Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngẫm và nghĩ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ngẫm và nghĩ. Hiển thị tất cả bài đăng

Song Tịch, Bản Sắc

 


Song Tịch và bản thể


Ít ai hiểu được tâm trạng một người song tịch, có hai quốc tịch nếu không sống trong hoàn cảnh của họ. Hôm qua nói chuyện với anh bạn gốc mễ, hỏi tối nay có xem trận Mexico- Anh quốc. Anh ta kêu có. Đến nhà họ hàng để xem cho vui.

AI làm thì phải


Hai cha con đi xem trận đấu giữa Nam Phi-Gia-nã-đại, gặp hai vợ chồng gốc Mễ lên xe buýt, một bận áo của đội tuyển Mễ tây Cơ và một bận áo đội tuyển Hoa Kỳ. Hỏi anh ta là nếu mễ Tây Cơ đá với Hoa Kỳ thì anh chọn bên nào. Anh ta cho biết không biết vì anh ta vui khi một đội tuyển thắng nhưng đồng thời cũng buồn vì đội kia thua. Anh ta hỏi mình nếu Việt Nam đá với Hoa Kỳ thì mình theo ai. Mình nói dễ vì nước tôi sinh ra đã bị mất trong lịch sử nên chỉ còn Hoa Kỳ và Pháp để ủng hộ. Anh ta nói nước Việt Nam vẫn còn. Mình nói đúng nhưng một nước khác xâm chiến, diệt bỏ nước tôi nên chịu. Tên thì như nhau, địa lý vẫn như nhau nhưng ký ức của tôi thì khác. Chán Mớ Đời 


Anh ta cho biết là sinh ra và lớn lên tại Hoa Kỳ nhưng bố mẹ lại gốc Mễ. Ở nhà bố mẹ nói tiếng mễ, đúng hơn là phương ngữ của vùng họ sinh ra và lớn lên. Và anh ta trả lời bằng anh ngữ. Trang trí trong nhà là mễ, đặt thù, cơm ăn, xem truyền hình đài nói tiếng mễ. Nói chung ở nhà là anh ta là người Mễ. Nhưng khi ra đường anh ta ở Hoa Kỳ. Sống trong nền văn hoá mỹ, trường mỹ, tinh thần mỹ, chuyện tếu lâm mỹ, cãi nhau đều là mỹ, giá trị tinh thần đều là mỹ. Anh ta sống và lớn lên song song trong hai nền văn hoá Mễ và mỹ.


Khi anh ta nói về mễ tây Cơ, anh ta chỉ nói đến một nền văn hoá xa lạ mà gia đình tổ chức bữa tiệc hàng năm 2 lần. Anh ta về mễ nghỉ hè khi còn bé. Bố mẹ bận công ăn việc làm nên gửi về cho ông bà nội chăm sóc và học tiếng mễ. 90% họ hàng của anh ta đều ở mễ, họ khó có thể đến Hoa Kỳ nghỉ hè vì giấy tờ.


Cho nên sống tại Hoa Kỳ, mễ tây cơ không những là nguồn cội của anh ta. Những khuôn mặt, mái nhà, con đường làng, bạn bè, anh em họ hàng, những bữa ăn, những kỷ niệm, cãi vã, đám cưới, đám ma. Những kỳ nghỉ hè nhưng không phải là nghỉ hè thật sự mà anh ta sống một phần khác của cuộc đời anh ta. Tương tự như khi anh ta ở Hoa Kỳ, nơi chôn nhau cắt rún.


Hoa Kỳ là tuổi ấu thơ của anh ta, nơi anh ta có những người bạn thân nhất, tiếng nói mẹ đẻ, lối suy nghĩ, xứ sở đã xây dựng anh ta thành người. Nếu nói là Mexican-American thì không đúng 50/50. Nhưng có lẻ là 100% cả hai văn hoá.


Vấn đề là người ta muốn anh ta phải chọn lựa. Ở Hoa Kỳ, đa số kêu anh ta là người mễ, dù sinh ra tại đây. Anh ta có thể biết nhiều về Hoa Kỳ hơn những người phát chứng chỉ về tố chất mỹ. Ở Mễ tây cơ, anh ta được gọi là “Chicano”, một người từ Hoa Kỳ, gần như người ngoại quốc. Việt Nam mình gọi là Việt kiều. Anh ta sử dụng ngôn ngữ địa phương khó khăn hơn. 


Và anh ta lâm vào một trường hợp quái đản là anh ta không được xem là người Mỹ hoàn toàn đối với một số người Mỹ. Ở Mễ tây CƠ anh ta không hoàn toàn là người Mễ đối với một số người Mễ. Ở nhà anh ta là con trai của bố mẹ, với một nền giáo dục mễ tây cơ, ngoài đường anh ta là một người Mỹ với những luật lệ của nhà trường mỹ. Từ đó tạo ra một loại người đặc biệt song tịch. Với thời gian anh ta bắt đầu yêu mến cả hai quốc gia, chỉ trích cả hai theo tri thức của anh ta. Và anh ta ngưng nói với người Mễ là anh ta người mễ và tương tự không muốn cãi vã với người Mỹ về sự việc anh ta cũng là người Mỹ. Đúng hơn anh ta là Mexican-American. Đứng ở giữa gạch nối của hai nền văn hoá, không biết chọn lựa bên nào vì cả hai nền văn hoá không chấp nhận anh ta 100%. Đó là bản sắc của anh ta.


Có hai nền văn hoá, không phải là vấn đề cần phải giải quyết mà là tài sản văn hoá sở hữu cần được chập nhận. Nhưng sự việc không đơn giản như vậy vì đối với nhiều người Mễ, anh ta quá mỹ hơn và đối với người Mỹ thì anh ta quá mễ tây cơ. Anh ta là một sản phẩm của hai nền văn hoá, hai lịch sử, hai lối nhìn về giới quan. 


Nói chuyện với anh ta xong thì mình nghĩ về mấy đứa con của mình. Không biết chúng có sự trăn trở về bản thể, bản sắc của chúng hay không. Mình nghĩ thằng con có cố gắng tìm hiểu về cội nguồn nhưng con gái thì không để ý lắm. Thằng con thì thích gái gốc á châu còn con gái thì thích mỹ trắng hơn. Chả hiểu lý do. Có lần nó hỏi mình có ngại nếu nó lấy chồng da trắng. Mình nói nếu nó hạnh phúc là điều tiên quyết chớ lấy da vàng, không hạnh phúc mà ly dị bỏ nhau thì cũng bù trớt.


Có lần thằng con nói mình không giống như bố mấy đứa bạn gốc việt. Mình hỏi khác biệt ra sao. Nó nói không tương tác như người mỹ gốc Việt, uống rượu, thuốc lá nhất là có cái gì khó hiểu là suy nghĩ của mình không giống như người Việt nên mình ngọng. Có thể khi bé mình như anh bạn gốc Mễ, tuy sống tại Việt Nam nhưng lại học chương trình pháp ngữ nên tiếng Việt của mình lọng ngọng. Hôm đến Melbourne, gặp lại anh bạn học khi xưa ở trường Yersin Đà Lạt, anh ta nói khi xưa tụi mình đến tường học tiếng tây, tiếng Việt chỉ học có 2-4 giời mỗi tuần xem như sinh ngữ 1 rồi sau này học thêm anh ngữ là sinh ngữ 2, còn tiếng tây xem như ngôn ngữ chính.


 Sau này đi tây năm 18 tuổi nên càng không biết nhiều về văn hoá Việt Nam. Đời đưa đẩy sao mình đi làm kiếm cơm tại nhiều quốc gia nên từ từ bản thể của mình bị nhiễm với nhiều nền văn hoá khác nhau nên từ từ mình không còn đứng ở gạch nối Franco-Vietnamien như khi ở Việt Nam và Pháp mà lai lai thêm Ý Đại Lợi, Thuỵ Sĩ, Anh quốc rồi nay đến mỹ.


Chỉ biết mình là 100% là mình , lai đủ các nền văn hoá khác ở âu châu thì chịu. Người ta song tịch là đủ mệt rồi còn mình thì Tam-Tịch (Việt Nam, Pháp quốc và Hoa Kỳ). Chán Mớ Đời 


Mình có diễn thuyết trước hội Toastmasters, tải lại đây:


Dual Citizenship and Identity

Toastmasters Speech (9-11 minutes)

Fellow Toastmasters, distinguished guests, good morning


How many of you have ever felt caught between two worlds? Not fully here, not fully there? Today I want to talk about something few people truly understand unless they’ve lived it: the heart and soul of someone with dual citizenship — what we call “song tịch.”

Just yesterday, I was chatting with a friend who was born and raised in the United States but whose parents are from Mexico. That same evening, he was watching the Mexico vs. England soccer match. He was excited, but also conflicted. Then he told me about another game — South Africa versus Canada — where he saw a couple on the bus: one wearing a Mexico jersey, the other a United States jersey. He asked the man, “If Mexico played the United States, who would you root for?” The man smiled and said, “I would be happy for one… and sad for the other.”


My friend turned to me and asked, “What about you? If Vietnam played the United States, who would you support?”


I answered honestly: “It’s easy for me. Vietnam is disappeared in history. So today, I support the United States.” He replied, “But Vietnam is still there.” I said, “Yes, the name and the land are the same, but the memories… my memories are different.”

That conversation stayed with me.


My friend was born in America. At home, his parents spoke Spanish — the dialect of their home region. The house was decorated in Mexican style. They ate Mexican food, watched Spanish-language TV. Inside those walls, he was completely Mexican. But the moment he stepped outside, he was 100% American — American culture, American humor, American values, American way of thinking. He grew up immersed in two complete worlds.


When he speaks about Mexico, he doesn’t just talk about a distant country. He talks about grandparents, cousins, village roads, family parties, weddings, funerals, and summer “vacations” that were never really vacations. They were the other half of his life. Mexico is where his roots are. America is where he was shaped — his childhood, his best friends, his first language outside the home, his dreams.


He told me, “It’s not 50/50. It feels more like 100% of both.”


But here’s the painful part: the world often forces you to choose.


In the United States, many people see him only as Mexican, even though he was born here and knows American life better than many who wave the flag the loudest. In Mexico, they call him “Chicano” — a Mexican-American, almost a foreigner. His Spanish carries an accent. He doesn’t quite fit.


So he lives in this strange in-between space. He loves both countries. He criticizes both countries. But he stopped telling Mexicans he is fully Mexican, and he stopped arguing with Americans that he is also fully American. Instead, he simply says, “I am Mexican-American.” He stands on the hyphen — that fragile bridge between two cultures that don’t always accept him 100%.


Having two cultures is not a problem to be solved. It is a richness to be embraced. Yet for many, he is “too American” for Mexicans and “too Mexican” for Americans. He is the product of two histories, two worldviews, two hearts beating in one chest.


After that conversation, I thought about my own children.


Will they struggle with their identity? My son seems curious about his Vietnamese roots. My daughter, less so. He prefers dating Asian girls. She prefers Caucasian boys. One day she asked me, “Dad, would you mind if I marry a white guy?” I told her, “As long as you are happy. Marrying someone with the same skin color and then getting divorced would be worse.”


My son once told me, “Dad, you’re not like the other Vietnamese fathers.” When I asked how, he said I don’t act very Vietnamese. I don’t drink much, I don’t smoke, and my thinking is different. He’s right. When I was young, I studied in a French program in Vietnam. At 18, I left for the West. Life took me to many countries — France, Italy, Switzerland, England, and now America. Over time, my identity became layered with many cultures.


I am no longer just on the Franco-Vietnamese bridge. I carry pieces of Italy, Switzerland, Britain, and America too. Some people have dual citizenship and find it exhausting. I have three — Vietnamese, French, and American. And yet, at the end of the day, I am simply 100% myself — a beautiful, complicated mix.


Ladies and gentlemen, dual identity is not a flaw. It is a unique lens through which we see the world. It gives us empathy, cultural fluency, and the ability to stand in someone else’s shoes. But it also brings loneliness — the feeling of never being fully claimed by any single tribe.


So the next time you meet someone who carries more than one flag in their heart, don’t ask them to choose. Instead, celebrate the richness they bring. Because in a world that grows more connected every day, the future belongs to those who can live on the hyphen — and still stand tall.



Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn  

Bề trái cuộc đời tài tử Paul Newman

 Bề trái cuộc đời tài tử Paul Newman 

Mấy bà đầm mình quen đều mê đôi mắt xanh của ông này


Mình nhớ khi mới sang Pháp, có xem cuốn phim “La Tour Infernale” ở rạp Gaumonth trên đại lộ Champs Elysees, tài tử Paul Newman đóng vai kiến trúc sư thiết kế toà nhà cao ốc bị cháy khiến mình bỏ mộng học kỹ sư và chuyển qua học kiến trúc. Sau nay có xem thêm nhiều phim khác do ông ta đóng. Đặc biệt là mấy cô đầm quen đều mê ông này với đôi mắt xanh như Paul Newman. Có một phim ông ta đóng vai tên đánh bi-da chuyên nghiệp cá độ rất hay nhưng có lẻ phim thích nhất là “The Sting” khi ông đóng vai bịp đánh bài và cá độ một tên anh chị nổi tiếng.


Sau này khi về già hay trước khi chết vài năm mình thấy ông ta thành lập tổ chức vô vụ lợi và bán thức ăn để làm việc thiện. Được biết ông ta tuy đẹp trai nhưng chả bao giờ thấy có xì-căn-đan về ái tình, chung thuỷ với bà vợ lâu năm. Sau này mới khám phá ra về đời tư của ông ta nên thán phục. Xin tóm tắc lại đây.

Cuốn phim đã thay đổi cuộc đời mình


Trong khi quay phim *The Color of Money* năm 1985, tài tử Paul Newman đã làm một việc bất ngờ khiến cả đoàn làm phim ngạc nhiên. Hợp đồng của ông ký với nhà làm phim bao gồm chỗ ở sang trọng, rượu vang giao mỗi ngày và đầu bếp riêng, Newman đã âm thầm từ bỏ những đặc quyền này ngay cả trước khi bắt đầu quay phim. Số tiền đó ông ta nhờ nhà làm phim chuyển đến một bệnh viện nhi đồng ở Chicago, gần địa điểm quay phim bộ phim. Nhân viên bệnh viện đã vô cùng ngạc nhiên khi nhận được khoản quyên góp hào phóng nhưng ẩn danh. Không có ánh đèn flash, không họp báo, và không có tên tuổi nào được đưa ra trước công chúng. Mãi đến sau này họ mới biết ai đứng sau hành động tử tế đó.


Cách hành xử này được lặp lại trên nhiều trường quay trong suốt những năm 1980. Ông Newman thường đưa các đặc quyền khá lớn vào hợp đồng của mình, như xe limousine, phòng hạng sang năm sao và dịch vụ ăn uống cao cấp. Khi ngân sách được phê duyệt, ông lại yêu cầu loại bỏ những khoản chi này. Số tiền tiết kiệm được sau đó được gửi đến các bệnh viện nhi đồng gần nơi quay phim, thường là một cách lặng lẽ và ẩn danh.


Một nhà sản xuất, khi nhớ lại quá trình làm việc trong *The Color of Money*, đã chia sẻ một câu nói thể hiện rõ suy nghĩ của ông Newman: “Nếu ai đó đã sẵn sàng trả tiền cho rượu vang, thì số tiền đó tốt hơn nên giúp những đứa trẻ chưa bao giờ có cơ hội thực sự.” Cũng trong tuần đó, một bệnh viện nhi đồng ở New York cũng nhận được một khoản quyên góp đáng kể khi việc chuẩn bị cho bộ phim tiếp theo của ông Newman đang diễn ra.

Phim này mình xem mấy lần vẫn mê. Chỉ mấy cô tài tử không đẹp lắm


Ông Newman chưa bao giờ biến các hoạt động từ thiện của mình thành một màn trình diễn công khai. Ông không mời nhà báo, không yêu cầu gắn bảng tên, cũng không đặt tên mình cho một khu của bệnh viện. Sự giúp đỡ của ông kín đáo, có chủ đích và mang tính cá nhân sâu sắc. Đồng nghiệp thường chỉ biết đến những hành động này một cách tình cờ.


Trên trường quay *Harry & Son*, một nhân viên của nhà sản xuất nhận thấy ông Newman mỗi ngày đều đến bằng một chiếc xe thuê bình thường, mặc dù hợp đồng của ông là một chiếc xe sang trọng. Khi được hỏi, nam diễn viên chỉ mỉm cười và trả lời: “Hãy để người khác đi hạng nhất nếu điều đó có nghĩa là thêm một chiếc giường cho một đứa trẻ.” Những hành động này vượt xa sự hào phóng đơn thuần; chúng thể hiện sự tiết chế, khiêm tốn và khả năng phi thường trong việc biến đặc quyền thành sự giúp đỡ thiết thực. Ông Newman nhận thức rõ sức mạnh to lớn của ánh hào quang danh tiếng mà ông sở hữu, nhưng ông cũng có ý thức rõ ràng trong việc hướng nó ra xa bản thân mình.


Một thành viên đoàn phim *Blaze* kể lại rằng trong một giờ nghỉ, ông thấy ông Newman ngồi một mình với danh sách các phòng khám địa phương. Ông không luyện tập lời thoại hay xem xét trang phục; thay vào đó, ông cẩn thận đối chiếu địa chỉ với bản đồ thành phố để xác định nơi mà số tiền quyên góp có thể tạo ra tác động lớn nhất. Dạo đó chưa có Google. Ngay cả phía sau hậu trường, cách hành xử của ông Newman cũng khác biệt so với hình ảnh điển hình của một ngôi sao Hollywood. Dù có ảnh hưởng lớn, ông thường dành thời gian ngồi ăn trưa cùng các kỹ thuật viên ánh sáng, công nhân hậu cần hoặc diễn viên quần chúng.


Trong khi sản xuất *The Verdict*, mình có xem phim này, ông ta đóng vai một luật sư, ông Newman được cho là đã chia sẻ với một diễn viên rằng thành tựu quan trọng nhất trong năm không phải là bất kỳ cảnh quay nào, mà là tin một đứa trẻ tại một trong những bệnh viện ông hỗ trợ đã có thể đi lại trở lại. Ông không tìm kiếm lời khen ngợi hay sự công nhận của bất cứ ai.


Trong khi quay *Fat Man and Little Boy*, khi một nhà báo hỏi về tin đồn quyên góp ẩn danh, ông Newman đã khéo léo né tránh bằng một câu đùa và nhanh chóng chuyển sang chủ đề khác. Đối với ông, giá trị thực sự của ảnh hưởng nằm ở kết quả tích cực đạt được, chứ không phải sự chú ý từ các tiêu đề báo chí. Ông hiểu rõ sức hấp dẫn của những tràng pháo tay và biết rằng chúng có thể dễ dàng dẫn đến sự tự mãn. Những người từng làm việc gần gũi với tài tử Newman thường rời đi với cảm giác thay đổi sâu sắc. Một nhà quay phim cuối những năm 1980 chia sẻ rằng sau khi biết về các hoạt động từ thiện của ông Newman, ông bắt đầu quyên góp một phần thu nhập của mình cho các trường học địa phương tại nơi họ quay phim. Ông Newman không bao giờ giảng dạy hay áp đặt giá trị của mình; ông chỉ thể hiện chúng qua hành động, không cần diễn thuyết hay rao giảng đạo đức.


Sau này, khi ông thành lập một công ty bán thức ăn hình như bán mấy chai dầu pha sẵn để ăn xà-lách, mình tưởng ông ta làm về già, sử dụng danh tiếng mình để kiếm tiền vì hết đóng phim, ai ngờ, ông ta làm để sử dụng danh tiếng của mình để kiếm tiền giúp từ thiện. Cho thấy mình có đầu óc phán xét khá ngu ngốc. Ông ta qua đời sau bạo bệnh, khi nhớ về tài tử Paul Newman là tưởng nhớ một con người có thể dễ dàng tận dụng mọi lợi thế từ danh tiếng của mình nhưng đã chọn nâng đỡ người khác.


Trong một ngành kỹ nghệ điện ảnh, nghệ thuật thứ 7, đa số người ta sống bằng sự hào nhoáng, ảo ảnh và thảm đỏ, ông Newman lặng lẽ đặt niềm tin vào những điều thực sự quan trọng. Ông đã chứng minh rằng những “cảnh” mạnh mẽ nhất thường diễn ra ngoài ống kính, những khoảnh khắc khi không ai quan sát, và kịch bản được viết nên bằng hình thức thuần khiết nhất của lòng tử tế.


Đọc tài liệu về cuộc đời và những gì ông ta làm khiến mình cảm động, học thêm một điều hay về con người, tính khiêm nhường.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tại sao giới trí thức lại thường theo chủ nghĩa xã hội?

 Tại sao giới trí thức lại thường theo chủ nghĩa xã hội?

Mình nhớ dạo học ở Paris, cãi lộn với tây đầm mệt nghĩ. Cuối tuần xem chương trình Bernard Pivot thì lại càng Chán Mớ Đời khi thấy các tác giả mới ra sách nói chuyện về xã hội chủ nghĩa, chủ nghĩa cộng sản, thiên đường, thế giới đại đồng rồi đùng một cái họ khám phá vụ Khờ-Me đỏ sát hại chính đồng bào của họ. Rồi cuốn sách Killing Fields ra đời rồi đến cuốn phim nói về cuộc đời ông Dith Pran, mà mình có ăn cơm với ông ta một lần ở New York. Loay hoay thì khám phá ra ông ta chết sớm. Rồi đến diễn viên đóng vai ông ta trong phim cũng bị giết.

Dạo ấy ở Pháp quốc có đến 25% cử tri bầu cho đảng Cộng sản pháp. Nhớ ông bí thư của đảng cộng sản pháp mỗi lần lên đài truyền hình là phải nghe ông ta lập lại mấy lần “c’est un scandal”. Hàng năm họ có lễ hội được gọi Fête de l’humanité. Người đi đông như quân Tây đầm. Sau này mình sang Ý Đại Lợi làm việc thì còn chới với hơn nữa vì đảng cộng sản mạnh hơn cả bên tây. Đâu năm 1981 hay 1982 chi đó, người Pháp bầu ông François Mitterand làm tổng thống với sự ủng hộ của đảng cộng sản (25% cử tri pháp) và chính phủ Mitterand hồ hởi áp dụng các chương trình cải tiến xã hội với các chương trình phúc lợi khiến Pháp quốc ngày nay te tua.


Giới trí thức âu châu có thể bị hấp dẫn bởi những học thuyết khai phóng, mở đường cho một dạng “xã hội kỹ nghệ”, quan niệm cho rằng các thay đổi tích cực phải được thúc đẩy từ trên xuống, theo chiều dọc. Như các tác giả như Émile Zola, Balzac,… chỉ trích về giai cấp nhà giàu trưởng giả mà khi xưa, ông tây bà đầm bắt mình đọc nhưng chả hiểu gì cả. Sau này qua Tây đọc lại, mới giác ngộ cách mạng lý do. 


Tại sao? Bởi nếu tiến bộ nảy sinh từ việc áp dụng “công thức” cho một xã hội lý tưởng, thì giới trí thức sẽ trở thành những người bảo chứng cho hạnh phúc của đồng bào mình, được trao một sứ mệnh: dẫn dắt xã hội tới một tương lai tốt đẹp hơn. Ngược lại, nếu tiến bộ chủ yếu xuất hiện từ dưới lên, từ sáng kiến tự phát của các cá nhân, từ xã hội dân sự, từ thị trường thì giới trí thức chỉ còn vai trò mô tả và phân tích, chứ không thể tạo ra ảnh hưởng đáng kể, ít nhất là không phải ảnh hưởng tích cực đáng kể. Nói chung họ chỉ lý thuyết chớ chưa bao giờ trải nghiệm thành lập công ty này nọ.


Nếu nhìn lại lịch sử Việt Nam thì chúng ta thấy khi xưa, các người có học, các nho sĩ thì cứ học Kinh Thư, cứ mở miệng là Khổng Tử nói, Mạnh tử cỏn. Sau này thời tây thì tây khen Jean Jacques Rousseau, thì các nhà tây hoc lại Jean Paul Sartre nói, LÊNIN nói,… rốt cuộc chúng ta chỉ lập lại các học thuyết của người ngoại quốc, chớ chả có tư duy độp phá gì của riêng người Việt. Chán Mớ Đời 


Rồi cũng nhân danh chủ nghĩa này chủ nghĩa nọ rồi choảng nhau khiến biết bao nhiêu gia đình tan tóc, chết cả hai miền lên đến 3-4 triệu người. Không bảo giờ số chính xác.


Thiên hạ đến nhà mình hay cho ý kiến không công, phải làm cái này làm cái kia hay khi họ đến vườn thì dặn mình phải làm cái này cái nọ. Trồng cây này trống trái kia, đủ trò. Hình ảnh tương tự các trí thức muốn thay đổi xã hội đủ trò nhưng chả làm gì cả. Tương tự khi xưa, mình vẽ thiết kế nhà cửa hay các toà cao ốc này nọ nhưng khi va chạm thực tế thì khó thực hiện vì ngân sách của khách hàng rất thấp so với ý tưởng của mình đưa ra. Ngoại trừ các đồ án ở Saudi Arabia.


Mình có kể ông Friedrick Hayek nhận xét, “Ý tưởng tái thiết hoàn toàn xã hội, hấp dẫn giới trí thức hơn nhiều so với những suy tư thực dụng của những người chủ trương cải thiện dần dần trật tự hiện hữu.” Trong L’Opium des intellectuels (Thuốc phiện của giới trí thức), Raymond Aron kể rằng giới trí thức Pháp thời Chiến tranh Lạnh thường có thái độ thù địch với Hoa Kỳ, chính vì nước Mỹ đạt được những bước tiến khổng lồ nhờ sáng kiến cá nhân của công dân chứ không phải nhờ một “ý tưởng thiên tài” nào đó (chủ nghĩa cộng sản) được áp đặt cho toàn xã hội. Nhớ dạo đó ở âu châu gần như tuần nào cũng có biểu tình chống Pershing, hoả tiễn nguyên tử của mỹ được đặt tại Anh quốc và các nước âu châu khác, chỉ hướng về phía liên sô.


Có lẻ vì vậy các trí thức ghét cay ghét đắng ông Trump vì ông ta đại diện giới tài phiệt, kẻ thù của giới thiệu vô sản và trí thức. Ông ta không nói chuyện hay hành xử như người trí thức.


Đọc một bào báo nói đến các đảng viên cộng sản pháp ngày nay với Trung Cộng 


Tiến sĩ Thomas Sowell, một người da đen, từng là mát-xít cực đoan, nhận thấy rằng giới trí thức có xu hướng nghiên cứu, ca ngợi và say mê những giai đoạn lịch sử có nhiều thay đổi về luật pháp (quyền mới, phúc lợi xã hội mới…), những thứ mà họ có thể tưởng tượng rằng mình góp phần tạo nên nhưng lại dửng dưng trước những cải thiện về đời sống con người, đôi khi còn quan trọng hơn nhiều, đến từ sức sống của xã hội dân sự (ngay cả khi chính những tiến bộ ấy đã tạo điều kiện cho các thành tựu xã hội ở các thập niên sau). 


Cho tới tận ngày nay, khoa học xã hội vẫn không mấy hứng thú với sự cải thiện phi thường về mức sống chỉ trong vài thập niên ở Hương cảng, Đài Loan, Tân Gia Ba hay Nam Hàn. Những nơi đạt được điều đó nhờ giảm vai trò của chính phủ trong nền kinh tế. Điều này đặt ra một câu hỏi: liệu những trí thức tự nhận là theo đuổi công bằng xã hội thực sự ưu tiên cải thiện số phận của những người bất hạnh nhất, hay họ ưu tiên khẳng định tầm quan trọng của chính mình trong việc cải thiện số phận ấy? Gustave Le Bon viết: “Điều các nhà giáo điều thực sự quan tâm, không phải là sự xuất hiện của chủ nghĩa xã hội, mà là sự xuất hiện của những người xã hội chủ nghĩa.” Đồng chí gái hay kể khi xưa học đại học Tổng Hợp Sàigòn, cứ họp hành để học tập về con người mới xã hội chủ nghĩa khiến cô nàng từ từ nổi điên nên có tuy-dô vượt biển là chạy.


Theo cùng một hướng, nhà tiểu luận Vera Nikolski cho thấy giới trí thức thường đánh giá thấp vai trò của tiến bộ kỹ thuật trong việc giải phóng phụ nữ (đồ gia dụng, thuốc tránh thai, phá thai, sự gia tăng năng suất khiến sức mạnh thể chất trở nên kém quan trọng hơn) và đánh giá quá cao vai trò của các tư tưởng bình đẳng. Chủ nghĩa tư bản đã giúp xoá đói giảm nghèo rất nhiều. Điển hình ở Việt Nam. Sau 75 suốt 10 năm ngăn sông cấm chợ, đói mệt thở sau đổi mới kêu gọi tư bản đầu tư mới khá lên chớ xã hội chủ nghĩa thì muôn đời vẫn nghèo vì làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu thì không bao giờ tiến bộ vì ai cũng thích thụ hưởng nhiều và ít làm việc.


Cũng lưu ý rằng vào thế kỷ XIX, trong lúc John Stuart Mill kêu gọi các trường đại học đào tạo “những bộ óc có khả năng cải tạo và tái sinh xã hội”, mô tả tầng lớp tinh hoa trí thức là “những cái đầu suy nghĩ, đi trước phần còn lại của xã hội”, không có họ thì đời sống con người sẽ trì trệ”, thì cuộc Cách mạng Công nghiệp lại đang biến đổi tận gốc điều kiện sống của nhân loại. Cuộc cách mạng ấy được dẫn dắt, trong số những người khác, bởi Thomas Edison và Henry Ford,những người gần như không được học hành bài bản và bởi anh em họ Wrightnhững người thậm chí còn chưa tốt nghiệp trung học. Tương tự Bill Gates, Steve Jobs bỏ học để đi làm ăn, mở công ty mới tạo ra công ăn việc làm cho bao nhiêu người và thay đổi thế giới, không phải các trí thức ngồi mơ màng.


Cuộc thảo luận này có thể gợi ra một câu trả lời cho câu hỏi: làm sao giải thích được “sự mê đắm bạo chúa” của giới trí thức? Tại sao trong suốt thế kỷ XX họ lại tỏ ra dễ dãi với những nhà độc tài khát máu nhất?” Mình nhớ cãi lộn với đám tây đầm về Mao Trạch Đông, chúng rất phục Mao chủ tịch, kêu cuộc cách mạng văn hoá, nghe nói đã giết trên 60 triệu người Tàu, phá vỡ cái cũ để xây dựng cái mới, một thiên đường của giới vô sản. Nhiều tên tôn thờ Stalin nhưng lại chửi Hitler nên mình cũng chả hiểu nhiều. Đối với mình Stalin, Hitler hay Mao Trạch đông, những kẻ độc tài đều là những tên đồ tể.


Nhà triết học Roger Scruton trả lời: “Giới trí thức tự nhiên bị quyến rũ bởi ý tưởng về một xã hội được hoạch định, bởi họ tin rằng mình sẽ là người điều hành nó.” Theo ông Mikhail Bakunin, “mục tiêu thật sự của các trí thức Marxist là thiết lập một nền cai trị của giới học giả” tức một chế độ nơi các lý thuyết gia Marxist nắm quyền lực. Sai lầm của các nền dân chủ tự do, theo họ, chính là vì chúng quá tự do: chúng “dành chỗ cho hành động tự phát của mọi người, từ bỏ tham vọng xây dựng trật tự xã hội theo một kế hoạch và khuất phục tương lai theo ý chí của mình” (Raymond Aron). Ngược lại, nếu chủ nghĩa cộng sản lại hấp dẫn giới trí thức, có lẽ là một chế độ dựa trên sự bóc lột công nhân bởi giới trí thức.


Nhớ trước khi ông vua Charles của Anh quốc công du Hoa Kỳ, nhiều người Mỹ xuống đường trương biểu ngữ “No King” nhưng khi ông vua xứ sương mù đến Hoa Kỳ thì quốc hội Hoa Kỳ ai nấy đều vỗ tay như bắp rang ông vua khiến mình ngu lâu dốt sớm là càng ngu bền vững. Mình thì không thích vua chúa từ thời Bảo đại nên khi xưa ở Paris, ông Gignac người viết cuốn sách Con Rồng Annam, mỗi tuần đi gặp vua Bảo Đại để phỏng vấn để ghi lại chi tiết để viết. Có hỏi mình muốn gặp vua hay không thì mình chỉ biết lắc đầu.


George Orwell đã đưa ra phân tích tương tự từ năm 1946. Ở Anh, ông viết, những trí thức ủng hộ Joseph Stalin thường là “những cá nhân tầm thường, bất mãn với hệ thống, khao khát nhiều quyền lực và sự công nhận hơn”. Những người ấy nhìn sanLiên Xô và thấy hoặc tưởng rằng thấy một hệ thống loại bỏ tầng lớp thượng lưu, giữ giai cấp công nhân đúng vị trí của nó và trao quyền lực tuyệt đối cho những người như họ. Mong muốn thầm kín của họ: thay thế chủ nghĩa xã hội bình đẳng bằng một xã hội phân tầng nơi giới trí thức cuối cùng cũng có thể cai trị hoàn toàn đám nông dân ngu dốt như mình. Có lẻ tư tưởng do nhóm Troskist vì ông luôn Trostky rất giỏi hơn LÊNIN, không có ông ta thì cách mạng tháng 10 khó thành công.


Sau chuyến đi tới CubaSimone de Beauvoir đã kể lại bà, Jean-Paul Sartre và Fidel Castro cùng đi khắp hòn đảo, đặc biệt để Castro có thể “quở trách” nông dân và “yêu cầu họ làm việc, lao động tốt hơn”. Một hôm họ đi ngang qua những công nhân đang xây một ngôi làng. Chỉ nhìn thoáng qua, Castro đã nhận ra những sai sót trong thiết kế kiến trúc. Thế là ông “nằm dài xuống đất và vẽ trên cát sơ đồ của cả ngôi làng; rồi người ta mang cho ông một mảnh bìa để ông chép lại bản vẽ. Những người nông dân hoan hô ông: họ sẽ làm theo chỉ dẫn của ông.” Hân hoan học tập tư tưởng đạo đức bác Castro.


Bà Beauvoir còn kể rằng công nhân Cuba “luôn ngẩng đầu nhìn lên” để xem trực thăng của Castro có tới không, hy vọng ông sẽ từ trên trời hạ xuống để soi sáng cho họ bằng trí tuệ của mình. Khó có thể tìm được hình ảnh ẩn dụ nào đẹp hơn. Lâu lâu thấy đài truyền hình chiếu cảnh bác Kim Ủn của bắc Triều Tiên, chắp tay sau đít đi kinh lý, mấy tên tướng hay cán bộ đáng tuổi ông nội của bác Kim, cầm bút và sổ tay ghi lia lịa những lời dạy của bác Kim. Sau này chắc Bác Kim sẽ cho xuất bản cuốn sách đỏ (Petit livre rouge) như Mao Trạch Đông khi xưa làm. Mình có mua cuốn này để đọc.


Khi đọc cuộc phỏng vấn trong đó Beauvoir bày tỏ sự ngưỡng mộ đối với chế độ độc tài Cuba, thật khó để không nhận ra một dạng chủ nghĩa gia trưởng trí thức, một sự say mê lãng mạn đối với mô hình xã hội nơi một tầng lớp tinh hoa “khai sáng” dẫn dắt quần chúng đi đúng đường. Vài năm trước đó, bà từng vui mừng khi chế độ Maoist, thông qua bộ máy tuyên truyền, giữ cho người dân “được cập nhật các sự kiện, được giải thích ý nghĩa và nguyên nhân của chúng” và “được giáo dục chính trị”. Như Orwell nhận xét, một số trí thức không nhìn cách mạng như “một phong trào quần chúng mà họ muốn tham gia”, mà coi nó là “một tập hợp các cải cách mà họ, những học giả sẽ áp đặt lên người khác, những thành viên thuộc tầng lớp thấp hơn”. Có lẻ vì vậy mà các trí thức pháp rất ủng hộ Pol Pot, nghe nói ông này tốt nghiệp tiến sĩ và luận án của ông ta có nói về cuộc xây dựng một xã hội mà sau này khi nắm quyền ông ta đã thực hiện bằng cách giết hết 30% dân chúng Cao Miên.


Dựa trên tác phẩm Capitalism, Socialism and Democracy, Joseph A. Schumpeter lập luận rằng chủ nghĩa tư bản tưởng thưởng cho những người hành động thực tế, những người tạo ra giá trị cho người tiêu dùng, trong khi lại đánh giá thấp sự thông minh trừu tượng và tài hùng biện. Từ đó nuôi dưỡng sự bất mãn của giới trí thức, tự xem là giới tinh hoa.


Chủ nghĩa xã hội thì nâng những người ấy lên thành các nhà hoạch định và điều phối trung tâm, đem lại địa vị và sự bảo vệ khỏi áp lực thị trường. Chủ nghĩa tư bản tưởng thưởng cho người tạo ra giá trị; chủ nghĩa xã hội nâng vị thế của người điều khiển.


Giới trí thức được xem là những “thợ ngôn từ”, hình thành cảm giác mình “xứng đáng” từ thời đi học, nơi khả năng ngôn ngữ đem lại địa vị cao nhất. Sau đó họ bất mãn với chủ nghĩa tư bản vì hệ thống này lại thưởng cho khả năng tạo ra giá trị thực tế cho người tiêu dùng hơn là trí tuệ trừu tượng.


Tiến sĩ Thomas Sowell, một người da đen, từng là một người Mát-xít gộc như thượng nghị sĩ Bernie Sanders, gọi họ là “những người được xức dầu” (the anointed). Những người đánh giá quá cao kiến thức của bản thân trong việc thiết kế xã hội, đổ lỗi cho chủ nghĩa tư bản về mọi tệ nạn xã hội trong khi phớt lờ các đánh đổi và trí tuệ thực tiễn phân tán trong xã hội, đồng thời thúc đẩy những tầm nhìn giúp nâng cao vai trò của chính họ như những nhà hoạch định và phê bình. Có lẻ mấy ông trí thức mỹ thì mình thích nhất ông da đen này vì ôgn ta viết sách hay trả lời phỏng vấn rất dễ hiểu.


Giới trí thức sống trong các tháp ngà, tưởng tượng ra một thế giới huy hoàng, chuyên chính vô sản bú xua la mua. Muốn thực hiện chương trình của họ thì phải dùng bạo lực, ép buộc người khác tuân theo lời họ nếu không thì giết. Như Tố Hữu khi xưa từng viết: “Giết, giết nữa, bàn tay không phút nghỉ" (từ bài thơ Giết giặc hoặc Thơ đấu tố)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn