Showing posts with label Tình.... Show all posts
Showing posts with label Tình.... Show all posts

Người Việt hải ngoại ngày 30/4/75


Hôm qua, có vợ chồng anh bạn ghé nhà chơi. Anh này đã sống 19 năm tại Pháp, trước khi gặp lại đôi mắt người xưa, nối chấp lại mối tình hữu nghị và di dân sang Hoa Kỳ. Ngồi nói chuyện bổng nhiên anh ta nhắc lại những ngày sau 30/4/1975 tại Paris. Người Việt ròi Việt Nam trước ngày Sàigòn đổi chủ, bổng nhiên bị hụt hẫng, với một tương lai đen tối mờ mịt, trở thành người lưu vong, một kẻ vô tổ quốc. Lý do là lưu vong đều khởi đầu bởi một bi kịch chính trị để rồi biến thành một bi kịch văn hoá nơi xứ lạ quê người


Chúng ta hay nghe kể, đọc hồi ký về người Việt tại Việt Nam sau ngày Sàigòn đầu hàng hay những người di tản buồn nhưng ít ai nhắc đến số phận những người Việt đã sinh sống tại hải ngoại trước ngày 30/04/1975. Đa số những người này là du học sinh, với những ước mơ của tuổi trẻ, học xong về quê hương xây dựng lại đất nước, để rồi bổng nhiên tan biến, mất liên lạc gia đình, trở thành người vô tổ quốc như tình trạng ông Mehran Karimi Nasseri, người gốc Ba Tư phải sống trong phi trường ở Paris từ 1988 đến 2006 mà sau này họ có làm phim về cuộc đời ông ta khi đất nước bị xâm chiếm và bị xoá tên trên bản đồ thế giới. Ông ta đến phi trường CDG thì đất nước ông ta bị biến Mất như Việt Nam Cộng Hoà sau ngày 30/4/75 nên không được nhập cảnh hay đi đâu cả vì sổ thông hành không được công nhận bởi thế giới, là kẻ vô tổ quốc không ai cho nhập nước họ thậm chí rời khỏi nước pháp, nơi ông ta quá cảnh.


Nhìn lại thì quả mình có cái số đi tây năm 1974. Mình nhớ đậu tú tài xong, gửi giấy tờ sang tây để nhờ mấy người cậu bà con du học ở Pháp, làm thủ tục, nộp đơn đại học. Hai ông cậu bà con vừa gửi giấy tờ về cho mình bổ túc hồ sơ du học thì nhân viên bưu điện bên tây đình công đâu 6 tháng trời. Năm đó nhiều người muốn đi Tây kẹt vụ đình công nên không nhận được giấy tờ bổ túc hồ sơ đúng thời hạn của nha du học nên chỉ biết than trời sinh ta sao còn sinh bưu điện tây. Nếu trễ vài ngày thì xem như mộng đi tây của mình đã chấm dứt và sẽ khăn gói đi vùng kinh tế mới như bao bạn bè cùng thế hệ hay vượt biển sau này. Xem như chỉ tay mình không có ligne de mer, chỉ có ligne de l’air..

Rạp hát Mutualité ngày nay, dạo mình ở Paris thì đã cũ hơn 45 năm. Mình nhớ đi vào cửa chính thì có hai dãy hàng dài bán đồ chợ tết với mấy cô bận áo dài đến khi nhảy đầm thì họ thay váy hết. Hát hò xong thì giải lao trong khi thiên hạ dẹp ghế để nhảy đầm tới sáng. Dạo ấy thấy có một ông lớn tuổi bận áo vét, thắt nơ nhảy đầm nhuyễn lắm, chắc có bằng nhảy đầm. Ông ta nhảy đẹp với nụ cười luôn luôn trên môi.

Ngày 24/12/1974, khi bước ra khỏi toà đại sứ Pháp, tay cầm sổ thông hành Việt Nam Cộng Hoà, với chiếu khán của toà đại sứ Pháp khiến mình run trong cảm xúc khó tả. Một chân trời mới đang chào đón với giấc mơ từ bé khi vào nhà ông bà Phúng, cậu mợ của mẹ mình, xem mấy tấm ảnh của người cậu bà con đi tây trước khi mình ra đời. Tương tự khi đến nhà bác Cháu ở ấp Ánh sáng, thấy anh Phú đi du học bên Nhật Bản. 


Dạo ấy Việt Nam Cộng Hoà đã mất Phước Long, thấy các biểu ngữ toàn dân không quên Phước Long, ông cụ mình mua vé máy bay đi Tây ngay vì sợ tổng động viên, không cho xuất ngoại. Mình rời Đà Lạt về Sàigòn không kịp chào bạn bè như trốn chạy chiến tranh, tìm đến một nơi khác yên bình hơn để tạo dựng tương lai cho một kiếp người tha hương như ông cụ mình phải rời bỏ quê để vào nam sau khi bị du kích tìm cách giết ở làng vì không theo họ.


Mấy ngày sau, mình xuống phi trường Charles de Gaulle với những lo lắng, không biết tương lai sẽ đi về đâu. May có gia đình ông cậu đón tiếp lúc đầu, sau đó thì mình dọn ra một căn hộ tạm thời của bố vợ ông cậu, sắp bị đập bỏ để xây một chung cư mấy tầng.


Mình sang Pháp trễ niên khoá nên đành đợi qua hè 75 mới đi học. Trong khi chờ đợi, mình đi làm chui vì dạo ấy nước pháp bắt đầu cấm sinh viên ngoại quốc làm việc nếu không có giấy phép (permis de travail). Đi làm nhà in ở Porte de Versaille từ 8 giờ sáng, về đến nhà 12 giờ đêm, 7 ngày 1 tuần nên chả biết trời trăng, tình hình tại Việt Nam ra sao. Chỉ biết ngủ rồi dậy đi làm.

Sinh viên Việt Nam tại Paris tuần hành để tang cho Việt Nam Cộng Hoà ngày 27/4/1975. Hình như tấm ảnh này của ông Trần Đình Thục.


Một hôm, chủ kêu đi taxi giao hàng cho khách hàng gấp thì ông tài xế hỏi mình người xứ nào, mình kêu Việt Nam. Ông ta kể là sáng nay Sàigòn thất thủ, ông ta thấy một đám đông chạy vào toà đại sứ Việt Nam Cộng Hoà đập phá. Dạo ấy ở Paris, chỉ có một văn phòng đại diện cho Hà Nội vì Pháp chưa có thiết lập ngoại giao chính thức với Hà Nội. Hà Nội chiếm hết tài sản của người Pháp tại miền bắc, không đền bù gì cả trong khi miền nam thì khi các pháp kiều về pháp họ được bán các cơ sở nhà cửa của họ tại miền nam.  Chỉ có Việt Nam Cộng Hoà mới được pHáp công nhận, thiết lập bang giao, có toà đại sứ. Mình có đến đại sứ quán một lần để trình diện, ghi danh với toà đại sứ rồi chưa bao giờ trở lại.


Tin của ông tài xế khiến mình thất kinh, tối đó đi làm về, mua tờ Le Monde để đọc tin Việt Nam. Dân tây ăn mừng đoàn chiến xa Việt Cộng đã cán xập cổng dinh Độc Lập trong khi và nhiều công dân Việt Nam Cộng Hoà khóc một dòng sông. Vạn người vui, ngàn người sầu tại âu châu. Tối đó mình nằm khóc một mình, nghĩ về Đà Lạt, gia đình, Việt Nam. Chỉ nhớ nhận được lá thư đầu tiên và cuối cùng của gia đình, ông cụ cho biết gia đình chuẩn bị di tản về Phan Rang. Lúc đó mình không biết tương lai sẽ ra sao. Rồi nước vẫn trôi dưới cầu Mirabeau của Paris.


Nay nhìn lại mình không hiểu động lực nào đã giúp mình, giữ vững niềm tin, tốt nghiệp đại học vì có nhiều sinh viên bỏ học đi làm. Chế độ bên tây, học 2 năm đầu chỉ được ở lại một năm, nếu ở lại hai năm thì không được tiếp tục học. Lý do là tưởng công, anh học dốt thì ngưng vì tốn tiền nhân dân đóng thuế. Có nhiều người du học nhưng nghe lời dụ dỗ của Việt Cộng nên xuống đường tranh đấu, thi rớt nên tây không cho học nữa, đành đi làm vớ vẩn. Khi Sàigòn đầu hàng thì họ hy vọng sẽ được trọng dụng nhờ quá khứ chống Việt Nam Cộng Hoà, ai ngờ chả được gì. Mình biết vài người như vậy sau này, quay lại viết bài chửi Hà Nội.


Thứ nhất là mình được chính phủ pháp cấp học bổng, thứ hai là may mắn gặp được người Pháp rất tốt, giúp đỡ khác với những gì mình học ở trường kêu thực dân tàn ác. Họ luôn khuyến khích mình, giúp đỡ như cho mướn phòng ô-sin không lấy tiền. Lâu lâu kêu lại nhà ăn bữa cơm cho no vì dạo ấy mình chỉ ăn cơm đại học xá, cuối tuần thì ăn baguette với bơ như khi xưa ở Đà Lạt, mua bánh mì Vĩnh Chấn, đem về Nhà, trét bơ ăn cực đỉnh. Có anh bạn học, du học tại Ottawa, sau này có gặp lại, anh chàng chỉ nhớ đến ăn bánh mì Vĩnh Chấn trét bơ ở nhà mình. Đó là ở Đà Lạt, còn bên tây, ăn bánh mì với bơ hoài cũng oải lắm. Lâu lâu mình mua mấy lon cá mòi sumaco của maroc mà khi xưa nhà hay ăn với bánh mì, rắc chút tiêu vào.


Ăn cơm đại học xá thì toàn là coucous của người Bắc Phi nấu. Tụi tây học chung ít khi ăn lắm, chúng chê không ngon hay rủ nhau đi ăn tiệm, còn mình thì ăn trưa chưa đủ tranh thủ ăn đêm. Họ có món entree, thường là cà rốt bào, rồi món chính, mình hay xin thêm khoai tây chiên khi có, còn coucous thì ớn lắm. Hình như chỉ có tiệm cơm ở ký túc xá Cité d’universitaires là thức ăn ngon, còn các tiệm kia thì Chán Mớ Đời. Vấn đề là phải đi xa, mình ở Neuilly sủ Seine, xuống dưới đó cũng mất cả tiếng đồng hồ đi métro. Mua thêm bình sữa tươi. Lúc đầu uống sữa tươi không quen chạy đi vệ sinh ná thở nhưng vài tuần sau quen. Sau này mới hiểu là người á châu thường có vấn đề khi uống sữa bò. Lâu lâu được tây đầm mời đến nhà ăn cơm là mình ăn mệt thở. Nhớ có lần giáng sinh, một gia đình người Pháp, ông chồng từng tham chiến tại Việt Nam, mời đến nhà ăn cơm trưa để mừng chúa giáng sinh. Bà vợ thấy mình vét sạch cái đĩa, hỏi ăn nữa không, mình kêu vâng lần này mình thấy hết đói nhưng vì quen thói Việt Nam nên mình ăn hết, vét sạch như khi ở nhà, không bỏ cơm mứa, ai ngờ bà vợ tưởng mình còn đói nên bới thêm khiến mình phải quất 3 đĩa ứ nự. Sau này, quen nên mình mới giải thích. Văn hoá ăn chực của mình.


Cuối tuần thì mình đi làm bồi cho một nhà hàng nhỏ Việt Nam. Lúc đầu mình đến ăn vì tiệm này rẻ nhất quartier la tinh, do một bác người nam, khi xưa làm vú cho gia đình ông Dương Văn Minh. Mình chả hiểu lý do nào bác ấy sang Pháp. Chỉ nhớ là có người con trai, chải đầu láng cóng như công tử Bạc Liêu, đứng phục vụ. Một hôm mình đến ăn thì không thấy ông quý tử mà khách thì đông. Bác vừa nấu vừa chạy bàn. Ngồi đợi lâu quá nên mình đứng dậy, dọn bàn dùm bác thì bác kêu cuối tuần, ra phụ bác vì thằng con đi đánh bài hay nhảy đầm. Mẹ ở Việt Nam cũng khổ vì con, ở tây cũng khổ vì con.

Thế là từ đó mình làm bồi mấy năm đến khi ra trường. Được đâu 100 quan pháp mỗi tối, thêm tiền boa của khách tây nhưng quán rẻ tiền nên chỉ có sinh viên bò lại nên tiền boa cũng khiêm tốn như thực đơn của tiệm. Một hôm khách đông quá, bác kêu mình ở lại giúp vì thường 11 giờ đêm là mình về. Từ 6 giờ tối đến 11 giờ. Làm xong thì đi ra quá 12 giờ đêm nên hết métro, kêu taxi nó chặt 120 quan pháp. Nên lần sau trễ métro thì mình cuốc bộ về nhà. Từ tiệm ăn, qua cầu Saint Michel rồi dọc theo đường Rivoli, lên Champs Elysees đến Khải hoàn môn, rồi đi về Palais de la découverte ở Porte de Maillot, rồi lết đường Avenue du Rouge đến Les Sablons. Đến nhà phải leo lên 7 tầng lầu mới lên giường được. Chỉ làm thứ 6, 7 còn chủ nhật thì ông con làm việc. Cứ trong tuần ăn đại học xá đến cuối tuần thì ăn bún thịt nướng mệt thở luôn. Cứ dện 2 tô là thấy đời lên hương. Lần chót về Paris mình có ghé qua khu này nhưng đã thay đổi quá nhiều, chắc bác ấy đã qua đời.


Khi Sàigòn đổi chủ thì đa số sinh viên du học chới với vì hết được nhận tiền của gia đình. Sinh viên theo Hà Nội thì bị cúp chuyển ngân chính thức qua chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, còn chuyển ngân lậu thì mình không biết cách thức khi xưa. Chỉ biết có đọc báo Hà Nội, có mấy người miền nam kể họ làm kinh tài cho Việt Cộng, bay đi Hương Cảng, Paris để đổi tiền và chuyển ngân cho Hà Nội. Mình nghĩ họ đều bị ảnh hưởng tâm lý vì bao nhiêu mộng mơ khi ra đi tưởng như tuyệt vời, một ngày về huy hoàng, giúp cha mẹ nở mặt nở mày bổng chốc bay theo mây khói. Sau này mình mới khám phá ngày 27/4/1975, các sinh viên du học, không thân cộng đã có tổ chức một cuộc tuần hành để tang cho Việt Nam Cộng Hoà. Dạo đó mình mới qua, không quen người Việt nên không biết gì hết.


Mình nghĩ trong sự thất vọng tận đáy vực thì đêm hội chợ tết năm 1976 do tổng hội sinh viên tại Paris tổ chức tại Maison de la Mutualité, gần métro MAUBERT-Mutualite nên dân mít ở tây hay gọi MAUBERT, ở đường Saint Victor, quận 5. Khu vực này dạo ấy người Việt ở đông lắm. Có tiệm bán đồ Việt Nam gọi là Thanh Bình, mấy câu lạc bộ của người Viết Liên Hiệp, hay người Việt chống cộng. Nói chung là khu nghèo nhất dạo ấy, nay thì người Việt dọn xuống quận 13. Điểm lạ là rạp hát này do tổng thống Paul Doumer, cựu toàn quyền đông dương khánh thành năm 1931. 


Lần đầu tiên mình tham dự hội chợ tết của tổng hội sinh viên tại Paris. Đêm đó, nhìn lá cờ Việt Nam Cộng Hoà lần đầu tiên tại Paris, cả rạp đâu gần 2,000 người đồng hát quốc ca Việt Nam khiến mình rợn tóc gáy.

Các bài hát đêm ấy rất lạ tai, chưa bao giờ nghe với chương trình mang tựa đề “ta vẫn còn Sống”. Bài ca nuôi chí vững bền, đã giúp mình hết âu lo, vùng dậy tiếp tục con đường mình đã định khi đi du học. Học cho xong rồi tính sau.

Chị vẫn còn sống 
Anh vẫn còn sống 
Tôi vẫn còn sống
Mà chúng mình không lẽ lại ngồi yên
Ngàn lầm than sao không cùng lên tiếng
Vai chung vai ta nổi dậy ba miền (2)

ĐK. Còn đôi chân xin mời anh đứng dậy 
Với thân mình này chị hãy vùng lên
Lòng hăng say ngọn đuốc hồng sáng cháy
Vì quê này mà nuôi chí vững bền


nhất là bài Dựng lại một ngày với điệp khúc; những đôi mắt này còn nhìn nhau còn hẹn ngày về, như cái phao cứu vớt các linh hồn người việt vô tổ quốc, vừa mất quê hương. Những đôi mắt này còn nhìn nhau còn hẹn một ngày.

chân trời trước mặt của quê hương ta sẽ nở hoa, 

sông dài đất rộng đã bao năm nối tình thiết tha, 

hãy cùng đứng dậy cùng anh em nối lại sơn hà 

ta cùng đi dựng tinh thương bao la như biển xa 

Nắng Sơn mới đã khơi ai nụ cười

Ta đi theo tiếng gọi linh thiêng mời

Ta đi xây dựng lại cho một ngày mới

Sức sống đã khơi dậy trên môi hồng

Trong tim ta mong một ngày tin hoà bình tới

Ta đem hồn dâng sông núi

Cho một ngày vinh quang tới

Cho cờ Việt Nam phất phới muôn dặm xa

Muôn lòng góp lại ôi quê ta đẹp sao tiếng ca

Cho tình yêu người chợt thiêng thang nối đời đã qua

Những bàn chân trần đã nhịp vang trên bờ đê dài 

 Những đôi mắt này còn nhìn nhau còn hẹn một ngày 

Tối đó mình khóc sung sướng vì đã gặp những người Việt đồng cảnh ngộ. Đã cho mình lại một niềm tin ngày mai tươi sáng. Mình mất tin tức gia đình từ tháng 3 năm 1975 đến 2 năm sau mới có người về Đà Lạt, qua cho biết gia đình còn sống, chỉ có ông cụ là đi cải tạo 18 năm. Mất Sàigòn nhưng đi học vẫn phải nói chuyện với đám tây đầm, cố gắng giải thích cho họ về chính nghĩa của Việt Nam Cộng Hoà trong khi 25% dân tây bầu cho Đảng cộng sản. Dân tây không ưa người Mỹ nên họ rất vui khi Sàigòn đầu hàng, chửi mình là tay sai cho đế quốc Mỹ còn đám Việt kiều yêu nước thì gọi mình là ngụy. Chán Mớ Đời 


Một hy vọng về Việt Nam, về gia đình trong tương lai bổng dập tắt khi các con tàu ra khơi tìm tự do trên biển Đông NAm Á khiến thế giới bàng hoàng. Những tin tức diệt chủng tại Cao Miên bởi nhóm khờ me đỏ. Sau khi xem cuốn phim Killing Fields, các khán giả tây không dám vỗ tay như thường lệ, ai nấy đều cuối mặt, không ngờ họ đã ủng hộ trước 75 những chế độ hà khắc, gian ác như vậy. Các nhà trí thức pháp khi xưa, ủng hộ Hà Nội nay quay lại chống Hà Nội như nhà văn Olivier Todd. Khi ông phạm Văn đồng qua tây xin tiền thì tuyên bố trên Paris Match có trên 2 triệu người miền nam trong các trại cải tạo.


Mình nghĩ hình ảnh của bà cụ tảo tần nuôi con đã giúp mình chịu khó học hành đến khi tốt nghiệp. Sống trong một căn phòng ô sin, mùa đông lạnh không có máy sưởi, mùa hè thì nóng chảy mỡ, dạo ấy gầy lắm. Đi làm dành dụm tiền để gửi về cho bà cụ nuôi mấy người em và cho vượt biển.


Vầng trăng chẳng chút phai mờ
Theo con đi suốt giấc mơ làm người
Mấy câu thơ "Mẹ Trùng Khơi" trên đã ấp ủ mình từ ngày xa Mẹ, rời Đà Lạt đi Tây. Mình cố gắng để một ngày gặp lại Mẹ như ông cụ mình đã gặp lại bà nội sau 40 năm.

Mùa Xuân, trước mặt mùa Xuân
Là đôi mắt Mẹ trong lần tiễn đưa

Con đi đâu con về đâu

Cuộc đời của mẹ là câu trả lời


Về Việt Nam, gặp bạn bè, ai nấy đều kêu mình sướng được đi tây trước khi Việt Cộng vô nhưng không ai hiểu rõ những gì người Việt tại hải ngoại phải chịu đựng về những mất mát tinh thần khi mất Sàigòn. Tại Việt Nam, cả nước, cả miền nam đều chung một số phận, còn ở hải ngoại thì người Việt rất cô đơn vì người ngoại quốc, bạn bè sở tại không hiểu những gì họ đang trải qua. Mất liên lạc gia đình, không tiền không bạc. Những ai đã đi làm thì không sao còn sinh viên là ngọng vì chủ nhà vẫn đòi trả tiền nhà. Mình chỉ quen hai sinh viên Việt Nam tại Paris, nhưng họ có bố mẹ di dân đến Pháp từ thời ông Diệm.


 Khi mình sang Ý Đại Lợi, có quen 4 anh sinh viên du học trước mình 2 năm thì họ rất te tua hơn sinh viên bên Pháp, ra trường trễ hơn vì phải tự túc tự cường, chính phủ Ý Đại Lợi không có chương trình giúp sinh viên quốc tế. Họ vẫn nuôi chí vững bền, học từ từ vừa học vừa đi làm để tốt nghiệp kỹ sư. Cách đây mấy năm, mình ghé thăm Milano, một anh bạn từ Torino, đáp xe lửa đến gặp mình, đi uống cà phê trong mưa để hổi tưởng lại những giây phút ngày xưa, chia nhau bát cơm, giúp đỡ nhau tiếp tục làm người dân Nam. Những đôi mắt này còn nhìn nhau còn hẹn một ngày. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo phơi nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 







Ngôi làng cao nhất âu châu trên núi Caucase


Trong chuyến đi viếng Georgia, một xứ thuộc khối Liên Xô cũ, mình chỉ thấy có ngôi làng cổ Ushguli ở cao độ 2,200 mét trên dẫy núi Caucase, chia đôi Âu châu và Á châu là rất lạ, được xem là khu vực người ở cao nhất ở Âu Châu còn các kiến trúc thời Liên Xô thì xem cho biết.

Trên đường đi lên núi ngăn đôi hai châu lục, mình thấy mấy tháp đài của thời trung cổ xây bằng bằng đá ở dọc hai bên bờ sông khá lạ. Xe ngừng lại Mestia ở cao độ 1,500 mét cao độ như Đà Lạt để ngủ qua đêm.

Sáng hôm sau thì xe SUV 4x4 đến chở tụi này lên núi viếng thăm một ngôi làng cổ vẫn còn giữ được nét cổ xưa, có lẻ ở xa phố thị vì ở Mestia có thấy nhiều tháp đài nhưng lẫn lộn với các kiến trúc nhà cửa hiện đại. Có một thành phố ở Ý Đại Lợi có các tháp đài tương tự nhưng cao hơn gấp đôi, ở vùng Toscana có tên là San Gimignano. Hoá ra hai thành phố này là sister cities.

Ngôi làng còn người ở cao độ cao nhất âu châu 2,200 mét với kiến trúc đặc thù.

Xe chạy lên núi mất đâu 2 tiếng vì đường xấu, nhiều nơi phải chạy qua các suối nhỏ rồi đến ngôi làng này. Xa xa chúng ta thấy đỉnh núi Shkhara, cao thứ 3 của Âu châu. Hai vợ chồng được đưa đi viếng thăm ngôi nhà thờ nhỏ nhắn được xây vào thế kỷ 12 tên Lamaria.


Ngôi nhà thờ này được xây trên điểm cao nhất làng, rất nhỏ so với những nhà thờ đã viếng thăm ở Georgia. Họ có mấy bức tranh vẽ trên tường khá đẹp nhưng cũng bị xoá nhiều trong thời Liên Xô. Mình thấy lần đầu tiên một ông linh mục lớn tuổi ở đây. Không thấy linh mục trẻ tuổi ở xứ này dù ông cố đạo được phép lấy vợ. Thắp một cây nến trong nhà thờ nhỏ bé.

Tường đá được xây từ thời trung cổ
Nhà được xây gắn liền với tháp đài phòng vệ, chỉ có một cửa ra vào
Mái nhà cũng được lợp bằng đá so với các nhà được làm thời liên xô hay gần đây bằng tôn 
Tấm ảnh chụp một gia đình Svan của vùng này
Căn nhà phía trong, trần nhà thấp để giữ nhiệt. Thấy cái cầu thang leo lên nơi trên loft để ngủ, phía dưới là để dê bò ngủ giúp sưởi ấm gia đình chủ nhà
Cái bếp ở giữa
Cái nôi để ru em bé và bàn ăn
Thấy thằng bé ngồi đập cái gì trong cái thố 

Cửa vào rất thấp, thấy đá vùng này từng thớt không dầy lắm, dễ xây không thấy họ trét gì cả để dính các miếng đá vào nhau

Ngôi nhà thờ trên cao 
Cửa vào nhà thờ cổ kính được xây từ thời trung cổ, mình thấy khung cửa rất lạ
Chi tiết của khung cửa được chạm trổ từng lớp. Du khách nhiều quá nên mình không thể ở lại xem xét kỹ hơn
Đỉnh núi  Shkhara, cao nhất phía Georgia  
Mình thích nhất màu của đá bị oxy hoá sau bao nhiêu năm
Phần dưới chắc đã được trùng tu lại với xi măng
Ngôi nhà thờ, một phần để ở, phần để thờ phụng Chúa và tháp đài để gia đình ông cố đạo chạy lên trên tử thủ khi quân xâm lược hay cướp bóc đến
Đồng chí gái đang tạo dáng trước đỉnh Shkhara 
Tháp đài tình yêu được trùng tu bởi một gia đình, và cho du khách thăm viếng kiếm tiền
Mình bò lên lầu 1 qua cái thang nhỏ
Lỗ châu mai để nhìn ra ngoài xem quân xâm lược, quân cướp 
Tầng cuối được làm lại với vật liệu nhẹ hơn 

Cầu thang leo lên lầu 2. Tối om ở trên quần thù bò lên đây là dã bị đạp tan xương
Lỗ lầu 1 nơi cầu thang leo lên


Đỉnh Shkhara cao thứ 3 ở âu châu
Mình thấy nhiều làng cổ như vậy dọc dường lên núi nhưng nhà cửa được xây dựng lại khá nhiều nên mất cái đẹp vật liệu chung.
Dãy núi Caucase chia đôi Âu Châu và Á Châu, mình ở bên Á Châu
Ăn sáng thấy có chả giò của họ. Họ cuốn phô mát dê bên trong rồi chiên. Mình ăn thử một cái thôi vì dầu mỡ hơi nhiều. Thích nhất là cái đĩa đựng trái ô líu, mình xơi hết mỗi lần ăn cơm còn phô mát thì thấy đã được kỹ nghệ hoá nên không đụng tới

Sau đó đi vòng vòng đến xem một căn nhà được xem còn giữ nét cổ xưa. Vùng thảo nguyên nên người ta nuôi bò, dê và trồng trọt. Khi các đạo quân Ottoman, Ba Tư xâm chiếm đánh phá các vùng này thì người dân leo lên mấy cái tháp đài, đóng chốt chỗ leo lên nên quân cướp không lên được. Muốn đốt tấm cửa cũng khó vì rất dày, xung quanh là đá ngay cả mái nhà. Trên đó họ để lương thực vài tháng cho gia đình ăn. Khi mùa đông đến thì quân cướp chỉ có rút lui vì rất lạnh ở cao độ 2,200 mét vì mùa đông tuyết phủ 6 tháng.


Mỗi căn nhà luôn gắn liền với tháp đài nên khi có chuyện là họ leo lên tháp với cung tên để bắn kẻ cướp. Dân địa phương có đặc điểm là cặp mắt của họ màu xanh. Người ta gọi là người Svan, cứ như người thượng du ở Việt Nam, nào là Ra đê, Nùng, Thái,… tóc họ màu đen. Bà nấu cơm cho tụi này ở khách sạn là người Svan, mắt xanh lá cây nhưng tóc đen. Bà ta thích đồng chí gái, cứ sờ sờ cánh tay của mụ vợ nhất là mình boa sau khi ăn thịnh soạn. Bữa cơm đầu tiên ở đây, bà ta nấu nhiều món đặc thù của vùng này. Xem như bữa cơm ngon nhất chuyến đi Georgia. Mình thích cơm Uzbekistan hơn,


Hiện nay làng này có 70 gia đình, độ 200 người ở. Khi viếng thăm căn nhà còn giữ nguyên vẹn lối trang trí cổ xưa khiến mình ngạc nhiên vì tương tự như một căn nhà ở trên núi Peru khi mình đi từ Saltankay về Machu Pichu. 


Căn nhà được chia hai tầng. Họ ngủ ở trên còn heo dê bò ở dưới vì mùa đông rất lạnh, có dê bò sưởi ấm, rất giống như ở quê bên Ý Đại Lợi mà mình viếng thăm nhà một cô bạn. Tối người ta vào chuồng bò để mấy bà đan áo cho bớt lạnh rồi tối đi ngủ thì họ nấu nước nóng bỏ trong cái túi nhựa, bỏ trên giường dưới cái mền cho ấm, để ngủ đến sáng mai.


Nghe kể là khi xưa có trên 300 căn hộ và tháp đài nhưng nay chỉ còn độ 30. Dân càng ngày càng thưa vì giới trẻ đi đến các tỉnh lớn để sinh sống, từ từ lối sống này sẽ bị mất. Nhất là thổ ngữ của họ sẽ biến mất một ngày. Trẻ em đi học tiếng Georgian sẽ không nói tiếng thổ ngữ. Họ có làm một cuốn phim về người Svan này, mình tính đi xem ở rạp nhưng nói thôi để về xem trên YouTube . Tối qua xem trên YouTube thì bắt đầu hiểu ý tưởng của họ xây các tháp đài dựa theo phong tục của vùng này. Họ giết người như ngoé. Cứ giận nhau là đâm chém nhau. Sinh sống tại các vùng có địa thế và thời tiết khắc nghiệt như vậy nên tính tình của họ rất bạo lực.


Đi Georgian chỉ có chỗ này mình thấy hay vì chưa bao giờ thấy lối kiến trúc một căn nhà nối liền với một tháp đài phòng thủ. Mỗi nhà mỗi tháp đài. Thường thì họ xây một cái thành xung quanh ngôi làng đây thì không. Mỗi nhà tự phòng thủ, một lối suy nghĩ khá lạ tự túc tự vệ. Dọc đường mình thấy rất nhiều ngôi làng với những tháp đài nhưng nhà ở đã được xây theo lối mới, mái nhà bằng tôn còn ở đây mái nhà làm bằng đá. 


Đó là văn hóa sẽ bị mai một khó mà cưỡng lại. Một văn hoá mạnh hơn sẽ giết một văn hoá khác khi kề cận. Ngoài ra còn tuỳ vào chính phủ. Một chính phủ có chính sách bảo tồn văn hoá xa lạ, khác lạ như Hoa Kỳ bỏ tiền ra để dạy các tiếng của các cộng đồng như người Việt, người Tàu,…mạnh nhất là người gốc la tinh. Cũng có những chính phủ với chính sách tiêu diệt các văn hoá khác, muốn đồng nhất một chính sách, sẽ tìm cách tiêu diệt như cấm nói thổ ngữ, không khuyến khích sự khác biệt.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo phơi nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Viếng thăm Trung Á, đế chế Temur


Hồi nhỏ học sử địa với mấy ông Tây, treo cái bản đồ to tổ chảng nói về Asiemineure, Asie Centrale đủ trò. Mình chưa tìm ra trên bản đồ Việt Nam, thị xã Đà Lạt mà ông Tây cứ giảng ở xứ nào về thời đồ đồng, đồ đá, đồ đểu nên đã ngu lại còn ngu lâu, ngu bền vững, ngu có chất lượng. Ông tây lại nói đại đế Alexander đi chinh phạt Con đường tơ lụa chi đó, khiến mình bị nhức đầu. 


Sau khi đế quốc Liên Xô xụp đổ thì bổng nhiên thế giới có thêm hơn 100 nước mới toanh ra đời, kêu gọi dành độc lập ở mấy cái vùng mà khi xưa ông tây giảng khiến mình chả hiểu gì cả. Nhiều nước đánh vần không được nên chịu. Năm ngoái mình đi Thổ Nhĩ Kỳ nên xem bản đồ thì mới nhớ những gì ông ta dạy khi xưa nên quyết chí viếng thăm mấy xứ này.


Năm nay hai vợ chồng đi Uzbekistan, một trong những nước nằm trên đường tơ lụa khi xưa, giao thương từ Âu châu sang Trung Quốc. Rồi đến quân Mông Cổ xâm chiếm rồi Ả Rập, đến mấy ông theo Lenin đến 1991. Thật ra Sa Hoàng đã chinh phục xứ này ở thế kỷ 19, đến khi ông Lênin cướp chính quyền với đảng cộng sản chỉ tiếp tục cai trị vùng này. Lại nhớ ông tây kêu quân đội Mông Cổ, đoàn quân độc nhất đã chinh phục được Nga, ngoài ra Nã Phá Luân là đồ bỏ vì khi xưa, mấy ông tây dạy về Nã Phá Luân ở điện Cẩm Linh trong lửa đỏ.

Tượng đài thời Liên Xô. Loại này mình thấy khá nhiều khi viếng các nước Đông Âu cũ.
Đánh dấu ngày động đất 26 tháng 4 năm 1966
Tượng đại nhìn tổng thể, có mấy cái đèn hơi vô duyên
 Thư viện cũ, nay chỉ tham quan và bán đồ lưu niệm. Khi đã viếng Abu Dhabi thì không còn muốn viếng những nơi khác. Mỗi thư viện hay trường học hồi giáo này được trùng tu lại vì dưới thời cộng sản thì họ không cho sử dụng, làm nhà kho hợp tác xã. Nay họ gắn gạch men, tô màu phía ngoài để du khách tham quan, kiếm tiền nhưng cũng cho thấy gia tài văn hoá của họ từ lâu đời.

Tại đây người ta hay nói về thời Liên Xô như một thời vàng son. Sau khi tuyên bố độc lập thì xứ này cũng lộn xộn khắc phục để vươn lên. Nói chuyện với người lớn tuổi sinh ra thời Liên Xô thì ai nấy đều tiếc nuối thời vàng son. Thời làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu. Nay phải cực lực phấn đấu, làm ngày chưa đủ tranh thủ làm đêm để có miếng ăn. 


Đây là lần đầu tiên mình viếng thăm một xứ thuộc Liên Xô cũ. Nhà cửa xây dựng theo xã hội chủ nghĩa khá nhiều. Nay có nhiều nhà cao tầng đang được xây cất do ngoại quốc như tnk đầu tư. Có mấy nơi các tượng đài LÊNIN được thay thế bởi trái cầu. Có nhiều đại lộ lớn chắc để duyệt binh khi xưa. Được cái là hai bên đường có trồng cây rất nhiều nên nhân dân có ra xem các anh hùng duyệt binh thì cũng đỡ bị ăn nắng.


Nói chung thì giới sinh ra trước thế kỷ 20 thì đa số nói tiếng Nga, còn giới trẻ ngày này thì nói tiếng anh nhiều hơn. Dân họ nói tiếng Uzbek nhưng có nhiều chủng tộc nên ở nhà chắc họ dùng thổ ngữ của họ. Hướng dẫn viên của mình ở Samarkhand kêu là người gốc Tajikistan nhưng vẫn tự xem là người UZbek. Nghe nói có đến hơn 162 chủng tộc sinh sống tại xứ này.


Máy bay quá cảnh tại Istanbul, 2 vợ chồng đến phi trường này lần thứ 3 trong vòng 1 năm qua. Hai vợ chồng phải đợi chuyến bay đến Tashkent mất 8 tiếng đồng hồ. Hai vợ chồng ăn ở phòng đợi của hãng hàng không Thổ Nhĩ Kỳ. Phải công nhận chỗ này họ cho ăn ngon mê luôn. Mình mê thức ăn Thổ Nhĩ Kỳ. Được cái là phi trường này đẹp, nhất là nơi phòng đợi họ cho ăn mệt thở. Mình thích đồ ăn Thổ Nhĩ Kỳ, được ăn món bánh bagel thổ lần đầu tiên với bơ thay vì cream cheese như người do Thái. Trong vùng này mình thích trở lại Thổ Nhĩ Kỳ chơi. Mướn căn phòng độ vài tuần rồi ngày ngày đi ăn thức ăn dành cho dân địa phương. 


Đến phi trường Tashkent thấy dấu hiệu tàn dư của chế độ cũ. Phi cơ cũ hết bay nằm rải rác. Trên 60 tuổi thì không phải xin visa nếu ở có 30 ngày. Phi trường cũng không đặc sắc lắm, mới trùng tu, có lẻ không có tiền vì du khách đến từ Nga nhiều hơn là âu châu. Nay thì chỉ có du khách Nga vì khó đi chỗ khác trong thời chiến với Ukraine. Gặp toàn là du khách Nga và ấn Độ.


Ra khỏi Hải quan thì gặp cô hướng dẫn viên, lên xe chở đi ăn sáng vì đến 8:00 sáng. Họ chở đến một tiệm ăn nổi tiếng Thổ Nhĩ Kỳ. Mình vừa ăn suốt 8 tiếng đồng hồ ở phi trường Thổ Nhĩ Kỳ. Chán Mớ Đời. Họ cho biết là từ vài năm đổ lại, người Thổ Nhĩ Kỳ sang đây mở cửa tiệm ăn rất đắt khách. Thấy người Thổ Nhĩ Kỳ đầu tư xây nhà cao tầng. Hướng dẫn viên tự hỏi ai có tiền để mua vì đắt. GDP của họ thấp hơn Việt Nam gấp đôi nhưng không thấy dân họ đi lao động quốc tế.


Tashkent bị động đất vào thời Liên Xô nên bao nhiêu nhà cổ xưa bị hủy hoại khá nhiều. Sau ngày độc lập thì họ có cho tu bổ lại nay thu tiền du khách. Nói chung họ không kéo réo du khách để bán đồ như ở Thổ Nhĩ Kỳ. Hướng dẫn viên dẫn đi viếng các di tích hồi giáo  được trùng tu nhưng một khi đã viếng thăm nhà thờ ở Abu Dhabi thì hết muốn xem. Đi xem vì khi xưa, học lịch sử kiến trúc, ông tây có cho xem và giảng về kiến trúc của hồi giáo, văn mình hồi giáo rất cao một thời. Nhờ những khoa học gia hồi giáo đã phát sinh ra toán học, thiên văn để sau này người âu châu mới sử dụng để phát triển nhanh chóng. Người Mỹ thường nghĩ đến người hồi giáo là những tên khủng bố đặt bom. Ít ai nghĩ họ có một nền văn mình tuyệt đỉnh khi xưa, trong khi âu châu còn chìm trong thời trung cổ ngu muội.


Hai vợ chồng bị trái múi giờ nên hơi đờ, mắt nhắm mắt mở. Có đến xem biệt thự của Romanov sa hoàng. Ông này bị Alexander Romanov đuổi cổ khỏi cung điện nga nên chạy qua đây để giữ mạng sống trong cuộc tranh dành quyền lực ai lên làm sa hoàng. Viếng thăm nhà thiên văn được xây dựng ở thế kỷ 14, may được các kỹ sư người nga, buồn đời tìm ra, họ phải tự học Farsi để mò lần ra những khu di tích lịch sử của nền văn mình khu vực này Trung Á này. Tương tự người Pháp, khi xâm chiến Đông-Dương cũng cho người của họ đi thám hiểm khám phá ra nền văn mình của 3 xứ này mà người của 3 xứ này chả biết gì cả về nền văn mình của họ.


Nói chung thì cây cối, công viên rất nhiều. Họ không chặt cây xây nhà như điên như tại Việt Nam. Công viên cây cối rất nhiều. Cảm thấy nhẹ nhàng, dễ thở. Phụ nữ thì lai đủ loại nên có người đẹp có người cực xấu. Người cao lêu nghêu, người thấp như á châu. Đi tới đây mới hiểu vì sao một cô gái Á Phủ hãn trong trại tỵ nạn được National Geography bầu có cặp mắt đẹp. Đi chơi về mình sẽ kể rõ hơn về nền văn mình hồi giáo mà mình rất thán phục.


Về khách sạn lấy phòng tắm rửa xong ngủ một giấc rồi đi ăn. Họ chở đến một tiệm ăn của dân địa phương trang hoàng theo Mỹ thuật của hồi giáo khá bắt mắt. Đồ ăn rất ngon nhất là món bánh mì mặt trời. Rau cải rất tươi nhất là trái cây. Dưa hấu tươi ngon. Ăn xong về ngủ. Nữa đêm thức giấc. Rau cải ở đâu, tươi không thể tả, chắc mới hái trong ngày. Ngày nào cũng ăn như điên.

Tiệm ăn tối qua, không có du khách, toàn là dân địa phương, ăn xong họ nhảy múa gì, thấy toàn là phụ nữ múa. Nội thất theo lối cổ xưa, chỉ mới được 12 năm. Kiến trúc nội thất được lấy lại các mẫu cổ xưa của văn hoá họ thay vì vay mượn từ các ông Bolchevits
Bánh mì của họ với dấu hiệu mặt trời, chua chua như sourdough và mè đen. Các nhà dinh dưỡng khuyên ăn bánh mì nên ăn loại này giúp thực tràng Họ chấm mấy cái lỗ theo hinh vẽ. Loại bánh mì này dầy, ăn hơi cứng tốt, hơn là loại bánh mì ở bôn sa, bỏ bột nổi phình ra, ruột mềm xèo, rỗng. Không tốt cho sức khoẻ.
Đồng chí gái trước tiệm ăn, các loại gạch men trang trí khá đẹp.

Sáng nay, xe đến đón, khách sạn làm sẵn đồ ăn sáng cho mình trong cái giỏ để đem lên xe lửa ngồi ăn nhưng hai vợ chồng dậy sớm nên vào tiệm ăn điểm tâm. Rất ngon. Sau đó mình tặng ông tài xế hai giỏ thức ăn. Ra ga xe lửa để đi tàu cao tốc do Tây Ban Nha xây dựng. Chạy đúng giờ. Có một hệ thống thường xe lửa chạy chậm hơn do đại Hàn thực hiện. Theo mấy tấm ảnh cũ vẽ trên tường khi xưa thì thấy có nhiều hình ảnh của các sứ thần đại hàn, mình đoán là MÃn Châu nhưng hướng dẫn viên kêu là đại hàn.


Nghe kể từ khi dành được độc lập, có ông tổng thống đầu tiên tại vị được 27 năm. Ông ta qua Tây Ban Nha chơi thấy xe lửa Talgo ngon lành nên ký kết thực hiện khá nhanh so với Cát Linh nhờ người Tàu làm. Ông tổng thống thứ 2 đang làm lại hiến pháp để làm tổng thống đến khi chết. Thấy họ xây dựng các tượng cha già dân tộc ngoài phố.


Sau khi dành độc lập thì chỉ có Nam Hàn bò lại đầu tư. Hoa Kỳ mở cơ sở chế tạo xe hơi Chevrolet nên ra đường chỉ thấy toàn là xe Chevrolet và coca, pepsi. Có một số xe đại Hàn. Lèo tèo vài tiệm ăn Hàn Nhật và tàu. Chưa thấy tiệm nail của người Việt. Có đi đây mình mới hiểu ý tưởng của Trung Cộng làm lại con đường Tơ Lụa vì sẽ tạo công ăn việc, sự phồn thịnh cho vùng này. Nếu Trung Cộng không chơi cha làm bẩy nợ thì chắc chắn tương lai vùng này sẽ giàu có vì có nhiều núi mõ khoáng sản. Các nước trong vùng không có biển kiểu xứ Lào nên đường xe lửa cao tốc là ý tưởng tốt. Xem bản đồ đường Tơ Lụa khi xưa thì thất kinh. Đi đây mới hiểu mấy ông Mỹ bò đến mấy xứ này, đầu tư công thêm có chút tư duy sau này về chính trị, buôn bán cho vùng này.


Họ mới dành độc lập từ năm 1991, xem như 32 năm, đã có đường xe lửa cao tốc, hãng chế tạo xe hơi, mình có xem mấy con sông thì chưa thấy ô nhiễm. Dân họ có nhiều chủng tộc; da trắng da vàng, lai đủ thứ giống cũng có. Trước 1991 có đến 15% người nga sinh sống tại đây sau đó họ về nga lại. Dân đủ nơi đến từ bao nhiêu năm. Ra đường thấy giống da vàng có , lại da vàng cũng có, nói chung thì dân cũng hiền hòa. Luật pháp ở đây nghiêm ngặt, ăn cắp xe hơi là đi tù 15 năm tối thiểu nên họ nói không sợ mất xe. Nói chung cũng ít du  khách vì có lẻ cuối hè, thêm chiến tranh cũng không xa biên giới lắm. Du khách Nga cũng giảm bớt.


Có ra công trường kỷ niệm ngày động đất ở Tashkent được xây dựng thời Liên Xô. Cô hướng dẫn viên chỉ có 6 tuổi lúc xẩy ra ngày độc lập nhưng khi nói chuyện, cô ta có vẻ khen bài bản về nhân dân khắp nơi của Liên Xô, gửi vật liệu đến xứ này để xây dựng lại. Nhân dân liên xô dạo ấy với khẩu hiệu lá lành đùm lá rách, chi viện cho nhân dân xứ này đủ thứ như đem con nít về nuôi, vật liệu để xây dựng lại thành phố.


Mình ở phía Tây nên theo Tây còn người sinh ra dưới đế chế Liên Xô thì họ chỉ nói lên những việc xẩy ra thời đó tại xứ sở họ. Cho thấy tuyên truyền có những tai hại, tạo dựng một hình ảnh một chiều về một chế độ. Có đi mới hiểu được cảm nghĩ của người sinh ra tại liên Xô. Bớt độc đoán. Nói chung thì người Nga khai phá lại văn hoá của xứ này khá nhiều vì bị chôn vùi từ lâu, khi con đường Tơ Lụa không được sử dụng nữa khi người âu châu dùng tàu để di chuyển thay vì các con lạc đà trong sa mạc. Lúc đầu họ đi sang Ấn Độ rồi tình cờ ông Kha Luân Bố, say rượu hay sao lại đón buồm đi về hướng tây, thấy Mỹ Châu nên họ không muốn đi đường chậm rì với mấy con lạc đà dỡ hơi. Thuyền bè thì chở đồ nhiều hơn mấy con lạc đà. Thế là vùng Trung Á này ngọng đến thế kỷ 20, khi liên xô xụp đổ nên thiên hạ mới bò lại kiếm ăn.


Có đến một khu phố cổ của thành phố, thấy họ gắn ống ga và ống nước khơi khơi trên tường hay bắt ngang đường đi một cách vô tư thay vì chôn dưới đất. Động đất một cú nữa là nổ cháy nhà mệt thở.

Tashkent không có gì đặc sắc để ngưng lại nhiều ngày. Có hai thành phố nằm trên đường Tơ Lụa là Samarkhand và Bukhara, có nhiều di tích lịch sử để viếng thăm. Do đó hai vợ chồng ở lại một ngày một đêm rồi lấy xe lửa cao tốc đến Samarkhand, cách 2.5 tiếng tàu lửa còn lái xe thì mất 5 tiếng.


Giới già thì nói tiếng Nga còn giới trẻ sau 1991 thì đa số nói tiếng anh, mình thấy toàn là các tiệm bán đồ xịn của Tây âu và mỹ như Polo, Gucci, nhất là Pepsi, Hot Dog và burgers mọc đầy khắp thành phố.


Trên đường đi thì thấy hai bên đường nhà cửa và ruộng trồng bắp, chắc mùa, cũng lụp xụp nghèo nàn. Đa số sống cạnh các con sông vì vùng đất sa mạc, không có núi cao lắm.


Đồng chí gái trước xe lửa cao tốc do Tây Ban Nha thực hiện

Thấy dân họ cũng xeo-phì mệt thở trong khi đợi xe lửa. Lần đầu tiên đi xe lửa cao tốc xứ này nên du khách xeo phì nhiều. Nhìn các bà đội khăn đầu xeo phì khiến mình buồn cười vì hơi xa những lời kính thánh Coran. Xe lửa cao tốc thì mình thích nhất ở Nhật Bản, bên âu châu thì không bằng.


Xem như mình đã đến được vùng Trung Á mà mấy ông tây dạy khi xưa, chả hiểu đâu là đâu. Dạo ấy Sàigòn còn chưa biết là ở đâu. Nay thì định vị được xứ này. Dân chúng hiền hoà, thức ăn và tươi nhất là rau cải và trái cây. Ăn ở đây thấy khác xa mùi vị ở Cali. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo phơi nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn