Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khoẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Sức khoẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

bán bệnh tật là nghề của bác sĩ

 Bán Bệnh Tật: Phơi bày cách ngành dược phẩm khổng lồ biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân

Sống tại âu châu hơn 12 năm nhưng mình chả bao giờ đi khám bác sĩ dù có bảo hiểm y tế nhưng khi sang Hoa Kỳ, sau khi lấy vợ thì đồng chí gái kêu đi khám bác sĩ mỗi năm theo định kỳ thì phác giác ra mình có bệnh đủ thứ trò. Vợ bảo thì phải phục tùng vì phận trai thuyền quyên. Đến khi mình bị gãy chân khi leo núi, nằm trên giường, buồn đời đọc 5 cuốn sách về ung thư thì thất kinh nên từ đó tìm hiểu thêm về y tế vì không thể nào tin hoàn toàn vào bác sĩ của mình vì theo châm ngôn của y sĩ ngày nay là “giúp một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng”. Nên mình định nghĩa lại ngày nay lương y như kế mẫu. Một bệnh nhân là một con bò để bác sĩ vắt sữa 3 tháng một lần. Bò nhiều bệnh càng nhiều càng tốt.

Tìm tài liệu đọc thì khám phá ra có nhiều người lương y như từ mẫu, bị hội đồng y khoa rút bằng vì dám nói lên sự thật nên mình càng chới với. Có ông bác sĩ nào ở Úc Đại Lợi bị cấm hành nghề, phải kiện tụng đủ trò mới lấy lại được bằng hành nghề. Lý do là ông ta khuyên bệnh nhân ăn uống cẩn thận thì bị tố là không có bằng dinh dưỡng nên không được khuyên bệnh nhân. Từ đó hay kiếm phim tài liệu và sách đọc về y tế. Rất khó nuốt vì quá khô khan, không như tiểu thuyết, tình yêu vớ vẩn nhưng phải cố gắng vì sự nghiệp cách mạng để tự cứu lấy mình. Hôm nay mình kể về cuốn sách do một người úc đại lợi và một người Gia-nã-đại, viết cách đây 20 năm. Trên Prime của Amazon có khá nhiều tài liệu còn trên YouTube thì hay bị chận.


Năm 2005, cách đây 20 năm, nhà báo y tế Ray Moynihan và nhà nghiên cứu chính sách dược phẩm Alan Cassels đã xuất bản cuốn sách mang tính đột phá khiến các công ty dược phẩm không yêu thích lắm “Selling Sickness: How the World’s Biggest Pharmaceutical Companies Are Turning Us All Into Patients (tạm dịch: Bán Bệnh Tật: Các công ty dược phẩm lớn nhất thế giới đang biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân như thế nào). Cuốn sách phê phán gay gắt cách kỹ nghệ dược phẩm mở rộng thị trường đúng theo quy trình, bằng việc quảng bá những trải nghiệm bình thường của con người thành các tình trạng bệnh lý cần điều trị bằng thuốc.


Luận điểm chính của cuốn sách bắt đầu bằng một câu trích dẫn từ một cựu giám đốc điều hành của công ty dược phẩm Hoa Kỳ Merck vào những năm 1970. Ông ấy buồn đời bị vợ la nên kêu rất thất vọng vì thuốc chỉ được bán cho người bệnh và mơ ước được sản xuất thuốc bán cho cả người khỏe mạnh, “bán cho mọi người”, giống như cách công ty Wrigley’s bán kẹo cao su. Chưa đau làm cho chúng bị đau, uống thuốc chúng càng đau thêm. 2 ông Moynihan và Cassels cho rằng tầm nhìn này đã trở thành hiện thực nhờ các chiến lược tiếp thị tinh vi: mở rộng ranh giới của bệnh tật, hạ thấp ngưỡng chẩn đoán và tạo ra nhu cầu ở những nơi trước đây không tồn tại, một quá trình mà họ và nhiều người khác gọi là bệnh hóa (disease mongering).

Các ý tưởng chính: Cách “bệnh tật” được sản xuất và bán ra


Các tác giả cấu trúc cuốn sách dưới dạng một loạt nghiên cứu trường hợp, mỗi chương phân tích một tình trạng bệnh cụ thể và thuốc liên quan để minh họa các chiến thuật mà “Big Pharma” sử dụng:

1.  Mở rộng định nghĩa về bệnh tật: Các công ty dược tài trợ cho các hướng dẫn y khoa và hội nghị đồng thuận nhằm tái định nghĩa những biến thể bình thường (như lão hóa, nhút nhát hay buồn bã) thành các rối loạn. Như Cholesterol khi xưa là chỉ số 356 là được xem là cao ngày nay thì chỉ số xuống còn 200 khiến ai cũng bị dính cả, phải uống thuốc. Các chuyên gia tham gia những hội nghị này thường có mối quan hệ tài chính với ngành công nghiệp, tạo ra xung đột lợi ích. Mình có xem một phim Ý Đại Lợi, nói về các người đi quảng bá thuốc, mua vé máy bay cho bác sĩ kê toa thuốc nhiều đi với gia đình du lịch ở các xứ khác miễn phí, có người lấy tiền bỏ túi.

2.  Hợp tác với bác sĩ và các nhóm bệnh nhân: Các hãng dược tài trợ giáo dục y khoa, hội nghị và các tổ chức vận động bệnh nhân, biến họ thành những người quảng bá (có thể vô tình hoặc cố ý). Các chiến dịch “nâng cao nhận thức” cho bệnh nhân, do các công ty dược phẩm tài trợ, giáo dục công chúng về những tình trạng “chưa được chẩn đoán đúng mức”. Lên mạng, thấy nhiều người không phải khoa học gia hay điều dưỡng viên, tuyên bố bệnh này bệnh nọ khiến người đọc hoang man, đi bác sĩ để xem xét lại. Ngày nay thì AI sử dụng các bác sĩ mà mình từng mua sách của họ rồi bựa ra đủ trò. 

Có một ông cựu bộ trưởng của Hy Lạp, nổi tiếng tỏng vụ Âu châu cứu xứ này khỏi bị phá sản. Ông này là mát-xít mình hay xem phỏng vấn ông ta về tình hình âu châu để hiểu thêm vì ông này có một cái nhìn khác với cộng đồng âu châu. Gần đây có AI làm video, bỏ ông ta lên nói đủ trò. Thiên hạ hỏi ông ta thì ông nói không phải do ông ta làm ra, họ dùng AI nhưng ông ta không làm gì được.

3.  Quảng cáo trực tiếp tới người tiêu dùng: Ở các quốc gia cho phép (như Mỹ), quảng cáo miêu tả những khó khăn đời thường thành các bệnh có thể điều trị, thúc đẩy bệnh nhân yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc cụ thể. Ở âu châu họ cấm được quảng cáo thuốc trên đài truyền hình còn ở Hoa Kỳ thì đủ loại nhưng 35% thời gian nói đến hệ ứng phụ, kêu cơ thể sau khi uống thuốc có hiệu ứng như này như nọ thì báo cáo ngay cho bác sĩ. Nếu họ nói đến hệ ứng phụ nghĩa là thuốc chưa đúng nhưng cứ bán ra đã.

4.  Tạo ra các rối loạn mới: Một số tình trạng gần như được “phát minh” hoặc phóng đại để phù hợp với thuốc mới, chẳng hạn biến sự cáu kỉnh nhẹ thành một rối loạn nghiêm trọng. Những chiến lược này biến những người khỏe mạnh hoặc chỉ gặp vấn đề nhẹ thành bệnh nhân suốt đời, tạo ra hàng tỷ đô la lợi nhuận đồng thời gây nguy cơ điều trị quá mức, tác dụng phụ và làm quá tải hệ thống y tế.


Các nghiên cứu trường hợp chính trong sách, em xin tóm tắc:

•  Cholesterol cao: Việc hạ thấp ngưỡng đã biến hàng triệu người thành “bệnh nhân” cần dùng statin, dù nhiều người có nguy cơ thực sự thấp. Chỉ số từ 240mg/dl còn 200mg/dl như ngày nay thì bố ai cũng bị cao mỡ, cái mất dạy là chúng ta cần mỡ để cơ thể hoạt động. Lá gan sản xuất 80% số lượng mỡ mà cơ thể cần hàng ngày.

•  Trầm cảm và thuốc SSRI: Tiêu chí mở rộng đã bệnh hóa nỗi buồn bình thường, thúc đẩy thuốc chống trầm cảm.

•  Mãn kinh và liệu pháp thay thế hormone (HRT): Được miêu tả như một bệnh thiếu hụt cần hormone dài hạn (sau này được phát hiện làm tăng nguy cơ sức khỏe). Đúng hơn là bệnh ung thư. Khi đồng chí gái đến thời kỳ mãn kinh, may có chị bạn là bác sĩ nói không nên uống. Bác sĩ biết sẽ gây ra bệnh ung thư nhưng bệnh nhân đến là cho toa về uống mệt thở.

•  Rối loạn lo âu xã hội: Sự nhút nhát được tái định khung thành tình trạng suy nhược có thể điều trị bằng thuốc như Paxil.

•  Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD): Mở rộng sang người lớn, mở rộng thị trường thuốc kích thích.

•  Hội chứng ruột kích thích, loãng xương và rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt: Những vấn đề nhẹ hoặc phổ biến được nâng lên thành cần dùng thuốc.


Các tác giả dựa trên phỏng vấn người trong ngành, bác sĩ, nhân viên tiếp thị và các nguồn học thuật để cho thấy cách những nỗ lực này làm mờ ranh giới giữa bệnh thực sự và các “yếu tố nguy cơ” mang lại lợi nhuận. ông Ray Moynihan, cây bút thường xuyên của BMJ và Lancet, cùng ông Alan Cassels, chuyên gia Canada về chính sách dược phẩm, kết hợp báo chí điều tra với phân tích dựa trên bằng chứng. Tác phẩm của họ đã phổ biến khái niệm “bệnh hóa” và ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận toàn cầu về quá trình y tế hóa quá mức.


Hai thập kỷ sau, cuốn Selling Sickness vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh lo ngại liên tục về ảnh hưởng của ngành dược khoa từ tiếp thị opioid đến các mở rộng hiện đại như ADHD ở người lớn hay thuốc điều trị béo phì. Cuốn sách kêu gọi sự hoài nghi đối với tin tức y tế, hướng dẫn độc lập và việc đánh giá lại điều gì thực sự cấu thành “bệnh tật” trong thời đại y học bị chi phối bởi lợi nhuận. Ở các xứ mà người Mỹ hay đến vào mùa thu để xem lá rụng, người dân địa phương bị nghiện thuốc Opiod.


Một điểm khác như bệnh loảng xương. Đầu thập niên 1990, một công ty dược phẩm chế tạo ra một loại thuốc trị bệnh loảng xương, mà dạo ấy chưa được hiểu rõ lắm. Các đại diện các công ty dược phẩm và bác sĩ  họp nhau tại cơ quan WHO để hội thảo, và quyết định thế nào là xương chắt là bình thường. Họ xếp loại ra sao mà 50% phụ nữ trên 70 tuổi bị bệnh loảng xương. Xem như trong vòng một đêm , 50% phụ nữ trên 70 tuổi thức dậy là có bệnh loảng xuống phải uống thuốc.


Các công ty này tặng miễn phí các y cụ cho các phòng mạch bác sĩ hay nhà thương để khám mật độ xương. Cái mất dạy là sau khi uống thuốc này sau nhiều năm khiến xương của bệnh nhân dòn và dễ gãy hơn. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Hạt giống đỏ lãnh đạo tư bản

 Lò sản xuất tổng thống và bộ trưởng pháp

Tuần này thiên hạ bàn tán về ông cán bộ lớn nào kêu phải dùng gen chính gốc của người cộng sản 3 đời chuyên chính vô sản để cấy nòi giống lãnh đạo cho Việt Nam mai sau. Rồi thiên hạ đưa lên luận án ra trường tiến sĩ của ông ta là đạo văn đủ trò. Mình kể về vụ các lãnh đạo Tây phương được tuyển lọc ra sao và đào tạo để được đưa lên nắm chính quyền thi hành các chương trình của các tài phiệt khắp năm châu.

Hôm nay tình cờ xem phỏng vấn cháu nội của tổng thống De Gaulle, tên Pierre de Gaulle, (con của đô đốc Philippe de Gaulle), được xem là một nhân vật ít lên tiếng, trầm lặng trong giới tài chánh sinh sống tại Thụy Sĩ khiến mình thất kinh nên mò thêm tài liệu để đọc. 

Ông thần cháu nội được xem là bênh vực Puchin trong cuộc chiến tại Ukraine, ông ta chỉ trích NATO và ủng hộ Puchin khiến dòng họ De Gaulle kêu chỉ ông Thần này thôi còn cả dòng họ vẫn cương quyết ủng hộ Ukraina tới binh sĩ cuối cùng. Mình nghĩ ông cháu nội này có tư tưởng như tổng thống De Gaulle, chống Mỹ. Chính ông ta muốn trung lập hóa Đông-Dương. 


Ông thần này lên đài truyền hình kêu là các tổng thống pháp hay các nhà cầm quyền của Âu châu đều xuất thân từ chương trình Young Leaders của French-American Foundation do CIA tài trợ như Sarkozy, Hollande và Macron. Chương trình các lãnh đạo trẻ là ngọn đuốc của cơ quan French -American Foundation, một tổ chức vô vụ lợi được thành lập năm 1976 với mục đích nối kết liên hệ của Pháp quốc và Hoa Kỳ. Năm 1981, họ chọn đâu 20 người vừa pháp và Mỹ có khả năng lãnh đạo, tuổi độ 30-40 tuổi để giúp tiến cử vào các môi trường chính trị và truyền thông. Họ tổ chức các buổi hội thảo hai bên nhằm thắt chặt tình hữu nghị xuyên Bắc Đại Tây dương. Các nhân vật tham dự đặc biệt như: 

•  François Hollande (1996)

•  Emmanuel Macron (2012)

•  Alain Juppé (1981)

•  Édouard Philippe (2012)

•  và (Arnaud Montebourg, Najat Vallaud-Belkacem, etc.)

Nicolas Sarkozy không tham dự trực tiếp nhưng các công sự viên như Pierre Mariani tham dự vào 1996).


Chương trình này thường bị chỉ trích như một công cụ gây ảnh hưởng của Hoa Kỳ đúng hơn là CIA. Mình chưa tìm ra bằng chứng do CIA trực tiếp nắm chương trình này. 

French-American Foundation được tài trợ bởi các nhà hảo tâm, công ty tư nhân. 


Mình nghĩ mỗi nước tại Âu châu đều có một hiệp hội tương đương, mình chỉ tìm ở pháp vì theo dõi tình hình ở pháp còn mấy nước khác thì ít để ý. 


Theo trang nhà của hội thì mỗi năm họ phải tham dự 2 buổi hội thảo bắt buộc. 1 tại Âu châu và một tại Hoa Kỳ, thường vào tháng 10 mỗi năm. Tất cả đều được đài thọ. Và sau này sẽ được ủng hộ lên làm lãnh đạo tại Hoa Kỳ cũng như tại Pháp sau khi được huấn luyện rất kỹ. Mà muốn tham gia thì phải trải qua nhiều kỳ phỏng vấn chớ không phải nông dân như mình muốn xin là được. 


Tương tư mình có nghe người kể là Hoa Kỳ có tổ chức khóa hội thảo tại DC và mời một số luật sư trẻ và trí thức Việt Nam, một số du học sinh. Được đào tạo về tranh đấu dân chủ này nọ. Sau khi trở về Việt Nam thì họ có lên tiếng này nọ rồi bị bắt nay đa số đều được thả và ở hải ngoại. Lâu lâu có thấy tên họ trên mạng xã hội nhưng đã ra khỏi Việt Nam thì không còn hữu hiệu nữa. Hà Nội cho người đánh banh ta lông luôn. Hình như còn 2 người trong tù. Ai buồn đời thì đọc đường dẫn để hiểu thêm.


https://frenchamerican.org/young-leaders/


Tiền bạc mà USAID đài thọ các tổ chức vô chính phủ trên thế giới mà nay chính phủ Trump thay đổi không muốn dính dáng gì đến nữa nên cắt hết các tài trợ để quay về với chủ nghĩa của tổng thống Monroe để cải thiện lại kinh tế Hoa Kỳ trong cuộc tranh đua cách mạng trí tuệ nhân tạo với Trung Cộng. Có thể vì vậy mình thấy giới truyền thông việt ngữ có nhiều tờ báo đánh chính phủ Trùmp không thương tiếc. Chắc họ lãnh tiên từ các tổ chức này. Có những tờ báo cho cộng đồng mượn phòng họp của họ miễn phí, chắc chắn là có nhận tiền từ các cơ quan vô vị lợi. Mình biết một tổ chức thuê văn phòng to đùng rất rẻ và có nhận tiền tài trợ. Họ cho cộng đồng mướn rẻ hàng tuần để tổ chức các chương tình cho cộng đồng, phải trả bằng tiền tươi.


Phía Hoa Kỳ thì có những nhân vật sau đây:

 U.S.: Bill Clinton, Hillary Clinton, Antony Blinken (former Secretary of State), Eric Garcetti (Ambassador to India), Gwen Ifill (journalist), Isabel Wilkerson (Pulitzer winner).

•  France: Emmanuel Macron (President), Édouard Philippe (former Prime Minister), Thomas Pesquet (astronaut), Cédric Villani (mathematician/politician).

Xem ra các lãnh đạo Tây phương đều được sản xuất từ một lò nên chúng ta thấy địa chính trị đều như nhau. Mình nghe nói đến Deep State nhưng không rõ lắng nhưng qua vụ này thì mình bắt đầu hiểu các người bỏ tiền ra để huấn luyện và giúp cho các thành viên của foundation để đạt đến đỉnh cao của quyền lực tại Hoa Kỳ cũng như Pháp quốc không phải vì họ yêu nước mà cần các tay sai thực hiện những quyết định của họ muốn để nắm quyền lực và tiền bạc. 


Vụ hồ sơ Epstein gây sóng gió từ khi ông Trump lên, mình đoán các tài phiệt có dính liêu vào mà những người này đều cúng tiền tranh cử cho hai bên nên chỉ cho ra chút chút ra để dân bớt lộn xộn. Có thể họ dùng hình ảnh tài liệu để làm áp lực chinh trị vì thấy nhiều đại biểu thôi không tái ứng cử nữa. Dư luận bị dẫn dắt từ thời xưa đến nay chỉ có là tình vi hơn ngày nay. Được cái là họ tung fake news cho chúng ta chửi nhau cho vui. Để hôm nào mình kể cách làm lũng đoạn một quốc gia do một cựu đại tá an ninh nga sô kể chương trình của liên sô để làm sụp đỗ đế chế Hoa Kỳ cũng như cuốn sách người Tàu, cố vấn của Tập Cật Bình, nói về Hoa Kỳ. 


Bác nào có tài liệu về các tổ chức này thì cho em xin. Em nghĩ phía Trung Cộng hay nga sô cũng xen vào các nước khác nhằm bố trí các lãnh đạo trẻ trong các nước lân cận để hổ trợ cho cuộc xây dựng một đế chế mới ở Á châu. Ai được Nga hay Trung Cộng huấn luyện thì tương lai sẽ nắm quyền hành.


Lâu lắm rồi mình có đọc một bài về 100 hạt giống đỏ đầu tiên được Hà Nội cho qua liên xô đào tạo. Mình có dịp gặp vài người này như chị Hằng Nga, kiến trúc sư ở Đà Lạt và vài người khác. Nhớ chị Nga mời lại nhà chơi, nhìn lên bàn thờ thấy hình ông Hồ và Trường Chinh khiến mình thất kinh. Chị ta kêu bố tôi đấy. Bài báo cho biết các hạt giống đỏ này cũng không đem lại hay giúp gì cho đất nước. Bài báo do một người trong nước hình như cũng là hạt giống đỏ viết. Thấy Tấm ảnh chụp cả nhóm 100 hạt giống đỏ, con của các cán bộ cấp cao của Hà Nội. Hình như có ông Nông Đức Mạnh. Bác nào có thông tin gì thêm thì cho em xin. Cảm ơn trước. 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tướng George Marshall khôi phục lại âu châu

 Chiến Tranh và Hoà Bình

Dạo này dân cư mạng ồn ào trên các mạng xã hội. Người nguyền rủa Hoa Kỳ bán đứng Ukraine như Việt Nam Cộng Hoà, Á-Phú-Hãn, các đồng minh. Người thì hoan hô, kêu cuộc chiến không phải của người Mỹ hay người Pháp. Trong khi đó Hoa Kỳ đang quần Venezuela thì các đồng minh như Puchin, Tập Cận Bình, Cuba chả thấy lên tiếng. 


Bên pháp số chống đối tổng thống Macron thì kêu ông Macron hân hoan tuyên bố sẽ cung cấp 100 chiến đấu cơ Rafale cho Ukraina trong vòng 10 năm nữa, khiến cổ phiếu công ty chế tạo máy bay này tăng vọt lên 10% trong khi ngân quỹ không được quốc hội duyệt phê. Họ kêu thu thuế được 18 tỷ mà phải xài đâu 30 tỷ (không nhớ số chính xác, chỉ lướt qua). Dân tình kêu tiền đâu, bán cho Ukraine, họ hết tiền, hết người để đánh. Chết rất nhiều. Mình theo dõi bên ủng hộ Ukraina, bên ủng hô Puchin thì cả hai bên chết rất nhiều và đào ngủ cả hai bên cũng nhiều. Mình thích đọc tài liệu của hai bên để có một nhận định riêng ít bị tuyên truyền.


Khi xưa, còn bé mình nghe đài Sàigòn buổi chiều kêu Việt Cộng bỏ lại mặt trận 120 xác chết, và bao nhiêu bị thương, phe ta vô sự rồi buồn đời tối mình mở đài Hà Nội ra nghe thì cũng cùng trận đánh, phe ta diệt 400 tên lính nguỵ,… cho nên mình thất kinh từ đó, không bao giờ tin vào một tin tức. Sau này đọc tin tức cả hai bên thì được biết Mùa Hè Đỏ Lửa, hai bên chết kinh hoàng. Mình hỏi ông chú họ ở quê, chú kể là hãi hùng, đại đội của chú chỉ sống sót vài người, chú bị thương nhẹ nên may được trở về quê quán. Đọc hồi ký các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà cũng nghe kể tan thương lắm.

Trên tờ Foreign Affairs, có đăng vụ phụ nữ Nga hối hả lấy chồng, đối tượng là những chàng trai sắp sửa được đưa ra mặt trận, vào lò nghiến thịt. Lý do là những người tử trận được tiền tử đền bù khá nhiều và có thể được trả lương cả đời nhằm khuyến khích họ ra đi. Họ sẽ hát ngày thành hôn tôi bận đồ hành quân và vợ tôi chỉ mong cho tôi sớm hy sinh cho Puchin …. Cho thấy người Nga vẫn vui khi có chiến tranh vì được lãnh tiền vì chiến tranh.


Mình thích sự trào phúng của người Pháp vì có nhiều người đưa thí dụ Pháp quốc ký giấy “letter of intent” bán cho Ukraina 100 phi cơ chiến đấu Rafale như: hội phụ huynh muốn gây quỹ nên mua bột mì, đường bú xua la mua rồi bỏ công làm bánh này nọ, sau đó đem bán rồi cúng hết tiền cho chương trình của trường. Chính phủ Macron nói bán 100 chiến đấu cơ Rafale nhưng Ukraine không có tiền thì xem như cho không. Tạo công ăn việc làm và làm giàu cho công ty chế tạo Rafale, đã giúp ông ta lên ngôi tổng thống. Cũng có thể chỉ nói cho vui làm trò để lấy tinh thần cho lính Ukraina tiếp tục đánh. Nghe phía bên Puchin thì cũng muốn đàm phán. Cần giữ đất đã chiếm vì nếu không thì dân nga sẽ thịt ông ta. Mà ông Zelensky cũng lâm vào tình trạng nếu mất đất thì dân chúng Ukraina cũng thịt ông ta. Có lẻ ông Zelensky sẽ bị ám sát trước khi ký kết ngưng bắn. Rồi vài năm sau, Puchin lại cho quân xua qua Ukraina nữa như Hà Nội đã làm sau khi bị đánh tơi bời hoa lá năm Mậu Thân. Dân chúng miền nam không nổi dậy chạy theo họ mà bỏ chạy nên họ dẹp vụ giải phóng miền nam và ra mặt đưa bộ đội vào Nam bất kể ký kết hiệp đình Paris.


Sáng nay, lại nghe Hung Gia Lợi kêu được Hoa Kỳ cho phép mua dầu khí rẻ của Nga và sẽ chia cho Serbia. Mấy ông tây bà đầm ở Âu Châu hô hào đánh cho Puchin bay đầu nhưng lại mua dầu khí rẻ của Puchin thì làm sao cấm vận được. Họ được mua dầu khí rẻ thì càng tốt. Chiến tranh càng kéo dài dân âu châu càng lợi. Họ chỉ hô hào đạo đức giả.


Nhớ khi xưa, học lịch sử Hoa Kỳ, sau khi Hitler tự tử, nay lại nghe tin tức ở Á Căn Đình cho rằng ông này đã chạy sang Á Căn Đình sống đến chết. Quân đội đồng minh chiến thắng thì có chương trình MArshall nhằm tái thiết Tây Âu lại. Cứ tưởng tượng đang đứng giữa trung tâm một thành phố châu Âu năm 1945. Không có tiếng xe cộ. Không có tiếng rao buôn bán. Chỉ có mùi khói, những bức tường cháy xém, và tiếng bước chân nặng nhọc của những con người đang cố gắng sống sót sau một cơn ác mộng kéo dài sáu năm. Những cây cầu gãy đôi, những trường học chỉ còn là đống gạch. Những nhà máy không còn máy móc và tệ hơn tất cả: không còn hy vọng. Có thể nói là tuyệt vọng.


Hình ảnh này mình đã nhìn thấy năm Mậu Thân, khi lên Cây Số 4, phụ gia đình dì Ba Ca, xây lại căn nhà, dấu vết bom napalm vẫn đầy , nghẹt mùi cháy của bom phosphore. Hình ảnh dượng Ba Ca đứng nhìn căn nhà gỗ đã tương, chỉ còn nền xi-măng. Dượng và mấy người con trai mỗi ngày làm hắc-lô để xây lại. Chính phủ Việt Nam Cộng Hoà đã tài trợ một số tiền. Hình ảnh hoang tàn của chiến tranh khiến mình hoảng sợ, chả muốn đánh nhau, tham dự cuộc chiến.

Hình ảnh mình đã thấy ở Số 4 sau khi Việt Cộng rút lui và trận mưa bom napalm mà từ khu vực nhà mình đứng thấy rõ các cuộc oanh tạc. Lúc đầu thấy máy bay bà già bay vòng vòng rồi nghe cái tạch, rồi thấy đạn khói bay xuống đất khói bay lên rồi vài phút sau là khu trục cơ bay đến thả bom. Dạo đó chưa học hyperbol nhưng sau này lớn lên học là hiểu liền nhờ chứng kiến thật khi xưa. Có ai biết lý do Việt Cộng lại cắm quân lại Số 4? Vì dân số 4 có nhiều người nằm vùng?


Trong bối cảnh Tây Âu thời hậu chiến, xuất hiện một nhân vật, dáng khắc khổ, ít khi cười, nói chuyện thẳng thắn nhưng rất chậm rãi, không ồn ào phô trương. Tên của ông là George Catlett Marshall. Trong chiến tranh, ông từng chỉ huy hơn tám triệu binh sĩ, nhiều hơn cả lực lượng của Mỹ ngày nay. Ông góp phần định hình chiến lược đánh bại phe Trục. Tướng Eisenhower, cựu tổng thống Hoa Kỳ từng nói:“Marshall là người đàn ông vĩ đại nhất tôi từng gặp.”


Nhưng điều khiến ông Marshall trở nên một tướng lãnh độc nhất, không phải là khả năng chỉ huy chiến tranh mà là khả năng nhìn thấy hòa bình khi thế giới chỉ thấy tro tàn. Tương tự ngày nay, dân cư mạng cứ hô hào Ukraine phải đánh tới người dân cuối cùng. Mình xem biểu đồ ngân sách của âu châu và Hoa Kỳ viện trợ cho Ukraine từ khi cuộc chiến khởi đầu thì thất kinh, người Mỹ đóng góp rất nhiều mà nay âu châu kêu gọi đóng góp thêm khiến người Pháp kêu trời. Tiền đâu ra. Lúc đầu mình tưởng chỉ có Hoa Kỳ nay khám phá ra âu châu cũng banh ta lông về kinh tế. Chúng ta cần chuẩn bị cho cuộc khủng hoảng kinh tế sắp tới.

Ông Trump lên kêu không cung cấp viện trợ nữa thế là ngọng. Mình nghe nói nhưng chưa có tin chính thức là chính quyền Ukraina cũng tham nhũng lắm. Đồ viện trợ qua tay chính phủ Ukraina rồi trở lại các tay khác ở Âu châu và Hoa Kỳ. 


Trong một buổi điều trần tại thượng viện, tướng George C. Marshall ngồi im lặng trong khi các thượng nghị sĩ tranh luận, giọng nói của họ vang lên khi họ cố gắng biến chiến thắng khó nhọc của Thế chiến II thành sự trả thù. Đó là năm 1947, và châu Âu đã tan vỡ. Các thành phố nằm trong đống đổ nát, người dân chết đói, và trật tự chính trị từng gắn kết lục địa này đang sụp đổ. Toàn bộ các quốc gia đứng bên bờ vực hỗn loạn. Các người dân địa phương trả thù nhau vì tội làm pháp gian, đức gian, ý gian,… các phụ nữ có sinh hoạt với đức quốc xã trong thời chiến tranh, bị cạo đầu, bôi nhọ, chửi bới. Thêm Stalin cắt đất, khiến nhiều dân tộc phải rời bỏ chốn chôn nhau cắt rốn đi về một xứ nào đó họ chưa bao giờ biết. Như trường hợp bà Inge, sinh ra trong vùng đất ở Ba Lan, sau đệ nhị thế chiến bị tống cổ về Đức quốc. Phải học tiếng đức vì được xem là người đức thay vì Ba Lan như xưa.


Hoa Kỳ đã có thể quay lưng. Họ có thể tuyên bố chiến thắng của mình và bỏ mặc châu Âu chịu đau khổ. Nhiều người trong Quốc hội mong muốn điều đó. George Catlett Marshall, hiện là Ngoại trưởng, lại có một tầm nhìn khác. Ông đề nghị một điều mà ít ai có thể tưởng tượng được: tái thiết chính những quốc gia mà nước Mỹ đã chiến đấu chỉ hai năm trước đó như Đức quốc và Nhật Bản thêm Ý Đại Lợi. Nhờ đó có thể giúp Hoa Kỳ khôi phục các xưởng sản xuất, tái thiết sau thế chiến thứ 2. Giúp người giúp ta 100 lần 100 giàu có.


Ngày 5 tháng 6 năm 1947, ông đứng trên bục giảng tại Đại học Harvard, đọc bài diễn văn tốt nghiệp chỉ kéo dài chưa đầy mười phút. Không có những khoảng lặng kịch tính như mình học ở hội Toastmasters hay những lời kêu gọi cảm xúc, không có những lời hoa mỹ để nhận được tràng pháo tay. Thay vào đó, ngoại trưởng Marshall nói một cách thẳng thắn, thực tế về sự tàn phá ở châu Âu và trách nhiệm của những người đã thoát khỏi nó. “Chính sách của chúng ta không nhằm vào bất kỳ quốc gia hay học thuyết nào,” ông nói, “mà là chống lại nạn đói, nghèo đói, tuyệt vọng và hỗn loạn.” Ai buồn đời thì nghe bài diễn văn của ông ta:

https://youtu.be/dg9_GqXa770?si=Xc6IxauqhZcY-PX3


Mấy ông tàu cũng bắt chước ý định này với chương trình “Vòng đại và Con Đường”, giúp họ phát triển, có công ăn việc làm cho người Tàu lại thêm có ảnh hưởng ở các các xứ mà họ thực hiện chương trình này như ở Phi Châu và các nước thuộc Liên Xô cũ mà mình đã từng ghé. Puchin thay vì đem quân đi đánh thiên hạ, cứ dùng tiền bán dầu hoả rồi thành lập các chương trình như Trung Cộng là được lòng dân thế giới, giúp đất nước giàu có.


Đằng sau những lời lẽ bình tĩnh ấy là một người đàn ông đã chứng kiến ​​chiến tranh sâu sắc hơn bất kỳ ai. Với tư cách là Tổng Tham mưu trưởng Lục quân, Marshall đã chỉ huy lực lượng quân sự lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, hơn tám triệu quân dưới quyền. Ông đã giám sát mọi hoạt động, mọi kế hoạch, mọi cuộc di chuyển từ Bắc Phi đến Normandy. Tuy nhiên, ông chưa bao giờ tìm kiếm sự chú ý của đám đông. Nếu ai có dịp đi viếng vùng Normandie, nên ghé lại các nghĩa địa chôn lính mỹ chết khi được gửi sang âu châu. Nghĩa trang Biên Hoà của lính Việt Nam Cộng Hoà không bằng những nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ tại vùng này. Lính chết nhiều khi đổ bộ xuống bờ biển Normandie. Khi viếng những nghĩa trang này, thì không ai có khả năng hô hào chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, toàn là lính trẻ không. Mình ghé lại nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hoà, ở Biên Hoà, thấy toàn là lính chết ở tuổi 19, 20. Ukraina hay Nga, đều có những người mẹ, hay vợ khóc khi được tin con hay chồng hy sinh cho cuộc chiến vô nghĩa.


Như ông thượng tá mình gặp, chủ một tiệm ăn ở Vịnh Hạ Long. Ông ta than bỏ cả tuổi trẻ vào nam đánh mỹ cút nguỵ nhào, nay về quê mở tiệm ăn, phải phục vụ bọn đế quốc du khách mỹ và nguỵ quân nguỵ quyền như anh. Chán Mớ Đời. Sau 10 năm say men chiến thắng khiến dân từ có cơm để ăn phải ăn bo bo mà Liên Xô cho ngựa ăn để sống. Phải quay đầu lại năn nỉ Hoa Kỳ xin bang giao. Cho thấy cuộc chiến vo nghĩa, thêm ông Lê Duẫn cuối đời như giác ngộ cách mạng kêu “chúng ta đánh cho Nga, cho Tàu”.  


Khi Tổng thống Roosevelt đề nghị ông cơ hội lãnh đạo cuộc đổ bộ của quân Đồng minh vào châu Âu, Marshall đã từ chối, chỉ nói: “Tổng thống phải quyết định nơi nào tôi hữu ích nhất.” Ông hiểu tầm quan trọng của sự lãnh đạo, nhưng ông cũng biết khi nào nên để người khác chỉ huy. Roosevelt đã chọn Eisenhower cho Ngày D, và Marshall ủng hộ quyết định này mà không hề phàn nàn. 


Giờ đây, khi sự tàn phá của chiến tranh lan rộng từ chiến trường đến sinh mạng của hàng triệu thường dân, ông Marshall nhận thấy rằng việc giành lại hòa bình sẽ đòi hỏi cùng một kỷ luật và sự hy sinh đã giúp giành chiến thắng trong chiến tranh. Ông đề nghị một chương trình mà sau này được gọi là Kế hoạch Marshall là một nỗ lực to lớn để tái thiết Tây Âu, không phải thông qua chiếm đóng hay trừng phạt, mà thông qua viện trợ. Kế hoạch này sẽ tiêu tốn 13 tỷ đô la, một số tiền tương đương hơn 170 tỷ đô la theo giá trị hiện đại.


Kế hoạch này kêu gọi thực phẩm, máy móc và chuyên môn của Mỹ đổ vào các nền kinh tế đang bị tàn phá của châu Âu. Kế hoạch này sẽ giúp xây dựng lại các nhà máy, khôi phục nông trại và ổn định chính phủ. Nó cũng sẽ gắn kết tương lai của châu Âu với Hoa Kỳ, tạo ra mối liên kết tin tưởng thay vì oán giận. Nhờ đó mà kinh tế và kỹ thuật Hoa Kỳ phát triển rất nhanh sau cuộc chiến khiến khắp nơi thế giới, ai nấy đều có nhà và xe hơi. Một nhân công mỹ có thể nuôi một vợ và con, có chiếc xe hơi.


Trong nước, ý tưởng này đã vấp phải sự phản đối dữ dội. Những người chỉ trích cáo buộc Marshall lãng phí tiền của Mỹ, "nuôi dưỡng người nước ngoài" khi các cựu chiến binh Mỹ vẫn cần sự giúp đỡ. Tương tự ngày nay, người ta hô hào ủng hộ Ukraine đánh Puchin nhưng chả thấy ai tự nguyện lên đường sang Ukraine đánh Puchin. Một số người thậm chí còn gọi kế hoạch này là phản quốc, cho rằng nó sẽ củng cố sức mạnh cho những kẻ thù cũ như Đức và Ý. Tại Thượng viện, cuộc tranh luận trở nên gay gắt. Tuy nhiên, Marshall vẫn giữ bình tĩnh. Ông không tranh luận hay biện hộ. Ông chỉ đơn giản nêu ra sự thật và để logic của lòng trắc ẩn tự lên tiếng.


“Hoa Kỳ sẽ giúp tái thiết toàn bộ châu Âu.” Không chỉ giúp một nước, không chỉ giúp đồng minh, mà là toàn bộ lục địa chìm trong bóng tối. Ông không hứa cứu trợ nhân đạo đơn thuần mà đề nghị một phương thuốc chữa tận gốc: giúp các quốc gia tự đứng vững. Một phóng viên đã viết “Marshall không nói bằng lửa, mà bằng sự tỉnh thức.” Và chính sự tỉnh thức ấy đã thay đổi thế giới.


Trong vòng bốn năm, kết quả là không thể phủ nhận. Sản lượng công nghiệp của châu Âu đã tăng hơn 35%. Nạn đói giảm, chính phủ ổn định, và những kẻ thù cũ trở thành đồng minh. Kế hoạch này không chỉ tái thiết các thành phố mà còn xây dựng lại niềm tin vào nền dân chủ, vào sự hợp tác, và vào chính nước Mỹ. Như chúng ta thấy Tây Đức và Nhật Bản, phát triển thậm chí ngày nay người Nhật và người Nam Hàn làm cái tượng của tướng McArthur.


Công nghiệp Tây Âu vượt mức trước chiến tranh. Người dân có việc làm trở lại. Nhà cửa được xây mới. Hệ thống dân chủ được củng cố. Các quốc gia kề vai hợp tác thay vì nghi ngờ. Ngay cả những nước từng là đối thủ trong chiến tranh cũng nhận viện trợ. Marshall hiểu rằng: Hòa bình bền vững không thể xây trên lòng thù hận. Chỉ có thể xây trên thịnh vượng chung.


Do đó khi nghe thiên hạ chửi nhau này nọ. Quá dễ vì họ không phải hy sinh nhân mạng, tài chính nên tha hồ hét bú xua la mua đến tên cuối cùng cũng đánh. 


Kế hoạch Marshall trở thành nền tảng cho Cộng đồng Kinh tế châu Âu, rồi Liên minh châu Âu sau này. Kế hoạch Marshall cung cấp 13 tỷ đô la, một con số khổng lồ thời bấy giờ. Nhưng số tiền ấy vẫn chưa phải là điều đặc biệt nhất. Lần đầu tiên trong lịch sử, một cường quốc chiến thắng chọn xây dựng thay vì trừng phạt. Có lẻ ông ta học được bài học thế chiến thứ nhất, khi quân chiến thắng trừng phạt Đức quốc khiến phòng trào Đức quốc Xã lên ngôi và tìm cách trả thù tạo nên thế chiến thứ 2.


Họ gửi lúa mì đến nuôi dân đói, gửi than để sưởi ấm mùa đông, máy móc để dựng lại nhà máy. Gửi vốn để mở lại thương cảng và gửi cả niềm tin rằng tương lai có thể tốt hơn. Một nhà sử học viết: “Kế hoạch Marshall không chỉ mang hàng hóa đến châu Âu. Nó mang lại hy vọng.”


Khi George Marshall nhận giải Nobel Hòa bình năm 1953, ông trở thành người lính chuyên nghiệp đầu tiên làm được điều này. Đứng trước khán giả ở Oslo, ông đã nhận giải thưởng với cùng một sự khiêm nhường lặng lẽ đã định hình cuộc đời ông. "Hòa bình", ông nói, Tôi là một người lính. Tôi hiểu chiến tranh tàn phá thế nào và tôi biết hòa bình đáng giá ra sao.” Ông không nói về chiến thắng, không nói về vinh quang. Ông nói về điều duy nhất khiến chiến thắng có ý nghĩa: khôi phục lại cuộc sống của con người.


Không lâu sau đó, ông từ giã sự nghiệp chính trị. Không giống như nhiều người cùng thời, ông không viết hồi ký, không có bài phát biểu nào để tôn vinh thành tích của mình, và cũng không tìm kiếm chức vụ chính trị nào. Ông chưa bao giờ đấu tranh để được công nhận, mà chỉ đấu tranh vì kết quả. Khi ông qua đời vào năm 1959, không có tượng đài cá nhân hay lời tri ân nào được viết ra. Chỉ có một di sản được khắc trên những con phố được xây dựng lại của châu Âu và sự ổn định của một thế giới mà ông đã góp phần cứu vãn.


George C. Marshall đã dành cả cuộc đời để làm chủ nghệ thuật chỉ huy, nhưng hành động lãnh đạo vĩ đại nhất của ông không đến trong chiến tranh mà là trong hòa bình. Vào thời điểm thế giới sẵn sàng trừng phạt, ông đã chọn tái thiết. Vào thời điểm cơn giận dễ dàng đến, ông đã chọn lòng nhân từ.


Ông đã chứng minh rằng sức mạnh thực sự không phải là sức mạnh hủy diệt, mà là lòng can đảm để khôi phục lại những gì sự hủy diệt đã lấy đi. Một nhà ngoại giao châu Âu từng nói: “Nếu không có Marshall, có lẽ châu Âu vẫn còn chia rẽ, đói nghèo và sợ hãi.”


Khi mình ở Pháp quốc, có viếng vùng Normandie, nơi có mấy nghĩa trang quân đội Hoa Kỳ, đã nằm xuống để “giải phóng” nước pháp. Ngược lại người Pháp rất ghét người Mỹ kêu “les amerloques” này nọ, chửi Hoa Kỳ không thương tiếc. Nếu không có người Mỹ nhảy vào cuộc chiến thì có lẻ ngày nay người Pháp nói tiếng đức. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn