Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khoẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khoẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

Histotripsy, cách chữa bệnh ung thư mới

 Histotripsy, cách chữa bệnh ung thư mới 

Việc FDA phê duyệt Hệ thống Edison (Edison System) đánh dấu một bước tiến công nghệ quan trọng trong lĩnh vực ung thư can thiệp, mang đến một giải pháp cơ học có độ chính xác cao thay thế cho các phương pháp đốt u bằng nhiệt hoặc phẫu thuật cắt bỏ truyền thống. Mỗ xẻ sẽ khiến bệnh nhân mất sức, sau khi giải phẫu và nhiều khi yếu quá thì đi đoong luôn.


Công nghệ nền tảng của hệ thống này, được gọi là histotripsy, sử dụng các sóng âm hội tụ cường độ cao thay vì nhiệt hay bức xạ để phá hủy mô đích. Khi các sóng âm này đi xuyên qua da, chúng hội tụ chính xác vào thể tích khối u đã được xác định trước.


Sự luân phiên cực nhanh giữa áp suất cao và áp suất thấp tạo ra các vi bọt khí từ lượng khí tự nhiên hòa tan trong mô, một hiện tượng được gọi là cavitation âm học (acoustic cavitation).


Chỉ trong vài phần triệu giây, các vi bọt khí này giãn nở rồi sụp đổ dữ dội, tạo ra những lực cơ học cực mạnh tại chỗ, phá vỡ màng tế bào và làm khối u hóa lỏng thành các mảnh vụn tế bào vô hại. Mình không biết mấy tế bào vô hại sẽ đi về đâu, làm sao trục xuất khỏi cơ thể. Ai biết cho mình thêm tin tức.


Do histotripsy hoạt động hoàn toàn dựa trên cơ chế cơ học, nó tránh được hiện tượng gọi là “heat sink effect” (hiệu ứng tản nhiệt), một hạn chế thường gặp trong các liệu pháp nhiệt, khi các mạch máu lớn gần khối u hấp thụ nhiệt và làm giảm hiệu quả tiêu diệt tế bào ung thư ở vùng lân cận.


Ngoài ra, ngưỡng năng lượng cơ học cần thiết để làm vỡ màng tế bào khác nhau tùy theo từng loại mô. Các bác sĩ điện quang can thiệp có thể lập trình các đầu phát sóng để nhắm chính xác vào ngưỡng phá hủy của mô ung thư, đồng thời bảo tồn các cấu trúc lành chắc chắn hơn như mạch máu gan và ống mật.


Khả năng bảo tồn cấu trúc đặc biệt này giúp giảm đáng kể nguy cơ xuất huyết trong và rò mật, cho phép điều trị hiệu quả các khối u gan nguyên phát cũng như các tổn thương di căn nằm sát những cấu trúc quan trọng mà trước đây được xem là không thể phẫu thuật.


Histotripsy khác gì so với các phương pháp hiện nay?

Phương pháp

Cơ chế

Ưu điểm

Nhược điểm

Đốt sóng cao tần (RFA)

Nhiệt

Đã sử dụng rộng rãi

Bị ảnh hưởng bởi heat sink effect

Vi sóng (Microwave Ablation)

Nhiệt

Đốt nhanh hơn RFA

Vẫn có nguy cơ tổn thương mô lành

Xạ trị

Bức xạ ion hóa

Không cần xâm lấn

Có thể ảnh hưởng mô xung quanh

Phẫu thuật cắt gan

Cắt bỏ mô

Có thể chữa khỏi một số trường hợp

Đại phẫu, nhiều biến chứng

Histotripsy

Lực cơ học từ siêu âm hội tụ

Không cần rạch da, bảo tồn mạch máu và ống mật

Công nghệ mới, hiện chỉ áp dụng cho một số chỉ định

Điều đáng ghi là ngoài việc phá hủy khối u, một số nghiên cứu trên động vật cho thấy histotripsy còn có thể kích thích hệ miễn dịch nhận diện các tế bào ung thư còn sót lại ở nơi khác trong cơ thể. Hiện các nhà khoa học đang nghiên cứu liệu hiệu ứng này có thể giúp chống di căn hay không. Nếu chống được di căn thì quá tốt.



Hệ thống được FDA phê duyệt đầu tiên là Edison Histotripsy System của HistoSonics⁠, ban đầu dành cho điều trị một số loại u gan. Nhiều nghiên cứu hiện đang được tiến hành để mở rộng sang ung thư thận, tụy, tuyến tiền liệt và các khối u khác.


Để mình tìm thêm tin tức về vụ này xem. Chưa biết nhà thương nào sử dụng loại phương pháp này. Ai biết thì cho em hay để bổ túc thêm.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tế bào ung thư sinh sản ra sao

 Tế bào ung thư sinh sản ra sao


Cuối tuần này được tin ở Đà Lạt, một người bà con mới qua đời về bệnh ung thư. Ung thư là căn bệnh thời đại. Mình có kể một bài về ung thư sau khi bị mỗ lấy cục bướu ra. Tỏng suốt 2 tuần lễ chờ đợi khám nghiệm cục bướu, mình đọc 5 cuốn sách về ung thư nên tóm tắc lại . Khi gặp bác sĩ, phán cho một cái là bướu lành nên mừng ghét lớn. Nay mới đọc thêm tin tức về nguyên nhân giúp tế bào ung thư sinh sản. Vụ này mình đã kể nhưng kể thêm, bình dân học vụ một tí để cho mình dễ hiểu hơn để tránh giúp các tế bào xấu sinh sôi nảy nở thêm. Đúng hơn là hạn chế..


Ông Otto Heinrich Warburg (1883–1970) là một nhà hóa sinh người Đức, đoạt Giải Nobel Sinh lý học và Y học năm 1931 nhờ các nghiên cứu về hô hấp tế bào, chứ không phải nhờ nghiên cứu về ung thư. Ông trở nên nổi tiếng trong lĩnh vực ung thư học nhờ khám phá hiện tượng ngày nay được gọi là Hiệu ứng Warburg (Warburg Effect).


Vào những năm 1920, ông Warburg nhận thấy rằng nhiều tế bào ung thư tiêu thụ glucose (đường) với tốc độ rất cao và chuyển phần lớn glucose thành axit lactic ngay cả khi có đủ oxy. Axit lactic hiện ra khi mình chơi thể thao nhiều, chạy bộ, bơi lội,.. rồi qua ngày hôm sau chân tay đều đau nhức mỏi. Do đó sau khi tập hay chơi thể thao, huấn luyện viên thường bắt các vận động viên, người Mỹ gọi là Warm Down để tránh tình trạng này. Năm ngoái mình đi bộ ở Ý Đại Lợi 30-35 km mỗi ngày, về đến nơi, phải đi lòng vòng thêm vài cây số để warm down, để sáng mai, chân tay không mỏi mà đi tiếp.

Glucose đường đi vào tế bào bình thường và tế bào ung thư


Thông thường, các tế bào khỏe mạnh sử dụng oxy trong ty thể để tạo năng lượng từ glucose một cách hiệu quả. Ngược lại, nhiều tế bào ung thư lại dựa nhiều hơn vào quá trình đường phân (glycolysis), hay còn gọi là “lên men đường”, dù môi trường vẫn có oxy. Hiện tượng này được gọi là Hiệu ứng Warburg. Vì vậy người ta dùng sinh tố C để chữa bệnh ung thư vì đường có hoá chất tương tự như sinh tố C, chỉ khác ở lượng Hydrogen nên khi gặp sinh tố c, các tế bào ung thư tưởng là đường nên chạy ra ăn và tử luôn. Nôm na là glucose nuôi tế bào ung thư. Mà chúng ta thích ăn tinh bột và chè 3 màu. Tinh bột tạo ra glucose.


Ông Warburg cho rằng: Ung thư chủ yếu bắt nguồn từ sự suy giảm hô hấp tế bào (rối loạn chức năng ty thể), khiến tế bào buộc phải dựa vào quá trình lên men đường để tồn tại. “Nguyên nhân chính của ung thư là sự thay thế quá trình hô hấp sử dụng oxy bằng quá trình lên men đường.”

Tế bào tốt và tế bào ung thư, xem hình ảnh này thấy rõ hơn cả đọc một lúc thì nhức đầu


Ngày nay, giới khoa học hoàn toàn công nhận rằng Hiệu ứng Warburg là có thật. Tuy nhiên, đa số các nhà nghiên cứu không đồng ý rằng đây là nguyên nhân duy nhất hoặc nguyên nhân gốc rễ của mọi bệnh ung thư. Quan điểm hiện đại cho rằng:

  1. Các đột biến gen trong tế bào là yếu tố khởi phát ung thư.
  2. Những đột biến này làm thay đổi quá trình chuyển hóa năng lượng của tế bào.
  3. Sự thay đổi chuyển hóa đó tạo ra Hiệu ứng Warburg.
  4. Hiệu ứng Warburg giúp khối u phát triển nhanh bằng cách cung cấp năng lượng và nguyên liệu cho sự phân chia tế bào.

Các loại thức ăn giúp nuôi các tế bào như đường biến chế, các loại ngủ cốc biến chế, rượu, và các loại dầu thực vật. Còn thực phẩm không nuôi tế bào ung thư như rau cải, chất đạm tốt,..


Nói cho đúng, ông bà mình thường nói “bệnh tòng khẩu nhập”, bệnh đều đến từ miệng. Miệng ăn vào thức ăn không tốt, sẽ gây hại cho ty thể khiến biến đổi các tế bào. Hôm nay hai cha cong đi ăn hamburger, mình gọi món burger mà không có bánh mì kẹp, đọc thực đơn thì nội 2 cái bánh mì kẹp là 400 calories, nên xin rau xà lách để cuốn hamburger. Họ đem ra cho một đãi khoai tây chiên nhưng khôgn dám ăn vì hôm trước nghe Podcast, ông bác sĩ nói đến glycemic load, nghĩ là lượng ăn vào thì được biết một củ khoai tây chiên có đến 7 muỗng đường nên chỉ biết nhìn và hát đứng nhìn Sơn nữa khoai ơi, khoai kia có nhiều đường. Chán Mớ Đời 


Nói cách khác theo ông Warburg: Rối loạn chuyển hóa → Ung thư. Quan điểm hiện đại: Đột biến gen → Rối loạn chuyển hóa → Ung thư phát triển.


Ông Warbug nhận thấy tế bào ung thư tiêu thụ rất nhiều glucose, nhưng điều đó không có nghĩa là ăn đường trực tiếp gây ra ung thư. Hầu như mọi tế bào trong cơ thể đều cần glucose để hoạt động. Tuy nhiên, các tình trạng như: Béo phì, Kháng insulin, tháo đường type 2 có liên quan đến việc tăng nguy cơ mắc một số loại ung thư.


Công trình của ông Warbug đặt nền móng cho các kỹ thuật chẩn đoán ung thư hiện đại. Ví dụ, chụp PET/CT hoạt động dựa trên nguyên lý rằng nhiều khối u hấp thụ glucose mạnh hơn mô bình thường. Các bác sĩ tiêm một dạng glucose đánh dấu phóng xạ vào cơ thể; những vùng hấp thụ nhiều glucose sẽ hiện lên rõ trên hình ảnh, giúp phát hiện ung thư.


Điều thú vị là trong khoảng 15 năm trở lại đây, nhiều nhà nghiên cứu đã quay lại nghiên cứu sâu hơn các ý tưởng của Warburg. Điều này dẫn đến sự quan tâm ngày càng lớn đối với các chủ đề như chuyển hóa ung thư, chế độ ăn ketogenic, nhịn ăn gián đoạn, và vai trò của insulin trong sự phát triển của khối u. Tuy nhiên, những phương pháp này hiện vẫn được xem là hỗ trợ nghiên cứu hoặc hỗ trợ điều trị, chứ chưa thay thế được các phương pháp điều trị ung thư chuẩn như phẫu thuật, hóa trị, xạ trị hay liệu pháp miễn dịch.


Bộ trưởng y tế Hoa Kỳ, ông Robert Kennedy Jr., trả lời phỏng vấn cho biết ông ta nhịn ăn gián đoạn và ăn toàn thịt rau nên đã giảm được 40% chất béo trong cơ thể. Các tế bào ung thư rất yêu thích các môi trường thiếu Oxygen. Do đó tập thể dục và hít thở sâu rất quan trọng, nhờ vậy mới đưa Oxygen vào các tế bào, khó có tế bào ung thư sống sót.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Nên ăn Hạt bơ và chất dinh dưỡng

Mình thấy mấy video nhiều người kêu là đừng bỏ hạt bơ uổng vì có nhiều chất dinh dưỡng tốt. Có người kêu ngâm rượu để xoa tay chân nếu đau,… nói chung là đủ trò khiến mình tò mò tìm tài liệu thì có đọc trên trang nhà của Viện Y Tế Quốc Gia (NIH) thì thấy có một nghiên cứu khá đặc thù nên xin tóm tắc lại đây. Ai buồn đời thì đọc rõ hơn theo đường dẫn

https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC9789361/

 Hạt bơ (Persea americana Mill.) là phụ phẩm chiếm 13–17% khối lượng quả bơ, thường bị loại bỏ trong ngành chế biến thực phẩm. Người ta bỏ vỏ và hạt bơ. Các nghiên cứu khoa học trong 15 năm qua đã chứng minh hạt bơ là nguồn nguyên liệu giàu dinh dưỡng và hợp chất hoạt tính sinh học đa dạng, bao gồm polysaccharide, protein, lipid, polyphenol, flavonoid, acetogenin, phytosterol và triterpenoid. 

Đây là danh sách những thức có thể làm với hạt bơ

Mình bình dân học vụ, hệ thống hóa thành phần hóa học, các hợp chất sinh học chính cùng với các hoạt tính dược lý tiềm năng dựa trên dữ liệu in vitro, in vivo và một số nghiên cứu sơ bộ trên người. Kết quả cho thấy hạt bơ có tiềm năng ứng dụng cao trong thực phẩm chức năng, chất bảo quản tự nhiên, dược phẩm và mỹ phẩm. Tuy nhiên, cần thêm các thử nghiệm lâm sàng quy mô lớn để xác nhận hiệu quả và an toàn lâu dài.

Tuần này mình nhận được thư của đại học UC riverside, nhơ mình gửi thư chi đó để họ nhận được tiền Grant của chính phủ để làm dầu của trái bơ. Kẹt là muốn làm dầu bơ thì phải để nó chín có nhiều dầu rồi mới làm. Do đó đa số là bơ không bán được họ mới dùng máy ép để làm dầu bơ. Sang năm mình sẽ mua cái máy ép về để ép thử để dành ăn.

Hạt bơ, Persea americana, acetogenin, polyphenol, chống oxy hóa, kháng khuẩn, thực phẩm chức năng, phụ phẩm nông nghiệp.


Cây bơ thuộc họ Lauraceae, có nguồn gốc từ vùng Trung Mỹ và Mexico. Hiện nay, Mexico là nước sản xuất lớn nhất thế giới, theo sau là Peru, Indonesia, Colombia, Brazil, Kenya và Chile. Trong quá trình chế biến bơ thành nước sốt, dầu hoặc các sản phẩm đóng gói, hạt bơ bị loại bỏ hàng loạt, gây áp lực lên môi trường do phân hủy chậm và tiềm ẩn ô nhiễm.

Việc tái sử dụng hạt bơ không chỉ giảm thiểu chất thải mà còn tạo ra giá trị kinh tế mới. Nhiều nghiên cứu gần đây tập trung vào việc chiết xuất và đánh giá hoạt tính sinh học của hạt bơ, chuyển đổi nó từ “phế phẩm” thành “nguyên liệu quý”.


Mình cũng muốn tìm hiểu vụ này vì đến mùa là ăn bơ mệt nghỉ, mà phải quăng cái hột. Nếu có thể làm như phơi khô rồi xay nhỏ lại rồi trong năm lấy ăn chắc không bổ dọc thì bổ ngang.


Bảng 1. Thành phần hóa học cơ bản của hạt bơ (tính trên chất khô)

Thành phần

Hàm lượng

Ghi chú / Tài liệu

Carbohydrate

64,9%

Tinh bột chiếm 91,2%

Protein

7,75 – 23,0%

Biến động lớn giữa các nghiên cứu

Lipid

1,1 – 1,6%

Hàm lượng thấp nhưng giàu hoạt chất

Chất xơ thô

2,87%

-

Tro khoáng

3,82%

-

Độ ẩm

13,09%

-

Carbohydrate: Là thành phần chính, bao gồm tinh bột và các đường tự do. Hai đường C7 đặc trưng của họ Lauraceae là perseitol (12,54–88,3 mg/g) và D-mannoheptulose (10,51–63,8 mg/g), đóng vai trò dự trữ năng lượng và vận chuyển carbon trong cây. Các đường khác gồm fructose, glucose và sucrose.

Lipid: Mặc dù hàm lượng thấp, lipid hạt bơ rất đa dạng với các acid béo không no quan trọng: linoleic acid (35–38%), oleic acid (22–24%), palmitic acid (17–19%), cùng stearic, arachidic và nervonic acid. Nhóm hợp chất lipid hoạt tính bao gồm acetogenin (persin, persenone A/B/C, AcO-avocadene, avocatin).

Protein: chất đạm, hàm lượng dao động tùy theo giống và phương pháp phân tích. Protein từ hạt bơ được xem là nguồn protein thực vật bền vững, dù thành phần axit amin (chất đạm) vẫn cần nghiên cứu sâu hơn.

Vitamin và khoáng chất:

  • Vitamin C: 97,8 mg/100g (rất cao)
  • Vitamin A: 10 mg/100g
  • Vitamin nhóm B (B1, B2, B3)
  • Vitamin E: 0,12 mg/100g
  • Khoáng chất: Kali, Canxi, Phospho, Sắt, Kẽm, Đồng, Natri – hỗ trợ chức năng miễn dịch, tạo máu, xương và thần kinh.

Hạt bơ chứa hàm lượng polyphenol cao, đôi khi vượt cả quả trái quất. Các nhóm hợp chất nổi bật:

  • Phenolic acids: Acid caffeoylquinic, acid p-coumaroylquinic.
  • Flavonoid: Catechin, epicatechin, catechin gallate.
  • Proanthocyanidin: Procyanidin B1, procyanidin trimer A.
  • Acetogenin: Persin, Persenone A, B, C, Persediene, AcO-avocadene – nhóm hợp chất then chốt cho hoạt tính kháng khuẩn và chống ung thư.
  • Phytosterol: β-sitosterol, campesterol, stigmasterol (hỗ trợ giảm cholesterol).
  • Triterpenoid: Có tác dụng chống ung thư và chống viêm.
  • Tannin ngưng tụ và alkaloid (hyoscyamine, atropine, scopolamine – hàm lượng thấp).

Chống oxy hóa
Chiết xuất hạt bơ thể hiện khả năng quét mạnh các gốc tự do DPPH, ABTS, superoxide và peroxyl với EC50 ≈ 42,1 µg/mL và ORAC đạt 2012 µmol Trolox/mg. Khi bổ sung vào nhũ tương dầu-nước hoặc hamburger, bột hạt bơ giảm oxy hóa lipid lên đến 90%, cho thấy tiềm năng thay thế chất chống oxy hóa tổng hợp.

Chống viêm
Polyphenol benzotropolone glycosyl hóa trong hạt bơ ức chế mạnh sản xuất NO, iNOS, TNF-α, IL-1β trong đại thực bào RAW264.7 kích thích bởi LPS ở nồng độ thấp (5–6 µg/mL). Trong mô hình chuột viêm phù chân do carrageenan, chiết xuất methanol và nước giảm rõ rệt mức độ phù nề.

Kháng khuẩn và kháng nấm
Acetogenin làm tăng tính thấm màng tế bào vi sinh vật, gây rò rỉ nội bào và ly giải. Hiệu quả cao đối với 
Staphylococcus aureusStreptococcus pyogenesE. coliSalmonella typhiListeria monocytogenes (MIC ≈ 7,8 mg/L), Candida spp.Cryptococcus neoformans (IC50 < 8 µg/mL). Một số nghiên cứu cho thấy vòng vô khuẩn lớn hơn 2–4 lần so với chất bảo quản thương mại.

 Hỗ trợ kiểm soát đường huyết và lipid

Chiết xuất hạt bơ hoạt hóa PPAR-γ, tăng nhạy cảm insulin, giảm glucose máu và LDL-cholesterol, tăng dự trữ glycogen gan. Trên chuột đái tháo đường alloxan, liều 300–600 mg/kg giảm đường huyết hơn 70% và bảo vệ cấu trúc đảo tụy.

Tiềm năng chống ung thư
Chiết xuất ức chế nhiều dòng tế bào ung thư (MCF-7, LNCaP, H1299, HepG2, HT29) với IC50 từ 19–132 µg/mL. Cơ chế bao gồm ngừng chu kỳ G0/G1, kích hoạt apoptosis qua caspase-3, PARP, p53, stress oxy hóa và rối loạn ty thể. Triterpenoid và acetogenin đóng vai trò quan trọng. Nay mới hiểu lý do tại sao mấy ông thần bà thánh trên mạng cứ rêu rao vụ này.

Bảo vệ thần kinh
Ức chế acetylcholinesterase (AChE) và butyrylcholinesterase (BChE), giúp tăng nồng độ acetylcholine, có tiềm năng hỗ trợ phòng ngừa Alzheimer và các bệnh thoái hóa thần kinh.


Ứng dụng:

  • Thực phẩm chức năng: bột dinh dưỡng, trà chống oxy hóa, súp ăn liền, bánh nướng.
  • Bảo quản thực phẩm: chất chống oxy hóa và kháng khuẩn tự nhiên cho thịt, dầu ăn.
  • Dược phẩm và mỹ phẩm: thành phần kem dưỡng da, sản phẩm hỗ trợ chuyển hóa. Nếu mụ vợ thích làm thì nên làm vụ này bán kiếm tiền. Giúp phụ nữ trẻ đẹp mãi.
  • Chăn nuôi: bổ sung khẩu phần gia súc để cải thiện chất lượng thịt. Hèn gì mấy con sóc hay coyote rất thích ăn .

An toàn: Hầu hết nghiên cứu in vivo không ghi nhận độc tính cấp tính ở liều thông thường. Tuy nhiên, persin, tannin và một số alkaloid có thể gây rối loạn tiêu hóa hoặc độc tính nếu dùng liều cao kéo dài. Không khuyến cáo sử dụng hạt bơ thô làm thực phẩm hàng ngày mà chưa qua xử lý.


Hạt bơ là minh chứng điển hình cho xu hướng kinh tế tuần hoàn: chuyển đổi phụ phẩm nông nghiệp thành nguồn nguyên liệu sinh học có giá trị cao. Với hàm lượng polyphenol, acetogenin và phytochemical phong phú, hạt bơ sở hữu nhiều hoạt tính có lợi cho sức khỏe.

Tuy nhiên, phần lớn dữ liệu hiện nay vẫn giới hạn ở mức in vitro và in vivo. Các hướng nghiên cứu cần ưu tiên bao gồm:

  • Xác định sinh khả dụng và chuyển hóa trong cơ thể người.
  • Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng.
  • Phát triển phương pháp chiết xuất xanh (siêu âm, enzyme, nước subcritical).
  • Đánh giá độc tính dài hạn và tương tác thuốc.

Việc khai thác bền vững hạt bơ sẽ góp phần giảm lãng phí, bảo vệ môi trường và mang lại lợi ích sức khỏe cộng đồng trong tương lai.


Để mình tìm hiểu thêm để xem nếu có thể sử dụng hạt bơ để làm kem da mặt này nọ, để kiếm tiền. Bác nào muốn làm cái này thì cho em biết. Hàng năm em cung cấp hạt cho.

Tôi cứ loay hoay với mấy hột bơ từ trái bơ mà bác cho . Trồng chúng trong nước thì bây giờ lên được hai cây bé tí ti . Vui thôi .

UCR có rất nhiều chương trình để dùng bơ . Vỏ trái bơ còn tốt hơn cả hột bơ . Không hiểu mấy hãng làm guacamole có bán vỏ và hột cho ai để làm các thứ không . 

Điều quan trọng là bơ của bác tốt, không có thuốc diệt trùng vv... Bơ của các trại khác thì chỉ dùng hột chứ không dùng vỏ được vì có chất diệt trùng . 

Tôi có mua avocado oil để ăn thử . Chả có mùi vị gì đặc biệt lại rất đắt . 

Nhiên liệu từ vỏ và hột có thể dùng làm thực phẩm chức năng hay mỹ phẩm tốt .

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn