Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ Thuật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Nghệ Thuật. Hiển thị tất cả bài đăng

Nhà thơ Ocean Vương

Nhà thơ gốc Việt Ocean Vương


Có lần em họ của đồng chí gái từ San Jose xuống thăm con học đại học UCLA, tối hai cha con ngủ lại nhà mình. Sáng ra, mình đi tập Đông Phương Hội về thì gặp thằng cháu ngồi đọc sách trong thư viện của mình. Nó nói không ngờ đọc được cuốn sách anh ngữ về chiến tranh Việt Nam rất thú vị, khám phá nhiều điều khá hay, xa lạ chưa bao giờ biết. Sau đó mình ngồi nói chuyện với nó, thằng con và người em họ.


Mình giải thích thêm về chiến tranh Việt Nam, mình phải đọc sách báo Hà Nội, Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà, pháp ngữ,…. Để có một nhận định rõ hơn một tí thay vì chủ quan theo một chiều. Rồi câu chuyện xoay qua giới trẻ người Mỹ gốc việt. Mình nói đến thế hệ sau này có nhiều người đã vào dòng chính Hoa Kỳ, đã can đảm nói lên sự hội nhập của người Việt tỵ nạn. Có nhiều người đã không đi theo con đường mà đa số phụ huynh mong muốn là con học y khoa, nha khoa, hay tối thiểu là kỹ sư mà đi theo con đường về khoa học nhân văn như Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương khiến thằng cháu ngạc nhiên, không ngờ mình biết đến những người này. Mình nói phải theo dõi chớ để xem người Việt cống hiến vào mảnh đất đã cưu mang họ, cũng như mình đọc sách xuất bản từ Hà Nội để hiểu thêm về văn hoá Việt Nam ngày nay.


Bố nó thì ngọng, kêu không biết gì về chiến tranh, lịch sử Việt Nam hay văn chương mỹ hiện đại. Trẻ hơn mình, vượt biển khi còn bé. Sang đây đi học ra kỹ sư làm cho IBM đến giờ. Không biết gì về lịch sử Việt Nam cận đại. Nên khi con hỏi thì người em họ ngọng thôi. Mình nói thằng cháu là mình không thích hát karaoke nên khi rảnh thì đọc sách báo cho qua ngày tháng. Có vợ chồng anh bạn, tiến sĩ dạy đại học tại Hoa Kỳ, kể là khi đi học cũng không rành về lịch sử Việt Nam. Nên khi người Mỹ hỏi thì ngọng. Do đó chúng ta cần tìm hiểu thêm về vấn đề này để trả lời cho người Mỹ nhất thế hệ con của chúng ta.


Tuần này mình mới mua đọc cuốn sách mới ra của nhà thơ Ocean Vương có tựa đề “The Emperor of Gladness” (hoàng đế của niềm vui). Rất hay thường ông này ra sách về thơ của ông ta như cuốn sách bán chạy On Earth We’re Briefly Gorgeous và The Emperor of Gladness. Ông ta là người Việt thứ 2, nhận được MacArthur “Genius Grant” và giáo sư dạy sáng tác văn chương tại New York University. Người đầu tiên là bác Huỳnh Sanh Thông, chống đối chính sách mỹ tại Việt Nam nên bị trù dập không tìm được việc tại Hoa Kỳ, sau được đại học Yale, mướn và bác dịch Kim Vân Kiều, và CHinh Phụ Ngâm ra anh ngữ.


Mình đọc cuốn sách của ông ta xoay quanh việc làm thế nào để tìm thấy ý nghĩa, mục đích sống, phẩm giá và giá trị bản thân khi ta cảm thấy lạc lối, bế tắc hoặc bị đè nặng bởi mặc cảm, đặc biệt là những mặc cảm xuất phát từ nghèo khó, thân phận của người ngoài cuộc, mất mát hay áp lực xã hội. Được biết tên việt là Vương Quang Minh, chắc gốc người Tàu tại Việt Nam. Sau này, khi vào quốc tịch, mẹ ông ta đổi tên là “Ocean”, có nghĩa đại dương nối hai bờ biển Việt Nam và Hoa Kỳ. Lý do là khi làm việc ở tiệm nail, một hôm khách hàng hỏi mẹ ông ta là trời nắng, sau làm việc, bà làm gì, mẹ ông ta kêu go to the beach, đi biển nhưng với giọng nước mắm của bà ta nên nghe như “go to the bitch”, bitch tiếng lóng có nghĩa là một cô điếm khiến bà khách hàng chới với.  Phải công nhận là người mỹ gốc Việt, ông ta không được sinh ra tại Hoa Kỳ nhưng ngôn từ anh ngữ được ông ta sử dụng rất hay, bay bỗng. Mình thấy ông ta viết hay hơn ông Nguyễn Thanh Việt.


Ông ta cho biết là bà ngoại khi xưa có lấy một người lính mỹ tham chiến tại Việt Nam, ông ta có chân trong đội kèn đồng, ban quân nhạc. Có 3 người con, sau ông ta về Hoa Kỳ thăm gia đình thì bị kẹt luôn trước 75. Mẹ ông ta lai nên chế độ mới đì, nên cả nhà phải vượt biển và đến Hoa Kỳ, định cư tại Hartford, tiểu bang Connecticut.


Bố mẹ ông ta ly dị, sau này bà mẹ đi thêm bước nữa, có một người em trai cùng mẹ khác cha. Cách đây 7 năm thì mẹ ông ta qua đời vì ung thư. Có lẻ hít hoá chất khi làm nail nên ông ta viết cuốn “time is a Mother”. Ông ta hiện nay, là giáo sư về môn văn chương tại đại học danh tiếng New York, NYU.


Nghe ông ta kể là ông dượng, chồng sau của mẹ ông ta, vượt biển sau 7 ngày trên biển, đến Hoa Kỳ. Đi làm công nhân cho hãng xưởng, từ 3 giờ chiều đến 12 giờ sáng. Đi làm về, ông trân trọng cởi cái áo của hãng có tên của ông ta là Ngọc, lên tường. Ông ta rất hãnh diện và nói là làm ở đây, ông ta có bảo hiểm y tế. Ông Ocean Vương cho biết, trẻ nhìn cuộc đời của bố dượng thì Chán Mớ Đời, đây là giấc mơ Hoa Kỳ hay sao. Nhưng đối với ông dượng thì quá tốt, khá hơn nhiều cuộc sống tại Việt Nam. Cho thấy giá trị cuộc đời được định nghĩa tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi người. Có thể một người khác sẽ chê cuộc đời ông bố dượng nhưng đối với ông ta là một hạnh phúc, được đi làm, chủ cho bảo hiểm y tế. Những ý thức như vậy khi sống với người binh dân, nghèo khiến giúp ông ta có chất liệu để suy gẫm và viết về những người bình thường.


Ông ta kể sống lên từ bé trong hoàn cảnh nghèo khó với bà mẹ đơn thân. Ăn housing, section 8, ông ta đi làm khi còn bé cho nhà nông trồng thuốc lá, được trả lương cao này nọ nhưng một hôm bà mẹ nói phải đi làm cho MacDonalds vì nếu không thì hai mẹ con sẽ mất trợ cấp Housing. Lúc đó, ông ta mới nhận thức cái vòng lẩn quẩn của xã hội Hoa Kỳ. Khi ăn housing trợ cấp thì con người khó thoát ra khỏi cái vòng ấy để vươn lên trong xã hội, thực hiện giác mơ Hoa Kỳ. Ông ta kể trong khu vực ông ta ở, có nhiều người trẻ muốn giúp gia đình nhưng không muốn gia đình mất trợ cấp nên làm chui hay buôn sì-ke, ma tuý và đưa đến bắn chết nhau hay vào tù.


Ông ta kể khi bà mẹ bị ung thư, ông ta có hỏi bà mẹ là kỷ niệm đáng nhớ nhất của hai mẹ con. Bà mẹ trả lời là khi hai mẹ con ngồi trong xe trên bãi đậu xe và ăn chicken Nuggets của MacDonalds. Cho thấy cuộc đời chúng ta cứ nghĩ đến chuyện cao sang nhưng kỷ niệm rất đơn sơ. Nhắc đến vụ này thì đối với mình kỷ niệm đáng nhớ với mẹ mình là khi hai mẹ con đi chơi ở Nhật Bản. Chỉ có hai mẹ con, lần đầu tiên mình được mẹ kể chuyện ngày xưa, thời còn bé ở Huế. Tương tự ngày nay, cô em mình nghỉ hưu ở nhà chăm sóc mẹ mình. Cô em cho rằng đó là quyết định đúng đắn nhất, vì chăm sóc mẹ, vì trước đây bận công ăn việc làm. Mỗi tuần nói chuyện với mẹ mình thì bà cụ cảm thấy hạnh phúc vì có cô em chăm sóc rất kỹ lưỡng. Đó cũng là cái Diễm phúc của cô em mình.


 Nói đến ăn gà khiến mình nhớ thời mới phát hiện ra mối tình hữu nghị của đồng chí gái, cuối tuần mình chạy xe xuống Quận Cam, đưa đồng chí gái đi chơi. Mình đưa cô nàng vào tiệm ăn Pollo Loco , (gà điên), mình đem theo mấy coupon mua 2 tặng 1. Cả hai ăn ngấu nghiến. Ngày nay thì có đi ăn tiệm sang nhưng có lẻ kỷ niệm đẹp nhất vẫn là ăn gà điên. Nói lên mối tình hữu nghị sông liền sông, đùi gà liền cánh gà. Chán Mớ Đời 


Ocean Vuong chia sẻ nhận thức, kỷ niệm từ chính cuộc đời mình, một người Mỹ gốc Việt đồng tính, lớn lên trong cảnh nghèo khó tại Hartford, Connecticut, được nuôi dưỡng chủ yếu bởi những người phụ nữ mù chữ anh văn làm nghề làm móng tay. Vùng này có nhiều người Việt tỵ nạn sinh sống khi xưa. Mình có vẽ một ngôi chùa cho gia đình phật tử ở vùng này. Anh ta nhìn nhận nghịch cảnh không chỉ là đau khổ, mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng sự sáng tạo, sức bền và khả năng đổi mới của con người.


Người ta hỏi ông ta một cuộc đời có ý nghĩa là gì thì theo Ocean Vuong, một cuộc đời ý nghĩa không phải là liên tục chứng minh giá trị của mình với bản thân hay người khác, không phải leo lên đỉnh núi của thành tích, cũng không phải tìm mọi cách để thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại. Điều quan trọng là “Hãy tìm thấy sức mạnh và giá trị ngay tại nơi chúng ta đang đứng.” Nơi chúng ta đang sống lúc này đã đủ để trở thành một con người có giá trị. Không ai cần phải “thoát ra” mới xứng đáng được yêu thương hay tôn trọng. Phải công nhận từ ngữ ông ta dùng để diễn đạt trong cuốn sách rất hay dù trẻ tuổi. Ông ta tập thiền phật giáo nên có lẻ ảnh hưởng chánh niệm phật giáo.


Ông Ocean nói rằng sự xấu hổ (shame) hiện diện khắp nơi, đặc biệt đối với người lao động nghèo và những người luôn cảm thấy mình là kẻ ngoài cuộc. Ông ta kể lại ký ức thời thơ ấu khi mẹ mình phải trả lại những quả cà chua tại siêu thị vì không đủ tiền mua. Đó là một ký ức nhỏ nhưng chứa đựng nỗi nhục nhằn mà người nghèo thường phải chịu đựng.


Theo ông ta: Phẩm giá (dignity) là khả năng sống mà không bị xấu hổ về chính con người mình. Điều đó có nghĩa là chấp nhận mọi phần của bản thân, kể cả những điều xã hội gọi là thất bại, và biết trân trọng chính hành trình đã tạo nên con người mình. Ông ta cũng phân biệt: Xấu hổ về bản thân (shame of being) với cảm giác mình vốn dĩ là người tồi tệ. Đây là loại xấu hổ phá hủy con người và xấu hổ về hành động (shame of actions), nhận ra mình đã làm điều sai. Loại xấu hổ này có thể thúc đẩy sự trưởng thành và thay đổi tích cực.


Ông ta cho rằng ngôn ngữ là sức mạnh, cho rằng ngôn ngữ hằng ngày từ quảng cáo, chính trị đến những khẩu hiệu doanh nghiệp, thường được sử dụng để thao túng, hạ thấp hoặc kiểm soát con người. Trong khi đó, thi ca và ngôn ngữ được lựa chọn một cách có ý thức có thể:

  • khơi dậy vẻ đẹp,
  • đánh thức sự kỳ diệu,
  • trả lại phẩm giá cho con người.

Toàn bộ văn chương của ông ta là nỗ lực sử dụng ngôn ngữ để khẳng định giá trị của bản thân và của cộng đồng. Người ta thường hỏi ông ta định nghĩa lại thành công và ý nghĩa của “sống không uổng”. Ông Ocean phản bác quan niệm phổ biến tại Hoa Kỳ, rằng thành công đồng nghĩa với việc vươn lên địa vị cao hơn hoặc thoát khỏi tầng lớp lao động. Ông ta nhắc rằng rất nhiều người lao động cả đời vẫn sống trong hoàn cảnh bình thường nhưng cuộc sống của họ lại vô cùng giàu có bởi:

  • tình yêu, có nhau bên đời
  • sự chăm sóc lẫn nhau khi đau ốm
  • trách nhiệm với gia đình,
  • sự hy sinh cho nhau. Ông ta kể có nhiều đại học ở âu châu mời ông ta dạy, lương cao hơn nhưng ông ta từ chối vì ở Hoa Kỳ, ông ta có thể chở bà ngoại đi bác sĩ, giúp người dì, hay chơi bóng rổ với người em, tiểu gia đình của ông ta. Lý do ông ta là người đầu tiên tốt nghiệp đại học trong đại gia đình nên cam r thấy trách nhiệm rất nhiều đối với mẹ, em, bà ngoại, và các dì không rành tiếng anh.

Với họ, thành công không phải là giàu có hay nổi tiếng, mà là hoàn thành trách nhiệm và sống đúng với những giá trị của mình như trường hợp ông bố dượng. Một câu trong tiểu thuyết của ông ta gây nhiều suy ngẫm: “Điều khó khăn nhất trên đời là chỉ được sống một lần.” (The hardest thing is we live only once). Câu nói này không cổ vũ lối sống You Only Live Once “YOLO” bất chấp tất cả, mà nhắc nhở chúng ta hãy sống cẩn trọng, có ý thức và trân trọng từng ngày.


Ocean Vương đưa ra một cách nhìn rất khác mà ông ta gọi nó là: “Hệ miễn dịch của kẻ mạo danh.” (Imposter Syndrome). Thay vì xem đó là một khiếm khuyết cần loại bỏ, ông ta coi nó là: cơ chế bảo vệ, sự tỉnh táo, động lực để sáng tạo, lời nhắc phải luôn khiêm tốn và có trách nhiệm. Việc cảm thấy mình là người ngoài cuộc trong những môi trường ưu tú đôi khi phản ánh một sự căng thẳng đạo đức đáng được gìn giữ, chứ không phải điều cần xóa bỏ. Nếu mình nghèo rồi muốn lật đỗ bọn nhà giàu, là sai. Có lẻ chúng ta nên học tính khiêm nhường với mọi người xung quanh.


Ông Vương có nhắc đến “Văn hóa sợ bị quê” (Cringe Culture) và nỗi sợ thất bại trong xã hội ngày nay với các mạng xã hội lan tràn. Ông ta cho rằng mạng xã hội khiến nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, luôn sợ mình sẽ bị chế giễu hoặc bẽ mặt trước công chúng. Nỗi sợ ấy khiến họ như bị tê liệt, nhất là chủ nghĩa thức tĩnh, khiến họ không dám thử điều mới, không dám sáng tạo, không dám thất bại. Cũng như nói lên những gì mình ấp ủ, muốn lên tiếng vì sợ gán cho cái phù hiệu kỳ thị chủng tộc hay Nazi. Những cụm từ này bị con-hoang-hoá (bastardization), chụp mũ một cách vô lý, gán cho những tên nhãn hiệu vô cớ này.


Trong lớp học sáng tác của mình, ông ta luôn xem thất bại là một phần không thể thiếu của quá trình học hỏi. Theo ông ta, sáng tạo giống như làm thí nghiệm trong phòng lab. Không có thất bại thì sẽ không có đổi mới hay chữa lành. Chúng ta nợ nhau điều gì? Ông Ocean cho rằng điều con người thật sự cần dành cho nhau không chỉ là sự đồng cảm thụ động. Chúng ta cần:

  • lòng tử tế, trong cuốn phim chuyện tử tế, đạo diễn Trần Văn Thuỷ có nhắc đến lòng tử tế của người xưa mà xã hội ngày nay đã đánh mất. Ông trần Văn Thuỷ làm cuốn phim này mà suýt bị bắt, may thay ông ta gửi chui đợi thi ở bên Đông Đức và đoạt được giải nên không đi tù, vì ông ta tính nếu không được giải thì có lẻ đã ở lại bên Đông Đức vì về Việt Nam là bị bắt.
  • sự bao dung, sự đồng cảm khác với lòng tử tế, vì sự đồng cảm, compassion chỉ nhận thức thôi trong khi lòng tử tế đưa đến hành động. Tôi thấy anh nghèo đói khổ nên đồng cảm nhưng lòng tử tế đưa đến hành động như chị Thuỳ Giang nào trên mạng, mỗi tuần thấy chị ta nấu ăn rồi đi phân phát cho người vô gia cư.
  • sự hiện diện, khi người thân cần đến mình. Như trường hợp cô em mình ngủ hưu sớm vì nghĩ mẹ mình cần cô ta chăm sóc kỹ hơn.
  • khả năng thật sự lắng nghe và chăm sóc nhau. Hàng ngày chúng ta cứ gặp nhau, hỏi dăm câu trời nắng trời mưa, rồi đường ai nấy đi nhưng nếu chúng ta bỏ thêm thời gian, đứng lại hỏi thêm về cuộc sống của họ, nghe họ thật sự kể về cuộc sống của họ.

Chính những khoảnh khắc rất nhỏ, một cuộc trò chuyện chân thành, một người chịu lắng nghe, hay việc hướng sự chú ý khỏi nỗi đau của bản thân để quan tâm tới người khác, mới là điều tạo nên ý nghĩa cuộc sống. Ông ta dùng hình ảnh:“Viên sỏi và những gợn sóng.” Hãy quay trở lại với đứa trẻ bên trong mình, nhớ lại hy vọng và ý định ban đầu của nó. Đó là nguồn sức mạnh có thể lan tỏa thành những vòng sóng tích cực đến người khác.


Ông Ocean Vương chia sẻ thêm nhiều quan điểm đáng nhớ:

  • Xây dựng và chữa lành luôn chậm chạp hơn rất nhiều so với phá hủy. Tình nghĩa vợ chồng được xây dựng rất lâu nhưng có thể bị đánh đỗ, phá huỷ rất nhanh chóng.
  • Cuộc sống luôn chứa đựng cả vẻ đẹp lẫn nỗi đau; hai điều ấy có thể cùng tồn tại.
  • Đừng mãi cố leo lên “đỉnh núi” của thành tựu. Hãy bước xuống để sống trọn vẹn trong đời thường, trong gia đình và các mối quan hệ. Nhiều người chạy theo công danh để rồi một ngày nhận ra sự vô thường thì đã quá muộn.
  • Hãy chấp nhận nỗi sợ như dấu hiệu của sự trưởng thành.
  • Nhưng đừng bao giờ sợ chính con người mình.
  • Hãy dám chấp nhận rủi ro, kể cả khả năng bị xấu hổ hay thất bại.

Cuốn sách khuyên chúng ta:

  • ngừng phán xét vị trí hiện tại của mình; ông ta có nói đến một đêm, trước khi đi ngủ, bà mẹ nói với ông ta, mẹ xin lỗi, mẹ đã cố gắng hết sức nhưng không thoát khỏi cảnh nghèo khổ, cuộc sống mẹ đơn thân tại Hoa Kỳ.
  • buông bỏ áp lực phải trở thành một con người khác;
  • học cách đối diện với mất mát mà không khép kín trái tim; ông ta mất bà mẹ qua bệnh ung thư nhưng không khép kín trái tim, viết cuốn sách về thời gian là mẹ.
  • tìm lại phẩm giá và giá trị vốn có của bản thân. Chúng ta hay so sánh bản thân với những người khác. Không cần, vì trên thế gian có người giàu có người nghèo. Nếu họ giàu thì chúc phúc cho họ. Người ta giàu ăn cơm với cá, còn mình nghèo thì bắt võng ở đầu vườn bơ để ăn bơ.

Khi xưa, mình cũng trải nghiệm về người ta đánh giá mình về cái tội nghèo từ bé ở Đà Lạt. Đến nhà mấy tên học chung thường ít được mời vào nhà. Lớn lên, quen mấy cô bạn gái thì bị gia đình họ khinh vì không phải là bác sĩ, nha sĩ. Khi mình bắt đầu đi học đầu tư địa ốc, bạn bè, gia đình bên vợ cười nhất là mấy ông anh bác sĩ. Nhưng đó làm nguồn lửa, động lực giúp mình vượt qua. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nah  

Trọng nam khinh nữ ở thế kỷ 21

Văn hoá á đông, theo ảnh hưởng của Khổng Giáo, rất trọng nam khinh nữ với những câu tục ngữ như “nhất nam viết hữu thập nữ viết vô”. Mình nhớ khi sang tây, mấy tuần lễ sau nhận được thư của ông cụ, than là mẹ mày lại sinh con gái. Nghe kể ở quê, khi xưa, nhà nào có con trai thì mỗi lần làng có việc thì ai có con trai thì đem thúng để lấy đồ ăn, còn con gái thì chả được gì nhưng phải ra đình làm việc, nấu nướng.

Khi xưa, con gái khi cha mẹ chết về nhà để tang thì phải lấy khăn che mặt vì mang tội bất hiếu, với quan niệm “con gái là con người ta, con dâu mới là mẹ cha mua về”. Ngày nay thì kinh nghiệm cho thấy, ai có con gái thì về già được nhờ, con gái về thăm, đem quà cáp. Con trai thì nó lấy vợ thì theo gia đình vợ, ngược với tư duy khi xưa. Chán Mớ Đời 

Đọc một câu chuyện trên mạng xã hội Thái Lan kể về một người cha ở Trung Quốc đã quyết định để lại toàn bộ tài sản thừa kế cho con trai, hoàn toàn không cho hai cô con gái một xu nào. Ông ta cho rằng con gái sau khi lấy chồng cũng giống như “bát nước hắt đi”. Lần đầu tiên mình nghe câu tục ngữ người Tàu này.

Rồi một ngày, người mẹ trong gia đình lâm vào cảnh bệnh ung thư hiểm nghèo. Người cha tìm đến con trai để xin tiền chữa bệnh, nhưng mới hay con trai đã tiêu sạch số tiền thừa kế. Tuyệt vọng, ông quay sang nhờ hai cô con gái giúp đỡ, nhưng cả hai đều từ chối.  Sự phẫn uất dâng trào, ông ta đã chửi mắng các con gái “đồ vô ơn, bất hiếu”.


Câu chuyện này xảy ra tại Thành Đô vào năm 2021.  Nhân vật chính là ông Phó, một người đàn ông 72 tuổi. Khi ngôi nhà của ông bị giải tỏa để tái phát triển đô thị, ông nhận được hơn một triệu nhân dân tệ tiền bồi thường (tương đương khoảng 5 triệu baht Thái).


Ông Phó quyết định trao toàn bộ tài sản cho con trai, theo quan niệm truyền thống rằng tài sản phải được truyền lại trong dòng họ. Ông cho rằng nếu chia cho con gái, tài sản sẽ theo con gái về nhà chồng, giống như “nước đổ đi không lấy lại được”.  Vì vậy, ông coi con trai quý giá hơn và giao hết tài sản cho con trai. Ông này có 3 đứa con, nên mình đoán là hai cô con gái đầu rồi cuối cùng mới sinh ra một người con trai.


Hai cô con gái đứng chết lặng, không nhận được một xu nào. Người con trai tuyên bố rằng từ nay không cần các chị em quan tâm đến cha mẹ nữa; anh ta sẽ lo liệu tất cả và cấm các chị can thiệp. Hai người con gái đành chấp nhận, còn người con trai ung dung nhận trọn số tài sản.


Thời gian trôi qua, người mẹ, lúc đó 71 tuổi, được chẩn đoán mắc ung thư giai đoạn cuối, cần điều trị và nằm viện dài ngày. Ông Phó, không có ai chăm sóc vợ, lại đang cạn kiệt chi phí điều trị, nên đành tìm đến con trai xin tiền. Tuy nhiên, toàn bộ số tiền ông từng trao cho con trai, với hy vọng con trai sẽ phụng dưỡng cha mẹ vì xem con trai là chỗ dựa vững chắc nhất, đã bị tiêu xài hết sạch từ lâu. Vụ này thì mình không hiểu lý do giao gia tài cho thằng con khi nó còn bé.


Ngay sau khi nhận tiền, người con trai mua xe sang, thuê người mai mối tìm vợ, mang tiền đầu tư nhưng thua lỗ, cuối cùng vợ bỏ đi. Từ chỗ giàu có, anh ta trở nên nghèo khó hơn cả trước. Ông Phó và con trai sau đó đến nhà cô con gái lớn xin tiền, nhưng cô kiên quyết từ chối.


Người con trai vu khống hai chị gái lấy cắp tiền tiết kiệm của cha, dù không có bằng chứng nào. Thực tế, hai chị gái đã xin phép cha dùng thẻ ngân hàng để gửi tiền họ kiếm được, giấu chồng vì chồng họ không đáng tin. Dù vậy, người em trai vẫn lớn tiếng buộc tội họ ăn cắp. Phụ nữ hay có quỹ đen.


Ông Phó từng coi hai con gái như “bát nước hắt đi”, nhưng giờ đây lại phải van xin họ giúp tiền, thậm chí đến tận nơi làm việc. Cô con gái lớn không cho ông một đồng nào, khiến ông Phó chửi mắng rồi quỳ xuống cầu xin. Cô con gái cũng quỳ xuống trước cha. Người con trai tiếp tục chửi bới, gây ra xung đột gia đình dữ dội, báo chí phải đưa tin. Cô con gái lớn nói sẵn sàng chăm sóc mẹ, nhưng về tiền bạc thì nhất quyết không đưa. Mình đoán thằng chồng nắm tiền hết theo văn hoá tàu.


Ông Phó tiếp tục tìm đến cô con gái thứ hai. Cô tỏ ra bình tĩnh hơn chị gái và cũng bày tỏ sẵn sàng chăm sóc mẹ. Tuy nhiên, khi ông Phó đề cập đến viện phí và mong muốn cô hỗ trợ chi trả, sắc mặt cô lập tức thay đổi. Cô trả lời giống hệt chị gái: sẽ chăm sóc mẹ nhưng tuyệt đối không bỏ tiền.


Trước tình hình căng thẳng, chính quyền địa phương phải vào cuộc hòa giải. Cả hai người con gái đều kiên quyết từ chối chi trả viện phí. Người em trai, vốn khăng khăng cho rằng các chị có nghĩa vụ tài chính, vẫn không thể thuyết phục được hai chị em thay đổi quyết định.


Trong khi đó, người con trai, người từng hùng hồn tuyên bố sẽ một mình phụng dưỡng cha mẹ, lại không thể thực hiện lời hứa ấy vì đã tiêu xài hết tài sản thừa kế. Cuối cùng, ba anh chị em mỗi người một con đường. Ông Phó chỉ biết đứng đó khóc, phải đối mặt với hậu quả từ chính sự thiên vị và tình yêu không công bằng mà ông đã dành cho các con.


Ngày nay, người ta vẫn còn mơ mộng về nền văn hóa phong kiến xưa. Thời đó, con trai trưởng ở cùng cha mẹ, làm việc trên ruộng gia đình với mục đích là sau khi cha mẹ qua đời, sẽ tiếp tục sống trong căn nhà thờ tự. Tuy nhiên, ngày nay đã khác, cả trai lẫn gái đều được đi học, có nghề nghiệp ổn định, nên không nhất thiết phải ở cùng cha mẹ để làm việc đồng áng hàng ngày.


Một luật sư chuyên về luật gia đình khuyên rằng khi lập di chúc, nên chia đều tài sản cho tất cả các con. Điều này có thể giúp chúng duy trì mối quan hệ thân thiết sau khi bố mẹ qua đời. Ngược lại, nếu không làm như vậy, chúng có thể tranh giành từng món đồ nhỏ nhặt nhất. Rồi anh em từ mặt nhau mà mình đã chứng kiến từ thân hữu. Chán Mớ Đời 


Họ quay video bỏ trên mạng nhưng nói tiếng tàu nên không tải về đây. Nếu ông tàu này chia gia tài làm 3 cho 3 đứa con thì kết cục có lẻ bớt bi đát hơn. Nuôi 3 cái hụi thì hy vọng trúng một cái cũng đỡ an ủi thay vì bạn có một hụi chết. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn

Tìm địa chỉ “Hotel California”

 “Hotel California”: Kiệt tác đưa Eagles lên đỉnh cao và kéo họ đến bờ tan rã


Nhớ thời sinh viên đi nhảy đầm là nghe bản nhạc Hotel California, xem như bản chính của buổi họp mặt thân hữu, khiến mình mơ một ngày nào đó, viếng cái khách sạn danh tiếng này. Sau này qua California lần đầu tiên, hỏi bạn bè khách sạn này nằm ở đâu thì họ cười quá cỡ thợ mộc, kêu chỉ là tưởng tượng trong trí của nhạc sĩ. Chán Mớ Đời 

Song đấu guitar giữa Don Felder và Joe Walsh

Cách đây mấy năm mình có xem cuốn phim tài liệu trên Netflix thì phải về sự hình thành và tan rã của ban nhạc The Eagles. Có lẻ khúc phim đầy ấn tượng là hai tay đàn Guitar Solo song đấu, tưởng như mày ngon hả, xem đây rồi kéo éo éo, phê không thể tả. Rồi hồi vuốt cây đàn cái vèo. 


Vào những thập niên 60, Los Angeles là vùng thánh địa cho những ai muốn nổi tiếng về âm nhạc. Có 4 ông thần từ xa đến để chơi nhạc kiểu (back up) cho ca sĩ Linda Ronstadt. Họ hợp rơ với nhau khi lưu diễn với ca sĩ Linda Ronstad. Sau chuyến lưu diễn họ hợp nhau thành lập một ban nhạc. Họ thâu đĩa đầu tiên mang tên Eagles và đứng đầu suốt 5 tuần lễ.


Năm 1974, Don Felder được mời gia nhập ban nhạc dù không phải là một trong những người sáng lập. Ông Felder được khuyên là muốn làm nhạc cho ban nhạc thì chỉ làm nhạc thôi còn lời ca thì để hai ông thần chánh làm nên ông ta chỉ làm đâu 15, 16 bài, gọi là Demo, chỉ có 2 bản được thâu sau này là Nạn nhân của tình yêu (victim of Love) và Hotel California.

Trong lịch sử nhạc rock Mỹ, hiếm có ca khúc nào vừa là biểu tượng vinh quang, vừa là dấu mốc cho sự sụp đổ nội bộ như “Hotel California” của ban nhạc Eagles. Phát hành năm 1976, bài hát không chỉ đưa Eagles lên hàng ngũ huyền thoại, mà còn phơi bày và khuếch đại những mâu thuẫn đã âm ỉ từ lâu trong lòng ban nhạc. Thành công của Hotel California chính là con dao hai lưỡi: một mặt mở ra kỷ nguyên vàng son, mặt khác đẩy Eagles vào vòng xoáy quyền lực, cái tôi và sự chia rẽ không thể hàn gắn. Dù sau này vì tiền bạc họ có đoàn tụ để đi lưu diễn nhưng các thế lực thù địch vẫn không thể hoà hợp hoà giải được, dẫn đến tan rã hoàn toàn sau khi kiếm được một mớ tiền về hưu.


Đến ngày nay, thiên hạ cũng đặt câu hỏi về lời ca của bài hát này. Họ phỏng vấn hai người đặt lời ca thì hai ông nói mỗi khác, một cách trừu  tượng. Nghe kể hai ông này phải cách ly với ban nhạc mất mấy ngày để viết lời cho nhạc do ông Felder đã soạn. Có thể sau khi phê cocaine, họ tư duy đột phá viết ra những lời ca trên rồi chả nhớ lý do xuất khẩu thành thơ. Nay tìm cách nói bú xua la mua để nghe vì nghe càng chới với. Nhạc sĩ Việt Nam lấy thơ của ai rồi soạn nhạc trong khi đây họ làm nhạc trước rồi tìm cách soạn lời. Tương tự bài “The Sound of Silence” mà mình đã kể.


Trước Hotel California, ban nhạc Eagles vận hành tương đối dân chủ. Các thành viên cùng tham gia sáng tác, quyết định và chia sẻ ánh hào quang. Làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu. Nhưng khi ca khúc trở thành hiện tượng toàn cầu, cán cân quyền lực trong ban nhạc lập tức thay đổi. Họ bắt đầu thấy tiền, trở thành tư bản nên không muốn chia đồng đều mà làm theo nhu cầu, hưởng theo năng suất. Don Henley và Glenn Frey, hai gương mặt nổi bật nhất, sáng lập viên, dần dần nắm quyền kiểm soát sáng tạo và định hướng nghệ thuật. Nghe phỏng vấn tay guitar solo Joe Walsh, ông ta kêu chống chọi nhẹ lại, thậm chí đòi không cho ông ta tham dự ban nhạc. Nếu không chúng ta sẽ không thấy màn song đấu đàn guitar giữa ông ta và Don Felder. Những thành viên khác, đặc biệt là tay guitar Don Felder, bắt đầu cảm thấy mình bị đẩy ra rìa dù nhạc do chính ông ta sáng tác nhạc của bài hát. Quyền quyết định không còn thuộc về tập thể, mà tập trung vào một số ít cá nhân, gieo mầm cho sự bất mãn kéo dài.


Năm 1994 khi ban nhạc được kết hợp lại để đi tour thì hai ông thần Don Henley và Glendale Frey kêu tiền bạc tụi tao lấy nhiều hơn vì có công nhiều hơn khiến ông Don Felder không chịu và bị cho ra rìa nên kiện tụng, phần ông Joe Walsh thì nghiện rượu và cocaine nhưng được ông Don Henley giúp cho vào trung tâm cai nghiện nên vẫn nhớ ơn, kêu không có Don thì đời tôi đã tiêu tùng.


Mâu thuẫn ấy càng trở nên sâu sắc quanh đoạn solo guitar đôi huyền thoại của Hotel California. Don Felder là người viết phần nhạc nền ban đầu, bộ khung tạo nên linh hồn bài hát. Thật ra khi mới được thành lập ban nhạc Eagles hát nhạc miền quê (country music) nhiều hơn như album “take it easy” nhưng thời cuộc đã thay đổi, ông bầu ban nhạc kêu phải thêm rock vào nên họ mời Don Felder và Joe Walsh tham gia hoàn thiện và cùng Felder trình diễn đoạn solo được ca ngợi là hay nhất lịch sử nhạc rock. Tuy nhiên, theo thời gian, Felder cảm thấy đóng góp của mình không được ghi nhận xứng đáng, đặc biệt trong các phát biểu công khai và câu chuyện được kể lại với truyền thông xem như bị cướp công cách mạng. Một đoạn nhạc từng là biểu tượng của sự hòa hợp nghệ thuật, nay trở thành biểu trưng cho cạnh tranh và oán giận. Ai buồn đời nghe “Take ít Easy” sau đây:

https://youtu.be/9KQKJLELs9w?si=bcrovXkH17VXB94_


Danh vọng và tiền bạc tiếp tục đổ thêm dầu vào lửa. Hotel California bán hàng chục triệu bản, hình như 30 triệu khắp toàn cầu, đưa Eagles vào các tour diễn sân vận động và mang lại nguồn lợi khổng lồ. Nhưng thành công không được phân bổ công bằng. Henley và Frey có nhiều quyền lực hơn, nhiều tiếng nói hơn, và trở thành gương mặt đại diện của ban nhạc. Trong bối cảnh đó, những mâu thuẫn vốn nhỏ bị phóng đại, biến thành xung đột cá nhân và đấu đá quyền lợi.


Trớ trêu thay, chính nội dung của Hotel California,  lời cảnh báo về cái bẫy của danh vọng, sự hưởng lạc và ảo tưởng tự do, lại phản chiếu đời sống thực của ban nhạc. Lưu diễn triền miên, lạm dụng chất kích thích, kiệt sức tinh thần và cái tôi nghệ sĩ va chạm liên tục khiến The Eagles dần trở thành hình ảnh mà họ từng phê phán trong ca khúc. “Bạn có thể làm thủ tục trả phòng bất cứ lúc nào, nhưng không bao giờ có thể rời đi”, (you can Check-out anytime but you never leave) câu hát ấy như một lời tiên tri cho số phận của chính họ. Ngày nay khi nói đến ban nhạc này, chúng ta đều nghĩ đến Hotel California. Coi cuốn phim tài liệu mới biết ban nhạc có nhiều nhạc phẩm khác nổi tiếng mà mình từng nghe trên đài phát thanh nhưng không biết là của họ.


Đỉnh điểm của sự rạn nứt đến vào năm 1980, trong chuyến lưu diễn The Long Run. Tại một buổi diễn ở Long Beach, Glenn Frey và Don Felder cãi nhau ngay trên sân khấu, thậm chí đe dọa nhau trong lúc biểu diễn. Không khí thù địch ấy khiến việc tiếp tục tồn tại như một ban nhạc trở nên bất khả thi. Không lâu sau, Eagles chính thức tan rã. Don Henley mỉa mai rằng ban nhạc sẽ không bao giờ tái hợp “cho đến khi địa ngục đóng băng”. Xem đường dẫn năm 1976, lúc bản nhạc Hotel California mới được ra đời.

https://youtu.be/pcGYDuw0YbY?si=pWwuQAeeiFHw9WXr


Mặc dù Eagles sau này tái hợp vào năm 1994 với tour Hell Freezes Over, vết nứt do Hotel California tạo ra chưa bao giờ thực sự lành lại. Don Felder cuối cùng bị sa thải năm 2001 và kiện lại ban nhạc, khép lại chương bi kịch kéo dài nhiều thập kỷ.


Ngày nay, Hotel California vẫn được tôn vinh là kiệt tác bất tử của rock cổ điển. Nhưng đằng sau giai điệu mê hoặc và đoạn solo huyền thoại là một câu chuyện cay đắng: bài hát đưa Eagles lên đỉnh cao cũng chính là khoảnh khắc họ đánh mất sự đoàn kết. Hotel California không chỉ kể về cái bẫy của giấc mơ Mỹ, nó còn là tấm gương phản chiếu bi kịch của chính những người đã tạo ra nó.


Mình xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần đoạn song đấu guitar Solo của hai ông thần này. Ông Don Felder nói là ông ta viết cho hai người, nếu để ý thì cách ông ta đánh và Joe Walsh khác nhau nhưng mình có nghe nhưng chả thấy khác biệt lắm. Ai rành nhạc lý chắc sẽ thấy sự khá sức biệt. Mình theo dõi tay của họ đánh thì thấy khác biệt. Mình mới coi lại phần năm 1976 khi họ chơi đàn thùng thì có thấy sự khác biệt một chút còn khi họ chơi guitar điện thì eo éo luôn. 


Theo mình hiểu thì ông Don Felder viết nhạc cho bản Hotel California nhưng chưa có tên, chỉ đánh vòng vòng rồi thâu lại khi đang được cocaine phê. Sau đó hai ông thần chính mới bắt đầu viết lời. Từ đó họ sửa từng chữ một vì quá nổi tiếng qua các album trước nên nhà sản xuất cần cái gì độc đáo hơn.


Hình như ông Don Felder mới qua đời năm nay hay năm vừa rồi. Người làm lịch sử âm nhạc thời mình học đại học, mê nức nở rồi cũng qua đi. Tấm hình đăng trên bìa của đĩa hát là Hotel Beverly Hills ở Los Angeles. Lúc đầu khách sạn này tính thưa kiện nhưng sau thấy khách đến ở nhiều quá nhờ bản nhạc nên thôi.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn