Hiển thị các bài đăng có nhãn Những mảnhnhớ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những mảnhnhớ. Hiển thị tất cả bài đăng

Mỏ dầu và hồi giáo

 DẦU MỎ CÓ GIÚP TIẾN LÊN XHCN ?

Đi chơi ở Nam Dương và Tân Gia Ba mình khám phá ra dân tình yêu chính phủ vì nhà cửa rẻ, mua từ chính phủ cho 99 năm. 80 % căn hộ chung đều do chính phủ kiểm soát, số còn lại của tư nhân. Câu hỏi về việc các nước giàu dầu mỏ như Libya hay vùng Vịnh có phù hợp để theo chủ nghĩa xã hội (XHCN) kiểu Liên Xô hay không thực sự rất sắc sảo. Trả lời ngắn gọn: có, các nước nhiều dầu mỏ và dân số ít là nhóm phù hợp nhất về mặt vật chất để thử mô hình XHCN kiểu Liên Xô. Tuy nhiên, chúng chỉ phù hợp về điều kiện kinh tế, hoàn toàn không phù hợp về điều kiện chính trị-xã hội, nên gần như chắc chắn sẽ thất bại hoặc biến dạng.



Nếu bỏ qua văn hóa, tôn giáo và quyền lực, dầu mỏ kết hợp với dân số ít tạo nên "thiên đường XHCN" trên giấy tờ. Tài nguyên tập trung, dễ quốc hữu hóa. Dân số ít nghĩa là chia đều dễ dàng. Không cần thị trường phức tạp. Nhà nước chỉ cần xuất dầu, thu ngoại tệ, rồi bao cấp giáo dục, y tế, nhà ở. Đây chính là mơ ước của XHCN cổ điển: không cần cạnh tranh, chỉ cần phân phối. Liên Xô từng nghĩ Iraq, Libya, Algeria là tương lai tự nhiên của XHCN, điều này không phải ngẫu nhiên.


Nhưng chính vì dầu mỏ, XHCN càng tệ hại. Dầu mỏ tạo ra cái gọi là "Rentier State" - nhà nước sống nhờ tiền thuê tài nguyên. Nhà nước không cần đánh thuế dân, không cần dân giàu, không cần doanh nghiệp, không cần đổi mới. Hệ quả là dân không có đòn bẩy chính trị, nhà nước không cần trách nhiệm giải trình, quyền lực tập trung tuyệt đối. XHCN cộng dầu mỏ tạo ra nhà nước toàn trị lý tưởng cho giới cầm quyền.


Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: XHCN kiểu Liên Xô giả định có giai cấp công nhân đông, sản xuất phức tạp, và nhà nước điều phối tốt hơn thị trường. Nhưng dầu mỏ không phải công nghiệp, không tạo việc làm, không sinh ra sáng tạo. XHCN ở các nước dầu mỏ chỉ còn là phân phối tiền, không phải tổ chức sản xuất.


Libya dưới thời Gaddafi là ví dụ "chuẩn giáo khoa" của thất bại này. Gaddafi quốc hữu hóa toàn bộ dầu mỏ, xóa bỏ kinh tế tư nhân, tạo phúc lợi rất cao với nhà miễn phí và học miễn phí, chống thị trường và chống phương Tây. Kết quả là GDP trên đầu người cao, nhưng không có tầng lớp trung lưu độc lập, không có thể chế, không có cơ chế kế thừa quyền lực. Khi Gaddafi sụp đổ, nhà nước tan rã ngay lập tức. Lý do đơn giản: toàn bộ xã hội sống nhờ một vòi dầu cộng một người. Không có gì khác đứng vững được khi hai thứ này biến mất.


Đối chiếu Libya hay Algeria với UAE hay Qatar cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Cả hai nhóm đều có dầu mỏ và đều quốc hữu hóa, nhưng Libya và Algeria quốc hữu hóa tuyệt đối, bóp chết kinh tế tư nhân, không thu hút vốn đầu tư, và theo ý thức hệ XHCN nghiêm ngặt. Trong khi đó, UAE và Qatar tuy cũng quốc hữu hóa dầu mỏ nhưng quản trị theo mô hình doanh nghiệp, nuôi dưỡng kinh tế tư nhân, thu hút vốn đầu tư rất mạnh, kết hợp phúc lợi với thị trường, và theo chủ nghĩa thực dụng chứ không phải ý thức hệ cứng nhắc. Vùng Vịnh không theo XHCN mà theo mô hình "nhà nước độc tài kết hợp thị trường mở và phúc lợi mua ổn định".



Vì vậy, các nước dầu mỏ phù hợp nhất để XHCN tồn tại ngắn hạn, nhưng không phù hợp để phát triển dài hạn và cực kỳ nguy hiểm về mặt chính trị. Chúng có thể sống được 20-40 năm, nhưng không tiến hóa thể chế, không tạo con người tự chủ, và rất dễ sụp đổ bạo lực. Dầu mỏ không cứu được XHCN - nó chỉ che giấu khuyết tật của XHCN cho đến khi mọi thứ nổ tung.


Nếu dầu mỏ là lời nguyền cho XHCN và nhiều nước khác, tại sao Na Uy lại thành công? Na Uy là trường hợp hiếm hoi vì họ không "chữa" lời nguyền dầu mỏ bằng mẹo kỹ thuật, mà vô hiệu hóa tận gốc cơ chế gây nghiện tài nguyên. Na Uy làm đúng những điều mà hầu hết nước dầu mỏ không muốn làm.


Các nước dầu mỏ thường gặp năm bệnh: nhà nước sống nhờ dầu nên không cần dân; đồng tiền lên giá làm công nghiệp chết (Dutch disease); quyền lực tập trung dẫn đến tham nhũng; phân phối tiền thay vì phát triển năng lực; và khi dầu biến động thì xã hội sốc, chính trị vỡ. Na Uy chặn từng bệnh ngay từ đầu.


Đầu tiên, Na Uy không dùng tiền dầu để chi tiêu trong nước. Toàn bộ lợi nhuận dầu đổ vào Quỹ tài sản quốc gia, và quỹ này đầu tư ra nước ngoài 100%. Hệ quả là không làm đồng kroner tăng giá, không bóp chết công nghiệp trong nước, không tạo "kinh tế ăn dầu". Phần lớn nước dầu mỏ làm điều ngược lại và chết ở đây.


Thứ hai, dù có dầu, Na Uy vẫn thu thuế cao. Nhà nước sống bằng thuế và chịu trách nhiệm giải trình. Dầu chỉ là tài sản của các thế hệ tương lai. Điều này giữ quan hệ dân-nhà nước là hợp đồng, không biến nhà nước thành "ông phát tiền". Các nước vùng Vịnh và Libya đứt gãy ở chỗ này.


Thứ ba, Na Uy có nhà nước can thiệp mạnh, nhưng Quốc hội thực quyền, báo chí tự do, tư pháp độc lập, và minh bạch tuyệt đối ngân sách dầu. Dầu mỏ không đi qua tay cá nhân hay phe nhóm, không tạo "tầng lớp dầu mỏ".


Thứ tư, Na Uy dùng dầu để đầu tư giáo dục, công nghệ biển, năng lượng, logistics, và tạo ngành phụ trợ cạnh tranh toàn cầu. Dầu nuôi năng lực, không nuôi lối sống. Libya, Algeria, Iraq thì ngược lại: dầu nuôi trợ cấp, không nuôi con người.


Và cuối cùng, đây là điểm rất "Bắc Âu" nhưng cực kỳ thực dụng: người Na Uy chấp nhận thế hệ hiện tại không xài tiền dầu để dành cho con cháu. Quỹ dầu lớn hơn GDP nhiều lần. Xã hội đồng thuận cao nên không có áp lực chính trị "chia ngay".


Khi so sánh Na Uy với Libya và vùng Vịnh, sự khác biệt thật rõ ràng. Na Uy đầu tư tiền dầu ra ngoài trong khi Libya chi tiêu trong nước còn vùng Vịnh vừa chi vừa đầu tư. Na Uy thu thuế dân cao trong khi Libya thu thấp và vùng Vịnh thu rất thấp. Na Uy có trách nhiệm giải trình rất cao trong khi Libya gần như không có và vùng Vịnh thấp. Kinh tế tư nhân Na Uy mạnh, Libya yếu, còn vùng Vịnh tuy có nhưng lệ thuộc nhà nước. Về độ bền vững, Na Uy rất cao, Libya đã sụp đổ, còn vùng Vịnh phụ thuộc hoàn toàn vào dầu.


Na Uy không thoát lời nguyền dầu mỏ vì họ giàu hay giỏi hơn, mà vì họ tự trói tay mình trước khi dầu mỏ trói họ. Đa số nước dầu mỏ dùng dầu để mua ổn định và trì hoãn cải cách. Na Uy dùng dầu để kéo dài kỷ luật và chấp nhận không "sướng" ngay. Nguyên lý quan trọng ở đây: nước dầu mỏ chỉ phát triển khi họ coi dầu là "tài sản tài chính", không phải "nguồn sống".


Quay lại câu hỏi ban đầu về các nước dầu mỏ và XHCN. Trong thực tế, việc thất bại hay thành công trong tương lai không quyết định việc có đi theo mô hình nào hay không. Thực chất là ý thức hệ. Người Hồi giáo với tín ngưỡng cao khó chấp nhận sự vô thần của cộng sản. Đây là nguyên nhân chính khiến Liên Xô thất bại ở Afghanistan cũng như không thể phủ XHCN được ở Trung Đông (thành trì của Hồi giáo) hay Indonesia.


Quyết định theo hay không theo XHCN không phải do hiệu quả kinh tế, mà do tính tương thích ý thức hệ-xã hội. Liên Xô thua ở thế giới Hồi giáo và Indonesia không phải vì nghèo hay giàu, mà vì xung đột cấu trúc niềm tin. Đây là nguyên nhân số 1, không thể vượt qua.


Cộng sản kiểu Liên Xô vô thần, coi lịch sử là động lực, nhà nước tối cao, và Đảng quyết định chân lý. Hồi giáo thì coi Thượng đế là tối cao, luật Chúa lớn hơn luật người, đạo là hệ thống xã hội hoàn chỉnh bao gồm luật pháp, đạo đức và chính trị. Không có vùng đệm thỏa hiệp. Cộng sản không thể "dung nạp" đạo Hồi, chỉ có thể bóp, kiểm soát, hoặc phá. Với Hồi giáo, niềm tin không thể tư nhân hóa như Thiên Chúa giáo hiện đại.


Liên Xô thất bại ở Afghanistan không phải vì sai lầm chiến thuật. XHCN cần nhà nước trung ương mạnh, hệ thống giáo dục thế tục, và Đảng kiểm soát xã hội. Afghanistan có xã hội bộ tộc, luật Sharia, quyền lực phân tán, và thánh chiến là khái niệm chính trị. Liên Xô va chạm trực diện với nền văn minh, không phải đơn thuần là chiến trường quân sự. Có thể thắng về mặt quân sự, nhưng không thể thắng Allah trong tâm trí xã hội đó.


Những nơi XHCN từng tạm đứng được ở Trung Đông như Syria (Ba'ath), Iraq (Ba'ath), Libya (Gaddafi), Yemen Nam đều có điểm chung: đàn áp Hồi giáo chính trị, thế tục hóa bằng bạo lực, và nhà nước an ninh cực mạnh. Chúng không phải xã hội Hồi giáo tự nhiên, mà là "XHCN cưỡng bức lên xã hội tôn giáo". Khi nhà nước yếu đi, Hồi giáo quay lại ngay lập tức.


Indonesia là trường hợp rất thú vị. Indonesia không phải Hồi giáo cực đoan nhưng PKI (đảng Cộng sản Indonesia) vẫn thua dù mạnh, dù có sự hỗ trợ từ Trung Quốc. Indonesia không vô thần. Pancasila coi Thượng đế là nền tảng quốc gia. Xã hội đa tôn giáo, nhưng tôn giáo là chính danh chính trị. Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô bị coi là mối đe dọa đối với nền tảng tồn tại của quốc gia. Năm 1965, quân đội Indonesia tiến hành thanh trừng PKI, hàng trăm nghìn người thiệt mạng. Điều quan trọng: không phải vì PKI kém, mà vì họ xung đột với nền tảng đạo đức quốc gia.


Trung Quốc là ngoại lệ và đây là điểm phân biệt then chốt. Trung Quốc thành công với XHCN vì Nho giáo đã suy, tôn giáo phân mảnh, và nhà nước trung ương rất mạnh. Mao phá sạch không gian thiêng và Đảng lấp chỗ trống. Điều này không thể làm được ở Hồi giáo, nơi niềm tin ăn sâu hơn nhà nước.


XHCN không bén rễ ở "vành đai Hồi giáo" vì ba lý do cấu trúc: không chấp nhận vô thần; không chấp nhận Đảng đứng trên Thượng đế; và đã có sẵn hệ thống công bằng xã hội tôn giáo như zakat, waqf, sharia. XHCN không mang lại thứ họ thiếu. Cộng sản chỉ thắng ở nơi nó thay thế được "niềm tin tối cao". Ở Hồi giáo, niềm tin đó đã có chủ.


Liên Xô thua ở Afghanistan vì đụng phải nền văn minh tôn giáo không thể thế tục hóa. XHCN không thể phủ Trung Đông vì ý thức hệ mâu thuẫn tuyệt đối và không gian thiêng không thể xóa. Indonesia chọn diệt cộng để bảo vệ nền tảng tôn giáo quốc gia.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Kinh tế đăng ký (subscription economy)

 Kinh tế đăng ký (subscription economy)



Hôm nay đọc một bài trên mạng xã hội thấy đặc biệt nên gửi cho mấy đứa con. Con mình thì thuộc dòng keo kiệt nhưng nhiều khi đi chơi với mình thấy chúng tiêu tiền như nước vì mình trả nên nhắc chúng thôi. Câu chuyện như sau:


Tôi 24 tuổi, thu nhập 52.000 USD/năm, và gần đây tôi dọn vào ở trong phòng dành cho khách của nhà ông nội tôi, năm nay 80 tuổi, vì tiền thuê nhà 1.900 USD mỗi tháng đang bào mòn tôi đến kiệt quệ.


Thứ Bảy tuần trước, tôi đặt một khay sushi 32 USD qua ứng dụng giao đồ ăn vì cảm thấy “quá mệt” để vào bếp. Ông nội đứng nhìn người giao hàng rời khỏi hiên nhà, như thể vừa chứng kiến một tội ác. Tối hôm đó, ông ngồi ăn một bát “dọn tủ lạnh” bắp cải xào, chút thịt nguội còn sót lại và một củ khoai tây. Trông thật thảm. Có lẽ chưa đến một đô la để nấu. “Chắc là xa xỉ lắm,” ông lẩm bẩm. “Ăn uống như vua mỗi đêm.”


Tôi bùng nổ “Thời thế bây giờ khác rồi, ông nội! Thế hệ ông sống đơn giản. Ông mua được cả mảnh đất này chỉ với một nguồn thu nhập, lại còn nuôi cả gia đình!” Ông đặt thìa xuống. Tôi chưa từng thấy ánh mắt ông lạnh đến vậy. “Đơn giản ư?” Giọng ông gần như thì thầm. “Ông làm 2 ca ở nhà máy suốt ba mươi năm. Khi khủng hoảng xảy ra cuối thập niên 70, dưới thời tổng thống Carter, lãi suất gần 18%. Ông không ‘đặt đồ ăn’. Ông ăn bánh quy với bơ đậu phộng. Hàng tháng trời liền.”


Ông chỉ vào chiếc bàn cạnh giường tôi. “Cái đồng hồ cháu đeo còn đắt hơn ba tháng lương đầu tiên của ông. Đôi giày ‘thiết kế’ của cháu còn đắt hơn lần sửa bếp đầu tiên của ông. Còn sở thích của ông?” Ông chỉ vào chiếc găng tay bóng chày cũ, được để cẩn thận trên kệ. “Đó là sở thích của ông. Giá năm đô, dùng được bốn mươi năm.”


“Vậy sao? Cháu phải sống trong hang à?” tôi gắt lại. “Cháu không sống trong hang,” ông nói. “Cháu chỉ là thiếu kỷ luật. Cháu muốn cuộc sống của một chủ nhà nhưng không chịu hy sinh ly cà phê starbucks’ 8 đô. Cháu muốn bình yên tài chính nhưng sẵn sàng trả 30 đô cho cá sushi chỉ vì quá ‘kiệt sức’ để đun nước.”


Ông bước đến một chiếc tủ gỗ có khóa, lấy ra một cuốn sổ tiết kiệm bọc da đã sờn, rồi đặt lên đùi tôi. Tôi mở ra. 315.000 USD. Người đàn ông ăn ngũ cốc nhãn hiệu rẻ tiền và tự vá tất cho mình, đã tích lũy hơn ba trăm nghìn đô la từ một khoản lương hưu khiêm tốn và lối sống kỷ luật.


Tôi nhìn số dư. Rồi nhìn vào điện thoại, nơi thông báo “hộp quần áo cao cấp hàng tháng” vừa hiện lên. Tôi nhìn khay sushi mới ăn được nửa. Ông nội cầm bát bắp cải lên. “Cháu nói đúng, Leo. Ông đã mua được căn nhà này chỉ với một mức lương.” Ông dừng lại ở cửa. “Nhưng ông không có năm nền tảng như Netflix, Hulu,… xem phim trực tuyến, không lái xe trả góp vượt khả năng, cũng không trả phí ‘tiện lợi’ cho từng bữa ăn.” Ông nhìn thẳng vào mắt tôi. “Cháu không có vấn đề kiếm tiền. Cháu có vấn đề về lối sống. Cháu không nghèo, cháu chỉ đang trả một khoản phí lãi suất cao để giả vờ mình thành công.” 


Tối hôm đó tôi hủy các gói dịch vụ cao cấp. Sáng hôm sau tôi tự làm cơm mang đi làm. Nó có vị như một cú tát của thực tế. Đôi khi, những người ta nghĩ là lạc hậu lại chính là những người thực sự biết con đường đúng. Cảm ơn ông nội 


Câu chuyện này nói đến giới trẻ ngày nay sống trong nên văn hóa “subscription economy” (nền kinh tế đăng ký) là một hiện tượng kinh tế, văn hóa đặc trưng của xã hội tiêu dùng đương đại, nơi con người không còn mua sản phẩm hay dịch vụ một lần, mà trả tiền định kỳ để được tiếp cận liên tục. Điều quan trọng là: đây không chỉ là mô hình kinh doanh, mà đã trở thành một lối sống và một hệ tư tưởng tiêu dùng. 


Thế hệ mình không hiểu nguyên cơ nên hay chê trách, kêu tụi con bây giờ này nọ, không chịu khó như thế hệ mình. Cái nguy hiểm nhất là thẻ tín dụng, chúng ta cứ cà xài thoải mái rồi cuối tháng lo trắng đầu trả nợ. Đến đời con mình chủ nghĩa tư bản ra đủ chiêu để khiến chúng trở thành nô lệ suốt đời. Tín đồ thời trang, tín đồ Netflix,…


Cách đây hai năm mình trả tiền cho mấy đứa con và cả thằng bồ con gái đi học khóa tài chính căn bản. Từ đó chúng chi tiêu cẩn thận lại và có mua được một căn nhà cho thuê chung cho chúng. Mình thương lượng mua cho chúng, chúng bỏ tiền ra để mua và quản lý. Nay chúng cuối tuần, thay vì đi ăn chơi, cứ đi tìm nhà để mua cho thuê khiến mình mừng hết già. 


Vấn đề bây giờ là chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm của mình cho chúng. Hôm qua thằng con nói chuyện với bà chùi nhà, để chùi dọn một căn nhà mới sơn lại để cho thuê. Có mình nhưng mình không trả lời để xem nó thương lượng ra sao. Ngập ngừng như đứng trước một cô gái đẹp nó nói lí nhí trong họng “that’s the best you can do?”. Đó là câu kinh mình tụng mỗi khi thương lượng. Bà dọn nhà kêu $270 thay vì lúc đầu là $280. Nó nói để nó suy nghĩ vì đang nói chuyện với khách hàng. 30 phút sau khi nói chuyện với người mướn nhà, nó xem lại nhắn tin thì bà dọn nhà kêu $250.  Từ $280 xuống$250 là hơn 10%. Chỉ cần hỏi một câu. Nếu nó hỏi thêm câu kinh thứ nhì của mình thì xuống 20%. Nhưng xem như nó cũng mới học nghề như vậy là khá rồi. Mình bây giờ tìm cách upload vào não bộ mấy đứa con kinh nghiệm của mình. 


Về mặt kinh tế, subscription economy là mô hình: Trả tiền hàng tháng / hàng năm, Đổi lấy quyền truy cập (access), không phải quyền sở hữu (ownership) Ví dụ: Netflix, Spotify, Apple Music, Premium clothing box, ứng dụng giao đồ ăn, cà phê hội viên, Xe trả góp, điện thoại trả góp, như mua mỗi năm đổi IPhone cho sang trọng. Phần mềm, cloud, AI tools. Người dùng không cảm thấy “mua nhiều”, nhưng tiền bị rút đều đặn và âm thầm.


Theo thống kê thì nền kinh tế đăng ký này tăng trưởng đến 400% so với thập niên trước và họ đến năm 2033, sẽ lên đến 1.5 ức. Từ kinh tế sang văn hóa: subscription như một “chuẩn mực sống. Subscription economy không chỉ bán tiện ích, mà bán cảm giác: “Tôi đang sống hiện đại”, Tôi xứng đáng được tiện lợi”, “Tôi không nghèo, tôi chỉ đang tiêu tiền thông minh”. Trong câu chuyện: “You’re not broke; you’re just paying a high-interest subscription to pretend you’re successful.” Câu này chạm đúng bản chất văn hóa: Subscription trở thành một cách “diễn vai thành công” (performing success)


Sự đối lập thế hệ: sở hữu vs truy cập. Thế hệ ông nội của tác giả: sở hữu nhà, sửa đồ thay vì thay mới, tiêu dùng chậm, hữu hình, Ít dịch vụ trung gian. Thế hệ trẻ: thuê nhà, thuê cả… phong cách sống, trả tiền cho “tiện nghi, tiện lợi”, “trải nghiệm”, “đỡ mệt”, Phụ thuộc vào nền tảng. Đây không chỉ là khác biệt thu nhập, mà là khác biệt triết lý sống.


Subscription economy và “nghèo hóa vô hình”; một điểm nguy hiểm của subscription economy là nó: Không gây sốc như một khoản chi lớn, không đau như mua nhà hay xe, nhưng ăn mòn thu nhập dài hạn.

Ví dụ: $8 latte mỗi ngày → $240/tháng, 5–7 subscription → $200–400/tháng, Delivery + fees → $300–600/tháng. Kết quả: Không đủ tiền tích lũy để mua nhà, nhưng cũng không cảm thấy mình tiêu xài hoang phí. Mình khuyên mấy đứa con là có ông thầy dạy mình khi xưa, là mỗi tháng tìm cách nào để giảm chi tiêu, cứ $50 là vui rồi. Cho công ty cũng như cho cá nhân vì overhead là cái sẽ khiến chúng ta nghèo.


Đây là trạng thái “nghèo mà không nhận ra”. Mình thường nói với 2 đứa con là mẹ tụi con chạy xe BMW (hai chiếc), mất của bố 8 căn nhà. Chúng hỏi tại sao. Mỗi chiếc xe phải trả $500/ tháng hay $6,000/ năm, bố mua căn nhà Encanto đặt cọc có $3,600, nay cho thuê $5,300/ tháng còn nhà đặt cọc nhiều nhất là $8,000 nay cho thuê $3,800/tháng. Mua hai chiếc xe chạy vừa hết nợ lại mua xe mới. Bù lại Happy wife happy life Chán Mớ Đời 


Khía cạnh văn hóa – xã hội. Subscription economy gắn với: Chủ nghĩa tư bản muộn (late capitalism), xã hội mệt mỏi (burnout society – Byung-Chul Han), tư duy tiện lợi hóa mọi thứ (convenience culture). Con người: Quá mệt để nấu ăn, Quá bận để sửa đồ, Quá áp lực để sống “tối giản”. Thị trường bước vào khoảng trống đó và bán giải pháp dưới dạng subscription.


Câu chuyện không nói: “Người trẻ lười” mà nói: Subscription economy đã bình thường hóa sự thiếu kỷ luật tài chính. Ông nội đại diện cho: kỷ luật, trì hoãn hưởng thụ, sự tự chủ. Người cháu đại diện cho: tiêu dùng để xoa dịu mệt mỏi, thành công mang tính trình diễn, phụ thuộc vào hệ sinh thái subscription.


Văn hóa subscription economy không làm con người nghèo ngay lập tức. Nó khiến con người không bao giờ đủ giàu để thoát ra. Mấy đứa con tưởng ra đời là muốn làm gì thì làm lại vẫn bị mình lâu lâu nhắc nhở chúng phải tiếp tục con đường sự nghiệp cách mạng keo kiệt của bố mẹ chúng. Chúng không mua một cuộc sống tốt hơn, chúng bỏ đăng ký trả tiền hàng tháng cho ảo tưởng rằng mình đã có nó. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

cháu bà nội tội bà ngoại

 Bà Ngoại ô sin


Đọc câu chuyện theo mình do Ây Ai viết trên mạng xã hội của một bà Mỹ kêu hy sinh đời mẹ củng cố đời con rồi cuối cùng bà ta Chán Mớ Đời bỏ nghề làm ô sin cho con và kể lại câu chuyện thấy hơi quen quen. Như người Việt hay kêu “sống không cho ăn, chết làm văn tế ruồi “Bà Alice kể hôm qua bà ta tự ý thôi việc, không báo trước cho chủ hai tuần như luật lệ quy định, bà ta không thu dọn bàn làm việc mà chỉ để xuống bàn cái bánh gâteau, mà bà ta bỏ nhiều công lao để đút lò, lấy cái ví của mình và bước ra khỏi nhà của cô con gái. Không ngoáy đầu lại. Như vừa giác ngộ cách mạng một điều gì quá cay đắng, của sự hy sinh vô bờ của mình. Con cháu bốc lột sức lao động về già bà ta.

Bà ta cho biết chủ của bà là chính cô con gái tên Jessica. Từ 6 năm qua bà tưởng tiền lương là tình yêu của con cháu dành cho bà nhưng hôm qua bà ta giác ngộ cách mạng là nền kinh tế hiện đại của gia đình bà ta, tình thương, sự hy sinh không giá trị bằng cái iPad. 


Bà Alice cho biết trên giấy tờ của chính phủ, bà là y tá về hưu với số tiền hưu trí ít ỏi nhưng trên thực tế bà làm việc toàn thời gian như lái xe đưa cháu đi học, nấu ăn rồi dạy hai đứa cháu làm bài tập. Như bà Clinton nói về câu ngạn ngữ phi châu “cần một làng để nuôi nấng và dạy một đứa bé nên người”, bà ta tự xem là ngôi làng tại Hoa Kỳ với một bà già goá chồng chăm sóc hai đứa cháu và nấu ăn cho cả hai dùm con gái, được bồi dưỡng bởi cà phê và thuốc chống đau nhức theo tuổi già.


Con gái bà làm trong ngành tiếp thị, con rể làm trong ngành tài chánh. Cả hai đều theo đuổi giấc mơ Hoa Kỳ nên bị stress khi tiền chăm trẻ lên đến $2,500/ tháng. Khi đứa con thứ hai được sinh ra, con gái và con rể nhìn bà ta như van lơn cầu cứu như thầm nói thương con thì phụ giúp con. Tụi con không có khả năng trả một người bảo mẫu” nhất là tụi con không tin người lạ, chỉ tin mẹ thôi. Với tình mẫu tử bao la thương con như biển trời lai láng, bà ta nhất trí hy sinh đời mẹ củng cố đời con, thế là chấp nhận làm ô sin không lương. 


Mỗi ngày bà ta thức giấc vào 5:45 sáng, lái xe 20 phút đến nhà con gái, làm điểm tâm cho cháu, thay quần áo rồi chở cháu đến trường. Trở về nhà bà ta giặt áo quần lau chùi nhà cửa rồi đi đón cháu, chở chúng đi đá banh, học đàn piano, giúp chúng làm bài tập. Cái này sao thấy quen quen. Đến chiều tối mới lái xe về nhà, uống thuốc đau nhức rồi đi ngủ để mai dậy sớm tiếp tục hy sinh đời mẹ củng cố đời con. Bà ta không cho cháu xem truyền hình trước khi làm xong bài tập, ăn uống đàng hoàng không có pizza hay đồ ăn biến chế và bắt anh em chúng đối xử tốt với nhau. Đúng là một bà ngoại anh hùng gương mẩu của thế kỷ 21.

Ngoài ra còn có bà nội của mấy đứa, bà sui gia ở Florida. Bà ta sống ở Florida gặp chúng mỗi năm hai lần. Bà ta thuộc dạng giai cấp thượng lưu, đi căng da mặt hàng năm, chơi pickleball, đi du thuyền hàng năm với bạn bè. Kiểu cháu bà nội tội bà ngoại. Bà sui không biết là cháu bà bị dị ứng với thuốc nhuộm tóc của bà và không bao giờ chùi dọn khi cháu bà ta ói trên xe. 


Hôm qua là sinh nhật của đứa cháu ngoại đầu Noah. Bà Alice đã dự trù từ lâu, tiền hưu ít, lạm phát từ thời bác Biden lên, nhất bà ta muốn tặng cháu cái gì có ý nghĩa. Sau một ngày làm việc không công ở nhà con gái, bà ta về nhà uống thuốc giảm đau, thức khuya đan cái mềm cho cháu để đắp tình bà ngoại sưởi ấm cháu vào mùa đông. Và làm cái bánh tây sô cô la mà thằng cháu ưa thích. 


Lễ sinh nhật dự định vào lúc 4 giờ chiều nhưng bà Alice đã bắt đầu chùi dọn từ 7 giờ sáng và trang trí căn nhà để đợi khách đến. 4:15 chiều chuông reo, bà ra mở cửa, bà sui bay vào nhà như cơn lốc kèm theo mùi nước hoa đắt tiền. Bà ta rống lên kêu mấy hoàng tử của bà nội đâu, hai đứa cháu trong phòng chạy ra la hét bà nội bà nội.


Bà ta đưa cho chúng hai gói quà, chúng xé toạc giấy bao trong khi con gái và con rể kêu mẹ cho chúng nhiều quá, khiến chúng hư. Mỗi đứa được một cái iPad để chơi game. Bà sui kêu không biết mua gì cho chúng nên hỏi ông chủ tiệm và được biết đây là món quà con nít thích nhất đương thời. Hai đứa bé như điên dại reo la mừng nức nở trong khi hai vợ chồng kêu mẹ làm hư chúng này nọ một cách xã giao thì bà sui kêu đó là bổn phận của bà nội. Sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đôi. 


Bà Alice đứng ở nhà bếp, cầm cái mền mà bà ta bỏ nhiều tháng để đan xong. Bà cảm thấy mình như kẻ vô hình, không có trong cặp mắt của mọi người. Bà ta bước đến thằng cháu Noah, kêu cũng có quà cho cháu. Bà đan cho cháu cái mền và làm cho cháu cái bánh tây, chúng ta hát chúc mừng sinh nhật cháu nhé. Thằng bé không nhìn lên, chăm chú chơi game trong cái IPad và nói khoan đã bà ngoại, để con chơi xong đã. Bà Alice kêu bà mất cả ba tháng để đan cho con, thằng bé kêu đâu có ai thích cái mền đâu bà ngoại, tiếp tục chăm chú chơi game. Bà nội cho tụi con IPad, chán bà quá.


Bà Alice đứng lặng thinh, nhìn cô con gái, hy vọng cô ta nói điều gì để thằng cháu cảm ơn bà ngoại. Ngược lại cô con gái kêu thằng bé chỉ mới 9 tuổi, nó thích cái IPad hơn là cái mền của mẹ đan. Liam, thằng bé bảy tuổi, chen vào, miệng đầy kẹo bà nội cho:Con ước bà nội sống ở đây. Bà không bắt tụi con làm bài tập. Bà dễ thương.” Bổng nhiên có gì nghẹn nghẹn trong lòng, cay cay trong mắt bà Alice, như tiếng đứt của sợi dây căng suốt 6 năm nay. Bà ta nhìn đôi bàn tay gầy guộc, đã rửa chén, giặt áo quần, làm ô sin cho con, hai bàn tay đã ôm hai đứa cháu vào lòng ru khi chúng bị ốm. Bà ta nhìn bà sui với bộ đồ hàng hiệu mà bà ta có ước bao nhiêu cũng không bao giờ mua sắm được. Bà nhìn cô con gái đang nhâm nhi ly rượu, thong thả vì biết bà ta sẽ rửa chén sau khi tiệc tan.


Bà ta gấp cẩn thận cái mền do chính mình đan, đặt nó lên bàn và kêu con gái. Cô con gái quay lại hỏi: “gì vậy mẹ? Mẹ cắt bánh đi, tụi nhỏ đói rồi.” “Không.” Đó là lời bà Alice khiến cô con gái cau mày “Gì cơ?” Bà nói không, thật ra mẹ đã xong rồi. Cô con gái hỏi “Xong cái gì? Xong cái bánh à?”. Bà Alice nổi điên kêu “Xong hết.” Rồi cởi tablier để cạnh cái mền. Rồi với giọng lạnh lùng, bà ta nói mấy đứa cháu nói rất đúng, mẹ chán mới đời. Mẹ là người ô sin không hơn không kém. Mẹ mệt lắm rồi, làm đầy tới nhân dân ưu tú không công cho mọi người. Ngay lúc đó bà Sui gia kêu Alice đừng làm thế, chắc bà bị hậu mãn kinh, chán đời sau khi nghỉ hưu.


Bà Alice nói chúc bà vui vẻ, tôi nghĩ bà là người nhà nên chắc chút nữa giúp con dâu bà thanh toán đống chén dĩa và đống đồ giặt trên lầu. Rồi bà ta bước ra cửa. Lúc đó cô con gái bắt đầu nhận thấy sự việc nên hét lên “Mẹ đi đâu vậy? Con có buổi thuyết trình ngày mai! Ai đưa tụi nhỏ đi học? Ai trông chúng?” Bà Alice kêu mẹ không biết, hay con bán 1 cái IPad để mướn người ô sin chuyên nghiệp hơn hay kêu bà nội ở lại giúp.


Lúc này thằng bé ngước lên khỏi màn hình, cảm nhận được có sự khác biệt trong cách ăn nói của người lớn. Rồi hỏi “Bà ơi? Mai bà có đến không?” Bà Alice nhìn cháu nhẹ nhàng nói: “Không cháu. Ngày mai con sẽ được tự do khỏi luật lệ của bà. Chúc may mắn.” Bà bước ra chiếc xe, ngồi vào ghế lái. Và chỉ hít thở.


Điện thoại reo không ngừng suốt hai mươi bốn giờ. Cô con gái nhắn tin từ giận dữ đến van xin “Mẹ phá hỏng sinh nhật Noah rồi.”“Con xin lỗi, con không cố ý.”“chồng có cuộc họp, tụi con không xoay xở được, làm ơn mẹ.” Bà Alice không trả lời, tắt điện thoại. Sáng dậy lúc 6 giờ sáng sau 6 năm trời làm ô sin không công để được lãnh sự lạnh lùng của con gái cũng như cháu ngoại. Bà ta pha cà phê, ngồi nơi hiên nhà, ngắm nhìn trời đất. Bà ta chợt nhận ra không còn đau vai nữa vì không phải đeo ba lô nặng của hai đứa cháu ngoại. Không cần uống thuốc đau nhức. Tâm bổng nhiên bình an một cách kỳ lạ.


Bà ta nhận ra một điều tuy hơi muộn, nhưng hy vọng chưa quá muộn. Ở nước Mỹ, chúng ta đã nhầm lẫn “gia đình” với “lao động miễn phí”. Chúng ta tự thuyết phục mình rằng yêu thương nghĩa là để bản thân bị vắt kiệt cho đến khi chỉ còn lại cái xác rỗng. Bà Alice yêu các cháu, sẵn sàng chết vì chúng nhưng bà không thể tiếp tục sống như một người ô sin cho chúng nữa. Bà tự nghĩ có thể sẽ tham gia nhóm chơi Pickleball như bà nội của hai đứa cháu làm. Hay ghé lại Đông Phương Hội tập dưỡng sinh, Thái Cực Quyền để khỏi phải uống thuốc đau nhức.


Đọc câu chuyện này khiến mình thất kinh nhớ lại nghe câu chuyện giữa đồng chí gái với con gái. Con gái và thằng bồ tính làm đám hỏi, đám cưới gì sang năm. Nó hỏi đồng chí gái có babysit nếu nó sinh con. Mụ vợ nổi hứng gật đầu. Kiểu này cho mụ sang New York làm ô sin, mình thì bay qua âu châu, á châu đi bộ rong chơi một đời nông dân. Con mình có thời gian còn mình thì không. Phải cho chúng trải qua giai đoạn như mình khi xưa, chăm sóc chúng vừa làm việc thì chúng mới thương mình. Chớ làm hết cho chúng thì chúng sẽ không bao giờ giác ngộ cách mạng về cuộc đời.


Thật ra nếu con mình lớn lên mà không báo mình đó là phước đức của mình còn chúng nhờ vả là cái nghiệp của mình phải trả cho hết.


Còn mấy bác làm ô sin cho con, hy sinh đời ông bà củng cố đời cháu nội cháu ngoại có ý kiến gì?


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn