Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Việt Nam. Hiển thị tất cả bài đăng

Chuyến bay định mệnh và ý chí của sự sống còn

 


Chuyến bay định mệnh và ý chí của sự sống còn


Lâu rồi hình như mình có đọc bài của ai kể là khu vực vùng Phan Rang Nha Trang Khánh Hoà có một vùng dễ bị rớt nhiều maý bay nên ông ta không dám bay vào vùng này. Hôm nay nhận được một bài của một ông thần quen trên mạng, gửi cho một bài kể về một cô gốc Hoà Lan, làm việc ngân hàng ở Hương Cảng, đi chơi ở Việt Nam với bạn trai để tạo những kỷ niệm đẹp lãng mạn thì chiếc phi cơ của hãng hàng không Việt Nam chắc máy bay của Nga vì năm 1992, bị rời trên đường bay đến Cam Ranh. Cả máy bay chết hết chỉ có cô ta sống sót. Kinh. 



Năm 1992 là năm em về Việt Nam lần đầu sau khi nghe tin ông cụ ra trại cải tạo. Chỉ đi máy bay đến Sàigòn thôi còn đi xe thuê bao lên Đà Lạt. Nhưng lần sau mới đi máy bay lên Đà Lạt cho nhanh vì ngồi xe mất cả ngày.


Nếu chúng ta từng cảm thấy chuyến đi của mình “toang” vì chuyến bay bị trễ, khách sạn hết phòng, cà phê nguội ngắt giọt đáng thì nên đột phá tư duy, hít một hơi sâu và nhớ đến câu chuyện của cô Annette Herfkens. Bởi vì vào năm 1992, kỳ nghỉ lãng mạn với mối tình hữu nghị sông liền sông ở hương Cảng nơi cô ta làm việc với một ông cùng sở của cô không chỉ “trục trặc” mà là trục trặc ở cấp độ khá đặt thù với rừng rậm sinh tồn dù chưa bao giờ qua một kỳ huấn luyện của lực lượng đặc biệt. Bằng cách nào đó, cô vẫn sống sót. Không chỉ sống sót, mà còn với một sự bình tĩnh đến mức khiến phần còn lại của chúng ta trông như sẽ hoảng loạn chỉ vì mất Wi-Fi 5 phút.


Câu chuyện của cô, được kể trong Turbulence: A True Story of Survival, bắt đầu như nhiều bi kịch vĩ đại khác: bằng tình yêu. Annette và người bạn trai Willem đang trên đường đến Việt Nam cho một kỳ nghỉ nâng cao tình yêu đôi lứa đáng lẽ phải rất đẹp. Để đánh dấu mối tình hữu nghị với tính cách lãng mạn như trong xi-nê với nhìn hoàng hôn, bãi biển, có thể thêm vài ly cocktail hơi mắc tiền. Nhưng thay vào đó, nhờ sự kết hợp “hoàn hảo” giữa thời tiết xấu và sai sót con người, chiếc máy bay của họ, Vietnam Airlines Flight 474, quyết định “làm quen” với một sườn núi. Hình như sương mù. Có chiếc trực thăng của quân đội Việt Nam bay đến vùng này để tìm kiếm chiếc máy bay nhưng cũng rớt luôn, do đó mình nhớ có nghe ai nói đến vùng này đã có vấn đề trước 75. Ai nhớ thì cho em xin lý do. Em nghe vụ này trên 40 năm nên không nhớ rõ lý do.


https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam_Airlines_Flight_474


Thông thường, khi gặp tai nạn máy bay, đa số mọi người sẽ… không sống sót. Được cái là máy bay rớt trên các ngọn cây nên sự đụng chạm tương đối bớt mạnh hơn là chạm đất. Nhưng cô Annette, rõ ràng, đã không nhận được thông báo đó từ PA, của tiếp viên trưởng la đeo mặt nạ oxy gì vào như mỗi lần máy bát sắc ất cánh là thấy tiếp viên hàng không cứ ra hiệu kéo dây thòng xuống.. 


Có lẻ chưa tới số hay thánh Phao Lồ không cho vào cổng thiên đường nên trở lại nhân thế. Chiếc máy bay này nhỏ, 3 động cơ nghe nói đâu có 23 hành khách và phi đoàn có 6 người. Mình nhớ có lần bay từ Boston qua Ottawa, đi máy bay hai chong chóng khiến mình thất kinh. Máy bay cũ khi xưa hành khách đi được xem là sang nhưng sau khi ngồi Boeing 747 thì thấy sợ.


Máy bay trên đường đáp xuống phi trường, đụng cây nên phi công mất tay lái không lên lại được và tuông luôn. Khi cô tỉnh dậy giữa rừng, bị thương, xung quanh là xác máy bay và quan trọng nhất không hề có đồ cấp cứu. Nghe nói có vài người sống sót bị thương nặng nhưng cứu họ đến trễ nên họ qua đời luôn, ngoài trừ cô này. Chấn thương của cô rất nghiêm trọng: gãy xương, tổn thương nội tạng, và đủ đau đớn để khiến bất kỳ người bình thường nào cũng muốn nằm xuống và “diễn sâu” lần cuối. Nhưng cô Annette đã làm một điều rất bất ngờ. Cô không la hét. Không hoảng loạn. Thậm chí cũng không độc thoại về số phận.


Thay vào đó, cô nghĩ: “Được rồi. Bước một: đừng chết.” Hóa ra, đây là một chiến lược cực kỳ hiệu quả. Ý chí muốn sống rất quan trọng, muốn vượt qua để tồn tại sống còn. Sáng hôm qua mình cho mọi người tập Trạm Trang Công 30 phút, nhưng họ đứng hết 30 phút. Tại vì khi chúng ta tôi luyện ý chí mạnh thì khi đau ốm, sẽ có ý chí vượt khỏi để chữa bệnh còn nếu không thì sẽ buông xuôi. Mình thấy nhiều người bệnh đến Đông Phương Hội nhờ Khoa chữa bệnh nhưng rồi họ không chịu tập tành gì cả để tạo dựng lại sức mạnh, cứ thích mì ăn liền. Kiếm thuốc tiên như Tần Thuỷ Hoàng. Rồi bỏ cuộc.


Trong tám ngày, cô Annette nằm lại trong rừng Việt Nam, không thể đi lại, sống nhờ nước mưa mà cô khéo léo hứng được bằng các mảnh vỡ của máy bay. Nhịn đói 8 ngày thì được nhưng cần nhất là uống nước. Mình hay nhịn đói 12 ngày nhưng bắt buộc phải uống nước. Trong khi đa số chúng ta còn vật lộn lắp tủ IKEA dù có hướng dẫn, thì cô lại thiết kế được một “hệ thống cấp nước sinh tồn” ngay giữa hiện trường tai nạn. Chỉ riêng điều này thôi cũng xứng đáng nhận bằng kỹ sư danh dự.


Nhưng điều đáng nể nhất không phải là thể chất mà là tinh thần. Cô Annette mô tả trạng thái tâm trí của mình như một sự bình tĩnh kỳ lạ, gần như kiểu “làm việc chuyên nghiệp”. Không kịch tính, không hoảng loạn kiểu phim ảnh. Mình nghĩ khi nhịn đói thì neuron của cô ta làm việc hăng say nên bình tỉnh. Người ta giải thích khi xưa, tổ tiên chúng ta đi săn, khi đói thì mới đi săn và lúc đó tâm trí rất sáng suốt để có thể săn thú được. Mình nhớ nhịn đói độ ngày thì 8 trở lên thì tinh thần rất sáng suốt. Chỉ là những quyết định nhỏ, rõ ràng, hợp lý. Cô không nghĩ về toàn bộ thảm kịch (bao gồm cả mất mát người cô yêu). Thay vào đó, cô thu nhỏ thế giới của mình lại thành những nhiệm vụ đơn giản:


Uống đủ nước.  

Giữ tỉnh táo.  

Sống đến cơn mưa tiếp theo.  


Đây có lẽ là danh sách “to-do list” căng thẳng nhất trong lịch sử. Trong lúc đó, khu rừng thì đóng vai một chủ Airbnb ngoài trời cực kỳ khó chịu. Nóng, ẩm, côn trùng, đặc biệt là muỗi, mà với sự nhiệt tình của chúng, rõ ràng đã chờ sẵn một “bữa tiệc banker châu Âu”. Không biết có vắc ở vùng này hay không chớ dạo mình đi Sơn Đoòng thì có hai người bị vắc bu như vắc. Vậy mà cô Annette vẫn chịu đựng được. Không thuốc chống muỗi. Không đồ ăn vặt. Không podcast truyền động lực. Chỉ có ý chí sống và một quyết tâm rất… không muốn chết một cách lãng xẹt tỏng rừng già Việt Nam.


Điều làm câu chuyện này đặc biệt không chỉ là việc cô sống sót mà là cách cô sống sót. Không có cảnh chạy xuyên rừng như phim hành động, không đánh nhau với thú hoang, không dựng bè bằng dây leo rồi phát biểu truyền cảm hứng. Chiến lược của cô đơn giản hơn nhiều:


Làm ít lại. Nghĩ rõ ràng. Đừng làm tình hình tồi tệ hơn.


Chính xác là điều ngược lại với phần lớn chúng ta. Nếu bị thả vào rừng, nhiều người sẽ ngay lập tức thử làm điều gì đó hoành tráng nhưng sai lầm như cố đi bộ với xương gãy hoặc hét cho đến khi mất nước. Cô Annette thì khác. Cô tiết kiệm năng lượng như một nhân viên ngân hàng kỳ cựu né tránh những cuộc họp không cần thiết. Có thể nhờ làm ngân hàng.


Sau tám ngày, đội cứu hộ cuối cùng cũng tìm thấy hiện trường. Và ở đó họ tìm thấy người sống sót độc nhất là cô. Gần như kiệt sức, nhưng rõ ràng vẫn còn sống. Chúng ta có thể tưởng tượng sự bối rối của đội cứu hộ: “Chúng tôi đến để tìm thi thể… sao lại có người chưa chịu ‘hợp tác’ với hoàn cảnh thế này?”


Sự sống sót của cô thật sự phi thường. Bác sĩ kinh ngạc. Về mặt thống kê, logic, thực tế thì cô không nên sống. Nhưng cô đã sống.


Phần cuối của Turbulence nói về một điều không kém phần khó khăn: sống tiếp sau khi đã sống sót. Cô Annette phải đối mặt với mất mát, hậu chấn tâm lý, và cảm giác tội lỗi của người sống sót. Nay cô ta sống ở New York, có con. Cuốn sách không né tránh điều đó. Nhưng từ đó, cô rút ra một bài học mạnh mẽ:


Con người mạnh mẽ hơn họ nghĩ, đặc biệt khi họ ngừng hoảng loạn và bắt đầu suy nghĩ. Vì vậy, lần tới khi cà phê của chúng bị pha sai, điện thoại hết pin, hay chuyến bay bị hoãn, hãy nhớ đến cô Annette Herfkens giữa rừng. Không thức ăn. Không trợ giúp. Xung quanh là thảm họa. Nhưng vẫn bình tĩnh nghĩ: “Được rồi. Cố gắng đừng làm mọi thứ Chán Mớ Đời hơn.”


Hóa ra, sống sót không phải là người mạnh nhất hay nhanh nhất. Mà là người, khi mọi thứ sụp đổ, vẫn có thể bình tĩnh nói: “Ừ… đừng làm mọi thứ te tua thêm nữa.” Tinh thần lạc quan sẽ giúp chúng ta vượt qua những trở ngại trước mắt vì sau cơn mưa trời lại sáng. Vấn đề là mưa rơi đến bao giờ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

chiến dịch Tailwind hay Thung Lũng Tử Thần

 16 lính lực lượng đặc biệt của chiến dịch Tailwind


Mình hay vào các nhóm cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam để đọc những gì họ kể về thời chính chiến của họ tại Việt Nam cũng như còm khi thấy tin tức họ đưa không chính xác lắm. Hôm nay đọc được một nhóm 16 lính lực lượng đặc biệt của họ đột kích vào Hạ Lào cùng với lực lượng dân sự chiến đấu gốc thượng đâu 110 người thấy lạ lạ vì khi họ xâm nhập vào Hạ Lào là bí mật, không bận áo quần lính Mỹ, bị bắt cũng kêu không phải lính Mỹ vì nước Lào là trung lập Hoa Kỳ không được đánh đấm gì cả. Em xin tóm tắt lại đây. 

Không biết mình xoá đâu tấm ảnh. Nhóm này hình như llđb của Úc Đại Lợi. Có dịp mình kể về nhóm người úc này. Hình như Việt Cộng sợ họ hơn là lính mỹ. Vì nhóm này được từng huấn luyện đánh du kích với cộng sản tại Mã Lai dưới sự chỉ đoạ của người Anh quốc. Việt Cộng cũng sợ lính Nam Hà. Có dịp mình kể. Đọc tài liệu thấy kinh.

Theo mình hiểu là lực lượng đặc biệt Mỹ hay đóng đồn tại các điểm quan trọng dọc biên giới với các người thượng mà người Việt gọi là Dân Sự Chiến Đấu. Thiếu tá Phong của tiểu đoàn 204, Đại đội trinh sát 302, trước khi về Đà Lạt thì đóng ở trại lực lượng đặc biệt ở vùng tam biên, Bến Hét, nơi có hiểu người thượng sống với vợ con trong đồn. Mình có thấy nhìn tấm ảnh ở Ben Hét, thấy vợ con lúc nhúc bên cạnh. 


Trong cuộc chiến Việt Nam nước Lào và Cam bốt tuy trung lập nhưng lại để bộ đội cụ hồ sử dụng lãnh thổ của họ để đưa quân và súng đạn vào chiến trường miền nam. Từ đường mòn HCM đến hải cảng Sihanoukville. Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ bị bó tay vì muốn tôn trọng công ước quốc tế khác với Hà Nội. Do đó Hoa Kỳ hay cho lực lượng đặc biệt xâm nhập vào Hạ Lào để theo dõi quá đội của Hà Nội nhưng phải bí mật. Tương tự trước khi đánh chiếm Iraq, Á Phú Hãn,..  lực lượng đặc biệt Hoa Kỳ đều được thả vào mấy xứ này trước khi đánh vào. Mình nghĩ trước khi đánh Ba Tư, Hoa Kỳ cũng cho biệt kích của họ xâm nhập vào xem xét tình hình và báo cáo trước khi Mỹ và do thái dội bom. 


Mình có xem một phim tài liệu kể một toán SAS của Anh quốc được thả vào Iraq tham thính rồi bị một đứa bé chăn cừu phát hiện. Họ không nở ra tay giết đứa bé thì đứa bé chạy về làng báo cáo và cả trung đoàn lính Iraq bao vây và bắt sống vài người cùng như giết một số. Mình đoán ngày nay biệt kích mà gặp trưởng hợp tương tự chắc họ sẽ giết hết để trừ hậu hoạn. 


Cuộc hành quân này không phải là một đội trinh sát nhỏ như thường lệ mà bao gồm 16 lính lực lượng đặc biệt và 110 lính gốc thượng du Việt Nam. Theo mình hiểu biệt kích của Mỹ thường đi từng nhóm nhỏ độ 6 người nên khi đi 16 người là chiến dịch lớn. 


Cả nhóm này được trực thăng bốc gần Dakto trên cao nguyên trung phần, sử dụng trực thăng CH-53 Sea Stallion hạng nặng . Mục đích chính của chiến dịch tìm cách đánh lạc hướng 30,000 bộ đội bác hồ cho một cuộc hành quân khác do CIA đang thực hiện trong vùng. 


Ngày 11 tháng 9 năm 1970. Từ Dakto đến điểm xuất phát, Cao nguyên Trung phần, Việt Nam Cộng hòa. Không khí trên sân bay không có mùi thơm không khí buổi sáng mà mang mùi nhiên liệu JP4 hàng không, mồ hôi lâu ngày và mùi kim loại sắc nhọn của dầu súng. Đó là một dung dịch nặng nề, ngột ngạt bám vào cổ họng. 16 người Mỹ đứng trong bóng của những chiếc trực thăng CH-53C Stallion khổng lồ.


Họ không giống những người lính bóng bẩy trên các bảng quảng cáo tuyển mộ ở Mỹ. Bộ đồ ngụy trang sọc hổ của họ đã phai màu, dính đầy đất sét đỏ của vùng Cao nguyên. Những chiếc ba lô không phải loại tiêu chuẩn. Chúng được cải tiến, nặng hơn 80 pound. Rất nặng. Mình đi bộ 375 km ở Ý Đại Lợi đeo theo có 20 cân anh đã thấy oải đây gấp 4 lần.


Họ mang theo súng máy RPD cưa ngắn, súng carbine CAR-15, và đủ lựu đạn phân mảnh để san bằng một khu phố. Họ là những người của MACV-SOG. (Military Assistance Command, Vietnam Studies and Observations Group). Tên gọi che đậy gợi ý nghiên cứu học thuật. Thực tế là sự phủ nhận được viết bằng máu của người lính kiên cường. 


Trong số họ có Đại úy Gene McCarley. Ông là One Zero. Người chỉ huy đội. Ông kiểm tra đồng hồ. Ông nhìn sang các chiến binh bản địa đứng bên cạnh người Mỹ. Có 110 người. Người Montagnard, tên do người Pháp đặt tên, những người sống trên núi. Họ là các bộ tộc miền núi của Việt Nam. Những người coi rừng rậm không phải là môi trường thù địch mà là ngôi làng bị xâm lược. Họ căm thù Quân đội Bắc Việt với lòng thù hận qua nhiều thế hệ.


Hôm nay, McCarley và 16 lính llđb cùng với đại đội lính đánh thuê Montagnard này đang thực hiện một chiến dịch mà về mặt kỹ thuật là chưa từng xảy ra. Theo các bản đồ chính thức ở Washington DC và theo các buổi họp báo dành cho công chúng Mỹ, không có quân chiến đấu Mỹ nào ở Lào. Mình có kể một căn cứ biệt kích Mỹ ở Hạ Lào mà quân đội Mỹ dùng làm điểm để hướng dẫn B 52 thả bom tại miền bắc Việt Nam sau đó bị đặc nhiệm chiếm đóng. 


Thông tin bổ sung chi tiết về Operation Tailwind (Chiến dịch Đuôi Gió). Operation Tailwind là một cuộc đột kích bí mật xuyên biên giới do MACV-SOG thực hiện từ ngày 11–14 tháng 9 năm 1970 (một số tài liệu ghi chính từ 11–13). Đây không phải là đội trinh sát nhỏ (RT team) mà là một lực lượng Hatchet Force cỡ đại đội — một đơn vị đột kích lớn.


Lực lượng gồm 16 lính biệt kích Mỹ (Green Berets) dẫn đầu 110 lính Montagnard (các bộ tộc miền núi khác), xuất phát từ gần Dak To, Cao nguyên Trung phần Việt Nam, bằng trực thăng CH-53 Sea Stallion của Thủy quân Lục chiến Mỹ.


Mục tiêu của chiến dịch nhằm tạo  sự phân tán các sư đoàn bộ đội bác hồ  bằng cách đột kích sâu vào đông nam Lào (khoảng 60–70 km về phía tây Dak To, gần Chavane và tuyến đường 165 Lào). Nhiệm vụ nhằm kéo lực lượng Quân đội Bắc Việt (NVA) đặc biệt là các đơn vị thuộc Nhóm Vận tải 559 bảo vệ Đường mòn Hồ Chí Minh khỏi một chiến dịch khác do CIA hỗ trợ liên quan đến lực lượng Hmong do tướng Vang Pao lãnh đạo ở Cao nguyên Bolovens phía bắc. Con số “30.000 bộ đội” trong một số kể lại phổ biến có thể là ước tính tổng lực lượng địch trong khu vực hoặc lực lượng bảo vệ Đường mòn có thể bị ảnh hưởng/chuyển hướng, chứ không phải đối đầu trực tiếp 30.000 quân tại một điểm. 120 mạng đâu có thể đánh lại 30,000 bộ đội ngoài trừ người Mỹ có anh hùng Lê Văn Tám. 


Các sự kiện chính được kể lại sau đây:

Ngày 11/9: Đổ bộ bằng trực thăng vào thung lũng, di chuyển mạnh để tiếp xúc và thu hút sự chú ý. Mình đoán biệt kích là âm thầm mà họ muốn Việt Cộng biết sự có mặt của họ. Thật ra có trên 120 người đi trong khu rừng thì chắc chắn ồn ào.

Giao tranh: Trong vài ngày, họ đụng độ nặng nề với Việt Cộng, chiếm một khu trại lớn và trung tâm hậu cần (hầm ngầm), tiêu diệt hàng chục lính Hà Nội (một con số ghi nhận 54 người trong một lần đột kích). Họ thu được lượng tình báo khổng lồ: hàng trăm trang tài liệu, bản đồ được coi là một trong những thu hoạch tình báo quan trọng nhất về Đường mòn Hồ Chí Minh từ đầu chiến tranh. Mình có người chú ruột bị chết trên đường vào nam tại vùng này. 


Hiệu quả phân tán: Thành công kéo sự chú ý và lực lượng NVA về phía nam, hỗ trợ cho lực lượng Hmong/CIA đang hoạt động trong vùng. 


Rút lui (13–14/9): Khi Việt Cộng tăng viện (pháo cối, súng máy), họ rút lui trong giao tranh. Sử dụng nhiều LZ nhỏ (bãi đáp) để đánh lừa kẻ địch. Hỗ trợ không quân mạnh mẽ: 72 phi vụ chiến đấu, bom, rocket, napalm. Một số trực thăng CH-53 bị hư hại hoặc mất.


Thương vong: Phía Mỹ và đồng minh: Tất cả 16 người Mỹ bị thương (tổng cộng khoảng 33 Huân chương Tím). 3 Montagnard tử trận, 33 bị thương.


Phía địch: Khoảng 144 Việt Cộng bị tiêu diệt trực tiếp bởi lực lượng mặt đất, ước tính thêm 50 bị thương và 288 bị không quân tiêu diệt.

Kết quả: Nhiệm vụ thành công, hỗ trợ CIA/Hmong, thu được tình báo lớn. Đại úy Eugene C. McCarley (sau này là Trung tá) chỉ huy, được đề cử Huân chương Thập tự Dũng cảm (downgraded). Y tá Gary Michael Rose sau này được trao Huân chương Danh dự (nâng cấp năm 2017) nhờ cứu chữa dưới hỏa lực.


Câu chuyện này nổi tiếng hơn sau báo cáo gây tranh cãi năm 1998 của CNN/Time (sau rút lại) cáo buộc sử dụng vũ khí hóa học (khí CS, không phải sarin). Các cựu binh sĩ bác bỏ mạnh mẽ.


Chiến dịch Đuôi Gió (Operation Tailwind), một tài liệu mật mới được giải mã gần đây về một chiến dịch bí mật được chỉ huy bởi MACV-SOG (Military Assistance Command, Vietnam – Studies and Observations Group) trong 4 ngày từ  11–14, tháng 9 năm 1970 (có tài liệu cho biết chỉ có 3 ngày 11-13). Theo lời kể thì sáng ngày thứ 3 của cuộc hành quân, lính phe ta tấn công một trại lính bộ đội và hạ sát 54 bộ đội. Họ không hiểu tại sao các bộ đội không rút lui, bỏ chạy thì khám phá ra một căn hầm nằm dưới 12 cao bộ. Trong đó bộ đội cất dấu bản đồ và tài liệu. Sau đó họ tấn công một bộ tư lệnh của bộ đội kiểm soát con đường quốc lộ Lào 165. Họ thu nhặt hết tài liệu đêm về và bắt đầu rút lui thì bộ đội bắt đầu bao vây. Ông McCarley chia ra 3 nhóm để đến 3 bãi đáp riêng biệt.


Vấn đề là năm 1998, CNN và Time Magazine cho ra đời một phóng sự về chiến dịch bí mật này và đặt tên là Thung Lũng Tử Thần. Họ cho biết là có sử dụng hơi ngạt mà chiến tranh quy ước cấm. Có người nói là có một đơn vị Hoa Kỳ xù thượng cấp chạy qua bên lào nên họ vào sào huyệt để xem, cho vị trí để máy bay bay đến xã hơi ngạt xuống, giết khá nhiều người trong làng. Sau này, bộ quốc phòng điều tra kêu không có, bắt CNN lên tiếng rút lại hình ảnh. Có ông Peter Arnett, phóng viên chiến trường nổi tiếng trên các mặt trận, hình như ông ta chết năm ngoái tại Nam Cali. Có dịp mình kể về ông này, vì ông ta phỏng vấn các tay tổ như Osama Bin Laden, Sadam Hussein,… khởi đầu ở Việt Nam 


Cuộc chiến có nhiều vấn đề được đặt lại với nền đạo đức hôm nay. Như vụ tàn sát Mỹ Lai do lính mỹ gây ra hay Việt Cộng chôn sống, giết người ở Huế năm Mậu Thân hay pháo kích dân tình chạy nạn năm 1972 trên đại lộ kinh hoàng. Tương tự tấm ảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan xử tử tên Việt Cộng vừa giết nguyên một gia đình mà người con trai bị bắn sống sót, sau này làm đến chức tướng của quân đội Hoa Kỳ. Có lẻ thế hệ con mình không dính dáng vào chiến tranh nên có thể xoá mờ còn thế hệ của mình đã làm chứng nhân cuộc chiến nhất là năm Mậu Thân thì đời đời vẫn nhớ.


https://www.usni.org/magazines/proceedings/2001/september/cnn-three-years-after-tailwind


Để rảnh mình kiếm đọc các tài liệu mật được giải mã sau mấy chục năm để hiểu thêm về cuộc chiến khá phức tạp, để hiểu lý do Việt Nam Cộng Hoà và Hoa Kỳ thua. 


https://youtu.be/8OrywCT6Cao?si=6L3inKtT9VrLOZqU


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

bán bệnh tật là nghề của bác sĩ

 Bán Bệnh Tật: Phơi bày cách ngành dược phẩm khổng lồ biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân

Sống tại âu châu hơn 12 năm nhưng mình chả bao giờ đi khám bác sĩ dù có bảo hiểm y tế nhưng khi sang Hoa Kỳ, sau khi lấy vợ thì đồng chí gái kêu đi khám bác sĩ mỗi năm theo định kỳ thì phác giác ra mình có bệnh đủ thứ trò. Vợ bảo thì phải phục tùng vì phận trai thuyền quyên. Đến khi mình bị gãy chân khi leo núi, nằm trên giường, buồn đời đọc 5 cuốn sách về ung thư thì thất kinh nên từ đó tìm hiểu thêm về y tế vì không thể nào tin hoàn toàn vào bác sĩ của mình vì theo châm ngôn của y sĩ ngày nay là “giúp một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng”. Nên mình định nghĩa lại ngày nay lương y như kế mẫu. Một bệnh nhân là một con bò để bác sĩ vắt sữa 3 tháng một lần. Bò nhiều bệnh càng nhiều càng tốt.

Tìm tài liệu đọc thì khám phá ra có nhiều người lương y như từ mẫu, bị hội đồng y khoa rút bằng vì dám nói lên sự thật nên mình càng chới với. Có ông bác sĩ nào ở Úc Đại Lợi bị cấm hành nghề, phải kiện tụng đủ trò mới lấy lại được bằng hành nghề. Lý do là ông ta khuyên bệnh nhân ăn uống cẩn thận thì bị tố là không có bằng dinh dưỡng nên không được khuyên bệnh nhân. Từ đó hay kiếm phim tài liệu và sách đọc về y tế. Rất khó nuốt vì quá khô khan, không như tiểu thuyết, tình yêu vớ vẩn nhưng phải cố gắng vì sự nghiệp cách mạng để tự cứu lấy mình. Hôm nay mình kể về cuốn sách do một người úc đại lợi và một người Gia-nã-đại, viết cách đây 20 năm. Trên Prime của Amazon có khá nhiều tài liệu còn trên YouTube thì hay bị chận.


Năm 2005, cách đây 20 năm, nhà báo y tế Ray Moynihan và nhà nghiên cứu chính sách dược phẩm Alan Cassels đã xuất bản cuốn sách mang tính đột phá khiến các công ty dược phẩm không yêu thích lắm “Selling Sickness: How the World’s Biggest Pharmaceutical Companies Are Turning Us All Into Patients (tạm dịch: Bán Bệnh Tật: Các công ty dược phẩm lớn nhất thế giới đang biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân như thế nào). Cuốn sách phê phán gay gắt cách kỹ nghệ dược phẩm mở rộng thị trường đúng theo quy trình, bằng việc quảng bá những trải nghiệm bình thường của con người thành các tình trạng bệnh lý cần điều trị bằng thuốc.


Luận điểm chính của cuốn sách bắt đầu bằng một câu trích dẫn từ một cựu giám đốc điều hành của công ty dược phẩm Hoa Kỳ Merck vào những năm 1970. Ông ấy buồn đời bị vợ la nên kêu rất thất vọng vì thuốc chỉ được bán cho người bệnh và mơ ước được sản xuất thuốc bán cho cả người khỏe mạnh, “bán cho mọi người”, giống như cách công ty Wrigley’s bán kẹo cao su. Chưa đau làm cho chúng bị đau, uống thuốc chúng càng đau thêm. 2 ông Moynihan và Cassels cho rằng tầm nhìn này đã trở thành hiện thực nhờ các chiến lược tiếp thị tinh vi: mở rộng ranh giới của bệnh tật, hạ thấp ngưỡng chẩn đoán và tạo ra nhu cầu ở những nơi trước đây không tồn tại, một quá trình mà họ và nhiều người khác gọi là bệnh hóa (disease mongering).

Các ý tưởng chính: Cách “bệnh tật” được sản xuất và bán ra


Các tác giả cấu trúc cuốn sách dưới dạng một loạt nghiên cứu trường hợp, mỗi chương phân tích một tình trạng bệnh cụ thể và thuốc liên quan để minh họa các chiến thuật mà “Big Pharma” sử dụng:

1.  Mở rộng định nghĩa về bệnh tật: Các công ty dược tài trợ cho các hướng dẫn y khoa và hội nghị đồng thuận nhằm tái định nghĩa những biến thể bình thường (như lão hóa, nhút nhát hay buồn bã) thành các rối loạn. Như Cholesterol khi xưa là chỉ số 356 là được xem là cao ngày nay thì chỉ số xuống còn 200 khiến ai cũng bị dính cả, phải uống thuốc. Các chuyên gia tham gia những hội nghị này thường có mối quan hệ tài chính với ngành công nghiệp, tạo ra xung đột lợi ích. Mình có xem một phim Ý Đại Lợi, nói về các người đi quảng bá thuốc, mua vé máy bay cho bác sĩ kê toa thuốc nhiều đi với gia đình du lịch ở các xứ khác miễn phí, có người lấy tiền bỏ túi.

2.  Hợp tác với bác sĩ và các nhóm bệnh nhân: Các hãng dược tài trợ giáo dục y khoa, hội nghị và các tổ chức vận động bệnh nhân, biến họ thành những người quảng bá (có thể vô tình hoặc cố ý). Các chiến dịch “nâng cao nhận thức” cho bệnh nhân, do các công ty dược phẩm tài trợ, giáo dục công chúng về những tình trạng “chưa được chẩn đoán đúng mức”. Lên mạng, thấy nhiều người không phải khoa học gia hay điều dưỡng viên, tuyên bố bệnh này bệnh nọ khiến người đọc hoang man, đi bác sĩ để xem xét lại. Ngày nay thì AI sử dụng các bác sĩ mà mình từng mua sách của họ rồi bựa ra đủ trò. 

Có một ông cựu bộ trưởng của Hy Lạp, nổi tiếng tỏng vụ Âu châu cứu xứ này khỏi bị phá sản. Ông này là mát-xít mình hay xem phỏng vấn ông ta về tình hình âu châu để hiểu thêm vì ông này có một cái nhìn khác với cộng đồng âu châu. Gần đây có AI làm video, bỏ ông ta lên nói đủ trò. Thiên hạ hỏi ông ta thì ông nói không phải do ông ta làm ra, họ dùng AI nhưng ông ta không làm gì được.

3.  Quảng cáo trực tiếp tới người tiêu dùng: Ở các quốc gia cho phép (như Mỹ), quảng cáo miêu tả những khó khăn đời thường thành các bệnh có thể điều trị, thúc đẩy bệnh nhân yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc cụ thể. Ở âu châu họ cấm được quảng cáo thuốc trên đài truyền hình còn ở Hoa Kỳ thì đủ loại nhưng 35% thời gian nói đến hệ ứng phụ, kêu cơ thể sau khi uống thuốc có hiệu ứng như này như nọ thì báo cáo ngay cho bác sĩ. Nếu họ nói đến hệ ứng phụ nghĩa là thuốc chưa đúng nhưng cứ bán ra đã.

4.  Tạo ra các rối loạn mới: Một số tình trạng gần như được “phát minh” hoặc phóng đại để phù hợp với thuốc mới, chẳng hạn biến sự cáu kỉnh nhẹ thành một rối loạn nghiêm trọng. Những chiến lược này biến những người khỏe mạnh hoặc chỉ gặp vấn đề nhẹ thành bệnh nhân suốt đời, tạo ra hàng tỷ đô la lợi nhuận đồng thời gây nguy cơ điều trị quá mức, tác dụng phụ và làm quá tải hệ thống y tế.


Các nghiên cứu trường hợp chính trong sách, em xin tóm tắc:

•  Cholesterol cao: Việc hạ thấp ngưỡng đã biến hàng triệu người thành “bệnh nhân” cần dùng statin, dù nhiều người có nguy cơ thực sự thấp. Chỉ số từ 240mg/dl còn 200mg/dl như ngày nay thì bố ai cũng bị cao mỡ, cái mất dạy là chúng ta cần mỡ để cơ thể hoạt động. Lá gan sản xuất 80% số lượng mỡ mà cơ thể cần hàng ngày.

•  Trầm cảm và thuốc SSRI: Tiêu chí mở rộng đã bệnh hóa nỗi buồn bình thường, thúc đẩy thuốc chống trầm cảm.

•  Mãn kinh và liệu pháp thay thế hormone (HRT): Được miêu tả như một bệnh thiếu hụt cần hormone dài hạn (sau này được phát hiện làm tăng nguy cơ sức khỏe). Đúng hơn là bệnh ung thư. Khi đồng chí gái đến thời kỳ mãn kinh, may có chị bạn là bác sĩ nói không nên uống. Bác sĩ biết sẽ gây ra bệnh ung thư nhưng bệnh nhân đến là cho toa về uống mệt thở.

•  Rối loạn lo âu xã hội: Sự nhút nhát được tái định khung thành tình trạng suy nhược có thể điều trị bằng thuốc như Paxil.

•  Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD): Mở rộng sang người lớn, mở rộng thị trường thuốc kích thích.

•  Hội chứng ruột kích thích, loãng xương và rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt: Những vấn đề nhẹ hoặc phổ biến được nâng lên thành cần dùng thuốc.


Các tác giả dựa trên phỏng vấn người trong ngành, bác sĩ, nhân viên tiếp thị và các nguồn học thuật để cho thấy cách những nỗ lực này làm mờ ranh giới giữa bệnh thực sự và các “yếu tố nguy cơ” mang lại lợi nhuận. ông Ray Moynihan, cây bút thường xuyên của BMJ và Lancet, cùng ông Alan Cassels, chuyên gia Canada về chính sách dược phẩm, kết hợp báo chí điều tra với phân tích dựa trên bằng chứng. Tác phẩm của họ đã phổ biến khái niệm “bệnh hóa” và ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận toàn cầu về quá trình y tế hóa quá mức.


Hai thập kỷ sau, cuốn Selling Sickness vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh lo ngại liên tục về ảnh hưởng của ngành dược khoa từ tiếp thị opioid đến các mở rộng hiện đại như ADHD ở người lớn hay thuốc điều trị béo phì. Cuốn sách kêu gọi sự hoài nghi đối với tin tức y tế, hướng dẫn độc lập và việc đánh giá lại điều gì thực sự cấu thành “bệnh tật” trong thời đại y học bị chi phối bởi lợi nhuận. Ở các xứ mà người Mỹ hay đến vào mùa thu để xem lá rụng, người dân địa phương bị nghiện thuốc Opiod.


Một điểm khác như bệnh loảng xương. Đầu thập niên 1990, một công ty dược phẩm chế tạo ra một loại thuốc trị bệnh loảng xương, mà dạo ấy chưa được hiểu rõ lắm. Các đại diện các công ty dược phẩm và bác sĩ  họp nhau tại cơ quan WHO để hội thảo, và quyết định thế nào là xương chắt là bình thường. Họ xếp loại ra sao mà 50% phụ nữ trên 70 tuổi bị bệnh loảng xương. Xem như trong vòng một đêm , 50% phụ nữ trên 70 tuổi thức dậy là có bệnh loảng xuống phải uống thuốc.


Các công ty này tặng miễn phí các y cụ cho các phòng mạch bác sĩ hay nhà thương để khám mật độ xương. Cái mất dạy là sau khi uống thuốc này sau nhiều năm khiến xương của bệnh nhân dòn và dễ gãy hơn. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn