Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

1 chọi 150

 Lực lượng đặc biệt khác với biệt động


Nhớ khi xưa, mình thấy một anh hàng xóm đi biệt kích, một hôm thấy anh ta về phép bận độ Việt Cộng đi trước rạp Ngọc Hiệp về nhà. Đeo súng AK, rồi băng đạn tùm lum. Có lần anh ta với một đồng ngủ chạy xe gắn máy từ Đà Lạt về Phan Rang khiến thiên hạ khiếp luôn. Nghe kể là hai người bận đồ dân sự rồi người ngồi sau, cầm K54, nếu bị chận là bắn bỏ chạy. Kinh


Việt Cộng thì có nhóm bộ đội phá hoại, hình như họ gọi là biệt động. Mình không biết khi họ mò vào phía Việt Nam Cộng Hoà có bận đồ quân đội Việt Nam Cộng Hoà hay không. Ai biết cho em xin.


Hôm nay đọc một hồ sơ giải mật của quân lực Hoa Kỳ về những toán biệt kích của họ, được thả vào Hạ Lào để phá hoại. Họ cho biết năm 1968, sau Mậu Thân, một toán 6 người được trực thăng thả vào Hạ Lào. Họ là những quân nhân người Mỹ nhưng lại được trang bị súng ống của Việt Cộng như AK-47,… họ bận đồ bộ đội, không đeo thẻ bài, giấy tờ tuỳ thân và nếu bị giết hay bị bắt làm tù binh thì chính phủ mỹ sẽ chối, không bao giờ biết họ. Kiểu đi chết sống là ráng chịu, đừng có khai báo gì cả.


Những người đàn ông này thuộc về một đơn vị bí mật đến mức chính phủ đã tiêu hủy tất cả các bức ảnh được biết đến vào năm 1972 khi quân đội mỹ khởi đầu sự rút quân khỏi Việt Nam. Một đơn vị có tỷ lệ thương vong vượt quá 100%, nghĩa là nếu ai gia nhập, về mặt thống kê thì gần như chắc chắn sẽ bị thương hoặc thiệt mạng. Họ gọi nó là Nhóm Nghiên cứu và Quan sát (Studies and Observations Group), một cái tên cố ý tẻ nhạt cho đơn vị tác chiến đặc biệt nguy hiểm nhất trong lịch sử quân đội Mỹ.  


Trong tám năm, những biệt kích này thực hiện các nhiệm vụ tại Lào, Campuchia và Bắc Việt Nam — những nơi mà lực lượng Mỹ bị cấm đặt chân tới. Và họ làm tất cả điều đó trong khi mặc quân phục của chính kẻ thù đang săn lùng họ. Nhưng đây là câu hỏi mà không ai từng trả lời: Tại sao những binh sĩ tinh nhuệ nhất của Mỹ lại ăn mặc giống như những người đang cố giết họ?  


Để hiểu MACV-SOG, chúng ta phải hiểu những thất bại đã tạo ra đơn vị này. Trước khi SOG tồn tại, CIA điều hành các chiến dịch bí mật ở Bắc Việt Nam. Từ năm 1953 đến 1963, họ đưa 28 đội đặc vụ vào phía sau chiến tuyến của đối phương. Kết quả thật thảm khốc.  


456 biệt kích miền Nam Việt Nam bị giết hoặc bị bắt. Mình có kể khi đọc Thép Đen, kể lại bởi một cựu điệp viên Đặng CHí Bình, tên thật là Hùng, đã qua đời, được huấn luyện và gửi ra Bắc bị bắt ở tù 18 năm. Sau được thả và vượt biển đến định cư tại Hoa Kỳ tại Dorchester, Massachussetts. Hầu như mọi đội đều bị bắt hoặc bị tiêu diệt.  


Hà Nội đã thâm nhập các chiến dịch đến mức đôi khi họ biến các đặc vụ bị bắt thành điệp viên hai mang, gửi thông tin sai lệch về cho phía Mỹ suốt nhiều năm. Mình có kể vụ điệp viên nhị trùng Ares. Vì vậy, vào tháng 1 năm 1964, Ngũ Giác Đài tiếp quản. Họ thành lập một đơn vị mới dưới Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự tại Việt Nam. Trên giấy tờ, nó được gọi là Nhóm Nghiên cứu và Quan sát (Studies and Observations Group). Cái tên này là một sự đánh lừa có chủ ý. Sẽ không có nghiên cứu, không có quan sát — chỉ có chiến tranh.  


SOG tuyển chọn những người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất: Mũ xanh Lục quân, SEAL Hải quân, biệt kích Không quân, tất cả đều là tình nguyện viên. Và mỗi người đều ký một thỏa thuận giữ bí mật 20 năm, thừa nhận rằng nếu bị bắt, Hoa Kỳ sẽ phủ nhận sự tồn tại của họ. Chuỗi chỉ huy của họ bỏ qua toàn bộ cấu trúc quân sự tại Việt Nam. SOG báo cáo trực tiếp cho trợ lý đặc biệt của Ngũ Giác Đài về chống nổi dậy, và từ đó lên thẳng toà Bạch Cung. Chính Tổng thống Johnson đã phê duyệt các nhiệm vụ của họ. Khi một đội trinh sát vượt biên sang Lào, Tổng thống Hoa Kỳ biết điều đó.  


Khi các đội SOG vượt qua biên giới sang Lào hoặc Campuchia, họ không trông giống người Mỹ. Họ gọi đó là “hoạt động vô danh” xóa sạch mọi dấu vết nhận dạng của người Mỹ. Không thẻ bài, không bất kỳ giấy tờ nhận dạng nào. Mọi số sê-ri trên vũ khí đều bị mài đi. Quân phục sọc hổ của họ không có dấu hiệu nhận biết. Một số đội thậm chí mang giày đặc biệt có đế được thiết kế để trông như dấu chân trần. Nhưng yếu tố nổi bật nhất là người đi đầu.  


Trong nhiều đội trinh sát SOG, người đi đầu bản địa mặc đầy đủ quân phục của Quân đội Bắc Việt. Quần áo kaki, nón cối, đôi khi còn có cả phù hiệu NVA. Vậy tại sao lực lượng đặc biệt Mỹ lại để người của mình mặc quân phục địch? Câu trả lời rất đơn giản.  


Một giây.  


Đó là tất cả những gì họ cần. Khi một đội tuần tra của địch phát hiện SOG, họ phải đưa ra quyết định trong tích tắc: Đó là quân mình hay kẻ thù? Nếu người đi đầu mặc trang bị Mỹ, sẽ không có do dự. Bộ đội sẽ nổ súng ngay lập tức. Nhưng nếu anh ta mặc quân phục của họ, mang vũ khí của họ, di chuyển như thể thuộc về nơi đó, kẻ địch sẽ chững lại. Chỉ một khoảnh khắc. Và trong chiến tranh rừng rậm, khoảnh khắc do dự đó là ranh giới giữa sống và chết. Vũ khí cũng kể cùng một câu chuyện. Các đội SOG mang theo AK-47, súng máy RPD của Liên Xô, và tiểu liên K của Thụy Điển. Không phải vì chúng tốt hơn, mà vì âm thanh khác biệt.  


AK-47 có âm thanh rất đặc trưng. Khi nó khai hỏa trong rừng, lính địch tưởng đó là hỏa lực của đồng đội. Khi M-16 của Mỹ nổ súng, họ biết ngay người Mỹ đang ở đâu. Khi SOG mang vũ khí Mỹ, họ chọn CAR-15 với bộ giảm thanh đặc biệt khiến âm thanh gần giống AK. Mục tiêu luôn giống nhau:  


Gây nhầm lẫn, đánh lừa, và giành thêm nửa giây quý giá để phản ứng... Mục tiêu luôn luôn giống nhau. Sự hoang mang, thất vọng, nửa giây quý giá để phản ứng bằng cách đối đầu. Lính biệt kích SOG John Stryker Meyer thường mang theo 22 băng đạn cho khẩu CAR-15 của mình, cộng thêm lựu đạn, bởi vì một khi cuộc đấu súng bắt đầu, nó hiếm khi chỉ chống lại một số ít kẻ thù. Nó thường là chống lại 100 kẻ thù.


Lực lượng SOG hoạt động từ ba căn cứ tiền phương. Trung tâm chỉ huy phía Bắc ở Đà Nẵng, Trung tâm chỉ huy ở Kontum, và Trung tâm chỉ huy phía Nam ở Bản Mê Thuột. Mỗi căn cứ kiểm soát một đoạn biên giới và thực hiện các nhiệm vụ vào các khu vực bị cấm vượt biên. Một đội trinh sát điển hình bao gồm hai đến ba người Mỹ và bốn đến chín binh sĩ bản địa, người thượng. Thường là các bộ lạc người dân tộc thiểu số Montagnard từ Tây Nguyên.


Các đội này được thả xuống bằng trực thăng H-34 của Nam Việt Nam, được gọi là Kingbees, để duy trì tính bí mật. Các nhiệm vụ kéo dài từ ba đến năm ngày. Mục tiêu là thu thập thông tin tình báo tại Đường mòn Hồ Chí Minh, mạng lưới tiếp tế khổng lồ vận chuyển vũ khí, đạn dược và binh lính từ Bắc Việt Nam qua Lào và Campuchia vào miền Nam.


Lực lượng Đặc nhiệm (SOG) đã tạo ra 75% tổng số thông tin tình báo của Mỹ trên con đường này. Chỉ riêng con số đó đã cho thấy tầm quan trọng của họ. Nhưng trinh sát chỉ là một phần của nhiệm vụ. Các đội SOG cũng thực hiện các hoạt động hành động trực tiếp, phục kích, phá hoại, bắt tù binh và một trong những chương trình xảo quyệt nhất của toàn bộ cuộc chiến. Dự án Con Trai Cả liên quan đến đạn dược bị phá hoại. Các đội SOG sẽ gài những viên đạn và đạn cối đã được chỉnh sửa vào kho vũ khí của địch. Khi lính Bắc Việt Nam bắn những viên đạn này, vũ khí sẽ phát nổ trong tay họ. Tác động tâm lý rất tàn khốc. Cái này hơi căn vì phải tìm ra chỗ cất vũ khí của bộ đội. Hình như mình có kể lại chuyện biệt kích Cường, gốc Quảng kể cho ông mỹ hàng xóm và ông này viết lại bằng anh ngữ.


Lính Bắc Việt Nam bắt đầu nghi ngờ nguồn cung cấp đạn dược của chính mình, đôi khi từ chối bắn những vũ khí mà họ tin rằng có thể bị gài bẫy. Những người lính của SOG thật phi thường, ngay cả theo tiêu chuẩn của các lực lượng đặc nhiệm hiện nay. Robert Howard đã được đề cử Huân chương Danh dự ba lần trong vòng 13 tháng. Ba hành động riêng biệt, bất kỳ hành động nào trong số đó cũng đủ để hầu hết binh lính nhận được huân chương cao quý nhất của quốc gia.


Ông bị thương 14 lần trong 54 tháng ở Việt Nam và được tặng 8 Huân chương Trái tim Tím. Rồi còn có Jerry "Mad Dog" Shriver. Quân đội Bắc Việt treo thưởng 10.000 đô la cho ai bắt được ông. Ông sống trong doanh trại với những người lính dân tộc thiểu số Montagnard chứ không phải với người Mỹ. Ngày 24 tháng 4 năm 1969, trong một nhiệm vụ gần Bộ Chỉ huy Trung ương của địch tại Nam Việt Nam, lần cuối cùng người ta nhìn thấy ông là khi ông một mình xông vào rừng cây giữa làn đạn dữ dội của địch. Người ta không bao giờ được nhìn thấy ông ta nữa. 


Những người lính bản địa xứng đáng được ghi nhận ngang bằng. Không hiểu có được trả lương tiền tử hay không. Người Montagnard, một bộ tộc từ vùng cao nguyên Trung Bộ của Việt Nam, đã phục vụ bên cạnh người Mỹ với lòng trung thành phi thường. Các cựu chiến binh SOG mô tả họ như thể có giác quan thứ sáu về nguy hiểm. Họ có thể ngửi thấy mùi phục kích của địch trước khi bất kỳ ai biết được sự hiện diện của nó. Vil Wo đã thực hiện cú nhảy dù Halo chiến đấu đầu tiên trong lịch sử quân sự khi phục vụ trong SOG. Sau chiến tranh Việt Nam, ông gia nhập CIA và dành hàng thập kỷ theo dõi khủng bố.


Ông đã theo dõi Osama bin Laden ở Sudan vào những năm 1990. Sau vụ khủng bố 11/9, ở tuổi 71, ông được điều động đến Afghanistan. Ông qua đời năm 2023 ở tuổi 93, vẫn đang phục vụ đất nước.


Và rồi, có Chiến dịch Tailwind. Mà mình có kể. Vào tháng 9 năm 1970, 16 người Mỹ và khoảng 120 người bản địa được đưa vào sâu 70 km bên trong lãnh thổ Lào. Trong bốn ngày, họ liên tục chiến đấu chống lại lực lượng Bắc Việt áp đảo. Tất cả 16 người Mỹ đều bị thương.


Y tá Gary Rose đã điều trị cho 60 đến 70 người bị thương trong khi chính ông cũng bị thương, bao gồm cả một lỗ thủng ở chân. Chiếc trực thăng chở đội của ông bị bắn rơi, và Rose đã kéo những người lính bất tỉnh ra khỏi đống đổ nát đang bốc cháy. 47 năm sau, vào năm 2017, Rose cuối cùng đã nhận được Huân chương Danh dự. Sự chậm trễ là do nhiệm vụ này được xếp vào loại tuyệt mật.


Trong nhiều thập kỷ, chính phủ không thể thừa nhận những gì những người này đã làm, bởi vì trên thực tế, họ chưa từng có mặt ở đó. Cái giá mà SOG phải trả là vô cùng lớn.


Khoảng 407 người Mỹ đã thiệt mạng khi phục vụ trong SOG. Con số đó chiếm phần lớn số người chết của Lực lượng Mũ xanh trong toàn bộ Chiến tranh Việt Nam. Hơn 50 lính Mũ xanh SOG vẫn còn được liệt kê là mất tích trong chiến đấu. 18 đội trinh sát hoàn toàn biến mất. Họ vượt biên sang Lào hoặc Campuchia, và không bao giờ được nghe tin tức gì nữa. Kẻ thù đã đặc biệt săn lùng họ. Không biết sau này, người Mỹ có tìm ra tung tích của họ hay không.


Quân đội Bắc Việt đã thành lập các đơn vị phản trinh sát chuyên biệt với nhiệm vụ duy nhất là theo dõi và tiêu diệt các đội SOG. Họ gọi những đơn vị này là tiểu đoàn C-75. Một số binh lính Quân đội Nhân dân Việt Nam (NVA) đeo huy chương có dòng chữ "Giết người Mỹ" như một phần thưởng cho việc nhắm mục tiêu vào các đặc nhiệm SOG.


Trong nhiều thập kỷ sau chiến tranh, SOG vẫn được giữ bí mật. Các cựu chiến binh không thể nói về những gì họ đã làm. Nhiều người bị từ chối trợ cấp của Cục Cựu chiến binh (VA) vì hồ sơ phục vụ của họ bị niêm phong. Chính phủ đã cử họ thực hiện những nhiệm vụ bất khả thi tuyên bố rằng những nhiệm vụ đó không tồn tại. Mãi đến ngày 4 tháng 4 năm 2001, 29 năm sau khi SOG bị giải tán, đơn vị này mới nhận được Huân chương Đơn vị Xuất sắc của Tổng thống. Lần đầu tiên, chính phủ chính thức thừa nhận những gì những người đàn ông này đã đạt được.


Ngày nay, di sản của SOG vẫn còn tồn tại. Đại tá Charlie Beckwith, người từng phục vụ trong Dự án Delta của SOG, sau đó đã thành lập Lực lượng Delta. Dick Meadows, người đã thực hiện bốn nhiệm vụ ở Bắc Việt Nam với tư cách là thành viên SOG, đã trở thành một thành viên sáng lập của cộng đồng đặc nhiệm hiện đại của Mỹ. Tỷ lệ tiêu diệt địch được xác nhận của SOG là 158 trên 1. Các chiến dịch của họ đã buộc Hà Nội phải điều động 40.000 quân khỏi tiền tuyến chỉ để bảo vệ các tuyến đường tiếp tế.


Những đội nhỏ từ 6 đến 12 người đã kìm chân toàn bộ các sư đoàn địch. Vậy tại sao những biệt kích nguy hiểm nhất của Việt Nam lại mặc quân phục địch? Bởi vì hoạt động trên lãnh thổ bị cấm, bị áp đảo về số lượng với tỷ lệ 100 chọi 1, mọi lợi thế đều vô cùng quan trọng. Chỉ cần một khoảnh khắc do dự của kẻ thù, một khẩu súng nghe có vẻ thân thiện, một người dẫn đầu trông có vẻ thuộc về nơi đó.


Những người này hoạt động ở giới hạn tuyệt đối của khả năng con người. Họ từ bỏ danh tính của mình, đến những nơi không chính thức tồn tại, và chiến đấu với kẻ thù đông hơn họ rất nhiều. Nhiều người trong số họ đã không bao giờ trở về nhà. Những người không trở về đã kể lại câu chuyện của họ trong hơn 20 năm. Nhưng giờ đây, câu chuyện của họ cuối cùng cũng có thể được kể lại, và nó xứng đáng được ghi nhớ.


Mấy người này được xem là Kinh Kha đi vào chỗ chết, chắc bị giết hết khi đụng trận. Có thể bị bắt nhưng chắc không khai vì nếu có thì Hà Nội đã sử dụng họ để tuyên truyền. Để mình tìm tài liệu của Hà Nội về vụ này . Nếu ai có thì cho em xin. Mình gú gồ nhưng chỉ có đánh Trường Sa gì đó thôi.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

người Tình Cindy

 Mordechai Vanunu và người Tình Cindy


Nhớ dạo mình làm việc ở Luân Đôn, có lần thiên hạ bàn tán về một ông người do thái bán tin tức cho một tờ báo Times, nói là do Thái có vũ khí nguyên tử rồi sau đó ông ta biệt tăm. Nay mình lò dò vào đọc tin tức của Do Thái thì khám phá ra ông ta bị bắt và dẫn độ về độ Thái và bị lên án 18 năm. Hình như mình có xem một phim tài liệu nói về ông này cũng như cặp điệp viên pháp, giả làm vợ chồng qua xứ  Tân Tây Lang đặt mìn tàu của hội Greenpeace nhưng không thành và bị bắt. Năm ngoái đến xứ Tân Tây Lan mình có bò lại bến tàu nơi cặp tây đầm điệp viên tây bị bắt.


Mordechai Vanunu sinh năm 1954 tại Marrakech, Morocco, trong một gia đình Do Thái có 11 người con. Năm 1963, gia đình ông di dân đến Israel và định cư tại Beersheba, miền nam đất nước. Thời đó ở Algeria xứ bên cạnh đuổi cổ dân Tây dân gốc do thái ra khỏi nước họ nên có lẻ vì vậy mà gia đình ông này và các người Do Thái dọn về Do Thái cho lành. Mình nghe nói là ở maroc trước kia các người đạo hồi, công giáo và do thái sống yên vui với nhau dưới thời tây cai trị nhưng khi mấy xứ này bắt đầu dành độc lập thì không còn anh em với nhau nữa. Đánh nhau chí choé. 


Giống như mọi công dân Israel, ông hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Sau đó, ông học triết học và địa lý tại Ben-Gurion University. Chính tại đây, ông bắt đầu đặt ra những câu hỏi lớn về chính phủ, công lý và đạo đức.


Năm 1976, ông làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Negev, gần Dimona, một cơ sở lớn giữa sa mạc. Israel luôn tuyên bố đây là cơ sở nghiên cứu hòa bình và chưa bao giờ chính thức xác nhận hay phủ nhận việc sở hữu vũ khí hạt nhân.


Trong 9 năm làm kỹ thuật viên hạt nhân, ông Vanunu vận hành hệ thống xử lý plutonium nằm sâu dưới lòng đất, sau nhiều lớp cửa an ninh. Ông tận mắt chứng kiến: Israel đang sản xuất vũ khí hạt nhân. Không phải vài quả mà có thể hàng chục, thậm chí hàng trăm. Hoàn toàn bí mật với thế giới, kể cả Liên Hiệp Quốc.


Dần dần, suy nghĩ của ông thay đổi, mầm mống phản động khơi mào. Ông tham gia các hoạt động chính trị cánh tả, quan tâm đến quyền của người Palestine. Năm 1985, hợp đồng của ông không được gia hạn. Chán Mớ Đời ông ta muốn biến đau thương thành hành động cách mạng. Ông ta đột phá tư duy, ông làm một việc thay đổi cả cuộc đời mình: Mang máy ảnh vào khu vực cấm, Chụp khoảng 60 bức ảnh chi tiết về cơ sở hạt nhân.


Năm 1986, ông rời Israel, đi qua châu Á rồi đến Úc. Tại Sydney, ông cải đạo sang Thiên Chúa giáo. Nói như người thiên chúa giáo là trở về đạo. Ông ta đã lầm đường lạc lối nên nay muốn cách mạng khoan hồng nên  Ông tin rằng mình có nghĩa vụ đạo đức phải nói ra sự thật. Ông liên hệ với tờ The Sunday Times ở London. Các chuyên gia độc lập xác nhận toàn bộ thông tin: Israel có chương trình vũ khí hạt nhân bí mật, Ước tính từ 100–200 đầu đạn


Khi bài báo sắp được công bố, ông ta được một số tiền nên vào bar ăn uống cho vui đời cô lựu thì choáng váng khi một giai nhân xuất hiện. Anh ta nghĩ ông bà nói quả không sai khi có tiền thì mấy cô gái dẫn xác đến nạp thân, lúc ông đói chả cô nào thèm nhìn mặt. Tin tưởng đã phát hiện ra mối tình hữu nghị sông liên sông núi liền núi. 


Cô gái đẹp nức nở là một nữ điệp viên tên “Cindy” (Cheryl Bentov) thua ông ta đến 14 tuổi, tiếp cận ông. Bên tai Cindy thỏ thẻ anh làm em ngưỡng mộ quá, ba má em có căn hộ ở la mã, hay cuối tuần này em nghĩ làm chúng mình bay qua La MÃ để cùng nhau viếng nhà thờ San Pedro. Ông ta nhất trí tưởng đến quỳ lạy chúa cho con lấy được Cindy, mời cô nàng đi ăn ở các tiệm sang trọng của La Mã và ăn gelato ở Trastevere. Thế là ông ta bị dụ sang Rome. Vừa chạy taxi từ phi trường về nhà chưa đầy 5 phút, ông ta chưa kịp đè Cindy xuống giường thì có tiếng gõ cửa. Cindy ra mở và các bác Mossad bước vào đè đầu ông ta và đánh thuốc mê trong giấc mơ bên cạnh em Cindy thơm như múi mít. Ngày 30/9/1986, ông bị đánh thuốc mê, bắt cóc và đưa bí mật về Israel.


Ngày 5/10/1986, bài báo vẫn được đăng. Cả thế giới biết sự thật. Ông  Vanunu bị xét xử bí mật, kết án phản quốc và gián điệp. Năm 1988, ông bị tuyên 18 năm tù. 11 năm trong phòng biệt giam, Một căn phòng 2m x 3m, Không giao tiếp, không con người, chỉ có im lặng nhưng ông không bao giờ hối hận. Chắc con cháu của Trương Bất Hối. Năm 1998, ông được chuyển ra khỏi biệt giam. Amnesty International gọi ông là “tù nhân lương tâm”. Ông được đề cử Nobel Hòa bình 17 lần nhưng chưa từng được trao. Vì DO Thái Lobby rất kiến hiệu ở Na Uy.


Ngày 21/4/2004, ông được trả tự do sau 18 năm. Nhưng… ông vẫn không thật sự tự do. Không được rời Israel. Không được nói chuyện với báo chí nước ngoài. Bị giám sát liên tục. Ông nhiều lần bị bắt lại chỉ vì nói chuyện với phóng viên. Năm 2007, ông bị kết án thêm 6 tháng tù vì… nói rằng ông muốn rời khỏi đất nước. Họ hỏi ông ta đi đâu, chắc là muốn sang đầu quân cho Ba Tư. Ông xin tị nạn ở Na Uy, Mỹ và nhiều nơi khác đều bị từ chối. Chán Mớ Đời 


Israel nói ông vẫn còn “bí mật trong đầu”. Một người rời khỏi cơ sở hạt nhân từ 40 năm trước… vẫn bị coi là nguy hiểm. Ông Vanunu nói:“Tôi không hối hận. Thế giới cần biết sự thật.” Xem như thành phần ngoan cố, không bao giờ cải tạo được.


Một người bình thường.

Một công việc ổn định.

Một cuộc sống có thể yên ổn.


Nhưng ông đã chọn nói ra sự thật. Đổi lại: 18 năm tù, 11 năm biệt giam và hàng chục năm bị hạn chế tự do. 


Có những người nói ra sự thật và được trao huy chương. Có những người nói ra sự thật… và sống 11 năm trong một căn phòng nhỏ hơn phòng tắm. Và Mordechai Vanunu đã nói ra sự thật. Và phải trả một giá quá đắt. Ông cụ mình cũng phải trả giá nói lên sự thật và bị bắt nhốt 15 năm cải tạo. Chán Mớ Đời 


Mình nghĩ chắc lúc đó ông ta chưa có vợ con, chớ một khi có vợ con thì họ sống hèn lại, để có thể đi làm để nuôi vợ nuôi con. Còn nói lên sự thật thì vợ con phải gánh chịu hậu quả. Mình làm mình chịu nhưng nếu ông ta có gia đình thì có lẻ không xẩy ra vấn đề này. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 

Hành quyết tại Đà Nẵng

Lâu rồi mình có xem một tấm ảnh trên trang của cựu chiến binh mỹ tại Việt Nam một bức hình hành quyết một Việt Cộng đánh bom ở Đà NẴng nhưng tấm hình quá mờ. Hôm nay tình cờ được xem mấy tấm ảnh đã được họ phục chế nên tải lại, của nhiếp ảnh gia Eddie Adams. Người nổi tiếng với tấm ảnh chụp cảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan hành quyết một tên Việt Cộng mới sát hại nguyên một gia đình sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, gia đình chết hết ngoại trừ một người con trai, sau này làm tướng của hải quân Hoa Kỳ.

Khi xưa ở Đà Lạt mình có thấy họ dựng một bức tường cát gọi là pháp trường để hành quyết ngay khu Hoà Bình, phía bên nhà hàng La Tulipe rouge, chỗ mấy kiosk bán hoa lan và đồ lưu niệm. Ai còn nhớ vụ này vì dạo ấy em còn bé lắm mấy bác. Chỉ nhớ như vậy nhưng không biết ở Đà Lạt có bắn ai hay không. Dạo đó có vụ ở Sàigòn bắn ông Tạ Vinh ở Sàigòn về tội đầu cơ tích trữ. Nghe vợ ông Kỳ kể là họ đem mấy triệu đến cho ông Kỳ nhưng ông ta chê.

Nghe nói ông Việt Cộng đánh bom tên là Lê Độ
Mình nhớ mại mại ở khu Hoà Bình Đà Lạt có một bức tường bao cát kiểu như vậy
Họ đưa ông ta ra sân vận động Chi Lăng, Đà Nẵng, nghe nói có 2000 khán giả. Kinh
Không biết ông Lê Độ này có hô to Bác Hồ Muôn Năm như ông Nguyễn Văn Trỗi. Mình khám phá ra ông Trỗi này là chú họ một anh bạn quen ở làng Thanh Quýt. Chỉ khác nhau là trong họ người theo Việt Cộng, người chống cộng. Anh ta chưa bao giờ về lại Việt Nam từ năm 1972, năm ngoái mình chạy vào làng Thanh Quýt chụp tấm ảnh gửi cho anh ta để nhớ lại một thời ở đây, anh này là nhạc sĩ của bản nhạc “khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển”
Bắn xong thì toán hành quyết quay đi
Có tấm ván để khiên cái xác ông Lê Độ đi. Và tấm ra để phủ.để quăng lên xe GMC đi chôn

Bác nào có thêm tin tức vụ này thì cho em xin. Em chỉ biết ngày 4/4/1965, ông Lê Độ được lệnh đánh bom khách sạn Grand ở Đà Nẵng nơi lính mỹ cư ngụ, 11 ngày sau khi được thẩm vấn là cho ra pháp trường. Xem như hôm nay là ngày giỗ thứ 61 của ông Đậu vì bị bắn chết ngày 15/4/1965. Chắc gia đình chắc không ai nhớ hay chết hết rồi. Vì khi ông ta bị bắn là 24 tuổi, chắc chưa vợ chưa con.
Hình trên cho thấy cái radio mà ông Lê Dậu nhét mìn bên trong để đem vào khách sạn nơi bính sĩ mỹ cư ngụ, khuôn mặt chắc bị đánh sưng mặt hết

Mò trên báo Hà Nội thì được biết như sau: “  Vào lúc 15h00 ngày 4 tháng 4 năm 1965, Lê Độ bị phát hiện và bị bắt trong lúc đặt mìn tại Grand Hotel (nay là Khách sạn Bạch Đằng), thành phố Đà Nẵng, nhằm tiêu diệt các sĩ quan và nhân viên Hoa kỳ ở tại khách sạn, . Chỉ hơn 10 ngày sau, ngày 15 tháng 4 năm 1965, Lê Độ được đưa ra xử bắn công khai tại sân vận động Chi Lăng. 


Lê Độ tên thật là Lê Dậu sinh năm 1941, tại Mỹ Thị, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Các anh em trong gia đình của Lê Độ đều tham gia hoạt động cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và đều được nhà nước Việt Nam công nhận là liệt sĩ.

Sau khi bị tử hình ngày 15 tháng 4 năm 1965. Ngày 20 tháng 5 năm 1965, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng ông Huân chương Thành Đồng hạng II. Năm 1997, Lê Độ đã được Nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Hiện nay, tại thành phố Đà Nẵng có trường trung học cơ sở mang tên Lê Độ và một con đường mang tên Lê Độ tại quận Thanh Khê.

Mình mò thêm tin tức trong Nghiên Cứu Lịch sử thì có thêm vài tấm ảnh nên tải lên đây.




Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

"Mỗi bộ lạc một lần" (One Tribe at a Time)

 Chiến lược: "Mỗi lần một bộ lạc" (One Tribe at a Time) 


Đánh bom Ba Tư có mấy ngày mà bộ trưởng bộ chiến tranh Hoa Kỳ đã giải chức tổng tham mưu trưởng quân lực Hoa Kỳ nên mình hơi ngạc nhiên nên tìm tài liệu đọc thì nghe nói có cô binh sĩ nào bị sách nhiễu tình dục mà tổng tư lệnh cho qua đi. Hình như họ đang làm cỏ sạch các sĩ quan cấp cao mà dính dáng được đề cử qua chính sách DEI.

Thiếu tá Jim Gant


Dưới thời Bác Biden, Hoa Kỳ rút khỏi Á phủ Hãn, bỏ lại đồng minh cho Taliban, ai hên thì còn leo lên máy bay hay vượt biên giới bằng đường bộ còn không thì Taliban xơi tái. Hoa Kỳ bỏ của chạy lấy người như ngày 30/4/75 tại Sàigòn khi xưa. Tình cờ mình đọc được một câu chuyện kể về một ông lính thuộc lực lượng đặc biệt đã ăn ở với người địa phương để thu phục tình bạn, và sự tin tưởng của người dân địa phương để chống lại Taliban.


Câu chuyện này hoàn toàn là có thật, đã phản ánh rất chính xác về sự nghiệp đầy thăng trầm của Thiếu tá Jim Gant, thuộc lực lượng đặc biệt của Hoa Kỳ. Ông này đóng quân ở Iraq và Á Phú Hãn suốt 50 tháng, bị thương 7 lần, được trao tặng huy chương Silver Star. Đây vẫn là một trong những chương gây tranh cãi nhất của cuộc chiến tại Afghanistan, vừa là một bài học mẫu mực về chiến tranh bất đối xứng, vừa là một câu chuyện cảnh báo về sự xung đột giữa "văn hóa chiến binh" và bộ máy hành chính quân đội.



Dưới đây là chi tiết các sự thật đằng sau huyền thoại này:


Năm 2009, ông Jim Gant đã xuất bản một cuốn tài liệu dài 45 trang mang tên One Tribe at a Time. Luận điểm cốt lõi của ông là: Chính phủ trung ương Afghanistan chỉ là một khái niệm xa vời đối với người dân nông thôn. Để đánh bại Taliban, Mỹ cần ngừng việc "ghé thăm" như đi kinh lý các ngôi làng và phải bắt đầu sống cùng họ.


• Bản thiết kế: Ông lập luận rằng các nhóm đặc nhiệm nhỏ nên cắm chốt vĩnh viễn tại các bộ lạc, tôn trọng bộ luật danh dự "Pashtunwali" của người bản địa.

• Sự công nhận: Tài liệu này có ảnh hưởng lớn đến mức Đại tướng David Petraeus đã đọc nó, và người ta báo cáo rằng nó thậm chí đã được tìm thấy trong nơi ẩn náu của Osama bin Laden, thủ lĩnh Al-Qaeda được cho là đã coi chiến lược của Gant là một mối đe dọa nghiêm trọng.


Thiếu tá Gant được đưa trở lại Afghanistan để chứng minh lý thuyết của mình. Ông đã cắm chốt cùng bộ lạc Mohmand tại tỉnh Konar đầy bạo lực. Người ta gọi ông ta là "Lawrence của Afghanistan": Ông để râu dài, mặc trang phục địa phương và được tộc trưởng Malik Sittar nhận làm "con nuôi". Dưới sự dẫn dắt của ông, các chiến binh địa phương (Cảnh sát Địa phương Afghanistan hay "Arbakai") đã trở thành một lá chắn hiệu quả chống lại Taliban, bảo vệ các tuyến đường và thung lũng mà quân đội chính quy không thể kiểm soát. Khi xưa, có một ông sĩ quan người Anh quốc tên Lawrence mà họ hay gọi Lawrence of Arabia vì ông ta ăn ngủ với người ả rập, nói tiếng ả rập mà đạo diễn David Lean có làm một cuốn phim về ông này rất đẹp.


Chính những đặc điểm giúp Gant hòa nhập vào xã hội bộ lạc, sự thờ ơ với cấu trúc quân đội chính thống và thái độ "làm bất cứ giá nào để đạt mục tiêu" đã dẫn đến sự kết thúc sự nghiệp của ông.

Thiếu tá Gant cuối cùng bị hạ bệ vì "hành vi không chuẩn mực". Ông đã để người vợ sắp cưới của mình, nhà báo Ann Scott Tyson, sống cùng tại tiền đồn chiến đấu một cách bất hợp pháp trong gần một năm. Ông cũng bị kỷ luật vì sử dụng thuốc kê đơn và rượu trái phép trong vùng chiến sự. Cũng lạ vì dân hồi giáo đâu có uống rượu.

Một thuyền nhân gốc việt đã tham gia lực lượng đặc biệt và đã hy sinh cho tổ quốc thứ 2.


Năm 2012, ông bị tước phù hiệu Đặc nhiệm (Special Forces tab), giáng chức xuống Đại úy và bị buộc giải ngũ.


Câu chuyện của thiếu tá Gant làm nổi bật một sự căng thẳng căn bản trong chiến tranh hiện đại: Liệu một hệ thống quân đội cứng nhắc, công nghiệp hóa có thể chấp nhận những "con sói đơn độc" đầy thiên tài nhưng cần thiết cho cuộc chiến chống nổi dậy ở cấp độ bộ lạc hay không? Trong khi những lựa chọn cá nhân của thiếu tá Gant đã tạo cơ sở pháp lý để quân đội loại bỏ ông, nhiều đồng đội của ông lập luận rằng "hệ thống" đơn giản là đang tìm lý do để tống khứ một người đã làm họ khó chịu khi chứng minh rằng các phương pháp chính quy của họ là sai lầm.


"Ông ấy đã thắng trên chiến trường, nhưng mất tất cả những thứ khác. Đó có lẽ là lời tổng kết trung thực nhất về sự nghiệp của ông. Ông đã chứng minh rằng việc hòa nhập sâu vào văn hóa có thể thu phục được một ngôi làng, nhưng ông đã quên rằng mình vẫn phải báo cáo với một sở chỉ huy cách xa hàng trăm dặm.

Đọc vụ này khiến mình nhớ đến ông Yves Gignac, cựu chủ tịch hội cựu chiến binh Đông-Dương. Ông ta có kể là khi đi hành quân, sống với mấy người thượng, uống rượu cần, ăn chung với họ, nhiều khi nuốt không nổi nhưng phải nuốt. 


Thiếu tá Gant không chỉ đến để huấn luyện; ông thực sự đã gia nhập bộ lạc. Ông Gant gọi tộc trưởng Malik Noorafzhal là "Sitting Bull" (tên một vị tù trưởng huyền thoại của người da đỏ). Hai người đã hình thành một mối quan hệ cha-con tinh thần sâu sắc. Malik đã tặng Gant một chiếc nhẫn bạc và thề rằng bộ lạc sẽ bảo vệ ông đến giọt máu cuối cùng. Ông Gant xăm các chữ tiếng Pashto lên cổ tay, đeo chuỗi hạt cầu nguyện của người Hồi giáo và cưỡi ngựa đi tuần tra thay vì dùng xe bọc thép. Ông yêu cầu binh lính của mình cởi bỏ áo giáp chống đạn khi ngồi uống trà với dân làng để thể hiện sự tin tưởng tuyệt đối, một hành động bị các chỉ huy cấp cao coi là "liều mạng vô ích".


Sự hiệu quả của Gant lớn đến mức ông trở thành mục tiêu số 1 của kẻ thù: sau khi tiêu diệt trùm khủng báng, lực lượng Mỹ tìm thấy các tài liệu trong khu nhà ở Abbottabad. Trong đó, Osama bin Laden đã nhắc đích danh Jim Gant và yêu cầu các tay súng Al-Qaeda phải loại bỏ ông bằng mọi giá, vì chiến lược "thu phục lòng dân" của ông nguy hiểm hơn bất kỳ quả bom nào. Taliban gọi ông là "Quỷ dữ vùng Konar" vì khả năng xuất hiện bất ngờ và sự hiểu biết tường tận về địa hình như một người bản địa.


Đây là chi tiết gây sốc nhất dẫn đến việc ông bị cách chức:


Yêu trong vùng chiến sự: Ann Scott Tyson là một phóng viên chiến trường từng được đề cử giải Pulitzer. Cô đã từ bỏ sự nghiệp tại tờ The Washington Post để theo Gant vào rừng sâu Afghanistan.  

Sống bất hợp pháp: Cô sống cùng Gant tại tiền đồn hẻo lánh trong gần một năm, cải trang thành phụ nữ Afghanistan với trang phục che kín mặt (burqa) mỗi khi có các đợt kiểm tra của cấp trên. Cô thậm chí còn tham gia vào các cuộc đấu súng khi tiền đồn bị tấn công.

Cuốn sách "American Spartan": Sau khi Gant giải ngũ, cô đã viết cuốn sách này để kể lại toàn bộ sự thật, minh oan cho chồng mình và chỉ trích sự cứng nhắc của quân đội Mỹ.


Năm 2012, một cấp dưới đã báo cáo về những sai phạm của Gant. Cuộc điều tra của quân đội Mỹ (do Trung tướng Charles Cleveland dẫn đầu) đã kết luận:

• "Điên rồ": Họ mô tả Gant giống như nhân vật Đại tá Kurtz trong phim Apocalypse Now, một người lính tài năng nhưng đã "phát điên" và tự coi mình là vua của một vùng đất không luật pháp.  

• Sai phạm: Ngoài việc che giấu vợ sắp cưới, Gant còn bị cáo buộc uống rượu (loại bị cấm trong quân đội Mỹ tại vùng chiến sự) và sử dụng thuốc giảm đau quá liều do những chấn thương từ các trận đánh trước đó.

• Hình phạt: Ông bị giáng chức từ Thiếu tá xuống Đại úy, bị tước phù hiệu Special Forces (Green Beret) và buộc phải nghỉ hưu trong sự tủi hổ.


Sau khi ông Gant đi, chiến lược của ông không hoàn toàn biến mất mà được quân đội Mỹ "thể chế hóa" thành chương trình VSO (Village Stability Operations). Tuy nhiên, nhiều người cho rằng chương trình này thất bại vì nó quá máy móc, thiếu đi "linh hồn" và sự gắn kết cá nhân thực sự mà Gant đã làm được.  

Jim Gant là một chiến binh vĩ đại nhưng là một sĩ quan tồi (xét theo tiêu chuẩn kỷ luật). Ông đã chứng minh được cách để thắng một cuộc chiến tranh nhân dân, nhưng cái giá phải trả là phá vỡ mọi quy tắc của một quân đội hiện đại.


Vấn đề là chiến lược của thiếu tá này quá lâu vì muốn thu phục các bộ lạc cần nhiều thời gian mà người Mỹ thì làm cái gì cũng muốn nhanh chóng. Lại nghe nói bà bộ trưởng của Úc Đại Lợi đã ra lệnh tống giam ông lính úc nào có nhiều huy chương, lực lượng đặc biệt. Làm vậy thì bố thằng nào dám đi lính và ra trận bắn giết kẻ thù vì sợ bị bỏ tù về tội giết người. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn