a pair of flimsy shorts and a little bag hanging in front of my chest. My two classmates, Phamvan Bong and Tranngoc Hoan, voluntarily received me into their group. I shared the same camp with other friends Nguyenquyet Thang, Nguyen Nhu, Chunggia Phong. Buiduc Hung, Nguyenthanh An, Dangkim Cuong, Truong Hoi, and Phamduc Thinh. In a camp next to ours there was Nguyenduc Phuong. These Polwar classmates shared foodstuff and clothing with me. I finally got a pair of army pants, a gift from Pham Tue.

On May 23, 1977, I was sent to North Vietnam aboard the ship Songhuong. We debarked at Haiphong harbor. The trip from Haiphong to the ferry on the Red River was by train. On the floor of the train, as I laid my body down amid the water buffalo dung, my mind went back to my fellow combatants in the jungle, to the horrifying death of my two young soldiers, to my own fate, to my own people, and to the national tragedy that befell Vietnam. With much sadness, bitter tears pricked my eyes.

Tony Thang Nguyen

Editor’s note: Captain Nguyen endured over eight years of hard labor in concentration camps throughout North Vietnam. He says that he dropped in weight from one hundred and fifty pounds to ninety pounds. In all the time of his incarceration, he was allowed to see his mother and his younger sister twice, for less than an hour each time. He was released in 1983, and emigrated to the United States in 1992.

Captain Nguyen of the Republic of Vietnam Armed Forces is now a Major, the Executive Officer of the Interpreters Team, Oregon State Defense Force. He owns and operates Tigard Transmissions Center. He is married and has two daughters. He married his wife three months after his release from the prison camps. His wife is a niece of an RVNAF Chaplain incarcerated along with him a long time. This Chaplain introduced Nguyen to his relative’s family with strong recommendations. Nguyen graduated from the RVNAF Political Warfare College.

56 War, Literature & the Arts

  

Sông Cờ Đỏ, giúp Trung Cộng làm bá chủ Á Châu

 Mình xin giới thiệu một bài viết của bác sĩ Ngô Thế Vinh của Liên Đoàn Biệt Cách Nhảy Dù khi xưa, một chuyên gia về Đồng Bằng Sông Cửu Long. Mình quen anh ta, trước đại dịch, hay gặp mỗi tháng với mấy anh bạn khác để bàn về vấn đề cứu nguy đồng bằng sông Cửu Long. Anh ta nghiên cứu rất lâu về vấn đề này, có đi xem địa thế của con sông này từ bên tàu.

VIỄN CẢNH 2022: TUNG HOÀNH VỚI SÔNG CỜ ĐỎ: TRUNG QUỐC ĐANG VẮT KIỆT NGUỒN NƯỚC CỦA CHÂU Á

Dẫn Nhập _Các dân tộc sống trên lục địa Châu Á ở hạ lưu các dòng sông từ Tây Tạng và Trung Quốc chảy xuống, trên 1,6 tỉ người này đã phải gánh chịu hết cả thiệt hại kinh tế nông nghiệp, ngư nghiệp và môi trường các hạ vực đã bị thoái hóa dần dần suốt nhiều thập niên qua trong khi Trung Quốc hưởng hết ích lợi nhờ thủy điện vì trên thượng nguồn họ xây hàng trăm con đập, tàng trữ hàng trăm tỉ mét khối nước, giam hãm 90% phù sa và thay đổi toàn diện dòng chảy môi sinh trên toàn lưu vực. Nhưng tham vọng Trung Quốc chưa dừng lại, Trung Quốc đã bắt đầu xây một đại công trình mang tên Sông Cờ Đỏ, dài trên 6.180 km để hàng năm chuyển dòng lấy 60 tỉ mét khối nước ngay từ nguồn không cho xuống hạ lưu sông Mekong, Salween và Brahmaputra. Sông Cờ Đỏ của Trung Quốc là một mối đe doạ tiềm tàng to lớn, với khả năng gây ra tội ác cho nhân loại – imminent threat to humanity. Trung Quốc tránh không ký bất cứ một hiệp ước hợp tác sông ngòi quốc tế nào, để họ đơn phương thực hiện những tham vọng của mình. Không một siêu cường nào trên thế giới ngạo mạn khai thác dòng nước bất chấp cuộc sống của bao nhiêu triệu cư dân hạ lưu như thế.  Việt Ecology Foundation

Bắc Kinh có khả năng dùng “vũ khí nước” như một đòn ngoại giao bắt 25% dân số thế giới làm con tin / holding hostage. Khác với những hồ chứa đập thuỷ điện, vừa giữ nước vừa xả nước, Sông Cờ Đỏ là một chiến lược đổi dòng lấy nước – có nghĩa là 100% lượng nước này sẽ bị mất đi – không bao giờ được đền bù,  đối với các quốc gia hạ nguồn. [1]

Hình 1: Quốc gia Tây Tạng, nơi phát xuất những con sông lớn của Châu Á: (1) Dương Tử, (2) Hoàng Hà, (3) Indus, (4) Sutlej, (5) Yarlung Tsangpo – Brahmaputra, (6) Irrawaddy, (7) Salween, (8) Mekong. [nguồn: Bản đồ cập nhật của Michael Buckley, Meltdown in Tibet,Palgrave MacMillan 2014] [3]

CƠ THỂ HỌC CÁC CON SÔNG LỚN CHÂU Á

Các con sông lớn như mạch sống của toàn Châu Á đều bắt nguồn từ Cao nguyên Tây Tạng, còn được mệnh danh là Cực Thứ Ba của Trái Đất. 

_ Đông Tây Tạng: phía đông là khởi nguồn của hai con sông lớn hoàn toàn nằm trong lãnh thổ Trung Quốc: (1) sông Dương Tử6.500 km dài nhất Châu Á chảy về hướng đông theo suốt chiều ngang lãnh thổ Trung Hoa tới Thượng Hải – Shanghai, (2) sôngHoàng Hà thì chảy về hướng bắc rồi chuyển sang hướng đông tới Thiên Tân – Tianjin, và cả hai cùng đổ ra biển Trung Hoa.

_ Tây Tây Tạng: phía tây bắc, là (3) sông Indus và (4) sông Sutlej chảy về hướng tây nam và giao thoa với ba con sông khác để hình thành vùng châu thổ Punjab giữa hai nước Ấn và Hồi. Phía tây nam là (5) sông Yarlung Tsangpo là “con sông cao nhất thế giới”, với các ghềnh thác xuyên dãy Hy Mã Lạp Sơn, rồi chảy qua Ấn độ, Bhutan và Bangladesh, con sông đổi tên là sôngBrahmaputra trước khi đổ vào Vịnh Bengal, Ấn Độ Dương. 

_ Nam Tây Tạng: phía nam là ba con sông (6) sông Irrawaddy và (7) sông Salween chảy xuống Miến Điện theo hướng bắc nam trước khi đổ vào Biển Andaman. Riêng con (8) sông Mekong chảy qua nhiều quốc gia  với nhiều tên khác nhau, từ Tây Tạng: có tên Dza-Chu có nghĩa “nguồn nước của đá”, tiếp tục chảy về hướng nam băng qua những hẻm núi sâu của tỉnh Vân Nam với tên Trung Hoa là Lan Thương Giang / Lancang Jiang “con sông xanh cuộn sóng”qua đến biên giới Lào Thái mang một tên khác Mae Nam Khong “con sông mẹ”, xuống Cam Bốt lại mang một tên khác nữa Tonle Thom “con sông lớn”, cuối cùng chảy qua Việt Nam mang tên Cửu Long với hai nhánh chính là sông Tiền và sông Hậu đổ ra Biển Đông trước kia bằng chín cửa sông, nhưng nay chỉ còn bảy. [Hình 1] 

TÂY TẠNG KHÔ HẠN CHÂU Á CHẾT

Và cũng dễ hiểu tại sao, bằng mọi giá Trung Quốc phải chiếm cho bằng được Tây Tạng – vùng cao nguyên chiến lược vô cùng quan trọng, giàu có về nguồn nước, phong phú về tài nguyên thiên nhiên – đó cũng là “định mệnh sinh học – biological destiny”của Tây Tạng, một quốc gia nhỏ bé với chưa tới 1,5 triệu dân bản địa (thống kê 1965, dân số gốc Tây Tạng 1,321,500; Leo A. Orleans, The China Quarterly Jul-Sep, 1966) và đang bị Hán hoá, người Tây Tạng nay đã trở thành thiểu số ngay trên đất nước mình. 

Phải chứng kiến tốc độ tàn phá sinh cảnh Tây Tạng, ngay nơi đầu nguồn,  các con sông lớn Châu Á đang bị Trung Quốc khai thác một cách triệt để với những đập thuỷ điện, cùng với nạn phá rừng tự sát / suicidal deforestation, tới các kế hoạch khai thác hầm mỏ đại quy mô, gây ô nhiễm nguồn nước. Hiện tượng biến đổi khí hậu với khí thải từ các nhà máy đốt nhiên liệu hoá thạch đang gây hiệu ứng nhà kính khiến khối băng tuyết tưởng như vô tận nơi cực thứ ba trái đất đang nhanh chóng bị đẩy lùi và tan rã.

Cũng để thấy rằng, những con sông Châu Á từng nguyên sinh trong thế kỷ trước thì nay đã biến dạng suy thoái và không còn như xưa nữa.

Cảnh tượng ấy khiến Đức Dalai Lama đang lưu vong phải thốt lên lời kêu cứu và ông đã chọn ưu tiên bảo vệ môi sinh thay vì những vấn đề chính trị nóng bỏng. Trong một lần gặp gỡ với Đại sứ Hoa Kỳ Timothy Roemer ở New Delhi, thủ đô Ấn Độ vào tháng 8/2009, Đức Dalai Lama nói rằng:   

"Lịch trình chính trị có thể hoãn lại 5-10 năm nhưng cộng đồng quốc tế cần tập trung quan tâm tới biến đổi khí hậu trên Cao nguyên Tây Tạng: khối băng tuyết đang tan rã, nạn phá rừng, và ô nhiễm nguồn nước do những dự án khai thác hầm mỏ, là những vấn đề cấp thiết, không thể chờ đợi."[nguồn: Wikileaks Cables, the Guardian 10 Aug. 2009]

Bắc Kinh xác nhận là sẽ xây thêm các con đập thuỷ điện lớn trên thượng nguồn sông Yarlung Tsangpo – Brahmaputra, trước khi con sông xuyên quốc gia ấy chảy sang Ấn Độ, Bhutan và Bangladesh. Brahmaputra là dòng sông huyết mạch của ba quốc gia này.  

Khi các công trình hoàn tất, tổng công suất / total capacity của những con đập thủy điện trên Cao nguyên Tây Tạng sẽ “nhiều lần lớn hơn” công suất con đập Tam Hiệp (Three Gorges Dam): 22.500 megawatts, lớn nhất thế giới trên sông Dương Tử.

Hình 2: Bích chương của Hội Phụ nữ Tây Tạng:Hâm Nóng Toàn Cầu trên Cao nguyên Tây Tạng; Nếu Tây Tạng khô hạn, Châu Á chết. [3]

Cho dù đang có những mối lo âu về sự tồn vong của quê hương Tây Tạng nhưng Đức Dalai Lama rất quan tâm tới những vấn đề chung của nhân loại. Ông nói tới vấn đề môi sinh rất sớm với tầm nhìn xa và trong mối tương quan toàn cầu và “phải làm sao giữ xanh hành tinh này, qua thông điệp nhân Ngày Môi Sinh Thế Giới / World Environment Day [ngày 05.06.1986]:

“Hòa bình và sự sống trên trái đất đang bị đe dọa bởi những hoạt động của con người thiếu quan tâm tới những giá trị nhân bản. Hủy hoại thiên nhiên và các nguồn tài nguyên thiên nhiên là do hậu quả của lòng tham lam và thiếu tôn kính đối với sự sống trên hành tinh này... Chúng ta dễ dàng tha thứ cho những gì đã xảy ra trong quá khứ do bởi u minh. Nhưng ngày nay do hiểu biết hơn, chúng ta phải duyệt xét lại với tiêu chuẩn đạo đức là phần gia tài nào mà chúng ta thừa hưởng, phần nào chúng ta có trách nhiệm sẽ truyền lại cho thế hệ mai sau."[3]

SÔNG CỜ ĐỎ / HỒNG KỲ HÀ 红旗河 
MỘT KHỦNG LONG CỦA BẮC KINH

Từ mấy thập niên qua, ai cũng đã biết Trung Quốc đã và đang xây thêmhàng trăm đập thủy điện trên khắp các dòng sông với những hồ chứa nước khổng lồ, ngăn chặn phù sa làm đảo lộn toàn hệ sinh thái, tác động đến sinh kế của bao nhiêu triệucư dân dưới nguồn. 

Nay tiến thêm một bước đột phá nữa, Trung Quốc đang có thêm một kế hoạch vĩ mô / mega project, vô cùng táo bạo – khai mở một con sông nhân tạo: Sông Cờ Đỏ / Red Flag River, lớn nhất thế giới xuyên lưu vực, kết nối với mạng lưới sông thiên nhiên của Châu Á, nhằm chuyển nước về hướng Bắc củng cố nền an ninh nguồn nước – cũng là nguồn an ninh lương thực của Trung Quốc. Với dự án Sông Cờ Đỏ dài 6.180 km này, Trung Quốc hàng năm sẽ giành thêm được 60 tỉ mét khối nước – có nghĩa là các quốc gia khác sẽ mất đi lượng nước sinh hoạt thiết yếu này.

Không tham khảo với các quốc gia láng giềng,có thể nói Trung Quốc với hơn 1.4 tỉ dân đã đơn phương khai mào một trận chiếnmôi sinh không tiếng súng và sẽ gieo hoạ cho 1,6 tỉ người thuộc các dân tộc lân bang chung sống với họ trên lục địa Châu Á.

Sông Cờ Đỏ có tham vọng chuyển 60 tỉ mét khối nước hàng năm tương đương với 21% lượng nước đầu nguồn hàng năm tại ba con sông xuyên quốc gia / transnational rivers: Mekong, Salween và Brahmaputra. Lượng nước quý giá này chính là nguồn sống, sinh kế của các dân tộc Nam Á, và Đông Nam Á vẫn phải dựa vào số nước ấy sẽ được chuyển tới vùng Tân Cương – Xinjiang phía bắc và tây bắc Trung Quốc.

Dự án Sông Cờ Đỏ xuyên lưu vực này sẽ gây chấn động dư luận nơi các quốc gia lân bang – đặc biệt là Ấn Độ, quốc gia có dân số đông thứ hai chỉ sau Trung Quốc. 

Những nước dưới hạ nguồn sẽ phải rất quan tâm trước một viễn tượng có thể khó lường. Do Tây Tạng có nước chảy xuống là nhờ mưa và tuyết tan khi trời ấm, mức nước và lưu lượng sẽ cao nhất từ tháng hai cho đến tháng bảy, cho 70% tổng số nước cả năm, khi đó là thời gian tối ưu cho con Sông Cờ Đỏ dựa vào thế năng và động năng cao để chuyển dòng và chiếm đoạt nhiều nước nhất. Các nước hạ lưu cùng lúc đó lại đang vào mùa khô, vì thế sau khi Sông Cờ Đỏ hoạt động, hạn hán giáng xuống hạ lưu chắc chắn sẽ khắc nghiệt hơn nữa. Lúc đó họ chỉ còn biết dựa vào lòng tử tế của Trung Quốc, điều mà người Tây Tạng, Ngô Duy Nhĩ, Việt Nam đã từng được nếm trải. 

Vì thế Sông Cờ Đỏ của Trung Quốc đã tiềm tàng một mối đe doạ to lớn, gần như tội ác cho nhân loại – imminent threat to humanity. Trung Quốc đã tránh không ký bất cứ một hiệp ước hợp tác sông ngòi quốc tế nào, để họ không bị ràng buộc có thể đơn phương thực hiện những tham vọng của mình. Không một siêu cường nào trên thế giới ngạo mạn khai thác dòng nước bất chấp cuộc sống của bao nhiêu triệu cư dân hạ lưu như thế.  

Riêng Việt Nam thì sao?  Vẫn là sự im ắng “truyền thống” cho dù Sông Cờ Đỏ sẽ lấy nước sông Mekong từ ngay nơi đầu nguồn.

Trung Quốc “vĩ đại” theo nhiều ý nghĩa, thể hiện cho tinh thần Đại Hán ấy trong quá khứ đã có Vạn Lý Trường Thành, là một trong bảy kỳ quan của thế giới. Nay với tiến bộ khoa học kỹ thuật, Trung Quốc còn thực hiện thêm những công trình mới có tầm vóc thế giới: đập thuỷ điện Tam Hiệp trên sông Dương Tử lớn nhất thế giới, và nay Sông Cờ Đỏ sẽ là con sông nhân tạo chuyển dòng lấy nước cũng lớn nhất thế giới với chi phí tốn kém nhất thế giới. Đây là một đại công trình làm thay đổi cả diện mạo của lục địa Châu Á. Với sẵn nguồn nhân lực, với quyết tâm và có khả năng kỹ thuật cao, Bắc Kinh có thể dư sức thực hiện Dự án Sông Cờ Đỏ này. Nhưng với cái giá nào phải trả của các quốc gia lân bang thì không được Bắc Kinh quan tâm tới.

Hình 3a: Sông Cờ Đỏ với Dự án chuyển nước vĩ mô “tam tung, tứ hoành / ba dọc, bốn ngang”; (a) đường đen mỏng: các dòng sông lớn; (b) đường đen đậm: Sông Cờ Đỏ và hai nhánh chính nối với các con sông thiên nhiên trong dự án chuyển nước nối lưu vực nam-bắc của Trung Quốc; (c) đường đen đậm đứt quãng gần: đường dẫn nước nam-bắc trong Dự án Chuyển Nước Nam-Bắc / SNWTP / South-North Water Transfer Project; (d) đường đen đậm đứt quãng xa: trong kế hoạch thực hiện. [nguồn: Bản đồ của Genevieve Donnellon-May và Mark Wang trên The Diplomat Oct. 7, 2021, với thêm ghi chú tiếng Việt của người viết] 


Hình 3b: GS Vương Hạo (Wang Hao), Chủ tịch Nhóm Chuyên gia trong cuộc Hội thoại về “Sông Cờ Đỏ” – một dự án vĩ đại của Trung Quốc – đã ngạo mạn phát biểu: “Ít nhất trên quy mô ngàn năm / thiên niên kỷ, Dự án Sông Cờ Đỏ sẽ đem lại những lợi ích vượt xa hơn là những tác hại.” 

LỊCH SỬ SÔNG CỜ ĐỎ VỚI “TAM TUNG TỨ HOÀNH”

Dự án này được soạn thảo bởi “nhóm nghiên cứu S4679” của Đại học Thanh Hoa / Tsinghua ở Bắc Kinh – được so sánh như một Harvard của Đông phương; do giáo sư Vương Hạo / Wang Hao là kỹ sư trưởng của Viện Nghiên Cứu Tài nguyên Nước và Thuỷ điện của Trung Quốc.

Sông Cờ Đỏ là một hệ thống thuỷ lợi với dòng chảy trọng lực / gravity flow water diversion system, lấy nước từ các con sông trên cao nguyên Tây Tạng [được mệnh danh là “nóc của thế giới” với độ cao trung bình 4.500 m trên mặt biển], dẫn vào một đường kênh chính / main channel đưa nước tới vùng Tân Cương / Xinjiang khô cằn – có khả năng “biến Tân Cương thành một California Made in China xanh tươi trù phú”, đồng thời cũng dùng con sông nhánh Chunfeng dẫn một lượng nước khổng lồ vào lưu vực Turpan tới vùng bắc Tân Cương. [Hình 3a,b] 

Công trình thuỷ lợi Sông Cờ Đỏ còn đem nước tới Tân Cương và các tỉnh phía tây bắc như Cam Túc / Gansu, Ninh Hạ / Ningxia. Các tỉnh này nếu có nguồn nước sẽ trở thành một vùng sản xuất nông nghiệp lớn nhất nước. Ước tính là lượng nước cung cấp cho các tỉnh tây bắc sẽ nhiều hơn lưu lượng nước hàng năm của con sông Hoàng Hà / Yellow River đổ ra biển. Dự án này sẽ tạo thêm được 13,3 triệu hectares diện tích canh tác ở Tân Cương và thêm 130.000 km2 các ốc đảo / oasis xanh tươi ở vùng tây bắc Trung Quốc. 

Ngoài những lợi ích về canh nông kể trên, Sông Cờ Đỏ còn bảo đảm an toàn nguồn nước cho Trung Quốc. Với Kế hoạch Dự án Chuyển Nước Nam-Bắc / SNWTP / South-North Water Transfer Project, Trung Quốc tạo được một mạng lưới nước / water grid system có tên là “tam tung tứ hoành / 三纵四横 / ba dọc bốn ngang”:

Tam tung / sanzhong / ba dọc: là 3 tuyến dẫn nước từ nam lên bắc; 2 tuyến trung và đông đã hoàn thành, tuyến tây đang triển khai. Khi tuyến phía tây này hoàn tất, sẽ có 17 tỉ mét khối nước được chuyển từ thượng nguồn sông Dương Tử sang sông Hoàng Hà ngay từ trên cao nguyên Tây Tạng, có khả năng phục sinh con sông Hoàng (Hà) đang bị cạn kiệt.  

Tứ hoành / siheng / bốn ngang: là 4 dòng sông chảy từ tây sang đông là: Hoàng Hà (Yellow river), Hoài Hà (Huai river), Dương Tử (Yangtze river) và Hải Hà (Haihe river) 
Hệ thống “Tam Tung Tứ Hoành” này sẽ bảo đảm cung cấp nguồn nước cho thủ đô Bắc Kinh và các thị trấn lớn vùng bình nguyên phía bắc Trung Quốc. 

Ngoài ra, Sông Cờ Đỏ còn có thêm hai kênh sông Hồng Duyên / Hongyan Hà dẫn nước đến Diên An / Yan’an phía bắc tỉnh Thiểm Tây / Shaanxi, và sông Mạc Bắc / Mobei dẫn nước vào Nội Mông và cả Bắc Kinh. Cũng qua kênh sông Mạc Bắc, Sông Cờ Đỏ cung cấp nguồn nước cho vùng đồng bằng phía bắc Trung Quốc, và qua nhánh sông Hồng Duyên cung cấp nước cho lưu vực Tứ Xuyên / Sichuan Basin. [Hình 3a,b]

Đây là một bức tranh quy hoạch thuỷ lợi cực lớn –không chỉ tạo ra một hệ thống cấp nước mới cho vùng tây bắc Trung Quốc mà còn kết nối với hệ thống mạng lưới nước quốc gia để có "bảo đảm kép" về mặt chiến lược cung cấp nguồn nước cho Bắc Kinh và vùng bắc Trung Quốc[1]

VẪN BIỆN HỘ CHO TRUNG QUỐC

Rồi ra, chúng ta sẽ không ngạc nhiên nếu vẫn có một số vị tiến sĩ hay trí thức khoa bảng trong và cả ngoài nước – sẽ hành xử như những luật sư tự nguyện bào chữa cho Bắc Kinh rằng: Đừng đổ lỗi cho Trung Quốc. Họ vẫn chỉ biết dựa vào một con số đơn giản, cho rằng chỉ có 16% số lưu lượng sông Mekong đổ xuống từ Trung Quốc. Và nay, Sông Cờ Đỏ có lấy thêm đi mấy phần trăm % của con số 16% ấy thì nạn hạn hán nếu có xảy ra cũng không phải lỗi Trung Quốc.

Thực tế vào mùa khô khi nước khan hiếm nhất, lượng nước từ Trung Quốc xuống Mekong lên tới 40% và 70%, gấp hai tới bốn lần hơn con số họ cố ý trích dẫn. [nguồn: https://www.lowyinstitute.org/the-interpreter/china-eyes-its-next-prize-mekong]

Và người ta vẫn có thể tự ru ngủ mà bảo rằng: tranh chấp nước “trên nguồn – dưới nguồn / upstream – downstream” bấy lâu vẫn là chuyện bình thường, ngay cả giữa các địa phương trong cùng một quốc gia. 

Có cần nhắc với họ không là năm 2016, nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng của Việt Nam đã phải lên tiếng cầu cứu xin Trung Quốc xả nước từ con đập Cảnh Hồng / Jinhong để cứu đại hạn nơi ĐBSCL lúc đó, và cuối cùng cũng không đạt hiệu quả nào! 


Hình 4: trên, Hạn hán khắc nghiệt nơi ĐBSCL năm 2016, khiến Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng lúc đó phải lên tiếng cầu cứu Trung Quốc cho xả nước từ hồ chứa đập thuỷ điện Cảnh Hồng nhưng không đạt hiệu quả nào; dưới, Cái bắt tay “hữu nghị” của Tập Cận Bình – lúc đó là Phó Chủ tịch TQ và TT  Nguyễn Tấn Dũng tháng 12/2011. [nguồn: trái, VN Express 3/11/2016] 

SÔNG CỜ ĐỎ VỚI TRÁI TIM BIỂN HỒ VÀ ĐBSCL

Tuy dự án Sông Cờ Đỏ S4678 không được công bố chính thức nhưng chắc chắn sẽ gây ra sự quan tâm rộng rãi. Cao nguyên Tây Tạng vốn được coi là một vùng sinh thái trù phú nhưng cũng rất mong manh và dễ bị tổn thương. 

Sông Cờ Đỏ chắc chắn làm giảm thêm nguồn nước của các con sông xuyên quốc gia – trong đó có sông Mekong. 

Rõ ràng, Sông Cờ Đỏ sẽ đem lại cho Trung Quốc một thứ “siêu quyền lực” bá chủ về nguồn nước  / hydro-hegemony trên toàn Châu Á, với “quyền sinh sát tắt mở vòi nước” theo ý mình – nhất là khi Bắc Kinh muốn cho các nước nhỏ “một bài học” – vẫn nói theo ngôn từ của Đặng Tiểu Bình. 

Ngoài nước lớn là Ấn Độ, có đủ sức đối trọng với Trung Quốc, hầu như chưa có các quốc gia hạ nguồn nào khác chính thức lên tiếng – Riêng với Uỷ Ban Mekong Việt Nam – 23 phố Hàng Tre Hà Nội, cách ĐBSCL hơn 1.600 km, thì vẫn là sự im lặng hay hoàn toàn bị động. 

Vẫn với một khuôn mẫu hành xử bấy lâu, chưa bao giờ Bắc Kinh muốn chia sẻ thông tin / hay muốn thực lòng tham khảo với các quốc gia hạ nguồn về dự án Sông Cờ Đỏ S4679, chắc chắn sẽ có ảnh hưởng huỷ hoại lâu dài đối các dòng sông xuyên quốc gia này. 

Theo ước tính của hai tác giả Genevieve Donnellon-May / Đại Học  Singapore và Mark Wang / Đại học Melbourne, thì Bắc Kinh có khả năng dùng “vũ khí nước” như một đòn ngoại giao bắt 25% dân số thế giới làm con tin / holding hostage. Khác với những hồ chứa đập thuỷ điện, vừa giữ nước vừa xả nước, Sông Cờ Đỏ là một chiến lược đổi dòng lấy nước – có nghĩa là 100% lượng nước này sẽ bị mất đi – không bao giờ được đền bù,  đối với các quốc gia hạ nguồn. [1]

_ Tình trạng “đói lũ” ở ĐBSCL đã xảy ra thường xuyên hơn trong những năm gần đây. Lũ – mùa nước nổi xuống ĐBSCL, phụ thuộc chính vào lượng nước mưa từ thượng nguồn sông Mekong. Nếu mưa ít ở lưu vực trên / upper basin, kéo theo nạn thiếu nước trong hàng trăm các hồ chứa thuỷ điện, thì khi tới mùa mưa nước sẽ bị chặn lại trong các hồ chứa – thay vì lượng nước mưa ấy ồ ạt theo dòng sông xuôi chảy xuống hạ lưu. Hậu quả là sông Mekong sẽ thiếu nước, gây tình trạng hạn hán trên toàn hệ thống sông rạch. 

_ Do đó sẽ rất ngây thơ để bảo rằng 16% lưu lượng nước từ Trung Quốc là không đáng kể, và cho rằng các hồ thuỷ điện không tiêu thụ nước. Nhưng khi các hồ thuỷ điện thiếu nước, phải cần thời gian lâu để tích trữ lại lượng nước thiếu vào chuỗi các hồ chứa, những hồ chứa đập thuỷ điện đã “phá vỡ cả một chu kỳ điều hợp thiên nhiên kỳ diệu” của con sông Mekong. Không còn lũ cao / hay đỉnh lũ trong mùa mưa để con sông Tonle Sap có thể chảy ngược dòng vào Biển Hồ, tăng diện tích Biển Hồ lên gấp 5 lần (từ 2.700 km2 mùa khô tới 16.000 km2 mùa mưa). Biển Hồ được ví như một biển dự trữ nước ngọt thiên nhiên khổng lồ tiếp nước cho cả hai vùng châu thổ Tonle Sap / Cam Bốt và ĐBSCL / Việt Nam trong cả hai mùa mưa nắng.  

Một con sông sinh thái / river ecosystem không đơn giản chỉ có nước mà phải là một dòng chảy bao gồm các sinh vật / biotic (như cây cỏ, rong tảo, sò ốc tôm cá), những vi sinh vật / microorganisms cùng với những vật thể phi sinh khác / abiotic (như cát sỏi phù sa), tất cả cùng tương tác với nhau như một cơ thể sống.   

Tác hại của chuỗi đập thủy điện và nay với thêm Con Sông Cờ Đỏ không chỉ cướp nguồn nước mà còn huỷ hoại hệ sinh thái của con sông: chặn nguồn phù sa trong các hồ chứa – mà phù sa là yếu tố bấy lâu bồi đắp tạo dựng nên vùng đồng bằng châu thổ từ hàng bao ngàn năm. Nay cũng nguồn nước ấy khi xuống tới ĐBSCL do “bị đói phù sa”, đã dẫn tới một tiến trình đảo nghịch: thay vì bồi đắp, thì nay lại “ăn đất” gây sạt lở không chỉ các bờ sông mà cả suốt chiều dài 800km vùng ven biển.  

_ Rồi còn phải kể tới nạn đất lún do lạm dụng khai thác tầng nước ngầm, cùng với ảnh hưởng của “biến đổi khí hậu” hâm nóng toàn cầu, nước biển dâng, với các hiện tượng El Niño và La Niña khiến các vùng châu thổ là dễ bị tổn thương nhất – trong đó có ĐBSCL, và tất cả đã làm đảo lộn mọi dự đoán về thời tiết thuỷ văn để có thể kịp thời đối phó! 

TRUNG QUỐC VẪN LỐI HÀNH XỬ CÔN ĐỒ

Tháng 2 năm 1972, khi TT Nixon viếng thăm Bắc Kinh, bắt tay với Mao Trạch Đông dọn đường cho một Trung Quốc mở cửa; rồi tiếp theo đó với chính sách “Đổi Mới” của Đặng Tiểu Bình, Trung Quốc đã phát triển nhanh chóng vươn lên như một siêu cường, theo cái nghĩa “nước lớn bá quyền”, và chính Đặng Tiểu Bình đã từng giáng cho Việt Nam một bài học bằng trận chiến tranh đẫm máu nơi biên giới phía bắc (1979). 

Và rồi như một chính sách nhất quán, Bắc Kinh đã có một lối hành xử rất côn đồ từ Biển Đông (với Hoàng Sa Trường Sa và với Đường Lưỡi Bò), vào tới đất liền chiếm đoạt nguồn nước, luôn luôn hăm doạ và bắt nạt các “tiểu quốc / nước bé”, bất chấp mọi trật tự và luật pháp quốc tế.

Bằng chứng là mới đây vào tháng 10/2021 Trung Quốc đã ngang nhiên từ chối ký một “hiệp ước chia sẻ nước / water sharing treaty” với các quốc gia hạ nguồn. [1]

Chia sẻ thông tin, chấp nhận đối thoại chân thành, điều mà các chuyên gia thuỷ học Trung Quốc có thể dễ dàng làm nhưng đối lại vẫn là sự vô cảm.  Không đối thoại, không có tham khảo, trên mọi dự án lớn liên quan tới toàn vùng, cho dù Bắc Kinh biết rằng cách hành xử ấy sẽ tạo nên những mối quan hệ căng thẳng nhưng họ vẫn bất chấp. Với Trung Quốc ngày nay, chỉ có một tiếng nói của sức mạnh. Cuộc đấu tranh để sinh tồn có thể dẫn tới cuộc chiến tranh vì nước ngay trong thế kỷ 21 này

NGÔ THẾ VINH 
Mekong Delta 1995 – 2022

 

THAM KHẢO:

  1. _ What’s Behind China’s Latest Mega Hydro-Engineering Project. Genevieve Donnellon-May, Mark Wang. The Diplomat Oct 07, 2021. 
    _ Red Flag River and China Downstream Neighbors. Genevieve Donnellon-May, Mark Wang. The Diplomat Oct 23, 2021.

  2. Đồng Bằng Sông Cửu Long và Những Bước Phát Triển Tự Huỷ Hoại. Ngô Thế Vinh. Việt Ecology Foundation May 01, 2018 vietecology.org/article/article/299

  3. Mùa Xuân Tây Tạng và Câu Chuyện Những Dòng Sông. Ngô Thế Vinh. Việt Ecology Foundation. Jan 20, 2017 vietecology.org/article/article/197

  4. Thoi Thóp Trái Tim Biển Hồ, Miền Tây Đau Thắt Ngực. Ngô Thế Vinh. Việt Ecology Foundation. Nov 7, 2015 vietecology.org/article/article/122