Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Nổi kinh hoàng của đạn tổ ong

 NỖI KINH HOÀNG của đạn Beehive 


Hồi nhỏ mình nghe mấy người lớn nói có đạn bắn bằng mũi tên, đạn chụp chi đó khiến mình như bò đội nón, cứ tưởng tượng nỏ thần An Dương Vương với mối tình hữu nghị Trọng Thuỷ Mỹ Châu. Vào mấy trang nhà của cựu lính Mỹ tại Việt Nam thì khám phá ra là có thật. Họ gọi là Đạn tổ ong (beehive round).

Họ cho biết trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Bắc Việt (NVA) khiếp sợ chúng. Có nhiều người kể là khi xưa nhờ mấy loại đạn này mà sống sót khi bị bộ đội bao vây và súng cà nông chỉa lên trời không ăn thua gì vì địch đã ở ngay hàng rào và đang cắt dây kẽm gai để chui vào. Loại đạn này bắn chụp trên không khiến hàng ngàn phi tiêu bay xuống. Có người kể quan cảnh rùng rợn khi Việt Cộng rút lui, nhiều người bên bộ đội bị phi tiêu cắm vào người như hamburger. Kinh hoàng. 


Mình thấy hình chụp mấy căn cứ của lực lượng đặc biệt mỹ ở gần biên giới như Ben Het, đều có phi đạo và súng cà nông để bắn xa xa khi khám phá ra các đoàn bộ đội di chuyển cách đó mấy dặm sơn khê. Vấn đề là khi cộng quân tấn công căn cứ thì quá gần để bắn đại bác trong khi cộng quân có thể sử dụng súng cối nhỏ để bắn vào căn cứ. Thế là họ đột phá tư duy nghĩ ra cách bắn đạn chụp từ súng đại bác, đã được chỉa lên trời. Nhưng tay đầu đạn bằng đạn tổ ong.

Đầu đạn tổ ong


Họ cho biết là năm 1957, Quân đội Hoa Kỳ ký hợp đồng phát triển vũ khí cho Tập đoàn Whirlpool, một công ty sản xuất máy giặt, ngày nay vẫn còn hiện hữu. Các kỹ sư của công ty máy giặt Whirlpool tại Picatinny Arsenal được giao nhiệm vụ giải quyết một vấn đề mà pháo binh Hoa Kỳ đã gặp phải từ thời Nội chiến, nghĩa là rất xa xưa.


Làm thế nào để chặn đứng một đợt tấn công bộ binh ồ ạt khi chúng đã áp sát trận địa pháo? Câu trả lời của họ là một quả đạn pháo 105 mm chứa 8.000 mũi tên thép ổn định bằng cánh. Mỗi mũi tên có kích thước gần bằng một chiếc đinh, có bốn cánh nhỏ, giúp nó bay mũi nhọn về phía trước như một mũi tên tí hon. Hình như tiếng Việt gọi là phi tiêu. Khi ngòi nổ cơ học theo thời gian của quả đạn kích hoạt, có thể được cài để nổ ngay khi rời nòng, lớp vỏ nhôm vỡ tung và 8.000 mũi flechette phun ra phía trước thành một hình nón phẳng đang mở rộng với tốc độ khoảng 1.500 feet mỗi giây. Độ 400 mét cho mỗi giây. Quá nhanh để trốn. Chỉ một lần giật dây cò đã biến pháo dã chiến thành một khẩu shotgun.


Không phải ẩn dụ mà là shotgun theo nghĩa đen. Không phải bắn 9 viên như đạn 12 gauge, mà là 8.000 mũi thép trong một phát, có thể bao phủ mặt trước rộng 30 mét ở khoảng cách 100 mét. Họ gọi nó là đạn “tổ ong” (beehive).


Và lần đầu tiên nó được sử dụng trong chiến đấu tại một căn cứ hỏa lực tên LZ Bird vào đêm 27 tháng 12 năm 1966, nó đã quét qua ba tiểu đoàn bộ binh Bắc Việt và góp phần gây ra hơn 250 thương vong tử trận phía đối phương. Dễ sợ. Không biết một tiểu đoàn Việt Cộng là bao nhiêu, nghe nói từ 300-500 người. Vậy xem như có 900-1,500 bộ đội ở trận đánh này và có đến 250 bị chết. Kinh


Đó mới chỉ là phần mở đầu. Nhưng khoảnh khắc chứng minh bản chất thật sự của loại vũ khí này, trận đánh khiến pháo thủ hoàn toàn tin tưởng và buộc bộ đội bác Hồ phải thay đổi cách tác chiến trong suốt phần còn lại của cuộc chiến diễn ra ba tháng sau tại một căn cứ hỏa lực tên Suối Tre.

Có ông mỹ tải tấm ảnh này nói là nhờ đầu đạn tổ ong đã cứu đại đội của ông thoát chết

Nhưng trước tiên, cần hiểu vấn đề mà đạn beehive được tạo ra để giải quyết vì nếu không có bối cảnh đó, các con số chỉ khiến chúng ta bá vơ. Đây là thực tế chiến thuật của một căn cứ hỏa lực ở Việt Nam lúc 3 giờ sáng. Một pháo thủ bên trong vòng phòng thủ, bao cát, dây thép gai concertina, mìn Claymore, pháo sáng bẫy. Hình như loại này được gắn cài ở ngoài rào. Việt Cộng chui đến đụng thì pháo nổ sáng lên để mấy người canh gác nhắm vào chỗ đó để bắn.


Khẩu pháo trong trại, căn cứ đang hướng ra ngoài với góc cao để yểm trợ hỏa lực gián tiếp cho các đơn vị bộ binh hoạt động cách đó hàng dặm. Đó là nhiệm vụ bình thường của pháo thủ. Bắn đạn qua các ngọn đồi tới các tọa độ được báo về qua radio bởi đề lô. Rồi vòng phòng thủ bị tấn công, Đặc công của bộ đội đã cắt hàng rào. Đạn cối rơi dồn dập vào vị trí của các pháo thủ. Và giữa khói, ánh pháo hỏa châu và tiếng ồn, lính trong căn cứ có thể thấy hoặc chỉ cảm nhận cho rằng có hàng trăm người đang tiến về phía bạn qua khoảng đất trống. Mình nghe kể là Việt Cộng hay dùng chiến thuật Biển Người của Mao Trạch Đông, thổi kèn in ỏi, la hét “hàng sống chống chết” chi đó khi tấn công vào đồn. Nghe âm thanh này cũng đủ sợ, vái tứ phương.


