Hiển thị các bài đăng có nhãn ẩm thực. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ẩm thực. Hiển thị tất cả bài đăng

17 tuổi thành tỷ phú = gia tài công ty In-N-Out

 Đế chế In-N-Out

Dạo này thống đốc tiểu bang Cali lo ngại là tỷ phú ở tiểu bang Cali bỏ chạy ra các tiểu bang khác vì tiểu bang đánh thuế người giàu. Đa số người theo đảng dân chủ cứ nghĩ là đánh thuế bọn nhà giàu, phú ông vì chúng bốc lột nhân viên này nọ nên mấy tên này bỏ chạy. Đánh cho bọn nhà giàu cút người dân nghèo thêm.

Tỷ phú Lynsi Snyder ở tuổi 17


Từ mấy năm nay, các công ty lớn của Cali bỏ của chạy lấy người qua Texas, rồi nay Tennessee vì điện nước ở Texas khá đắt nên mấy tiểu bang kia, kêu đến với em, tha hồ miễn phí, ít thuế. Còn em Cali thì cứ vênh váo lên trời, các công ty đi thì đa số nhân viên phải chạy theo nên trong tương lai đóng thuế để nuôi làm theo năng xuất hưởng ghét nhu cầu.


Gần đây công ty bán hamburger danh tiếng của Cali cũng bỏ chạy qua tiểu bang Tennessee. Họ sẽ làm công ty mẹ ở Tennessee và sẽ rút tiền lời về công ty mẹ thì Cali chịu húp cháo. Cali được cái là khí hậu tốt nên thiên hạ phải ở chớ còn khí hậu mà lạnh lẽo thì cha con đã bỏ chạy tứ xứ từ lâu.

Công ty In-N-Out được thành lập năm 1948, từ một quán nhỏ 10 anh bộ x 10 anh bộ tại Balwin Park và ngày nay có trên 418 tiệm khắp 9 tiểu bang, vơi lợi tức hàn năm trên 6.7 tỷ mỹ kim và chỉ có gia đình này làm chủ như dãy nhà hàng Panda Express. Đúng hơn là cô Lindsey Snyder làm chủ.


Mỗi tiệm ăn In-N-Out trung bình mỗi năm tiền thu nhập trung bình là $5,800,000 trong khi tiệm ăn MacDonalds trung bình chỉ có doanh thu độ $2,600,000.


Công ty này được thành lập bởi cặp vợ chồng Harry và Esther Snyder năm 1948, 1 năm sau khi họ cưới nhau. Năm 1976, ông chồng chết vì ung thư dù dã ngưng hút thuốc từ lâu. Người con trai Richard Snyder chết năm 1993 ở tuổi 41, rồi đến người con trưởng Guy chết năm 1999 ở tuổi 48, để lại một cô con gái tên Lindsey Snyder. Cái hay là dòng họ này làm Trust để các điều kiện là chồng cô Lindsey, không dính dáng gì đến tài sản của họ. Cô này cũng nghiện ngập như cha cô ta và có 3 đời chồng ở tuổi 30. Kinh. Nay thì hết nghiện rồi, chịu khó làm ăn.


Qua bao nhiêu sóng gió nhưng dòng họ chỉ còn lại hậu duệ là cô Lyndsey Snyder thừa kế gia sản khi chưa đến tuổi vị thành niên. Khi bố cô ta qua đời thì cô Lindsey chỉ mới 17 tuổi, và khi bà nội qua đời thì mới 24 tuổi. Di chúc để lại là có chỉ nhận được 1/3 gia tài năm 25, rồi 1/2 còn lại khi lên 30 tuổi và số còn lại năm 35 tuổi. Các điều lệ này thường được viết trong di chúc như vậy để tránh, con cái chưa đủ tuổi tưởng thành rồi làm bay hết gia tài hay phối ngẫu ly dị này nọ. Tỏng trường hợp cô Lu=indsey qua đời sớm thì gai tài sẽ chuyển cho bên bà nội thay d=vì để chồng con của cô Lindsey vớt.


Câu chuyện bắt đầu khi ông Harry Snyder, người Gia-nã-đại và bà Esther Johnson gặp nhau tại tiệm ăn quân đội ở Seattle năm 1947 và làm đám cưới năm 1948. Họ mở một quán bán Hamburger nhỏ ở đường Francisco Skito Avenue tại thành phố Baldwin Park, gần Los Angeles. Ngày đầu tiên họ bán được 47 cái hamburger và tháng đầu tiên được 2,000 hamburger. Họ rất để ý đến thực phẩm bán rất tươi, như khoai tây chiên là làm tại tiệm mỗi ngày.


Họ có 2 thằng con trai, Guy và Richard. Đến năm 1976, họ có 18 nhà hàng ở Cali. Nhưng rồi ông chồng tuy ngăn ghét thuốc nhưng có thể hít mùi khói nướng Hamburger nên chết sớm. Cậu con trai đầu thì nghiện ngập nên con trai thứ hai phải nối nghiệp ở tuổi 24. Ông này có vẻ giỏi nên khuếch tương mướn người làm rất giỏi, mở trường đại học In-N-Out để huấn luyện các nhân viên và quản lý. Ông mở thêm đến 93 cửa tiệm này hàng.


Ông con rich mất 17 năm trời để khuếch trương công ty lớn và nổi tiếng ở Cali. Ông này theo đạo tin LÀnh giáo phái Born-Again Christian nên tạo dựng thương hiệu với mục đích đạo đức và cách ứng xử với khách hàng.

Năm 1993, trên đường bay về Nam Cali, máy bay ông bị rơi, chết tại chỗ. Gia đình phải kêu ông anh đầu nghiện ngập thế. Ông ta mở thêm nhà hàng từ 93 nhà hàng lên đến 140 trong vòng 6 năm. Ông gật mở cửa hàng ở Arizona rồi qua đời vì overdose.


Bà Esther, 79 tuổi phải quay lại lãnh đạo công ty vì hai đứa con qua đời, còn cháu nội thì mới 17 tuổi. Được cái là cô này đi làm ở tiệm ăn như người bình thường không ai biết cô ta là cháu nội của bà chủ. Vấn đề là các giám đốc công ty choảng nhau và thưa kiện nhau. Bà Esther qua đời khi cô Lindsey được 24 tuổi nhưng phải đợi đến s3 năm sau cô ta mới được lên chức tổng giám đốc công ty. Cô ta lập gai đình 3 lần và ly dị 3 lần trước khi đủ 35 tuổi để nhận lãnh hết gia tài của gia đình.


Cách nhìn cua rIn-N-Out là không mở nhiều chi nhánh như kiểu Starbucks vì nay họ đóng cửa trên 800 tiệm. Họ tuyên bố năm 2025 là bỏ 125 triệu đô la để mở công ty ở Tennessee và năm 2029 sẽ chuyển công ty mẹ qua bên đó.

Bánh mì mỹ khác bánh mì âu châu?

bánh mì Mỹ và bánh mì âu châu

 Đi âu châu, mình mê ăn bánh mì của họ như ở Ý Đại Lợi, hay Pháp quốc còn bánh mì của mỹ thì không mê lắm thêm đọc tin tức về cách làm bánh mì mỹ với các phụ gia khiến mình sợ nên ăn ít lắm. Không chỉ riêng mình mà ngay bạn bè cũng nói, hay du khách mỹ cũng kêu trên mạng xã hội. Có thể khi đi du lịch, chúng ta vui vẻ nên ăn thấy ngon. Có lần mình nói chuyện với một ông tây làm bánh mì, học trường bên tây đàng hoàng. Ông ta cho biết là có đem bột mì của tây qua mỹ để làm nhưng không hiểu sao vẫn khác khi làm bên tây. Có thể nhiệt độ, hay nước hay chi đó, khiến khẩu vị của mình thay đổi như người Việt bên pháp kêu đồ ăn bên Cali dỡ, còn mình về Việt Nam thì ngồi ăn thấy ruồi nhặng bay tùm lum thêm nóng nực thì cảm thấy không ngon.

Tranh luận về bánh mì Mỹ là một chủ đề thảo luận khó thống nhất trên mạng và trong văn hóa, xoay quanh việc tại sao bánh mì hàng ngày ở Mỹ (như Wonder Bread hay các loại bánh mì siêu thị) thường bị chỉ trích là kém chất lượng, quá chế biến, hoặc thậm chí “bị hủy hoại” so với bánh mì ở châu Âu, Úc hay các khu vực khác. Có lần mình xem phim tài liệu của một công ty mỹ danh tiếng thì thất kinh.

Mình từng sinh sống tại Pháp quốc, Ý Đại Lợi, Thuỵ Sĩ và Anh quốc nên có thể nói mình đã nếm đủ thứ bánh mì trước khi định cư tại Hoa Kỳ . Bánh mì Anh quốc thì chán như con gián, bánh mì tại Thụy sĩ thì cũng hơi lộn xộn vì mình đi làm việc ở vùng đức ngữ nên bị ảnh hưởng của Đức, trong khi ở Ý Đại Lợi thì mình chỉ thích bánh mì to đùng của họ mà tây gọi là bánh mì nhà quê (pain de campagne) còn bánh mì bên tây thì thường mình ăn baguette, cực ngon. Nhớ năm ngoái về Paris đi ăn với gia đình cô em ở tiệm ăn Au Train Bleu, bánh mì baguette của họ cực ngon, nhỏ xíu, mình xơi hết còn kêu đem ra thêm.

Bánh mì ở tiệm Au Train Bleu, mình xơi 4 cái bánh này. Ngon cực. Năm sau về chắc bò lại ăn bánh mì này thôi


Theo các du khách mỹ tranh luận trên mạng xã hội thì bánh mì Mỹ thường được mô tả là ngọt như bánh ngọt, xốp như bọt biển, và chứa chất phụ gia đáng ngờ ưu tiên thời hạn sử dụng hơn là dinh dưỡng hay hương vị. Nhớ có lần xem cuốn phim tài liệu Supersize me, nói về một ông phóng viên ăn 30 ngày thức ăn của MacDonald. Thì sau 30 ngày họ cho thấy khoai tây chiên cũng như bánh mì của công ty này vẫn Không hư. Không biết họ bỏ gì trong mà không hư. 


 Có video YouTube năm 2022 của Johnny Harris có tiêu đề “How The U.S. Ruined Bread” với hàng triệu lượt xem), nhưng gốc rễ nằm ở những thay đổi trong sản xuất thực phẩm công nghiệp từ giữa thế kỷ 20. Bác nào buồn đời nên xem cho qua ngày tháng. Ai buồn đời thì xem đường dẫn, mới xem lại có đến trên 6 triệu lượt xem.

https://youtu.be/FovIyqov1uA?si=ak6NQ5lT9Ys-AEtn


Dưới đây em ghi lại các lập luận chính:

1.  Thành phần và chất phụ gia: Yếu tố “độc hại”

•  Bánh mì Mỹ được làm bằng lúa mì GMO, thường chứa chất điều chỉnh bột, chất tẩy trắng, và chất bảo quản bị cấm ở EU, Anh, Trung Quốc và nhiều nơi khác do nguy cơ sức khỏe. Ví dụ:

•  Kali bromat: Giúp bánh nở nhưng liên quan đến ung thư trong nghiên cứu trên động vật (bị cấm ở EU từ 1990).

•  Azodicarbonamide (ACA): Chất tẩy trắng gọi là “hóa chất thảm yoga”; khi nướng phân hủy thành urethane (chất có thể gây ung thư). Bị cấm dùng trong thực phẩm ở EU.

•  Bột mì brom hóa: Làm oxy hóa bột để tạo kết cấu tốt hơn nhưng để lại dư lượng chất trên.

•  Quy định Mỹ (qua FDA) cho phép nếu được coi là “an toàn chung” ở liều thấp, ưu tiên sản xuất hàng loạt và thời hạn sử dụng dài (lên đến 2 tuần không mốc). Châu Âu nhấn mạnh quy tắc “nhãn sạch”, hạn chế phụ gia.

•  Bánh mì Mỹ có thể có vị “hóa chất” hoặc gây khó tiêu cho một số người (ví dụ: đầy hơi do gluten cao hoặc chất bảo quản). Một bài báo của The Guardian năm 2019 gọi bánh mì Mỹ là “bánh mì bị cấm”.

Mua đồ ăn ở Costco nên xem

https://youtu.be/EEte-ztogX8?si=WvLPpWdFHZ3gG05h


2.  Đường cao và kết cấu mềm: “Giống bánh ngọt hơn”

•  Nhiều loại bánh mì Mỹ thêm đường (siro ngô giàu fructose hoặc dextrose) để tạo vị và màu nâu – chiếm 5-10% công thức, so với gần như không có đường ở bánh mì thủ công châu Âu. Điều này làm bánh ngọt hơn và mềm hơn, giống món tráng miệng.

•  Quy trình bánh mì Chorleywood (được áp dụng ở Mỹ sau Thế chiến II) dùng trộn cơ học mạnh, enzyme và chất nhũ hóa để tạo bánh nhanh, đồng đều. Nó tạo ra kết cấu xốp, bóp được, nhưng mất hương vị và dinh dưỡng.

•  Người Úc trên TikTok chế nhạo bánh mì Mỹ là “bọt ngọt”, trong khi người châu Âu ca ngợi bánh mì sourdough giòn, dai, chỉ dùng bột mì, nước, muối và men. Cái này thì mình thích loại bánh mì chua chua. Dạo đi Tajisktan, Kazakhstan, ăn bánh mì của họ làm chua chua quá ngon.


3.  Ảnh hưởng sức khỏe và văn hóa

•  Gluten và tiêu hóa: Lúa mì Mỹ thường là giống “cứng” (11-15% protein/gluten) để nở tốt, so với giống “mềm” ở EU (6-10%). Điều này có thể làm trầm trọng thêm tình trạng nhạy cảm, dù nghiên cứu chưa rõ ràng – nhiều người đổ lỗi cho phụ gia hơn là gluten. Cứ đi tiệm ăn thấy họ chạt thêm tiền nếu không có gluten. Đi tiệm thấy có thực đơn, không có gluten thêm tiền.

•  Mất dinh dưỡng: Tẩy trắng và tinh chế loại bỏ chất dinh dưỡng; bổ sung lại bằng chất tổng hợp, nhưng bánh mì nguyên cám thì đắt hơn và ít phổ biến. Năm ngoái đi Ý Đại Lợi, đến nhà anh bạn, anh ta làm bánh mì trấu, màu nâu ăn cực ngon. (Pane integrale)

•  Góc văn hóa: Ở châu Âu, bánh mì là nghi thức (mua tươi hàng ngày từ tiệm bánh); ở Mỹ, đó là thực phẩm tiện lợi, phản ánh lối sống nhanh, công nghiệp hóa. Các nhà phê bình liên hệ điều này với béo phì và thực phẩm siêu chế biến. Kiểu người Việt mình nấu cơm mỗi ngày. Còn bánh mì thì mua cái bịch to, rồi mỗi ngày lấy mấy lát ăn sáng, làm Sandwich cho con ăn trưa,… trong khi ở Pháp mình nhớ mỗi ngày ra tiệm bánh mì mua ổ baguette ăn. Đi chơi xa với bạn bè thì mua ổ bánh mì nhà quê to đùng.


Khoảng 200 năm trước, các nhà máy xay lúa mì ở Hoa Kỳ bắt đầu loại bỏ cám và phơi lúa mì để giữ được lâu. Điều này đã loại bỏ chất xơ, chất dinh dưỡng và sức sống của bột mì. Sau đó, các "biện pháp khác nhanh hơn" xuất hiện:


- Axit folic tổng hợp được thêm vào lại, mặc dù nhiều người không thể chuyển hóa nó một cách bình thường.

- Khí clo được sử dụng để tẩy trắng bột mì.

- Kali bromat, một chất gây ung thư bị cấm ở Châu Âu, Vương quốc Anh và thậm chí cả Trung Quốc được thêm vào để giúp bột nở. Mình nhớ năm ngoái làm bánh mì thử để ăn, lần đầu tiên nướng xong, mụ vợ kêu sao nó như cục gạch, phang cái bổ đầu. Sau mình hỏi bà mễ, ông bố là thợ làm bánh mì, kêu bỏ thêm bột nở vào.

- Glyphosate (aka round-Up) được phun lên cây trồng trước khi thu hoạch để làm khô chúng nhanh hơn, gây rối loạn hormone và sức khỏe đường ruột. Họ sử dụng trong các hoá chất diệt cỏ gây ung thư mà công ty ROundUp sử dụng bị kiện te tua vì mang đến bệnh ung thư. Có ông nào bị ung thư và thắng kiện được mấy trăm triệu đô nhưng chắc sắp chết.


Những gì còn lại là bánh mì đã chết về mặt dinh dưỡng, bị tẩy trắng bằng hóa chất và bị pha độc tố nhưng vẫn được bán hợp pháp như thực phẩm.


Thiên hạ gọi đó là "chất độc chậm", so sánh bột mì Mỹ với thứ gì đó trông và ngon miệng nhưng lại gây hại cho sức khỏe theo thời gian. Ở Châu Âu, bánh mì thật vẫn tồn tại. Ở Hoa Kỳ, nó chủ yếu là một sản phẩm hóa học được ngụy trang thành thực phẩm. Gần đây ông bộ trưởng y tế Hoa Kỳ muốn giảm mất chất phụ gia trong thực phẩm sản xuất tại Hoa Kỳ.


Tháng 9 và 10 vừa rồi, mình về Ý Đại Lợi và Pháp quốc, ăn bánh mì mệt thở luôn. Không hiểu tại sao bánh mì bên Pháp ăn rất ngon, lại rẻ hơn bên Mỹ. Một ổ baguette giá 1.2 Euro còn ở siêu thị Hoa Kỳ là thấy 2.5 hay 3.5 một ổ mà không ngon.


Hôm qua đi Costco thấy bánh mì và croissant nhưng không dám mua. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vitamin K và bệnh Tim mạch

  Vitamin K và Tim mạch


Có lần chị bạn gửi cho mình coupon để đi scan cơ thể xem có vấn đề gì không. Kết quả cho thấy có hai vấn đề: có cục bướu ở pancreas và có dấu hiệu có chất vôi trong mạch máu có thể làm nghẽn máu lưu thông khiến mình hoảng tiều đi bác sĩ và mổ lấy cục bứu ra, kết quả khám nghiệm thì bứu lành. Trong khi chờ đợi kết quả thử nghiệm cục bứu mình đọc một lèo 5 cuốn về ung thư trong suốt 2 tuần lễ. Khi kết quả cho thấy bứu lành thì bắt đầu lo đến vụ chất vôi trong mạch máu.


 
Mình mò trên mạng thì khám phá một ông mỹ, hóa học gia kêu bác sĩ cho ông ta 6 tháng để sống vì có dấu hiệu chất vôi đóng đầy ở van tim. Ông ta buồn đời nhưng thấy vẫn còn muốn sống nên nghiên cứu để tự chữa lấy mình vì bác sĩ bó tay chấm còm rồi. Ông ta khám phá ra cơ thể cần sinh tố K2 ngăn chặn sự kết của chất vôi trong huyết quản nên uống sinh tố K2 và được chữa lành đồng thời làm răng ông ta tốt chắc hơn. Mình bắt chước uống sinh tố K2 và từ mấy năm nay có thể leo lên đỉnh Kilimanjaro hay Whitney. 

Mình có kể vụ này, gần đây có nhiều người nhắn tin hỏi mình lại vụ này vì họ có đọc mấy năm trước đây, nay có lẻ lâm vào tình trạng này nên nhắn tin hỏi mình. Gần đây mình đọc thêm những gì ông Mỹ viết tiếp sau khi tự chữa được vụ vôi đóng ở mạch máu gần van tim nên tóm tắc lại đây. 


Có một tiến sĩ giáo sư đại học Cornell có nghiên cứu về người Tàu, gọi là China Study. Họ theo dõi 20 năm người Tàu mỗi vùng thì khám phá ra những vùng ăn rau quả, ăn chay nhiều thì ít bệnh hơn các vùng ăn thịt nhiều. (Thời trước Trung Cộng đổi mới). Một ông bác sĩ mỗ tim khác hình như mình có kể về hai ông này rồi, cũng kêu bệnh nhân ăn chay nhất là Kale vì có sinh tố K.


Mình đọc sách nói về giúp trí nhớ khi về già, thì cần đọc những sách báo khô khan, giúp vận trí não bộ nên mình cố gắng mấy vụ, khó nuốt nhưng để giúp não bộ làm việc nên tóm tắt lại đây.


Trong trang này, chúng tôi trình bày những hiểu biết về các nghiên cứu đã được thực hiện về vitamin K và sức khỏe tim mạch. Bệnh tim mạch ảnh hưởng đến hàng triệu người mỗi năm, và hiện nay có rất ít phương pháp điều trị hiệu quả, hoặc các phương pháp điều trị y tế mang tính chất xâm lấn và phẫu thuật, hoặc các phương pháp điều trị liên quan đến thuốc theo toa thường có tác dụng phụ độc hại. Người ta đã biết rằng các protein phụ thuộc vitamin K2 kích hoạt cơ chế bảo vệ ngăn ngừa sự phát triển của vôi hóa mạch máu (Rees và cộng sự, 2010; Wen và cộng sự, 2018). Ông ta nói đến các tài liệu mà ông ta đọc. Mình chỉ ghi lại nhưng lười đọc các kết quả dẫn chứng nên bác nào tò mò thì tra cứu mà đọc. Đọc bài này đủ oải cho cái đầu nông dân của em. Thêm phải đọc mấy kết quả thử nghiệm là đời em cô đơn luôn.


Nghiên cứu mới về vitamin K và sức khỏe tim mạch rất nhiều và lần đầu tiên, y khoa có thể đảo ngược bệnh tim như trường hợp ông ta. Họ xem xét các xu hướng trong nghiên cứu, những hiểu biết mới về sinh hóa của vitamin K trong cơ thể, hiểu biết về cách thiếu vitamin K góp phần vào quá trình bệnh tim và cách bổ sung vitamin K để phục hồi sức khỏe cho động mạch tim và hệ tim mạch nói chung. 


Bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở các nước phương Tây và xơ vữa động mạch là bệnh nền phổ biến nhất. Xơ vữa động mạch là một bệnh trong đó mảng bám hình thành và tích tụ trong thành động mạch. Quá trình bệnh xơ vữa động mạch bắt đầu bằng tổn thương mạch máu. Tổn thương mạch máu có thể là “tổn thương” cơ học, “tổn thương” hóa học hoặc tổn thương do vi khuẩn có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi. Xin nhắc lại ở mọi lứa tuổi. Những “tổn thương” này sau đó dẫn đến tình trạng viêm tiếp theo (các tế bào phát triển ở nơi không nên phát triển) trong động mạch, dẫn đến stress oxy hóa, sau đó là hình thành mảng bám và cuối cùng là vôi hóa tại vị trí đó. Viêm cấp độ thấp đã được chứng minh là có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành xơ vữa động mạch, như nghiên cứu Ross (1999) đã chỉ ra. Đánh giá protein C phản ứng nhạy cảm cao (hs-CRP), một dấu hiệu viêm đã được chứng nhận, là cơ bản trong việc phân loại dân số có nguy cơ mắc CAD thấp, trung bình hoặc cao (Pearson et al, 2003).


Xơ vữa động mạch là bệnh điển hình ở trẻ em dưới 5 tuổi và sau đó biến mất. Lửa Việt nhận đơn xin mỗ tim cho các em tại Việt Nam hàng năm. Nghe nói khi có thai người mẹ ăn uống không có nhiều chất bổ. Xơ vữa động mạch sau đó có thể tái phát sớm nhất là vào thập kỷ thứ hai của cuộc đời và gần như phổ biến trong dân số vào khoảng 65 tuổi (Shanahan và cộng sự, 1998). Sự gia tăng về phạm vi và mức độ nghiêm trọng của tình trạng vôi hóa xảy ra khi tuổi tác tăng lên là do bệnh nhân mang trong mình và sống sót sau tình trạng xơ vữa động mạch đang hoạt động, lan rộng và viêm trong một thời gian dài. Xơ vữa động mạch có thể ảnh hưởng đến bất kỳ động mạch nào trong cơ thể, bao gồm các động mạch ở tim, não, cánh tay, chân, xương chậu, cổ và thận, và xảy ra liên quan đến nhiều loại bệnh khác nhau, bao gồm tiểu đường và urê huyết. Xơ vữa động mạch thường là một bệnh mãn tính, tiến triển chậm và tích tụ (Glass, 2001; Demer & Tintut, 2008).


Mảng bám được tạo thành từ chất béo, cholesterol, canxi và các chất khác có trong máu. Theo thời gian, mảng bám tích tụ và làm hẹp hoặc chặn động mạch của bạn, hạn chế dòng máu giàu oxy đến các cơ quan và các bộ phận khác của cơ thể bạn. Tình trạng này được gọi là thiếu máu cục bộ. Một số mảng bám không biểu hiện triệu chứng lâm sàng và được coi là ổn định trong thời gian dài. Mảng bám ổn định có xu hướng không có triệu chứng và giàu ma trận ngoại bào và tế bào cơ trơn. Các mảng bám khác không ổn định và nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng giàu đại thực bào và tế bào bọt với ma trận ngoại bào yếu và dễ bị vỡ (Davies, 1990; Davies, 1996; Huang và cộng sự, 2001; Finn và cộng sự, 2010), vì nó có thể trở nên giòn và vôi hóa (Aikawa và cộng sự, 2007; Alexopolous & Raggi 2009). Sự vôi hóa làm giảm độ đàn hồi của mạch máu và làm tăng ứng suất cắt tại giao diện giữa các mảng canxi hóa và mô mềm (Wayhs et al, 2002; Spadaro et al., 2000; Keelan et al., 2001; Sangiori 1998; Vliegenthart et al., 2005), hình thành phình động mạch có thể vỡ (Derlin et al. 2011; Vengrenyuk et al., 2008; Rennenberg et al., 2009).


Sự vỡ mạch làm lộ cục máu đông ra ngoài hệ tuần hoàn, làm chậm hoặc ngừng lưu thông máu nhanh chóng, dẫn đến hoại tử các mô được động mạch nuôi dưỡng trong khoảng năm phút. Sự kiện thảm khốc này được gọi là nhồi máu cơ tim. Một trường hợp phổ biến là cục máu đông trong động mạch vành, gây ra nhồi máu cơ tim hoặc đau tim. Quá trình tương tự này trong động mạch não thường được gọi là đột quỵ (Ehara và cộng sự, 2004).


Bệnh tim mạch: Trục mạch máu-xương


Vôi hóa mạch máu trước đây được coi là một quá trình thụ động, không thể tránh khỏi và thoái hóa, dẫn đến các khoáng chất tích tụ trong mạch máu, xảy ra ở giai đoạn cuối của xơ vữa động mạch và được coi là bệnh của người già (Schinke và Karsenty, 2000; Demer và Tintut, 2008). Quan điểm này đã thay đổi và hiện nay người ta hiểu rằng vôi hóa mạch máu là một quá trình phức tạp và được điều hòa tích cực liên quan đến các tế bào mạch máu và một số protein phụ thuộc vitamin K, và có nhiều đặc điểm chung với quá trình tạo xương (Shanahan và cộng sự, 2000; Bostrom, 2000; Campbell và Campbell, 2000; Canfield và cộng sự, 2000; Mody và cộng sự, 2003; Doherty và cộng sự, 2003). Nghiên cứu chỉ ra rằng MGP và osteopontin, cả hai đều là protein liên kết với xương, được biểu hiện nhiều trong các mảng xơ vữa động mạch ở người (Shanahan và cộng sự, 1994; O’Brien và cộng sự, 1995; Shanahan và cộng sự, 1998; Dhore và cộng sự, 2001; Viegas và cộng sự, 2009), với nồng độ MGP cao nhất được tìm thấy ở các vùng giàu lipid của mảng bám.


Nghiên cứu về vôi hóa mạch máu đã gia tăng đáng kể trong thập kỷ qua và các chuỗi tín hiệu phân tử đa dạng và được điều chỉnh cao kiểm soát vôi hóa mạch máu đã được mô tả. Có vẻ như vôi hóa mạch máu là kết quả của sự mất cân bằng giữa các chất thúc đẩy và chất ức chế khoáng hóa trong thành mạch máu, dẫn đến việc tạo ra sự lắng đọng vôi hóa có tổ chức (Willems và cộng sự, 2014). Các tác nhân khởi đầu cơ bản của quá trình vôi hóa mất điều hòa rất đa dạng, từ biểu hiện của các protein liên quan đến xương, đến sự biệt hóa của các tế bào cơ trơn thành các tế bào giống tế bào tạo xương, đến việc giải phóng các thể apoptosis bị phân mảnh và khoáng hóa bởi các tế bào cơ trơn, hoạt động như một vị trí tạo mầm. Điều quan trọng là quá trình này liên quan đến sự tương tác phức tạp giữa các protein phụ thuộc vitamin K, chẳng hạn như MGP, GRP và GAS6 (Tesfamariam, 2019).


Vôi hóa mạch máu có thể được phân loại thành hai phân nhóm riêng biệt tùy thuộc vào vị trí của nó: trong lớp nội mạc hoặc lớp giữa (Van den Bergh và cộng sự, 2019). Vôi hóa nội mạc xảy ra trên bề mặt của các mảng xơ vữa động mạch và biểu hiện gánh nặng mảng bám và hẹp lòng mạch, trong khi vôi hóa giữa liên quan đến lớp cơ và biểu hiện là cứng và giảm độ đàn hồi của mạch máu. Vôi hóa nội mạc chủ yếu được quan sát thấy ở động mạch vành. Vôi hóa giữa thường được quan sát thấy ở các động mạch ngoại vi và ít phổ biến hơn ở bệnh động mạch vành. Nó liên quan đến lão hóa, tiểu đường, tăng huyết áp, loãng xương và bệnh thận mãn tính (Giachelli, 2004). Vôi hóa giữa được mô tả là xơ cứng động mạch, mất tính đàn hồi và cứng (Kamenskiy và cộng sự, 2018). 


Nghiên cứu hiện tại bao gồm các nỗ lực xác định các tương tác phức tạp giữa các chất trung gian tế bào và phân tử của vôi hóa động mạch và vai trò của các chất ức chế vôi hóa nội sinh. (Belovici và Pandele, 2008). Nghiên cứu đã nhấn mạnh rằng các protein phụ thuộc vitamin K đóng vai trò thiết yếu trong quá trình vôi hóa mạch máu (Zak-Golab, 2011). Các phân tử tại chỗ và lưu thông như osteopontin, osteoprogerin, leptin, osteocalcin và protein ma trận Gla được xác định là các chất điều hòa quan trọng của quá trình vôi hóa mạch máu và tất cả chúng đều phụ thuộc vào vitamin K để được kích hoạt và sử dụng (Mazzini, et al, 2006; Luo et al, 2009; Nicoll et al, 2015; Tacey et al, 2018).


Nồng độ vitamin K thấp dẫn đến sản xuất các protein chưa được carboxyl hóa và làm suy yếu hoạt động của các chất ức chế canxi hóa chứa Gla (Lomashvili và cộng sự, 2011). Sự thất bại của quá trình carboxyl hóa dẫn đến một loạt các sự kiện dẫn đến vôi hóa mạch máu hoặc đột quỵ (Wessinger và cộng sự, 2020). Sự giảm các protein carboxyl hóa hoặc giảm tỷ lệ các dạng carboxyl hóa so với các dạng không carboxyl hóa không hoạt động sẽ thúc đẩy quá trình canxi hóa (Tesfamariam, 2019).


Vitamin K cũng có liên quan đến elastin trong hệ thống mạch máu, giúp các tĩnh mạch và động mạch linh hoạt. Các thử nghiệm lâm sàng đang được tiến hành (De Brouwer và cộng sự, 2016; Janssen & Vermeer, 2017; Lindholt và cộng sự, 2018)


Bệnh tim mạch và các protein phụ thuộc vitamin K.


Một số protein phụ thuộc vitamin K (VKDP) đã được xác định là có liên quan đến việc điều hòa quá trình canxi hóa và chuyển hóa canxi mạch máu, bao gồm osteocalcin, protein giàu gla, Gas6 và protein nền Gla (Viegas và cộng sự, 2014; Willem và cộng sự, 2014; Kaesler và cộng sự, 2016). Trong số các protein này, protein nền Gla phụ thuộc vitamin K (MGP) đóng vai trò chủ đạo (Hofbauer và cộng sự, 2007; Schurgers và cộng sự, 2008). Protein ma trận Gla là một protein nhỏ phụ thuộc vitamin K chứa năm gốc axit gamma-carboxyglutamic (Gla) được cho là quan trọng trong việc liên kết các tinh thể canxi Ca (2+) và protein hình thành xương (Srivatsa và cộng sự, 1997; Luo và cộng sự, 1997; Shanahan và cộng sự, 1998; Price và cộng sự, 1985). Protein hình thành xương đề cập đến các protein tạo ra sự hình thành và cấu trúc của xương.


Các protein chứa Gla có các gốc axit glutamic phải được gamma-carboxyl hóa bởi gamma-glutamyl carboxylase phụ thuộc vitamin K, GGCX. Các gốc axit glutamic cụ thể trong protein được xúc tác bởi phản ứng trung gian bởi enzyme để tạo thành axit glutamic biến đổi được gọi là axit γ-carboxyglutamic trong một số protein VKD để cho phép chúng liên kết canxi và hoạt động bình thường và hiệu quả. Phản ứng enzyme này, được gọi là γ-carboxyl hóa, hoặc gamma-carboxyl hóa, cần vitamin K để quá trình carboxyl hóa và chuyển dạng diễn ra. Sự chuyển dạng này là cần thiết để các protein này hoạt động và liên kết với canxi, sau đó cho phép Gla-MGP dồi dào được tìm thấy trong thành động mạch, với sự giảm canxi hóa mạch máu sau đó. Khi MGP liên kết với canxi, nó ức chế quá trình canxi hóa (Jaminon và cộng sự, 2020).


Khi MGP được carboxyl hóa và chuyển dạng thành protein Gla, nó cho phép MGP liên kết với nhân tinh thể trong hydroxyapatite và trao quyền cho MGP liên kết và ức chế BMP-2, một yếu tố tăng trưởng kích thích canxi hóa mạch máu (Wallin và cộng sự, 2000). Sự liên kết này ngăn ngừa sự tích tụ của chúng trong thành động mạch. Đồng thời, MGP tạo ra một phức hợp với BMP-2, ngăn chặn sự liên kết của BMP-2 với thụ thể có ái lực cao của nó và ngăn chặn các tín hiệu hạ lưu dẫn đến canxi hóa mạch máu (Wolinsky, 1970).


Đặc biệt, MGP trải qua quá trình phosphoryl hóa các gốc serine của nó, một quá trình có thể điều chỉnh thêm hoạt động của nó và cũng phụ thuộc vào sự sẵn có của vitamin K (Price và cộng sự, 1994). Serine là một axit amin được sử dụng trong quá trình sinh tổng hợp protein và phosphoryl hóa là cơ chế chính để điều chỉnh hoạt động của protein tế bào. Cả quá trình carboxyl hóa Glu và phosphoryl hóa các gốc serine của MGP đều góp phần vào chức năng của nó như một chất ức chế VC (Schurgers và cộng sự, 2007; lDelanaye và cộng sự, 2014; O’Young và cộng sự, 2011, Rouymeliotis và cộng sự, 2020). Bất kể trạng thái carboxyl hóa, các dạng MGP được phosphoryl hóa và khử phosphoryl hóa đều có ái lực khác nhau đối với liên kết canxi/BMP-2. Do đó, MGP hiện diện trong tuần hoàn ở nhiều trạng thái phosphoryl hóa và carboxyl hóa khác nhau (Cario-Toumaniantz và cộng sự, 2007):

dạng hoạt động của MGP hoặc pcMGP được carboxyl hóa và phosphoryl hóa hoàn toàn–dạng không carboxyl hóa nhưng được phosphoryl hóa (ucMGP hoặc pucMGP)–dạng caboxyl hóa nhưng không được phosphoryl hóa, một phần không hoạt động (dpcMGP)–dạng không carboxyl hóa, khử phosphoryl hóa, hoàn toàn không hoạt động (dpucMGP).


Protein Matrix Gla được biểu hiện chủ yếu bởi các tế bào cơ trơn mạch máu (VSMC là viết tắt của tế bào cơ trơn mạch máu) và bởi các tế bào sụn (tế bào sụn), và là chất ức chế khoáng hóa động mạch quan trọng nhất hiện nay được biết đến. MGP được tổng hợp trong nhiều mô mềm với mức độ biểu hiện cao nhất ở tim, phổi, thận và sụn (Fraser và Price, 1980). Các mô hình động vật cho thấy MGP là chất ức chế mạnh quá trình vôi hóa thành động mạch và sụn, trong khi chuột biến đổi gen không có MGP biểu hiện tình trạng vôi hóa nghiêm trọng và nhanh chóng dẫn đến tử vong sớm do vỡ động mạch chủ tự phát (Luo và cộng sự, 1997; Murshed và cộng sự, 2004). Khi các loài gặm nhấm được bổ sung một liều cao MK7, quá trình vôi hóa bị ức chế. Nhìn chung, MK7 có tác dụng bảo vệ các cấu trúc mạch máu bị tổn thương (Scheiber và cộng sự, 2015). Các bác sĩ đều nói MK7 rất quan trọng nên mình uống thêm loại này.


Các loài MGP trong cả mô và tuần hoàn đã được phát hiện ở quần thể khỏe mạnh và những khác biệt đáng kể đã được tìm thấy ở những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch (Cranenburg và cộng sự, 2008; Schurgers và cộng sự, 2005; Jia và cộng sự, 2012; Silaghi và cộng sự, 2016; Wei và cộng sự, 2018). Trong động mạch, MGP hoạt động như một chất ức chế tại chỗ quá trình canxi hóa lớp trung mạc (Price và cộng sự, 1998; Murshed và cộng sự, 2004; Schurgers và cộng sự, 2007; Yao và cộng sự, 2010; Barrett và cộng sự, 2018). Theo một số người, MGP là chất ức chế canxi tự nhiên mạnh nhất được tìm thấy trong cơ thể người (Roumeliotis và cộng sự, 2019) và các dạng của nó có thể là một dấu hiệu có giá trị về sức khỏe vi mạch (Kumric và cộng sự, 2021). Một nghiên cứu đã phát hiện ra rằng nồng độ tMGP trong huyết thanh cao hơn đáng kể ở những bệnh nhân mắc bệnh mạch máu và bệnh xương khớp so với nhóm dân số khỏe mạnh. Và những người tham gia khỏe mạnh dưới 40 tuổi có nồng độ tMGP cao hơn những người trên 40 tuổi. Và ở những người khỏe mạnh, nồng độ tMGP tăng ở những người hút thuốc so với những người không hút thuốc. Nghiên cứu đã thiết lập khoảng tham chiếu cho tMGP là 6-108 ug/L (Silaghi et al, 2019).


Mình đoán là bài này do công ty của ông ta mướn ai viết cho tường tận không thô sơ như mấy năm trước mình đọc. Đọc thì chắc đa số các bác Chán Mớ Đời nhưng nếu chịu khó đọc kỹ thì rất hay. Tóm lại như sau:


* Bệnh tim mạch là nguyên nhân hàng đầu gây bệnh tật và tử vong ở các nước phương Tây.

* Nghiên cứu chỉ ra rằng vôi hóa mạch máu là một quá trình phức tạp và được điều hòa tích cực liên quan đến các protein mô, phụ thuộc vào sự hiện diện của vitamin K.

* Điều này có nghĩa là có thể điều chỉnh hoặc đảo ngược quá trình bệnh bằng cách bổ sung vitamin K. Tử vong sớm không phải là điều không thể tránh khỏi.

* Ngày càng có nhiều nghiên cứu nhấn mạnh những lợi ích sâu sắc của vitamin K đối với sức khỏe tim mạch, bao gồm bảo vệ khỏi bệnh tim, giảm vôi hóa, ức chế sự hình thành vôi hóa và giảm nguy cơ tử vong do bệnh tim.

* Những người dùng thuốc ảnh hưởng đến vitamin K có thể gặp tác dụng phụ là gây ra bệnh tim.

* Một bộ phận đáng kể dân số được phát hiện bị thiếu hụt vitamin K.

* Vitamin K được hấp thụ từ thực phẩm bổ sung nhiều hơn từ thực phẩm.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn