Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Hệ quả thuốc Khai Quang với cựu chiến binh Việt Nam

 Mình thường tham gia các nhóm cựu chiến binh Mỹ để đọc những gì họ chia sẻ về cuộc chiến Việt Nam mà họ đã tham gia, nhằm hiểu rõ hơn về cuộc chiến này. Mình đặc biệt quan tâm đến việc tại sao Hà Nội và Hoa Kỳ lại đánh nhau quyết liệt như vậy, rồi sau đó lại bắt tay làm ăn với nhau, trong khi những cựu chiến binh Mỹ bị ảnh hưởng bởi chất khai quang vẫn đang chịu đựng những đau khổ về thể xác. Hôm nay, mình tình cờ thấy một tấm bản đồ cho thấy các khu vực mà quân đội Mỹ đã rải thuốc khai quang (Agent Orange) nhằm tiêu diệt cây cối và rừng già, nơi được cho là có sự hiện diện của Việt Cộng, vì trên máy bay rất khó quan sát được những cây cối cao lớn bên dưới.

Đây bản đồ miền nam Việt Nam bị phun thuốc khoai quang trong thời kỳ chiến tranh. Chỉ thấy Đà Lạt là không có. Kinh


Vụ thuốc Khai Quang dường như nằm trong bí mật quốc phòng nên ít được truyền thông và quốc hội Hoa Kỳ nhắc đến. Tương tự, các chiến binh Mỹ xâm nhập vào Ai Lao hay Cao Miên cũng không được nhắc đến vì Hoa Kỳ luôn phủ nhận việc tham chiến tại hai quốc gia này. Mình có nghe nói Hà Nội đã tìm cách thưa kiện vụ việc này, nhưng khi ra tòa, quan tòa hỏi thuốc Khai Quang màu gì, phái đoàn Hà Nội trả lời là màu da cam. Điều này dẫn đến một tình huống khó xử vì thuốc này được gọi là màu da cam do thùng hoặc nắp của nó có màu da cam, mặc dù bản thân bột thuốc là màu trắng. Có một bác sĩ Việt Nam đã tuyên bố rằng nó có màu da cam vì bà bị bệnh do hóa chất độc hại gây ra trong thời gian kháng chiến chống Mỹ. Một chị bạn bác sĩ của mình đã trở về Việt Nam vào năm 1989 để tìm hiểu thêm về vấn đề này. Xin tóm tắt bài báo như sau:


Họ đã phun thuốc vào rừng rậm, và rừng rậm đã kiên cường chống trả trong nhiều thập kỷ. Bản đồ này minh họa việc giải ngân chất độc da cam trên khắp Việt Nam. Những vết sẹo màu cam nổi bật cho thấy nơi chất độc được rải từ trên không, trải dài vô tận qua các thung lũng và cánh đồng, từ thung lũng A Shau ở phía bắc đến những cánh đồng lúa gần Sài Gòn và Cà Mau ở phía nam. Có người còm cho biết không thấy bản đồ Phú Quốc vì khi xưa ông ta ở đó và có thấy thuốc Khai Quang nên nhớ có đến 30,000 tù binh Hà Nội được giam giữ tại đây.


Hàng ngày, những người lính trẻ tuổi của Hoa Kỳ hành quân qua những khu vực bị phun thuốc. Họ không hề hay biết về kẻ thù vô hình đã len lỏi vào da, quần áo và bốt của họ. Thay vào đó, họ bị ám ảnh bởi nỗi sợ hãi khi phải đi bộ trong rừng rậm, sự kiệt sức do những cuộc tuần tra bất tận với những gói nặng 60 pound, và áp lực chiến trường khi cây cối đột nhiên im lặng và tiếng súng đầu tiên vang lên. Họ chứng kiến những người bạn của mình ngã xuống và lao vào cuộc đua tuyệt vọng để đưa họ lên máy bay trực thăng medevac trước khi quá muộn. Bất chấp tất cả, họ vẫn tiếp tục tiến bước.


Các bệnh viện dã chiến hoạt động không ngừng nghỉ, với các y tá làm việc theo ca tàn bạo, bất tận để cố gắng cứu sống những cậu bé mang trong mình những tổn thương vô hình do hóa chất trôi theo gió. Những người lính này đã cống hiến tuổi trẻ của mình cho cuộc chiến, một số hy sinh trên chiến trường, trong khi những người khác dần dần, lặng lẽ đánh đổi sức khỏe của mình ngay cả sau khi trở về nhà.


Nhiều năm sau, nhiều người sống sót vẫn cảm thấy buồn nôn khi nhìn vào những bản đồ như thế này, vẫn nhớ mùi lạ trong không khí sau khi phun thuốc, vẫn thức dậy với những cơn đau không rõ nguyên nhân, và vẫn mang gánh nặng tự hỏi sương mù màu cam đó đã thực sự gây ra bao nhiêu tổn hại cho họ và con cái họ.


Chiến trường Việt Nam đã gây ra những tổn thương sâu sắc cho binh sĩ, không chỉ buộc họ phải chiến đấu với kẻ thù trên cây mà còn đầu độc chính mặt đất mà họ bước đi, khiến họ phải chiến đấu một cuộc chiến khác bên trong cơ thể của chính mình sau khi trở về nhà.


Một số người trở về nhà lành lặn, nhưng hầu hết đều mang theo những vết sẹo màu cam trong máu, trong xương, ám ảnh họ trong những đêm yên tĩnh suốt quãng đời còn lại. Đối với nhiều người, việc phun thuốc chưa bao giờ thực sự chấm dứt; họ chỉ học cách che giấu nó.


Mình đọc thêm tài liệu về cựu chiến binh Mỹ, tài liệu này xác định các vị trí tiếp xúc giả định dựa trên luật và quy định, chứ không phải bằng chứng tiếp xúc cụ thể. Đối với Chất độc da cam, Bộ Cựu chiến binh giả định rằng các cựu chiến binh phục vụ ở những địa điểm và khoảng thời gian cụ thể đã bị phơi nhiễm, bao gồm Việt Nam Cộng hòa, đường thủy nội địa, vùng biển ngoài khơi trong vòng 12 hải lý, căn cứ Thái Lan, một phần của DMZ của Hàn Quốc, Lào, Campuchia, Guam, Samoa thuộc Mỹ và Đảo san hô vòng Johnston. Thật bất ngờ khi được biết họ cũng sử dụng bên Hàn Quốc ngay vùng phi quân sự.


Cựu chiến binh phải phục vụ tại một địa điểm được chỉ định trong những ngày cụ thể để đủ điều kiện nhận trợ cấp. Nếu dịch vụ của họ phù hợp với các tiêu chí này, VA sẽ giả định rằng họ đã tiếp xúc với Chất độc màu da cam và cựu chiến binh không cần phải chứng minh chính xác nơi hoặc cách họ tiếp xúc.


Bộ Cựu chiến binh VA hiện công nhận một số trường hợp phơi nhiễm giả định đối với Chất độc da cam. Những trường hợp này bao gồm phục vụ tại Việt Nam từ ngày 9 tháng 1 năm 1962 đến ngày 7 tháng 5 năm 1975, phục vụ trên đường thủy nội địa và phục vụ trên tàu trong phạm vi 12 hải lý tính từ đường ranh giới của Việt Nam và Campuchia. Ngoài ra, VA còn bao gồm một số căn cứ quân sự của Thái Lan, DMZ của Hàn Quốc và một số địa điểm được mở rộng theo Đạo luật PACT, mỗi địa điểm này đều có phạm vi ngày riêng. 


VA xác định tính đủ điều kiện dựa trên thực tế của từng yêu cầu, nhưng áp dụng phơi nhiễm giả định khi hồ sơ dịch vụ của cựu chiến binh cho thấy một trong các địa điểm và khoảng thời gian đủ điều kiện. Điều này có nghĩa là hồ sơ đơn vị, trạm làm việc, nhật ký tàu và ngày phục vụ được xem xét để xác định xem cựu chiến binh có phù hợp với danh mục giả định hay không.


Giả định này rất quan trọng vì nó giảm bớt gánh nặng chứng minh cho các cựu chiến binh mắc một số bệnh liên quan đến chất độc màu da cam. Nếu địa điểm và ngày dịch vụ khớp, cựu chiến binh thường chỉ cần chẩn đoán hiện tại về một tình trạng giả định để hỗ trợ yêu cầu bồi thường.


Sources:

[1] Agent Orange Exposure And Disability Compensation - VA.gov https://www.va.gov/disability/eligibility/hazardous-materials-exposure/agent-orange/

[2] Exposure To Burn Pits And Other Specific Environmental Hazards https://www.va.gov/disability/eligibility/hazardous-materials-exposure/specific-environmental-hazards/

[3] Location-Based Exposure to Agent Orange - VA Public Health https://www.publichealth.va.gov/exposures/agentorange/locations/index.asp

[4] Confusion Surrounding PACT Act Presumptive Conditions: r/VeteransBenefits https://www.reddit.com/r/VeteransBenefits/comments/12gvt2l/pact_act_presumptive_conditions_confusion/

[5] PACT Act - Toxic Exposure Policy for Veterans | WWP https://www.woundedwarriorproject.org/programs/government-affairs/pact

[6] PACT Act and Toxic Exposure Information - VFW https://www.vfw.org/advocacy/pact-act-and-toxic-exposure-information

[7] The PACT Act and Your VA Benefits | Veterans Affairs https://www.va.gov/resources/the-pact-act-and-your-va-benefits/

[8] Agent Orange VA Presumptive Conditions List and Claiming Them https://www.hillandponton.com/agent-orange-presumptive-list-of-conditions/

[9] VA Presumptive Conditions List: 2025 Updates and Benefits https://homefrontgroup.com/va-presumptive-conditions-list/

Agent Orange, a herbicide used by the U.S. military during the Vietnam War, has been linked to long-term health issues in both American veterans and Vietnamese civilians. U.S. veterans who served in Vietnam between 1962 and 1975 may be eligible for VA disability compensation if they have a qualifying condition related to exposure to Agent Orange.


Việc tiếp xúc với chất độc hại có liên quan đến ung thư, tiểu đường, bệnh Parkinson và các bệnh nghiêm trọng khác. Bộ cựu chiến binh VA công nhận giả định phơi nhiễm đối với nhiều quân nhân từng phục vụ trong thời kỳ chiến tranh Việt Nam, giúp việc đủ điều kiện nhận quyền lợi cho một số bệnh trở nên dễ dàng hơn.


Nhiều cựu chiến binh vẫn tiếp tục gặp vấn đề sức khỏe hàng chục năm sau khi trở về nước, và Agent Orange đã trở thành một trong những vấn đề dài hạn nghiêm trọng nhất của cuộc chiến. Tác động của nó không chỉ giới hạn ở cựu chiến binh mà còn ảnh hưởng đến các gia đình Việt Nam và trẻ em sống trong những khu vực bị phơi nhiễm.


Cựu chiến binh từng phục vụ tại Việt Nam hoặc một số địa điểm khác được liệt kê và mắc một bệnh liên quan có thể đủ điều kiện nhận trợ cấp khuyết tật và chăm sóc y tế từ VA. Trang web của VA cung cấp danh sách các địa điểm phục vụ và mốc thời gian có thể thiết lập giả định phơi nhiễm.


Sources:

[1] What is Agent Orange? - Aspen Institute https://www.aspeninstitute.org/programs/agent-orange-in-vietnam-program/what-is-agent-orange/

[2] Agent Orange Effects & Symptoms - Cleveland Clinic https://my.clevelandclinic.org/health/symptoms/24689-agent-orange-effects

[3] The U.S. Military and the Herbicide Program in Vietnam - NCBI https://www.ncbi.nlm.nih.gov/books/NBK236347/

[4] Agent Orange - Vietnam Veterans Memorial Fund https://www.vvmf.org/topics/Agent-Orange/

[5] Agent Orange Exposure And Disability Compensation - VA.gov https://www.va.gov/disability/eligibility/hazardous-materials-exposure/agent-orange/

[6] Agent Orange: Last Chapter of the Vietnam War - Retro Report https://retroreport.org/video/agent-orange-last-chapter-of-the-vietnam-war/

Agent Orange, a herbicide used during the Vietnam War, has had lasting effects on both civilian and military populations. Here are some key points about its impact:


What is Agent Orange?: According to the Aspen Institute, Agent Orange is a herbicide used by the U.S. military in Vietnam.

Agent Orange - Vietnam Veterans Memorial Fund: The Vietnam Veterans Memorial Fund provides information about Agent Orange, including its effects and the support available to veterans affected by it.

Vietnam Veteran battles effects of Agent Orange decades … - YouTube: This YouTube video features a Vietnam veteran sharing their experiences and the long-term effects of Agent Orange exposure.

Agent Orange Effects & Symptoms - Cleveland Clinic: The Cleveland Clinic offers information on the symptoms and health effects associated with Agent Orange exposure.

Agent Orange: Last Chapter of the Vietnam War - Retro Report: Retro Report provides a historical overview of Agent Orange and its role in the Vietnam War.

Agent Orange Exposure And Disability Compensation - VA.gov: The Veterans Affairs Department (VA) offers information on the eligibility criteria for disability compensation for veterans exposed to Agent Orange.

The Lingering Issue of Its Civilian and Military Health Impact - PMC: This research article discusses the ongoing health impacts of Agent Orange on both civilian and military populations.

The U.S. Military and the Herbicide Program in Vietnam - NCBI: This book chapter provides a comprehensive overview of the U.S. military’s use of Agent Orange in Vietnam and its broader implications.

Here’s a comprehensive checklist of **Vietnam Agent Orange presumptive conditions** recognized by the Veterans Affairs (VA).


- [ ] Amyloidosis AL

- [ ] Bladder cancer

- [ ] Chloracne (or other acneiform diseases)

- [ ] Chronic B-cell leukemias

- [ ] Diabetes mellitus type 2

- [ ] Hodgkin’s disease

- [ ] Hypothyroidism

- [ ] Ischemic heart disease

- [ ] Multiple myeloma

- [ ] Non-Hodgkin’s lymphoma

- [ ] Parkinsonism

- [ ] Parkinson’s disease

- [ ] Peripheral neuropathy, early onset

- [ ] Porphyria cutanea tarda

- [ ] Prostate cancer

- [ ] Respiratory cancers, including lung cancer

- [ ] Some soft tissue sarcomas


The VA also lists **high blood pressure (hypertension)** and **MGUS** as Agent Orange presumptive conditions under the PACT Act. For the time-sensitive conditions, the VA specifies that chloracne, early-onset peripheral neuropathy, and porphyria cutanea tarda must generally become at least 10% disabling within 1 year of herbicide exposure.


Sources:

[1] Agent Orange Exposure And Disability Compensation - VA.gov https://www.va.gov/disability/eligibility/hazardous-materials-exposure/agent-orange/

[2] Agent Orange Presumptive List | Butler County, PA https://www.butlercountypa.gov/704/Agent-Orange-Presumptive-List

[3] Agent Orange Exposure: A Must Read for Every Vietnam-Era Veteran https://www.repforvets.com/agent-orange-presumptive-list-vietnam-era-veterans/

[4] Agent Orange: The Basics - Swords to Plowshares https://www.swords-to-plowshares.org/guides/agent-orange-the-basics

[5] Vietnam Presumptive and Agent Orange EXPOSED! - YouTube https://www.youtube.com/watch?v=CzuTMYnD77A

[6] Agent Orange VA Presumptive Conditions List and Claiming Them https://www.hillandponton.com/agent-orange-presumptive-list-of-conditions/

[7] How can a veteran prove exposure to Agent Orange without being in … https://www.facebook.com/groups/245397268071156/posts/725442723399939/


Sự thật về chất độc da cam cuối cùng cũng đang dần được phơi bày. Nếu không nhờ những lời phản ánh hàng ngày của các cựu binh trên mạng xã hội, chúng ta sẽ chẳng thể nào thấu hiểu những nỗi đau mà họ đã phải gánh chịu. Mặt khác, người dân Việt Nam lại bị bỏ mặc phải tự xoay xở, bởi đội ngũ pháp lý của Hà Nội hiện vẫn thiếu vắng một chiến lược vững chắc để giải quyết các khiếu nại của họ. 


Mình thực sự băn khoăn liệu các thế hệ tương lai, thế hệ thứ hai, thứ ba, hay thậm chí là thứ năm có tiếp tục phải chịu ảnh hưởng hay không. Trong khi các cựu chiến binh Mỹ chỉ phải trở về căn cứ sau vài tuần làm nhiệm vụ và không trực tiếp phơi nhiễm với chất độc da cam, thì người dân Việt Nam sinh sống tại những khu vực này lại trở nên vô cùng dễ tổn thương. 


Mình từng có dịp ghé thăm vùng đất Lạc Dương và chứng kiến ​​chương trình "Hộp Thuốc" dành cho các nhóm dân tộc thiểu số tại đây. Họ đang phải chịu đựng đủ loại bệnh tật do nguồn nước bị ô nhiễm. Tình trạng ô nhiễm này bắt nguồn từ việc người dân địa phương sử dụng quá mức các loại thuốc sâu để trồng trái cây và lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật. Mỗi khi trời đổ mưa, họ buộc phải sử dụng nguồn nước nhiễm bẩn, dẫn đến mắc các chứng bệnh nhiễm trùng. Mình sẽ tìm kiếm thêm tài liệu về vụ này để dọc sẽ kể tiếp. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyện tưởng như thật trong Chiến tranh Đông Dương

 Chuyện tưởng như thật trong Chiến tranh Đông Dương


Chả biết ông tây bà đầm nào rủ mình gia nhập nhóm về chiến tranh Đông-Dương của Pháp trên mạng xã hội. Buồn đời mình mò đọc tin tức của họ trên trang của nhóm thì có một bài khiến mình thất kinh. Khiến mình nhớ đến cách đây mấy năm có một người tự xưng là lính mỹ ở Việt Nam, không nói được tiếng mỹ chắc sau mấy chục năm không ESL nên ngọng. Hoá ra trong chiến tranh Đông-Dương có nhiều người đi lính cho pháp, đào ngủ hay bị bắt rồi buồn đời tham gia đánh pháp với quân đội Việt mInh. Việt Minh là viết tắc của Việt Nam Đồng Minh Hội, gồm các lực lượng của các đảng phái người Việt tại Việt Nam, hợp tác đánh pháp, dành độc lập.

Ông Stefan Kubinka và vợ Việt Nam 


Có câu chuyện này kể về cuộc đời của ông Stefan Kubiak, một người Ba Lan đã phục vụ cùng Việt Minh trong Chiến tranh Đông Dương. Kubiak, một cựu binh của Quân đoàn Lê dương, đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc xung đột nhất là tại Điện BIên Phủ. Ông ta sinh ngày 25 tháng 8 năm 1923 tại khu Widzew, thành phố Łódź, Ba Lan. Ông Stefan Kubiak lớn lên trong một gia đình thợ dệt nghèo. Dù tuổi thơ nhiều khó khăn, ông tìm thấy niềm an ủi trong các cuốn sách phiêu lưu, lịch sử và phim ảnh, những thứ đã khơi dậy trí tưởng tượng và niềm say mê với những vùng đất xa xôi. Nếu mình không lầm câu chuyện kể do con ông ta hiện sinh sống tại Ba Lan kể.


Trong Thế chiến II, do Ba Lan bị Đức chiếm đóng, Stefan mới 16 tuổi đã bị cưỡng bức đưa sang Đệ Tam Đế chế làm lao động. Ban đầu, ông làm việc tại một trang trại gần Memel (nay là Klaipėda, Litva), nơi chủ đất người Đức buộc ông làm việc như hai người. Sau đó, ông bị chuyển đến một nhà máy ở Westphalia, nơi ông phải chịu cảnh đói khát nghiêm trọng.


Khi nghe tin Hồng quân đang tiến về Ba Lan, Stefan đã trốn khỏi nơi làm việc và bắt đầu hành trình nguy hiểm băng qua nước Đức Quốc xã bằng cách lén đi tàu. Tuy nhiên, ông bị phát hiện và đưa trở lại vùng ngoại ô Memel, nơi ông bị buộc phải đào chiến hào. Không nản chí, ông lại trốn thoát, tiến về phía đông nam và gia nhập một đơn vị du kích Liên Xô.


Đầu tháng 1 năm 1945, Kubiak, khi đó 21 tuổi, trở về Łódź cùng Hồng quân. Theo lời khuyên của một người bạn có kinh nghiệm, ông đăng ký vào Trường Trung ương đào tạo sĩ quan chính trị. Mục tiêu của ông là trở thành chính ủy trong Quân đội Nhân dân Ba Lan, lực lượng vũ trang của Ba Lan thời Stalin, nhưng sau đó ông đào ngũ trong hoàn cảnh không rõ ràng. Chắc đói quá nên bỏ trốn cũng có thể tỏng thừoi gain đó Liên Xô đã sát hại 30,000 sĩ quan Ba Lan tại Karen thì phải để mình sẽ xét lại có đúng địa danh không. Chỉ nhứo


Cùng với những người Đức bị trục xuất, ông Kubiak có mặt tại nước Đức do phe Đồng minh chiếm đóng. Dù không có tiền bạc, đói khát và không có giấy tờ, ông bị cảnh sát Pháp bắt giữ. Đứng trước lựa chọn giữa tù giam và gia nhập Quân đoàn Lê dương, ông đã chọn con đường thứ hai. Ông được đưa đến Algeria qua cảng Marseille để huấn luyện khắc nghiệt. Mình có xem một phim tài liệu của pháp nói về sự huấn luyện của lính Lê Dương (légionnaire) ở Algerie. Sau khi hoàn thành huấn luyện, với tư cách là lính Lê dương, ông tham gia đàn áp các cuộc nổi dậy chống thực dân tại Maroc năm 1946.



Sau chiến tranh đệ nhị thế chiến, các thuộc địa thấy người Pháp chả là gì cả. Paris bị chiếm đóng trong vòng 7 ngày và bị Đức quốc xã đô hộ. Ở Việt Nam, quân đội Nhật giải giới người Pháp rất nhanh tỏng vòng mấy tiếng đồng hồ vì thật ra người Pháp ở Việt Nam rất ít so với số người Việt. Họ hết sợ thực dân nên đòi độc lập thêm khối liên Sô tìm cách kéo các nước anh em thế giới đại đồng càng nhiều càng tốt nên cũng cấp vũ khí đến đánh nhau với tây. Ở Paris có tổ chức MẶt Trận Giải Phóng Quốc Gia của Algérie (NFL) do ông Ben Bella cầm đầu, bỏ bom bú xua la mua ở pháp khiến Tây sợ lắm.


Tháng 12 cùng năm, ông lên tàu SS Pasteur và được điều sang Đông Dương. Đầu năm 1947, đơn vị của ông đóng tại Nam Định để chống lại lực lượng khởi nghĩa Việt Nam bằng các chiến dịch “tìm và diệt”. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến các phương pháp tra tấn tàn bạo của quân Pháp đối với nông dân Việt Nam, thường dẫn đến cái chết và xâm hại dân thường, Kubiak quyết định rời bỏ vị trí của mình. Ông cùng hai người Đức và một người Áo trong Quân đoàn, những người có cùng suy nghĩ, lập kế hoạch đào ngũ và trốn vào rừng. Lính Lê dương đa số là người ngoại quốc, gia nhập để làm lại cuộc đời cho nên họ không trung thành với đế chế Pháp gì cả. Lính đức đào ngủ, sợ bị quy tội Nazi, phục vụ cho SS này nọ nên đăng lính Lê dương cho quên đời.


Với mục tiêu gia nhập cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Minh, những người châu Âu đào ngũ ban đầu gặp khó khăn trong việc tạo dựng niềm tin với người dân địa phương do ngoại hình và quân phục Pháp. Tình hình cải thiện khi một cậu bé Việt Nam dẫn họ đến gặp lực lượng kháng chiến. Phó của thủ lĩnh địa phương lại là một người Đức đào ngũ, điều này giúp họ dễ dàng hòa nhập. Chỉ trong hai tuần, họ đã được phân vào các đơn vị du kích.


Ông Kubiak bắt đầu nhiệm vụ với công việc táo bạo là phát tờ rơi tuyên truyền tại Nam Định, nơi trước đó ông từng đóng quân. Sau đó, ông tình nguyện vào lực lượng Vệ quốc đoàn và tham gia nhiều cuộc phục kích nhằm vào đoàn xe và đội tuần tra của quân Pháp. Ông cũng huấn luyện các chiến sĩ trẻ Việt Nam sử dụng vũ khí hiện đại. Với đóng góp tại Phủ Thông, ông nhận được huân chương Việt Nam đầu tiên. Tại miền Bắc, ông thể hiện kỹ năng sửa chữa nhiều loại vũ khí thu được như pháo, súng phóng lựu và súng cối. Sau trận Hòa Bình năm 1952, khi Việt Minh thu được nhiều khẩu pháo không sử dụng được, ông đã sửa chữa thành công, giúp lực lượng Việt Nam sử dụng chúng và được cấp trên ghi nhận.


Trong những năm tiếp theo, ông tham gia hầu hết các trận đánh lớn của cuộc chiến. Khi chiến đấu tại Phủ Thông, ông suýt chết do bị mảnh lựu đạn trúng mặt; dù bị thương nặng, ông vẫn dùng sức lực cuối cùng để ném trả quả lựu đạn vào hầm địch. Ông cũng suýt bị bắt khi yểm trợ đồng đội rút lui tại Sơn Tây. Trong Quân đội Việt Minh, ông được đặt biệt danh “Toán” nhờ khả năng chiến thuật xuất sắc, đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho ông chỉ huy một đơn vị pháo binh. Ông được xem là một chiến sĩ tài năng, góp phần phá vỡ phòng tuyến khó khăn nhất của địch bằng cách cải trang thành sĩ quan Pháp, tạo điều kiện cho quân Việt Nam xung phong chiếm cứ điểm. Với chiến công này, ông được thăng cấp đại úy và nhận thêm huân chương. Chi tiết này cho thấy cũng là chiến thuật hay của Việt minh. Tưởng tượng lính tây và Việt Nam đang đánh nhau thì có tên da trắng xổ tiếng pháp, thế là họ ngừng bắn thì bị giết ngay. Lạ không thấy Hà Nội kể về nhân vật vật này.


Dù là người nước ngoài, Kubiak được Việt Minh rất kính trọng, thậm chí còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận làm con nuôi và ban cho tên đệm danh dự “Hồ Chí”, ghi nhận đóng góp của ông trong cuộc đấu tranh dành độc lập của dân tộc Việt Nam. Sau khi Chiến tranh Đông Dương kết thúc năm 1954, ông Kubiak được chuyển về Hà Nội và tiếp tục phục vụ trong quân đội, nhưng với vai trò phóng viên của Báo Quân đội Nhân dân.


Ông đôi khi sang Cộng hòa Nhân dân Ba Lan, được ân xá cho việc đào ngũ trước đây và làm phiên dịch cho các đoàn quân sự Việt Nam. Ông định cư tại Hà Nội và năm 1956 lập gia đình với một phụ nữ Việt Nam tên Nguyễn Thị Phượng, cũng theo Công giáo; họ quen nhau nhờ Franciszek Zwierzyński, một người Ba Lan làm việc tại Việt Nam trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Hai người có hai con trai: Hồ Chí Thắng (sinh năm 1956) và Hồ Chí Dũng (sinh năm 1958). Do vết thương tái phát và bệnh sốt rét nặng, ông Stefan Kubiak lâm bệnh nặng năm 1963 và qua đời tại Hà Nội ngày 28 tháng 11 năm đó, hưởng dương 40 tuổi.

Mộ phần của ông Stefan Kubiak, tên việt là Hồ Chí Toán.


Theo nguyện vọng cuối cùng của ông, vợ và các con tại Ba Lan được biết đến với tên Teresa Kubiak cùng hai con Stefan và Wiktor đã chuyển từ Việt Nam về Ba Lan năm 1964 và sống tại Łódź. Mộ của Stefan Kubiak nằm tại nghĩa trang Văn Điển, cách trung tâm Hà Nội 11 km; trên bia mộ, ngoài chữ tiếng Việt còn có dòng chữ Ba Lan: “Tu spoczywa Polak, bohater narodu wietnamskiego, uczestnik bitwy pod Dien Bien Phu” (Nơi đây yên nghỉ một người Ba Lan, anh hùng của dân tộc Việt Nam, người tham gia trận Điện Biên Phủ).


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


từ Na-San đến Điện Biên Phủ


Hồi xưa, thầy dạy kể về các trận đánh chống pháp này nọ, có nghe đến trận Na-San và tướng Raul Salan mà mấy ông tây đi lính khi xưa khen ông tướng này. Sau này ông ta chống lại việc tổng thống Để Gaulle nên tính làm đảo chính nhưng chỉ có một số binh sĩ theo ông ta nên sau này bị tổng thống De Gaulle bắt bỏ tù. Hồi ở Paris, mình có gặp ong tướng này mấy lần ở hội cựu chiến binh Đông-Dương mỗi lần ông ta lên Paris thăm gia đình, và ông tướng Bigeard, người đầu hàng Việt mInh tại Điện Biên Phủ cũng như bác sĩ Paul Grovin, người đã trải qua bao nhiêu trận pháo của việt minh tại lò chảo Điện Biên này. Ông này có viết cuốn sách “ j’étais médecin à Điện Biên Phủ”. Mình có đọc cuốn này khi ở Pháp. Có dịp mình kể về ông bác sĩ này.

Căn cứ Na-San là nơi đụng độ mạnh nhất giữa Việt minh và quân đội Pháp. Các vùng miền cao như Cao Bằng, Lạng Sơn đều được việt mình chiếm đóng các khu vực này. Lý do là gần biên giới Trung Cộng. Dễ nhận tiếp tế.

Có lần về quê, ngủ lại nhà lần đầu tiên, thì sáng sớm nghe cái loa phường tuyên dương các người dân làng mình đã hy sinh trong trận đánh Điện Biên Phủ. Cái loa đọc tên rồi kêu đã chết rất lâu khiến mình rùng mình. Nếu ông cụ mình theo việt mInh ở làng chắc cũng đã nằm xuống ở Điện Biên Phủ. Ông cụ lại không theo nên việt minh tìm cách giết vào ban đêm. May sao ông cụ đã chuẩn bị nên nhảy qua tường nhà hàng xóm rồi trốn ra Hà Nội rồi đăng lính vào nam.


Mình có đọc đâu đó, ông tướng Võ Nguyên Giáp có kể là khi Trung Cộng đồng ý giúp đỡ vũ trang và cán bộ thì Việt mInh mới khởi đầu đánh pháp. Cậu ruột của đồng chí gái đi theo việt minh và làm sĩ quan tuỳ viên cho võ đại tướng. Sau này lên hàm tướng.

Không ảnh của Na-San, thấy phi trường 

Hôm nay tình cờ đọc một bài của ông tây nào kể về trận đánh Na-San, khiến quân đội pháo ỷ y nên chơi lớn hơn ở Điện Biên Phủ cùng chiến thuật nhưng rồi sau khi thất bại tại Na-San, Việt mInh học được bài học đau đớn nên đã tương kế tựa kế, bao vây Điện Biên Phủ và người Pháp không ngờ kỳ này quân đội Việt Minh có thể kéo đại bác lên trên đỉnh núi và trực chỉ bắn xuống các nơi phòng ngự của lính pháp. Cuối cùng không được tiếp tế nên đầu hàng. Ông tướng Bigeard có nói với mình tướng Phú của Việt Nam Cộng Hoà cũng có mặt tại trận này và bị bắt làm tù binh. Hình như dạo đó tướng Phạm Văn Phú là trung uý trong quân đội viễn chinh pháp.


Pháp có 2 trận đánh nổi tiếng ở Việt Nam là Na-San và Điện Biên Phủ trong khi quân đội mỹ có trận Khe sanh, cũng do tướng Giáp tấn công. Chỉ có Điện Biên PHủ là thắng còn hai trận kia thì phải rút lui vì tổn thất quá nhiều. Mình đọc đâu đó ông Giáp có kể vụ bộ chính trị ra lệnh ông ta phải chiếm loại Quảng Trị cho bằng được khiến mỗi đêm 100 bộ đội chèo ghe sang sống đều bị bắn chết hết.


 Vào tháng 12 năm 1946, tại Đông Dương thuộc Pháp lúc bấy giờ, Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh. Một phong trào độc lập cánh tả của Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo và Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân sự.

Phi đạo của Na-San
Họ đào hầm phòng ngự, hình như đa số  người đào là gốc việt hay Thái

Nhận thấy không thể thắng được bằng sức mạnh ở những cánh đồng lúa phẳng, ông Võ Nguyên Giáp, chả bao giờ đi lính cả nhưng lại cầm quân kháng chiến chống pháp. Mình nghe ông Vũ Quốc Thúc, học chung với ông Giáp. Ông Giáp mê lịch sử nhất là các trận đánh của Napoleon, ông ta kể rõ từng chi tiết. Sau này ông ta không được đi pháp học thêm như ông Vũ Quốc Thúc vì ông thầy giáo tây ghét cái tính của ông Giáp không chịu luồng cúi người Pháp nên đánh rớt. Chứ nếu tây cho ông Hồ và ông Giáp đi du học thì ngày nay có thể Việt Nam vẫn là thuộc địa cảu pháp cũng có thể không phải cộng sản. Hay chả có chiến tranh chết chóc 3 miền.


Bộ chỉ huy Việt Minh mới quyết định năm 1952 chuyển hướng nỗ lực của Việt Minh sang vùng núi phía Bắc (Tonkin, nay là miền Bắc Việt Nam). Ở đó, ông tin chắc sẽ tận dụng được sự linh hoạt của quân đội và sự quen thuộc với rừng núi, cũng như hậu cần trở nên linh hoạt hơn nhờ sự hỗ trợ ngày càng gia tăng từ Trung Quốc cộng sản láng giềng.


Do đó, đầu tháng 10 năm 1952, ba sư đoàn bộ binh Việt Minh đã vượt sông Hồng và mở cuộc tấn công vào tỉnh Thái ( tây gọi Tai) ở tây bắc Tonkin, nơi sinh sống của các dân tộc Thái thân Pháp. Hình như thực dân pháp để cho các dân tộc này tự trị nên họ ủng hộ và giúp đỡ người Pháp. Mục tiêu của Việt Minh là đẩy lui quân Pháp và thiết lập đường nối trực tiếp với Lào, sau đó xâm lược phần này của Đông Dương thuộc Pháp và mở thêm một mặt trận mới.


Chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần, các sư đoàn Việt Minh đã tiến được khoảng 60 km và tiến đến sông Đen, Hắc Giang (Black River) ở phần trung tâm tỉnh Thái. Sự tiến quân này buộc các lực lượng Pháp-Việt phải rút khỏi các cứ điểm chính tại Nghĩa Lộ và Sơn La, cũng như các tiền đồn nhỏ lân cận. Không lâu sau, các cứ điểm Điện Biên Phủ và Lai Châu nằm phía bên kia sông Hắc giang  cũng phải di tản.

Tướng Raoul Salan, sau này bị tổng thống De Gaulle ra lệnh bắt bỏ tù vì muốn giữ Algeria cho đế quốc Pháp. Mình có ăn cơm với ông ta mấy lần tại hội cựu chiến binh Đông-Dương 

Đáp lại, Tướng Raoul Salan, khi đó là Tổng Tư lệnh lực lượng Pháp tại Đông Dương, quyết định chặn bước tiến của Việt Minh sang Lào bằng cách xây dựng một căn cứ kiên cố tại Na San, một thung lũng nằm bên kia sông hắc giang. Na San có một sân bay quan trọng, là điểm đến của viện binh và tiếp tế cho tỉnh Thái.


Thung lũng Na San dài khoảng 5 km, rộng 2,5 km, được bao quanh bởi hai dãy đồi. Nó nằm trên đường tỉnh lộ 41 (RP 41) tuyến giao thông chính của tỉnh Thái. Một sân bay quân sự đã được xây dựng trong thung lũng, được một tiền đồn nhỏ canh giữ nhằm tăng khả năng tiếp tế cho khu vực. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Tướng Salan chọn Na San làm nơi tập trung quân, bao gồm cả các đơn vị đang rút lui. Ông hy vọng sẽ thu hút các sư đoàn Việt Minh đang tiến tới tấn công cứ điểm trên đường sang Lào, đồng thời chặn đứng và tiêu hao chúng bằng cách biến thung lũng thành một pháo đài bất khả xâm phạm.


Vì vậy, ngày 16 tháng 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh Lê dương 3 (3e REI) dưới quyền Thiếu tá Favreau đã đổ bộ xuống Na San và bắt đầu công việc củng cố. Ngày 26 tháng 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 5e REI (vẫn dưới quyền Thiếu tá Dufour, sau chuyển sang Đại úy Reppelin từ giữa tháng 11) cũng được chuyển đến thung lũng. Các đại đội của họ chiếm giữ nhiều ngọn đồi bao quanh thung lũng và ngay lập tức biến chúng thành các vị trí phòng thủ.


Trong quá trình xây dựng quy mô lớn, hai tiểu đoàn được hỗ trợ bởi các đơn vị công binh Pháp và lính công binh Lê dương từ Tiểu đoàn Công binh hỗn hợp 73 (73e BG). Trong nhiều tuần, máy bay liên tục chở đến lương thực, vật liệu xây dựng, đạn dược, gạo, dây thép gai, pháo, và thậm chí cả máy ủi. Bên cạnh vận tải bằng máy bay dân sự, không quân còn cung cấp giám sát từ xa và gần để theo dõi kẻ thù.

Tiểu đoàn nhảy dù Lê Dương 

Ngày 19 tháng 11, Tiểu đoàn Nhảy dù Lê dương 2 (2e BEP) của Thiếu tá Bloch đến Na San, tiếp theo ngày hôm sau là Tiểu đoàn 1er BEP của Thiếu tá Brothier. Cả hai đơn vị ngay lập tức được đưa đến cách thung lũng khoảng 20 km về phía đông nam để đón các đơn vị đồng minh đang rút lui tại Chiên Đông và Cò Nòi, rồi hộ tống họ về Na San. Trong chiến dịch hai ngày này, đã xảy ra những cuộc đụng độ đầu tiên với Sư đoàn 316 Việt Minh đang tiến tới.


Lúc này, căn cứ Na San gồm hai tuyến phòng thủ. Tuyến ngoài được xây trên các ngọn đồi bao quanh thung lũng, cách sân bay bán kính lên đến 2 km, gồm bảy cứ điểm lớn (points d’appui, đánh số từ 21 đến 27). Sáu cứ điểm trong số đó gồm thêm nhiều vị trí phòng thủ kiên cố, mỗi vị trí do một đại đội canh giữ. Tuyến trong nằm ngay đáy thung lũng, gồm mười cứ điểm kiên cố (số 1 đến 10) cùng các vị trí phòng thủ bổ sung, bảo vệ Bộ chỉ huy, sân bay, pháo binh và kho tàng.


Cách tổ chức này cho phép chỉ huy sử dụng chiến thuật “phòng thủ nhím” (hedgehog defense) chống lại các cuộc tấn công của quân địch đông hơn về số lượng. Căn cứ kiên cố được bảo vệ bởi 11 tiểu đoàn, bao gồm hai tiểu đoàn bộ binh Lê dương, ba tiểu đoàn nhảy dù (hai BEP và Tiểu đoàn Nhảy dù Thuộc địa 3 – 3e BPC), một tiểu đoàn bộ binh nhẹ Maroc, một tiểu đoàn bộ binh nhẹ Algeria, ba tiểu đoàn phụ lực Thái, và một tiểu đoàn phụ lực Việt Nam.


Ban đầu, các lực lượng này chỉ được hỗ trợ bởi một đại đội súng cối Lê dương (CMLE) được thành lập đặc biệt cho sứ mệnh này. Đơn vị đóng tại tiền đồn nhỏ ban đầu của Na San, trang bị súng cối 120 mm và 81 mm. Đến cuối tháng 11, ba khẩu đội pháo 105 mm đã tăng cường cho căn cứ. Ngoài lực lượng mặt đất, căn cứ Na San còn được bảo vệ bởi nhiều máy bay chiến đấu, bao gồm Privateer, SB2C Helldiver, F6F Hellcat và Douglas A-26 Invader, luôn sẵn sàng xuất kích từ Hà Nội cách đó 45 phút.


Chỉ huy toàn bộ căn cứ là Đại tá Jean Gilles, sau này trở thành Tổng Tư lệnh các đơn vị nhảy dù Pháp tại Đông Dương. Ngày 22 tháng 11, Việt Minh dưới quyền Tướng Giáp tiến đến Na San và bao vây nó: Sư đoàn 308 từ phía bắc, Sư đoàn 312 từ phía đông, Sư đoàn 316 từ tây nam. Mỗi sư đoàn gồm ba trung đoàn, mỗi trung đoàn có 2-3 tiểu đoàn. Nghĩa là quân Pháp tại Na San phải đối mặt ít nhất 18 tiểu đoàn Việt Minh, được hỗ trợ bởi pháo binh.


Tối ngày 23 tháng 11, Việt Minh mở cuộc tấn công đầu tiên vào Na San bằng mưu kế. Ở phía bắc căn cứ, trên tuyến phòng thủ trong, có Cứ điểm 8 (PA 8). Nơi đây do Đại đội 11, Trung đoàn 5e REI dưới quyền Đại úy Letestu trấn giữ (ông là nhà vô địch bắn súng nhỏ của quân đội Pháp và sau này trở thành lãnh đạo Quân đoàn Lê dương). Cứ điểm gồm nhiều hầm ngầm kiên cố, nối với nhau bằng hệ thống hào và hố cá nhân dày đặc, được bao quanh bởi dây thép gai và bãi mìn.


Khoảng 20 giờ, lính gác tại một cổng vào cứ điểm báo động cho toàn PA 8. Một đơn vị phụ lực Thái rút lui đã đến cứ điểm, thông báo Việt Minh đang tới và xin lánh nạn. Nhưng có lẽ vì vội vã, họ quên đi tuyến đường quy định và lao thẳng vào lưới thép gai và bãi mìn. Trung úy Durand, chỉ huy một trung đội Đại đội 11, người đã sống sót kỳ diệu qua vụ thảm sát nhóm Kháng chiến của ông bởi quân Đức trong Thế chiến II, bước ra ngoài cổng để dẫn dắt đoàn quân nhỏ đang rút lui.


Sĩ quan chỉ huy đơn vị Thái nói được tiếng Pháp. Trung úy tiếp cận và bắt đầu trò chuyện. Nhưng ông lập tức nhận ra sai lầm: đây không phải phụ lực địa phương. Ông đang đối mặt với Việt Minh! Trung úy Durand, bất ngờ trước kẻ thù và bị ra lệnh im lặng, quay về phía lính trong cứ điểm và hét lớn: “Cẩn thận, chúng là Việt Minh, bắn!” Đồng thời ông bị bắn nhiều phát và trở thành nạn nhân đầu tiên của trận Na San.


Mưu kế này khởi đầu cuộc tấn công của các đơn vị Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 (hoặc 312 theo một số nguồn). Quân Việt Minh giả dạng Thái đã xâm nhập qua cổng mở vào hệ thống hào. Tuy nhiên, họ gặp phải sự kháng cự quyết liệt. Đại úy Letestu và binh lính chiến đấu sáp lá cà. Đại đội CMLE nhanh chóng can thiệp và bắn đạn cối vào lực lượng Việt Minh tiến công từ ba hướng. Cuộc tấn công đầu tiên nhanh chóng bị chặn đứng. Vài giờ sau, một đại đội của 3e BPC đến tăng viện. Lực lượng liên hợp còn đẩy lùi được đợt tấn công thứ hai. Sau nửa đêm, quân Việt Minh rút lui. Cứ điểm được giữ vững.

Tù binh Việt Minh

Sáng hôm sau, người ta tìm thấy 64 thi thể Việt Minh xung quanh cứ điểm. Bên phía Pháp, ngoài Trung úy Durand, có 5 lính Lê dương hy sinh, 13 người bị thương và 6 người mất tích. Sau thất bại bất ngờ này, ông Giáp hủy cuộc tấn công ban đầu. Phần còn lại của tháng 11, Na San trở nên hơi yên tĩnh, chỉ bị pháo kích lẻ tẻ. Việt Minh tập hợp lại lực lượng và sửa đổi kế hoạch. Tuy nhiên, tình báo cho thấy Việt Minh chưa từ bỏ ý định chiếm thung lũng và đánh bại quân Pháp. Uy tín của Việt Minh đang bị đặt cược.


Đêm 30 tháng 11 đến 1 tháng 12, Việt Minh mở cuộc tấn công mới. Lần này nhằm vào hai cứ điểm ở rìa tây và đông thung lũng: PA 22 bis và PA 24, do phụ lực Thái và bộ binh Maroc trấn giữ. Chắc họ đoán lính Maroc đáng giặc dỡ. Khoảng 2 giờ 30 sáng, một tiểu đoàn Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 mở cuộc tấn công quy mô lớn kèm oanh kích mạnh. Cứ điểm 22 bis (cách sân bay khoảng 1 km về phía tây) nhanh chóng bị chiếm; lực lượng Thái phòng thủ rút lui mau chóng. Đồng thời, ở phía đối diện, Cứ điểm 24 bị Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 tấn công. Dù có pháo binh và cối yểm trợ, cứ điểm vẫn thất thủ sau ba giờ chiến đấu.


Tuy nhiên, Đại tá Gilles đã có kế hoạch dự phòng. Đó là phản công lúc bình minh bằng một tiểu đoàn nhảy dù đang chờ trong lực lượng dự bị gần sân bay. Gilles ra lệnh bắn chuẩn bị bằng cối 120 mm trong ba giờ vào Cứ điểm 22 bis đã mất, sau đó 2e BEP phản công lúc khoảng 7 giờ sáng. Ngọn đồi nhanh chóng được chiếm lại.

Mấy ông ta này chắc về nhà vợ la chắc không nghe

Tình hình tại Cứ điểm 24 phức tạp hơn. Khoảng 7 giờ sáng, sau pháo kích mạnh, quân của Tiểu đoàn Nhảy dù Thuộc địa 3 phản công. Họ phải cận chiến bằng lưỡi lê, được hỗ trợ bởi cối và máy bay. Đến trưa, hai đại đội 2e BEP và một đại đội Maroc đến tăng viện. Cuối cùng khoảng 14 giờ, ngọn đồi được giành lại. Những cuộc phản công này đã ngăn không cho Việt Minh đặt súng phòng không trên các ngọn đồi và bắn hạ máy bay Pháp, vốn cực kỳ quan trọng đối với lực lượng mặt đất.


Mặc dù đã đánh giá thấp sức mạnh phòng thủ của Na San dẫn đến hai thất bại và tổn thất lớn, ông Giáp vẫn kiên quyết chiếm thung lũng. Cuộc tổng tấn công được dự định ngay đêm hôm sau (1-2 tháng 12), lại nhắm vào hai vị trí phòng thủ khác nhau.


Khoảng 0 giờ 45, ở phần đông của dãy đồi trên, Trung đoàn 88 (Sư đoàn 312) và Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) mở cuộc tấn công quy mô lớn vào Cứ điểm 26, cứ điểm lớn nhất Na San. Một dãy núi dài khoảng 800 m với sườn dốc đứng đã được biến thành pháo đài với hầm ngầm, hố chiến đấu, hào và dây thép gai dày đặc. Cứ điểm do Tiểu đoàn 3, 3e REI của Thiếu tá Favreau (cựu chiến binh Lê dương nổi tiếng, mất một mắt trong Thế chiến II) trấn giữ.


Pháo binh Việt Minh bắn không ngừng, trong khi quân tấn công dùng ngư lôi Bangalore (ống tre chứa thuốc nổ) phá dây thép gai. Lính Lê dương để địch tiến sát hào rồi mới bắn. Pháo binh Pháp, bao gồm CMLE, can thiệp chính xác. Máy bay Pháp thả dù sáng và ném bom vào các khe núi gần đó.

Đến khoảng 2 giờ sáng, đợt tấn công thứ hai bị đẩy lui. 4 giờ 30 sáng, đợt cuối cùng bị chặn đứng. Đến 5 giờ sáng, địch kiệt sức rút lui, để lại gần 240 thi thể. Bốn đại đội của Tiểu đoàn 3e REI chỉ tổn thất 7 chết và 22 bị thương. Đánh cả đêm tì mệt, phải rút lui.

Đồi núi phòng ngự, ở dưới bò lên là hơi mệt

Khoảng 1 giờ 30 sáng, ở phía tây dãy đồi dưới, Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312) pháo kích Cứ điểm 21 bis do Đại đội 10, 5e REI dưới quyền Trung úy Bonnet trấn giữ. Sau khi phá dây thép gai, địch tiến sát đến chỉ còn khoảng 20 mét từ Bộ chỉ huy đại đội. Trong hầm, Trung úy Bonnet chỉ huy hỏa lực. Bỗng một quả lựu đạn địch rơi vào hộp chất nổ. Ông nhanh tay vứt ra ngoài nhưng nó nổ ngay, khiến ông hy sinh. Trung úy Blanquefort thay thế chỉ huy. Tại trung đội 4 của Trung úy Bachelier, dù bị thương, ông vẫn bình tĩnh di chuyển chỉ huy và khích lệ binh sĩ cho đến khi bị bắn vào cổ và hy sinh.


Cuối cùng, máy bay A-26 đến ném bom và napalm. Khoảng 4 giờ sáng, Việt Minh giảm cường độ tấn công. Đến 7 giờ sáng, im lặng. Khoảng 350 thi thể Việt Minh và 50 người bị thương nằm trước cứ điểm cùng nhiều vũ khí. Bên Pháp: hai sĩ quan và hai lính Lê dương hy sinh, 11 người bị thương.


Sáng cùng ngày, Đại tá Gilles báo về Hà Nội qua radio: “Chúng tôi không bị chọc thủng! Tất cả vị trí vẫn giữ vững! Đó là một trận mưa lửa không thể tả.” Lúc đó ông chưa biết Trận Na San đã thực sự kết thúc.


Nỗ lực chiếm Na San của Giáp bị thất bại. Chỉ trong ba đêm, các sư đoàn của ông tổn thất ít nhất 1.000 người chết và nhiều người bị thương, bị bắt. Bốn ngày sau, quân Việt Minh mệt mỏi và đói rút lui, chỉ để lại một số đơn vị nhỏ quan sát và quấy rối.


Ngày 10 tháng 12, tại Na San, Tướng Salan trao Huân chương Chiến công Nhà hát Chiến tranh Ngoại bang cho hai tiểu đoàn bộ binh Lê dương. Các đơn vị được khen thưởng ở cấp Quân đội (cao nhất).


Nhờ tổn thất lớn về nhân lực, lương thực và đạn dược, ông Giáp phải hủy kế hoạch xâm lược Bắc Lào. Chiến thuật của Salan đã thành công, mang lại thắng lợi rõ ràng cho Pháp.


Tuy nhiên, sau khi Tướng Salan rời đi năm 1953, Bộ chỉ huy Pháp mới tại Đông Dương quyết định bỏ hoàn toàn căn cứ kiên cố Na San để chiếm một thung lũng lớn hơn, khó phòng thủ hơn: Điện Biên Phủ. Quyết định này cuối cùng dẫn đến thất bại lớn của Pháp và mất Đông Dương.

người Pháp bỏ căn cứ này dọn đến Điện Biên Phủ và đưa đến thất trận

Mình đọc trên Facebook của ông Việt Lê, thì được biết lý do thực dân pháp cho phép các bộ tộc người Thái tự trị ở Đông-Dương là vì họ trồng thuốc phiện bán cho người Pháp. Quân đội pháp dùng tiền này để trang trải kinh phí chiến tranh Đông-Dương. Thấy cũng có lý vì Pháp quốc mới banh ta lông sau đệ nhị thế chiến nên không có tiền để tái thiết Pháp quốc. Nên đoán lý do Việt Minh muốn đánh vùng này để phá hoại kinh tài của người Pháp.


Thực tế, khác với Bộ chỉ huy Pháp mới, ông Giáp đã rút được kinh nghiệm quý báu từ Na San và áp dụng thành công trong Trận Điện Biên Phủ nổi tiếng năm 1954. Và được các sĩ quan do Trung Cộng đưa sang hỗ trợ. Nên khi quân đội pháp, bỏ căn cứ Na-San và muốn dàn trận ở chiến địa lớn hơn là Điện Biên Phủ. Việt mInh nhờ lòng dũng cảm đã cố đưa lên các đỉnh núi các dàn pháo do Trung Cộng viện trợ và từ trên núi tha hồ nả pháo xuống các căn cứ, phòng ngự của lính pháp. Cuối cùng đưa đến sự đầu hàng, và sau hiệp định Geneva, pháp rút khỏi Việt Nam vào năm 1956.


Việt Minh được sự ủng hộ của bộ tộc người Mèo, Thái Đen vùng này nếu không thì khó áp đảo được lính pháp trấn thủ nơi đây. người Pháp cho ngừoi Thái Trắng nhiều đặc quyền tỏng khi người thái đen và người Mèo ở vùng này trơ mỏ nên họ giúp Việt mInh. Xin trích từ Facebook Viet Le:


“Cần biết Điện Biên Phủ nằm trên đất của Liên bang Thái tự trị gồm 3 tỉnh Tây Bắc do Pháp cắt cho gia tộc họ Đèo do Đèo Văn Long, một người Thái trắng đứng đầu vào sau Thế chiến thứ 2. Khu vực này từ lâu đã được gọi là Xứ Thái, do Pháp phong cho Đèo Văn Trị, cha của Đèo Văn Long cai quản từ cuối thế kỷ 19.


Theo Alfred McCoy, một nhà nghiên cứu táo bạo, Đèo Văn Long là đồng minh lâu năm của Pháp. Không những thế, ông này còn đóng vai đầu nậu thu mua hoa anh túc để bán lại cho Pháp. Số hoa anh túc thô này sẽ được chở về Vũng Tàu để bào chế thành á phiện, rồi sau đó bỏ cho thủy tặc Bình Xuyên phân phối ở khu Chợ Lớn. Đây là một nhánh trong đường dây sản xuất và tiêu thụ thuốc phiện do chính phủ Pháp duy trì từ trước Thế chiến thứ 2. 


Sau Thế chiến, chính phủ Pháp phát động phong trào bài trừ thuốc phiện và cắt đứt đường dây này. Nhưng tình báo Pháp thuộc quân đội, cụ thể là cơ quan SDECE, thông qua lực lượng gọi là Liên đoàn biệt kích dù hỗn hợp đã ngay lập tức tiếp quản đường dây thuốc phiện này. Chiến phí của 9 năm chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của Pháp được trang trải từ nguồn thu thuốc phiện trên.


Bên cạnh vùng Cánh đồng Chum ở Lào và vùng Tam giác Vàng (lúc này quy mô vẫn còn yếu) thì khu xứ Thái là nơi có sản lượng hoa anh túc rất cao, đem lại nguồn lợi lớn cho quân đội Pháp. Do đó, có thể hiểu được khi Pháp quyết định đặt tập đoàn cứ điểm ngay tại Điện Biên Phủ, thung lũng lớn nhất của Liên bang Thái tự trị, nơi chiếm 13% sản lượng hoa anh túc và 30% sản lượng lúa của toàn liên bang. Bên cạnh đó, Điện Biên Phủ có thể xem như một tấm khiên để bảo vệ đồng minh Đèo Văn Long.


Tuy nhiên, sai lầm chính của Pháp dẫn đến thất bại chung cuộc tại Điện Biên Phủ là họ đã không nắm rõ tình hình ở đây. Đèo Văn Long và nhóm Thái trắng tuy nắm quyền nhưng chỉ chiếm thiểu số trong khu liên bang, bên cạnh nhóm Thái đen đông hơn, và 50 ngàn người Mèo. Những người Mèo, sắc dân được biết đến rộng rãi hơn ngày nay như người H’Mong, sống ở triền núi, có lối canh tác thích hợp cho việc trồng hoa anh túc ở vùng Tây Bắc. Chính những người Mèo trồng hoa anh túc và cung cấp phần lớn sản lượng của khu Xứ Thái. Đèo Văn Long từ khi được giao quyền quản lý Liên bang Thái tự trị đã dùng quân đội địa phương người Thái đàn áp và ép giá hoa anh túc từ người Mèo. Người Mèo ở vùng Tây Bắc nhận giá thấp hơn mười lần so với giá thị trường, mà không có lựa chọn khác. Do đó, trong hơn mười năm sống dưới sự quản lý của Đèo Văn Long, người Mèo đã quá bất mãn và dần bỏ sang cảm tình Việt Minh.” (Hết trích)


Mình nghe kể thủ tướng Pierre Mendes France kêu nếu hoà đàm không thành công sẽ đem bom nguyên tử. Cuối cùng thì hiệp định Geneva được ký kết và các cường quốc chia đôi Việt Nam thành hai phần khiến Việt mINh điên tiết và chuẩn bị đánh tiếp với lính mỹ.


Vấn đề là đánh cho mỹ cút nguỵ nhào cho cố rồi kêu gọi người Mỹ trở lại Việt Nam đầu tư này nọ. Như một cựu sĩ quan bộ đội ở Hạ Long kể với mình là ông ta vào nam đánh cho mỹ cút nguỵ nhào rồi bây giờ mỹ hay nguỵ nó vào ăn, phải phục vụ chúng nếu thì không được tiền boa. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn