Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Trí tuệ nhân tạo và cuộc sống tương lai

 Hoa Kỳ giúp kẻ thù kiến thiết sau đệ nhị thế chiến


Hồi năm 11B, học lịch sử Hoa Kỳ thì thấy sau thế chiến thư 2 có chương trình Marshall để giúp tái thiết kẻ thù cũ như Đức quốc và Nhật Bản nên ngạc nhiên. Thường khi người đánh bại kẻ thù trong chiến tranh thì họ tàn sát hết, bắt làm nô lệ, lấy vợ con kẻ thù làm thê thiếp, cướp đất tài sản. Lại nghe nói đến ông ngoại trưởng mỹ, từng tham chiến đột phá tư duy ra chương trình này khiến thiên hạ gọi tên cúng cơm của ông để đặt tên cho chương trình này “Chương trình Marshall”.

Bản đồ cho thấy Hà Nội đang cho xây dựng các căn cứ quân sự tại vùng Spratlys, Trường Sa. 


Sau này, họ tiếp tục chính sách này bằng cách giúp đỡ Trung Cộng nhưng ai ngờ khi mấy anh ba tàu mạnh lên thì quay lại tìm cách hạ anh mỹ thay vì cảm ơn như người Nhật và người đức khiến nay phải đối đầu khá nghiêm trọng. Có khả năng trong tương lai sẽ có chiến tranh tại á châu. Điển hình Nhật Bản nay đã bắt đầu thành lập quân đội, tranh bị vũ khí. Nếu xem bản đồ sẽ thấy Trung Cộng bị bao vây bởi các đảo mà có sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ như Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn và Phi Luật Tân. Sáng nay đọc một bài về Hà Nội cho xây dựng mấy căn cứ quân sự trên biển đông.


Sau thế chiến thứ 2, ai cũng nghe đến hai quả bom nguyên tử được thả tại xứ Phù Tang nên chả thằng nào dám lôi thôi. Nếu Hoa Kỳ muốn chiếm các nước làm thuộc địa thì chả thằng nào cản ngăn. Có lẻ Hoa Kỳ hiểu vấn đề là chiếm một thuộc địa, cầm giữ rất khó như Anh quốc và Pháp quốc vì hao tốn lực lượng tiền bạc nên không muốn dính dáng đến sự việc. Cũng có thể chủ nghĩa tư bản gây ảnh hưởng không nên tạo dựng kẻ thù cho mình. Cứ làm ăn với kẻ đối đầu với ta như bán lúa gạo cho Liên Xô tỏng thời gian chiến tranh lạnh. Cho nên mình ngạc nhiên sau 9/11 thì Hoa Kỳ đem quân đi đánh Iraq, Á Phũ Hán,.. rốt cuộc ôm đầu máu, bỏ của chạy lấy người.


Hoa Kỳ thực sự đã giúp xây dựng lại các quốc gia mà họ vừa đánh bại. Họ giúp xây dựng lại Tây Âu, giúp xây dựng lại Nhật Bản. Đây là hành vi rất khác thường, gần như chưa từng có tiền lệ của một đế chế. Kế hoạch Marshall không phải là viện trợ nước ngoài mà là hành động kiềm chế triệt để nhất về như có bác Sam trong ngày vui đại thắng mà bất kỳ siêu cường nào từng thực hiện. Nhớ thế chiến thứ 1 chấm dứt, người đức phải nai lưng ra trả nợ chiến tranh khiến lạm phát và lòng căm thù các nước đã đánh bại họ nên khi một tên lên tiếng, biến căm thù thành một hành động cách mạng, cả đám dân của xứ ăn khoai tây nổi dậy đi đánh chiếm các nước âu châu, chiếm đất của cải, kho báu của xứ sở tại.


Nước Mỹ biến kẻ thù thành đồng minh, biến đống đổ nát thành nền kinh tế và biến sự đầu hàng thành quan hệ đối tác về kinh tế và kinh tế. Tây Đức từ tro tàn trở thành động lực kinh tế của châu Âu chỉ trong một thế hệ. Nhật Bản từ sự đầu hàng vô điều kiện trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Vài năm sau chiến tranh, Mỹ đã cho máy bay chở thức ăn vào Tây Bá Linh, một thành phố nằm ngay trung tâm của quốc gia vừa cố gắng hủy diệt họ. Đó không phải là chính sách huỷ diệt kẻ thù và giúp đỡ kẻ thù vực dậy cùng đồng hành về tương lai. Tổng thống JF Kennedy đứng trước công chúng người đức, tuyên bố :” Ich bin ein Berliner”.


Sau năm 1975, người Mỹ qua chính phủ Jimmy Carter muốn cộng tác với Hà Nội để xây dựng, tái thiết lại Việt Nam nhưng có lẻ Hà Nội đang say men chiến thắng nên phải đợi đến 20 năm sau mới năn nỉ qua các nổ lực của ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, mới được Hoa Kỳ bang giao lại, lỡ một cơ hội bằng vàng để tái thiết xứ xở sau 20 năm chiến tranh.


Đó là một nền văn minh quyết định mình là gì vào đúng khoảnh khắc họ có quyền lực để trở thành bất cứ một siêu cường. Khi mình đi học ở Paris thì người Pháp cũng như đa số người âu châu, những nơi mình từng viếng như Tây Đức, Áo, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi, Hy Lạp,… thời sinh viên giang hồ bằng cách quá giang xe. Dân âu châu đều cho rằng Mỹ là kẻ phản diện của lịch sử. Vào đại học cũng nghe,… đến nổi có lần đi chơi với cô bạn người Mỹ, mình phải dặn cô ta tự xưng là người Tô Cách Lan vì tóc cô ta màu đỏ, đừng nói đến người Mỹ là dân tình chửi nát nước. Khi mình nói là người Việt thì họ reo mừng vì Hà Nội đã đánh đuổi được quân đội mỹ. Người Tây Ban Nha gọi người Việt là Dynamitas thay vì Vietnamitas.


Luôn luôn người Pháp, ý, Hy Lạp ,… đều kêu Mỹ đã làm những điều xấu như cuốn sách “Ugly American” mà bộ ngoại giao mỹ dưới thời tổng thống JFK đều bắt các công chức sắp nhận nhiệm sở tại hải ngoại phải đọc. Tất nhiên chính phủ Mỹ đã làm những điều xấu, có thể nói rất nhiều điều xấu như đối với Việt Nam Cộng Hoà, và các nước vùng Nam Mỹ nhưng người ta cần nhìn vào toàn bộ các chương trình đối ngoại của Hoa Kỳ. Mọi quốc gia trên Trái Đất đều có những chương đen tối như Anh quốc với Ấn Độ, Pháp với Algerie và Đông-Dương, Hoà-Lan với Nam Dương,… hay Tây Ban Nha với các nước ở Trung Mỹ.


Sự khác biệt nằm ở việc một quốc gia làm gì khi không ai có thể ngăn cản họ, điển hình như biệt kích mỹ nhảy vào Venezuela bắt sống hai vợ chồng tổng thống xứ này rồi bay ra. Khi không ai có thể ngăn cản Mỹ, họ đã cho kẻ thù ăn và xây dựng lại thành phố, đất nước của họ. 


Chúng ta đang sống và đang tiến gần đến một khoảnh khắc, thời điểm giống hệt năm 1945 theo những tình huống mà chưa ai thấu hiểu triệt để và tiên đoán tương lai sẽ đi về đâu. Chiến tranh ở Ukraina và ở Trung Đông và tương lai có thể xảy ra tại Á Châu khi chúng ta thấy Nga tuyên bố về các đảo Sakharins mà họ chiếm của Nhật Bản và Nhật Bản đang gây gắt trang bị hoá quân sự của họ rồi kêu Trung Cộng đụng đến Đài Loan là đụng đến quyền lợi của Nhật Bản. Nên nhớ trước 1945, đào Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản. Mình có quen một ông giáo sư địa học gốc Đài Loan, ông ta cho biết từ bé là học tiếng nhật, xem đài truyền hình Nhật Bản. Ông ta không xem đài truyền hình Đài Loan nói tiếng quan thoại của người Tàu áp đặt lên Đài Loan khi Mao Trạch Đông đánh Tưởng Giới Thạch chạy đến chiếm đảo này.


Trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ trao cho một nhóm nhỏ người lợi thế quyền lực lớn đến mức khiến độc quyền bom hạt nhân trông thật nhỏ bé. Chúng ta thấy mấy ông tỷ phú bỏ tiền ra thật nhiều để mong dành thắng lợi trong cuộc chiến này trong khi đó Trung Cộng với sự lãnh đạo của đảng Trung Cộng đã đi trước khá nhiều so với tây phương.


30 năm qua, Hoa Kỳ lấy tiền đi bỏ bom chiếm đóng các xứ thì Trung Cộng trong im lặng đã xây dựng xứ họ một cách ngoạn mục, khiến nhiều người Mỹ đi du lịch xứ này về phải ngạc nhiên. Chắc mình sẽ đi lại Trung Cộng một chuyến nữa vì có ghé thăm xứ này năm 2009, một năm sau thế vận hội. Tương tự khi mình viếng Hiroshima, nơi bị một quả bom nguyên tử, hình ảnh tan thương sau trái bom so với thành phố Detroit, phồn vinh, nơi tạo ra giấc mơ Hoa Kỳ của các nhân công trên thế giới. Nay thành phố này được tái thiết lại rất đẹp trong khi thành phố Detroit thì Chán Mớ Đời.


Nếu ai đó sẽ nắm giữ loại quyền lực có thể chiếm đóng, quyết định số phận cảu thế giới, chúng ta muốn nó thuộc về ai? Quốc gia đã chinh phục khi họ có thể sát hại, tàn sát kẻ thua cuộc? Hay quốc gia đã xây dựng lại khi họ không cần phải làm vậy như Hoa Kỳ sau đệ nhị thế chiến. Mọi liên minh, mọi tuyến thương mại, mọi nền kinh tế. Hàng tỷ người thoát khỏi đói nghèo như chủ nghĩa tư bản. Nếu Trung Cộng không theo chủ nghĩa tư bản để xây dựng lại đất nước họ bị các cuộc cách mạng văn hoá long trời lỡ đất thì người Tàu vẫn tiếp tục đói như khi Mao sến sáng còn sống. Hay nếu Hoa Kỳ không bỏ lệnh cấm vận, đầu tư vào Việt Nam thì chắc ngày nay, người Việt bỏ nước ra đi hết như sau 75. Tất cả đều bắt nguồn từ một hành động kiềm chế chưa từng xảy ra trước đó và không có gì chắc chắn nó sẽ lặp lại. Điều quan trọng mà nước Mỹ từng làm không phải là chế tạo bom nguyên tử mà là những gì họ làm sau thế chiến thứ 2. Đó là chương trình tái thiết Marshall.


Ngày nay, chúng ta cứ nghe truyền thông nói về cuộc đua trí tuệ nhân tạo, sẽ giúp ai đó đi trước sẽ không chế toàn thế giới về kinh tế cũng như quân sự. Hoa Kỳ đang chuyển lực lượng hải quân và quân đội của họ về phiá á châu. Nhật Bản tuyên bố tái thiết bị quân đội. Mình có xem vài phim tài liệu, thấy họ xây hầm hố, chiến đấu nhằm để chống quân đội của Trung Cộng xâm chiếm. Một hòn đảo nhỏ mà Nhật Bản có rất nhiều hòn đảo rãi rác từ Nhật Bản đến Okinawa. Thế chiến thứ 3 chắc sẽ khơi mào tại á châu. Cuộc chiến giữa người tây phương, đúng hơn da trắng và người á châu. Mình đoán người âu châu mong sao cuộc chiến ở á châu bùng nổ để họ có thể theo kịp đà phát triển của trí tuệ nhân tạo.


Hàng ngày trên mạng xã hội không biết bao nhiêu tin tức giả để tuyên truyền có lợi cho các nước từ người Mỹ, người Tàu, người Nga, Ukraina hay âu châu nên không biết đâu mà lần. 


Sau Chiến tranh Thế giới thứ II (1939–1945), châu Âu hoang tàn nằm trong đống đổ nát: hàng chục triệu người chết, cơ sở hạ tầng bị phá hủy nặng nề (đường sá, cầu cống, nhà máy, cảng biển, nông nghiệp). Nạn đói, lạm phát phi mã, thất nghiệp lan rộng. Mình nghe mấy người Pháp lớn tuổi kể lại sau thế chiến thứ 2. Kinh tế Tây Âu gần như tê liệt năm 1946–1947. Liên Xô (Liên bang Xô viết) đang mở rộng ảnh hưởng mạnh mẽ ở Đông Âu, cài đặt các chính quyền cộng sản. Các nước chư hầu mà lộn xộn, là xe tăng chạy vào tự nhiên như người liên xô. Năm 1956 ở Varsovie và năm 1968 với mùa xuân tại Prague.


Mỹ lúc này là siêu cường duy nhất còn lại với nền kinh tế mạnh mẽ và độc quyền vũ khí hạt nhân. Thay vì khai thác lợi thế để thống trị hoặc đòi bồi thường chiến tranh khổng lồ như các đế chế trước đây, Mỹ chọn con đường khác.


Điển hình đế chế Liên Xô, chiếm đất như các đế chế trước đây, chiếm đóng tạo đựng một nền cai trị tập trung ở trung ương, thêm áp lực các chư hầu nhưng rồi cuối cùng bị phá sản năm 1990 như các đế chế trong lịch sử loài người khi họ bành trướng quá lớn ngoài khả năng kiểm soát. Đi viếng vùng Trung-Á mới khám phá ra đế chế liên-sô khi xưa quá rộng lớn dù mình chưa đến tây bá lợi á.


Kế hoạch Marshall được ngoại trưởng George C. Marshall công bố ngày 5 tháng 6 năm 1947 tại Đại học Harvard. Chương trình chính thức mang tên European Recovery Program (ERP), hoạt động từ 1948 đến 1952. Khoảng 13,3 tỷ USD (tương đương khoảng 140–170 tỷ USD theo giá trị hiện nay, tùy cách tính lạm phát). 16 quốc gia Tây Âu (Anh, Pháp, Tây Đức, Ý, Hoà Lan, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Bỉ, Áo, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ…).


Các nước Đông Âu và Liên Xô (Stalin từ chối và cấm các nước chư hầu tham gia, chỉ có Tito có thể đối đầu dù Stalin gửi 5 lần người đến ám sát ông Tito). Chủ yếu là viện trợ không hoàn lại (grants), một phần là vay ưu đãi. Mỹ cung cấp lương thực, nguyên liệu, máy móc, công nghệ và tư vấn quản lý. Mỹ không chỉ đưa tiền mà yêu cầu các nước châu Âu phối hợp lập kế hoạch chung, đây là bước khởi đầu cho tinh thần hợp tác châu Âu sau này. Nếu Stalin đồng ý nhận tiền tái thiết lại Liên Sô, có lẻ chúng ta đã không có những cuộc chiến uỷ nhiệm của hai bên như Triều Tiên, Việt Nam và Angola,…


Chương trình có mục đích ngăn chặn nạn đói, khôi phục sản xuất, ổn định xã hội, ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản với chính sách Containment của tổng thống Truman. Kinh tế yếu kém dễ dẫn đến bất ổn và cách mạng tỏng khi tạo thị trường tiêu thụ hàng hóa Mỹ, thúc đẩy xuất cảng và duy trì việc làm trong nước.


Người ta thấy sản lượng công nghiệp Tây Âu năm 1951 đã vượt mức trước chiến tranh 35–40%. Nông nghiệp phục hồi nhanh, lạm phát được kiểm soát. Tây Đức được xem là Kỳ tích kinh tế Tây Đức ( Wirtschaftswunder) và Nhật Bản trở thành động lực tăng trưởng. Đến năm 1952, hầu hết châu Tây Âu đã tự túc tự cường được nhưng vì chế độ dân chủ nên có đảng cộng sản như ở pháp 25% cử tri pháp thuộc đảng cộng sản trong khi ở Ý Đại Lợi là đến 30% nên cuộc chiến chốgn mỹ luôn luôn tiếp diễn đến nay.


Về mặt chính trị, chương trình đã giúp củng cố các chính quyền dân chủ Tây Âu. Dẫn đến sự ra đời của NATO (1949), liên minh quân sự Mỹ - châu Âu. Tạo nền tảng cho sự hợp tác châu Âu (từ Cộng đồng Than Thép ECSC 1951 → Liên minh châu Âu sau này).


Về mặt xã hội chương trình đã giảm nguy cơ nội chiến, ổn định chính trị, góp phần vào “Thời kỳ Vàng son” (Golden Age) của chủ nghĩa tư bản Tây Âu những năm 1950–1970. Mình có kể về đệ ngũ cộng hoà do tổng thống De Gaulle thành lập đã tái thiết Pháp quốc thành một cường quốc tỏng vòng 20 năm. Nền kinh tế của Tây Âu phát triển mạnh đến nổi họ không có đủ nhân công nên phải qua các thuộc địa cũ ở phi châu để mướn người đem về pháp trong ngành sản xuất. Nếu không có chương trình này thì dân âu châu bỏ xứ ra đi rất nhiều như các thế hệ trước kia, đến Hoa Kỳ, hay các vùng Nam Mỹ. Ngày nay họ lãnh hậu quả về các thế hệ của người di dân từ phi châu qua.


Mình nghĩ nếu các nước giàu mạnh không muốn di dân lậu nữa thì bỏ tiền đầu tư tại các nước nghèo giúp họ có công ăn việc làm, không cần phải bỏ nước ra đi tìm đường cứu nước.


Khi mình ở âu châu thì phải công nhận dân tình ghét người Mỹ nhưng thích bận áo quần mỹ và uống coca cola. Các trí thức thiên tả cho rằng đây là chương trình, công cụ cho chủ nghĩa tân thực dân (neo-colonialism), giúp Mỹ kiểm soát kinh tế châu Âu và mở rộng thị trường. Trên thực tế, hàng của Hoa Kỳ nhập vào bị đánh thuế cao trong khi để giúp Tây Âu phát triển nên hàng của họ được nhập cảng vào Hoa Kỳ gần như không có thuế quan. Một phần viện trợ gắn với điều kiện chính trị (chống cộng) và không giúp được Đông Âu, góp phần củng cố sự chia cắt châu Âu (Bức màn sắt). Họ quên là chính Liên Xô đã gây ra nhưng cứ chửi hoài khiến thiên hạ sẽ tin.


Tuy nhiên, đa số học giả công nhận rằng quy mô và tính nhân văn của kế hoạch Marshall là khác biệt căn bản so với cách các đế chế trước đây trong lịch sử hành xử. Người Mỹ chứng minh rằng sức mạnh không chỉ là bom đạn mà còn là khả năng xây dựng và tạo liên minh. Có lẻ vì lẻ đó họ không bỏ bom hết các hạ tầng cơ sở của Ba tư. Chi phí ban đầu cao nhưng mang lại lợi ích chiến lược khổng lồ (NATO, EU, thị trường tiêu dùng, đồng minh đáng tin cậy trong Chiến tranh Lạnh).


Trong thời đại AI và công nghệ, câu hỏi về “ai nắm quyền lực tuyệt đối” càng quan trọng. Kế hoạch Marshall là minh chứng rằng một nền văn minh có thể chọn xây dựng thay vì chinh phục. Tóm lại, kế hoạch Marshall không chỉ là một chương trình viện trợ, là một tuyên ngôn văn minh. Nó cho thấy nước Mỹ thời kỳ đó đã quyết định sử dụng quyền lực tối thượng của mình theo cách nhân văn và chiến lược nhất trong lịch sử loài người.


Nghe nói ông Đỗ Mười sau 75, tuyên bố sẽ lấy nhà bọn nguỵ quân nguỵ quyền, lấy vợ của chúng,… bỏ tù trên 3 triệu người thuộc chế độ cũ (theo lời tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng trả lời Paris Match) đó là hình ảnh chinh phục của kẻ thắng trận từ xưa đến giờ. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã nảy ra ý tưởng hợp tác, cùng giàu sang phú quý. Để chúng đói thì tiền đâu chúng mua đồ của mình sản suất.


Câu hỏi mình đặt ra ngày nay là chính phủ mỹ đã thay đổi tên của bộ quốc phòng thành Bộ Chiến Tranh. Hoa Kỳ cảm thấy đang chạy đua với cuộc chiến AI, sẽ quyết định số phận của xứ này trong vài chục năm tới. Khi trí tuệ nhân tạo có thể đào tạo huấn luyện những người tin tưởng vào lãnh tụ của mình. Chúng ta thấy rõ ngày nay, các video hay bài báo bựa ra để tìm cách phân chia gia đình, người Mỹ, người Pháp,…


2 năm nữa ông Trump về vườn thì họ sẽ cài đặt thêm một người khác để chúng ta không chú ý vào những điểm thay đổi khác của cuộc sống. Lúc đó sẽ không có chiêu bài Mà Gà mà là Ma Xó hay Ma cà rồng chi đó và bác Newsom sẽ trở thành vị lãnh tụ của đảng Dân Chủ và con người tiếp tục tin vào các xảo ngôn của lãnh tụ của họ, lại tiếp tục chửi bới nhau cho đời vui hơn trước. Chán Mớ Đời 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Cuộc chiến kinh tài trước 75

 Cuộc chiến kinh tài trước 75

Trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua, người ta thường nói về quân sự, chiến thuật với những trận đánh nhưng có lẻ việc quan trọng để thắng một cuộc chiến là kinh tế. Chúng ta thấy ngày nay các cuộc chiến Ukraina hay vùng vịnh Ba tư, các nước cứ ra lệnh cấm vận để thắc chặt nền kinh tế của Nga hay Ba Tư, mong sao họ sẽ kinh tế họ kiệt quệ và đầu hàng.


Vấn đề là các cuộc cấm vận này thường không thành công. Lý do là có chợ đen. Ông thần Putin bán cho anh ba tàu dầu hoả rẻ. Thế là bác Putin cứ tha hồ đánh anh Ukraina. Tương tự Hoa Kỳ cấm vận anh Ba tư thì họ bán dầu rẻ cho anh ba tàu. Huề cả làng.


Tương tự khi người Pháp trở lại Đông-Dương năm 1945 với danh nghĩa tước vũ khí quân đội Nhật Bản thì đảng cộng sản có gây quỹ để chống pháp. Mệ ngoại mình kể là có tuần lễ vàng, khiến thiên hạ nô nức góp tiền bạc. Mệ ngoại tặng 1 sợi dây chuyền. Thời xưa có một sợi dây chuyền, nghèo là Qúy lắm. Pháp quốc sau thế chiến thứ 2 thì đói nên họ sử dụng thuốc phiện do người Thái trắng trồng để bán ở Hà Nội và toàn Việt Nam, nhằm gây quỹ chống lại Việt Minh.


Do đó khi Việt mInh đã làm chủ tình hình vùng Việt bẮc thì quay qua vùng tự trị của người Thái, để đánh phá nhằm cắt đường kinh tài cho người Pháp. Do đó người pháp đã biến thung lũng Điện Biên Phủ thành một căn cứ nhằm đánh tan các sư đoàn của việt minh như họ đã từ làm tại căn cứ Na-San. Điện biên Phủ thất thủ thì người Pháp chả còn tiền để tiếp tục cuộc chiến nên rời Việt Nam.


Trong cuộc chiến Việt Nam trước 75, ngoài các trận đánh, có một cuộc chiến âm thầm bí mật khác mà ít ai nhắc đến, rất quan trọng là cuộc chiến kinh tài. Việt Cộng đưa bộ đội qua ngõ Hạ Lào, Cam Bốt để đánh phá Việt Nam Cộng Hoà. Họ chuyên chở vũ khí từ Trường Sơn, hải cảng Sihanoukville,… cho các bộ chỉ huy của Hà Nội tại Cam Bốt và Hạ lào. Có cuốn hồi ký của ông Lê Văn Châu “Huyền thoại con đường tiền tệ trong kháng chiến chống Mỹ”, kể lại hoạt động bí mật của ngành ngân hàng trong việc bảo đảm tài chánh cho chiến trường miền Nam giai đoạn 1965–1975.  


Nếu đường Trường Sơn vận chuyển người và vũ khí, thì “con đường tiền tệ” vận chuyển tiền và ngoại tệ phục vụ chiến tranh. Hệ thống này do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức bí mật để đưa tiền từ nước ngoài về, sau đó phân phối cho các chiến trường miền Nam.  Mình nghe kể đại đội trinh sát 302 đi thám thính ở Núi Với, bắt được một cái sacoche, chứa đâu 5,000 mỹ kim của Việt Cộng. Các đại đội chia nhau số tiền khiến Việt Cộng căm thù. Sau 75, đi lùng lính 302 ở Đà Lạt.


Theo cuốn hồi ký, nhu cầu tài chính của chiến trường không chỉ là tiền Việt Nam mà còn cần:

  • Đồng đô la Mỹ.
  • Tiền Sài Gòn.
  • Đồng Riel của Campuchia.
  • Đồng Kip của Lào.
  • Đồng Baht của Thái Lan.  

Họ cần tiền để nuôi mấy ông tướng của vua Sihanouk để cho vũ khí được chuyển qua xứ họ. Cũng như phải bôi trơn các quan chức người Lào. Còn tiền Việt Nam Cộng Hoà để mua gạo muối, nước mắm cho bộ đội.


Đà Lạt xưa kia có mấy người ở Đà Lạt có môn bài bán gạo như cô Ba Chỉ, tiệm Bình Lợi ở dưới CHợ Mới, tiệm Sơn Hà ở đường Phan Đình Phùng, dì T ở Chi Lăng,… đó là những đại lý gạo ở Đà Lạt mà mình biết vì khi xưa đi lấy gạo đường từ họ. Mẹ mình kể là có lần cô Ba CHỉ kêu mẹ mình vào tiệm nói là có gạo mới về, ai hỏi thì bán kiếm lời nuôi con. Hình như 7,000 một bao. Độ 1 tiếng đồng hồ sau thì có bà vợ của ông T, làm đài phát thanh Đà Lạt ghé lại kêu muốn mua 100 bao gạo. Mẹ mình bán 8,000 một bao, bà ta không trả. Cứ lâu lâu bà ta đến mua mẹ mình gạo cứ 100 bao. Sau 75 mới khám phá ra bà ta nằm vùng, kinh tài cho Việt Cộng. Nằm trong nhóm của cô Ba Chỉ nên cô cứ kêu mẹ mình bán dùm. Mình đoán lý do là ông cụ mình là công chức nên ít ai để ít đến mẹ mình.


Một mạng lưới đặc biệt mang mật danh B29 được thành lập ở ngoài Việt Nam. Các cán bộ ngân hàng hoạt động dưới nhiều vỏ bọc khác nhau tại các trung tâm tài chính quốc tế như Hồng Kông và Bắc Kinh để tiếp nhận, chuyển đổi và vận chuyển ngoại tệ. Tiền bạc cho Việt kiều yêu nước đóng góp, ngoại quốc viện trợ,… mình có đọc tài liệu là Hà Nội đưa người qua Pháp để chuyển đổi tiền bạc nữa. Đọc bài đô la đỏ.



Khi tiền được đưa về nước: Tiền được chia nhỏ, niêm phong trong các hộp thiếc chống cháy. Vận chuyển bí mật qua nhiều tuyến đường và phân phát tới các đơn vị hoạt động ở miền Nam và các cơ sở nằm vùng ở Sài Gòn.  Như bà mua gạo của mẹ mình.


Hoạt động này cực kỳ nguy hiểm: khối lượng tiền có thể lên tới hàng triệu USD. Nguy cơ bị phát hiện, tịch thu hoặc cướp đoạt rất lớn. Tất cả đều được giữ bí mật tuyệt đối trong nhiều năm. Hàng trăm cán bộ ngân hàng đã tham gia nhiệm vụ đặc biệt này nhưng rất ít người được biết đến công khai.  


Ngoài ra, Hà Nội còn đưa vàng vào Nam để đổi tiền và mua thực phẩm. Hai đơn vị nổi tiếng nhất của con đường tiền tệ là: Quỹ ngoại tệ đặc biệt B29 và Ban Tài chính đặc biệt N.2683


Cuốn sách không chỉ kể về nghiệp vụ ngân hàng mà còn cho thấy vai trò của tài chính trong chiến tranh. Những chiến dịch bí mật ít được biết đến. Các cán bộ ngân hàng hoạt động như những chiến sĩ tình báo kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu xem “con đường tiền tệ” là một kỳ tích hậu cần tài chính, tương tự như vai trò của tuyến đường Hồ Chí Minh đối với vận tải quân sự.  


Ông Lê Văn Châu là một trong những nhân chứng quan trọng nhất của “con đường tiền tệ” trong cuộc chiến đánh chiếm miền Nam. Điều đặc biệt là ông không phải một cán bộ hậu cần thông thường mà hoạt động như một sĩ quan tài chính - tình báo trong mạng lưới B29.  Vào cuối thập niên 1960, ông là thành viên nòng cốt của B29 – quỹ ngoại tệ đặc biệt chuyên tiếp nhận và chuyển các nguồn ngoại tệ viện trợ vào chiến trường miền Nam.  


Năm 1967, Lê Văn Châu được cử sang Bắc Kinh dưới vỏ bọc Tùy viên Kinh tế của Bộ Ngoại thương Việt Nam. Công việc công khai là ngoại giao kinh tế, nhưng nhiệm vụ thực sự là điều phối dòng tiền viện trợ quốc tế. Theo các tài liệu hồi ký và lời kể của ông, Bắc Kinh trở thành một nút trung chuyển cực kỳ quan trọng: Tiền từ Hồng Kông được chuyển đến. Tiền viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa được tập kết. Sau đó tiền được đưa về Hà Nội hoặc chuyển tiếp theo các tuyến bí mật vào miền Nam.  


Trong mạng lưới này, ông mang mật danh “Anh Bảo”. Một số tài liệu gọi ông là “trung tâm của ba trung tâm”, vì ông là đầu mối kết nối: B29 tại Hà Nội. Đầu mối tài chính tại Hồng Kông. Ngân hàng Trung Quốc tại Quảng Châu.  


Điều đáng chú ý là những đầu mối này thường không biết danh tính của nhau. Họ chỉ liên lạc bằng mật mã và hệ thống cơ yếu ngoại giao.  


Nhân vật được xem là kiến trúc sư của hệ thống B29 là Mai Hữu ÍchÔng là người trực tiếp phụ trách B29 ngay từ khi thành lập năm 1965. Dưới quyền ông chỉ có khoảng hơn mười cán bộ nhưng quản lý lượng ngoại tệ rất lớn phục vụ chiến trường. Các thành viên được tuyển chọn rất kỹ: Thành thạo ngoại ngữ, có nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, khả năng hoạt động bí mật và chấp nhận làm việc theo nguyên tắc đơn tuyến như tình báo.  


Theo chính lời kể của Lê Văn Châu, B29 hoạt động giống một cơ quan tình báo hơn là một ngân hàng: Mỗi người chỉ biết phần việc của mình. Nhiều mệnh lệnh chỉ truyền miệng. Không có hồ sơ công khai. Các cán bộ hoạt động dưới nhiều vỏ bọc khác nhau ở ngoại quốc. Toàn bộ hệ thống báo cáo theo đường đơn tuyến lên lãnh đạo cấp cao vì vậy gọi B29 là “tổ chức tình báo kinh tế đầu tiên của Việt Nam”.  


Theo các tài liệu được công bố sau chiến tranh, trong khoảng 10 năm hoạt động, B29 và N2683 đã huy động và vận chuyển hàng trăm triệu USD cùng nhiều loại tiền tệ khác cho chiến trường miền Nam. Phần lớn các khoản tiền đều đến nơi an toàn dù phải đi qua những tuyến đường cực kỳ nguy hiểm. Điều khiến nhiều người ngạc nhiên là toàn bộ chiến dịch này được giữ bí mật trong nhiều thập niên. Chỉ đến khi các nhân chứng như Lê Văn Châu bắt đầu viết hồi ký, công chúng mới biết rõ hơn về những “người lính ngân hàng” đã vận hành một hệ thống tài chính bí mật xuyên quốc gia giữa thời chiến.  


Hồng Kông là mắt xích quan trọng nhất và cũng táo bạo nhất của toàn bộ mạng lưới B29. Nếu Hà Nội là nơi chỉ huy, Bắc Kinh là nơi điều phối, thì Hồng Kông chính là “sàn giao dịch ngoại tệ bí mật” của con đường tiền tệ.  


Trong những năm 1960–1970, Hong Kong là thuộc địa của Anh và là một trong những trung tâm tài chính tự do lớn nhất châu Á. Mình có quen một cặp vợ chồng, khi xưa là đại gia tại Việt Nam, sau 75 họ có kể cho mình là có mua nhà ở Tây Ban Nha, căn hộ tại Hương Cảng, nay thấy lớn tuổi nên tính bán. Tại Hương Cảng Đồng USD được lưu thông rộng rãi. Các ngân hàng quốc tế hoạt động mạnh. Việc mua bán ngoại tệ dễ dàng hơn nhiều so với các nước xã hội chủ nghĩa. Có mạng lưới của Bank of China hỗ trợ các giao dịch tài chính của Trung Cộng. Chính vì vậy, B29 chọn Hồng Kông làm nơi chuyển đổi các khoản viện trợ quốc tế thành loại tiền cần thiết cho chiến trường.


Theo các cán bộ B29 kể lại, hệ thống làm việc gồm nhiều bước:

  1. Tiền viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác được tập trung về Quỹ B29 tại Hà Nội.
  2. Tiền được gửi vào hệ thống tài khoản của Ngân hàng Ngoại thương.
  3. Từ đó chuyển sang các ngân hàng ở Hồng Kông.
  4. Tại Hồng Kông, các loại tiền như franc Pháp, bảng Anh, đô la Hồng Kông được đổi sang USD hoặc các đồng tiền phù hợp với từng chiến trường.
  5. Sau đó mới tiếp tục được đưa về Hà Nội hoặc chuyển tới các đầu mối bí mật khác.  


Nghe có vẻ giống một nghiệp vụ ngân hàng bình thường, nhưng điều đặc biệt là tất cả đều diễn ra dưới sự giám sát của các cơ quan tình báo và trong điều kiện chiến tranh. Một trong những chi tiết thú vị nhất được công bố gần đây là hệ thống được vận hành bởi ba trung tâm đặc trách cùng mang bí danh “Anh Bảo”:

  • BOC Hồng Kông.
  • BOC Quảng Châu.
  • B29 Hà Nội.

Các đầu mối này gần như không liên hệ trực tiếp với nhau. Họ sử dụng mật mã và hệ thống cơ yếu để trao đổi thông tin. Người điều phối ở giữa là ông Lê Văn Châu tại Bắc Kinh. Ông Lê Văn Châu từng được các đồng đội gọi là “trung tâm của ba trung tâm”, vì mọi luồng thông tin về tiền tệ cuối cùng đều phải qua ông để điều phối. Một phần tiền được chuyển bằng nghiệp vụ ngân hàng (FM), nhưng có thời kỳ phải vận chuyển tiền mặt trực tiếp (AM).


Các cán bộ chuyển ngân mang sổ thông hành ngoại giao, di chuyển bằng máy bay quốc tế hoặc tàu hỏa liên vận. Mang theo va-li chứa lượng tiền rất lớn. Hành trình được giữ bí mật tuyệt đối. Theo lời kể của các cựu cán bộ B29, có những chuyến mang theo số tiền trị giá hàng triệu USD nhưng người vận chuyển gần như đi một mình, không có lực lượng bảo vệ công khai.  


Theo các tài liệu được giải mật và hồi ức của những người tham gia, nhiều cán bộ B29 làm việc ở Hồng Kông nhiều năm nhưng không biết đầy đủ nhiệm vụ của những người cùng mạng lưới. Họ chỉ nhận các chỉ thị rất ngắn gọn, thực hiện giao dịch được giao rồi chuyển kết quả cho đầu mối tiếp theo. Mô hình này giống hệt nguyên tắc “cell system” của các tổ chức tình báo chuyên nghiệp.  


Vì vậy, khi nghiên cứu về B29, nhiều sử gia cho rằng điều đáng kinh ngạc nhất không phải là số tiền đã được chuyển, mà là việc một nhóm chỉ khoảng 14 cán bộ đã vận hành thành công một mạng lưới tài chính xuyên quốc gia giữa lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt, kéo dài suốt gần một thập niên mà vẫn giữ được bí mật.  


Điều đặc biệt của B29 và N2683 là họ không chỉ đưa tiền từ miền Bắc vào miền Nam, mà còn tìm ra cách lấy được tiền ngay trong hệ thống tài chính của chính quyền Sài Gòn mà không phải vận chuyển qua Trường Sơn. Đây chính là phương thức nổi tiếng mang mật danh FM (chuyển khoản), được nhiều nhà nghiên cứu xem là một sáng tạo tài chính-tình báo rất độc đáo.  


Từ 1965 đến khoảng đầu thập niên 1970, phương thức chủ yếu là AM. Đưa tiền trực tiếp. B29 thu gom ngoại tệ, chủ yếu là USD, rồi: Đóng trong hòm kẽm chống cháy. Ngụy trang trong thùng gỗ. Giao cho các đơn vị vận tải quân sự. Chuyển theo đường Trường Sơn, đường biển hoặc các tuyến bí mật khác vào Nam.  


Nhược điểm của hệ thống này rất lớn:

  • Đi hàng tuần hoặc hàng tháng.
  • Dễ bị bom đạn phá hủy. Như tường hợp đại đội trinh sát 302 đi thám thính bắt được một sacoche có đến 5000 mỹ kim.
  • Tốn chi phí đổi tiền.
  • Khó đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của chiến trường.  

Các cán bộ N2683 nhận ra một điều: tại sao phải chở USD từ Hà Nội vào Sài Gòn, trong khi tiền Sài Gòn đã có sẵn trong các ngân hàng ở Sài Gòn? Từ đó họ xây dựng mạng lưới gồm:

  • Các thương gia yêu nước.
  • Chủ doanh nghiệp lớn. Như ông người Tàu chú của Vương Vũ ở Sàigòn. Mấy ngừoi này có tiền là họ làm chớ chả yêu bác Hồ hay bác Mao gì cả.
  • Một số đầu mối tài chính bí mật trong nội đô.

Những người này có:

  • Tài khoản ngân hàng ở Sài Gòn.
  • Tài khoản ngoại tệ ở Hồng Kông hoặc nước ngoài.
  • Khả năng rút lượng lớn tiền mặt mà không gây chú ý. 

Cách chuyển tiền qua ngân hàng tuần tự theo 4 bước:

Bước 1: Thương gia rút tiền tại Sài Gòn

Một doanh nhân hợp tác với N2683 đến ngân hàng ở Sài Gòn.

Ông ta rút một khoản lớn tiền mặt với lý do:

  • Mua hàng.
  • Trả lương.
  • Đầu tư kinh doanh.

Đối với ngân hàng Sài Gòn, đây là giao dịch hoàn toàn bình thường.  Mình đoán là ông thần này bán xuất cảng cái gì đó giá gấp 10 lần cho Việt Cộng rồi họ chuyển tiền qua ngân hàng. Khi tiền về thì họ rút tiền mặt đẻ giao cho N2383. Tiền sau đó được cất giữ tại các kho bí mật, phân phối cho lực lượng hoạt động nằm vùng, và chuyển tới các căn cứ của bộ đội tại miền Nam như Núi Với gần Đà Lạt.

Bước 3: N2683 gửi điện mật ra Hà Nội

Sau khi nhận đủ tiền, N2683 báo bằng điện mật:

“Đã nhận đủ.”

Đây là tín hiệu để kích hoạt khâu thanh toán quốc tế.  

Bước 4: B29 trả tiền ở nước ngoài

B29 không trả tiền tại Việt Nam. Thay vào đó:

  • Chuyển USD vào tài khoản nước ngoài của thương gia.
  • Thường thông qua các đầu mối tại Hồng Kông.
  • Hoặc các ngân hàng quốc tế khác.

Kết quả là:

Tại Sài Gòn

Tại Hồng Kông/Nước ngoài

N2683 nhận tiền mặt

Thương gia nhận USD

Không có giao dịch đáng ngờ

Thanh toán hợp pháp qua ngân hàng

Đây thực chất là một dạng thanh toán bù trừ xuyên biên giới bí mật. Bởi vì không có dòng tiền nào chảy trực tiếp từ Hà Nội vào Sài Gòn.

Những gì hệ thống ngân hàng nhìn thấy chỉ là:

  • Một doanh nhân rút tiền cho hoạt động kinh doanh.
  • Một tài khoản ở nước ngoài được ghi có USD.

Hai giao dịch này diễn ra ở hai nơi khác nhau và không dễ liên hệ với nhau. 

 

Theo lời kể của các cựu cán bộ N2683, nhiều giao dịch FM chỉ mất vài giờ hoặc vài ngày, trong khi vận chuyển AM có thể mất hàng tháng. Sau này thời gian chi viện được rút ngắn đáng kể, có tài liệu cho biết từ khoảng 30 ngày xuống còn vài ngày, thậm chí nhanh hơn khi hệ thống đã vận hành thuần thục.  


Một nhân vật ít được nhắc tới là đầu mối mang mật danh C130 của N2683 tại Sài Gòn.

C130 là trung gian:

  • Tiếp xúc với giới thương gia
  • Nhận tiền mặt.
  • Tổ chức giao nhận bí mật.
  • Báo xác nhận để B29 thanh toán ở nước ngoài. Họ chuyển ngân ra hải ngoại bằng kiểu này, tương tự như ngày nay, sinh viên du học, gia đình đưa tiền ở ở Việt Nam rồi ở ngoại quốc họ đưa lại.

Trong nhiều tài liệu hồi ký, C130 được mô tả như “ngân hàng ngầm” của cách mạng ngay giữa trung tâm tài chính Sài Gòn. Theo các tổng kết được công bố sau chiến tranh, FM đã chuyển được hơn 161 triệu USD giá trị tương đương cho chiến trường miền Nam, bên cạnh hơn 315 triệu USD đi bằng phương thức AM. Điều khiến các nhà nghiên cứu tài chính quan tâm là FM không chỉ là một tuyến hậu cần tiền tệ. Nó kết hợp:

  • Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
  • Hối đoái ngoại tệ.
  • Mạng lưới thương gia.
  • Liên lạc mật mã.
  • Nguyên tắc tổ chức kiểu tình báo.  

Vì vậy nhiều người xem FM của B29–N2683 là một trong những chiến dịch tài chính bí mật quy mô lớn và độc đáo nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ngày nay dân Việt Nam chuyển tiền ra hải ngoại còn tinh vi hơn nữa. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen