Hiển thị các bài đăng có nhãn Đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Đầu tư. Hiển thị tất cả bài đăng

Tourane-Faifoo (Hội An) tramway, 10 năm tình cũ 1905-1915

 Tourane-Faifoo (Hội An) tramway 1905-1915

Vợ mình sinh ra ở Huế nhưng lớn lên tại Hội An 13 năm nên mình hay tò mò đọc tài liệu về Hội An mà người Pháp thường gọi là Faifoo, chắc tiếng tàu là Hải Phố (phố biển). Hôm nay tình cờ thấy một bài viết cộng hình ảnh về tuyến đường xe điện từ Tourane (Đà Nẵng) đến Faifoo (Hội An) do người Pháp thực hiện khi xưa nhưng chỉ hoạt động 10 năm thì đình chỉ. Công ty thực hiện tuyến đường khai phá sản. Ngạc nhiên là thấy một người ngoại quốc, gốc Ái Nhĩ Lan, tên Tim Doling, hình như lập gia đình với người Việt, ông ta có thời làm việc tại Việt Nam với Ford Foundation, lại nghiên cứu về hoả xa Việt Nam tương tự như ông Bill Robie, người Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam cũng yêu mến và nghiên cứu về các đường xe lửa Việt Nam thời tây để lại.

Đầu máy Decauville mua lại từ vùng Lạng Sơn

Xin tóm tắc như sau:


Sau khi Pháp kiểm soát Tourane (Đà Nẵng) năm 1888, Hội An vẫn là điểm trung chuyển hàng hóa quan trọng, nhưng sông Cổ Cò ngày càng bị bồi lấp khiến việc vận chuyển hàng bằng thuyền đến Tourane trở nên khó khăn. Thương nhân buôn trà tại Hội An tên Dérobert là người đầu tiên đề xuất xây tuyến xe điện hơi nước thay thế sông Cổ Cò, được Phòng Thương mại Tourane ủng hộ, nhưng chính quyền bảo hộ Trung Kỳ bác bỏ vì tuyến đề xuất chạy dọc bờ tây sông Cổ Cò, đúng địa điểm hành lang đã dành cho tuyến đường sắt Bắc–Nam tương lai.


Mò thêm tin tức, các nguồn lưu trữ thuộc địa Pháp (geneanet.org, entreprises-coloniales.fr) cho biết về gia đình/công ty Dérobert tại Faifo: Công ty “Dérobert et Fiard” Một bài báo trên tờ Le Salut Public (25/8/1896) nhắc đến ông Henri Dérobert, thương nhân (négociant), cư trú tại Faifo, cùng với ông Joseph Fiard, cũng là thương nhân, hai người lập công ty thương mại chung mang tên Dérobert et Fiard. Chính “thương nhân buôn trà Dérobert tại Faifo” là người đầu tiên đề xuất ý tưởng tuyến xe điện Tourane–Faifo vào cuối thập niên 1890.


Ít nhất hai người mang họ Dérobert hoạt động thương mại tại Faifo, theo danh sách cử tri Phòng Thương mại hỗn hợp Trung Kỳ (Chambre mixte Annam): Henri Dérobert — négociant (thương nhân), Faifo, Jean-Marie Dérobert — négociant (thương nhân), Faifo. Có thể đây là hai anh em hoặc cha con cùng kinh doanh tại Faifo. Một chi tiết gia đình liên quan Tài liệu về khách sạn Morin ở Huế nhắc đến một bà Jeanne Dérobert (sinh tại Faifo năm 1894, mất tại Tourane năm 1925), kết hôn năm 1914 với ông Wladimir Morin, có thể là con gái của một trong hai ông Dérobert nói trên, cho thấy gia đình này đã định cư và làm ăn lâu dài tại khu vực Faifo–Tourane qua nhiều thế hệ. Bác nào dân Hội An có tài liệu gì thêm thì cho em xin.

Nhìn chung, tư liệu không cho biết nhiều hơn về quy mô hay mặt hàng cụ thể mà công ty Dérobert et Fiard kinh doanh ngoài việc buôn trà nhưng việc họ đủ ảnh hưởng để đề xuất và vận động xây cả một tuyến xe điện cho thấy đây là một trong những thương gia Pháp có tiếng nói đáng kể tại Hội An cuối thế kỷ 19.

Đầu máy xe lửa tại nhà ga Đà Nẵng (Tourane)
Thấy tuyến xe chạy về Mỹ Khê








Năm 1901, Ulysse Pila và cộng sự J. B. Malo, công ty Société des docks et houillères de Tourane (SDHT) của họ vừa tiếp quản mỏ than Nông Sơn và giành được nhượng quyền xây cảng nước sâu tại Mũi Đài Quan Sát, hồi sinh ý tưởng này theo một hướng tuyến mới, nối cảng tương lai với Hội An qua bán đảo Sơn Trà/Tiên Sa. Năm 1903, chính quyền thuộc địa cho phép SDHT xây tuyến dài 35,5 km, cấp nhượng quyền 60 năm, đồng thời tặng một lượng lớn đường rày, thiết bị tín hiệu và đầu máy toa xe khổ 0,6m dư thừa từ tuyến Phủ Lạng Thương–Lạng Sơn (Bắc Kỳ), vốn vừa được nâng cấp thành đường sắt khổ 1m năm 1899–1902. Tuy nhiên lô thiết bị này về trễ và khi đến nơi thì đã hư hỏng nặng. Thấy mệt rồi. HÌnh như mình có thấy xe tram kiểu này tại Lisboa, Bồ Đào Nha.


SDHT xây tuyến với kỳ vọng hải cảng Mũi Đài Quan Sát sẽ hoạt động kịp lúc, nhưng dự án hải cảng không bao giờ được bộ ngành phê duyệt nên thiếu vốn xây dựng. Ngày 9/11/1905, SDHT khai trương đoạn 9,5 km đầu tiên từ Mũi Đài Quan Sát đến Tourane Mỹ Khê, nhưng do không có cách bốc dỡ hàng tại đó, tuyến chỉ phục vụ ít hành khách địa phương mang hành lý tay. Than antraxit Nông Sơn khó và tốn kém khai thác; cộng với gián đoạn thương mại do Chiến tranh Nga–Nhật và thị trường than thế giới bão hòa, SDHT phá sản đầu năm 1906. Tuyến bỏ hoang một thời gian và bị bão tàn phá. Thế là ngọng.


Tháng 10/1906, tuyến đường được giao cho Chemins de fer de l’Indochine (CFI) quản lý. CFI xây tiếp 26 km còn lại, tân trang đầu máy toa xe, xây ga mới, và thêm nhánh ngắn từ Tourane Mỹ Khê đến Tourane Fleuve (bờ đông sông Hàn), nơi phà chở khách và hàng qua sông tới ga chính Tourane Marché. Tuyến chính thức mang tên “Tramway de l’Îlot de l’Observatoire”, khai trương công chúng ngày 1/10/1907, gồm 10 ga: Îlot de l’Observatoire (km 0), Tiên Sa (km 1), Đồn điền Guérin (km 5), Tourane Mỹ Khê (km 9,5, có nhánh 0,5km tới Tourane Fleuve/Rive-droite), Ngũ Hành Sơn (km 17,5), Cẩm Sa (km 26), Cồ Lưu (km 28), Thanh Hà (km 31), và Hội An (km 35,5). Depot bảo dưỡng đầu máy đặt tại Tiên Sa. Mỗi ngày có 3 chuyến khứ hồi (2 sáng, 1 chiều). Khách chủ yếu là người đi từ Tourane sang Hội An, họ qua sông từ Tourane Marché đến Tourane Rive-droite rồi đi tiếp bằng tàu điện, thay vì đi đường bộ gập ghềnh bằng xe ngựa hay xe kéo tay.


Tàu vào Hội An theo các phố ngày nay là Nguyễn Tất Thành và Lý Thường Kiệt, dừng ở ga góc đông bắc giao lộ Lý Thường Kiệt/Nguyễn Trường Tộ, rất tiện cho vài viên chức Pháp làm việc gần đó (khu Tòa Công sứ Pháp tại Quảng Nam), nhưng lại khá xa khu bến cảng, nơi lẽ ra là đích đến của phần hàng hóa ít ỏi mà tuyến chuyên chở. Chắc bố vợ mình khi xưa làm việc tại đây.


Vị trí ga cuối bất tiện chỉ là vấn đề nhỏ nhất. Giống các tuyến Decauville khác ở Đông Dương, tuyến liên tục gặp trục trặc kỹ thuật, trở thành trò cười trong dân gian. Khi đường bộ ngày càng phổ biến, lượng khách giảm, chi phí vận hành tăng vọt. Ngày 27/10/1915, một trận bão phá hủy nền đường quanh khu vực Ngũ Hành Sơn, chính quyền Trung Kỳ buộc phải tạm ngừng hoạt động, và tuyến đóng cửa vĩnh viễn ngày 31/12/1915, sau đúng 8 năm phục vụ. Ngay sau đó, đường ray bị tháo dỡ, đầu máy toa xe và thiết bị được rao bán. Phần lớn nền đường cũ được chuyển thành đường bộ.


Năm 1951, cầu đầu tiên bắc qua sông Hàn được xây dựng, cầu dài 520m do hãng Établissements Eiffel thiết kế, ban đầu mang tên Pont Maréchal-de-Lattre-de-Tassigny, phục vụ cả đường bộ lẫn đường sắt. Một nhánh đường sắt quân sự được lắp từ tuyến chính Bắc–Nam băng qua cầu sang bờ đông, rồi chạy dọc 3,5 km theo nền đường tàu điện cũ để phục vụ căn cứ quân đội tại An Đồn (An Hải).


Năm 1955–1956, để mở rộng sân bay Đà Nẵng, chính quyền miền Nam Việt Nam cho tuyến đường sắt chính Bắc–Nam đi vòng theo “déviation de Phông Lê” phía tây thành phố, nhưng vẫn giữ lại một đoạn ngắn của tuyến cũ để phục vụ nhánh quân sự qua cầu (khi đó đã đổi tên là Cầu Trịnh Minh Thế) lên căn cứ An Đồn.


Sau khi quân đội Mỹ đổ bộ năm 1965, lưu lượng quân sự Mỹ qua cầu tăng mạnh, nên năm 1966–1967, tổ hợp xây dựng Mỹ RMK-BRJ xây thêm một cầu đường bộ riêng gọi là Cầu Nguyễn Hoàng, ngay cạnh Cầu Trịnh Minh Thế. Tuyến đường sắt qua Cầu Trịnh Minh Thế tiếp tục hoạt động đến cuối thập niên 1960 thì bị bỏ, chỉ còn lại đoạn tiếp cận từ Ga Đà Nẵng đến bờ tây sông.


Tuyến đường (35,5 km, 10 ga) Tuyến chạy từ Îlot de l’Observatoire (km 0) qua Tiên Sa (km 1), Đồn điền Guérin (km 5), Tourane Mỹ Khê (km 9,5, có nhánh rẽ đến bến sông Tourane), Montagne de Marbre (Ngũ Hành Sơn) (km 17,5), Cẩm Sa (km 26), Cồ Lưu (km 28), Thanh Hà (km 31), và cuối cùng là Faifo/Hội An (km 35,5). Một depot (kho đầu máy) được xây tại Tiên Sa, và mỗi ngày có ba chuyến khứ hồi, hai chuyến buổi sáng, một chuyến buổi chiều.

Vì sao tuyến chưa bao giờ thực sự thành công, vì trục trặc kỹ thuật kinh niên. Giống như các tuyến Decauville khác ở Đông Dương, tuyến xe điện này liên tục gặp sự cố kỹ thuật, khiến nó trở thành trò cười trong dân gian địa phương. Nhiều tuyến đường sắt/xe điện khổ hẹp khác ở Đông Dương cũng dùng thiết bị của hãng Decauville (Pháp) và cũng gặp vấn đề kỹ thuật tương tự. Một số tuyến Decauville đáng chú ý khác ở Đông Dương thời đó gồm:

Tuyến Phủ Lạng Thương – Lạng Sơn (Bắc Kỳ) — chính là nguồn cung cấp ray và đầu máy cũ cho tuyến Tourane–Faifo, sau được nâng cấp thành đường sắt khổ 1m giai đoạn 1899–1902.

Tuyến xe điện Sài Gòn – Chợ Lớn và một số tuyến xe điện, xe lửa mía đường, đồn điền ở Nam Kỳ.

Các tuyến xe điện phục vụ khai thác mỏ hoặc đồn điền rải rác ở Trung Kỳ và Bắc Kỳ.


Đầu máy Decauville khổ hẹp (thường 0,6m) vốn được thiết kế cho mục đích tạm thời, dã chiến, dễ lắp đặt nhanh, chi phí thấp, nhưng độ bền và độ tin cậy kém, đặc biệt khi vận hành lâu dài trong điều kiện khí hậu nhiệt đới ẩm và địa hình khó khăn. người Việt thường kêu đồ Tây tốt. Chán Mớ Đời 


Khi giao thông đường bộ trở nên phổ biến hơn vào những năm 1910, lượng hành khách giảm trong khi chi phí vận hành ngày càng tăng.


Ngày 27 tháng 10 năm 1915, một trận bão khác phá hủy nền đường quanh khu vực Ngũ Hành Sơn, khiến chính quyền Trung Kỳ (Annam) phải tạm ngừng hoạt động. Tuyến chính thức đóng cửa vĩnh viễn vào ngày 31 tháng 12 năm 1915, sau vỏn vẹn tám năm hoạt động. Đường ray và các công trình sau đó bị tháo dỡ, một đoạn gần Sơn Trà sau này được tái sử dụng sau năm 1975 cho một tuyến đường sắt cảng chạy theo đúng hành lang cũ.


Buồn đời mình tìm thêm tài liệu về công ty xe điện Decauville thì khám phá ra được thành lập bởi một nông dân. Công ty Decauville, thành lập năm 1875, là nhà sản xuất thiết bị đường sắt và bốc dỡ hàng hóa, cũng như xe đạp và ô tô. Người sáng lập, Paul Decauville (1846–1922), vốn xuất thân là một nông dân trồng củ cải đường kiêm chủ xưởng chưng cất rượu. 


Vào mùa thu năm 1875, một lượng lớn 9.000 tấn củ cải đường bị mắc kẹt trên những cánh đồng sũng nước và khó tiếp cận. làm sao để vận chuyển số củ cải này đến nhà máy tinh chế, Paul Decauville đột phá tư duy, quyết định sử dụng một tuyến đường sắt di động, lấy cảm hứng từ những hệ thống đã có sẵn. Nhắc lại là di động nghĩa là có thể dỡ lên và đặt xuống nhanh chóng.


Hệ thống bao gồm đường rày di động khổ hẹp, từ 0,40 đến 0,60 mét, có thể tháo rời và vận chuyển theo từng đoạn. Xưởng chế tạo Decauville đã thành công trong việc thiết kế một loại đường rày vừa chắc chắn vừa nhẹ, hai đặc tính không thể thiếu: dễ lắp đặt và tháo dỡ, đủ bền nhưng cũng đủ nhẹ để di chuyển đến bất cứ nơi nào cần thiết. Thành công lớn đến mức Paul Decauville đã từ bỏ hẳn nghề nông dân trồng củ cải đường để trở thành một nhà công nghiệp thực thụ, và hệ thống này đã giúp ông giành huy chương vàng tại Triển lãm Thế giới năm 1878.


Ngay từ cuối những năm 1870, chưa đầy năm năm sau khi ra mắt, tuyến đường sắt di động đã được xuất cảng ra nước ngoài, trước tiên sang Bỉ, rồi đến các nước châu Âu khác, trong đó có Anh. Những đường ray nhẹ khổ 50–60 cm này được dùng trong nông nghiệp để thu hoạch, trong hầm mỏ để vận chuyển quặng, và thậm chí để chở người trên những quãng đường dài đến vài trăm ki-lô-mét. Thị trường của Decauville nhanh chóng vươn ra toàn cầu, với các cơ sở đặt tại Trung Hoa, Nam Mỹ, Úc, và tất nhiên cả Đế quốc thuộc địa Pháp. Một nhà máy rộng vài nghìn mét vuông được khánh thành năm 1884 tại Corbeil.


Từ năm 1908, Decauville bắt đầu chế tạo đầu máy khổ đường sắt một mét, chủ yếu dành cho các thuộc địa Pháp, là giai đoạn sản sinh ra loại đầu máy 0-4-4-0 kiểu “Mallet” từng được sử dụng trên tuyến Tourane–Faifo. Đến năm 1932, công ty chuyển hướng chuyên môn hóa sang chế tạo xe ray tự hành (autorail) cho cả khổ đường mét lẫn khổ tiêu chuẩn.


Khái niệm này, được giới thiệu tại Triển lãm Thế giới Paris năm 1885, sau đó được các nhà công nghiệp khác tiếp tục phát triển và mang một ý nghĩa bi thảm khi được dùng để tiếp tế cho mặt trận trong cuộc chiến 1914–1918, chính là những chuyến tàu “Decauville” nổi tiếng ở Verdun.


Tóm lại, tuyến đường ra đời từ một dự án cảng nước sâu đầy tham vọng nhưng sụp đổ, được chính quyền thuộc địa hồi sinh, rồi cuối cùng lại bị chính loại thiên tai từng hủy hoại lần đầu tiên đánh gục, trong khi thiết bị kém tin cậy và sự cạnh tranh ngày càng tăng từ đường bộ đã làm suy yếu nó từ trước.


Annam – Tourane – L’Îlot des docks – La rade

Lần sau về Hội An, chắc mình sẽ bỏ thêm thì giờ đi viếng mấy chỗ này.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Nhà thơ Ocean Vương

Nhà thơ gốc Việt Ocean Vương


Có lần em họ của đồng chí gái từ San Jose xuống thăm con học đại học UCLA, tối hai cha con ngủ lại nhà mình. Sáng ra, mình đi tập Đông Phương Hội về thì gặp thằng cháu ngồi đọc sách trong thư viện của mình. Nó nói không ngờ đọc được cuốn sách anh ngữ về chiến tranh Việt Nam rất thú vị, khám phá nhiều điều khá hay, xa lạ chưa bao giờ biết. Sau đó mình ngồi nói chuyện với nó, thằng con và người em họ.


Mình giải thích thêm về chiến tranh Việt Nam, mình phải đọc sách báo Hà Nội, Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà, pháp ngữ,…. Để có một nhận định rõ hơn một tí thay vì chủ quan theo một chiều. Rồi câu chuyện xoay qua giới trẻ người Mỹ gốc việt. Mình nói đến thế hệ sau này có nhiều người đã vào dòng chính Hoa Kỳ, đã can đảm nói lên sự hội nhập của người Việt tỵ nạn. Có nhiều người đã không đi theo con đường mà đa số phụ huynh mong muốn là con học y khoa, nha khoa, hay tối thiểu là kỹ sư mà đi theo con đường về khoa học nhân văn như Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương khiến thằng cháu ngạc nhiên, không ngờ mình biết đến những người này. Mình nói phải theo dõi chớ để xem người Việt cống hiến vào mảnh đất đã cưu mang họ, cũng như mình đọc sách xuất bản từ Hà Nội để hiểu thêm về văn hoá Việt Nam ngày nay.


Bố nó thì ngọng, kêu không biết gì về chiến tranh, lịch sử Việt Nam hay văn chương mỹ hiện đại. Trẻ hơn mình, vượt biển khi còn bé. Sang đây đi học ra kỹ sư làm cho IBM đến giờ. Không biết gì về lịch sử Việt Nam cận đại. Nên khi con hỏi thì người em họ ngọng thôi. Mình nói thằng cháu là mình không thích hát karaoke nên khi rảnh thì đọc sách báo cho qua ngày tháng. Có vợ chồng anh bạn, tiến sĩ dạy đại học tại Hoa Kỳ, kể là khi đi học cũng không rành về lịch sử Việt Nam. Nên khi người Mỹ hỏi thì ngọng. Do đó chúng ta cần tìm hiểu thêm về vấn đề này để trả lời cho người Mỹ nhất thế hệ con của chúng ta.


Tuần này mình mới mua đọc cuốn sách mới ra của nhà thơ Ocean Vương có tựa đề “The Emperor of Gladness” (hoàng đế của niềm vui). Rất hay thường ông này ra sách về thơ của ông ta như cuốn sách bán chạy On Earth We’re Briefly Gorgeous và The Emperor of Gladness. Ông ta là người Việt thứ 2, nhận được MacArthur “Genius Grant” và giáo sư dạy sáng tác văn chương tại New York University. Người đầu tiên là bác Huỳnh Sanh Thông, chống đối chính sách mỹ tại Việt Nam nên bị trù dập không tìm được việc tại Hoa Kỳ, sau được đại học Yale, mướn và bác dịch Kim Vân Kiều, và CHinh Phụ Ngâm ra anh ngữ.


Mình đọc cuốn sách của ông ta xoay quanh việc làm thế nào để tìm thấy ý nghĩa, mục đích sống, phẩm giá và giá trị bản thân khi ta cảm thấy lạc lối, bế tắc hoặc bị đè nặng bởi mặc cảm, đặc biệt là những mặc cảm xuất phát từ nghèo khó, thân phận của người ngoài cuộc, mất mát hay áp lực xã hội. Được biết tên việt là Vương Quang Minh, chắc gốc người Tàu tại Việt Nam. Sau này, khi vào quốc tịch, mẹ ông ta đổi tên là “Ocean”, có nghĩa đại dương nối hai bờ biển Việt Nam và Hoa Kỳ. Lý do là khi làm việc ở tiệm nail, một hôm khách hàng hỏi mẹ ông ta là trời nắng, sau làm việc, bà làm gì, mẹ ông ta kêu go to the beach, đi biển nhưng với giọng nước mắm của bà ta nên nghe như “go to the bitch”, bitch tiếng lóng có nghĩa là một cô điếm khiến bà khách hàng chới với.  Phải công nhận là người mỹ gốc Việt, ông ta không được sinh ra tại Hoa Kỳ nhưng ngôn từ anh ngữ được ông ta sử dụng rất hay, bay bỗng. Mình thấy ông ta viết hay hơn ông Nguyễn Thanh Việt.


Ông ta cho biết là bà ngoại khi xưa có lấy một người lính mỹ tham chiến tại Việt Nam, ông ta có chân trong đội kèn đồng, ban quân nhạc. Có 3 người con, sau ông ta về Hoa Kỳ thăm gia đình thì bị kẹt luôn trước 75. Mẹ ông ta lai nên chế độ mới đì, nên cả nhà phải vượt biển và đến Hoa Kỳ, định cư tại Hartford, tiểu bang Connecticut.


Bố mẹ ông ta ly dị, sau này bà mẹ đi thêm bước nữa, có một người em trai cùng mẹ khác cha. Cách đây 7 năm thì mẹ ông ta qua đời vì ung thư. Có lẻ hít hoá chất khi làm nail nên ông ta viết cuốn “time is a Mother”. Ông ta hiện nay, là giáo sư về môn văn chương tại đại học danh tiếng New York, NYU.


Nghe ông ta kể là ông dượng, chồng sau của mẹ ông ta, vượt biển sau 7 ngày trên biển, đến Hoa Kỳ. Đi làm công nhân cho hãng xưởng, từ 3 giờ chiều đến 12 giờ sáng. Đi làm về, ông trân trọng cởi cái áo của hãng có tên của ông ta là Ngọc, lên tường. Ông ta rất hãnh diện và nói là làm ở đây, ông ta có bảo hiểm y tế. Ông Ocean Vương cho biết, trẻ nhìn cuộc đời của bố dượng thì Chán Mớ Đời, đây là giấc mơ Hoa Kỳ hay sao. Nhưng đối với ông dượng thì quá tốt, khá hơn nhiều cuộc sống tại Việt Nam. Cho thấy giá trị cuộc đời được định nghĩa tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi người. Có thể một người khác sẽ chê cuộc đời ông bố dượng nhưng đối với ông ta là một hạnh phúc, được đi làm, chủ cho bảo hiểm y tế. Những ý thức như vậy khi sống với người binh dân, nghèo khiến giúp ông ta có chất liệu để suy gẫm và viết về những người bình thường.


Ông ta kể sống lên từ bé trong hoàn cảnh nghèo khó với bà mẹ đơn thân. Ăn housing, section 8, ông ta đi làm khi còn bé cho nhà nông trồng thuốc lá, được trả lương cao này nọ nhưng một hôm bà mẹ nói phải đi làm cho MacDonalds vì nếu không thì hai mẹ con sẽ mất trợ cấp Housing. Lúc đó, ông ta mới nhận thức cái vòng lẩn quẩn của xã hội Hoa Kỳ. Khi ăn housing trợ cấp thì con người khó thoát ra khỏi cái vòng ấy để vươn lên trong xã hội, thực hiện giác mơ Hoa Kỳ. Ông ta kể trong khu vực ông ta ở, có nhiều người trẻ muốn giúp gia đình nhưng không muốn gia đình mất trợ cấp nên làm chui hay buôn sì-ke, ma tuý và đưa đến bắn chết nhau hay vào tù.


Ông ta kể khi bà mẹ bị ung thư, ông ta có hỏi bà mẹ là kỷ niệm đáng nhớ nhất của hai mẹ con. Bà mẹ trả lời là khi hai mẹ con ngồi trong xe trên bãi đậu xe và ăn chicken Nuggets của MacDonalds. Cho thấy cuộc đời chúng ta cứ nghĩ đến chuyện cao sang nhưng kỷ niệm rất đơn sơ. Nhắc đến vụ này thì đối với mình kỷ niệm đáng nhớ với mẹ mình là khi hai mẹ con đi chơi ở Nhật Bản. Chỉ có hai mẹ con, lần đầu tiên mình được mẹ kể chuyện ngày xưa, thời còn bé ở Huế. Tương tự ngày nay, cô em mình nghỉ hưu ở nhà chăm sóc mẹ mình. Cô em cho rằng đó là quyết định đúng đắn nhất, vì chăm sóc mẹ, vì trước đây bận công ăn việc làm. Mỗi tuần nói chuyện với mẹ mình thì bà cụ cảm thấy hạnh phúc vì có cô em chăm sóc rất kỹ lưỡng. Đó cũng là cái Diễm phúc của cô em mình.


 Nói đến ăn gà khiến mình nhớ thời mới phát hiện ra mối tình hữu nghị của đồng chí gái, cuối tuần mình chạy xe xuống Quận Cam, đưa đồng chí gái đi chơi. Mình đưa cô nàng vào tiệm ăn Pollo Loco , (gà điên), mình đem theo mấy coupon mua 2 tặng 1. Cả hai ăn ngấu nghiến. Ngày nay thì có đi ăn tiệm sang nhưng có lẻ kỷ niệm đẹp nhất vẫn là ăn gà điên. Nói lên mối tình hữu nghị sông liền sông, đùi gà liền cánh gà. Chán Mớ Đời 


Ocean Vuong chia sẻ nhận thức, kỷ niệm từ chính cuộc đời mình, một người Mỹ gốc Việt đồng tính, lớn lên trong cảnh nghèo khó tại Hartford, Connecticut, được nuôi dưỡng chủ yếu bởi những người phụ nữ mù chữ anh văn làm nghề làm móng tay. Vùng này có nhiều người Việt tỵ nạn sinh sống khi xưa. Mình có vẽ một ngôi chùa cho gia đình phật tử ở vùng này. Anh ta nhìn nhận nghịch cảnh không chỉ là đau khổ, mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng sự sáng tạo, sức bền và khả năng đổi mới của con người.


Người ta hỏi ông ta một cuộc đời có ý nghĩa là gì thì theo Ocean Vuong, một cuộc đời ý nghĩa không phải là liên tục chứng minh giá trị của mình với bản thân hay người khác, không phải leo lên đỉnh núi của thành tích, cũng không phải tìm mọi cách để thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại. Điều quan trọng là “Hãy tìm thấy sức mạnh và giá trị ngay tại nơi chúng ta đang đứng.” Nơi chúng ta đang sống lúc này đã đủ để trở thành một con người có giá trị. Không ai cần phải “thoát ra” mới xứng đáng được yêu thương hay tôn trọng. Phải công nhận từ ngữ ông ta dùng để diễn đạt trong cuốn sách rất hay dù trẻ tuổi. Ông ta tập thiền phật giáo nên có lẻ ảnh hưởng chánh niệm phật giáo.


Ông Ocean nói rằng sự xấu hổ (shame) hiện diện khắp nơi, đặc biệt đối với người lao động nghèo và những người luôn cảm thấy mình là kẻ ngoài cuộc. Ông ta kể lại ký ức thời thơ ấu khi mẹ mình phải trả lại những quả cà chua tại siêu thị vì không đủ tiền mua. Đó là một ký ức nhỏ nhưng chứa đựng nỗi nhục nhằn mà người nghèo thường phải chịu đựng.


Theo ông ta: Phẩm giá (dignity) là khả năng sống mà không bị xấu hổ về chính con người mình. Điều đó có nghĩa là chấp nhận mọi phần của bản thân, kể cả những điều xã hội gọi là thất bại, và biết trân trọng chính hành trình đã tạo nên con người mình. Ông ta cũng phân biệt: Xấu hổ về bản thân (shame of being) với cảm giác mình vốn dĩ là người tồi tệ. Đây là loại xấu hổ phá hủy con người và xấu hổ về hành động (shame of actions), nhận ra mình đã làm điều sai. Loại xấu hổ này có thể thúc đẩy sự trưởng thành và thay đổi tích cực.


Ông ta cho rằng ngôn ngữ là sức mạnh, cho rằng ngôn ngữ hằng ngày từ quảng cáo, chính trị đến những khẩu hiệu doanh nghiệp, thường được sử dụng để thao túng, hạ thấp hoặc kiểm soát con người. Trong khi đó, thi ca và ngôn ngữ được lựa chọn một cách có ý thức có thể:

  • khơi dậy vẻ đẹp,
  • đánh thức sự kỳ diệu,
  • trả lại phẩm giá cho con người.

Toàn bộ văn chương của ông ta là nỗ lực sử dụng ngôn ngữ để khẳng định giá trị của bản thân và của cộng đồng. Người ta thường hỏi ông ta định nghĩa lại thành công và ý nghĩa của “sống không uổng”. Ông Ocean phản bác quan niệm phổ biến tại Hoa Kỳ, rằng thành công đồng nghĩa với việc vươn lên địa vị cao hơn hoặc thoát khỏi tầng lớp lao động. Ông ta nhắc rằng rất nhiều người lao động cả đời vẫn sống trong hoàn cảnh bình thường nhưng cuộc sống của họ lại vô cùng giàu có bởi:

  • tình yêu, có nhau bên đời
  • sự chăm sóc lẫn nhau khi đau ốm
  • trách nhiệm với gia đình,
  • sự hy sinh cho nhau. Ông ta kể có nhiều đại học ở âu châu mời ông ta dạy, lương cao hơn nhưng ông ta từ chối vì ở Hoa Kỳ, ông ta có thể chở bà ngoại đi bác sĩ, giúp người dì, hay chơi bóng rổ với người em, tiểu gia đình của ông ta. Lý do ông ta là người đầu tiên tốt nghiệp đại học trong đại gia đình nên cam r thấy trách nhiệm rất nhiều đối với mẹ, em, bà ngoại, và các dì không rành tiếng anh.

Với họ, thành công không phải là giàu có hay nổi tiếng, mà là hoàn thành trách nhiệm và sống đúng với những giá trị của mình như trường hợp ông bố dượng. Một câu trong tiểu thuyết của ông ta gây nhiều suy ngẫm: “Điều khó khăn nhất trên đời là chỉ được sống một lần.” (The hardest thing is we live only once). Câu nói này không cổ vũ lối sống You Only Live Once “YOLO” bất chấp tất cả, mà nhắc nhở chúng ta hãy sống cẩn trọng, có ý thức và trân trọng từng ngày.


Ocean Vương đưa ra một cách nhìn rất khác mà ông ta gọi nó là: “Hệ miễn dịch của kẻ mạo danh.” (Imposter Syndrome). Thay vì xem đó là một khiếm khuyết cần loại bỏ, ông ta coi nó là: cơ chế bảo vệ, sự tỉnh táo, động lực để sáng tạo, lời nhắc phải luôn khiêm tốn và có trách nhiệm. Việc cảm thấy mình là người ngoài cuộc trong những môi trường ưu tú đôi khi phản ánh một sự căng thẳng đạo đức đáng được gìn giữ, chứ không phải điều cần xóa bỏ. Nếu mình nghèo rồi muốn lật đỗ bọn nhà giàu, là sai. Có lẻ chúng ta nên học tính khiêm nhường với mọi người xung quanh.


Ông Vương có nhắc đến “Văn hóa sợ bị quê” (Cringe Culture) và nỗi sợ thất bại trong xã hội ngày nay với các mạng xã hội lan tràn. Ông ta cho rằng mạng xã hội khiến nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, luôn sợ mình sẽ bị chế giễu hoặc bẽ mặt trước công chúng. Nỗi sợ ấy khiến họ như bị tê liệt, nhất là chủ nghĩa thức tĩnh, khiến họ không dám thử điều mới, không dám sáng tạo, không dám thất bại. Cũng như nói lên những gì mình ấp ủ, muốn lên tiếng vì sợ gán cho cái phù hiệu kỳ thị chủng tộc hay Nazi. Những cụm từ này bị con-hoang-hoá (bastardization), chụp mũ một cách vô lý, gán cho những tên nhãn hiệu vô cớ này.


Trong lớp học sáng tác của mình, ông ta luôn xem thất bại là một phần không thể thiếu của quá trình học hỏi. Theo ông ta, sáng tạo giống như làm thí nghiệm trong phòng lab. Không có thất bại thì sẽ không có đổi mới hay chữa lành. Chúng ta nợ nhau điều gì? Ông Ocean cho rằng điều con người thật sự cần dành cho nhau không chỉ là sự đồng cảm thụ động. Chúng ta cần:

  • lòng tử tế, trong cuốn phim chuyện tử tế, đạo diễn Trần Văn Thuỷ có nhắc đến lòng tử tế của người xưa mà xã hội ngày nay đã đánh mất. Ông trần Văn Thuỷ làm cuốn phim này mà suýt bị bắt, may thay ông ta gửi chui đợi thi ở bên Đông Đức và đoạt được giải nên không đi tù, vì ông ta tính nếu không được giải thì có lẻ đã ở lại bên Đông Đức vì về Việt Nam là bị bắt.
  • sự bao dung, sự đồng cảm khác với lòng tử tế, vì sự đồng cảm, compassion chỉ nhận thức thôi trong khi lòng tử tế đưa đến hành động. Tôi thấy anh nghèo đói khổ nên đồng cảm nhưng lòng tử tế đưa đến hành động như chị Thuỳ Giang nào trên mạng, mỗi tuần thấy chị ta nấu ăn rồi đi phân phát cho người vô gia cư.
  • sự hiện diện, khi người thân cần đến mình. Như trường hợp cô em mình ngủ hưu sớm vì nghĩ mẹ mình cần cô ta chăm sóc kỹ hơn.
  • khả năng thật sự lắng nghe và chăm sóc nhau. Hàng ngày chúng ta cứ gặp nhau, hỏi dăm câu trời nắng trời mưa, rồi đường ai nấy đi nhưng nếu chúng ta bỏ thêm thời gian, đứng lại hỏi thêm về cuộc sống của họ, nghe họ thật sự kể về cuộc sống của họ.

Chính những khoảnh khắc rất nhỏ, một cuộc trò chuyện chân thành, một người chịu lắng nghe, hay việc hướng sự chú ý khỏi nỗi đau của bản thân để quan tâm tới người khác, mới là điều tạo nên ý nghĩa cuộc sống. Ông ta dùng hình ảnh:“Viên sỏi và những gợn sóng.” Hãy quay trở lại với đứa trẻ bên trong mình, nhớ lại hy vọng và ý định ban đầu của nó. Đó là nguồn sức mạnh có thể lan tỏa thành những vòng sóng tích cực đến người khác.


Ông Ocean Vương chia sẻ thêm nhiều quan điểm đáng nhớ:

  • Xây dựng và chữa lành luôn chậm chạp hơn rất nhiều so với phá hủy. Tình nghĩa vợ chồng được xây dựng rất lâu nhưng có thể bị đánh đỗ, phá huỷ rất nhanh chóng.
  • Cuộc sống luôn chứa đựng cả vẻ đẹp lẫn nỗi đau; hai điều ấy có thể cùng tồn tại.
  • Đừng mãi cố leo lên “đỉnh núi” của thành tựu. Hãy bước xuống để sống trọn vẹn trong đời thường, trong gia đình và các mối quan hệ. Nhiều người chạy theo công danh để rồi một ngày nhận ra sự vô thường thì đã quá muộn.
  • Hãy chấp nhận nỗi sợ như dấu hiệu của sự trưởng thành.
  • Nhưng đừng bao giờ sợ chính con người mình.
  • Hãy dám chấp nhận rủi ro, kể cả khả năng bị xấu hổ hay thất bại.

Cuốn sách khuyên chúng ta:

  • ngừng phán xét vị trí hiện tại của mình; ông ta có nói đến một đêm, trước khi đi ngủ, bà mẹ nói với ông ta, mẹ xin lỗi, mẹ đã cố gắng hết sức nhưng không thoát khỏi cảnh nghèo khổ, cuộc sống mẹ đơn thân tại Hoa Kỳ.
  • buông bỏ áp lực phải trở thành một con người khác;
  • học cách đối diện với mất mát mà không khép kín trái tim; ông ta mất bà mẹ qua bệnh ung thư nhưng không khép kín trái tim, viết cuốn sách về thời gian là mẹ.
  • tìm lại phẩm giá và giá trị vốn có của bản thân. Chúng ta hay so sánh bản thân với những người khác. Không cần, vì trên thế gian có người giàu có người nghèo. Nếu họ giàu thì chúc phúc cho họ. Người ta giàu ăn cơm với cá, còn mình nghèo thì bắt võng ở đầu vườn bơ để ăn bơ.

Khi xưa, mình cũng trải nghiệm về người ta đánh giá mình về cái tội nghèo từ bé ở Đà Lạt. Đến nhà mấy tên học chung thường ít được mời vào nhà. Lớn lên, quen mấy cô bạn gái thì bị gia đình họ khinh vì không phải là bác sĩ, nha sĩ. Khi mình bắt đầu đi học đầu tư địa ốc, bạn bè, gia đình bên vợ cười nhất là mấy ông anh bác sĩ. Nhưng đó làm nguồn lửa, động lực giúp mình vượt qua. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nah