Biệt động Việt Cộng đã vào trong phạm vi 300 mét. Họ đang áp sát rất nhanh. Khẩu pháo trong căn cứ lúc này gần như vô dụng. Nó đang chĩa lên trời. Đạn nổ mạnh được thiết kế để bay vòng cung qua địa hình và phát nổ khi chạm đất hoặc trên không. Chúng phát tán mảnh văng theo mọi hướng, rất hiệu quả ở khoảng cách xa, nhưng cực kỳ thiếu chính xác ở cự ly gần.


Ở 100 mét, một quả đạn pháo có thể bay quá mục tiêu, nổ phía sau kẻ tấn công, hoặc tệ hơn, rơi trúng chính quân mình. Súng máy đang bắn. Mìn Claymore phát nổ nhưng làn sóng tấn công vẫn tiếp tục tiến lên vì bộ đội NVA hiểu rõ bài toán. 


27 người Mỹ đã thiệt mạng so với 250 bộ đội. Thiếu tướng David Ott, Tư lệnh Pháo binh Dã chiến của Lục quân, sau này viết rằng LZ Bird đã chứng minh đạn “beehive” là một vũ khí cực kỳ quan trọng cho toàn bộ chương trình phòng thủ căn cứ hỏa lực.


Từ đêm đó trở đi, mọi căn cứ hỏa lực mỹ tại Việt Nam đều bố trí sẵn đạn beehive với các khu vực bắn được chỉ định. Loại vũ khí từng chỉ là một khái niệm lý thuyết giờ đã trở thành học thuyết tiêu chuẩn.


Nhưng LZ Bird là hỗn loạn. Đạn beehive được bắn trong tuyệt vọng vào một vị trí đã bị tràn ngập, như biện pháp cuối cùng. Câu hỏi mà chưa ai trả lời lúc đó là: điều gì xảy ra khi sử dụng nó một cách có chủ đích, như một phần của hệ thống phòng thủ được lên kế hoạch, trước khi đối phương chạm đến hàng rào? Ba tháng sau, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đưa ra câu trả lời tại căn cứ hỏa lực Suối Tre, Tỉnh Tây Ninh.


Ngày 21 tháng 3 năm 1967 vào rạng bình minh. Hai tiểu đoàn Việt Cộng thuộc Trung đoàn 272 tấn công căn cứ do Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh 22, Sư đoàn 25 trấn giữ. Cuộc tấn công đến từ phía đông và đông nam. Bộ binh Việt Cộng đông đảo tiến qua bìa rừng về phía chu vi phòng thủ. Lần này, việc phòng thủ không còn là ứng biến như LZ Bird. Chỉ huy đã lập kế hoạch sẵn các khu vực bắn đạn beehive. Khi làn sóng tấn công tiến vào khu vực giao chiến, ông ra lệnh. Trước tiên, ông yêu cầu các chỉ huy đại đội bộ binh cho binh sĩ vào vị trí ẩn nấp. Sau đó, ông ra lệnh cho các khẩu pháo 105 mm nạp đạn APERS và bắn về phía đông và đông nam. Các khẩu pháo khai hỏa.


40 quả đạn beehive trong một trận đánh, số lượng đạn M546 được sử dụng nhiều nhất trong bất kỳ trận nào tính đến thời điểm đó. 320,000 phi tiêu được bắn ra. Báo cáo sau trận mô tả kết quả trong một câu. Những khoảng trống lớn đã bị xé toạc trong đội hình tấn công, không phải bị thương, không phải bị chế áp mà là những khoảng trống. Toàn bộ các phân đoạn của đội hình xung phong đã biến mất. Cuộc tấn công của Việt Cộng bị phá vỡ. Bộ binh chuyển sang phản công, truy đuổi những bộ đội sống sót trở lại bìa rừng. Khi trận chiến kết thúc, số thi thể được đếm là 299 bộ đội tử trận. 31 người Mỹ thiệt mạng. Tỷ lệ gần 10:1.


Và báo cáo sau trận ghi nhận một điều đã thay đổi vĩnh viễn cách Lục quân nhìn nhận phòng thủ căn cứ hỏa lực. Đạn beehive cực kỳ hiệu quả trong việc chặn đứng bộ binh địch đang xung phong. Đó là một đánh giá tác chiến, được viết bởi những sĩ quan vừa chứng kiến 8.000 mũi thép trong mỗi quả đạn xé nát một cuộc tấn công cấp tiểu đoàn trong 100 mét cuối cùng của hướng giao tranh.


Trước LZ Bird và Suối Tre, học thuyết tấn công chính của bộ đội là bộ binh tập trung lực lượng. Đánh vào chu vi tại một điểm. Áp đảo bằng số lượng của biển người, chấp nhận thương vong tạo khí thế tấn công. Sau năm 1967, học thuyết đó thay đổi. Các nhà phân tích tình báo Mỹ ghi nhận rằng các đơn vị Việt Cộng bắt đầu điều chỉnh chiến thuật tấn công để đối phó với hỏa lực bảo vệ cuối cùng, trong đó có đạn beehive.


Tại Xa Cát tháng 10 năm 1967, các tiểu đoàn bộ đội tấn công bằng cách bò, giữ tư thế nằm để giảm mức độ phơi bày trước quỹ đạo thấp của chùm flechette. Họ áp dụng chiến thuật “bám sát”, bám lại gần binh sĩ mỹ trong khoảng 20–30 mét trước khi khai hỏa, lực lượng phòng thủ không thể bắn beehive mà không gây nguy hiểm cho chính quân mình. Họ chuyển từ các làn sóng biển người đông đảo sang các mũi đột nhập do đặc công dẫn đầu, những nhóm nhỏ chuyên cắt hàng rào và phá hầm thay vì cả đại đội xông qua địa hình trống.


Đến năm 1969, quân đội Mỹ tiếp tục hoàn thiện khái niệm phòng thủ căn cứ. Căn cứ hỏa lực Crook, tháng 6 năm 1969, đại diện cho việc áp dụng hoàn chỉnh học thuyết beehive. Radar giám sát mặt đất và cảm biến địa chấn phát hiện lực lượng bộ đội đang tập trung ở bìa rừng trước khi cuộc tấn công bắt đầu. Pháo binh bắn đạn beehive vào các tọa độ đã được ghi nhận sẵn dựa trên dữ liệu cảm biến, không phải như biện pháp cuối cùng, mà là đòn đánh mở đầu.


Trong hai đêm giao tranh, 76 thi thể NVA được tìm thấy trong một khu vực. Tỷ lệ tiêu diệt tại khu vực đó gần 76:1. Đạn beehive đã tiến hóa từ một biện pháp tuyệt vọng thành một vũ khí được tính toán. Không còn bắn trong hoảng loạn khi đối phương đã vào trong hàng rào, mà được dẫn hướng bằng radar vào các đội hình vẫn còn đang tập họp trong rừng. Loại đạn được thiết kế để chặn một cuộc tấn công đang diễn ra giờ đây ngăn chặn chúng trước khi bắt đầu.


Khi chiến tranh tiếp diễn, nhiều đơn vị pháo binh ngày càng dựa vào thứ họ gọi là “Killer Junior” đạn nổ mạnh tiêu chuẩn với ngòi nổ thời gian cơ học, được cài đặt để phát nổ ở độ cao 10–30 mét, tạo ra vụ nổ trên không phát tán mảnh theo mọi hướng. Killer Junior bền vững hơn về hậu cần. Mỗi đội pháo binh mang theo hàng trăm quả đạn HE, nhưng chỉ có số lượng hạn chế đạn beehive. Họ thay đổi cách bắn, nổ trên không hoạt động 360°, trong khi chùm của beehive chỉ bao phủ khu vực phía trước nòng pháo.


Nhưng Killer Junior không thể làm điều mà beehive làm được tại hàng rào. Nó không thể lấp kín mặt trận 30 mét bằng 8.000 đầu đạn trong một lần bắn. Nó không thể biến 100 mét cuối cùng của hướng tiếp cận thành một bài toán không có lời giải đối với bộ binh đông đảo tiến trên địa hình trống.


Ở những khoảng cách mà phòng thủ căn cứ là vấn đề sống còn, nơi người lính có thể nhìn thấy những người đang cố giết họ. Không có gì trong kho vũ khí Mỹ sánh được với những gì M546 mang lại. Đạn beehive không thắng cuộc chiến Việt Nam. Không có vũ khí đơn lẻ nào làm được điều đó. Nhưng nó đã thay đổi điều kiện của trận chiến tại điểm duy nhất mà Việt Cộng luôn có lợi thế: đòn tấn công cuối cùng.


Trước beehive, chạm đến hàng rào là cái giá thương vong có thể chấp nhận. Sau beehive, chạm đến hàng rào là án tử cho bất kỳ ai còn đứng thẳng. Bộ đội là những người lính chuyên nghiệp, thích nghi với mọi loại vũ khí mới mà Mỹ. Họ cũng thích nghi với beehive bằng cách bò, bằng cách bám sát, bằng cách sử dụng đặc công thay vì cả tiểu đoàn.


Những pháo thủ đã bắn những loạt đạn đó tại LZ Bird, tại Suối Tre, tại Crook, và tại hàng chục căn cứ hỏa lực không bao giờ được ghi vào sách lịch sử, họ kể lại là nhớ âm thanh. Không phải tiếng nổ của khẩu pháo, mà là âm thanh sau đó.


8.000 mũi flechette xé gió ở tốc độ 1.500 feet mỗi giây tạo ra một âm thanh mà các cựu binh mô tả là tiếng rít, hay tiếng vo ve, hoặc thứ gì đó mà họ chưa bao giờ tìm được từ ngữ chính xác.


Có ông mỹ kể như sau về trận đánh ở Suối Tre:


l only know of only one time that a bee hive was used in combat. l meet a guy who came to our unit right before l transferred out. He was on a 155mm howitzer at the battle of Soui Tre. They were being over run when they fired l think one round. l remember him saying he heard it go off and then it was dead quiet. Ai buồn đời thì đọc hai đường dẫn dưới đây để hiểu rõ hơn. Mình thấy giết người quá kinh khủng.


https://en.wikipedia.org/wiki/Beehive_anti-personnel_round


https://grokipedia.com/page/Beehive_anti-personnel_round


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Quân đội bị lãng quên

 Quân đội bị bỏ quên


Khi đọc sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam từ người Mỹ hay Hà Nội viết thì tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến công lao và sự hy sinh trên 1 triệu người ở miền Nam. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc. Người Mỹ thì kêu các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà tham nhũng, bất tài trong khi Hà Nội chỉ kêu bọn nguỵ quân nguỵ quyền, tay sai đế quốc sài lang. Thật ra thì có vài ông tướng tham nhũng như ông Nguyễn Văn Toàn, khi làm tư lệnh quân khu II, đã cho đệ tử trao tiền cho Việt Cộng để người ông ta vào cưa cây đem bán cho ngoại quốc. Mình có kể vụ này rồi khi trinh sát 302 bắt gặp và bắn chết Việt Cộng và thiếu tá đưa tiền Việt Cộng khiến ông ta nổi điên đi trực thăng kiếm thiếu tá Phong ở ngoài mặt trận. Nếu con chúng ta đọc những tài liệu này hay được dạy ở trường thì chúng sẽ bị xấu hổ về cha ông của chúng. Ngày nay thì Hà Nội còn tham nhũng gấp vạn lần.

Khi mình sang Hoa Kỳ thì thấy đại học Hoa Kỳ tổ chức các buổi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Để diễn đàn thêm phần trung dung, họ mời đại diện Hà Nội, đại diện người Mỹ phản chiến và đại diện cộng đồng người Việt tỵ nạn. Vấn đề là cộng đồng người Việt không thống nhất đưa ai đi đại diện. Người muốn đi thì không rành anh ngữ, các sinh viên Việt Nam nói sẽ thông dịch rồi cuối cùng họ từ chối tham dự, chỉ kéo nhau lại biểu tình trước cổng đại học rồi ra về hồ hởi vì đã đi biểu tình chống cộng trong khi người Mỹ phản chiến và Hà Nội bên trong nói chuyện đưa ra quan điểm của họ cho thính giả mỹ. Nhiều người trong cộng đồng người Việt từng là sĩ quan cấp tá mà không hiểu cuộc chiến tranh tâm lý. Trình bày quan điểm tại sao Việt Nam Cộng Hoà thua và sự tàn ác của Việt Cộng. Cứ kêu bọn Việt Cộng không tin được, gian ác lắm. người Việt chúng ta nói chuyện theo cảm tính nhưng người Tây phương thì họ nói chuyện theo lý lẻ, phải giải thích lý do thì người mới tâm phục khẩu phục. Ngoài ra mình dám chắc nội tuyến của Hà Nội khắp nơi trong các hội đoàn người Việt. Tìm cách gây lũng đoạn.


Khi mình được sinh viên mời đi nói chuyện với người Mỹ tại đại học như NYU hay Brown,… Gặp phản chiến mỹ như ngày nay thế hệ xuống đường chống MAGA này nọ. Mình chỉ đưa ra vài điểm cho người Mỹ hiểu. Tại sao cả triệu người Việt bỏ nước ra đi bằng đường biển mà theo tin tức của cao uỷ tỵ nạn liên hiệp quốc cho biết chỉ 50% đến bờ còn lại chôn vùi trong biển sâu. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời Paris Match có 3 triệu tù nhân cải tạo. Đưa ra thí dụ của 3 anh em Nguyễn Tuệ, không được Hà Nội cho học, nay 3 anh em vượt biển, ai nấy đều có bằng tiến sĩ nhất là Nguyễn Tuệ có 7 cái bằng của đại học MIT. Không cần chửi bới đưa thí dụ để sinh viên mỹ hiểu vì chính họ đã thấy các sinh viên gốc việt kể là thuyền nhân. Tiếng tây tiếng u không rành nhưng cứ nói. Có lần bà giáo sư đại học NYU tranh cãi với mình, sau đó bắt tay mình kêu “good debate!”.


Dạo ấy mình hay ghé nhà ông Al Santoli, cựu chiến binh mỹ, có qua trại tỵ nạn giúp người Việt tỵ nạn và lấy vợ ở trại đem về mỹ. Chỉ có ông ta đơn độc nói về chiến tranh Việt Nam. Nên nhớ sau vụ Mỹ Lai, các cựu chiến binh mỹ về lại Hoa Kỳ hay bị người Mỹ lên án là những kẻ giết đàn bà con nít babykiller”. Nên ít cựu chiến binh xuất hiện, nay thì khác nhưng họ đều lớn tuổi.


Có ông mỹ viết cuốn sách Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, nói về quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ quên để dấy lên sự đóng góp của quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu cho tự do. Những cuốn sách này nên khuyến khích con cháu chúng ta đọc để chúng tự hào về Việt Nam Cộng Hoà, thay vì chỉ đọc sách mỹ hay của Hà Nội đều gieo tiếng ác, hạ nhục kẻ thua cuộc.

Cuốn sách của Andrew Wiest góp phần lấp đầy một khoảng trống lớn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Trong khi hàng nghìn cuốn sách đã được viết về cuộc chiến từ góc nhìn của người Mỹ và phía cộng sản Việt Nam, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) lại thường bị các sử gia phương Tây xem như đúng theo những gì tuyên truyền cộng sản mô tả một lực lượng “tay sai”, nguỵ quân kém cỏi, với những nỗ lực hầu như không ảnh hưởng đến kết cục của cuộc chiến. Rất ít sự chú ý được dành cho những trải nghiệm, đóng góp và lòng dũng cảm của các binh sĩ ARVN, những người đã chiến đấu suốt nhiều thập kỷ trong điều kiện khắc nghiệt và vì những lý do mà ít người Mỹ thực sự hiểu rõ.


Có nhiều người miền Nam đem tâm tình viết hồi ký nhưng đường như để đánh bóng cá nhân của họ nhiều hơn. Ít được dịch ra anh ngữ hay pháp ngữ,… khi xưa sống tại Đà Lạt đọc báo và nghe radio thì tin tức chiến sự đều phe ta vô sự, hạ sát mấy chục cộng quân, bắt tù binh này nọ,… chỉ khi ra hải ngoại đọc tin tức hai bên thì mới khám phá ra chiến dịch Lam Sơn 719 là thất bại, chết rất nhiều cả hai bên ở Quảng trị,…


Nhớ dạo ấy, đài Sàigòn nói nhiều về đại tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh tại Hạ Lào, sau này đọc hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải thì ông ta kể Hà Nội bắt sống ông đại tá này và cho rêu rao trên đài phát thanh Hà Nội. Nhạc sĩ Tô Hải có viết cuốn hồi ký thằng Hèn, nói chung ông ta bị Hà Nội đì mệt thở. Nhau công ta được chơi ở nhà hát Hà Nội nhưng ông ta không được tham dự vì chống lại Hà Nội.


Giáo sư Wiest kể lại câu chuyện đầy kịch tính về hai sĩ quan trẻ của Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ, những người có cuộc đời song hành nhưng cuối cùng cuộc chiến lại đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau khi đối mặt với quyết định khắc nghiệt nhất mà một người lính có thể gặp phải. Cả hai đều xuất thân từ những gia đình trung lưu có học thức, đều sinh ra tại cố đô Huế, và đều phục vụ suốt sự nghiệp quân sự của mình trong Sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam Cộng Hoà mà theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội miền Nam. 


Cả hai ông Đính và Huệ đều có thành tích chiến đấu xuất sắc. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong trận tái chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, nơi họ thể hiện năng lực vượt trội đến mức đều được trao tặng huân chương quân sự của Hoa Kỳ (Ngôi Sao Đồng và Ngôi Sao Bạc) vì lòng dũng cảm và thành tích trong trận chiến kéo dài và đẫm máu này. Giáo sư Wiest chỉ ra rằng vai trò quan trọng của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến này phần lớn đã bị các sử gia Mỹ bỏ qua. Hình như mất cả tháng mới chiếm lại hoàn toàn Huế.


Sau Tết Mậu Thân, khi cuộc chiến dần kết thúc đối với quân đội Mỹ nhưng lại trở nên ác liệt hơn đối với Việt Nam Cộng Hoà, cả hai người tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình và bất ngờ rơi vào những tình huống tuyệt vọng, nơi lựa chọn duy nhất là đầu hàng và chuyển sang phía đối phương, đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, bị bắt, bị giam cầm, hoặc cái chết. Trần Ngọc Huệ, chiến đấu tại Lào vào đầu năm 1971, đã đưa ra một lựa chọn, trong khi Phạm Văn Đính, với tư cách là một chỉ huy trung đoàn đối mặt với tình thế vô vọng trong cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh năm 1972, lại chọn một con đường khác. Giáo sư Wiest đã giải thích những yếu tố chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của mỗi người.


Với tư cách là một bức chân dung về hai cá nhân sống động và quan trọng, cuốn sách này đưa ra tình huống, và câu chuyện của họ phản ánh hình ảnh của nhiều sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm đã chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ở một tầng ý nghĩa khác, Giáo sư Wiest dựa vào quan điểm của hai sĩ quan này để đưa ra một số phê bình chung về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Xuyên suốt cuốn sách, Giáo sư Wiest lặp lại những chỉ trích của Đính và Huệ rằng vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960, quân đội Hoa Kỳ đã “ép buộc” ban lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng quân đội Việt Nam Cộng Hoà thành một “quân đội quy ước” thay vì như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hoà và ông Diệm được cho là mong muốn một lực lượng tập trung vào chống nổi dậy, du kích chiến. Giáo sư Wiest khẳng định đây là một sai lầm chiến lược căn bản. Ai buồn đời đọc báo Hà Nội theo đường dẫn. 


https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tiep-lua-truyen-thong/tu-duy-chien-luoc-quan-su-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-745496#:~:text=Chi%E1%BA%BFn%2520tranh%2520nh%C3%A2n%2520d%C3%A2n%2520%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c%2520ph%C3%A1t%2520huy,v%E1%BB%9Bi%2520ph%C6%B0%C6%A1ng%2520ch%C3%A2m%2520%E2%80%9Chai%2520ch%C3%A2n%252C%2520ba%2520m%C5%A9i%E2%80%9D;


Thực tế, như bất kỳ ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam và các tác phẩm của tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp đều biết, chiến lược “chiến tranh nhân dân” của phía cộng sản không phải là một cuộc nổi dậy cổ điển. Họ tiến hành chiến tranh bằng một chiến lược kết hợp độc đáo giữa chiến tranh du kích quy mô nhỏ và các chiến dịch quy ước quy mô lớn. Một quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức chủ yếu để chống nổi dậy có lẽ đã bị tiêu diệt trước các đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng chính quy cộng sản bắt đầu từ năm 1964; thực tế, ngay cả lực lượng Việt Nam Cộng Hoà “quy ước” do Hoa Kỳ xây dựng trong chương trình Việt Nam hoá mà Wiest chỉ trích cũng tỏ ra quá yếu để chống lại những đòn đánh này. Chính sự yếu kém đó, chứ không phải việc Việt Nam Cộng Hoà không thể đối phó với du kích, đã buộc Hoa Kỳ phải đưa lực lượng bộ binh chiến đấu vào Việt Nam năm 1965. Chúng ta nhớ vụ áp dụng chương trình ấp chiến lược được áp dụng thành công ở Mã Lai nhưng thất bại ở Việt Nam vì văn hoá khác nhau.

Trung tá Đính đầu hàng Việt Cộng để cứu binh sĩ vì hết đạn, không được tiếp tế.

Cuối cùng, sự nghiệp quân sự của cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ đều bị hủy hoại khi các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà quy mô lớn mà họ chỉ huy bị các đơn vị Bắc Việt áp đảo trong những trận đánh quy mô trung đoàn lớn… có báo Hà Nội nói về vụ trung tá Đính đầu hàng như sau:


https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ngay-tro-ve-cua-trung-ta-Pham-Van-Dinh-trong-mua-he-do-lua-i303933/


Tại căn cứ Carroll, ông Phạm Văn Đính, chỉ huy tiểu đoàn 56 khi quân đội chính quy của Hà Nội tấn công cuối tháng 3 năm 1972. Theo người ta kể lại thì tiểu đoàn của ông thiếu đạn dược, không được tiếp viện. Và bị tổn hại khá nhiều. Cuối cùng ông ta liên lạc với cộng quân vào 2:30 chiều ngày 2 tháng 4 năm 1972, xin đầu hàng. Sự đầu hàng của ông ta khiến quân đội miền Nam mất thêm nhưng địa cứ khác như Mai Lộc vì tiểu đoàn này có pháo binh hạng nặng. Và đưa đến mất Quảng Trị và Hải Lăng. Hình như sau vụ này hai tướng Vũ Văn Giai và Hoàng Xuân Lãm bị cách chức, ông Vũ Văn Giai bị lên án 5 năm tù, sau 75 đi tù Việt Cộng. Còn ông Hoàng Xuân Lãm thì ngồi chơi xơi nước đến 75.

Trong khi ông Trần Ngọc Huệ thì bị bắt làm tù binh tháng 3 năm 1971 trong thời gian chiến dịch Lam Sơn 719. Ông ta được đưa ra Hà Nội nhốt tại Hoa Lò mà người Mỹ hay gọi Hà Nội Hilton. Ông ta được thả năm 1983 và sang Hoa Kỳ năm 1991 với gia đình. (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

1 chọi 150

 Lực lượng đặc biệt khác với biệt động


Nhớ khi xưa, mình có anh hàng xóm đi biệt kích, một hôm thấy anh ta về phép bận độ Việt Cộng đi trước rạp Ngọc Hiệp về nhà. Đeo súng AK, rồi băng đạn tùm lum. Có lần anh ta với một đồng ngủ chạy xe gắn máy từ Đà Lạt về Phan Rang khiến thiên hạ khiếp luôn. Nghe kể là hai người bận đồ dân sự rồi người ngồi sau, cầm K54, nếu bị chận là bắn bỏ chạy. Kinh

Việt Cộng thì có nhóm bộ đội phá hoại, hình như họ gọi là biệt động. Mình không biết khi họ mò vào phía Việt Nam Cộng Hoà có bận đồ quân đội Việt Nam Cộng Hoà hay không. Ai biết cho em xin.


Hôm nay đọc một hồ sơ giải mật của quân lực Hoa Kỳ về những toán biệt kích của họ, được thả vào Hạ Lào để phá hoại. Họ cho biết năm 1968, sau Mậu Thân, một toán 6 người được trực thăng thả vào Hạ Lào. Họ là những quân nhân người Mỹ nhưng lại được trang bị súng ống của Việt Cộng như AK-47,… họ bận đồ bộ đội, không đeo thẻ bài, giấy tờ tuỳ thân và nếu bị giết hay bị bắt làm tù binh thì chính phủ mỹ sẽ chối, không bao giờ biết họ. Kiểu đi chết sống là ráng chịu, đừng có khai báo gì cả. Nghe nói gần 500 biệt kích mỹ kiểu này bị mất tích.


Những người đàn ông này thuộc về một đơn vị bí mật đến mức chính phủ đã tiêu hủy tất cả các bức ảnh được biết đến vào năm 1972 khi quân đội mỹ khởi đầu sự rút quân khỏi Việt Nam. Một đơn vị có tỷ lệ thương vong vượt quá 100%, nghĩa là nếu ai gia nhập, về mặt thống kê thì gần như chắc chắn sẽ bị thương hoặc thiệt mạng. Họ gọi là Nhóm Nghiên cứu và Quan sát (Studies and Observations Group), một cái tên cố ý, khô khan không oai hùng cho đơn vị tác chiến đặc biệt nguy hiểm nhất trong lịch sử quân đội Mỹ. Kiểu Việt Nam Cộng Hoà khi xưa, thời ông Diệm có Nha Kỹ Thuật. Khi mình đọc tài liệu về lực lượng này thì thất kinh vì hoạt động của họ không cái tên gọi cua rhoj.


Trong tám năm, những biệt kích này thực hiện các nhiệm vụ tại Lào, Campuchia và Bắc Việt Nam, những nơi mà lực lượng Mỹ bị cấm đặt chân tới. Và họ làm tất cả điều đó trong khi mặc quân phục của chính kẻ thù đang săn lùng họ. Nhưng đây là câu hỏi mà chưa ai từng trả lời: Tại sao những binh sĩ tinh nhuệ nhất của Mỹ lại ăn mặc giống như những người đang cố giết họ?  


Để hiểu MACV-SOG, chúng ta phải hiểu những thất bại đã tạo ra đơn vị này. Trước khi SOG tồn tại, CIA điều hành các chiến dịch bí mật ở Bắc Việt Nam. Từ năm 1953 đến 1963, họ đưa 28 đội đặc vụ vào phía sau chiến tuyến của đối phương. Kết quả thật thảm khốc.  


456 biệt kích miền Nam Việt Nam bị giết hoặc bị bắt. Mình có kể khi đọc Thép Đen, kể lại bởi một cựu điệp viên, bí danh là Đặng CHí Bình, tên thật là Hùng, đã qua đời, được huấn luyện và gửi ra Bắc bị bắt ở tù 18 năm. Sau được thả và vượt biển đến định cư tại Hoa Kỳ tại Dorchester, Massachussetts. Hầu như các đội đều bị bắt hoặc bị tiêu diệt.  


Hà Nội đã thâm nhập các chiến dịch đến mức đôi khi họ biến các đặc vụ bị bắt thành điệp viên hai mang, gửi thông tin sai lệch về cho phía Mỹ suốt nhiều năm. Mình có kể vụ điệp viên nhị trùng Ares, Phạm văn Tuyên. Vì vậy, vào tháng 1 năm 1964, Ngũ Giác Đài tiếp quản, họ thành lập một đơn vị mới dưới Bộ Chỉ huy Hỗ trợ Quân sự tại Việt Nam. Trên giấy tờ, nó được gọi là Nhóm Nghiên cứu và Quan sát (Studies and Observations Group). Cái tên này là một sự đánh lừa có chủ ý. Sẽ không có nghiên cứu, không có quan sát, chỉ có chiến tranh.  


SOG tuyển chọn những người giỏi nhất trong số những người giỏi nhất: Mũ xanh Lục quân, SEAL Hải quân, biệt kích Không quân, tất cả đều là tình nguyện viên. Và mỗi người đều ký một thỏa thuận giữ bí mật 20 năm, thừa nhận rằng nếu bị bắt, Hoa Kỳ sẽ phủ nhận sự tồn tại của họ. Chuỗi chỉ huy của họ bỏ qua toàn bộ cấu trúc quân sự tại Việt Nam. SOG báo cáo trực tiếp cho trợ lý đặc biệt của Ngũ Giác Đài và từ đó lên thẳng toà Bạch Cung. Chính Tổng thống Johnson đã phê duyệt các nhiệm vụ của họ. Khi một đội trinh sát vượt biên sang Lào, Tổng thống Hoa Kỳ biết điều đó.  


Khi các đội SOG vượt qua biên giới sang Lào hoặc Campuchia, họ không trông giống người Mỹ. Họ gọi đó là “hoạt động vô danh” xóa sạch mọi dấu vết nhận dạng của người Mỹ. Không thẻ bài, không bất kỳ giấy tờ nhận dạng nào. Mọi số sê-ri trên vũ khí đều bị mài đi. Quân phục sọc hổ của họ không có dấu hiệu nhận biết. Một số đội thậm chí mang giày đặc biệt có đế được thiết kế để trông như dấu chân trần. Nhưng yếu tố nổi bật nhất là người đi đầu.  


Trong nhiều đội trinh sát SOG, người đi đầu bản địa mặc đầy đủ quân phục của Quân đội Bắc Việt. Quần áo kaki, nón cối, đôi khi còn có cả phù hiệu bộ đội. Vậy tại sao lực lượng đặc biệt Mỹ lại để người của mình mặc quân phục địch? Câu trả lời rất đơn giản.  


Một giây đồng hồ.


Đó là tất cả những gì họ cần. Khi một đội tuần tra của địch phát hiện SOG, họ phải đưa ra quyết định trong tích tắc: Đó là quân mình hay kẻ thù? Nếu người đi đầu mặc trang bị Mỹ, họ sẽ không có do dự. Bộ đội sẽ nổ súng ngay lập tức. Nhưng nếu anh ta mặc quân phục của họ, mang vũ khí của họ, di chuyển như thể thuộc về nơi đó, kẻ địch sẽ chững lại. Chỉ một khoảnh khắc. Và trong chiến tranh rừng rậm, khoảnh khắc do dự đó là ranh giới giữa sống và chết. Vũ khí cũng kể cùng một câu chuyện. Các đội SOG mang theo AK-47, súng máy RPD của Liên Xô, và tiểu liên K của Thụy Điển. Không phải vì chúng tốt hơn, mà vì âm thanh khác biệt. Mình có kể về biệt kích Nguyễn Văn Cư trong rừng già sống sót 3 tuần lễ. Ông này kể là bận đồ Việt Cộng, để đến gần các chỗ đạn dược của Việt Cộng.


AK-47 có âm thanh rất đặc trưng. Khi nó khai hỏa trong rừng, lính địch tưởng đó là hỏa lực của đồng đội. Khi M-16 của Mỹ nổ súng, họ biết ngay người Mỹ đang ở đâu. Cái này thì mình đồng ý vì khi tết Mậu Thân, súng bắn thì biết là Việt Cộng hay phe ta. Khi SOG mang vũ khí Mỹ, họ chọn CAR-15 với bộ giảm thanh đặc biệt khiến âm thanh gần giống AK. Mục tiêu luôn giống nhau:  


Gây nhầm lẫn, đánh lừa, và giành thêm nửa giây quý giá để phản ứng... Mục tiêu luôn luôn giống nhau. Sự hoang mang, thất vọng, nửa giây quý giá để phản ứng bằng cách đối đầu. Lính biệt kích SOG John Stryker Meyer kể thường mang theo 22 băng đạn cho khẩu CAR-15 của mình, cộng thêm lựu đạn, bởi vì một khi cuộc đấu súng bắt đầu, nó hiếm khi chỉ chống lại một số ít kẻ thù. Nó thường là chống lại hàng 100 kẻ thù. Vào căn cứ của địch thì như Kinh Kha sang Tần.


Lực lượng SOG hoạt động từ ba căn cứ tiền phương. Trung tâm chỉ huy phía Bắc ở Đà Nẵng, ông Nguyễn Văn cư có kể toán của ông ta đóng quân ở đây, tương tự ôgn Nguyễn Văn Kiệt, người đồng hành với ông Norris trong vụ cứu Bravo 21. Trung tâm chỉ huy ở Kontum, và Trung tâm chỉ huy phía Nam ở Bản Mê Thuột. Mỗi căn cứ kiểm soát một đoạn biên giới và thực hiện các nhiệm vụ vào các khu vực bị cấm vượt biên. Một đội trinh sát điển hình bao gồm hai đến ba người Mỹ và bốn đến chín binh sĩ bản địa, người thượng. Thường là các bộ lạc người dân tộc thiểu số từ Cao Nguyên.


Các đội này được thả xuống bằng trực thăng H-34 của Nam Việt Nam, được gọi là Kingbees, để duy trì tính bí mật. Các nhiệm vụ kéo dài từ ba đến năm ngày. Mục tiêu là thu thập thông tin tình báo tại Đường mòn Hồ Chí Minh, mạng lưới tiếp tế khổng lồ vận chuyển vũ khí, đạn dược và binh lính từ Bắc Việt Nam qua Lào và Campuchia vào miền Nam.


Lực lượng Đặc nhiệm (SOG) đã tạo ra 75% tổng số thông tin tình báo của Mỹ trên con đường này. Chỉ riêng con số đó đã cho thấy tầm quan trọng của họ. Nhưng trinh sát chỉ là một phần của nhiệm vụ. Các đội SOG cũng thực hiện các hoạt động hành động trực tiếp, phục kích, phá hoại, bắt tù binh và một trong những chương trình của toàn bộ cuộc chiến. Dự án Con Trai Cả liên quan đến đạn dược bị phá hoại. Các đội SOG sẽ gài những viên đạn và đạn cối đã được chỉnh sửa vào kho vũ khí của địch. Khi lính Bắc Việt Nam bắn những viên đạn này, vũ khí sẽ phát nổ trong tay họ. Tác động tâm lý rất tàn khốc. Cái này hơi căn vì phải tìm ra chỗ cất vũ khí của bộ đội. Hình như mình có kể lại chuyện biệt kích Nguyễn Văn Cư, gốc Quảng kể cho ông mỹ hàng xóm và ông này viết lại bằng anh ngữ.


Lính Bắc Việt Nam bắt đầu nghi ngờ nguồn cung cấp đạn dược của chính mình, đôi khi từ chối bắn những vũ khí mà họ tin rằng có thể bị gài bẫy. Những người lính của SOG thật phi thường, ngay cả theo tiêu chuẩn của các lực lượng đặc nhiệm hiện nay. Robert Howard đã được đề cử Huân chương Danh dự ba lần trong vòng 13 tháng. Ba hành động riêng biệt, bất kỳ hành động nào trong số đó cũng đủ để hầu hết binh lính nhận được huân chương cao quý nhất của quốc gia.


Ông bị thương 14 lần trong 54 tháng ở Việt Nam và được tặng 8 Huân chương Trái tim Tím. Rồi còn có Jerry "Mad Dog" Shriver. Quân đội Bắc Việt treo thưởng 10.000 đô la cho ai bắt được ông. Ông sống trong doanh trại với những người lính dân tộc thiểu số chứ không phải với người Mỹ. Ngày 24 tháng 4 năm 1969, trong một nhiệm vụ gần Bộ Chỉ huy Trung ương của địch tại Nam Việt Nam, lần cuối cùng người ta nhìn thấy ông là khi ông một mình xông vào rừng cây giữa làn đạn dữ dội của địch. Người ta không bao giờ được nhìn thấy ông ta nữa. 


Những người lính bản địa xứng đáng được ghi nhận ngang bằng. Không hiểu có được trả lương tiền tử hay không. Người Thượng, một bộ tộc từ vùng cao nguyên Trung Bộ của Việt Nam, đã phục vụ bên cạnh người Mỹ với lòng trung thành phi thường. Các cựu chiến binh SOG mô tả họ như thể có giác quan thứ sáu về nguy hiểm. Họ có thể ngửi thấy mùi phục kích của địch trước khi bất kỳ ai biết được sự hiện diện của nó. Vil Wo đã thực hiện cú nhảy dù Halo chiến đấu đầu tiên trong lịch sử quân sự khi phục vụ trong SOG. Sau chiến tranh Việt Nam, ông gia nhập CIA và dành hàng thập kỷ theo dõi khủng bố.


Ông đã theo dõi Osama bin Laden ở Sudan vào những năm 1990. Sau vụ khủng bố 11/9, ở tuổi 71, ông được điều động đến Afghanistan. Ông qua đời năm 2023 ở tuổi 93, vẫn đang phục vụ đất nước.


Và rồi, có Chiến dịch Tailwind. Mà mình có kể vào tháng 9 năm 1970, 16 người Mỹ và khoảng 120 người bản địa được đưa vào sâu 70 km bên trong lãnh thổ Lào. Trong bốn ngày, họ liên tục chiến đấu chống lại lực lượng Bắc Việt áp đảo. Tất cả 16 người Mỹ đều bị thương.


Y tá Gary Rose đã điều trị cho 60 đến 70 người bị thương trong khi chính ông cũng bị thương, bao gồm cả một lỗ thủng ở chân. Chiếc trực thăng chở đội của ông bị bắn rơi, và Rose đã kéo những người lính bất tỉnh ra khỏi đống đổ nát đang bốc cháy. 47 năm sau, vào năm 2017, ông Gary Rose cuối cùng đã nhận được Huân chương Danh dự. Sự chậm trễ là do nhiệm vụ này được xếp vào loại tuyệt mật.


Trong nhiều thập kỷ, chính phủ không thể thừa nhận những gì những người này đã làm, bởi vì trên thực tế, họ chưa từng có mặt ở đó. Cái giá mà SOG phải trả là vô cùng lớn.


Khoảng 407 người Mỹ đã thiệt mạng khi phục vụ trong SOG. Con số đó chiếm phần lớn số người chết của Lực lượng Mũ xanh trong toàn bộ Chiến tranh Việt Nam. Hơn 50 lính Mũ xanh SOG vẫn còn được liệt kê là mất tích trong chiến đấu. 18 đội trinh sát hoàn toàn biến mất. Họ vượt biên sang Lào hoặc Campuchia, và không bao giờ được nghe tin tức gì nữa. Kẻ thù đã đặc biệt săn lùng họ. Không biết sau này, người Mỹ có tìm ra tung tích của họ hay không.


Quân đội Bắc Việt đã thành lập các đơn vị phản trinh sát chuyên biệt với nhiệm vụ duy nhất là theo dõi và tiêu diệt các đội SOG. Họ gọi những đơn vị này là tiểu đoàn C-75. Một số binh lính Quân đội Nhân dân Việt Nam (NVA) đeo huy chương có dòng chữ "Giết người Mỹ" như một phần thưởng cho việc nhắm mục tiêu vào các biệt kích SOG.


Trong nhiều thập kỷ sau chiến tranh, SOG vẫn được giữ bí mật. Các cựu chiến binh không thể nói về những gì họ đã làm. Nhiều người bị từ chối trợ cấp của Cục Cựu chiến binh (VA) vì hồ sơ phục vụ của họ bị niêm phong. Chính phủ đã cử họ thực hiện những nhiệm vụ bất khả thi tuyên bố rằng những nhiệm vụ đó không tồn tại. Mãi đến ngày 4 tháng 4 năm 2001, 29 năm sau khi SOG bị giải tán, đơn vị này mới nhận được Huân chương Đơn vị Xuất sắc của Tổng thống. Lần đầu tiên, chính phủ chính thức thừa nhận những gì những người đàn ông này đã đạt được.


Ngày nay, di sản của SOG vẫn còn tồn tại. Đại tá Charlie Beckwith, người từng phục vụ trong Dự án Delta của SOG, sau đó đã thành lập Lực lượng Delta. Dick Meadows, người đã thực hiện bốn nhiệm vụ ở Bắc Việt Nam với tư cách là thành viên SOG, đã trở thành một thành viên sáng lập của cộng đồng đặc nhiệm hiện đại của Mỹ. Tỷ lệ tiêu diệt địch được xác nhận của SOG là 158 trên 1. Các chiến dịch của họ đã buộc Hà Nội phải điều động 40.000 quân khỏi tiền tuyến chỉ để bảo vệ các tuyến đường tiếp tế.


Những đội nhỏ từ 6 đến 12 người đã kìm chân toàn bộ các sư đoàn địch. Vậy tại sao những biệt kích nguy hiểm nhất của Việt Nam lại mặc quân phục địch? Bởi vì hoạt động trên lãnh thổ bị cấm, bị áp đảo về số lượng với tỷ lệ 100 chọi 1, mọi lợi thế đều vô cùng quan trọng. Chỉ cần một khoảnh khắc do dự của kẻ thù, một khẩu súng nghe có vẻ thân thiện, một người dẫn đầu trông có vẻ thuộc về nơi đó.


Những người này hoạt động ở giới hạn tuyệt đối của khả năng con người. Họ từ bỏ danh tính của mình, đến những nơi không chính thức tồn tại, và chiến đấu với kẻ thù đông hơn họ rất nhiều. Nhiều người trong số họ đã không bao giờ trở về. Những người trở về đã không được phép kể lại câu chuyện của họ trong hơn 20 năm. Nhưng giờ đây, câu chuyện của họ cuối cùng cũng có thể được kể lại, và nó xứng đáng được ghi nhớ.


Mấy người này được xem là Kinh Kha đi vào chỗ chết, chắc bị giết hết khi đụng trận. Có thể bị bắt nhưng chắc không khai vì nếu có thì Hà Nội đã sử dụng họ để tuyên truyền. Để mình tìm tài liệu của Hà Nội về vụ này . Nếu ai có thì cho em xin. Mình gú gồ nhưng chỉ có đánh Trường Sa gì đó thôi.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn