Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Lili Marleen, âm nhạc không biên giới

 Lili Marleen, bài hát lịch sử

Hôm nay bổng nhiên nhớ vụ đi du lịch Đan Mạch khi nghỉ mùa xuân khi còn đi học ở Paris. Tình cờ mình quen 2 cô người Đức tên Klaudia và Ute, dạy hát bài “Lili Marleen”, một bài hát khởi đầu ở Đức quốc trong thời chiến tranh rồi lan đến Phi châu khiến quân sĩ của hai bên chiến tuyến đều yêu mến bài hát này và ngưng chiến không chính thức khi đài phát thanh cho phát thanh bài hát này. Mình chưa bao giờ đi lính nhưng xa gia đình nên dạo ấy nghe đến bài này nhớ nhà kinh khủng.

Marlene Dietrich người đức nhưng lại hát cho lính đồng mình trong thời chiến tranh

Theo kể là vào năm 1915, một bính sĩ Đức quốc tên Hans Leip, viết vài câu thơ khi đang đứng gác ở Bá Linh trước khi được chuyển ra mặt trận phía Nga trong thế chiến 1. Tương tự nhà văn Erick Maria Remarque viết trong Im Westen nichts Neues, Ông ta đặt tên tựa bằng cách ghép tên hai người con gái mà ông ta quen biết Lili và Marleen. Nói về nổi buồn của người lính trẻ gác đêm, nhớ về quê nhà, nhớ hai người con gái ở làng quê.

Nhà thơ Hans Leip, tác giả bài thơ được phổ nhạc 

Năm 1937, ông ta in nguyên bài thơ trong tập thơ của ông ta Die kleine Hafenorgel (“The Little Harbour Organ”) với tựa tên “Das Lied eines jungen Soldaten auf der Wacht” (“The Song of a Young Soldier on Watch”). 

Nhạc sĩ đã đưa bài thơ bất tử

Năm 1938, một nhạc sĩ tên Norbert Schultze phổ nhạc và bài hát nổi tiếng đượm chất buồn của người lính chiến. Thật ra có một bài khác được phổ nhạc trước ông ta nhưng bài này nổi nhất. Năm 1939 một ca sĩ tên Lale Andersen thâu đĩa nhạc dưới tựa “Das Mädchen unter der Laterne”  cô gái dưới bóng đèn nhưng không được thành công lắm. Xin nghe bài do Lili Marlene hát.


https://youtu.be/7heXZPl2hik?si=6Lpu2X_7GZkYRcNS


Trong thời kỳ chiến tranh bài hát này được phát thanh trên đài radio Belgrade vùng quân đức chiếm từ 1941. Bài này bổng nhiên được binh sĩ yêu cầu mỗi ngày ở phi châu rồi từ từ chạy qua bên kia chiến tuyến khiến các bính sĩ của Hoa Kỳ và Anh quốc yêu thích và chuyển ngữ qua anh ngữ mà ca sĩ Marlene Dietrich trình bày được yêu thích nhất.


Mình gặp cô Klaudia ở Copenhague, đi chơi với cô bạn rồi mình kêu Lili Marleen, hỏi cô tao có biết bài hát này vì cô ta giống Marlene Dietrich khiến cô ta cười, kêu không ngờ có tên a-na-mít biết đến bà hát này. Khi chào hai cô đức mình kêu Wie Einstein, Klaudia Ute. Có liên lạc thư từ nhưng rồi đi Hoa Kỳ nên mình mất tin tức luôn. Xin chép lại bài hát mà cô Klaudia đã ghi trong cuốn tập vẽ của mình:


Vor der Kaserne, vor dem großen Tor

Stand eine Laterne und steht sie noch davor.

So woll’n wir uns da wiederseh’n,

Bei der Laterne woll’n wir steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Unsre beiden Schatten sah’n wie einer aus;

Daß wir so lieb uns hatten, das sah man gleich daraus.

Und alle Leute soll’n es seh’n,

Wenn wir bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Schon rief der Posten: Sie blasen Zapfenstreich;

Es kann drei Tage kosten! – Kamerad, ich komm ja gleich.

Da sagten wir auf Wiederseh’n.

Wie gerne wollt’ ich mit dir geh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen.


Deine Schritte kennt sie, deinen schönen Gang.

Alle Abend brennt sie, doch mich vergaß sie lang.

Und sollte mir ein Leid gescheh’n,

Wer wird bei der Laterne steh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen?


Aus dem stillen Raume, aus der Erde Grund

Hebt mich wie im Traume dein verliebter Mund.

Wenn sich die späten Nebel dreh’n,

Werd’ ich bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Những lời ca này đã lột tả nỗi nhớ thương của người lính, khoảnh khắc chia ly dưới ánh đèn của toà canh gác, nỗi sợ hãi trước cái chết, cùng niềm hy vọng đoàn tụ với gia đình, người yêu tựa như một giấc mơ. Khổ thơ cuối cùng mang một vẻ ám ảnh, gần như ma mị, đã gây được tiếng vang sâu sắc trong suốt những năm tháng chiến tranh.


Mò mò thì thấy có bản nhạc này bằng anh ngữ như sau:


Outside the barracks, by the big gate,

There stood a lantern, and there it stands still to this day.

So we’ll meet again there,

We’ll stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


Our two shadows looked like one;

That we loved each other so much, anyone could see at a glance.

And everyone shall see it,

When we stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


The sentry already called: They’re sounding retreat;

It could cost me three days! – Comrade, I’m coming right away.

Then we said goodbye.

How I wished I could go with you,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen.


She knows your footsteps, your lovely walk.

Every evening she burns, but she has long forgotten me.

And if something should happen to me,

Who will stand beneath the lantern,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen?


From the quiet place, from the depths of the earth,

Your loving lips lift me as if in a dream.

When the late mists swirl,

I will stand beneath the lantern,

As I did before, Lili Marleen,

As I did before, Lili Marleen.


Phe quân đội Đức: Ca khúc này đã lột tả một cách hoàn hảo nỗi nhớ quê hương, sự chia ly với những người thân yêu, cùng nỗi u sầu của chiến tranh. Những người lính chiến đấu trên sa mạc, tại Mặt trận phía Đông và khắp các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng tại châu Âu đều vô cùng yêu mến bài hát này.


Phe quân đội Đồng minh: Lính Anh, lính Mỹ cùng các lực lượng Đồng minh khác tại Bắc Phi (và sau đó là tại châu Âu) thường xuyên dò đài Radio Belgrade chỉ để được nghe ca khúc này. Họ yêu thích bài hát bất chấp (hay chính vì) phần lời bằng tiếng Đức nên không hiểu nhưng thích. Nhiều người đã mô tả nó là một tác phẩm vô cùng lay động lòng người và gợi lên nỗi hoài niệm sâu sắc.


Nghe kể những cuộc "ngừng bắn" không chính thức thường diễn ra trên chiến trường sa mạc bắc Phi châu, mỗi khi bài hát vang lên, những người lính thuộc cả hai phe đều tạm ngưng giao chiến để cùng lắng nghe.


Sức thu hút mang tính phổ quát của ca khúc này nằm ở phần ca từ giản dị, giàu cảm xúc cùng giai điệu da diết, chạm đến những trải nghiệm chung của nhân loại về nỗi nhớ thương và sự chia ly, bất kể quốc tịch. Có lẻ qua đài phát thanh nên sau này các cuộc chiến tranh họ đều sử dụng đào phát thanh để tuyên truyền như khi xưa ở Việt Nam. Mình đọc đâu đó, nhạc sĩ Tô Hải nghe đài Sàigòn và ngạc nhiên khi nghe nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và Phạm Duy,… ông ta không ngờ nhạc sĩ Miền Nam có thể làm nữa già hát hay như vậy.


Dạo mình xem cuốn phim cũ của Dietrich Marlene, nghe cô ta hát với vẽ điệu nghiện thuốc lào nên mê dù dạo ấy chưa rành hiểu đức ngữ. Khi mình qua Thuỵ Sĩ làm việc thì cô Klaudia có ghé thăm vì gần biên giới Tây đức.


Joseph Goebbels cùng giới lãnh đạo Quốc xã tỏ ra không ưa ca khúc này vì cho rằng nó mang âm hưởng "u ám," "bi lụy" và thiếu đi chất quân sự cần thiết. Họ đã tạm thời cấm phát sóng bài hát này và tìm cách trấn áp nó. Tuy nhiên, chính sự phổ biến rộng khắp của ca khúc trong hàng ngũ binh sĩ đã buộc họ phải nhượng bộ, và bài hát tiếp tục được phát sóng trở lại.


Tương tự phía đồng minh cho rằng những ca từ bằng anh ngữ có thể làm giảm tinh thần chiến đấu của binh sĩ nên bắt viết lại như đã được đăng như trên. Mình tìm không ra lời cảu Andersen làm lúc đầu.


Nghe nói thi sĩ Hans Leip sống sót suốt 2 thế chiến và chết năm 89 tuổi ở Thuỵ Sĩ. Ông ta được đem đi trốn qua Thuỵ Sĩ bởi thân hữu vì sợ chính quyền Nazi làm khó dễ vì sáng tác của ông ta như kiểu Trăm Hoa Đua Nở tại miền bắc khi xưa. Ông ta có trở về Hamburg sau chiến tranh nhưng rời Đức quốc vĩnh viễn và sống ở quê hương thứ 2 đến khi qua đời.


Người ta có hỏi ông ta là hai người phụ nữ có thật hay không thì được trả lời. Đó là hai người con gái ông ta biết ở Berlin, Lili phụ bán hàng rau còn Marlene là con gái một bác sĩ nhưng nhiều cô gái đức kêu họ chính là nhân vật khiến thi sĩ Leip làm nên những bài thơ để đời. Ông Leip cho biết không bao giờ gặp lại hai cô gái ngày xưa từ khi ông ta ra mặt trận năm 1915.


Còn nhạc sĩ Norbert Schultze bị cấm sáng tác sau thế chiến thứ 2 vì ông ta là đảng viên của NAzi. Ông ta làm nghề làm vườn và thợ hồ. Đến năm 1948 thì được phép hành nghề lại nên có làm nhiều nhạc phẩm để đời. Nói cho ngay mình không thích nhạc đức lắm.


Viết tới đây thì mình nhớ thời trước 75, nhạc của Việt Nam Cộng Hoà “Nhạc Vàng” so với nhạc của Hà Nội cùng thời gian mà người ta gọi là “Nhạc Đỏ” với những ca từ như mùa ra trận đẹp lắm thấy thất kinh. Có lẻ nhờ vậy mà Hà Nội đã thắng.

Việt Nam có câu chuyện về nhạc sĩ Nhật Ngân bị bắt khi vượt biên  vào tù sợ nên khịa tên giả nhưng rồi từ từ thiên hạ cũng tìm ra chân tích. Chủ trại tù là ông Năm Nghĩa cho vời nhạc sĩ lên văn phòng và thả về vì nghe nói trong thời chiến phe cũng cũng nghe bài “Xuân này con không về” mà khi xưa mình có nghe ông Duy Khánh hát và ông cụ mình hay mở khi xưa mỗi lần xuân về. Sau này ra hải ngoại mỗi lần Tết đến là mình nhớ đến bài hát này.

Mình có tập Hồng Gia với nhạc sĩ Nhật Ngân rồi có lần đi ăn kỵ bên vợ lại gặp nhạc sĩ, hình như vợ có bà con chi bên đồng chí gái. Sau nghe nói bị ung tư qua đời  


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyện 12 Kinh Kha của Hoa Kỳ

 Chuyện 12 Kinh Kha của Hoa Kỳ   


Nhớ có lần tù nhân ở Á Phủ HÃn đánh cướp nhà tù, rồi người ta vinh danh một ông mỹ nào làm việc cho CIA tên Mike Spann và bắt một người Mỹ mang tên John Walker Lindh đi theo Taliban. Mình có đọc về những gì họ viết về ông Spann, như là nói tiếng Pashtum như tây, biết rõ về văn hoá của người địa phương. Nghe nói chính phủ Hoa Kỳ có chương trình dạy cho công chức hay CIA học ngoại ngữ rất hay và nói giọng rất chuẩn và nhanh nữa.

12 Kinh Kha mỹ ở Afghanistan

Nay tình cờ đọc được những gì họ kể lại sau khi cuộc khủng bố 9/11 xẩy ra tại Hoa Kỳ. Nghe cựu tổng tư lệnh khối NATO, tướng Wesley Clark kể khi ông ta ra ứng cử tổng thống Hoa Kỳ. Ông cho biết sau vụ khủng bố, ông ta được triệu hồi về Ngũ giác đài để họp. Ai buồn đời thì tìm trên YouTube. Ông ta nói là sau khi họp thì có một ông tướng kêu ông ta vào phòng rồi chỉ cho ông ta thấy chương trình của Hoa Kỳ đánh chiếm 7 nước tại Trung Đông. Nước Ba Tư là nước cuối cùng mà Hoa Kỳ đang đánh từ 4 tuần qua. Cho thấy người Mỹ chuẩn bị rất lâu, trước 9/11, huấn luyện các biệt kích khá lâu. Muốn kiểm soát các giếng dầu ở Trung Đông.


Có lần đi đám cưới, mình ngồi cạnh một ông mỹ, lực lượng đặc biệt, ông ta kể đang được huấn luyện để được gửi qua Phi Châu nhưng không nói quốc gia nào. Hình như anh của chú rể người Mỹ. Hình như ông ta cũng không biết sẽ được gửi đi đâu, chỉ biết là huấn luyện để có thể hoạt động ở phi châu.


Trong bài kể là 6 tuần sau khi cuộc khủng bố 9/11 xảy ra thì Hoa Kỳ gửi 12 biệt kích vào Á PHủ Hãn. Họ được trực thăng vận từ Uzbekistan, vùng Trung Á mà mình có đi viếng xứ này, rất đẹp. Trực thăng chở họ qua dãy núi Hindu Kush trong đêm tối. Ở Uzbekistan có nhà máy chế tạo xe hơi mỹ của hãng Ford nên thấy dân tình lái xe Ford nhiều nhất Trung Á. Có lẻ là vùng khi xưa của Liên Xô, được trồng bông gòn để làm đạn và thuốc nổ nên Hoa Kỳ nhảy vào đây sớm hơn. Sau này thì Trung Cộng với Vành Đai và Con Đường, vào các nước lân cận hết. Hệ thống xe hoả tốc hành của xứ này được Tây Ban Nha xây dựng không phải Trung Cộng.


12 người lính lực lượng đặc biệt này được xem là những Kinh Kha của Hoa Kỳ được gửi sang Á Phủ Hãn để móc nối và thành lập, chuẩn bị cho cuộc đổ bộ quân đội Hoa Kỳ. Các cấp chỉ huy của họ cũng âm thầm không nghĩ họ có thể sống sót trở về. Mỗi người đem theo quân trang độ 45 kí lô


Họ hạ cánh xuống một ngôi làng hẻo lánh của Afghanistan tên là Dehi, trong bóng tối đặc quánh, giữa một đất nước mà bản đồ họ có trong tay cũng rất sơ sài. Chưa có google map hay Starlink như ngày nay. Không xe tăng, xe bọc sắt như trong các phim hành động, chiến tranh, được thả dù cùng lúc với biệt kích này nọ. Sau đó biệt kích lái xe ATV chạy băng đồi vượt suối, để lại dấu vết cho lính địa phương mò lại bắn cái đùng rồi kêu RPG. Xong phim. Họ chỉ nghe nói là sẽ có người đưa cho họ… ngựa. Những con ngựa giống Afghanistan, lì lợm, nổi tiếng khó điều khiển. Không phải các con ngựa của xứ Saudi Arabia nổi tiếng chạy như Xích Thố của Lữ Bố. Yên bằng gỗ phủ những mảnh thảm vụn. Bàn đạp ngắn đến mức đầu gối gần như chạm tai.


Đại úy Mark Nustch, lớn lên tại một trang trại chăn nuôi ở Kansas và từng thi đấu rodeo đại học, lập tức trở thành người dẫn đoàn. Với mười một người còn lại trong đội, Đơn vị ODA 595 thuộc Nhóm Lực lượng Đặc biệt số 5. Ông ta cho các biệt kích khác học cưỡi ngựa ngay lập tức. Câu đầu tiên mà một trung sĩ của ông học được bằng tiếng Dari là: “Làm sao để nó dừng lại?” Nếu không nó cứ chạy đến động của ông thần Bin Laden.

Tướng, lãnh chúa Abdul Rashid Dostum, người giúp 12 kinh kha đánh chiếm địa trấn đầu tiên của Taliban nay sống lưu vong.


Họ liên kết với tướng Abdul Rashid Dostum, một lãnh chúa của Liên minh phương Bắc, người kiểm soát hàng nghìn chiến binh và hiểu rõ vùng đất này như lòng bàn tay. Thỏa thuận rất đơn giản: người Mỹ sẽ gọi các cuộc không kích chính xác từ trên lưng ngựa. Kỵ binh của Dostum sẽ xung phong. Cùng nhau, họ sẽ chiếm Mazar-I-Shariz, thành trì cách mạng, quê hương đồng khởi của Taliban với 250.000 dân và mở toang cánh cửa miền bắc Afghanistan. Địa trấn này nổi tiếng trong cuộc chiến, ngày nào cũng nghe đến mặt trận này. Vì khi xưa chưa có mạng xã hội như ngày nay, phải dán mắt vào màn hình của đài truyền hình sau khi đi làm về.


Các nhà hoạch định quân sự ước tính sẽ mất hai năm. Nhưng Lực lượng Đặc Biệt Dagger chỉ cho ODA 595 ba tuần. 21 ngày. Mình đoán là trước khi oanh kích, gián điệp của Do Thái tại Ba Tư cũng như quân đội hai xứ này chắc chắn đã cho biệt kích nhảy vào Ba Tư, trinh sát để báo cáo chỗ nào bỏ bom này nọ cho chính xác.


Mình nghĩ mấy ông cố đạo Ba Tư như Việt Cộng cứ núp trong lòng quần chúng nhân dân để mỹ sợ không bỏ bom nhưng gặp biệt kích do thái thì mấy ông thần này chả lo ngại gì về người dân vô tội chết nhất là người hồi giáo nên cứ kêu máy bay oanh kích trường học nào đó khiến 150 học sinh bị chết. Nghe nói mấy ông cố đạo Ba Tư giết đâu 30,000 dân ba tư đòi quyền sống. Nên chả thằng nào dám  cựa quậy nữa.


Trong 23 ngày chiến đấu gần như liên tục, “những người lính cưỡi ngựa” sống như con người của một thế kỷ khác. Họ ăn như người Afghanistan. Ngủ trên mặt đất giữa những con đèo băng giá. Đi qua những lối mòn hẹp và dốc đến mức chỉ cần một bước sai là rơi xuống vực sâu hàng trăm mét. Trung sĩ nhất Will Summers cân nặng 84 kg khi được trực thăng vận đến xứ không có khỉ ho, không có cò gáy chỉ có dê thôi kêu be he be he. Năm tuần sau rời Afghanistan, ông ta chỉ còn 65 kg. Khỏi cần ghi danh tập giảm cân. Xem hình ảnh biểu tình No King vừa qua, thấy ông TRump quá hay, ông đã khiến nhiều người Mỹ mập ú đi bộ, chửi bới thay vì ngồi trước máy truyền hình. Họ mà xuống cân là nhờ ơn bác Trump. Mình thấy các hình ảnh này rất tích cực vì có việc để mấy người này đi bộ. Tập thể dục, tập la hét cho phổi tốt hơn. Đó là một dấu hiện của một người làm cách mạnh chân chính. 


Taliban có xe tăng, thiết giáp thời Liên Xô, pháo phòng không, và các vị trí phòng thủ kiên cố trên núi. Đối đầu với tất cả những thứ đó, mười hai người Mỹ cưỡi ngựa truyền tọa độ qua radio truyền tin cho máy bay bay vô hình trên cao, rồi chứng kiến các vị trí của mấy ông thần Taliban nổ như pháo bông.


Nutsch cùng đồng đội của mình và hàng trăm kỵ binh của Dostum lao vào một cuộc xung phong ầm vang trên cánh đồng trống, trực diện vào tuyến phòng thủ Taliban. Dưới làn đạn. Phi nước đại. Vừa cưỡi ngựa vừa gọi yểm trợ không kích cận chiến. Cứ như xi-nê, hy vọng sau này họ sẽ làm phim kể lại vụ này.


Đó là cuộc xung phong kỵ binh đầu tiên của thế kỷ 21 và cũng là cuộc cuối cùng. Nay họ cho Drone bò lại nổ cái ở rầm. Cho con dê robot lại gần rồi đùng 72 trinh nữ xuất hiện.


Ngày hôm sau, Mazar-i-Sharif thất thủ. Thành trì phía bắc của Taliban sụp đổ. Chỉ trong vài tuần, cả chế độ bắt đầu tan rã, hiệu ứng domino khởi đầu từ mười hai con người và những con ngựa mượn trên núi. Cả mười hai người đều trở về. Kinh KHa sang Tần thì khôgn về còn Kinh Kha mỹ sang Afghanistan thì trở về như huyền thoại một loại hoa sim tím chiều vang biền biệt.


Không có một binh sĩ Mỹ nào thiệt mạng. Trong khi đối đầu với một kẻ địch đông hơn và trang bị mạnh hơn ở mọi mặt. Sau đó họ nhốt quân Taliban vào nhà tù rồi kêu CIA như ông Mike Spann đến hỏi cung vì ông ta nói rành phương ngữ.


Ngày nay, nếu bác nào thăm quan thành phố New York thì cố bò ra đối diện Ground Zero ở New York, có một bức tượng đồng cao gần 5 mét  hình ảnh một lính Lực lượng Đặc biệt cưỡi ngựa, khẩu súng đặt ngang đùi, nhìn về phía tây. Nó vinh danh ODA 595 và những đội đã chiến đấu cùng họ. Cuối cùng thì Hoa Kỳ cũng bỏ của chạy lấy người như ở Việt Nam. Đánh thắng thì dễ nhưng bình định thì khó vì thế mà sau thế chiến thứ 2, Anh quốc và Pháp quốc phải bỏ thuộc địa nếu không lại bị Điện Biên Phủ dài dài.

Tượng ở Ground Zero ở New York

Hoa Kỳ đã học được mấy bài học từ Việt Nam, Iraq, nên Syria họ cho mấy ông thần sở tại cầm đầu cho khoẻ đời Marilyn Monroe. Venezuela cứ bắt sống ông Maduro rồi kêu tỳ thiếp gì của ông ta lên ngôi thế. Miễn là làm ăn với Hoa Kỳ còn dân chủ dân chổi thì kệ mấy em. Muốn làm gì thì làm.


Biết đâu một ngày nào đó, mấy ông thần cấp tiến lại lên tiếng đòi kéo cái tượng này xuống như họ đang làm với mấy cái tượng của ông Chavez, lãnh tụ công đoàn nông dân khi khám phá ra ông thần đòi quyền lợi cho nông dân, được mấy cô theo phò tranh đấu, bị ông ta dê, sói tái. Chán Mớ Đời 


https://youtu.be/8OrywCT6Cao?si=6L3inKtT9VrLOZqU


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


chọn mặt Tây gửi vàng

 Chọn mặt gửi vàng


Vào thập niên 1960, dưới sự lãnh đạo của tổng thống De Gaulle, ông ta ra lệnh hồi hương vàng của Pháp quốc từ Hoa Kỳ về khiến có sự xích mích giữa Hoa Kỳ và Pháp quốc từ dạo ấy. Mình có kể vụ hội thảo trước khi đệ nhị thế chiến chấm dứt ở Bretton Woods ở Hoa Kỳ. Trước khi thế chiến chấm dứt, các nước đồng minh gặp nhau tại khu nghỉ dưỡng này để bàn thảo hậu chiến về tài chánh.


Trong chiến tranh, ở âu châu thiếu thốn mọi điều nên khi họ qua Hoa Kỳ hội họp thì được ăn uống phủ phê, uống rượu như uống coca nên say mèn. Cuối cùng Hoa Kỳ đề nghị sử dụng tiền mỹ lim làm tiền tệ để sử dụng khi buôn bán với nhau thay vì đồng bảng anh như cả thế kỷ qua. Ai nấy đều say mướt nên nhất trí. Họ ra quy tắc là cứ lấy một lượng vàng thì đổi được $35 đô la hay ngược lại. Đại diện Anh quốc về nước bị nữ hoàng Elizabeth chửi quá cỡ, tính chém đầu.


Tổng thống De Gaulle buồn đời, kêu sao cho Hoa Kỳ sung sướng thế, có đặc quyền cho rằng Hoa Kỳ có thể duy trì thiếu hụt ngân sách và xuất cảng lạm phát, bằng cách in tiền trong khi các nước trên thế giới ôm đô la làm ngoại tệ. Ông ta nhớ sực là có đọc cuốn sách việt ngữ nào có câu châm ngôn: “chọn mặt gửi vàng” mà mặt của tên tổng thống Hoa Kỳ thấy nghi nghi, có gì gian dối nên không dám gửi vàng tại Hoa Kỳ.


Dạo ấy, Pháp quốc có vấn nạn lạm phát nên ông ta học được bài học. Ông Gignac, chủ tịch hội cựu chiến binh pháp và Đông Dương, theo nhóm OAS, ám sát hụt ông De Gaulle nên đi tù. Ra tù, ông ta kể đến ngân hàng rút tiền tiết kiệm chỉ đủ ăn bữa cơm ngoài đời là hết vì Pháp quốc, đổi tiền phật lăng cũ (AF) với tiền quan pháp Franc mới (NF), với tỷ giá 1 franc mới (NF) ăn 100 đồng phật lăng cũ (AF). Nên người Pháp hay nói tiếng lóng, hỏi mày có 1 franc thì kêu có 100 balles (tiếng lóng tiền quan cũ). Trước khi đi tù ông ta có 5,000 quan cũ trong quỹ tiết kiệm, nay ra tù rút được 50 quan pháp mới nên buồn đời ra kêu tô mì quảng và chai rượu nếp uống cho quên đời thằng tù.


Ông lo ngại về khả năng đồng đô la sẽ bị phá giá hoặc hệ thống tiền tệ sẽ sụp đổ vào một thời điểm nào đó, điều vốn có thể đe dọa đến lượng vàng dự trữ của Pháp đang được lưu giữ ở nước ngoài, đặc biệt là tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York. Pháp đã tích lũy được một lượng vàng dự trữ đáng kể nhờ vào thặng dư thương mại và việc chuyển đổi đô la sang vàng, nhưng phần lớn số vàng này lại đang nằm tại New York (và một phần tại London). 

Không biết ông thần này có bằng tiến sĩ chưa.

Vào tháng 3 năm 1963, tổng thống de Gaulle đã yêu cầu hồi hương toàn bộ số vàng của Pháp về Paris vì các lý do chủ quyền và an ninh, dựa trên những bài học rút ra từ các cuộc khủng hoảng trong quá khứ (ví dụ: những tổn thất trong đợt phá giá đồng bảng Anh năm 1931). Ngân hàng Trung ương Pháp (Banque de France) ban đầu đã khuyên can vì chi phí vận chuyển và bảo hiểm quá cao, nhưng tổng thống de Gaulle vẫn kiên quyết thực hiện. Một thỏa hiệp đã dẫn đến việc khởi động chiến dịch mật mang tên “Vide-Gousset”  (Làm rỗng túi) vào tháng 9 năm 1963.


Chiến dịch này kéo dài cho đến năm 1966 và bao gồm tổng cộng 3.313 tấn vàng (từ cả Hoa Kỳ và Vương quốc Anh). Trong số đó:

• 1.638 tấn đến từ Hoa Kỳ (từ các kho lưu trữ của Cục Dự trữ Liên bang tại New York).

• Số còn lại (khoảng 1.175 tấn trong một giai đoạn chính) đến từ London.

Toàn bộ quá trình được giữ bí mật nhằm tránh làm leo thang căng thẳng địa chính trị, hoặc phát đi tín hiệu về sự ngờ vực trắng trợn vốn có thể châm ngòi cho các biện pháp trả đũa từ phía Hoa Kỳ. Ngân hàng Trung ương Pháp đã thực hiện một số đợt chuyển giao thông qua các tài khoản trung gian (ví dụ: tại Ngân hàng Trung ương Anh hoặc BIS ở London) để tăng thêm tính bảo mật. Các mật danh được sử dụng bao gồm “Affaire 18” cho các chuyến vận chuyển bằng đường biển từ New York, và “Affaire 19/20” cho các chuyến vận chuyển bằng đường hàng không.

Tổng thống Charles De Gaulle, người tổng thống liêm khiết nhất đệ ngủ cộng hoà Pháp quốc.

Chương trình hồi hương vàng của Pháp quốc này kết hợp cả vận tải đường biển và đường hàng không, sử dụng các hãng vận tải thương mại thay vì các phương tiện quân sự (nhằm đảm bảo tính bảo mật và tránh gây khiêu khích):

Vận tải đường biển (chủ yếu diễn ra trong giai đoạn đầu, trước năm 1965): Các tàu biển của Pháp thuộc hãng Compagnie Générale Transatlantique đảm nhận việc vận chuyển hàng hóa từ New York. Mỗi chuyến tàu có thể chuyên chở khoảng 25 tấn, với tần suất ban đầu là xấp xỉ hai chuyến mỗi tháng. Tổng cộng đã có 24 chuyến tàu khởi hành từ Hoa Kỳ. Chuyến hàng lớn đầu tiên vào tháng 9 năm 1963 đã vận chuyển tới 400 tấn. Các thỏi vàng được bốc xếp tại bến cảng ở New York, vượt Đại Tây Dương để cập bến các cảng của Pháp, sau đó được chuyển về cất giữ tại các kho tiền của Ngân hàng Trung ương Pháp (Banque de France) ở Paris.


Vận tải đường hàng không (được đẩy mạnh từ cuối năm 1964/đầu năm 1965): Các máy bay của hãng Air France (bao gồm cả máy bay chở khách và máy bay chở hàng của Boeing) đã thực hiện việc vận chuyển vàng từ New York (từ sân bay JFK đến Orly) và đặc biệt là từ London. Mỗi chuyến bay chuyên chở xấp xỉ 30 tấn. Chỉ riêng trong giai đoạn 1965–1966, đã có 35 chuyến bay khởi hành từ New York và 94 chuyến bay từ London, qua đó vận chuyển tổng cộng 1.175 tấn vàng từ Vương quốc Anh trong khoảng thời gian này. Phương thức vận tải đường hàng không trở nên khả thi và được sử dụng rộng rãi hơn một khi các vấn đề liên quan đến bảo hiểm cho vận tải đường biển được giải quyết thỏa đáng, hoặc khi tính cấp bách của việc vận chuyển gia tăng.


Toàn bộ chiến dịch đã huy động 44 chuyến tàu và 129 chuyến bay. Tổng chi phí cho một phần lớn số lượng vàng (khoảng 2.934 tấn) ước tính vào khoảng 4,2 triệu đô la. Quá trình hồi hương vàng được đẩy nhanh sau cuộc khủng hoảng đồng bảng Anh năm 1964 (vốn làm gia tăng lo ngại về một đợt phá giá tiền tệ trên diện rộng), và sau cuộc họp báo tháng 2 năm 1965 của Tổng thống de Gaulle, trong đó ông công khai chủ trương quay trở lại áp dụng chế độ bản vị vàng thuần túy cho các hoạt động thanh toán quốc tế. Đến năm 1966, khoảng 90% lượng vàng dự trữ của Pháp đã được lưu giữ ngay tại Paris.


Trong giai đoạn này, Pháp vẫn tiếp tục thực hiện việc chuyển đổi lượng dự trữ bằng đồng đô la sang vàng tại Bộ Tài chính Hoa Kỳ và Cục Dự trữ Liên bang (Fed), chẳng hạn như thông qua các đợt mua định kỳ hàng tháng, cộng thêm những đợt chuyển đổi đặc biệt với quy mô lớn, trị giá từ 150 đến 300 triệu đô la, sau đó trực tiếp vận chuyển số vàng thỏi này về nước.


Đây là một phần trong chiến lược "ngoại giao vàng" rộng lớn hơn của Pháp, diễn ra trong bối cảnh lượng dự trữ vàng của Hoa Kỳ đang sụt giảm mạnh (từ mức hơn 20.000 tấn vào cuối thập niên 1950 xuống dưới 10.000 tấn vào cuối thập niên 1960). Chiến dịch này đã góp phần tạo nên những áp lực dẫn đến sự sụp đổ của "Quỹ Vàng London" (London Gold Pool) vào năm 1968, và đỉnh điểm là quyết định của Tổng thống Nixon vào ngày 15 tháng 8 năm 1971 về việc đóng cửa "cửa sổ vàng" (chấm dứt khả năng chuyển đổi trực tiếp đồng đô la sang vàng). Đã xuất hiện nhiều đồn đoán (đôi khi bị phóng đại trong các câu chuyện đại chúng) về sự tham gia của Hải quân Pháp, chẳng hạn như việc huy động các tàu tuần dương kiểu như chiếc Colbert, tuy nhiên, trên thực tế, toàn bộ chiến dịch này lại hoàn toàn dựa vào các phương tiện vận tải đường biển và đường hàng không thương mại nhằm đảm bảo tính bí mật và kín đáo.


Trong những thập niên gần đây, Pháp đã bí mật hồi hương số vàng còn lại đang được lưu giữ ở nước ngoài (chủ yếu từ London) trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến 2016 (với khối lượng khoảng 221 tấn); sau đó, toàn bộ số vàng tiền tệ của quốc gia này (khi đó vào khoảng 2.435 tấn) đều được cất giữ an toàn trong hầm chứa kiên cố mang tên “La Souterraine” của Ngân hàng Trung ương Pháp (Banque de France) tại Paris. Cho đến những năm gần đây, vẫn còn một phần nhỏ số vàng còn sót lại (khoảng 129 tấn, tương đương ~5%) trên danh nghĩa vẫn gắn liền với số vàng đang được lưu giữ tại New York; vào giai đoạn 2025–2026, Ngân hàng Trung ương Pháp đã thực hiện một biện pháp nâng cấp bằng cách bán đi những thỏi vàng cũ tại New York và mua vào những thỏi vàng hiện đại, đạt chuẩn LBMA ngay tại Paris—qua đó thực chất đã hoàn tất nốt phần “hồi hương” cuối cùng mà không cần phải vận chuyển vật lý những thỏi vàng cũ về nước. Động thái này đã mang lại một khoản lợi nhuận vốn lớn và mang tính một lần (khoảng 13 tỷ euro) nhờ vào mức giá vàng đang ở mức cao, đồng thời vẫn giữ cho tổng khối lượng dự trữ vàng của quốc gia không thay đổi, duy trì ở mức khoảng 2.437 tấn.


Sự kiện diễn ra vào thập niên 1960 vẫn được xem là ví dụ lịch sử kinh điển về việc Pháp khẳng định chủ quyền tiền tệ thông qua hành động trực tiếp thu hồi số vàng của mình từ Hoa Kỳ. Sự kiện này đã làm nổi bật những căng thẳng tồn tại trong hệ thống tài chính xoay quanh đồng đô la, đồng thời đóng vai trò như một bước đi mang tính phòng vệ nhằm đối phó với những rủi ro được nhận định là xuất phát từ sự thống trị về mặt tài chính của Hoa Kỳ.


Khi xưa, một lượng vàng ăn $35, nay một lượng vàng ăn trên $5,000. Nếu tổng thống De Gaulle không biết vụ lạm phát tại pháp thời ông ta làm tổng thống, mà cứ để yên vàng bên Mỹ là ngọng rồi. Lúc tổng thống Nixon kêu không sử dụng tiền mỹ kim đổi vàng nữa. Thì thiên hạ kêu vậy thì chúng em đòi vàng lại thì bác Nixon mới sai ông Kissinger qua Trung Đông thương lượng để mấy ông hoàng ả rập bắt khách hàng phải trả bằng đồng đô la thì họ mới chịu bán. 


Thế là thiên hạ phải kêu ông mỹ đổi đô la cho họ để họ mua dầu hoả. người Mỹ in tiền đưa cho họ mua dầu hoả và mỹ là cha thiên hạ, cứ xào cho đã rồi lấy máy photocopy để in ra tiền nữa để mua đồ thiên hạ. Cho nên một lượng vàng từ $35 mà đến 80 năm sau lên trên $5,000.


Mấy xứ kia họ đâu thuộc loại ngu lâu dốt bền như mình nên họ to nhỏ với nhau kêu tụi mình mua bán với nhau không cần đến tiền đô la. Mày bán dầu cho tao thì tao đưa lại quần áo madze in Trung Cộng, hay gà cà ri madze in ấn Độ. Họ buồn đời ra đời BRICS. Anh Mỹ thấy vậy thì ngại đời Kiều pHong nên cho máy bay vào Venezuela bắt cóc anh Maduro rồi bây giờ đánh bom anh chàng thà chết không hề lui Ba Tư, lái thảm không lái đi bỏ bom khắp nơi, cấm không cho tàu qua eo biển Hormutz.


Thế là anh Ấn Độ kêu thiếp nào có ý phản bội chàng, quay về nấu cà ri cho anh mỹ chấm hamburger. Họ kêu ca bom nguyên tử này nọ nhưng trên thực tế là Pedro-dollar. Họ sợ thiên hạ chê dô-la nên đánh nhau, bỏ bom, cho Ba Tư kêu chận đường cho tàu ra vô eo biển Hormtz là khiến mấy anh ba tàu lo ngại dầu hoả khan hiếm thì kinh tế lên như diều đứt dây thung.


https://youtu.be/8OrywCT6Cao?si=6L3inKtT9VrLOZqU


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn