Hiển thị các bài đăng có nhãn Chốn cũ người xưa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chốn cũ người xưa. Hiển thị tất cả bài đăng

Nổi kinh hoàng của đạn tổ ong

 NỖI KINH HOÀNG của đạn Beehive 


Hồi nhỏ mình nghe mấy người lớn nói có đạn bắn bằng mũi tên, đạn chụp chi đó khiến mình như bò đội nón, cứ tưởng tượng nỏ thần An Dương Vương với mối tình hữu nghị Trọng Thuỷ Mỹ Châu. Vào mấy trang nhà của cựu lính Mỹ tại Việt Nam thì khám phá ra là có thật. Họ gọi là Đạn tổ ong (beehive round).

Họ cho biết trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Bắc Việt (NVA) khiếp sợ chúng. Có nhiều người kể là khi xưa nhờ mấy loại đạn này mà sống sót khi bị bộ đội bao vây và súng cà nông chỉa lên trời không ăn thua gì vì địch đã ở ngay hàng rào và đang cắt dây kẽm gai để chui vào. Loại đạn này bắn chụp trên không khiến hàng ngàn phi tiêu bay xuống. Có người kể quan cảnh rùng rợn khi Việt Cộng rút lui, nhiều người bên bộ đội bị phi tiêu cắm vào người như hamburger. Kinh hoàng. 


Mình thấy hình chụp mấy căn cứ của lực lượng đặc biệt mỹ ở gần biên giới như Ben Het, đều có phi đạo và súng cà nông để bắn xa xa khi khám phá ra các đoàn bộ đội di chuyển cách đó mấy dặm sơn khê. Vấn đề là khi cộng quân tấn công căn cứ thì quá gần để bắn đại bác trong khi cộng quân có thể sử dụng súng cối nhỏ để bắn vào căn cứ. Thế là họ đột phá tư duy nghĩ ra cách bắn đạn chụp từ súng đại bác, đã được chỉa lên trời. Nhưng tay đầu đạn bằng đạn tổ ong.

Đầu đạn tổ ong


Họ cho biết là năm 1957, Quân đội Hoa Kỳ ký hợp đồng phát triển vũ khí cho Tập đoàn Whirlpool, một công ty sản xuất máy giặt, ngày nay vẫn còn hiện hữu. Các kỹ sư của công ty máy giặt Whirlpool tại Picatinny Arsenal được giao nhiệm vụ giải quyết một vấn đề mà pháo binh Hoa Kỳ đã gặp phải từ thời Nội chiến, nghĩa là rất xa xưa.


Làm thế nào để chặn đứng một đợt tấn công bộ binh ồ ạt khi chúng đã áp sát trận địa pháo? Câu trả lời của họ là một quả đạn pháo 105 mm chứa 8.000 mũi tên thép ổn định bằng cánh. Mỗi mũi tên có kích thước gần bằng một chiếc đinh, có bốn cánh nhỏ, giúp nó bay mũi nhọn về phía trước như một mũi tên tí hon. Hình như tiếng Việt gọi là phi tiêu. Khi ngòi nổ cơ học theo thời gian của quả đạn kích hoạt, có thể được cài để nổ ngay khi rời nòng, lớp vỏ nhôm vỡ tung và 8.000 mũi flechette phun ra phía trước thành một hình nón phẳng đang mở rộng với tốc độ khoảng 1.500 feet mỗi giây. Độ 400 mét cho mỗi giây. Quá nhanh để trốn. Chỉ một lần giật dây cò đã biến pháo dã chiến thành một khẩu shotgun.


Không phải ẩn dụ mà là shotgun theo nghĩa đen. Không phải bắn 9 viên như đạn 12 gauge, mà là 8.000 mũi thép trong một phát, có thể bao phủ mặt trước rộng 30 mét ở khoảng cách 100 mét. Họ gọi nó là đạn “tổ ong” (beehive).


Và lần đầu tiên nó được sử dụng trong chiến đấu tại một căn cứ hỏa lực tên LZ Bird vào đêm 27 tháng 12 năm 1966, nó đã quét qua ba tiểu đoàn bộ binh Bắc Việt và góp phần gây ra hơn 250 thương vong tử trận phía đối phương. Dễ sợ. Không biết một tiểu đoàn Việt Cộng là bao nhiêu, nghe nói từ 300-500 người. Vậy xem như có 900-1,500 bộ đội ở trận đánh này và có đến 250 bị chết. Kinh


Đó mới chỉ là phần mở đầu. Nhưng khoảnh khắc chứng minh bản chất thật sự của loại vũ khí này, trận đánh khiến pháo thủ hoàn toàn tin tưởng và buộc bộ đội bác Hồ phải thay đổi cách tác chiến trong suốt phần còn lại của cuộc chiến diễn ra ba tháng sau tại một căn cứ hỏa lực tên Suối Tre.

Có ông mỹ tải tấm ảnh này nói là nhờ đầu đạn tổ ong đã cứu đại đội của ông thoát chết

Nhưng trước tiên, cần hiểu vấn đề mà đạn beehive được tạo ra để giải quyết vì nếu không có bối cảnh đó, các con số chỉ khiến chúng ta bá vơ. Đây là thực tế chiến thuật của một căn cứ hỏa lực ở Việt Nam lúc 3 giờ sáng. Một pháo thủ bên trong vòng phòng thủ, bao cát, dây thép gai concertina, mìn Claymore, pháo sáng bẫy. Hình như loại này được gắn cài ở ngoài rào. Việt Cộng chui đến đụng thì pháo nổ sáng lên để mấy người canh gác nhắm vào chỗ đó để bắn.


Khẩu pháo trong trại, căn cứ đang hướng ra ngoài với góc cao để yểm trợ hỏa lực gián tiếp cho các đơn vị bộ binh hoạt động cách đó hàng dặm. Đó là nhiệm vụ bình thường của pháo thủ. Bắn đạn qua các ngọn đồi tới các tọa độ được báo về qua radio bởi đề lô. Rồi vòng phòng thủ bị tấn công, Đặc công của bộ đội đã cắt hàng rào. Đạn cối rơi dồn dập vào vị trí của các pháo thủ. Và giữa khói, ánh pháo hỏa châu và tiếng ồn, lính trong căn cứ có thể thấy hoặc chỉ cảm nhận cho rằng có hàng trăm người đang tiến về phía bạn qua khoảng đất trống. Mình nghe kể là Việt Cộng hay dùng chiến thuật Biển Người của Mao Trạch Đông, thổi kèn in ỏi, la hét “hàng sống chống chết” chi đó khi tấn công vào đồn. Nghe âm thanh này cũng đủ sợ, vái tứ phương.


Biệt động Việt Cộng đã vào trong phạm vi 300 mét. Họ đang áp sát rất nhanh. Khẩu pháo trong căn cứ lúc này gần như vô dụng. Nó đang chĩa lên trời. Đạn nổ mạnh được thiết kế để bay vòng cung qua địa hình và phát nổ khi chạm đất hoặc trên không. Chúng phát tán mảnh văng theo mọi hướng, rất hiệu quả ở khoảng cách xa, nhưng cực kỳ thiếu chính xác ở cự ly gần.


Ở 100 mét, một quả đạn pháo có thể bay quá mục tiêu, nổ phía sau kẻ tấn công, hoặc tệ hơn, rơi trúng chính quân mình. Súng máy đang bắn. Mìn Claymore phát nổ nhưng làn sóng tấn công vẫn tiếp tục tiến lên vì bộ đội NVA hiểu rõ bài toán. 


27 người Mỹ đã thiệt mạng so với 250 bộ đội. Thiếu tướng David Ott, Tư lệnh Pháo binh Dã chiến của Lục quân, sau này viết rằng LZ Bird đã chứng minh đạn “beehive” là một vũ khí cực kỳ quan trọng cho toàn bộ chương trình phòng thủ căn cứ hỏa lực.


Từ đêm đó trở đi, mọi căn cứ hỏa lực mỹ tại Việt Nam đều bố trí sẵn đạn beehive với các khu vực bắn được chỉ định. Loại vũ khí từng chỉ là một khái niệm lý thuyết giờ đã trở thành học thuyết tiêu chuẩn.


Nhưng LZ Bird là hỗn loạn. Đạn beehive được bắn trong tuyệt vọng vào một vị trí đã bị tràn ngập, như biện pháp cuối cùng. Câu hỏi mà chưa ai trả lời lúc đó là: điều gì xảy ra khi sử dụng nó một cách có chủ đích, như một phần của hệ thống phòng thủ được lên kế hoạch, trước khi đối phương chạm đến hàng rào? Ba tháng sau, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đưa ra câu trả lời tại căn cứ hỏa lực Suối Tre, Tỉnh Tây Ninh.


Ngày 21 tháng 3 năm 1967 vào rạng bình minh. Hai tiểu đoàn Việt Cộng thuộc Trung đoàn 272 tấn công căn cứ do Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh 22, Sư đoàn 25 trấn giữ. Cuộc tấn công đến từ phía đông và đông nam. Bộ binh Việt Cộng đông đảo tiến qua bìa rừng về phía chu vi phòng thủ. Lần này, việc phòng thủ không còn là ứng biến như LZ Bird. Chỉ huy đã lập kế hoạch sẵn các khu vực bắn đạn beehive. Khi làn sóng tấn công tiến vào khu vực giao chiến, ông ra lệnh. Trước tiên, ông yêu cầu các chỉ huy đại đội bộ binh cho binh sĩ vào vị trí ẩn nấp. Sau đó, ông ra lệnh cho các khẩu pháo 105 mm nạp đạn APERS và bắn về phía đông và đông nam. Các khẩu pháo khai hỏa.


40 quả đạn beehive trong một trận đánh, số lượng đạn M546 được sử dụng nhiều nhất trong bất kỳ trận nào tính đến thời điểm đó. 320,000 phi tiêu được bắn ra. Báo cáo sau trận mô tả kết quả trong một câu. Những khoảng trống lớn đã bị xé toạc trong đội hình tấn công, không phải bị thương, không phải bị chế áp mà là những khoảng trống. Toàn bộ các phân đoạn của đội hình xung phong đã biến mất. Cuộc tấn công của Việt Cộng bị phá vỡ. Bộ binh chuyển sang phản công, truy đuổi những bộ đội sống sót trở lại bìa rừng. Khi trận chiến kết thúc, số thi thể được đếm là 299 bộ đội tử trận. 31 người Mỹ thiệt mạng. Tỷ lệ gần 10:1.


Và báo cáo sau trận ghi nhận một điều đã thay đổi vĩnh viễn cách Lục quân nhìn nhận phòng thủ căn cứ hỏa lực. Đạn beehive cực kỳ hiệu quả trong việc chặn đứng bộ binh địch đang xung phong. Đó là một đánh giá tác chiến, được viết bởi những sĩ quan vừa chứng kiến 8.000 mũi thép trong mỗi quả đạn xé nát một cuộc tấn công cấp tiểu đoàn trong 100 mét cuối cùng của hướng giao tranh.


Trước LZ Bird và Suối Tre, học thuyết tấn công chính của bộ đội là bộ binh tập trung lực lượng. Đánh vào chu vi tại một điểm. Áp đảo bằng số lượng của biển người, chấp nhận thương vong tạo khí thế tấn công. Sau năm 1967, học thuyết đó thay đổi. Các nhà phân tích tình báo Mỹ ghi nhận rằng các đơn vị Việt Cộng bắt đầu điều chỉnh chiến thuật tấn công để đối phó với hỏa lực bảo vệ cuối cùng, trong đó có đạn beehive.


Tại Xa Cát tháng 10 năm 1967, các tiểu đoàn bộ đội tấn công bằng cách bò, giữ tư thế nằm để giảm mức độ phơi bày trước quỹ đạo thấp của chùm flechette. Họ áp dụng chiến thuật “bám sát”, bám lại gần binh sĩ mỹ trong khoảng 20–30 mét trước khi khai hỏa, lực lượng phòng thủ không thể bắn beehive mà không gây nguy hiểm cho chính quân mình. Họ chuyển từ các làn sóng biển người đông đảo sang các mũi đột nhập do đặc công dẫn đầu, những nhóm nhỏ chuyên cắt hàng rào và phá hầm thay vì cả đại đội xông qua địa hình trống.


Đến năm 1969, quân đội Mỹ tiếp tục hoàn thiện khái niệm phòng thủ căn cứ. Căn cứ hỏa lực Crook, tháng 6 năm 1969, đại diện cho việc áp dụng hoàn chỉnh học thuyết beehive. Radar giám sát mặt đất và cảm biến địa chấn phát hiện lực lượng bộ đội đang tập trung ở bìa rừng trước khi cuộc tấn công bắt đầu. Pháo binh bắn đạn beehive vào các tọa độ đã được ghi nhận sẵn dựa trên dữ liệu cảm biến, không phải như biện pháp cuối cùng, mà là đòn đánh mở đầu.


Trong hai đêm giao tranh, 76 thi thể NVA được tìm thấy trong một khu vực. Tỷ lệ tiêu diệt tại khu vực đó gần 76:1. Đạn beehive đã tiến hóa từ một biện pháp tuyệt vọng thành một vũ khí được tính toán. Không còn bắn trong hoảng loạn khi đối phương đã vào trong hàng rào, mà được dẫn hướng bằng radar vào các đội hình vẫn còn đang tập họp trong rừng. Loại đạn được thiết kế để chặn một cuộc tấn công đang diễn ra giờ đây ngăn chặn chúng trước khi bắt đầu.


Khi chiến tranh tiếp diễn, nhiều đơn vị pháo binh ngày càng dựa vào thứ họ gọi là “Killer Junior” đạn nổ mạnh tiêu chuẩn với ngòi nổ thời gian cơ học, được cài đặt để phát nổ ở độ cao 10–30 mét, tạo ra vụ nổ trên không phát tán mảnh theo mọi hướng. Killer Junior bền vững hơn về hậu cần. Mỗi đội pháo binh mang theo hàng trăm quả đạn HE, nhưng chỉ có số lượng hạn chế đạn beehive. Họ thay đổi cách bắn, nổ trên không hoạt động 360°, trong khi chùm của beehive chỉ bao phủ khu vực phía trước nòng pháo.


Nhưng Killer Junior không thể làm điều mà beehive làm được tại hàng rào. Nó không thể lấp kín mặt trận 30 mét bằng 8.000 đầu đạn trong một lần bắn. Nó không thể biến 100 mét cuối cùng của hướng tiếp cận thành một bài toán không có lời giải đối với bộ binh đông đảo tiến trên địa hình trống.


Ở những khoảng cách mà phòng thủ căn cứ là vấn đề sống còn, nơi người lính có thể nhìn thấy những người đang cố giết họ. Không có gì trong kho vũ khí Mỹ sánh được với những gì M546 mang lại. Đạn beehive không thắng cuộc chiến Việt Nam. Không có vũ khí đơn lẻ nào làm được điều đó. Nhưng nó đã thay đổi điều kiện của trận chiến tại điểm duy nhất mà Việt Cộng luôn có lợi thế: đòn tấn công cuối cùng.


Trước beehive, chạm đến hàng rào là cái giá thương vong có thể chấp nhận. Sau beehive, chạm đến hàng rào là án tử cho bất kỳ ai còn đứng thẳng. Bộ đội là những người lính chuyên nghiệp, thích nghi với mọi loại vũ khí mới mà Mỹ. Họ cũng thích nghi với beehive bằng cách bò, bằng cách bám sát, bằng cách sử dụng đặc công thay vì cả tiểu đoàn.


Những pháo thủ đã bắn những loạt đạn đó tại LZ Bird, tại Suối Tre, tại Crook, và tại hàng chục căn cứ hỏa lực không bao giờ được ghi vào sách lịch sử, họ kể lại là nhớ âm thanh. Không phải tiếng nổ của khẩu pháo, mà là âm thanh sau đó.


8.000 mũi flechette xé gió ở tốc độ 1.500 feet mỗi giây tạo ra một âm thanh mà các cựu binh mô tả là tiếng rít, hay tiếng vo ve, hoặc thứ gì đó mà họ chưa bao giờ tìm được từ ngữ chính xác.


Có ông mỹ kể như sau về trận đánh ở Suối Tre:


l only know of only one time that a bee hive was used in combat. l meet a guy who came to our unit right before l transferred out. He was on a 155mm howitzer at the battle of Soui Tre. They were being over run when they fired l think one round. l remember him saying he heard it go off and then it was dead quiet. Ai buồn đời thì đọc hai đường dẫn dưới đây để hiểu rõ hơn. Mình thấy giết người quá kinh khủng.


https://en.wikipedia.org/wiki/Beehive_anti-personnel_round


https://grokipedia.com/page/Beehive_anti-personnel_round


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Quân đội bị lãng quên

 Quân đội bị bỏ quên


Khi đọc sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam từ người Mỹ hay Hà Nội viết thì tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến công lao và sự hy sinh trên 1 triệu người ở miền Nam. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc. Người Mỹ thì kêu các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà tham nhũng, bất tài trong khi Hà Nội chỉ kêu bọn nguỵ quân nguỵ quyền, tay sai đế quốc sài lang. Thật ra thì có vài ông tướng tham nhũng như ông Nguyễn Văn Toàn, khi làm tư lệnh quân khu II, đã cho đệ tử trao tiền cho Việt Cộng để người ông ta vào cưa cây đem bán cho ngoại quốc. Mình có kể vụ này rồi khi trinh sát 302 bắt gặp và bắn chết Việt Cộng và thiếu tá đưa tiền Việt Cộng khiến ông ta nổi điên đi trực thăng kiếm thiếu tá Phong ở ngoài mặt trận. Nếu con chúng ta đọc những tài liệu này hay được dạy ở trường thì chúng sẽ bị xấu hổ về cha ông của chúng. Ngày nay thì Hà Nội còn tham nhũng gấp vạn lần.

Khi mình sang Hoa Kỳ thì thấy đại học Hoa Kỳ tổ chức các buổi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Để diễn đàn thêm phần trung dung, họ mời đại diện Hà Nội, đại diện người Mỹ phản chiến và đại diện cộng đồng người Việt tỵ nạn. Vấn đề là cộng đồng người Việt không thống nhất đưa ai đi đại diện. Người muốn đi thì không rành anh ngữ, các sinh viên Việt Nam nói sẽ thông dịch rồi cuối cùng họ từ chối tham dự, chỉ kéo nhau lại biểu tình trước cổng đại học rồi ra về hồ hởi vì đã đi biểu tình chống cộng trong khi người Mỹ phản chiến và Hà Nội bên trong nói chuyện đưa ra quan điểm của họ cho thính giả mỹ. Nhiều người trong cộng đồng người Việt từng là sĩ quan cấp tá mà không hiểu cuộc chiến tranh tâm lý. Trình bày quan điểm tại sao Việt Nam Cộng Hoà thua và sự tàn ác của Việt Cộng. Cứ kêu bọn Việt Cộng không tin được, gian ác lắm. người Việt chúng ta nói chuyện theo cảm tính nhưng người Tây phương thì họ nói chuyện theo lý lẻ, phải giải thích lý do thì người mới tâm phục khẩu phục. Ngoài ra mình dám chắc nội tuyến của Hà Nội khắp nơi trong các hội đoàn người Việt. Tìm cách gây lũng đoạn.


Khi mình được sinh viên mời đi nói chuyện với người Mỹ tại đại học như NYU hay Brown,… Gặp phản chiến mỹ như ngày nay thế hệ xuống đường chống MAGA này nọ. Mình chỉ đưa ra vài điểm cho người Mỹ hiểu. Tại sao cả triệu người Việt bỏ nước ra đi bằng đường biển mà theo tin tức của cao uỷ tỵ nạn liên hiệp quốc cho biết chỉ 50% đến bờ còn lại chôn vùi trong biển sâu. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời Paris Match có 3 triệu tù nhân cải tạo. Đưa ra thí dụ của 3 anh em Nguyễn Tuệ, không được Hà Nội cho học, nay 3 anh em vượt biển, ai nấy đều có bằng tiến sĩ nhất là Nguyễn Tuệ có 7 cái bằng của đại học MIT. Không cần chửi bới đưa thí dụ để sinh viên mỹ hiểu vì chính họ đã thấy các sinh viên gốc việt kể là thuyền nhân. Tiếng tây tiếng u không rành nhưng cứ nói. Có lần bà giáo sư đại học NYU tranh cãi với mình, sau đó bắt tay mình kêu “good debate!”.


Dạo ấy mình hay ghé nhà ông Al Santoli, cựu chiến binh mỹ, có qua trại tỵ nạn giúp người Việt tỵ nạn và lấy vợ ở trại đem về mỹ. Chỉ có ông ta đơn độc nói về chiến tranh Việt Nam. Nên nhớ sau vụ Mỹ Lai, các cựu chiến binh mỹ về lại Hoa Kỳ hay bị người Mỹ lên án là những kẻ giết đàn bà con nít babykiller”. Nên ít cựu chiến binh xuất hiện, nay thì khác nhưng họ đều lớn tuổi.


Có ông mỹ viết cuốn sách Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, nói về quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ quên để dấy lên sự đóng góp của quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu cho tự do. Những cuốn sách này nên khuyến khích con cháu chúng ta đọc để chúng tự hào về Việt Nam Cộng Hoà, thay vì chỉ đọc sách mỹ hay của Hà Nội đều gieo tiếng ác, hạ nhục kẻ thua cuộc.

Cuốn sách của Andrew Wiest góp phần lấp đầy một khoảng trống lớn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Trong khi hàng nghìn cuốn sách đã được viết về cuộc chiến từ góc nhìn của người Mỹ và phía cộng sản Việt Nam, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) lại thường bị các sử gia phương Tây xem như đúng theo những gì tuyên truyền cộng sản mô tả một lực lượng “tay sai”, nguỵ quân kém cỏi, với những nỗ lực hầu như không ảnh hưởng đến kết cục của cuộc chiến. Rất ít sự chú ý được dành cho những trải nghiệm, đóng góp và lòng dũng cảm của các binh sĩ ARVN, những người đã chiến đấu suốt nhiều thập kỷ trong điều kiện khắc nghiệt và vì những lý do mà ít người Mỹ thực sự hiểu rõ.


Có nhiều người miền Nam đem tâm tình viết hồi ký nhưng đường như để đánh bóng cá nhân của họ nhiều hơn. Ít được dịch ra anh ngữ hay pháp ngữ,… khi xưa sống tại Đà Lạt đọc báo và nghe radio thì tin tức chiến sự đều phe ta vô sự, hạ sát mấy chục cộng quân, bắt tù binh này nọ,… chỉ khi ra hải ngoại đọc tin tức hai bên thì mới khám phá ra chiến dịch Lam Sơn 719 là thất bại, chết rất nhiều cả hai bên ở Quảng trị,…


Nhớ dạo ấy, đài Sàigòn nói nhiều về đại tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh tại Hạ Lào, sau này đọc hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải thì ông ta kể Hà Nội bắt sống ông đại tá này và cho rêu rao trên đài phát thanh Hà Nội. Nhạc sĩ Tô Hải có viết cuốn hồi ký thằng Hèn, nói chung ông ta bị Hà Nội đì mệt thở. Nhau công ta được chơi ở nhà hát Hà Nội nhưng ông ta không được tham dự vì chống lại Hà Nội.


Giáo sư Wiest kể lại câu chuyện đầy kịch tính về hai sĩ quan trẻ của Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ, những người có cuộc đời song hành nhưng cuối cùng cuộc chiến lại đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau khi đối mặt với quyết định khắc nghiệt nhất mà một người lính có thể gặp phải. Cả hai đều xuất thân từ những gia đình trung lưu có học thức, đều sinh ra tại cố đô Huế, và đều phục vụ suốt sự nghiệp quân sự của mình trong Sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam Cộng Hoà mà theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội miền Nam. 


Cả hai ông Đính và Huệ đều có thành tích chiến đấu xuất sắc. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong trận tái chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, nơi họ thể hiện năng lực vượt trội đến mức đều được trao tặng huân chương quân sự của Hoa Kỳ (Ngôi Sao Đồng và Ngôi Sao Bạc) vì lòng dũng cảm và thành tích trong trận chiến kéo dài và đẫm máu này. Giáo sư Wiest chỉ ra rằng vai trò quan trọng của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến này phần lớn đã bị các sử gia Mỹ bỏ qua. Hình như mất cả tháng mới chiếm lại hoàn toàn Huế.


Sau Tết Mậu Thân, khi cuộc chiến dần kết thúc đối với quân đội Mỹ nhưng lại trở nên ác liệt hơn đối với Việt Nam Cộng Hoà, cả hai người tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình và bất ngờ rơi vào những tình huống tuyệt vọng, nơi lựa chọn duy nhất là đầu hàng và chuyển sang phía đối phương, đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, bị bắt, bị giam cầm, hoặc cái chết. Trần Ngọc Huệ, chiến đấu tại Lào vào đầu năm 1971, đã đưa ra một lựa chọn, trong khi Phạm Văn Đính, với tư cách là một chỉ huy trung đoàn đối mặt với tình thế vô vọng trong cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh năm 1972, lại chọn một con đường khác. Giáo sư Wiest đã giải thích những yếu tố chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của mỗi người.


Với tư cách là một bức chân dung về hai cá nhân sống động và quan trọng, cuốn sách này đưa ra tình huống, và câu chuyện của họ phản ánh hình ảnh của nhiều sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm đã chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ở một tầng ý nghĩa khác, Giáo sư Wiest dựa vào quan điểm của hai sĩ quan này để đưa ra một số phê bình chung về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Xuyên suốt cuốn sách, Giáo sư Wiest lặp lại những chỉ trích của Đính và Huệ rằng vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960, quân đội Hoa Kỳ đã “ép buộc” ban lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng quân đội Việt Nam Cộng Hoà thành một “quân đội quy ước” thay vì như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hoà và ông Diệm được cho là mong muốn một lực lượng tập trung vào chống nổi dậy, du kích chiến. Giáo sư Wiest khẳng định đây là một sai lầm chiến lược căn bản. Ai buồn đời đọc báo Hà Nội theo đường dẫn. 


https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tiep-lua-truyen-thong/tu-duy-chien-luoc-quan-su-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-745496#:~:text=Chi%E1%BA%BFn%2520tranh%2520nh%C3%A2n%2520d%C3%A2n%2520%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c%2520ph%C3%A1t%2520huy,v%E1%BB%9Bi%2520ph%C6%B0%C6%A1ng%2520ch%C3%A2m%2520%E2%80%9Chai%2520ch%C3%A2n%252C%2520ba%2520m%C5%A9i%E2%80%9D;


Thực tế, như bất kỳ ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam và các tác phẩm của tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp đều biết, chiến lược “chiến tranh nhân dân” của phía cộng sản không phải là một cuộc nổi dậy cổ điển. Họ tiến hành chiến tranh bằng một chiến lược kết hợp độc đáo giữa chiến tranh du kích quy mô nhỏ và các chiến dịch quy ước quy mô lớn. Một quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức chủ yếu để chống nổi dậy có lẽ đã bị tiêu diệt trước các đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng chính quy cộng sản bắt đầu từ năm 1964; thực tế, ngay cả lực lượng Việt Nam Cộng Hoà “quy ước” do Hoa Kỳ xây dựng trong chương trình Việt Nam hoá mà Wiest chỉ trích cũng tỏ ra quá yếu để chống lại những đòn đánh này. Chính sự yếu kém đó, chứ không phải việc Việt Nam Cộng Hoà không thể đối phó với du kích, đã buộc Hoa Kỳ phải đưa lực lượng bộ binh chiến đấu vào Việt Nam năm 1965. Chúng ta nhớ vụ áp dụng chương trình ấp chiến lược được áp dụng thành công ở Mã Lai nhưng thất bại ở Việt Nam vì văn hoá khác nhau.

Trung tá Đính đầu hàng Việt Cộng để cứu binh sĩ vì hết đạn, không được tiếp tế.

Cuối cùng, sự nghiệp quân sự của cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ đều bị hủy hoại khi các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà quy mô lớn mà họ chỉ huy bị các đơn vị Bắc Việt áp đảo trong những trận đánh quy mô trung đoàn lớn… có báo Hà Nội nói về vụ trung tá Đính đầu hàng như sau:


https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ngay-tro-ve-cua-trung-ta-Pham-Van-Dinh-trong-mua-he-do-lua-i303933/


Tại căn cứ Carroll, ông Phạm Văn Đính, chỉ huy tiểu đoàn 56 khi quân đội chính quy của Hà Nội tấn công cuối tháng 3 năm 1972. Theo người ta kể lại thì tiểu đoàn của ông thiếu đạn dược, không được tiếp viện. Và bị tổn hại khá nhiều. Cuối cùng ông ta liên lạc với cộng quân vào 2:30 chiều ngày 2 tháng 4 năm 1972, xin đầu hàng. Sự đầu hàng của ông ta khiến quân đội miền Nam mất thêm nhưng địa cứ khác như Mai Lộc vì tiểu đoàn này có pháo binh hạng nặng. Và đưa đến mất Quảng Trị và Hải Lăng. Hình như sau vụ này hai tướng Vũ Văn Giai và Hoàng Xuân Lãm bị cách chức, ông Vũ Văn Giai bị lên án 5 năm tù, sau 75 đi tù Việt Cộng. Còn ông Hoàng Xuân Lãm thì ngồi chơi xơi nước đến 75.

Trong khi ông Trần Ngọc Huệ thì bị bắt làm tù binh tháng 3 năm 1971 trong thời gian chiến dịch Lam Sơn 719. Ông ta được đưa ra Hà Nội nhốt tại Hoa Lò mà người Mỹ hay gọi Hà Nội Hilton. Ông ta được thả năm 1983 và sang Hoa Kỳ năm 1991 với gia đình. (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

51 năm nhìn lại Little Sàigòn

 51 năm từ Sàigòn đến Bolsa 

Nếu nhìn lại 51 năm qua, sự ra đi của người Việt tỵ nạn trong lúc hối hả trước ngày 30/4/75 thì phải công nhận như một phép lạ, cộng đồng người Việt đã thành lập lại một Tiểu Sàigòn, được xem là thủ đô của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Phước Lộc Thọ


Ngày hải hùng đó đã khiến chúng ta mất quê hương, chúng ta có thể xây dựng lại một quê hương ở nơi khác. Có nhiều người ra đi trong lúc vội vã không biết gia đình còn sống hay chết. Ngày nay theo thống kê có đến 189,000 người Mỹ gốc việt sinh sống tại quận Cam (Orange COunty). Cộng đồng người Mỹ gốc việt lớn nhất tại Hoa Kỳ. 40% người Việt sinh sống tại thành phố Westminster, 31% ở thành phố Garden Grove.


Có thể nói không có truyền thông như tờ báo đầu tiên Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập với luật sư Đạt Phan, con ông Phan Huy Quát. Thì có lẻ Little Sàigòn không đông như ngày nay vì các lớp người Việt tỵ nạn tiếp tục sang Hoa Kỳ và đọc báo và dọn về vùng này ở.


Năm 1979, chỉ có 30 business ở phố Bolsa, đến năm 1981 thì có 300 business ở đây rồi đến năm 1984 lên đến 600. Ngày nay, có trên 4,000 business ở trong phạm vi 3 dặm vuông. Người ta tính có trên 280 tiệm ăn, 42 tờ báo việt ngữ, 5 đài phát thanh, 2 đài truyền hình phát các chương trình khắp nơi trên thế giới.


Ở trung tâm Tiểu Sàigòn có Phước Lộc Thọ khiến ai đến đây lần đầu cảm thấy như vào một chỗ nào huyền thoại. Năm 1986, một người sở hữu 1/3 địa ốc ơ Bolsa muốn đặt tên là Asian Town nhưng cộng đồng không chịu và tranh chấp suốt 2 năm liền và đã thắng, khu vực này được đề bảng Little Sàigòn trên xa lộ để xe quẹo vào. Con đường Bolsa được đấu tranh để bảo vệ bản sắc của người Việt tỵ nạn và nhưng người Việt tỵ nạn đã xây dựng trung tâm cộng đồng người Việt lớn nhất tại hải ngoại. Mình nghe nói là Đài Loan bỏ tiền xây rất nhiều khu phố Bolsa. Sau này có người Việt tư bản đỏ sang đầu tư nữa.


Mọi sự khởi đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trực thăng di tản các người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, và cuộc chiến chấm dứt với triệu người vui và hàng triệu người buồn. 130,000 người Việt được người Mỹ di tản khỏi Việt Nam, được xem là cuộc di tản cấp tốc rộng lớn nhất ở thế kỷ 20 trong thời gian rất ngắn. Nghe CIA giải thích là nhờ báo cáo của điệp viên X92, Võ Văn Ba báo trước nên Hoa Kỳ mới có thời gian chuẩn bị cuộc di tản các thành phần có dính dang đến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


người Mỹ không muốn như trường hợp của người tỵ nạn Cuba là dồn về một nơi ở tiểu bang Florida, họ rãi người Việt khắp nơi trên nước Mỹ như 10,000 người ở tiểu bang Florida, 22,000 ở Pennylvania, 51,000 ở Arkansas và 50,000 ở trại thuỷ quân lục chiến Pendleton, tiểu bang California. Hơn 1/3 ở nam Cali.


Vấn đề là người Việt di tản ở trong các trại tiếp cư và đợi ai đó ở ngoài bảo lãnh họ, đúng hơn người Mỹ vì dạo đó rất ít người Việt ở Hoa Kỳ. Đa số là sinh viên du học. Các giáo phận công giáo tham gia, và các nhà thờ tin lành. Họ đưa người Việt đến các thành phố như Westminster, Garden Grove, Santa Ana,…nhưng khu vực không sang trọng, đúng hơn là nghèo. Lý do là tiền thuê nhà rẻ.


Rồi làn sóng tỵ nạn thứ 2 đến, từng năm 1979-1985, các thuyền nhân đến đảo ở đông Nam Á, được phỏng vấn đi mỹ. 800,000 người Việt tỵ nạn đến định cư tại Hoa Kỳ. Nghe cao uỷ tỵ nạn cho rằng 50% người vượt biển nằm lại trong lòng đại dương. 1000 người mỗi tháng tại Quận Cam.


Rồi làn sóng thứ 3 đến qua chương trình Orderly Departure Program (ODP), đoàn tụ gia đình.


Làn sóng thứ 4 cuối thập niên 1980 đến 1990, các tù nhân chính trị, cải tạo được Hoa Kỳ thâu nhận. Các làn sóng nhập cư người Việt đều đọc báo người Việt và các báo khác ở Bolsa, giúp họ dọn về định cư tại Quận Cam.


Mấy năm gần đây thì thấy có nhiều người Việt di dân qua đầu tư theo EB-5 hay các chương trình khác. Chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện con cháu của những người từng tuyên bố đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Mình có gặp vài người khi họ hỏi mua cái vườn của mình. Có đám chuyên gia giúp họ đầu tư qua Hoa Kỳ để hạ cánh an toàn. Nghe họ kể nằm bắt võng ở đầu Trường Sơn, tự xưng là di dân chớ không hoi ải tỵ nạn.


Khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Bolsa thì khu vực này đang chết. Mình nhớ khi mình đến Cali lần đầu tiên thấy nhiều vườn trồng dâu của người Nhật. Các dãy phố lụp xụp Chán Mớ Đời nhưng được cái là đất ở đây rẻ. Không như ngày nay.


Người mở tiệm bán tạp phô Việt Nam đầu tiên là ông Danh Quách nhưng ít khách lắm. Ông ta kể là 3 năm trời ít khách nhưng ổng a vẫn tiếp tục. Theo ông ta thì có lần thị trưởng thành phố và cảnh sát trưởng ghé tiệm ông và nói là cảm thấy không yên lòng về sự có mặt của tiệm ông ta. Người dân địa phương da trắng cảm thấy khó xử. Mình nhớ khi mới dọn về Westminster thì xung quanh là người Mỹ trắng rồi dần dần họ bán nhà bỏ chạy và người Việt dọn đến. Nay chỉ thấy gốc mít xung quanh.


Ông Quách không muốn bỏ đi và có dược sĩ Danh Quách dọn đến mở tiệm thuốc tây năm 1978, rồi tiệm Hoà bÌnh rồi Tân Mai. Rồi năm 1979 có được 30 business của người Việt. Đúng lúc có làn sóng người Việt thuyền nhân định cư tại đây khiến thương mại phát triển, khách đến mua đông như quân nguyên, nói tiếng Việt như người Việt.


Năm 1981, 300 business, 1984, 600 business rồi ông Triệu Phát đến Hoa Kỳ năm 1975, buồn đời mua đất rồi xây Phước lộc Thọ. Năm 1987, cảnh sát Westminster ước lượng mỗi cuối tuần có 20,000 đến 60,000 người đến mua sắm ăn phở ở Bolsa. Cứ ra khỏi xa lộ quẹo vào đường Brookhurst là kẹt xe, người Việt lại lái xe kiểu biết bố mày la ai, bóp kèn in ỏi.


Ở bolsa người Việt đã xây dựng lại truyền thống Tết, như diễn hành, rồi chợ Tết nơi hội tụ người Việt tỵ nạn từ xa về về đây mấy ngày tết để ăn tết với bạn bè và gia đình. Rồi đình chùa mọc lên như nấm. Giúp các con cháu chưa bao giờ biết Việt Nam có thể hoà mình vào không khí tết được tạo dựng lại bưởi cha mẹ ông bà. Với hội chợ tết này nọ hay chợ đêm khi hè đến, giúp người Việt tha hương có thể tìm lại chút gì để nhớ. Mình thấy đắt tiền nên chả bao giờ bò ra thêm kẹt xe.


Tiểu Sàigòn trở thành trung tâm văn hoá của người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Các cuốn sách bị cấm tại Việt Nam được sản xuất nhiều như bánh mì baguette mỗi ngày. Các băng nhạc video được thâu dựng rồi bán qua âu châu và Úc Châu.


người Việt bỏ nước ra đi chỉ còn lại ký ức quê hương và đã tạo dựng lại quê hương trên đất nước đã cưu mang họ. Nhưng họ không quên lý do tại sao phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Có một ngày mà hàng năm cộng đồng người Việt đều tụ tập lại để tưởng niệm nhưng người dã hy sinh trong cuộc chiến cho tự do và những người đã bỏ mình trên đường vượt biển. Họ đã mua đất để xây đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Vietnam warmemorial).


Xét ra thế hệ đầu tiên xây dựng để sống còn còn thế hệ thứ 2 thì xây dựng quyền lực. Năm 1992, ông Tony lâm đắc cử nghị viên của thành phố, người Việt đầu tiên đắc cử. Vào thập niên 1990 cử tri người Việt khá đông nên các đảng không thể làm lơ như xưa. Nhưng cộng đồng người Việt như cộng đồng cuba rất chống cộng. Khi ông John MacCain ra tranh cử tổn thống, có đến kiếm phiếu cũng như Bush cha. 


Theo thống kê thì 53% cử tri ở Tiểu Sàigòn bầu cho ông Trump. Lý do ông ta chống Trung Cộng. Mà người Việt tỵ nạn lại ghét tàu. Họ bảo thủ vì ký ức, những năm tháng dài bị Việt Cộng bỏ tù. Họ bỏ phiếu theo địa chính hơn là các chương trình phúc lợi địa phương.


Nhưng ngày nay, sau khi bám rể vào đời sống Hoa Kỳ, thì có sự rạn nứt trong giới cử tri. Theo thống kê thì cử tri gốc việt dưới 49 tuổi, 65% ghi danh là cử tri của đảng dân Chủ. Lý do là thế hệ thứ hai không trốn thoát khỏi Việt Nam. Họ không bị ở tù cải tạo, tiểu Sàigòn không phải là nơi định cư tạm của họ như thế hệ trước.


Thế hệ con cháu dọn đi các thành phố khác như Irvine, Costa Mesa, Laguna. Thế hệ này là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. Họ đã vào dòng chính của Hoa Kỳ.


Đó là bề ngoại bề nổi, mặt bằng của Tiểu Sàigòn, chúng ta thấy tiệm ăn mọc như nấm nhưng nếu nhìn kỹ thì trong khu Tiểu Sàigòn có đến 5  khu mobile homes mà đa số người Việt ở, với tiền thuê đất đắt như vàng. Các người lớn tuổi sinh sống ở đây cho tiện đường mua sắm, nơi mà họ đã cùng nhau tạo dựng. Các người cao tuổi sống nhờ tiền an sinh xã hội. 


Little Sàigòn có hai loại kinh tế. Một kinh tế khiến thiên hạ đến mua sắm và một cố gắng sống chật vật phía sau mặt bằng hoành tráng của Tiểu Sàigòn. 


50 năm nhìn lại, cộng đồng người Việt đã thành công xây dựng qua bao nhiêu làn sóng đến Hoa Kỳ. Chúng ta bỏ lại sau lưng quê hương để xây dựng lại một quê hương thứ hai trên đất mỹ. Nhưng tương lai thế hệ con cháu có thể sẽ không màn đến vì Irvine có tiệm ăn Tàu, việt. Ngày thành phố mình bây giờ bắt đầu có tiệm ăn tàu, Việt Nam, đại hàn mọc lên như nấm. Có lẻ sẽ ít xuống Bolsa nhất là xăng trên $6. Nhưng phải kể là các lớp người Việt đi trước đã bỏ công gầy dựng một trung tâm để chúng ta quay về như viếng lại ký ức của quê hương bỏ lại.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn