Hiển thị các bài đăng có nhãn Ở Tây. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ở Tây. Hiển thị tất cả bài đăng

Đế chế “Nail” của người Việt hải ngoại

 Đế chế “Nail” của người Việt tỵ nạn


Mình có kể về các motel tại Hoa Kỳ đa số do người di dân gốc Ấn Độ sở hữu, các tiệm Donuts thì thuộc về người Cao Miên, các tiệm giặt ủi thì người Đại Hàn. Hôm nay đến cộng đồng người Việt tỵ nạn đã xây dựng một đế chế làm móng tay tại Hoa Kỳ. Cho thấy tuỳ theo đặc tính và văn hoá của mỗi cộng đồng di dân đã xây dựng một ngành nghề đặc biệt trong xã hội Hoa Kỳ.

Được biết người Mỹ gốc việt chiếm 1.7% dân số Hoa Kỳ nhưng họ có trên 51% thợ làm nail trên đất Mỹ, 80% người làm nail tại tiểu bang Cali. Xem ra mình quen nhiều người Việt làm nail ở Cali. Chưa đến 2% dân số mà đã thay đổi kỹ nghệ Nail trên 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm.


Đế chế Nail tại Hoa Kỳ khởi đầu từ ngày 30/4/1975. Hoa Kỳ di tản 125,000 người Việt ra khỏi Sàigòn. Đa số đến Hoa Kỳ với anh ngữ giới hạn, không tiền bạc, nhưng vài thập kỷ sau khi rời bỏ quê hương trong bối cảnh vội vả, họ đã xây dựng và thay đổi ngành làm nail tại Hoa Kỳ. Trong số người di tản 50,000 người đó đã được đưa đến trại thủy quân lục chiến Pendleton, California tạm trú, đợi người Mỹ bảo lãnh ra trại. Tại đây, có một bà tài tử người Mỹ tên Tippy Hedrin, nổi tiếng trong phim của Alfredo Hitcock “The Birds”, mẹ của nữ tài tử Melanie Griffith đến trại tỵ nạn làm thiện nguyện. Điều bà ta ngạc nhiên là các bà tỵ nạn, thay vì nhìn khuôn mặt Diễm kiều của bà, cứ nhìn chăm chăm vào móng tay của bà. Lý do là ở Việt Nam ít phụ nữ nào sơn móng tay đẹp như móng tay bà này.

Bà tổ ngành nail của người Việt tại Hoa Kỳ 

Bà ta đột phá tư duy, sao không dạy mấy bà người Việt này làm móng tay để kiếm cơm nuôi con cái. Thế là bà ta kêu người làm nail cho bà dạy mấy bà tỵ nạn người Việt. Chỉ 20 phụ nữ người Việt theo học lớp này và từ đó dạy lại 100 người rồi hàng ngàn người Việt theo nghề Nail. Từ tỵ nạn đến chiếm hoàn toàn kỹ nghệ làm móng tay với tổng số 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm cho người Mỹ tại Hoa Kỳ.


Đây là câu chuyện của những người mẹ, người cha, mất hết những gì ở Việt Nam, tỵ nạn ở xứ có nhiều cơ hội đổi đời, hy sinh đời mình để củng cố đời con. Ngoài ra còn để dành tiền gửi về giúp đại gia đình ở Việt Nam. Họ làm việc từ 10 đến 12 tiếng mỗi ngày. Đi chung xe với nhau trên xa lộ để đi làm. Sự giao thoa văn hoá người Việt và người gốc phi châu hay Mễ tây cƠ. Từ 1975 đến đầu 1990, có trên 1 triệu người Việt định cư tại Hoa Kỳ. Họ đến từng đợt, đa số không biết nhiều anh ngữ, không tín dụng cá nhân nhưng lịch sử nhiều khi rất lạ.

Trở lại 20 người Việt đầu tiên học làm nail. Sau đó thì họ đi làm cho chủ người Mỹ rồi họ đột phá tư duy, tại sao làm công cho thiên hạ nên rủ nhau mở tiệm riêng tuy nhỏ nhưng làm nhiều ăn nhiều làm ít ăn ít. Nói như người Việt bỏ công làm lời. Các người Việt đi làm cho tiệm nail rồi khi hiểu cách thức quản lý tiệm thì họ ra riêng, mở tiệm cho mình. Mình nghe kể là thợ làm xong, học đủ nghề thì xù chủ chạy ra mở tiệm riêng rồi kéo khách hàng về tiệm mình. Nên họ kêu nghề nail rất bạc bẽo. Vào đọc tin tức của nhóm làm nail ở Hoa Kỳ thấy thương họ.


Trước khi có sự hiện diện người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, đi tới tiệm nail chỉ dành riêng cho tầng lớp người giàu có với thời gian nhiều, chả biết làm gì ra ngồi Salon để cho ai đó dũa móng tay hay móng chân và tán dóc. Đối với phụ nữ mỹ bình dân đi vào salon nail là một loại xa xỉ vì quá đắt đối với túi tiền của họ nhưng người Việt đã thay đổi sự việc. Người Việt mở tiệm nail, không có tiền nhiều nên lúc đầu thường mở trong các khu vực bình dân như những khu vực của người da đen hay Mễ tây cơ.


Kết quả người Việt đã thay đổi khuôn mẫu làm nail tại Hoa Kỳ. Họ đã dân chủ hoá việc làm nail, thay vì làm nail riêng cho tầng lớp người giàu có, họ lấy giá rẻ khiến người dân bình thường, với giá hữu nghị có thể tự thưởng cho mình khi đi ăn tiệc vì mỗi set rẻ. Tương tự người cao miên mở tiệm bán Donuts có cả gia đình chung vào làm thì người Việt cũng có con cái giúp sau khi đi học về. Mình có người thân vượt biển sang Hoa Kỳ đi làm nail, mở tiệm rồi con cái đi học về ra giúp phụ cai quản trong tiệm. Ai buồn đời xem đường dẫn 

https://www.bbc.com/news/magazine-32544343


Ngoài ra các tiệm của người Mỹ thì đến 5 giờ là đóng cửa, còn tiệm người Việt thì mở đến khi nào hết khách thì về. Họ lấy giá hữu nghị nên có đông khách và mở thêm các chi nhánh. Có người đi xuyên bang thực hiện giấc mơ Hoa Kỳ của họ. Từ từ các tiệm nail do người Việt mở khắp Hoa Kỳ. Đi đâu mà thèm ăn cơm Việt Nam thì chỉ ghé lại tiệm nail để hỏi địa chỉ tiệm ăn Việt Nam. Đa số người Việt tìm thấy cơ hội làm tiền trong các khu vực đông người da đen và người mễ. Mấy sắc dân này ưa thích màu mè,…nên làm móng tay rất nhiều kiểu, vẽ đủ hình thức, các tài tử hay đội banh này nọ. Cho thấy đế chế Nail của người Việt  không chỉ xây dựng trong cộng đồng người Việt mà toàn nước mỹ với các cộng đồng bạn.


Mình có anh bạn, mẹ là 1 trong người 20 đầu tiên học nghề làm móng tay. Sau này mở trường dạy làm nail, nay anh bạn bỏ nghề bác sĩ để tiếp tục trường của bố mẹ để lại với cô em. Nay họ có chương trình dạy trên mạng, cho người Việt, người Mễ, và người ấn độ. Hoạt động theo phương cách làm ăn của mỹ, không còn tiểu thương như bố mẹ.


Giá rẻ và sự bành trướng của ngành nail của người Việt vô hình trung tạo ra những mặt trái của ngành nghề. Các thợ đều làm nhiều giờ, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Khi khách đi ra thì các thợ nail ho, không có thời gian nghỉ ngơi để ăn trưa. Cả ngày 10-12 tiếng hít các chất hoá học như Acetone, cổ tay đau vì sau bao nhiêu năm cứ dũa nail, ngồi mỏi mệt, đau lưng. Thêm tiệm thường không được thoáng không khí lắm. Chúng ta chỉ thấy móng tay đẹp nhưng ít ai để ý đến hậu quả phía sau của những người hy sinh đời mẹ củng cố đời con. Mình thấy có nhiều đàn ông cũng làm nail cho mấy bà mỹ. Giá rẻ mà tiền thuê tiệm càng ngày càng gia tăng nên khiến họ bị stress, thuế càng cao trong khi khách hàng thì muốn làm nhanh, để có nhiều khách hàng.

20 người việt đầu tiên hoc làm móng tay tại Cali.

Các người làm nail hít Acetone, acrylic, bột, keo suốt bao nhiêu năm sẽ gây hại cho sức khoẻ. Có chị bạn có người chị làm nail rồi bệnh quá nghỉ làm. Lâu lâu xe cứu thương đến chở vào nhà thương vì lộn xộn của sức khoẻ. Mình có người thân làm nail rồi về hưu vì bệnh hoạn và qua đời khá sớm. Nói chung vì kém anh ngữ nên khó tìm công việc khác, thêm gia đình ở Việt Nam xin tiền rồi cố gắng nuôi con ăn học trở thành bác sĩ kỹ sư. Mình có quen một chị gốc Đà Lạt, làm nail, nay con gái tốt nghiệp nha sĩ. Đó là sự hy sinh cho con cái được một tương lai khá hơn mình.


Đó là thế hệ đầu tiên của người Việt tỵ nạn nhưng thế hệ thứ 2 sẽ không tiếp nối con đường làm nail vì nay thế hệ này là kỹ sư, bác sĩ. Các tiệm nail này già theo thời cũng nghe chủ nhân. Ngày nay với luật pháp thay đổi nên có thể hệ thống làm nail kiểu người Việt từ 75 đến nay chắc sẽ gặp khó khăn vì con cháu không tiếp tục thêm và có thể đế chế Nail của người Việt sẽ biến mất trong tương lai.


Có điểm lạ là ngành nail tại Hoa Kỳ sẽ đi theo một lối mới. Có nhiều người Việt trẻ sáng lập tiệm nail qua Instagram, mạng xã hội với khách hàng là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng trển các mạng xã hội. Như vậy họ có thể lấy giá tiền cao hơn. Các tiệm nail ngày nay nghe kể sang trọng lắm, giúp khách hàng đến để trải nghiệm chớ không phải lẹ lẹ có bộ móng tay đi ăn tiệc hay hẹn hò với bạn trai.


Có câu chuyện một cô tên Jenny, 27 tuổi mở tiệm nail lợi tức lên $600,000/ năm. Cô ta kể là khi dịch covid 19 không biết làm gì nên tự học làm nail qua mạng rồi muốn thực hành nghề nên làm miễn phí để có followers trên Instagram. Thế hệ đầu tiên học từ cô hay dì, có trường dạy qua mạng còn thế hệ hôm nay thì học qua kỹ thuật số. Khách hàng của cô Jenny không chỉ muốn làm nail mà muốn các móng tay trở thành những tác phẩm nghệ thuật, những design chụp hình được để tải lên mạng xã hội. Khách hàng phải hẹn từ mấy tháng. Mình có cô cháu làm lông mày, xâm xiết gì đó. Nghe nói khách hàng Mỹ hẹn tối thiểu 6 tháng. Cô cháu chỉ hẹn giờ giấc chớ không như thế hệ trước làm cả ngày, không có thời gian cho gia đình.


Cô Jenny này không giới hạn ở làm nail mà còn bán các sản phẩm khác. Khách đến tiệm sẽ được mời mọc mua đủ thứ khác. Ngành nail hiện nay có hai cách. Một cách cổ điển là một set độ $20, làm nhiều khách hạng, tích tiểu thành đại và thế hệ mới thì lấy giá cao hơn và có thể làm rất được nhiều tiền và ít giờ.


Nếu nhìn xa hơn, người Việt bớt sang Hoa Kỳ như các thập niên trước. Các chủ tiệm càng ngày càng già mà con cháu sẽ không tiếp nối sự nghiệp. Nhưng ngành nail có thể nói đã giúp cộng động người Việt tỵ nạn nhanh chóng, có công ăn việc làm, không cần anh ngữ giỏi. Không cần đi học đại học, vẫn kiếm cơm nhanh chóng để nuôi gia đình và Việt Nam. Theo census thì người Việt tỵ nạn có lợi tức cao hơn người Mỹ trắng. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Quân đội bị lãng quên

 Quân đội bị bỏ quên


Khi đọc sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam từ người Mỹ hay Hà Nội viết thì tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến công lao và sự hy sinh trên 1 triệu người ở miền Nam. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc. Người Mỹ thì kêu các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà tham nhũng, bất tài trong khi Hà Nội chỉ kêu bọn nguỵ quân nguỵ quyền, tay sai đế quốc sài lang. Thật ra thì có vài ông tướng tham nhũng như ông Nguyễn Văn Toàn, khi làm tư lệnh quân khu II, đã cho đệ tử trao tiền cho Việt Cộng để người ông ta vào cưa cây đem bán cho ngoại quốc. Mình có kể vụ này rồi khi trinh sát 302 bắt gặp và bắn chết Việt Cộng và thiếu tá đưa tiền Việt Cộng khiến ông ta nổi điên đi trực thăng kiếm thiếu tá Phong ở ngoài mặt trận. Nếu con chúng ta đọc những tài liệu này hay được dạy ở trường thì chúng sẽ bị xấu hổ về cha ông của chúng. Ngày nay thì Hà Nội còn tham nhũng gấp vạn lần.

Khi mình sang Hoa Kỳ thì thấy đại học Hoa Kỳ tổ chức các buổi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Để diễn đàn thêm phần trung dung, họ mời đại diện Hà Nội, đại diện người Mỹ phản chiến và đại diện cộng đồng người Việt tỵ nạn. Vấn đề là cộng đồng người Việt không thống nhất đưa ai đi đại diện. Người muốn đi thì không rành anh ngữ, các sinh viên Việt Nam nói sẽ thông dịch rồi cuối cùng họ từ chối tham dự, chỉ kéo nhau lại biểu tình trước cổng đại học rồi ra về hồ hởi vì đã đi biểu tình chống cộng trong khi người Mỹ phản chiến và Hà Nội bên trong nói chuyện đưa ra quan điểm của họ cho thính giả mỹ. Nhiều người trong cộng đồng người Việt từng là sĩ quan cấp tá mà không hiểu cuộc chiến tranh tâm lý. Trình bày quan điểm tại sao Việt Nam Cộng Hoà thua và sự tàn ác của Việt Cộng. Cứ kêu bọn Việt Cộng không tin được, gian ác lắm. người Việt chúng ta nói chuyện theo cảm tính nhưng người Tây phương thì họ nói chuyện theo lý lẻ, phải giải thích lý do thì người mới tâm phục khẩu phục. Ngoài ra mình dám chắc nội tuyến của Hà Nội khắp nơi trong các hội đoàn người Việt. Tìm cách gây lũng đoạn.


Khi mình được sinh viên mời đi nói chuyện với người Mỹ tại đại học như NYU hay Brown,… Gặp phản chiến mỹ như ngày nay thế hệ xuống đường chống MAGA này nọ. Mình chỉ đưa ra vài điểm cho người Mỹ hiểu. Tại sao cả triệu người Việt bỏ nước ra đi bằng đường biển mà theo tin tức của cao uỷ tỵ nạn liên hiệp quốc cho biết chỉ 50% đến bờ còn lại chôn vùi trong biển sâu. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời Paris Match có 3 triệu tù nhân cải tạo. Đưa ra thí dụ của 3 anh em Nguyễn Tuệ, không được Hà Nội cho học, nay 3 anh em vượt biển, ai nấy đều có bằng tiến sĩ nhất là Nguyễn Tuệ có 7 cái bằng của đại học MIT. Không cần chửi bới đưa thí dụ để sinh viên mỹ hiểu vì chính họ đã thấy các sinh viên gốc việt kể là thuyền nhân. Tiếng tây tiếng u không rành nhưng cứ nói. Có lần bà giáo sư đại học NYU tranh cãi với mình, sau đó bắt tay mình kêu “good debate!”.


Dạo ấy mình hay ghé nhà ông Al Santoli, cựu chiến binh mỹ, có qua trại tỵ nạn giúp người Việt tỵ nạn và lấy vợ ở trại đem về mỹ. Chỉ có ông ta đơn độc nói về chiến tranh Việt Nam. Nên nhớ sau vụ Mỹ Lai, các cựu chiến binh mỹ về lại Hoa Kỳ hay bị người Mỹ lên án là những kẻ giết đàn bà con nít babykiller”. Nên ít cựu chiến binh xuất hiện, nay thì khác nhưng họ đều lớn tuổi.


Có ông mỹ viết cuốn sách Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, nói về quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ quên để dấy lên sự đóng góp của quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu cho tự do. Những cuốn sách này nên khuyến khích con cháu chúng ta đọc để chúng tự hào về Việt Nam Cộng Hoà, thay vì chỉ đọc sách mỹ hay của Hà Nội đều gieo tiếng ác, hạ nhục kẻ thua cuộc.

Cuốn sách của Andrew Wiest góp phần lấp đầy một khoảng trống lớn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Trong khi hàng nghìn cuốn sách đã được viết về cuộc chiến từ góc nhìn của người Mỹ và phía cộng sản Việt Nam, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) lại thường bị các sử gia phương Tây xem như đúng theo những gì tuyên truyền cộng sản mô tả một lực lượng “tay sai”, nguỵ quân kém cỏi, với những nỗ lực hầu như không ảnh hưởng đến kết cục của cuộc chiến. Rất ít sự chú ý được dành cho những trải nghiệm, đóng góp và lòng dũng cảm của các binh sĩ ARVN, những người đã chiến đấu suốt nhiều thập kỷ trong điều kiện khắc nghiệt và vì những lý do mà ít người Mỹ thực sự hiểu rõ.


Có nhiều người miền Nam đem tâm tình viết hồi ký nhưng đường như để đánh bóng cá nhân của họ nhiều hơn. Ít được dịch ra anh ngữ hay pháp ngữ,… khi xưa sống tại Đà Lạt đọc báo và nghe radio thì tin tức chiến sự đều phe ta vô sự, hạ sát mấy chục cộng quân, bắt tù binh này nọ,… chỉ khi ra hải ngoại đọc tin tức hai bên thì mới khám phá ra chiến dịch Lam Sơn 719 là thất bại, chết rất nhiều cả hai bên ở Quảng trị,…


Nhớ dạo ấy, đài Sàigòn nói nhiều về đại tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh tại Hạ Lào, sau này đọc hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải thì ông ta kể Hà Nội bắt sống ông đại tá này và cho rêu rao trên đài phát thanh Hà Nội. Nhạc sĩ Tô Hải có viết cuốn hồi ký thằng Hèn, nói chung ông ta bị Hà Nội đì mệt thở. Nhau công ta được chơi ở nhà hát Hà Nội nhưng ông ta không được tham dự vì chống lại Hà Nội.


Giáo sư Wiest kể lại câu chuyện đầy kịch tính về hai sĩ quan trẻ của Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ, những người có cuộc đời song hành nhưng cuối cùng cuộc chiến lại đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau khi đối mặt với quyết định khắc nghiệt nhất mà một người lính có thể gặp phải. Cả hai đều xuất thân từ những gia đình trung lưu có học thức, đều sinh ra tại cố đô Huế, và đều phục vụ suốt sự nghiệp quân sự của mình trong Sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam Cộng Hoà mà theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội miền Nam. 


Cả hai ông Đính và Huệ đều có thành tích chiến đấu xuất sắc. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong trận tái chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, nơi họ thể hiện năng lực vượt trội đến mức đều được trao tặng huân chương quân sự của Hoa Kỳ (Ngôi Sao Đồng và Ngôi Sao Bạc) vì lòng dũng cảm và thành tích trong trận chiến kéo dài và đẫm máu này. Giáo sư Wiest chỉ ra rằng vai trò quan trọng của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến này phần lớn đã bị các sử gia Mỹ bỏ qua. Hình như mất cả tháng mới chiếm lại hoàn toàn Huế.


Sau Tết Mậu Thân, khi cuộc chiến dần kết thúc đối với quân đội Mỹ nhưng lại trở nên ác liệt hơn đối với Việt Nam Cộng Hoà, cả hai người tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình và bất ngờ rơi vào những tình huống tuyệt vọng, nơi lựa chọn duy nhất là đầu hàng và chuyển sang phía đối phương, đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, bị bắt, bị giam cầm, hoặc cái chết. Trần Ngọc Huệ, chiến đấu tại Lào vào đầu năm 1971, đã đưa ra một lựa chọn, trong khi Phạm Văn Đính, với tư cách là một chỉ huy trung đoàn đối mặt với tình thế vô vọng trong cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh năm 1972, lại chọn một con đường khác. Giáo sư Wiest đã giải thích những yếu tố chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của mỗi người.


Với tư cách là một bức chân dung về hai cá nhân sống động và quan trọng, cuốn sách này đưa ra tình huống, và câu chuyện của họ phản ánh hình ảnh của nhiều sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm đã chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ở một tầng ý nghĩa khác, Giáo sư Wiest dựa vào quan điểm của hai sĩ quan này để đưa ra một số phê bình chung về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Xuyên suốt cuốn sách, Giáo sư Wiest lặp lại những chỉ trích của Đính và Huệ rằng vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960, quân đội Hoa Kỳ đã “ép buộc” ban lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng quân đội Việt Nam Cộng Hoà thành một “quân đội quy ước” thay vì như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hoà và ông Diệm được cho là mong muốn một lực lượng tập trung vào chống nổi dậy, du kích chiến. Giáo sư Wiest khẳng định đây là một sai lầm chiến lược căn bản. Ai buồn đời đọc báo Hà Nội theo đường dẫn. 


https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tiep-lua-truyen-thong/tu-duy-chien-luoc-quan-su-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-745496#:~:text=Chi%E1%BA%BFn%2520tranh%2520nh%C3%A2n%2520d%C3%A2n%2520%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c%2520ph%C3%A1t%2520huy,v%E1%BB%9Bi%2520ph%C6%B0%C6%A1ng%2520ch%C3%A2m%2520%E2%80%9Chai%2520ch%C3%A2n%252C%2520ba%2520m%C5%A9i%E2%80%9D;


Thực tế, như bất kỳ ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam và các tác phẩm của tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp đều biết, chiến lược “chiến tranh nhân dân” của phía cộng sản không phải là một cuộc nổi dậy cổ điển. Họ tiến hành chiến tranh bằng một chiến lược kết hợp độc đáo giữa chiến tranh du kích quy mô nhỏ và các chiến dịch quy ước quy mô lớn. Một quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức chủ yếu để chống nổi dậy có lẽ đã bị tiêu diệt trước các đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng chính quy cộng sản bắt đầu từ năm 1964; thực tế, ngay cả lực lượng Việt Nam Cộng Hoà “quy ước” do Hoa Kỳ xây dựng trong chương trình Việt Nam hoá mà Wiest chỉ trích cũng tỏ ra quá yếu để chống lại những đòn đánh này. Chính sự yếu kém đó, chứ không phải việc Việt Nam Cộng Hoà không thể đối phó với du kích, đã buộc Hoa Kỳ phải đưa lực lượng bộ binh chiến đấu vào Việt Nam năm 1965. Chúng ta nhớ vụ áp dụng chương trình ấp chiến lược được áp dụng thành công ở Mã Lai nhưng thất bại ở Việt Nam vì văn hoá khác nhau.

Trung tá Đính đầu hàng Việt Cộng để cứu binh sĩ vì hết đạn, không được tiếp tế.

Cuối cùng, sự nghiệp quân sự của cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ đều bị hủy hoại khi các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà quy mô lớn mà họ chỉ huy bị các đơn vị Bắc Việt áp đảo trong những trận đánh quy mô trung đoàn lớn… có báo Hà Nội nói về vụ trung tá Đính đầu hàng như sau:


https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ngay-tro-ve-cua-trung-ta-Pham-Van-Dinh-trong-mua-he-do-lua-i303933/


Tại căn cứ Carroll, ông Phạm Văn Đính, chỉ huy tiểu đoàn 56 khi quân đội chính quy của Hà Nội tấn công cuối tháng 3 năm 1972. Theo người ta kể lại thì tiểu đoàn của ông thiếu đạn dược, không được tiếp viện. Và bị tổn hại khá nhiều. Cuối cùng ông ta liên lạc với cộng quân vào 2:30 chiều ngày 2 tháng 4 năm 1972, xin đầu hàng. Sự đầu hàng của ông ta khiến quân đội miền Nam mất thêm nhưng địa cứ khác như Mai Lộc vì tiểu đoàn này có pháo binh hạng nặng. Và đưa đến mất Quảng Trị và Hải Lăng. Hình như sau vụ này hai tướng Vũ Văn Giai và Hoàng Xuân Lãm bị cách chức, ông Vũ Văn Giai bị lên án 5 năm tù, sau 75 đi tù Việt Cộng. Còn ông Hoàng Xuân Lãm thì ngồi chơi xơi nước đến 75.

Trong khi ông Trần Ngọc Huệ thì bị bắt làm tù binh tháng 3 năm 1971 trong thời gian chiến dịch Lam Sơn 719. Ông ta được đưa ra Hà Nội nhốt tại Hoa Lò mà người Mỹ hay gọi Hà Nội Hilton. Ông ta được thả năm 1983 và sang Hoa Kỳ năm 1991 với gia đình. (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Ted Ngoy, ông hoàng donuts

 Ted Ngoy, ông hoàng donuts 

Khi mình sang Cali lấy vợ và đất lành chim đậu. Mỗi sáng đi làm thì thấy các tiệm bán Donuts, thiên hạ xếp hàng mua bánh donuts và ly cà phê. Donuts một loại bánh khá ngọt được chiên rồi nhúng vào đường hay chocolate thêm rắt đủ thứ trò. Vào các nơi bán đồ xây dựng thì họ cho uống cà phê và ăn DOnuts miễn phí. Mình hay lấy cà phê và donuts cho thợ khiến họ tưởng mình tử tế mua cho họ. Mình thấy đa số các tiệm bán donuts là do người tỵ nạn Cam Bốt làm chủ như người Nam Hàn chuyên về các tiệm giặt áo quần, còn tiệm xăng thì đa số người Ba tư. Như người Việt thì chiếm thị trường tiệm nail đến 90%. 


Có lần mình hỏi một tên quen ở Long Beach thì hắn kêu không dạy nghề cho người Việt. Có người kêu bán một tiệm đổi tiền. Người di dân lậu làm được trả lương bằng ngân phiếu của chủ. Dạo đó họ chưa được phép như ngày nay là có bằng lái xe, mở trường mục ngân hàng nên khi nhận ngân phiếu của chủ, họ phải đem ra máy chỗ đổi tiền bị chặt 2% rồi gửi tiền về cho gia đình thì lại chặt thêm mấy phần trăm nữa. Mình vào chỗ họ cất giấu tiền, rồi kể đi lấy tiền vào cuối tuần để phát cho người di dân lậu mấy trăm ngàn, phải tránh đi đường ra sao và thay đổi người nên sợ quá, khi không bị cướp bắn chết giữa đường nên thà làm nông dân cho chắc ăn. Mỗi cuối tuần, đổi tiền độ $200,000 là lấy 2% rồi chuyển tiền về Mễ là thêm 3% xem như 5% hay $10,000, 1 tháng $40,000 hay $480,000 một năm chưa kể có tiệm bán thịt tùm lum nhưng phải thí mạng cùi. Chán Mớ Đời 

Nom Kong một loại bánh cam của người Cam Bốt tương tự như Donuts của người Mỹ 


Hồi covid, buồn đời mình trả tiền cho Netflix nên xem rất nhiều phim tài liệu về sự thành công và thất bại của người á đông đến Hoa Kỳ. Có một câu chuyện về sự hình thành các tiệm bán Donuts mà 80% là do người Cam Bốt làm chủ.


Ở Campuchia có ông hoàng Sihanouk, ở Cali có ông Ted Ngoy, thường được người Cam Bốt gọi là ông Hoàng Donuts. Ông Ted Ngoy là một nhân vật có cuộc đời rất ly kỳ, được mệnh danh là **"Vua Bánh Cam" (The Donut King)** tại Mỹ. Câu chuyện của ông không chỉ là về kinh doanh mà còn là biểu tượng của sự vươn lên và di sản của cộng đồng người Campuchia tại California. Những người tỵ nạn cộng sản trốn chạy những cuộc diệt chủng của Khờ Me Đỏ, làm lại tất cả từ đầu.


ông Ted Ngoy có một đời mà người Việt mình gọi là Lên Voi Xuống Chó. Ông ta từng là thiếu tá dưới chính quyền Lon Nol nên khi Khờ Me đỏ sắp vào thì ông ta cùng vợ con chuồn, và được Hoa Kỳ bảo lãnh đến Cali. Khi đến định cư tại miền Nam Cali thì họ không có một đồng xu dính túi như đa số dân tỵ nạn, sống sót là may mắn rồi.


Đúng như mình dự đoán, ông ta gốc Quảng Đông, cha mẹ đều người Tàu. Sinh năm 1944 và năm 1967 ông ta lên Nam Vang để học và gặp một cô gái, con của một công chức lớn. Ông ta làm đủ thứ nghề rồi năm 1970, Lon Nol lật đỗ ông hoàng Sihanouk, thì ông ta vào quân đội. Nhờ anh vợ, Sau Sutsakhan, giám đốc cảnh sát Campuchia, sau này có làm tổng thống ngăn ngủi của Campuchia. Ông ta được thăng thiếu tá và gửi đi qua Thái Lan làm tuỳ viên quân sự. Năm 1975 thì ông ta cùng bà vợ và hai đứa con di tản đến trại Pendleton.


Ông ta đi làm 2 job, ban ngày làm chùi nhà dọn rác cho một nhà thờ, tối làm nhân viên trạm xăng vào ban đêm, mùi hương từ một cửa hàng bánh donut gần đó đã khiến ông ta đói bụng. Nó gợi nhớ đến món “nom kong”, một loại bánh bột gạo của Campuchia. Tương tự như bánh cam rắt mè. Buồn đời ông ta hỏi thêm về cách làm bánh này nọ. Và ghi danh đi học, xem như ông ta là người Đông Nam Á đầu tiên được nhận vào chương trình đào tạo quản lý của Winchell’s Donuts. Đến năm 1977, ông tiết kiệm đủ tiền để mua cửa hàng đầu tiên mang tên “Christy’s Doughnuts” tại La Habra. Tiệm này chủ trước bán buôn ế như Bolsa nhưng khi đến tay ông ta thì khách hàng vào như điên. Nụ cười thân thiện và rẻ hơn các tiệm khác của người Mỹ làm chủ.


10 năm sau, ông ta sở hữu đến 32 tiệm donuts mang tên Christie. Được cái là cả gia đình sống trong một cái RV, để tiện chạy lên chạy xuống Bắc Cali để thiết lập thêm tiệm mới. Năm 1985, gia đình ông ta nhập quốc tịch mỹ và mua một căn nhà to đùng trên triệu bạc thời đó ở hồ Mission Viejo. Mình có anh bạn mua căn nhà to đùng ở ngay đây, dạo đó 2.5 triệu nay thì chắc 4 triệu. Có bên tàu ngay trước nhà, buồn đời thì lên tàu chạy lòng vòng hồ. Chỉ có là không được câu cá.


Mình đoán ông này gốc tàu nên muốn tiết kiệm chi phí, ông Ngoy đã hỏi nhà cung cấp về loại hộp rẻ hơn hộp trắng tiêu chuẩn. Nhà cung cấp đề nghị loại bìa màu hồng còn dư với giá rẻ hơn vài xu. Ông Ngoy đồng ý, và từ đó “chiếc hộp màu hồng” (pink Box) đã trở thành biểu tượng toàn cầu cho các cửa hàng bánh donut thủ công của người gốc Miên tại California. Có lần ai đó rủ mình đi nghe mấy ông thần miên nói về mua nhà đất ở Cao Miên nhưng người miên đã từng “cáp duồn” nên mình không dám hó hé. 


Thế là tiền bắt đầu vào như nước. Vợ con làm chết bỏ từ 3-4 giờ sáng. Ông

Ngoy không chỉ làm giàu cho bản thân; ông còn tạo ra con đường sống cho những người đồng hương. Ông đã bảo lãnh hàng trăm và thị thực cho người Campuchia, đào tạo họ tại các cửa hàng của mình và giúp họ thuê lại các địa điểm kinh doanh. Đây là lý do tại sao khoảng 80% các cửa hàng bánh donut độc lập tại Nam California vẫn do người gốc Campuchia làm chủ cho đến ngày nay. Mình nghĩ đây là tinh thần của người Tàu, lập hội bang rồi giúp người trong họ tộc hay bang. Gặp người Việt thì đánh cho tên người Việt khác cho chết bằng cách hạ giá xuống tận đáy.


Ngày nay ở Nam Cali, 80% các tiệm Donuts thuộc sở hữu cua người Cao Miên. Công ty DunKin Donuts chơi không lại vì giá thành đắt hơn trong khi các tiệm của người Cao Miên là do người trong gia đình làm hết nên rẻ. Bỏ công làm lời. Mấy công ty như Krispy Creme còn bị phá sản.


Bạo phát bạo tàn. Không nhớ ông ta mở bao nhiêu tiệm hình như 64 tiệm. Ông ta trở thành ông hoàng Donuts, tiền vô bạc triệu nhất là bán bằng tiền mặt. Mình xem phỏng vấn ông ta, ông ta kể là mất trắng hết, tiền bạc, tiệm donuts vì mê đánh bài. Ông ta tự nhủ làm việc mệt từ ngày qua mỹ đến giờ, sao không lên Lás Vegas thư giãn xem Elvis Presley trình diễn và rốt cuộc ông ta mất hết. Thấy mấy cô bận đồ hở ngực đem rượu đến uống vô tư nên đánh bài tố như Pol Pot giết người.


Ở đỉnh cao thành công vào những năm 1980 và 1990, ông Ngoy sở hữu khối tài sản hàng triệu đô la. Tuy nhiên, chứng nghiện cờ bạc nặng nề đã khiến ông mất trắng gia sản, các cửa hàng và cả cuộc hôn nhân của mình. Sau đó ông bà Ngoy về Cam Bốt để tham dự chính trị nhưng không thành. Được cái là thủ tướng Hun Sen mời ông ta làm cố vấn kinh tế.


Buồn đời bà vợ về lại Cali thì ở Cao Miên, ông ta có bồ nhí. Hết tiền thì bà vợ kêu tôi thức đêm để chiên donuts mà ông đem nướng hết ở sòng bài, rồi chơi em chân dài thì thôi sugar you you go, sugar me me go.


Hiện nay, ông Ted Ngoy đang sống tại Campuchia, làm nghề bắt mai mối bất động sản. Dạo mình đi Campuchia với mẹ mình và đồng chí gái, có anh kia người Việt gốc Miên, kêu mình đầu tư mua đất. Dạo ấy anh ta kể là tài sản có trên 2 triệu, mà hai thằng con không chịu về tiếp nối bước chân của anh ta. Đi vòng xứ này thì thấy người Tàu họ chiếm hết nên chả muốn ăn mắm bò hóc vì sợ bị hóc xương. 


Dù đế chế tài chính không còn, di sản của ông vẫn hiện hữu mỗi khi ai đó mua một hộp bánh donut màu hồng tại các cửa hàng gia đình trên khắp nước Mỹ. Hồi chưa có google map thì khi đến thành phố lạ, thèm cơm Việt Nam thì mình tìm các tiệm Nail để hỏi tiệm ăn Việt Nam, còn thèm mắm bò hóc thì chạy vào các tiệm bán Donuts. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Rockefeller và y học hiện đại

 Rockefeller và y học hiện đại 

Hoa Kỳ bắt cóc ông Maduro và dầu từ Venezuela được chở qua Hoa Kỳ để lọc. Thiên hạ nói dầu của xứ này nặng nề này nọ nhưng họ quên một vấn đề chính. 


Năm 1900, ông John D. Rockefeller kiểm soát khoảng 90% toàn bộ ngành lọc dầu tại Hoa Kỳ. Ông là người được cho là cá nhân tư nhân giàu nhất từng sống trên Trái Đất theo một số tính toán.


Ông gặp phải một vấn đề. Làm gì với những xác dầu sau khi lọc. Các nhà khoa học đang phát hiện ra rằng các hợp chất chiết xuất từ hắc ín than đá, một sản phẩm phụ của ngành dầu mỏ có thể được dùng làm thuốc tổng hợp. Aspirin, được chiết xuất từ hắc ín than đá, đã được Bayer ra mắt năm 1899. Dòng chất thải từ dầu mỏ mà Rockefeller trước đây phải tiêu hủy giờ có thể được bán lại cho công chúng dưới dạng thuốc với mức lợi nhuận khoảng 10.000%. Chưa kể dầu ăn mà mình đã kể. Người ta kêu lý do đó mà người Mỹ bị ung thư và to béo như ngày nay.


Ông lại gặp thêm một vấn đề khác. Y học Mỹ năm 1900 là một hệ sinh thái cạnh tranh gồm các thầy thuốc vi lượng đồng căn, thảo dược, naturopath, osteopath, hộ sinh và các bác sĩ truyền thống sử dụng thực phẩm, cây cỏ, nước và lối sống làm công cụ chữa bệnh chính. Khoảng một nửa số trường y ở Mỹ dạy một hình thức y học tự nhiên hoặc thay thế nào đó.


Rockefeller đầu tư vào ngành dược phẩm Đức, cuối cùng nắm cổ phần đáng kể trong IG Farben, tập đoàn khổng lồ bao gồm Bayer, BASF và Hoechst. Sau đó ông ủy thác một báo cáo.



Báo cáo được Abraham Flexner, một nhà giáo dục không có được đào tạo y khoa soạn thảo, do Quỹ Rockefeller và Carnegie tài trợ, và được công bố năm 1910. Báo cáo tuyên bố rằng các trường y tự nhiên và thay thế là “lang băm thiếu khoa học”. Và đề xuất đóng cửa hơn một nửa số trường y Mỹ và chuẩn hóa phần còn lại xung quanh y học dựa trên thuốc tổng hợp có bằng sáng chế.


Quốc hội hành động. Một nửa số trường y Mỹ đóng cửa trong vòng một thập kỷ. Các trường còn lại chấp nhận tài trợ từ Rockefeller và Carnegie với điều kiện phải tổ chức lại chương trình giảng dạy xung quanh điều trị bằng dược phẩm. Dinh dưỡng bị loại bỏ. Thuốc từ thảo dược bị loại bỏ. Can thiệp lối sống bị loại bỏ. Công việc của bác sĩ được định nghĩa lại: chẩn đoán triệu chứng, kê đơn thuốc.


Những loại thuốc đó được chiết xuất từ dầu mỏ. Dầu mỏ được cung cấp bởi các nhà máy lọc dầu do Rockefeller kiểm soát. Các trường y được Rockefeller tài trợ. Các tạp chí y khoa được Rockefeller tài trợ. AMA được Rockefeller hỗ trợ. Các bệnh viện được Rockefeller tài trợ.


Đến năm 1925, hệ thống y tế Mỹ đã trở thành một phần mở rộng tích hợp dọc của ngành công nghiệp dầu mỏ, hoạt động dưới khẩu hiệu marketing rằng đây là y học “khoa học”. Đây chính là hệ thống vẫn tồn tại cho đến ngày nay.


Ngành công nghiệp dược phẩm tạo ra khoảng 1,5 nghìn tỷ USD doanh thu mỗi năm. Dân số Mỹ, chiếm 4% dân số thế giới, tiêu thụ khoảng 50% tổng số dược phẩm được sản xuất trên toàn cầu.


Hệ thống này không được thiết kế để làm cho con người khỏe mạnh. Hệ thống được thiết kế để quản lý triệu chứng theo cách tạo ra những khách hàng trọn đời. Một bệnh nhân khỏe mạnh là một khách hàng cũ. Một bệnh nhân được “quản lý”, người phải uống thuốc mỗi ngày suốt phần đời còn lại, chính là một khoản đầu tư sinh lời đều đặn.


Mục tiêu từ đầu đến cuối là giữ bệnh nhân nằm trong hành lang sinh lời đó giữa khỏe mạnh và chết. Lâu đủ để bạn tiếp tục mua thuốc. Nhưng không khỏe đến mức bạn ngừng mua.


Bác sĩ khuyên bệnh nhân nên chữa lành chuyển hóa bằng cách thay đổi chế độ ăn uống, theo quan điểm của hệ thống đã đào tạo ông ta, là một sản phẩm lỗi. Bác sĩ kê cho bệnh nhân statin, metformin, thuốc chống trầm cảm và thuốc huyết áp dùng suốt đời mới là người đang thực hiện đúng như hệ thống thiết kế.


Hệ thống được thiết kế bởi một ông trùm dầu mỏ cần bán các sản phẩm thải của nhà máy lọc dầu mình. 116 năm sau Báo cáo Flexner, nó vẫn hoạt động chính xác như cách ông ta đã thiết kế. Bệnh nhân là khách hàng. Bài học đầu tiên của trường y là “chữa lành một bệnh nhân là chúng ta mất một khách hàng”.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn