Hiển thị các bài đăng có nhãn Ở Tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ở Tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Hotel California

 “Hotel California”: Kiệt tác đưa Eagles lên đỉnh cao và kéo họ đến bờ tan rã


Nhớ thời sinh viên đi nhảy đầm là nghe bản nhạc Hotel California, xem như bản chính của buổi họp mặt thân hữu, khiến mình mơ một ngày nào đó, viếng cái khách sạn danh tiếng này. Sau này qua California lần đầu tiên, hỏi bạn bè khách sạn này nằm ở đâu thì họ cười quá cỡ thợ mộc, kêu chỉ là tưởng tượng trong trí của nhạc sĩ. Chán Mớ Đời 

Song đấu guitar giữa Don Felder và Joe Walsh

Cách đây mấy năm mình có xem cuốn phim tài liệu trên Netflix thì phải về sự hình thành và tan rã của ban nhạc The Eagles. Có lẻ khúc phim đầy ấn tượng là hai tay đàn Guitar Solo song đấu, tưởng như mày ngon hả, xem đây rồi kéo éo éo, phê không thể tả. Rồi hồi vuốt cây đàn cái vèo. 


Vào những thập niên 60, Los Angeles là vùng thánh địa cho những ai muốn nổi tiếng về âm nhạc. Có 4 ông thần từ xa đến để chơi nhạc kiểu (back up) cho ca sĩ Linda Ronstad. Họ hợp rơ với nhau khi lưu diễn với ca sĩ Linda Ronstad. Sau chuyến lưu diễn họ hợp nhau thành lập một ban nhạc. Họ thâu đĩa đầu tiên mang tên Eagles và đứng đầu suốt 5 tuần lễ.


Năm 1974, Don Felder được mời gia nhập ban nhạc dù không phải là một trong những người sáng lập. Ông Felder được khuyên là muốn làm nhạc cho ban nhạc thì chỉ làm nhạc thôi còn lời thì để hai ông thần chánh làm nên ông ta chỉ làm đâu 15, 16 bài, gọi là Demo, chỉ có 2 bản được thâu sau này là Nạn nhân của tình yêu (victim of Love) và Hotel California.

Trong lịch sử nhạc rock Mỹ, hiếm có ca khúc nào vừa là biểu tượng vinh quang, vừa là dấu mốc cho sự sụp đổ nội bộ như “Hotel California” của ban nhạc Eagles. Phát hành năm 1976, bài hát không chỉ đưa Eagles lên hàng ngũ huyền thoại, mà còn phơi bày và khuếch đại những mâu thuẫn đã âm ỉ từ lâu trong lòng ban nhạc. Thành công của Hotel California chính là con dao hai lưỡi: một mặt mở ra kỷ nguyên vàng son, mặt khác đẩy Eagles vào vòng xoáy quyền lực, cái tôi và sự chia rẽ không thể hàn gắn. Dù sau này vì tiền bạc họ có đoàn tụ để đi lưu diễn nhưng các thế lực thù địch vẫn không thể hoà hợp hoà giải được, dẫn đến tan rã hoàn toàn sau khi kiếm được một mớ tiền về hưu.


Đến ngày nay, thiên hạ cũng đặt câu hỏi về lời ca của bài hát này. Họ phỏng vấn hai người đặt lời ca thì hai ông nói mỗi khác, một cách triều tượng. Nghe kể hai ông này phải cách ly với ban nhạc mất mấy ngày để viết lời cho nhạc do ông Felder đã soạn. Có thể sau khi phê cocaine, họ tư duy đột phá viết ra những lời ca trên rồi chả nhớ lý do xuất khẩu thành thơ. Nay tìm cách nói bú xua la mua để nghe vì nghe càng chới với. Nhạc sĩ Việt Nam lấy thơ của ai rồi soạn nhạc trong khi đây họ làm nhạc trước rồi tìm cách soạn lời. Tương tự bài “The Sound of Silence” mà mình đã kể.


Trước Hotel California, Eagles vận hành tương đối dân chủ. Các thành viên cùng tham gia sáng tác, quyết định và chia sẻ ánh hào quang. Làm theo năn suất hưởng theo nhu cầu. Nhưng khi ca khúc trở thành hiện tượng toàn cầu, cán cân quyền lực trong ban nhạc lập tức thay đổi. Họ bắt đầu thấy tiền, trở thành tư bản nên không muốn chia đồng đều mà làm theo nhu cầu, hưởng theo năng suất. Don Henley và Glenn Frey, hai gương mặt nổi bật nhất, sáng lập viên, dần dần nắm quyền kiểm soát sáng tạo và định hướng nghệ thuật. Nghe phỏng vấn tay guitar solo Joe Walsh, ông ta kêu chống chọi nhẹ lại, thậm chí đòi không cho ông ta tham dự ban nhạc. Nếu không chúng ta sẽ không thấy màn song đấu đàn guitar giữa ông ta và Don Felder. Những thành viên khác, đặc biệt là tay guitar Don Felder, bắt đầu cảm thấy mình bị đẩy ra rìa dù nhạc do chính ông ta sáng tác. Quyền quyết định không còn thuộc về tập thể, mà tập trung vào một số ít cá nhân, gieo mầm cho sự bất mãn kéo dài.


Năm 1994 khi ban nhạc được kết hợp lại để đi tour thì hai ông thần Don Henley và Glendale Frey kêu tiền bạc tụi tao lấy nhiều hơn vì có công nhiều hơn khiến ông Don Felder không chịu và bị cho ra rìa nên kiện tụng, phần ông Joe Walsh thì nghiện rượu và cocaine nhưng được ông Don Henley giúp cho vào trung tâm cai nghiện nên vẫn nhớ ơn, kêu không có Don thì đời tôi đã tiêu tùng.


Mâu thuẫn ấy càng trở nên sâu sắc quanh đoạn solo guitar đôi huyền thoại của Hotel California. Don Felder là người viết phần nhạc nền ban đầu, bộ khung tạo nên linh hồn bài hát. Thật ra khi mới được thành lập ban nhạc Eagles hát nhạc miền quê (country music) nhiều hơn như album “take it easy” nhưng thời cuộc đã thay đổi, ông bầu ban nhạc kêu phải thêm rock vào nên mời Don Felder và Joe Walsh tham gia hoàn thiện và cùng Felder trình diễn đoạn solo được ca ngợi là hay nhất lịch sử nhạc rock. Tuy nhiên, theo thời gian, Felder cảm thấy đóng góp của mình không được ghi nhận xứng đáng, đặc biệt trong các phát biểu công khai và câu chuyện được kể lại với truyền thông xem như bị cướp công cách mạng. Một đoạn nhạc từng là biểu tượng của sự hòa hợp nghệ thuật, nay trở thành biểu trưng cho cạnh tranh và oán giận. Ai buồn đời nghe “Take ít Easy” sau đây:


https://youtu.be/9KQKJLELs9w?si=bcrovXkH17VXB94_


Danh vọng và tiền bạc tiếp tục đổ thêm dầu vào lửa. Hotel California bán hàng chục triệu bản, hình như 30 triệu khắp toàn cầu, đưa Eagles vào các tour diễn sân vận động và mang lại nguồn lợi khổng lồ. Nhưng thành công không được phân bổ công bằng. Henley và Frey có nhiều quyền lực hơn, nhiều tiếng nói hơn, và trở thành gương mặt đại diện của ban nhạc. Trong bối cảnh đó, những mâu thuẫn vốn nhỏ bị phóng đại, biến thành xung đột cá nhân và đấu đá quyền lợi.


Trớ trêu thay, chính nội dung của Hotel California,  lời cảnh báo về cái bẫy của danh vọng, sự hưởng lạc và ảo tưởng tự do, lại phản chiếu đời sống thực của ban nhạc. Lưu diễn triền miên, lạm dụng chất kích thích, kiệt sức tinh thần và cái tôi nghệ sĩ va chạm liên tục khiến The Eagles dần trở thành hình ảnh mà họ từng phê phán trong ca khúc. “Bạn có thể làm thủ tục trả phòng bất cứ lúc nào, nhưng không bao giờ có thể rời đi”, (you can Check-out anytime but you never leave) câu hát ấy như một lời tiên tri cho số phận của chính họ. Ngày nay khi nói đến ban nhạc này, chúng ta đều nghĩ đến Hotel California. Coi cuốn phim tài liệu mới biết ban nhạc có nhiều nhạc phẩm khác nổi tiếng mà mình từng nghe trên đài phát thanh nhưng không biết là của họ.


Đỉnh điểm của sự rạn nứt đến vào năm 1980, trong chuyến lưu diễn The Long Run. Tại một buổi diễn ở Long Beach, Glenn Frey và Don Felder cãi nhau ngay trên sân khấu, thậm chí đe dọa nhau trong lúc biểu diễn. Không khí thù địch ấy khiến việc tiếp tục tồn tại như một ban nhạc trở nên bất khả thi. Không lâu sau, Eagles chính thức tan rã. Don Henley mỉa mai rằng ban nhạc sẽ không bao giờ tái hợp “cho đến khi địa ngục đóng băng”. Xem đường dẫn năm 1976, lúc bản nhạc Hotel California mới được ra đời.


https://youtu.be/pcGYDuw0YbY?si=pWwuQAeeiFHw9WXr


Mặc dù Eagles sau này tái hợp vào năm 1994 với tour Hell Freezes Over, vết nứt do Hotel California tạo ra chưa bao giờ thực sự lành lại. Don Felder cuối cùng bị sa thải năm 2001 và kiện lại ban nhạc, khép lại chương bi kịch kéo dài nhiều thập kỷ.


Ngày nay, Hotel California vẫn được tôn vinh là kiệt tác bất tử của rock cổ điển. Nhưng đằng sau giai điệu mê hoặc và đoạn solo huyền thoại là một câu chuyện cay đắng: bài hát đưa Eagles lên đỉnh cao cũng chính là khoảnh khắc họ đánh mất sự đoàn kết. Hotel California không chỉ kể về cái bẫy của giấc mơ Mỹ, nó còn là tấm gương phản chiếu bi kịch của chính những người đã tạo ra nó.


Mình xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần đoạn song đấu guitar Solo của hai ông thần này. Ông Don Felder nói là ông ta viết cho hai người, nếu để ý thì cách ông ta đánh và Joe Walsh khác nhau nhưng mình có nghe nhưng chả thấy khác biệt lắm. Ai rành nhạc lý chắc sẽ thấy sự khá sức biệt. Mình theo dõi tay của họ đánh thì thấy khác biệt. Mình mới coi lại phần năm 1976 khi họ chơi đàn thùng thì có thấy sự khác biệt một chút còn khi họ chơi guitar điện thì eo éo luôn. 


Theo mình hiểu thì ông Don Felder viết nhạc cho bản Hotel California nhưng chưa có tên, chỉ đánh vòng vòng rồi thâu lại khi đang được cocaine phê. Sau đó hai ông thần chính mới bắt đầu viết lời. Từ đó họ sửa từng chữ một vì quá nổi tiếng qua các album trước nên nhà sản xuất cần cái gì độc đáo hơn.


Hình như ông Don Felder mới qua đời năm nay hay năm vừa rồi. Người làm lịch sử âm nhạc thời mình học đại học, mê nức nở rồi cũng qua đi. Tấm hình đăng trên bìa của đĩa hát là Hotel Beverly Hills ở Los Angeles. Lúc đầu khách sạn này tính thưa kiện nhưng sau thấy khách đến ở nhiều quá nhờ bản nhạc nên thôi.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

in sách bán hay tặng

 In sách bán hay tặng


Đi chơi về, thấy một phong bì dầy cộm, của người không quen gửi từ tiểu bang khỉ ho cò gáy nên chả hiểu là gì. Mở ra thì thấy cuốn sách của một ông thần lớn tuổi hơn mình, sinh sống đâu ở Úc Đại Lợi mà mình hay đọc bài của anh ta. Ông thần này bay bướm lắm, ở cũng nhiều quốc gia. Mình thích anh ta kể chuyện đời xưa, tán gái ra sao ở Sàigòn,… sau này có dạo, anh ta viết về ông Trump mà anh ta kêu Dượng khiến mình ngạc nhiên vì sống ngoài nước Mỹ mà lại chú ý đến chính trị tại Hoa Kỳ. Một fan cứng của ông Trump. Dân thích ông Trump thì hoan hô còn dân ghét ông Trump thì chửi banh ta lông. Hay đọc nhiều còm chửi của thiên hạ khiến nay mình ớn hết dám đọc bài vỡ về ông Trump nữa. Hình như báo chí ít đưa tin về ông Trump vì không câu khách nữa. Mình lo năm 2026 có thể kinh tế banh ta lông vì mấy ông thần về tài chánh mà mình theo dõi từ 30 năm nay đều xác quyết như vậy. Họ có thể sai vì trước đây họ đã từng sai nhưng như cũng từng đúng. Mình nhắn tin cảm ơn đã gửi sách.

Bận áo này làm sao đi đứng

Đâu tháng trước, thấy anh ta kêu là đã in sách, và bay về Việt Nam để ra mắt này nọ. Thấy anh ta kêu cho địa chỉ gửi sách nên mình ghi danh. Ai ngờ đi chơi mấy tuần về lại nhận được từ Hoa Kỳ khiến mình ngạc nhiên. Mình tưởng anh ta bán nên tính gửi mua, ai ngờ lại cho không còn tốn tiền tem. Thấy lạ. Lý do là nông dân như mình, cái gì làm không ra tiền thì mình không thích làm. Viết bờ lốc để đầu óc bớt lộn xộn với những thứ nhảy múa chạy vòng vòng trong đầu.


Ngạc nhiên mình hỏi vòng vòng thì khám phá ra người Việt in sách đa số là bỏ tiền túi, rồi để tặng thân hữu khiến mình thất kinh. Tặng họ, có chắc họ đọc không. Cái gì miễn phí, người ta không trân trọng. Hiệu Lá Bồ Đề thì thường ít ai trân quý lắm.


Anh bạn học cũ, tiến sĩ Chử NHị Anh, buồn đời biên tập 100 bài viết tiêu biểu của mình rồi bỏ lên Amazon. Anh ta mua đâu 10 cuốn để gửi về Việt Nam tặng mấy thầy dạy học khi xưa. 5 cuốn gửi cho một bạn học cũ đảng viên ở Đà Lạt thì trót lọt, còn 5 cuốn gửi cho anh bạn ở Sàigòn, không phải đảng viên thì bị công an văn hoá kêu lên thẩm vấn mấy ngày luôn nên sợ hết dám gửi cho thầy cô.


Có người xúi mình gom lại mấy bài viết về Đà Lạt ngày xưa, in thành sách. Thấy cũng hay. Mình nghĩ nhờ ai đó biên tập lại những phần nhạy cảm, sửa chửa lỗi chính tả này nọ rồi in ra. Nếu lời thì giúp quỹ học bổng cho học sinh hay sinh viên nghèo. Hỏi lòng vòng thì thấy toàn thiên hạ in ra để tặng. Tốn tiền vô ích. Mình đã từng thấy nhiều người quen in sách bán không được để đầy nhà, khi dọn nhà nhờ mình chở đi quăng hay tặng cho thân hữu.


Có chuyện khác lạ nữa là ở Đà Lạt có ông thần hay viết bài về Đà Lạt. Rồi ông thần in sách, mình định lần sau về Đà Lạt, liên lạc mua một cuốn làm kỷ niệm thì gần đây, ông thần kêu có tên nào, lấy bài của ông thần rồi in ra sách về Đà Lạt. Ông thần kêu tên này mất dạy này lấy in 50% bài vỡ trong cuốn sách là của ông thần khiến mình thất kinh. Nếu để bán thì có lý, đây bỏ tiền in bài người khác không nói tên tác giả để người ta lầm tưởng mình viết. Chán Mớ Đời 



Đà Lạt lại có vụ này lấy bài của thiên hạ rồi in lại, không biết có bán hay không. Gần đây, có người hỏi mình là có dính dáng chi đến một khách sạn nào ở Đà Lạt, họ hay lấy bài của mình để đăng lại nhưng không để tên mình. Mình không để ý vụ ghi tên người viết, có thấy họ đăng lại nhưng thấy không có gì quan trọng lắm. Kiểu như họ thấy tin tức quan trọng đáng được phổ biến thì tốt thôi. Nhưng nhiều người hỏi nên mình phải xác minh là không biết chủ khách sạn này là ai. Thì thấy dạo này khách sạn này hết đăng lại cũng có thể họ Block mình nên không thấy. Có dạo, một khách sạn ở Đà Lạt, đăng hình hồ Xuân Hương do ông Bill Robbie chụp khi tham chiến tại Đà Lạt. Bị ông ta kêu ai lấy hình tao thế. Ông Robbie có gửi cho mình mấy tấm ảnh do ông ta chụp khi tham chiến tại Đà Lạt. Qua ông ta mới hiểu chính ông ta gây quỹ giúp 4 học sinh của trường Trần Hưng Đạo và Bùi Thị Xuân.


Có lần mình gặp và ăn cơm với hai vợ chồng chủ nhà in Phương Nam tại nhà thân hữu. Nếu muốn có tiền thì phải qua mấy nhà in như vậy chớ còn tự in thì chỉ có lỗ. Vì in ra bán không được thì thà dùng tiền in sách, tặng học bổng sinh viên nghèo có lý hơn. Cuốn Mực Tím Sơn Đen của Chử Nhị Anh thực hiện, mình cũng chả có ở nhà. Mình có mua một cuốn gửi về cho bà cụ ở Đà Lạt. Xong om


Lần sau mình gặp lại hai vợ chồng nhà in Phương Nam ở Sàigòn, hỏi thử thị trường đề tài Đà Lạt xưa có bán được không. Cách đây 20 năm mình về Sàigòn, thân hữu xúi đồng chí gái kéo gia đình chụp hình studio thì gặp nhiếp ảnh gia Tam Thái, người Quảng Nam. Ông này cho biết, đang chuẩn bị in cuốn sách về các biệt thự Đà Lạt thời tây. Sau này mình thấy thiên hạ tải hình ảnh của cuốn sách của anh ta nhưng chả thấy ai ghi chú là được trích trong sách của anh ta. Mình đoán chắc anh ta cũng chả bán được bao nhiêu. Chỉ làm vì đam mê. Cái gì đam mê là không đẻ ra tiền. Không ra tiền thì không nên làm. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

bán bệnh tật là nghề của bác sĩ

 Bán Bệnh Tật: Phơi bày cách ngành dược phẩm khổng lồ biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân

Sống tại âu châu hơn 12 năm nhưng mình chả bao giờ đi khám bác sĩ dù có bảo hiểm y tế nhưng khi sang Hoa Kỳ, sau khi lấy vợ thì đồng chí gái kêu đi khám bác sĩ mỗi năm theo định kỳ thì phác giác ra mình có bệnh đủ thứ trò. Vợ bảo thì phải phục tùng vì trai thuyền quyên. Đến khi mình bị gãy chân khi leo núi, nằm trên giường, buồn đời đọc 5 cuốn sách về ung thư thì thất kinh nên từ đó tìm hiểu thêm về y tế vì không thể nào tin hoàn toàn vào bác sĩ của mình vì theo châm ngôn của y sĩ ngày nay là “giúp một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng”. Nên mình định nghĩa lại ngày nay lương y như kế mẫu. Một bệnh nhân là một con bò để bác sĩ vắt sữa 3 tháng một lần. Bò nhiều bệnh càng nhiều càng tốt.

Tìm tài liệu đọc thì khám phá ra có nhiều người lương y như từ mẫu, bị hội đồng y khoa rút bằng vì dám nói lên sự thật nên mình càng chới với. Có ông bác sĩ nào ở Úc Đại Lợi bị cấm hành nghề, phải kiện tụng đủ trò mới lấy lại được bằng hành nghề. Lý do là ông ta khuyên bệnh nhân ăn uống cẩn thận thì bị tố là không có bằng dinh dưỡng nên không được khuyên bệnh nhân. Từ đó hay kiếm phim tài liệu và sách đọc về y tế. Rất khó nuốt vì quá khô khan, không như tiểu thuyết, tình yêu vớ vẩn nhưng phải cố gắng vì sự nghiệp cách mạng để tự cứu lấy mình. Hôm nay mình kể về cuốn sách do một người úc đại lợi và một người Gia-nã-đại, viết cách đây 20 năm. Trên Prime của Amazon có khá nhiều tài liệu còn trên YouTube thì hay bị chận.


Năm 2005, nhà báo y tế Ray Moynihan và nhà nghiên cứu chính sách dược phẩm Alan Cassels đã xuất bản cuốn sách mang tính đột phá khiến các công ty dược phẩm không yêu thích lắm “Selling Sickness: How the World’s Biggest Pharmaceutical Companies Are Turning Us All Into Patients (tạm dịch: Bán Bệnh Tật: Các công ty dược phẩm lớn nhất thế giới đang biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân như thế nào). Cuốn sách phê phán gay gắt cách kỹ nghệ dược phẩm mở rộng thị trường bằng việc quảng bá những trải nghiệm bình thường của con người thành các tình trạng bệnh lý cần điều trị bằng thuốc.


Luận điểm trung tâm của cuốn sách bắt đầu bằng một câu trích dẫn thẳng thắn từ một cựu giám đốc điều hành của công ty dược phẩm Hoa Kỳ Merck vào những năm 1970. Ông ấy buồn đời bị vợ la nên kêu rất thất vọng vì thuốc chỉ được bán cho người bệnh và mơ ước được sản xuất thuốc bán cho cả người khỏe mạnh, “bán cho mọi người”, giống như cách công ty Wrigley’s bán kẹo cao su. Chưa đau làm cho chúng bị đau, uống thuốc chúng càng đau thêm. 2 ông Moynihan và Cassels cho rằng tầm nhìn này đã trở thành hiện thực nhờ các chiến lược tiếp thị tinh vi: mở rộng ranh giới của bệnh tật, hạ thấp ngưỡng chẩn đoán và tạo ra nhu cầu ở những nơi trước đây không tồn tại, một quá trình mà họ và nhiều người khác gọi là bệnh hóa (disease mongering).

Các ý tưởng cốt lõi: Cách “bệnh tật” được sản xuất và bán ra


Các tác giả cấu trúc cuốn sách dưới dạng một loạt nghiên cứu trường hợp, mỗi chương phân tích một tình trạng bệnh cụ thể và thuốc liên quan để minh họa các chiến thuật mà “Big Pharma” sử dụng:

1.  Mở rộng định nghĩa bệnh: Các công ty dược tài trợ cho các hướng dẫn y khoa và hội nghị đồng thuận nhằm tái định nghĩa những biến thể bình thường (như lão hóa, nhút nhát hay buồn bã) thành các rối loạn. Như Cholesterol khi xưa là chỉ số 356 là được xem là cao ngày nay thì chỉ số xuống còn 200 khiến ai cũng bị dính cả, phải uống thuốc. Các chuyên gia tham gia những hội nghị này thường có mối quan hệ tài chính với ngành công nghiệp, tạo ra xung đột lợi ích.

2.  Hợp tác với bác sĩ và các nhóm bệnh nhân: Các hãng dược tài trợ giáo dục y khoa, hội nghị và các tổ chức vận động bệnh nhân, biến họ thành những người quảng bá (có thể vô tình hoặc cố ý). Các chiến dịch “nâng cao nhận thức” cho bệnh nhân, do các công ty dược phẩm tài trợ, giáo dục công chúng về những tình trạng “chưa được chẩn đoán đúng mức”.

3.  Quảng cáo trực tiếp tới người tiêu dùng: Ở các quốc gia cho phép (như Mỹ), quảng cáo miêu tả những khó khăn đời thường thành các bệnh có thể điều trị, thúc đẩy bệnh nhân yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc cụ thể. Ở âu châu họ cấm được quảng cáo thuốc trên đài truyền hình còn ở Hoa Kỳ thì đủ loại nhưng 35% thời gian nói đến hệ ứng phụ, kêu nếu như này như nọ thì báo cáo ngay cho bác sĩ. Nếu họ nói đến hệ ứng phụ nghĩa là thuốc chưa đúng nhưng cứ bán ra đã.

4.  Tạo ra các rối loạn mới: Một số tình trạng gần như được “phát minh” hoặc phóng đại để phù hợp với thuốc mới, chẳng hạn biến sự cáu kỉnh nhẹ thành một rối loạn nghiêm trọng. Những chiến lược này biến những người khỏe mạnh hoặc chỉ gặp vấn đề nhẹ thành bệnh nhân suốt đời, tạo ra hàng tỷ đô la lợi nhuận đồng thời gây nguy cơ điều trị quá mức, tác dụng phụ và làm quá tải hệ thống y tế.


Các nghiên cứu trường hợp chính trong sách, xin tóm tắc:

•  Cholesterol cao: Việc hạ thấp ngưỡng đã biến hàng triệu người thành “bệnh nhân” cần dùng statin, dù nhiều người có nguy cơ thực sự thấp. Chỉ số từ 240mg/dl còn 200mg/dl như ngày nay thì bố ai cũng bị cao mỡ, cái mất dạy là chúng ta cần mỡ để cơ thể hoạt động. Lá gan sản xuất 80% số lượng mỡ mà cơ thể cần hàng ngày.

•  Trầm cảm và thuốc SSRI: Tiêu chí mở rộng đã bệnh hóa nỗi buồn bình thường, thúc đẩy thuốc chống trầm cảm.

•  Mãn kinh và liệu pháp thay thế hormone (HRT): Được miêu tả như một bệnh thiếu hụt cần hormone dài hạn (sau này được phát hiện làm tăng nguy cơ sức khỏe).

•  Rối loạn lo âu xã hội: Sự nhút nhát được tái định khung thành tình trạng suy nhược có thể điều trị bằng thuốc như Paxil.

•  Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD): Mở rộng sang người lớn, mở rộng thị trường thuốc kích thích.

•  Hội chứng ruột kích thích, loãng xương và rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt: Những vấn đề nhẹ hoặc phổ biến được nâng lên thành cần dùng thuốc.


Các tác giả dựa trên phỏng vấn người trong ngành, bác sĩ, nhân viên tiếp thị và các nguồn học thuật để cho thấy cách những nỗ lực này làm mờ ranh giới giữa bệnh thực sự và các “yếu tố nguy cơ” mang lại lợi nhuận. ông Ray Moynihan, cây bút thường xuyên của BMJ và Lancet, cùng ông Alan Cassels, chuyên gia Canada về chính sách dược phẩm, kết hợp báo chí điều tra với phân tích dựa trên bằng chứng. Tác phẩm của họ đã phổ biến khái niệm “bệnh hóa” và ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận toàn cầu về quá trình y tế hóa quá mức.


Hai thập kỷ sau, cuốn Selling Sickness vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh lo ngại liên tục về ảnh hưởng của ngành dược từ tiếp thị opioid đến các mở rộng hiện đại như ADHD ở người lớn hay thuốc điều trị béo phì. Cuốn sách kêu gọi sự hoài nghi đối với tin tức y tế, hướng dẫn độc lập và việc đánh giá lại điều gì thực sự cấu thành “bệnh tật” trong thời đại y học bị chi phối bởi lợi nhuận.


Một điểm khác như bệnh loảng xương. Đầu thập 1990, một công ty dược phẩm chế tạo ra một loại thuốc trị bệnh loảng xương, mà dạo ấy chưa được hiểu rõ lắm. Các đại diện các công ty dược phẩm và bác sĩ  họp nhau tại cơ quan WHO để hội thảo, và quyết định thế nào là xương chắt là bình thường. Họ xếp loại ra sao mà 50% phụ nữ trên 70 tuổi bị bệnh loảng xương. Xem như trong vòng một đêm , 50% phụ nữ trên 70 tuổi thức dậy là có bệnh loảng xuống phải uống thuốc.


Các công ty này tặng miễn phí các y cụ cho các phòng mạch bác sĩ hay nhà thương để khám mật độ xương. Cái mất dạy là sau khi uống thuốc này sau nhiều năm khiến xương của bệnh nhân dòn và dễ gãy hơn. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Cuộc Cách Mạng hàng không Pan Am

 


 Cuộc Cách Mạng Boeing 747


Nhớ dạo về Sàigòn làm giấy tờ đi Tây, đi ngoài đường thấy các công ty hành không như Pan Am, Air France thấy phê, cứ tưởng tượng một ngày nào đó được ngồi trên chiếc phi cơ của mấy công ty này chắc sướng như đi Tây. Rồi cuối cùng mình được đi máy bay Air France qua Tây. Cái vé này cũng khẩm bạc cho bà cụ mình nhưng được đi tây là chả nghĩ gì thêm. Nhớ hôm được sổ thông hành ở bộ Nội Vụ, sau đó chạy lại toà lãnh sự Pháp để được cái chiếu khán xong thì mình có bò lại công ty Air france để hỏi giá đi tây. Bước vào thấy máy điều hoà không khí, mát rượi, thấy sang và hạnh phúc quá đổi. Nông dân thị xã Đà Lạt về thủ đô là phải biết.

Chiếc máy bay Boeing 747 đầu  tiên

Trong chuyến bay từ Luân Đôn qua New York, lần đầu tiên mình được đi máy bay Boeing 747, to nhất các loại máy bay thời đó. Thấy sướng như đi Mỹ nhưng sau này không thấy loại máy bay này nữa trong khi đó Airbus của âu châu lại làm chiếc máy bay to đùng A380 mà mình có dịp đi Hán Thành. Lần cuối được đi A380 là khi bay sang Dubai. Buồn đời mình tìm tài liệu đọc về Boeing 747, lý do ngày nay không bay nữa.


Vào giữa thập niên 1960, vận tải hàng không quốc tế vẫn là một lãnh vực xa xỉ cho người dân bình thường. Nông dân như mình khi xưa, nói đi Tây như chuyện lên trời. Năm 2025, ứng dụng TripIt cho biết mình bay năm nay 79,896 dặm xem như 3.2 lần vòng quanh trái đất, viếng 13 quốc gia và 48 thành phố. Các chuyến bay xuyên đại dương chủ yếu phục vụ giới thượng lưu, chính khách và doanh nhân. Giá vé cao, năng lực vận chuyển hạn chế và chi phí vận hành lớn khiến việc bay quốc tế vượt xa khả năng tài chính của đa số dân chúng. Xem phim xi-nê thấy họ đẩy xe với gà nướng đủ trò thấy sang quá cở thợ mộc. Hình như khi tổng thống Bill Clinton và bộ trưởng Robert Reich được học bổng Rhodes đi học bên Anh quốc, họ phải đi bằng tàu thuỷ.

Người sáng lập ra công ty Pan Am, Juan Trippe

Năm 1965, một vé bay xuyên Đại Tây Dương có giá tương đương nhiều tháng lương của một công nhân bình thường. Du lịch quốc tế khi ấy không phải là nhu cầu đại chúng, mà là đặc quyền của thiểu số cực giàu, lắm tiền.


Trong hoàn cảnh đó, ông Juan Trippe, Tổng giám đốc Pan American World Airways (thường được đọc vắn tắc Pan Am), hãng hàng không quốc tế hàng đầu thế giới dạo ấy (sau này bị phá sản) đã đưa ra một tầm nhìn mang tính cách mạng vào thời ấy. Sau này khi mình ở Âu Châu thì công ty hàng không Virgin của Anh quốc nổi tiếng vì vé máy bay sang New York rất rẻ khiến đám đông trẻ lên đường sang New York chơi cuối tuần rồi bay về. Có quen một tên tây, hắn làm việc ở New York, lâu lâu hắn bay về thăm cô bồ, nhìn hắn mình quá ngưỡng mộ khi đi nhảy đầm nghe hắn nói chuyện bên mỹ. Mình cứ nhìn hắn mà nuốt nước miếng trong đầu lại kêu u chau u chau. Trong khi cô bồ hắn mặt vênh lên trên trời khi được mấy cô bạn ngưỡng mộ nhưng rồi hai người này cũng chả lấy nhau.


Ông Juan Trippe không chỉ là một nhà quản lý hàng không giỏi, mà còn là một nhà chiến lược có tầm nhìn toàn cầu. Ông tin rằng hàng không không nên chỉ phục vụ giới giàu có, mà phải trở thành phương tiện kết nối toàn nhân loại, đại chúng hoá việc du lịch bằng phi cơ. Mục tiêu của Trippe rất rõ ràng: giảm giá vé bằng cách gia tăng sức chở hành khách, từ đó đưa chi phí bay quốc tế về mức mà tầng lớp trung lưu có thể trả để được đi du lịch xa. Mình có kể vụ Duty Free, ai buồn đời thì tìm lấy đọc để hiểu lịch sử hàng không.


Để đạt được điều này, ông đưa ra một yêu cầu chưa từng có tiền lệ trong lịch sử hàng không dân dụng. Trong một cuộc họp với các lãnh đạo Boeing, ông Trippe yêu cầu hãng chế tạo một máy bay có thể chở 400 hành khách vượt đại dương, gần ba lần năng lực của Boeing 707, chiếc máy bay thương mại lớn nhất lúc bấy giờ.

Đề xuất này khiến các giám đốc Boeing suýt bị sặc cơm trong miệng, như bò đội nón, bị coi là liều lĩnh, thậm chí điên rồ. Những thách thức kỹ thuật và rủi ro tài chính là vô cùng lớn. Một thất bại có thể kéo theo sự sụp đổ của cả Pan Am lẫn Boeing. Hôm trước, mình đọc một bài kể về công ty hàng không Nhật Bản ANA, cũng sử dụng chiến lược này với Airbus sau này. Mình nhất trí, nhớ đi Nhật Bản với bà cụ, mình đi hạng thương gia, thấy rất sướng cuộc đời. Vấn đề là đối với phụ nữ khi mình giới thiệu họ việc gì mà họ ưa thích là khổ. Mình mua vé hạng thương gia cho mẹ nên phải mua cho vợ. Vấn đề là mụ vợ nay cứ đòi đi máy bay hạng thương gia. Chán Mớ Đời 


Tuy nhiên, ông Juan Trippe đã đưa ra một quyết định mang tính lịch sử: Pan Am cam kết đặt mua trước 25 chiếc máy bay, dù chúng chưa được thiết kế. Cam kết tài chính khổng lồ này đã buộc Boeing phải chấp nhận thách thức chế tạo máy bay khổng lồ. Dạo ấy chưa có Airbus ra đời. Chỉ khi mình sang Pháp thì mới thấy xuất hiện Airbus, mình có tên bạn tây học ra trường rồi về Toulouse làm cho Airbus.


Để chế tạo chiếc máy bay mới, Boeing xây dựng một nhà máy hoàn toàn mới tại thành phố Everett, tiểu bang Washington, công trình có thể tích lớn nhất thế giới vào thời điểm đó. Kết quả của nỗ lực này là Boeing 747, chiếc “jumbo jet” đầu tiên trong lịch sử ra đời.

Khi xưa đi Máy Bay là như đi trên trời, họ cho ăn mệt nghỉ. Nay đi thương gia đường bay dài thì tha hồ ăn. Họ có hai bữa chính nhưng giữa hai bữa nếu đói thì cứ gọi chiêu đãi viên, họ đem đồ ăn ra như Phô-mát, Sandwich này nọ.


Ra mắt năm 1968, chiếc máy bay Boeing 747 gây chấn động giới hàng không toàn cầu. Máy bay có thân rộng hai lối đi, tầng trên đặc trưng, chiều cao tương đương tòa nhà sáu tầng và trọng lượng cất cánh tối đa hơn 330 tấn. Ukraina có chiếc máy bay to nhất thế giới và bị phá huỷ bởi Puchin trong cuộc chiến.


Dù bị hoài nghi, chuyến bay thử nghiệm đầu tiên vào ngày 9 tháng 2 năm 1969 đã chứng minh 747 không chỉ bay được, mà còn bay rất êm và hiệu quả. Hình như bộ quốc phòng của Hoa Kỳ có mua mấy chiếc để  sử dụng bắt đài radar trên không.


Ngày 22 tháng 1 năm 1970, chuyến bay Pan Am số 1 từ New York đến London đánh dấu lần đầu tiên Boeing 747 vận hành thương mại. Không gian khoang hành khách rộng rãi, tiện nghi vượt trội và khả năng di chuyển tự do trong cabin đã thay đổi hoàn toàn trải nghiệm bay. Những chiếc 747 đời đầu thậm chí còn có phòng sinh hoạt chung, quầy bar, cầu thang xoắn và giường ngủ cho các chuyến bay dài. Xem xi-nê họ hay chiếu cái cầu thang lên tầng trên nơi các bọn nhà giàu ăn uống, vui chơi.


Tuy nhiên, giá trị lịch sử lớn nhất của 747 không nằm ở sự sang trọng, mà ở năng lực vận chuyển. Việc phân bổ chi phí cho hàng trăm hành khách giúp giá vé giảm rất nhiều, mở ra cơ hội du lịch quốc tế cho tầng lớp trung lưu. Chỉ trong vài năm, Boeing 747 nhanh chóng được các hãng hàng không lớn trên thế giới đưa vào khai thác. Các tuyến bay quốc tế mở rộng nhanh chóng, tần suất tăng cao.


Nhớ năm 1986, mình sang Hoa Kỳ lần đầu tiên, công ty TWA hạ giá, mỗi vé $50 cho 10 chuyến bay tại Hoa Kỳ nên mình mình bay đi viếng 10 thành phố của Hoa Kỳ. Sau đó công ty này phá sản. Chán Mớ Đời 


Hệ thống hạ tầng hàng không toàn cầu buộc phải thích nghi: đường băng được gia cố, nhà ga mở rộng, thiết bị mặt đất được thiết kế lại. Đồng thời, giao lưu kinh tế, văn hóa và xã hội giữa các châu lục tăng tốc chưa từng thấy. Các nhà sử học gọi giai đoạn thập niên 1970 và đầu 1980 là “thời kỳ hoàng kim của kỹ nghệ hàng không”, trong đó Boeing 747 giữ vai trò trung tâm.


Sự thành công của 747 cũng dẫn đến những hệ quả không lường trước. Khi bay trở nên phổ biến, các hãng hàng không cạnh tranh khốc liệt về giá khiến nhiều công ty bị phá sản như Pan Am, TWA,… Để tối đa hóa lợi nhuận, họ tăng mật độ ghế ngồi, loại bỏ các không gian sinh hoạt chung và giảm dần mức độ tiện nghi. Dần dần, trải nghiệm sang trọng từng gắn liền với 747 biến mất, nhường chỗ cho mô hình vận tải hiệu quả nhưng chật chội. Và rẻ như ngày nay bay từ Paris đến Venise chỉ có 49 Euro nhưng nếu đem theo hành lý này nọ là họ chém không nương tay. Cũng như mình bay từ Los Angeles đến Paris có $200.


Từ cuối thế kỷ XX, vai trò chở hành khách của Boeing 747 dần được thay thế bởi các máy bay hai động cơ tiết kiệm nhiên liệu hơn. Tuy nhiên, 747 tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong vận tải hàng hóa toàn cầu. Năm 2023, Boeing chính thức kết thúc dây chuyền sản xuất 747 sau 54 năm, với tổng cộng 1.574 chiếc được chế tạo.


Di sản của Boeing 747 không chỉ là một thành tựu kỹ thuật. Đó là sự thay đổi căn bản trong cách con người tiếp cận khoảng cách. Nhờ tầm nhìn của ông Juan Trippe, du lịch quốc tế đã trở thành một phần bình thường của đời sống hiện đại. Chiếc 747 không làm phá sản ngành hàng không như lo ngại ban đầu. Ngược lại, nó đã định hình lại toàn bộ ngành, biến điều từng không thể thành quen thuộc, và đưa thế giới lại gần nhau hơn.


Ngày nay, đi máy bay có nhiều loại, rẻ, đắt tiền tuỳ theo khách hàng. Tháng 8 vừa rồi mình về âu châu, đi hãng Norse thì một vé từ Los Angeles - Roma hay Paris, giá có $200, thêm thuế này nọ nhưng nếu mình cần đem theo hành lý thì phải trả thêm $80, ăn uống thì phải trả thêm, ngồi ghế nào được lựa chọn thì trả thêm, cuối cùng như các chuyến bay khác. Keo kiệt như mình thì chỉ trả như vậy rồi vô Lounge Centurion ăn rồi đem đồ ăn và nước lên máy bay ăn và uống.


Nghe nói họ có dự định sản xuất loại máy bay bay cực nhanh và rộng lớn. Nếu họ qua được cái ải EPA, năng lượng xanh đã hạn chế đủ loại máy bay, cấm máy bay, đánh thuế đủ loại thì trong tương lai, có thể chúng ta sẽ thấy nhiều loại máy bay như Los Angeles bay về Việt Nam chỉ mất 5 tiếng thay vì cả ngày. Hay nhanh hơn. Một tiếng là tới Sàigòn. Nhưng chắc là cả ngàn hành khách.


Mình nhớ mãi lần đầu tiên đi máy bay qua tây với hãng hàng không Air France, quá cảnh tại Vọng Các, Tân Đề Li , Téheran. Cứ mỗi lần quá cảnh, họ kêu xuống máy bay rồi dẫn đi vòng vòng đến chỗ nào ngồi đợi họ bơm xăng máy bay, dọn dẹp rồi tới giờ lên lại máy bay. Mình nông dân cứ nhìn xung quanh, miệng há mồm, cứ u châu u châu hay hè hay hè. Mới đó mà đã 52 năm kinh. Cũng thời gian này mình đến Paris để hỏi Paris có gì lạ không Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn