Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh. Hiển thị tất cả bài đăng

Rockefeller và y học hiện đại

 Rockefeller và y học hiện đại 

Hoa Kỳ bắt cóc ông Maduro và dầu từ Venezuela được chở qua Hoa Kỳ để lọc. Thiên hạ chê, nói dầu của xứ này nặng nề này nọ nhưng họ quên một vấn đề chính. Các loại khoáng chất còn lại sau khi được lọc, có giá trị kinh tế của nó rất nhiều so với với xăng nhớt.


Năm 1900, ông John D. Rockefeller kiểm soát khoảng 90% toàn bộ ngành lọc dầu tại Hoa Kỳ. Ông là người được cho là cá nhân giàu nhất từng sống trên Trái Đất theo một số tính toán cộng lạm phát.


Ông gặp phải một vấn đề, làm gì với những xác dầu sau khi lọc. Đem quăng cũng là một vấn đề vì tốn tiền và làm hại môi trường. Các nhà khoa học đang phát hiện ra rằng các hợp chất chiết xuất từ hắc ín than đá, một sản phẩm phụ của ngành dầu mỏ có thể được dùng làm thuốc tổng hợp. Aspirin, được chiết xuất từ hắc ín than đá, đã được Bayer ra mắt năm 1899. Các bác nào mà uống thuốc viên là nó đó. Dòng chất thải từ dầu mỏ mà Rockefeller trước đây phải tiêu hủy giờ có thể được bán lại cho công chúng dưới dạng thuốc với mức lợi nhuận khoảng 10,000%. Chưa kể dầu ăn mà mình đã kể. Người ta kêu lý do đó mà người Mỹ bị ung thư và to béo như ngày nay. Khi ăn hay uống vào các cặn dư biến chế của dầu hoả được bơm lên và thanh lọc.


Ông lại gặp thêm một vấn đề khác. Y học Mỹ năm 1900 là một hệ sinh thái cạnh tranh gồm các thầy thuốc vi lượng đồng căn, thảo dược, naturopath, osteopath, hộ sinh và các bác sĩ truyền thống sử dụng thực phẩm, cây cỏ, nước và lối sống làm công cụ chữa bệnh chính. Khoảng một nửa số trường y ở Mỹ dạy một hình thức y học tự nhiên hoặc thay thế nào đó. Muốn bán thuốc của ông ta thì phải nắm đầu ngành y học, dạy cho các bác sĩ tương lai là phải cho bệnh nhân uống thuốc của ông ta.


Rockefeller đầu tư vào ngành dược phẩm Đức, cuối cùng nắm cổ phần đáng kể trong IG Farben, tập đoàn khổng lồ bao gồm Bayer, BASF và Hoechst. Sau đó ông ủy thác, đúng hơn là mướn một người soạn thảo một báo cáo.


Báo cáo được Abraham Flexner, một nhà giáo dục không có được đào tạo y khoa soạn thảo, do Quỹ Rockefeller và Carnegie tài trợ, và được công bố năm 1910. Báo cáo tuyên bố rằng các trường y tự nhiên và thay thế là “lang băm thiếu khoa học”. Và đề xuất đóng cửa hơn một nửa số trường y Mỹ và chuẩn hóa phần còn lại xung quanh y học dựa trên thuốc tổng hợp có bằng sáng chế. Khởi đầu sự kiểm soát của các công ty dược phẩm lên nhân loại.


Quốc hội hành động theo lời đống góp quỹ bầu cử cuả các công ty dược phẩm. Một nửa số trường y Mỹ đóng cửa trong vòng một thập kỷ. Các trường còn lại chấp nhận tài trợ từ Rockefeller và Carnegie với điều kiện phải tổ chức lại chương trình giảng dạy xung quanh điều trị bằng dược phẩm. Dinh dưỡng bị loại bỏ. Thuốc từ thảo dược bị loại bỏ. Can thiệp lối sống bị loại bỏ. Công việc của bác sĩ được định nghĩa lại: chẩn đoán triệu chứng, kê đơn thuốc.


Và bài hoc đầu tiên ở trường thuốc là “một bệnh nhân được chữa trị là mất một khách hàng” do đó phải nuôi bệnh. Bắt chúng uống thuốc cả đời. Cứ 3 tháng đến phòng mạch, ký cho cái toa đi mua thuốc uống, bỏ túi vài trăm. ObamaCare càng tốt vì mỗi tháng chính phủ tự động trả tiền cho mình dù bệnh nhân không đến. Có anh bạn bác sĩ giải thích lý do khi Obama Care ra đời, các văn phòng y khoa kêu người việt ghi tên các văn phòng của họ.


Những loại thuốc đó được chiết xuất từ dầu mỏ. Dầu mỏ được cung cấp bởi các nhà máy lọc dầu do Rockefeller kiểm soát. Các trường y được Rockefeller tài trợ. Các tạp chí y khoa được Rockefeller tài trợ. AMA được Rockefeller hỗ trợ, các bệnh viện được Rockefeller tài trợ. Khi tài trợ thì họ kiểm soát. Ai buồn đời vào các trang nhà của các hội y sĩ hay chống ung thư này nọ, sẽ thấy các công ty thực phẩm, dược phẩm tài trợ đầy thì làm sao chữa bệnh ung thư. Khi họ quảng cáo ăn các sản phẩm mà khoa học gia kêu gây bệnh ung thư.


Mấy anh Ấn Độ hay ba tàu đều có nơi để thanh lọc dầu cặn để làm thuốc bán cho người Mỹ với giá hữu nghị. người Tàu muốn bá chủ thế giới, không biết họ bỏ cái gì trong các viện thuốc bán cho người Mỹ. Vì chính họ sản xuất Fentanyl rồi đưa qua các anh Mễ, chuyển vào Hoa Kỳ để bán đầu độc người Mỹ, huỷ hoại xã hội đế quốc đang dãy chết.


Đến năm 1925, hệ thống y tế Mỹ đã trở thành một phần mở rộng tích hợp dọc của ngành công nghiệp dầu mỏ, hoạt động dưới khẩu hiệu marketing rằng đây là y học “khoa học”. Đây chính là hệ thống vẫn tồn tại cho đến ngày nay.


Ngành công nghiệp dược phẩm tạo ra khoảng 1,5 nghìn tỷ USD doanh thu mỗi năm. Dân số Mỹ, chiếm 4% dân số thế giới, tiêu thụ khoảng 50% tổng số dược phẩm được sản xuất trên toàn cầu. Hàng ngày chúng ta thấy quảng cáo khắp nơi về thuốc than. Cứ mua uống vì tin sẽ giúp cho sức khoẻ. Nhớ có lần đọc tin tức rồi video của một ông bác sĩ nói chữa bệnh bú xua la mua, cuối cùng ông ta bán thuốc của ông ta hay ai đó. Mình xem thì hoá ra họ lấy nước dừa và cốt nước dừa để làm. Vậy ra bolsa mua dừa về uống và ăn rẻ hơn. Không bị hoá chất bú xua la mua. Thật ra đọc tin tức của họ cũng hay nhưng đừng mua thuốc của họ. Nếu là tốt thì công ty dược phẩm đã mua bằng và cất vì một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng.


Hệ thống này không được thiết kế để làm cho con người khỏe mạnh. Hệ thống được thiết kế để quản lý triệu chứng theo cách tạo ra những khách hàng trọn đời. Một bệnh nhân khỏe mạnh là mất một khách hàng. Một bệnh nhân được “quản lý”, người phải uống thuốc mỗi ngày suốt phần đời còn lại, chính là một khoản đầu tư sinh lời đều đặn. ATM mỗi tháng. 


Mục tiêu từ đầu đến cuối là giữ bệnh nhân nằm trong hành lang sinh lời đó giữa khỏe mạnh và chết. Lâu đủ để bạn tiếp tục mua thuốc. Nhưng không khỏe đến mức bạn ngừng mua. Đó là thực tế ngày nay trên thế giới.


Bác sĩ khuyên bệnh nhân nên chữa lành chuyển hóa bằng cách thay đổi chế độ ăn uống, theo quan điểm của hệ thống đã đào tạo ông ta, là một sản phẩm lỗi. Bác sĩ kê cho bệnh nhân statin, metformin, thuốc chống trầm cảm và thuốc huyết áp dùng suốt đời mới là người đang thực hiện đúng như hệ thống thiết kế.


Hệ thống được thiết kế bởi một ông trùm dầu mỏ cần bán các sản phẩm thải của nhà máy lọc dầu mình. 116 năm sau Báo cáo Flexner, vẫn hoạt động chính xác như cách ông ta đã thiết kế. Bệnh nhân là khách hàng. Bài học đầu tiên của trường y là “chữa lành một bệnh nhân là chúng ta mất một khách hàng”.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

51 năm nhìn lại Little Sàigòn

 51 năm từ Sàigòn đến Bolsa 

Nếu nhìn lại 51 năm qua, sự ra đi của người Việt tỵ nạn trong lúc hối hả trước ngày 30/4/75 thì phải công nhận như một phép lạ, cộng đồng người Việt đã thành lập lại một Tiểu Sàigòn, được xem là thủ đô của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Phước Lộc Thọ


Ngày hải hùng đó đã khiến chúng ta mất quê hương, chúng ta có thể xây dựng lại một quê hương ở nơi khác. Có nhiều người ra đi trong lúc vội vã không biết gia đình còn sống hay chết. Ngày nay theo thống kê có đến 189,000 người Mỹ gốc việt sinh sống tại quận Cam (Orange COunty). Cộng đồng người Mỹ gốc việt lớn nhất tại Hoa Kỳ. 40% người Việt sinh sống tại thành phố Westminster, 31% ở thành phố Garden Grove.


Có thể nói không có truyền thông như tờ báo đầu tiên Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập với luật sư Đạt Phan, con ông Phan Huy Quát. Thì có lẻ Little Sàigòn không đông như ngày nay vì các lớp người Việt tỵ nạn tiếp tục sang Hoa Kỳ và đọc báo và dọn về vùng này ở.


Năm 1979, chỉ có 30 business ở phố Bolsa, đến năm 1981 thì có 300 business ở đây rồi đến năm 1984 lên đến 600. Ngày nay, có trên 4,000 business ở trong phạm vi 3 dặm vuông. Người ta tính có trên 280 tiệm ăn, 42 tờ báo việt ngữ, 5 đài phát thanh, 2 đài truyền hình phát các chương trình khắp nơi trên thế giới.


Ở trung tâm Tiểu Sàigòn có Phước Lộc Thọ khiến ai đến đây lần đầu cảm thấy như vào một chỗ nào huyền thoại. Năm 1986, một người sở hữu 1/3 địa ốc ơ Bolsa muốn đặt tên là Asian Town nhưng cộng đồng không chịu và tranh chấp suốt 2 năm liền và đã thắng, khu vực này được đề bảng Little Sàigòn trên xa lộ để xe quẹo vào. Con đường Bolsa được đấu tranh để bảo vệ bản sắc của người Việt tỵ nạn và nhưng người Việt tỵ nạn đã xây dựng trung tâm cộng đồng người Việt lớn nhất tại hải ngoại. Mình nghe nói là Đài Loan bỏ tiền xây rất nhiều khu phố Bolsa. Sau này có người Việt tư bản đỏ sang đầu tư nữa.


Mọi sự khởi đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trực thăng di tản các người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, và cuộc chiến chấm dứt với triệu người vui và hàng triệu người buồn. 130,000 người Việt được người Mỹ di tản khỏi Việt Nam, được xem là cuộc di tản cấp tốc rộng lớn nhất ở thế kỷ 20 trong thời gian rất ngắn. Nghe CIA giải thích là nhờ báo cáo của điệp viên X92, Võ Văn Ba báo trước nên Hoa Kỳ mới có thời gian chuẩn bị cuộc di tản các thành phần có dính dang đến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


người Mỹ không muốn như trường hợp của người tỵ nạn Cuba là dồn về một nơi ở tiểu bang Florida, họ rãi người Việt khắp nơi trên nước Mỹ như 10,000 người ở tiểu bang Florida, 22,000 ở Pennylvania, 51,000 ở Arkansas và 50,000 ở trại thuỷ quân lục chiến Pendleton, tiểu bang California. Hơn 1/3 ở nam Cali.


Vấn đề là người Việt di tản ở trong các trại tiếp cư và đợi ai đó ở ngoài bảo lãnh họ, đúng hơn người Mỹ vì dạo đó rất ít người Việt ở Hoa Kỳ. Đa số là sinh viên du học. Các giáo phận công giáo tham gia, và các nhà thờ tin lành. Họ đưa người Việt đến các thành phố như Westminster, Garden Grove, Santa Ana,…nhưng khu vực không sang trọng, đúng hơn là nghèo. Lý do là tiền thuê nhà rẻ.


Rồi làn sóng tỵ nạn thứ 2 đến, từng năm 1979-1985, các thuyền nhân đến đảo ở đông Nam Á, được phỏng vấn đi mỹ. 800,000 người Việt tỵ nạn đến định cư tại Hoa Kỳ. Nghe cao uỷ tỵ nạn cho rằng 50% người vượt biển nằm lại trong lòng đại dương. 1000 người mỗi tháng tại Quận Cam.


Rồi làn sóng thứ 3 đến qua chương trình Orderly Departure Program (ODP), đoàn tụ gia đình.


Làn sóng thứ 4 cuối thập niên 1980 đến 1990, các tù nhân chính trị, cải tạo được Hoa Kỳ thâu nhận. Các làn sóng nhập cư người Việt đều đọc báo người Việt và các báo khác ở Bolsa, giúp họ dọn về định cư tại Quận Cam.


Mấy năm gần đây thì thấy có nhiều người Việt di dân qua đầu tư theo EB-5 hay các chương trình khác. Chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện con cháu của những người từng tuyên bố đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Mình có gặp vài người khi họ hỏi mua cái vườn của mình. Có đám chuyên gia giúp họ đầu tư qua Hoa Kỳ để hạ cánh an toàn. Nghe họ kể nằm bắt võng ở đầu Trường Sơn, tự xưng là di dân chớ không hoi ải tỵ nạn.


Khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Bolsa thì khu vực này đang chết. Mình nhớ khi mình đến Cali lần đầu tiên thấy nhiều vườn trồng dâu của người Nhật. Các dãy phố lụp xụp Chán Mớ Đời nhưng được cái là đất ở đây rẻ. Không như ngày nay.


Người mở tiệm bán tạp phô Việt Nam đầu tiên là ông Danh Quách nhưng ít khách lắm. Ông ta kể là 3 năm trời ít khách nhưng ổng a vẫn tiếp tục. Theo ông ta thì có lần thị trưởng thành phố và cảnh sát trưởng ghé tiệm ông và nói là cảm thấy không yên lòng về sự có mặt của tiệm ông ta. Người dân địa phương da trắng cảm thấy khó xử. Mình nhớ khi mới dọn về Westminster thì xung quanh là người Mỹ trắng rồi dần dần họ bán nhà bỏ chạy và người Việt dọn đến. Nay chỉ thấy gốc mít xung quanh.


Ông Quách không muốn bỏ đi và có dược sĩ Danh Quách dọn đến mở tiệm thuốc tây năm 1978, rồi tiệm Hoà bÌnh rồi Tân Mai. Rồi năm 1979 có được 30 business của người Việt. Đúng lúc có làn sóng người Việt thuyền nhân định cư tại đây khiến thương mại phát triển, khách đến mua đông như quân nguyên, nói tiếng Việt như người Việt.


Năm 1981, 300 business, 1984, 600 business rồi ông Triệu Phát đến Hoa Kỳ năm 1975, buồn đời mua đất rồi xây Phước lộc Thọ. Năm 1987, cảnh sát Westminster ước lượng mỗi cuối tuần có 20,000 đến 60,000 người đến mua sắm ăn phở ở Bolsa. Cứ ra khỏi xa lộ quẹo vào đường Brookhurst là kẹt xe, người Việt lại lái xe kiểu biết bố mày la ai, bóp kèn in ỏi.


Ở bolsa người Việt đã xây dựng lại truyền thống Tết, như diễn hành, rồi chợ Tết nơi hội tụ người Việt tỵ nạn từ xa về về đây mấy ngày tết để ăn tết với bạn bè và gia đình. Rồi đình chùa mọc lên như nấm. Giúp các con cháu chưa bao giờ biết Việt Nam có thể hoà mình vào không khí tết được tạo dựng lại bưởi cha mẹ ông bà. Với hội chợ tết này nọ hay chợ đêm khi hè đến, giúp người Việt tha hương có thể tìm lại chút gì để nhớ. Mình thấy đắt tiền nên chả bao giờ bò ra thêm kẹt xe.


Tiểu Sàigòn trở thành trung tâm văn hoá của người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Các cuốn sách bị cấm tại Việt Nam được sản xuất nhiều như bánh mì baguette mỗi ngày. Các băng nhạc video được thâu dựng rồi bán qua âu châu và Úc Châu.


người Việt bỏ nước ra đi chỉ còn lại ký ức quê hương và đã tạo dựng lại quê hương trên đất nước đã cưu mang họ. Nhưng họ không quên lý do tại sao phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Có một ngày mà hàng năm cộng đồng người Việt đều tụ tập lại để tưởng niệm nhưng người dã hy sinh trong cuộc chiến cho tự do và những người đã bỏ mình trên đường vượt biển. Họ đã mua đất để xây đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Vietnam warmemorial).


Xét ra thế hệ đầu tiên xây dựng để sống còn còn thế hệ thứ 2 thì xây dựng quyền lực. Năm 1992, ông Tony lâm đắc cử nghị viên của thành phố, người Việt đầu tiên đắc cử. Vào thập niên 1990 cử tri người Việt khá đông nên các đảng không thể làm lơ như xưa. Nhưng cộng đồng người Việt như cộng đồng cuba rất chống cộng. Khi ông John MacCain ra tranh cử tổn thống, có đến kiếm phiếu cũng như Bush cha. 


Theo thống kê thì 53% cử tri ở Tiểu Sàigòn bầu cho ông Trump. Lý do ông ta chống Trung Cộng. Mà người Việt tỵ nạn lại ghét tàu. Họ bảo thủ vì ký ức, những năm tháng dài bị Việt Cộng bỏ tù. Họ bỏ phiếu theo địa chính hơn là các chương trình phúc lợi địa phương.


Nhưng ngày nay, sau khi bám rể vào đời sống Hoa Kỳ, thì có sự rạn nứt trong giới cử tri. Theo thống kê thì cử tri gốc việt dưới 49 tuổi, 65% ghi danh là cử tri của đảng dân Chủ. Lý do là thế hệ thứ hai không trốn thoát khỏi Việt Nam. Họ không bị ở tù cải tạo, tiểu Sàigòn không phải là nơi định cư tạm của họ như thế hệ trước.


Thế hệ con cháu dọn đi các thành phố khác như Irvine, Costa Mesa, Laguna. Thế hệ này là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. Họ đã vào dòng chính của Hoa Kỳ.


Đó là bề ngoại bề nổi, mặt bằng của Tiểu Sàigòn, chúng ta thấy tiệm ăn mọc như nấm nhưng nếu nhìn kỹ thì trong khu Tiểu Sàigòn có đến 5  khu mobile homes mà đa số người Việt ở, với tiền thuê đất đắt như vàng. Các người lớn tuổi sinh sống ở đây cho tiện đường mua sắm, nơi mà họ đã cùng nhau tạo dựng. Các người cao tuổi sống nhờ tiền an sinh xã hội. 


Little Sàigòn có hai loại kinh tế. Một kinh tế khiến thiên hạ đến mua sắm và một cố gắng sống chật vật phía sau mặt bằng hoành tráng của Tiểu Sàigòn. 


50 năm nhìn lại, cộng đồng người Việt đã thành công xây dựng qua bao nhiêu làn sóng đến Hoa Kỳ. Chúng ta bỏ lại sau lưng quê hương để xây dựng lại một quê hương thứ hai trên đất mỹ. Nhưng tương lai thế hệ con cháu có thể sẽ không màn đến vì Irvine có tiệm ăn Tàu, việt. Ngày thành phố mình bây giờ bắt đầu có tiệm ăn tàu, Việt Nam, đại hàn mọc lên như nấm. Có lẻ sẽ ít xuống Bolsa nhất là xăng trên $6. Nhưng phải kể là các lớp người Việt đi trước đã bỏ công gầy dựng một trung tâm để chúng ta quay về như viếng lại ký ức của quê hương bỏ lại.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Cà phê Việt Nam phê như Tây

 Cà phê Việt Nam xuất cảng thứ 2 trên thế giới 


Mình có hai cô em có tiệm bán cà phê Chez Nous ở đường Phan Đình Phùng nên tò mò về cà phê Việt Nam. Em mình cho biết cà phê ở tiệm hai em dùng nguyên chất cà phê, không có pha bắp rang này nọ. Đi chơi nên mình tò mò tìm tài liệu đọc về cà phê thì thất kinh khi biết được ngành trồng cà phê ở Việt Nam sau 75 được phát triển nhờ anh em xã hội chủ nghĩa đông đức mới được như hôm nay. Anh em đông đức thì giúp trong khi anh em Trung Cộng thì chỉ muốn em mình chết. 

Colombia quảng cáo khắp thế giới về thương hiệu của họ 


Ai cũng biết cà phê được người Pháp đem qua trồng tại Việt Nam khi họ chiếm đóng và cai trị nhằm sản xuất cà phê đem về mẫu quốc bán. Cà phê được người Pháp đưa vào Việt Nam khoảng 1857–1888. Ban đầu trồng thử ở các nhà thờ Công giáo (Ninh Bình, Quảng Bình). Sau đó phát triển thành đồn điền lớn ở cao Nguyên (Đắk Lắk, Lâm Đồng)


Khởi đầu người Pháp cho trồng Arabica. Sản xuất phục vụ xuất khẩu về Pháp, người Việt ít dùng. Hình thành tầng lớp đồn điền và lao động cưỡng bức như các vườn cao su. Đây là giai đoạn đặt nền móng cho ngành cà phê tại Việt Nam, nhưng chưa phải “cà phê Việt” như ngày nay. 

người Pháp trồng cà phê tại Việt Nam 


Sau 1954, đất nước chia đôi: Miền Bắc theo kinh tế kế hoạch, cà phê ít phát triển vì gạo còn thiếu ăn thì tiền đâu mà uống cà phê nhất là được xem thức uống thực dân. Miền Nam vẫn duy trì một số đồn điền cà phê nhưng sau này chiến tranh lan tràn nên có nhiều nơi đóng cửa.


Văn hóa cà phê phin bắt đầu phổ biến với người Việt vì uống cà phê được xem là ngang hàng như mấy ông tây bà đầm, như thuộc về tầng lớp trưởng giả, trí thức như Đà Lạt có tiệm cà phê Tùng nổi tiếng nhờ các nghệ sĩ, nhạc sĩ và nhà văn hay ngồi rồi từ từ được bình dân hoá tại miền nam. Cà phê phin đến từ từ pháp ngữ “filtre”, nghĩa là lọc, trở thành thức uống đô thị (Sài Gòn). Mình nhớ ở chợ Đà Lạt có hàng chú Lìn bán cà phê buổi sáng với dầu cha quẩy. Chú bỏ cà phê trong cái vợt rồi bỏ trong cái ấm nước sôi. Ai kêu cà phê là chú đỗ vào ly thêm sữa đặc ông Thọ. Người mua lấy cái muỗng khuấy uống lấy dầu chả quẩy chấm vô ly cà phê ăn nhai như Tây. Tuy nhiên, sản lượng vẫn nhỏ, chưa có vai trò kinh tế lớn như ngày nay. Thường nghe cà phê Ba Mê Thuột, hình như dạo đó Đà Lạt ít ai trồng. 


Mình có nghe kể là khi xưa người ta hay xin hay mua lại chất nhựa dính nơi cái tẩu thuốc phiện để pha với cà phê khiến người uống cà phê ghiền và ghé lại vui lòng khách đến vừa lòng khách sau thuốc đi. 


Sau 1975, Việt Nam áp dụng mô hình hợp tác xã với chính sách ngăn sông cấm chợ nên ngành cà phê te tua vì thiếu vốn, thiếu kỹ thuật nên sản lượng thấp. Làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu nên thằng nào cũng tà tà nên kinh tế banh ra lông đến nổi ông Phạm Hùng phải cho người sang pháp vấn kế ông Bùi Kiến Thành, con trai bác sĩ Tín, từng làm cố vấn cho ông Ngô Đình Diệm. Ông Thành kêu từ thời ban sơ đến nay chưa có một dân tộc nào có lãnh đạo nghèo trở nên giàu vì họ không biết gì về kinh tế và tài chánh. 


Tại đông Đức vào thời đó họ có vấn đề cung cấp cà phê cho cả nước dùng cũng như chuối từ Cuba. Thế là họ đột phá tư duy kêu Hà Nội hợp tác trồng cà phê và chia nhau 50/50. Bên có kỹ thuật bên có lao công và đất đai. Đông đức cấp vốn, máy móc, kỹ thuật. 


Mình đoán người Đức rất kỹ lưỡng nên đi đo dạt khắp nơi và quyết định, chọn địa điểm trồng tại Cao Nguyên (Đắk Lắk). Chương trình hợp tác hữu nghị chuyển sang trồng Robusta (phù hợp khí hậu, năng suất cao) và xây dựng các nông trường lớn. Nền tảng để Việt Nam trở thành cường quốc cà phê sau này. Điểm may cho Hà Nội là liên sô sụp đỗ sau khi người đông đức đầu tư chuyễn giao công nghệ cho Việt Nam nên không phải trả nợ cho đông đức theo hợp đồng. Khi không có đàn anh quốc tế đến viện trợ trồng cây cho máy cày máy bơm tưới nước rồi lăn ra chết. Hà Nội hưởng hết nếu không thì có lẽ không trở thành nước thứ hai sản xuất cà phê trên thế giới. 


Chính sách Đổi Mới (1986) chuyển sang kinh tế thị trường. Nông dân được tự trồng và tự bán. Kết quả là diện tích trồng cà phê tăng chóng mặt, gấp 20 lần. Việt Nam trở thành quốc gia xuất cảng cà phê thứ 2 trên thế giới và số 1 về loại cà phê Robusta, cà phê trở thành ngành kinh tế mũi nhọn cho Hà Nội. Mình tìm thấy tài liệu trên mạng về Đông Đức đầu tư như sau:


20 triệu USD xây nhà máy thủy điện Dray Linh. Cung cấp: xe tải, máy móc cơ giới, hệ thống tưới. Đây là cực kỳ quan trọng vì cao nguyên lúc đó gần như chưa có hạ tầng nông nghiệp hiện đại. Xem hình ảnh khi xưa vùng này Chán Mớ Đời 


Kế hoạch sử dụng 70,000 ha cà phê được quy hoạch và trên thực tế nông trường này trở thành đồn điền lớn nhất Việt Nam lúc bấy giờ. Năm 1975: cả Đắk Lắk chỉ có ~3,700 ha. Năm 1990: tăng lên 76,000 ha, gấp 20 lần. 


Khoảng 10,000 người từ miền Bắc được di dời đến vùng này để phục vụ sản xuất. Ngày nay dân tình ở đây đa số nói giọng Bắc. Đông Đức xây nhà ở và hệ thống cung ứng (trường học, y tế), một dạng “khu kinh tế nông nghiệp kiểu XHCN”. 


Vấn đề ngày nay Việt Nam đứng thứ hai về xuất cảng cà phê nhưng lại bán với giá bèo so với Ba Tây và Columbia. Làm nhiều nhưng ít lời. Đó là nền kinh tế Việt Nam hiện đại tương tự với gạo được xem là nước thứ 2 trên thế giới sản xuất gạo và xuất cảng đến nổi nghe nói đem viện trợ cho Cuba. 


So sánh Việt Nam – Brazil – Colombia không chỉ là chuyện “ai trồng nhiều hơn”, mà là ai bán được nhiều tiền hơn trên mỗi hạt cà phê. Và kết quả khá bất ngờ: Việt Nam xuất khẩu nhiều nhưng giữ giá trị thấp nhất. Vụ này tương tự gạo và nước mắm. Thái Lan và Cao Miên xuất cảng gạo đắt tiền hơn Việt Nam. Mình thường nghe thiên hạ kêu người Việt mình thông minh nên sản xuất nhiều nhưng lại ít lời hơn mấy nước khác. 

Việt Nam ta quyết tiến lên hàng đầu"...“Đi đâu không biết đi đâu? Đi đâu không biết hàng đầu cứ đi…”

Việt Nam chạy theo thành tích vì quen với tư duy của chế độ cộng sản. Nên càng sản xuất nhiều sẽ tuyên dương là anh hùng lao động bủa xua la mua trong khi các nước kia họ trọng chất lượng ít xịt thuốc sâu nên ngoại quốc thích và đồng ý mua giá đắt hơn vì có chất lượng. Một ông bộ trưởng ấn độ tuyên bố một câu xanh dờn là không cần trồng lúa vì có thể mua của Việt Nam với giá bèo.

🇻🇳 Việt Nam (Robusta)

~2 – 3 USD/kg

🇧🇷 Brazil

~3 – 5 USD/kg

🇨🇴 Colombia

~4 – 7 USD/kg


Việt Nam – “bán nguyên liệu”85–90% xuất khẩu dạng cà phê thô, Ít thương hiệu toàn cầu mạnh. Mình thấy cô nào ở New York tìm cách tạo dựng thương hiệu cà phê việt lấy thương hiệu là Nguyen thì phải. Mình đọc đâu đó lâu rồi. Họ mua hay trồng ở Việt Nam rồi sẽ kể câu chuyện về loại cà phê này. Hy vọng họ sẽ thực hiện được vì sống bên Mỹ nên hiểu người Mỹ hơn. Tương tự cà phê 7 lá (7leaves) do người Việt  ở Mỹ thành lập rất thành công. Nghe nói có đến 2,000 nhân viên khắp nước Mỹ. Mình có gặp mặt ông chủ này rất trẻ có đến vườn bơ mình hái trái một lần. Có lần định hỏi ông ta có nên trồng cà phê để bán tại nước Mỹ nhưng rồi quên mất. Vấn đề ở trồng ở Hoa Kỳ thì bán giá gấp 10 lần các xứ khác vì nhân công đắt. 


Brazil – “cân bằng sản lượng & công nghiệp” : Xuất khẩu thô (rất lớn), Ngành rang xay nội địa mạnh với các Doanh nghiệp lớn như: JDE Peet’s và Nestlé (đặt nhà máy lớn)


Trong khi đó thì Colombia – sử dụng “bán câu chuyện + thương hiệu” kiểu Starbucks, Có tổ chức cực mạnh: National Federation of Coffee Growers of Colombia, Thương hiệu quốc gia: Juan Valdez. Bán không chỉ cà phê mà còn tạo dựng “ Single origin”,  “Farmer story, Premium Arabica” và giữ lại: 40–50% giá trị chuỗi

Khâu

Việt Nam

Brazil

Colombia

Nông dân

$0.20

$0.40

$0.60

Xuất khẩu

$0.30

$0.50

$0.60

Rang xay & thương hiệu

$1.00

$1.20

$1.40

Quán

$2.50

$2.00

$1.40


Việt Nam được cái là mạnh về năng suất cao nhất thế giới nhưng lại yếu về branding và chế biến sâu. Thêm trồng loại cà phê không được Tây phương thích lắm. Thấy lãnh đạo Việt Nam đi họp quốc tế khạc không ra một chữ ăng-lê nên đâu có gợi chuyện buôn bán cưới mấy ông thần ngoại quốc. Khi xưa ông Ngô Đình Diệm, Nguyễn Văn Thiệu dù ít học chưa hết tú tài nhưng vẫn xổ được tiếng Tây và tiếng anh như người Việt nói. Còn lãnh đạo ngày nay chỉ biết mà-ze in Việt Nam. Chán Mớ Đời 


Trong khi đó Ba Tây rất mạnh về tổ chức quy mô và kỹ nghệ hóa, Có cả: Mass market + premium thêm Chiến lược: đa tầng (volume + value)


Còn xứ Colombia thì mạnh về marketing  tầm quốc gia và chất lượng đồng nhất. Trong khi chiến lược của họ là tối ưu hóa và kiểm soát chất lượng thương hiệu quốc gia, không bán cà phê vô danh. Chuẩn hóa chất lượng. Không để hàng kém kéo giá xuốngKể chuyện (storytelling) và nông dân, vùng trồng, độ cao. Hà Nội rất giỏi tuyên truyền nên sử dụng kể chuyện (storytelling) về cà phê Việt Nam. Bớt xịt thuốc trồng hữu cơ nhất là phải trồng theo nhu cầu của thị trường là Arabica vì Robusta chất lượng kém. Chán Mớ Đời 


Mình rất ngạc nhiên khi được biết Việt Nam là cường quốc thứ hai về cà phê nên mừng cho đất nước nhưng khi tìm tài liệu đọc, để xem cán bộ nào có tư duy đột phá ra ý tưởng trồng cà phê thì khám phá Hà Nội may mắn ngư ông đắc lợi vì ông Đức cộng làm hết, bỏ tiền ra xây đập nước để tưới cây cà phê trồng này nọ rồi ông Đức cộng banh ra lông nên Hà Nội thừa hưởng hết những gì Đức cộng đã thực hiện. Được cái là sau 10 năm tình cũ với ngăn sông cấm chợ họ khôn không phá gì cả như kiểu vào Sàigòn là đốt hết. Sau nên chiến thắng cứ nghĩ xã hội chủ nghĩa anh hùng.  


 Vấn đề là Hà Nội chỉ tiếp tục tăng gia sản xuất bán thô thay vì tạo dựng thương hiệu để thế giới biết đến để tìm khách hàng lâu dài. Về Việt Nam mình thấy có công ty trồng cocoa và bán không thua gì ngoại quốc nhưng chưa tạo được thương hiệu của người Việt. Tương tự như trà Việt Nam mình được thân hữu tặng uống rất ngon nhưng quả đài Loan thấy họ làm có bài bản đi các tiệm bán trà sẽ thấy. Hay thương hiệu mật ong Manuka mà nước Tân Tây lan xây dựng thương hiệu của họ và các chống giả hiệu. Ngày nào Việt Nam thực hiện được thương hiệu được ngoại quốc biết và yêu thích thì mới giúp nông dân Việt Nam giàu được. 


Thuốc sâu trong trái cây Việt Nam 


Le nombre élevé d'infractions liées aux pesticides dans les fruits vietnamiens suscite des inquiétudes quant aux exportations vers l'UE.


Le fruit de la passion vietnamien présente un taux de violation de 32 % des limites maximales de résidus (LMR) de l'Union européenne (UE), tandis que le fruit du dragon affiche un taux de 11 %, ce qui a incité le Bureau commercial vietnamien en France à avertir que les deux exportations pourraient faire l'objet d'un examen plus strict de la part de l'UE si les producteurs ne prennent pas de mesures correctives.


Ces conclusions proviennent d'un rapport sur le suivi et le contrôle des résidus de pesticides dans les denrées alimentaires mises sur le marché, publié en février 2026 par la Direction générale de l'alimentation, sur la base d'inspections réalisées en 2024.


Ce rapport s'inscrit dans le cadre du programme de contrôle coordonné de l'UE, dont les résultats sont utilisés par la Commission européenne (CE) pour évaluer les risques et déterminer les mesures réglementaires.


Le fruit de la passion vietnamien apparaît comme le produit le plus similaire.


Sur 47 échantillons testés, 15 dépassaient les LMR de l'UE, ce qui représente un taux de violation de 32 %.


Certains échantillons contenaient également de l'ométhoate, un produit chimique considéré comme potentiellement nocif pour les consommateurs.


Parallèlement, le fruit du dragon vietnamien a affiché un taux de non-conformité plus faible de 11 %, un seul des neuf échantillons dépassant les limites autorisées.


Ce produit est déjà inscrit à l'annexe I du règlement (UE) 2019/1793, ce qui le soumet à un taux d'inspection de 50 % aux frontières de l'UE.


Des infractions répétées pourraient rendre difficile une réduction de la fréquence des inspections du produit à l'avenir.


Conformément à la réglementation européenne, la Commission européenne révise la liste des produits à haut risque tous les six mois.


Avec un taux d'infraction de 32 %, le fruit de la passion vietnamien court un risque réel d'être ajouté à la liste de l'UE des produits soumis à des contrôles renforcés ou à des exigences d'importation plus strictes.


L’inscription à l’annexe I soumettrait les envois à des inspections frontalières plus fréquentes, ce qui pourrait retarder le dédouanement.


L’inscription à l’annexe II obligera les exportateurs à fournir les résultats des tests et les certificats de sécurité alimentaire avant d’envoyer leurs produits à l’UE.


De telles mesures augmenteraient les coûts de logistique, de contrôle et de stockage, accroîtraient le risque de retards de livraison et pourraient nuire à la réputation des exportateurs.


Le bureau commercial vietnamien en France souligne qu'il s'agit d'un obstacle technique à l'échelle de l'UE, et non limité au marché français.


Pour maintenir leur accès au marché, les exportateurs, les coopératives et les producteurs doivent revoir d'urgence l'ensemble de la chaîne de production, de la culture à la récolte, en passant par la transformation et le conditionnement.


Un contrôle strict de l'utilisation des pesticides et le respect intégral de la réglementation européenne sur les LMR sont essentiels.


Les organismes de réglementation et les associations industrielles sont invités à renforcer la surveillance, à émettre des alertes précoces et à fournir un soutien technique, d'autant plus que l'UE prévoit de nouveaux examens au cours du second semestre 2026.


En 2025, les exportations devraient avoir dépassé le milliard de dollars américains, représentant une part importante des exportations totales de fruits et légumes du pays.


La Chine demeure le principal marché, tandis que l'UE ne représente qu'une petite part mais impose des normes de qualité très élevées.


Les exportations de fruits de la passion sont plus modestes, mais ont connu une croissance rapide ces dernières années.


Les exportations de fruits de la passion et de produits dérivés représentent chaque année des centaines de millions de dollars, l'UE apparaissant comme un marché potentiel grâce à une demande stable et une forte valeur ajoutée.


Vinh Tho - Ngoc An / Tuoi Tre Actualités 


https://news.tuoitre.vn/high-pesticide-violations-in-vietnamese-fruits-raise-eu-export-concerns-103260324171514422.htm


https://youtu.be/8OrywCT6Cao?si=6L3inKtT9VrLOZqU


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn