Cà phê Việt Nam xuất cảng thứ 2 trên thế giới
Mình có hai cô em có tiệm bán cà phê Chez Nous ở đường Phan Đình Phùng nên tò mò về cà phê Việt Nam. Em mình cho biết cà phê ở tiệm hai em dùng nguyên chất cà phê, không có pha bắp rang này nọ. Đi chơi nên mình tò mò tìm tài liệu đọc về cà phê thì thất kinh khi biết được ngành trồng cà phê ở Việt Nam sau 75 được phát triển nhờ anh em xã hội chủ nghĩa đông đức mới được như hôm nay. Anh em đông đức thì giúp trong khi anh em Trung Cộng thì chỉ muốn em mình chết.
Ai cũng biết cà phê được người Pháp đem qua trồng tại Việt Nam khi họ chiếm đóng và cai trị nhằm sản xuất cà phê đem về mẫu quốc bán. Cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam khoảng 1857–1888. Ban đầu trồng thử ở các nhà thờ Công giáo (Ninh Bình, Quảng Bình). Sau đó phát triển thành đồn điền lớn ở cao Nguyên (Đắk Lắk, Lâm Đồng)
Khởi đầu người Pháp cho trồng Arabica. Sản xuất phục vụ xuất khẩu về Pháp, người Việt ít dùng. Hình thành tầng lớp đồn điền và lao động cưỡng bức như các vườn cao su. Đây là giai đoạn đặt nền móng cho ngành cà phê tại Việt Nam, nhưng chưa phải “cà phê Việt” như ngày nay.
Sau 1954, đất nước chia đôi: Miền Bắc theo kinh tế kế hoạch, cà phê ít phát triển vì gạo còn thiếu ăn thì tiền đâu mà uống cà phê nhất là được xem thức uống thực dân. Miền Nam vẫn duy trì một số đồn điền cà phê nhưng sau này chiến tranh lan tràn nên có nhiều nơi đóng cửa.
Văn hóa cà phê phin bắt đầu phổ biến với người Việt vì uống cà phê được xem là ngang hàng như mấy ông tây bà đầm, như thuộc về tầng lớp trưởng giả, trí thức như Đà Lạt có tiệm cà phê Tùng nổi tiếng nhờ các nghệ sĩ, nhạc sĩ và nhà văn hay ngồi rồi từ từ được bình dân hoá tại miền nam. Cà phê phin đến từ từ pháp ngữ “filtre”, nghĩa là lọc, trở thành thức uống đô thị (Sài Gòn). Mình nhớ ở chợ Đà Lạt có hàng chú Lìn bán cà phê buổi sáng với dầu cha quẩy. Chú bỏ cà phê trong cái vợt rồi bỏ trong cái ấm nước sôi. Ai kêu cà phê là chú đỗ vào ly thêm sữa đặc ông địa. Người mua lấy cái muỗng khuấy uống lấy dầu chả quẩy chấm vô ly cà phê ăn nhai như Tây. Tuy nhiên, sản lượng vẫn nhỏ, chưa có vai trò kinh tế lớn như ngày nay. Thường nghe cà phê Ba Mê Thuột, hình như dạo đó Đà Lạt ít ai trồng.
Sau 1975, Việt Nam áp dụng mô hình hợp tác xã với chính sách ngăn sông cấm chợ nên ngành cà phê te tua vì thiếu vốn, thiếu kỹ thuật nên sản lượng thấp. Làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu nên thằng nào cũng tà tà nên kinh tế banh ra lông đến nổi ông Phạm Hùng phải cho người sang pháp vấn kế ông Bùi Kiến Thành, con trai bác sĩ Tín, từng làm cố vấn cho ông Ngô Đình Diệm. Ông Thành kêu từ thời ban sơ đến nay chưa có một dân tộc nào có lãnh đạo nghèo trở nên giàu vì họ không biết gì về kinh tế và tài chánh.
Tại đông Đức vào thời đó họ có vấn đề cung cấp cà phê cho cả nước dùng cũng như chuối từ Cuba. Thế là họ đột phá tư duy kêu Hà Nội hợp tác trồng cà phê và chia nhau 50/50. Bên có kỹ thuật bên có lao công và đất đai. Đông đức cấp vốn, máy móc, kỹ thuật.
Mình đoán người Đức rất kỹ lưỡng nên đi đo dạt khắp nơi và quyết định, chọn địa điểm trồng tại Cao Nguyên (Đắk Lắk). Chương trình hợp tác hữu nghị chuyển sang trồng Robusta (phù hợp khí hậu, năng suất cao) và xây dựng các nông trường lớn. Nền tảng để Việt Nam trở thành cường quốc cà phê sau này. Điểm may cho Hà Nội là liên sô sụp đỗ sau khi người đông đức đầu tư chuyễn giao công nghệ cho Việt Nam nên không phải trả nợ cho đông đức theo hợp đồng. Khi không có đàn anh quốc tế đến viện trợ trồng cây cho máy cày máy bơm tưới nước rồi lăn ra chết. Hà Nội hưởng hết nếu không thì có lẽ không trở thành nước thứ hai sản xuất cà phê trên thế giới.
Chính sách Đổi Mới (1986) chuyển sang kinh tế thị trường. Nông dân được tự trồng và tự bán. Kết quả là diện tích trồng cà phê tăng chóng mặt, gấp 20 lần. Việt Nam trở thành quốc gia xuất cảng cà phê thứ 2 trên thế giới và số 1 về loại cà phê Robusta, cà phê trở thành ngành kinh tế mũi nhọn cho Hà Nội. Mình tìm thấy tài liệu trên mạng về Đông Đức đầu tư như sau:
20 triệu USD xây nhà máy thủy điện Dray Linh. Cung cấp: xe tải, máy móc cơ giới, hệ thống tưới. Đây là cực kỳ quan trọng vì cao nguyên lúc đó gần như chưa có hạ tầng nông nghiệp hiện đại. Xem hình ảnh khi xưa vùng này Chán Mớ Đời
Kế hoạch sử dụng 70,000 ha cà phê được quy hoạch và trên thực tế nông trường này trở thành đồn điền lớn nhất Việt Nam lúc bấy giờ. Năm 1975: cả Đắk Lắk chỉ có ~3,700 ha. Năm 1990: tăng lên 76,000 ha, gấp 20 lần.
Khoảng 10,000 người từ miền Bắc được di dời đến vùng này để phục vụ sản xuất. Ngày nay dân tình ở đây đa số nói tiếng Bắc. Đông Đức xây nhà ở và hệ thống cung ứng (trường học, y tế), một dạng “khu kinh tế nông nghiệp kiểu XHCN”.
Vấn đề ngày nay Việt Nam đứng thứ hai về xuất cảng cà phê nhưng lại bán với giá bèo so với Ba Tây và Columbia. Làm nhiều nhưng ít lời. Đó là nền kinh tế Việt Nam hiện đại tương tự với gạo được xem là nước thứ 2 trên thế giới sản xuất gạo và xuất cảng đến nổi nghe nói đem viện trợ cho Cuba.
So sánh Việt Nam – Brazil – Colombia không chỉ là chuyện “ai trồng nhiều hơn”, mà là ai bán được nhiều tiền hơn trên mỗi hạt cà phê. Và kết quả khá bất ngờ: Việt Nam xuất khẩu nhiều nhưng giữ giá trị thấp nhất. Vụ này tương tự gạo và nước mắm. Thái Lan và Cao Miên xuất cảng gạo đắt tiền hơn Việt Nam. Mình thường nghe thiên hạ kêu người Việt mình thông minh nên sản xuất nhiều nhưng lại ít lời hơn mấy nước khác.
Việt Nam ta quyết tiến lên hàng đầu"...“Đi đâu không biết đi đâu? Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi…”
Việt Nam chạy theo thành tích vì quen với tư duy của chế độ cộng sản. Nên càng sản xuất nhiều sẽ tuyên dương là anh hùng lao động trong khi các nước kia họ trọng chất lượng ít xịt thuốc sâu nên ngoại quốc thích và đồng ý mua giá đắt hơn vì có chất lượng. Một ông bộ trưởng ấn độ tuyên bố một câu xanh dờn là không cần trồng lúa vì có thể mua của Việt Nam với giá bèo.
🇻🇳 Việt Nam (Robusta) | ~2 – 3 USD/kg |
🇧🇷 Brazil | ~3 – 5 USD/kg |
🇨🇴 Colombia | ~4 – 7 USD/kg |
Việt Nam – “bán nguyên liệu”85–90% xuất khẩu dạng cà phê thô, Ít thương hiệu toàn cầu mạnh. Mình thấy cô nào ở New York tìm cách tạo dựng thương hiệu cà phê việt lấy thương hiệu là Nguyen thì phải. Mình đọc đâu đó lâu rồi. Họ mua hay trồng ở Việt Nam rồi sẽ kể câu chuyện về loại cà phê này. Hy vọng họ sẽ thực hiện được vì sống bên Mỹ nên hiểu người Mỹ hơn. Tương tự cà phê 7 lá (7leaves) do người Việt ở Mỹ thành lập rất thành công. Nghe nói có đến 2,000 nhân viên khắp nước Mỹ. Mình có gặp mặt ông chủ này rất trẻ có đến vườn bơ mình hái trái một lần. Có lần định hỏi ông ta có nên trồng cà phê để bán tại nước Mỹ nhưng rồi quên mất.
Brazil – “cân bằng sản lượng & công nghiệp” : Xuất khẩu thô (rất lớn), Ngành rang xay nội địa mạnh với các Doanh nghiệp lớn như: JDE Peet’s và Nestlé (đặt nhà máy lớn)
Trong khi đó thì Colombia – sử dụng “bán câu chuyện + thương hiệu” kiểu Starbucks, Có tổ chức cực mạnh: National Federation of Coffee Growers of Colombia, Thương hiệu quốc gia: Juan Valdez. Bán không chỉ cà phê mà còn tạo dựng “ Single origin”, “Farmer story, Premium Arabica” và giữ lại: 40–50% giá trị chuỗi
Khâu | Việt Nam | Brazil | Colombia |
Nông dân | $0.20 | $0.40 | $0.60 |
Xuất khẩu | $0.30 | $0.50 | $0.60 |
Rang xay & thương hiệu | $1.00 | $1.20 | $1.40 |
Quán | $2.50 | $2.00 | $1.40 |
Việt Nam được cái là mạnh về năng suất cao nhất thế giới nhưng lại yếu về branding và chế biến sâu. Thêm trồng loại cà phê không được Tây phương thích lắm.
Trong khi đó Ba Tây rất mạnh về tổ chức quy mô và kỹ nghệ hóa, Có cả: Mass market + premium thêm Chiến lược: đa tầng (volume + value)
Còn xứ Colombia thì mạnh về maảketing tầm quốc gia và chất lượng đồng nhất. Trong khi chiến lược của họ là tối ưu hóa và kiểm soát chất lượng thương hiệu quốc gia, không bán cà phê vô danh. Chuẩn hóa chất lượng. Không để hàng kém kéo giá xuống. Kể chuyện (storytelling) và nông dân, vùng trồng, độ cao. Hà Nội rất giỏi tuyên truyền nên sử dụng kể chuyện (storytelling) về cà phê Việt Nam. Bớt xịt thuốc trồng hữu cơ nhất là phải trồng theo nhu cầu của thị trường là Arabica vì Robusta chất lượng kém. Chán Mớ Đời
Mình rất ngạc nhiên khi được biết Việt Nam là cường quốc thứ hai về cà phê nên mừng nhưng khi tìm tài liệu đọc, để xem cán bộ nào có tư duy đột phá ra ý tưởng trồng cà phê thì khám phá Hà Nội may mắn ngư ông đắc lợi vì ông Đức cộng làm hết, bỏ tiền ra xây đập nước để tưới cây cà phê trồng này nọ rồi ông Đức cộng banh ra lông nên Hà Nội thừa hưởng hết những gì Đức cộng đã thực hiện.
Vấn đề là Hà Nội chỉ tiếp tục tăng gia sản xuất bán thô thay vì tạo dựng thương hiệu để thế giới biết đến để tìm khách hàng lâu dài. Về Việt Nam mình thấy có công ty trồng cocoa và bán không thua gì nhập quốc nhưng chưa tạo được thương hiệu của người Việt. Tương tự như trà Việt Nam mình được thân hữu tặng uống rất ngon nhưng quả đài Loan thấy họ làm có bài bản đi các tiệm bán trà sẽ thấy. Hay thương hiệu mật ong Manuka mà nước Tân Tây lan xây dựng thương hiệu của họ và các chống giả hiệu. Ngày nào Việt Nam thực hiện được thương hiệu được ngoại quốc biết và yêu thích thì mới giúp nông dân Việt Nam giàu được.
Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen
Nguyễn Hoàng Sơn




