Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Nhà thổ mỹ trong chiến tranh Việt Nam

 Nhà thổ mỹ trong chiến tranh Việt Nam 


Hôm nay xem một phim tài liệu của mỹ về chiến tranh Việt Nam và hệ quả. Đó là vấn đề giải quyết sinh lý cho lính mỹ khi tham chiến tại Việt Nam. Mình nghĩ có phụ nữ chạy giặc từ làng ra vào thành phố, không nghề nghiệp nên làm gái bán bar, mại dâm nhưng không ngờ tỷ lệ đọc thấy thất kinh.


Có ông mỹ đang tìm đứa bé này. Ai biết cho em hay


Năm 1966, thương nghị sĩ William Fulbright đứng trước thượng viện và gọi Việt Nam Cộng Hoà là nhà thổ của Hoa Kỳ trong khi bộ trưởng bộ quốc phòng Robert McNamara, ngồi im, chối bỏ và không nhìn nhận sự việc. Nhưng các tài liệu chiến tranh cho biết như sau:


Người Mỹ ước lượng độ 300,000 đến 500,000 phụ nữ miền nam có hoạt động mại dâm và tỷ lệ mắc bệnh phong tình của lính mỹ lên cao nhất trong các cuộc chiến mà Hoa Kỳ tham chiến. Nhiều lúc chính quân đội mỹ quản lý các hoạt động mãi dâm và chính trải nghiệm này đã thay đổi một thế hệ thanh niên mỹ đã tham chiến tại Việt Nam. Hút sì-ke, bạch phiến, và mại dâm. Tưởng tượng cả triệu người Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam mà 51% đã từng hút sì ke và chơi bạch phiến tại Việt Nam. Những trò giải trí khá đặc thù này đã đi theo họ suốt cuộc đời, gây ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Đó là hậu quả của sự tham chiến tại Việt Nam.


Để hình dung sự việc, năm 1960, dân số người Việt tại Sàigòn chỉ có 500,000 người và đến năm 1968 thì dân số lên đến 4 triệu người. Xem như nhân gấp 8 lần trong vòng 8 năm. 10 triệu người miền nam bị bắt buộc rời bỏ làng quê của họ với chiến lược phá huỷ các làng mạc có thể tiếp tế cho Việt Cộng. Mình nhớ dạo đó Việt Nam Cộng Hoà có đâu 18 triệu dân. Thấy các hình ảnh lính mỹ đốt nhà dân, kho gạo và lùa dân lên xe chở ra thành phố. Cho vào các trại tạm cư. Người có bà con họ hàng ở các thành phố an ninh hơn thì dọn về đó như Đà Lạt gia tăng rất nhiều. Các trại tạm cư là những ổ sinh ra nằm vùng, phá hoại miền nam khi xưa. Cũng dễ hiểu, anh đến anh đốt phá nhà chúng tôi để Việt Cộng khỏi sử dụng, được tiếp tế, rồi cho ở trong các căn lều tỏng trịa tạm cư. Việt Cộng nằm vùng chỉ cần nói nho nhỏ là anh chị đi theo ngay.


Xem vụ này mình mới hiểu lý do tại sao Đà Lạt khi xưa sau khi ông Diệm bị lật đỗ thì dân tứ xứ chạy vào Đà Lạt đông như người Việt. Khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam năm 1965, thì vô hình trung họ tạo ra một nền kinh tế vô hình với các hoạt động của lính mỹ. Năm 1968, có một phóng sự của tờ McLean cho rằng có đến 1,400 quán Bar ở Sàigòn, Biên Hoà và Thủ Đức. Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà tính có đến 200,000 người bán dâm nhưng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng số này nhiều hơn.


Vấn nạn này được xẩy ra vì quân lực Hoa Kỳ không cấm cản mà còn khuyến khích thậm chí còn tổ chức chương trình mà họ gọi là Rest & Recuperation. Hãng hàng không Pan Am chở trên 800,000 binh sĩ mỹ đi phép, giải trí ở Thái Lan, Phi Luật tân, Đài Loan, Nhật Bản, Nam Hàn, Guam,…


Họ cho biết năm 1966, trong số 21,000 binh sĩ dưới quyền của tướng Harry Canard, tư lệnh đệ nhất sư đoàn kỵ binh có đến 1/3 lính mỹ bị bệnh Giang Mai. Tình trạng nguy cập đến nổi các bô lão trong các làng Việt Nam, phải đề nghị xây dựng các nhà thổ trong căn cứ của người Mỹ. Khiến người Mỹ đột phá tư duy đồng ý và xây dựng đâu 2.5 mẫu ta, 1 căn trại để mỗi ngày có từ 100-300 lính mỹ viếng nhà thổ này khiến tuần báo Time đặt tên là Disneyland East. Tương tự ở Pleiku cũng được đặt tên là thành phố tội lỗi (Pleiku Sin City.) chả biết ông nào làm thơ em Pleiku má đỏ môi hồng, xuất phát từ trong động mãi dâm? Một binh sĩ mỹ có thể trả 300 đồng Việt Nam Cộng Hoà, độ $2.5 mỹ kim, có thể vui thú bên cô gái suốt 3 tiếng đồng hồ.


Năm 1972, New York Times cho biết là mỗi binh sĩ mỹ có 1 tuần vui thú được gọi là Rest & Recuperation (R&R). Họ được bộ quốc phòng bay qua các địa điểm như Thái Lan, Đài Loan, Phi Luật Tân, Hương Cảng, Đông Kinh, Sydney,… và biến Thái Lan thành ổ điếm của lính mỹ như ngôi làng chài Pattaya, nghèo xác xơ, nhờ lính mỹ đến đã biến ngôi làng này trở thành nhà thổ lớn nhất đông nam -á. Và từ đó đưa đến nơi mà du khách ngày nay hay ghé lại.


Lính Mỹ gọi tuần lễ đó là Intoxicate & Intercourse (I&I). Ở Vọng Các, lính mỹ chỉ cần trả độ $72 mỹ kim là được một em gái hậu phương suốt một tuần lễ, cung phụng, nấu nướng đầy đủ. Bộ trưởng McNamara thương lượng với chính quyền Thái Lan, bù lại sẽ giúp phát triển kinh tế. Trong vòng mấy năm, Thái Lan có đến 50,000 cô gái bán dâm phục vụ lính mỹ, và có đến 20,000 nhà thổ tại Thái Lan để phục vụ cho lính mỹ được nghỉ phép. Nhờ đó mà Pattaya , một làng chài nhỏ bé bổng nhiên trở thành ổ điếm lớn nhất Đông Nam Á.


Bệnh phong tình mà lính mỹ bị dính tại Việt Nam đạt kỹ lục. Họ cho biết trong đệ nhị thế chiến, cứ 1,000 lính mỹ có 43 trường hợp bệnh giang mai. Ở Đại Hàn thì cứ 1,000 binh sĩ thì có đến 184 trường hợp và đến Việt Nam kiên cường, thì đoạt giải nhất, tỷ lệ tăng lên đến 262 trường  hợp cho mỗi 1,000 lính mỹ. Nặng nhất là trên các hàng không mẫu hạm thì tỷ lệ lên đến 582/ 1,000 binh sĩ. Không lẻ họ cho trực thăng chở mấy chị em ta lên hàng không mẫu hạm.


Vấn đề là 88% lính mỹ bị bệnh này cho biết đã được huấn luyện, cảnh giác nguy cơ về vấn đề này nhưng vẫn bị dính vì sợ xài áo mưa vì đồng đội kêu có bệnh Black Syphilis nên binh sĩ sợ. Chắc tuyên truyền của Hà Nội.


Mình nhớ Đà Lạt tuy không có sự hiện diện của lính mỹ nhiều nhưng ở chợ Đà Lạt, có khách sạn Mộng Đẹp, của thầu khoán Nguyễn Linh Chiểu, cho mỹ thuê nên thấy họ rào kẽm gai, và có mấy cô gái ở với lính mỹ. Ngoài ra lính mỹ đóng ở phi trường Cam Ly, nhằm tải rau cải cho lính mỹ tại Việt Nam, kể và gửi cho mình xem mấy tấm ảnh của nơi họ trú ngụ, mướn chủ người Việt, thấy bao cát chất đầy, có mấy chị giặt quần áo, nấu nướng,… rảnh thì mình bỏ lên mạng cho thiên hạ xem.


Đó là về phía Hoa Kỳ còn các nữ hộ lý người Việt thì còn te tua hơn vì không am hiểu sự việc nư truyền nhiễm nên họ cho biết là có trên 80% phu nữ làm hộ lý bị dính bệnh phong tình. Đa số không được chữa trị đúng cách. Thời thực dân phá thì họ cho phép mở nhà thổ để họ quản lý kiếm tiền nhưng được cái là bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng, vì các chị em ta được khám định kỵ, cho thuốc than,…


Vấn đề là mãi dâm ở Việt Nam không hoàn toàn là sự đổi chát, vì có nhiều lính mỹ lấy vợ người Việt, và đem về mỹ. Mình có kể đâu 8,000 người Việt lấy chồng mỹ được đem về mỹ. Lý do là đối với lính mỹ, đa số họ cần được sự an ủi, vổ về để bù lại những ngày tháng đánh trận. Đa số lính mỹ kể không xem các cô gái Việt Nam như các cô gái điếm như người Việt mình xem thường các cô gái bán sương. Họ xem các cô gái việt như bạn gái, tìm an ủi sau những giờ giao tranh.


Nên nhớ là đa số bị kêu đi quân dịch, mới 18 tuổi chả biết gì, được thảy vào lò sát sinh bắn giết nếu không sẽ bị giết. Tinh thần của lính mỹ bị giao động cực mạnh nên rất cần được sư vút ve, an ủi như trong sách Gone Native của Al Cornett.


Ông Richard Marceno, tham chiến tại Việt Nam, sau này thành lập đội biệt kích Team 6 kể sau những giờ phút giao tranh, có những cô gái bên cạnh giúp bớt bị stress. Trong cuốn Gone Native, ông Al Cornett, biệt kích mỹ, cố vấn cho đại đội trinh sát 302, có kể là về phép ông ta đến Xóm Bà Thái, và hút sì ke và chơi bạch phiến. Sau này ông ta lấy cô em gái của vợ thiếu tá Lê Xuân Phong. Đưa cô vợ về Hoa Kỳ nhưng rồi hệ quả chiến trường khiến họ không sống với nhau lâu bền.


Hà Nội hiểu vấn đề của lính mỹ nên họ cho người của họ vào làm hộ lý để thu thập tin tức. Cuốn phim Good Morning Vietnam có kể vụ này. Chị LỆ Lý Hayslip có kể cuộc đời chị, nạn nhân của cuộc chiến qua cuốn ”When Heaven and earth changed places”, được đạo diễn Oliver Stone đưa lên màn bạc. Ở vùng xôi đậu, ban ngày thì Việt Nam Cộng Hoà đóng giữ, chiều tối thì rút lui, mấy ông kẹ về. Một hôm chị ta được nhiệm vụ canh gác lính Việt Nam Cộng Hoà thì ngủ quên nên bị Việt Cộng tuyên án tử hình. Tên được giao nhiệm vụ giết chị thấy uổng của trời nên hiếp chị ta trước khi giết nhưng may quá, sau đó mệt quá hắn lăn ra ngủ thì chị ta bỏ trốn vào Đà Nẵng rồi gặp ông lính mỹ thương chị, đem về mỹ.


Sau 1975, Hà Nội tống cổ trên 14,000 mấy cô có liên hệ với lính mỹ vào các nhà tù, được gọi là trại phục hồi nhân phẩm. Nghe nói bà Thái Đà Lạt cũng bị vào tù rồi sau này chết sớm. Ngày nay thì xem hình ảnh Việt Nam thì còn quá cha thời mỹ-nguỵ.


Xã hội Việt Nam khinh khi, xem thường các người bán dâm dù hoàn cảnh hay không. Ai đã bị lâm vào tình thế làm gái bán Bar thì khó có thể kiếm được chồng. Mình nhớ lần đầu tiên gặp chị Lệ Lý, chị ta khóc khi kể về cuộc đời chị, nói là qua mỹ thì mấy người Việt cũng kỳ thị với quá khứ của chị.


Ngoài ra có vấn nạn khác là “Con Lai”. Người ta ước lượng có 25,000 đến 100,000 con lai. Sau 75 thì những đứa con lai này lâm vào tình trạng vô thừa nhận với chính quyền mới vì là hình ảnh của chế độ cũ, đế quốc mỹ dù chẳng phải lỗi của chúng cũng như xã hội Việt Nam hà khắc. Nhất là các đứa trẻ lai da đen còn bị loại bỏ ngoài lề xã hội.


Năm 1970, Hoa Kỳ lên tiếng là không có nhiệm vụ với những đứa con lai. Khi người Pháp đến Việt Nam thì có nạn con lai nên họ phải mở trường Thiếu Sinh Quân, hay Couvent des Oiseaux để nuôi mấy người này. Mìn có đọc cuốn sách của một cô tây lai, cựu học sinh Couvent kể về sự kỳ thị, vô thừa nhận của người Việt cũng như người Pháp. Gần đây mình có đọc một tài liệu pháp có một ông tây lai đi thiếu sinh quân rồi về pháp. Than là ở Việt Nam thì người Việt không chấp nhận, về pháp tương tự. 


Phải đợi 17 năm sau khi thượng nghĩ sĩ McCain đề xuất dự luật và được quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận, “Amerasian Homecoming Act”.  Mấy đứa trẻ này được chính phủ Mỹ chấp nhận cho hồi hương.

The Amerasian Homecoming Act (often referred to as the American Asian Homecoming Act) is a 1988 U.S. law that allowed children born in Vietnam to American fathers during the Vietnam War, along with their immediate relatives, to immigrate to the United States and receive refugee-level benefits. [12]
Also known as the Amerasian Immigration Act of 1987, this legislation sought to protect these individuals (derogatorily referred to as bui doi, or "children of the dust") from social stigma and discrimination in post-war Vietnam. [1]
Key Details of the Act
  • Eligibility: Principal applicants had to be born in Vietnam between January 1, 1962, and January 1, 1976, and fathered by a U.S. citizen. [1]
  • Family Unity: Unlike previous legislation, this act allowed the mothers, spouses, and siblings of the Amerasian children to immigrate as well, ensuring families weren't separated. [12]
  • Benefits: Admitted individuals and their families were granted permanent legal residency status and were entitled to the same resettlement and social services as formal refugees. [1]
  • Impact: An estimated 23,000 Amerasians and over 67,000 of their relatives successfully relocated to the U.S. under this program. [1]

You can review the official text of the legislation on the Congress.gov H.R.3171 Archive, or learn more about the immigration policies regarding these individuals on the USC資訊 Policy Manual on Amerasian Immigrants. [1]

Bổng nhiên mấy đứa con lai trở nên đắt giá. Các gia đình người Việt muốn định cư ở Hoa Kỳ, đi khắp Việt Nam để nhận mấy đứa trẻ này về làm con nuôi để nộp hồ sơ chung. Hoa Kỳ biết có nhiều hồ sơ giả nhưng nhắm mắt để cho họ sang Hoa Kỳ. Không biết ngày nay họ có khui ra vụ này không rồi tống cổ về Việt Nam.


Mình nhớ ở New York, có gặp mấy người con lai. Họ kể là các gia đình Việt Nam dựa hơi họ để làm giấy tờ rồi sang mỹ thì xù họ. Một số đi vào con đường hư hỏng. Họ sống chung với nhau. Lý do là xã hội mỹ không chấp nhận họ. Còn cộng đồng người Việt cũng chê. Hình như có nữ ca sĩ người Việt, con lai thì có ông bố sang Việt Nam nhận ra trên sân khấu rồi đưa cả gia đình về mỹ. Họ ước lượng chỉ có 3% những người con lai tìm lại được cha mình ở Hoa Kỳ.


Năm 2009, chấm dứt chương trình này thì được biết Hoa Kỳ đã hồi hương 25,000 mỹ lai, và cộng thêm gia đình lên đến 70,000 người. Theo người Mỹ thì họ biết có đến 17% trường hợp là gian lận.


Hệ quả chiến tranh vẫn tiếp tục đến ngày nay. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn 


Tại sao Hoa Kỳ giúp kẻ thù kiến thiết sau chiến tranh

 Hoa Kỳ giúp kẻ thù kiến thiết sau đệ nhị thế chiến


Hồi năm 11B, học lịch sử Hoa Kỳ thì thấy sau thế chiến thứ 2 có chương trình Marshall để giúp tái thiết kẻ thù cũ như Đức quốc và Nhật Bản nên ngạc nhiên. Thường khi người đánh bại kẻ thù trong chiến tranh thì họ tàn sát hết, bắt làm nô lệ, lấy vợ con kẻ thù làm thê thiếp, cướp đất tài sản. Lại nghe nói đến ông ngoại trưởng mỹ, từng tham chiến đột phá tư duy ra chương trình này khiến thiên hạ lấy tên cúng cơm của ông để đặt tên cho chương trình này “Chương trình Marshall”.

Bản đồ cho thấy Hà Nội đang cho xây dựng các căn cứ quân sự tại vùng Spratlys, Trường Sa. 


Sau này, họ tiếp tục chính sách này bằng cách giúp đỡ Trung Cộng nhưng ai ngờ khi mấy anh ba tàu mạnh lên thì quay lại tìm cách hạ anh mỹ thay vì cảm ơn như người Nhật và người đức khiến nay phải đối đầu khá nghiêm trọng. Có khả năng trong tương lai sẽ có chiến tranh tại á châu. Điển hình Nhật Bản nay đã bắt đầu thành lập quân đội, tranh bị vũ khí. Nếu xem bản đồ sẽ thấy Trung Cộng bị bao vây bởi các đảo mà có sự hiện diện của quân đội Hoa Kỳ như Nhật Bản, Đài Loan, Nam Hàn và Phi Luật Tân. Sáng nay đọc một bài về Hà Nội cho xây dựng mấy căn cứ quân sự trên biển đông.


Sau thế chiến thứ 2, ai cũng nghe đến hai quả bom nguyên tử được thả tại xứ Phù Tang nên chả thằng nào dám lôi thôi. Nếu Hoa Kỳ muốn chiếm các nước làm thuộc địa thì chả thằng nào cản ngăn. Có lẻ Hoa Kỳ hiểu vấn đề là chiếm một thuộc địa, cầm giữ rất khó như Anh quốc và Pháp quốc vì hao tốn lực lượng tiền bạc nên không muốn dính dáng đến sự việc. Cũng có thể chủ nghĩa tư bản gây ảnh hưởng không nên tạo dựng kẻ thù cho mình. Cứ làm ăn với kẻ đối đầu với ta như bán lúa gạo cho Liên Xô trong thời gian chiến tranh lạnh. Cho nên mình ngạc nhiên sau 9/11 thì Hoa Kỳ đem quân đi đánh Iraq, Á Phũ Hán,.. rốt cuộc ôm đầu máu, bỏ súng đạn chạy lấy người dưới thời bác Biden.


Hoa Kỳ thực sự đã giúp xây dựng lại các quốc gia mà họ vừa đánh bại. Họ giúp xây dựng lại Tây Âu, giúp xây dựng lại Nhật Bản. Đây là hành vi rất khác thường, gần như chưa từng có tiền lệ của một đế chế. Kế hoạch Marshall không phải là viện trợ nước ngoài mà là hành động kiềm chế triệt để nhất như có bác Sam trong ngày vui đại thắng mà bất kỳ siêu cường nào từng thực hiện. Nhớ thế chiến thứ 1 chấm dứt, người đức phải nai lưng ra trả nợ chiến tranh khiến lạm phát và lòng căm thù các nước đã đánh bại họ nên khi một tên lên tiếng, biến căm thù thành một hành động cách mạng, cả đám dân của xứ ăn khoai tây nổi dậy đi đánh chiếm các nước âu châu, chiếm đất của cải, kho báu của xứ sở tại. Tương tự khi hoàng đế Napoleon đệ III thất trận, dân chúng Pháp quốc banh ta lông, trả nợ mệt thở. Vua dắt quân đi đánh giặc bị thua, không cần hỏi dân tình có đồng ý hay không, phải nai lưng ra đóng thuế để làm súng đạn rồi thua thì trả nợ còn vua thì chạy mất dép.


Nước Mỹ biến kẻ thù thành đồng minh, biến đống đổ nát thành nền kinh tế và biến sự đầu hàng thành quan hệ đối tác về kinh tế và kinh tế. Tây Đức từ tro tàn trở thành động lực kinh tế của châu Âu chỉ trong một thế hệ. Nhật Bản từ sự đầu hàng vô điều kiện trở thành nền kinh tế lớn thứ ba thế giới. Vài năm sau chiến tranh, Mỹ đã cho máy bay chở thức ăn vào Tây Bá Linh, một thành phố nằm ngay trung tâm của quốc gia vừa cố gắng hủy diệt họ. Đó không phải là chính sách huỷ diệt kẻ thù và giúp đỡ kẻ thù vực dậy cùng đồng hành về tương lai. Tổng thống JF Kennedy đứng trước công chúng người đức, tuyên bố :” Ich bin ein Berliner”.


Sau năm 1975, người Mỹ qua chính phủ Jimmy Carter muốn cộng tác với Hà Nội để xây dựng, tái thiết lại Việt Nam nhưng có lẻ Hà Nội đang say men chiến thắng nên phải đợi đến 20 năm sau mới năn nỉ qua các nổ lực của ngoại trưởng Nguyễn Cơ Thạch, mới được Hoa Kỳ bang giao lại, lỡ một cơ hội bằng vàng để tái thiết xứ xở sau 20 năm chiến tranh.


Đó là một nền văn minh quyết định mình là gì vào đúng khoảnh khắc họ có quyền lực để trở thành bất cứ một siêu cường. Khi mình đi học ở Paris thì người Pháp cũng như đa số người âu châu, những nơi mình từng viếng như Tây Đức, Áo, Tây Ban Nha, Ý Đại Lợi, Hy Lạp,… thời sinh viên giang hồ bằng cách quá giang xe. Dân âu châu đều cho rằng Mỹ là kẻ phản diện của lịch sử. Vào đại học cũng nghe,… đến nổi có lần đi chơi với cô bạn người Mỹ, mình phải dặn cô ta tự xưng là người Tô Cách Lan vì tóc cô ta màu đỏ, đừng nói đến người Mỹ là dân tình chửi nát nước. Khi mình nói là người Việt thì họ reo mừng vì Hà Nội đã đánh đuổi được quân đội mỹ. Người Tây Ban Nha gọi người Việt là Dynamitas thay vì Vietnamitas.


Luôn luôn người Pháp, ý, Hy Lạp ,… đều kêu Mỹ đã làm những điều xấu như cuốn sách “Ugly American” mà bộ ngoại giao mỹ dưới thời tổng thống JFK đều bắt các công chức sắp nhận nhiệm sở tại hải ngoại phải đọc. Tất nhiên chính phủ Mỹ đã làm những điều xấu, có thể nói rất nhiều điều xấu như đối với Việt Nam Cộng Hoà, và các nước vùng Nam Mỹ nhưng người ta cần nhìn vào toàn bộ các chương trình đối ngoại của Hoa Kỳ. Mọi quốc gia trên Trái Đất đều có những chương đen tối như Anh quốc với Ấn Độ, Pháp với Algerie và Đông-Dương, Hoà-Lan với Nam Dương,… hay Tây Ban Nha với các nước ở Trung Mỹ.


Sự khác biệt nằm ở việc một quốc gia làm gì khi không ai có thể ngăn cản họ, điển hình như biệt kích mỹ nhảy vào Venezuela bắt sống hai vợ chồng tổng thống xứ này rồi bay ra. Khi không ai có thể ngăn cản Mỹ, họ đã cho kẻ thù ăn và xây dựng lại thành phố, đất nước của họ. 


Chúng ta đang sống và đang tiến gần đến một khoảnh khắc, thời điểm giống hệt năm 1945 theo những tình huống mà chưa ai thấu hiểu triệt để và tiên đoán tương lai sẽ đi về đâu. Chiến tranh ở Ukraina và ở Trung Đông và tương lai có thể xảy ra tại Á Châu khi chúng ta thấy Nga tuyên bố về các đảo Sakharins mà họ chiếm của Nhật Bản và Nhật Bản đang gây gắt trang bị hoá quân sự của họ rồi kêu Trung Cộng đụng đến Đài Loan là đụng đến quyền lợi của Nhật Bản. Nên nhớ trước 1945, đào Đài Loan là thuộc địa của Nhật Bản. Mình có quen một ông giáo sư địa học gốc Đài Loan, ông ta cho biết từ bé là học tiếng nhật, xem đài truyền hình Nhật Bản. Ông ta không xem đài truyền hình Đài Loan nói tiếng quan thoại của người Tàu áp đặt lên Đài Loan khi Mao Trạch Đông đánh Tưởng Giới Thạch chạy đến chiếm đảo này.


Trí tuệ nhân tạo (AI) sẽ trao cho một nhóm nhỏ người lợi thế quyền lực lớn đến mức khiến độc quyền bom hạt nhân trông thật nhỏ bé. Chúng ta thấy mấy ông tỷ phú bỏ tiền ra thật nhiều để mong dành thắng lợi trong cuộc chiến này trong khi đó Trung Cộng với sự lãnh đạo của đảng Trung Cộng đã đi trước khá nhiều so với tây phương.


30 năm qua, Hoa Kỳ lấy tiền đi bỏ bom chiếm đóng các xứ thì Trung Cộng trong im lặng đã xây dựng xứ họ một cách ngoạn mục, khiến nhiều người Mỹ đi du lịch xứ này về phải ngạc nhiên. Chắc mình sẽ đi lại Trung Cộng một chuyến nữa vì có ghé thăm xứ này năm 2009, một năm sau thế vận hội. Tương tự khi mình viếng Hiroshima, nơi bị một quả bom nguyên tử, hình ảnh tan thương sau trái bom so với thành phố Detroit, phồn vinh, nơi tạo ra giấc mơ Hoa Kỳ của các nhân công trên thế giới. Nay thành phố này được tái thiết lại rất đẹp trong khi thành phố Detroit thì Chán Mớ Đời.


Nếu ai đó sẽ nắm giữ loại quyền lực có thể chiếm đóng, quyết định số phận cảu thế giới, chúng ta muốn nó thuộc về ai? Quốc gia đã chinh phục khi họ có thể sát hại, tàn sát kẻ thua cuộc? Hay quốc gia đã xây dựng lại khi họ không cần phải làm vậy như Hoa Kỳ sau đệ nhị thế chiến. Mọi liên minh, mọi tuyến thương mại, mọi nền kinh tế. Hàng tỷ người thoát khỏi đói nghèo như chủ nghĩa tư bản. Nếu Trung Cộng không theo chủ nghĩa tư bản để xây dựng lại đất nước họ bị các cuộc cách mạng văn hoá long trời lỡ đất thì người Tàu vẫn tiếp tục đói như khi Mao sến sáng còn sống. Hay nếu Hoa Kỳ không bỏ lệnh cấm vận, đầu tư vào Việt Nam thì chắc ngày nay, người Việt bỏ nước ra đi hết như sau 75. Tất cả đều bắt nguồn từ một hành động kiềm chế chưa từng xảy ra trước đó và không có gì chắc chắn nó sẽ lặp lại. Điều quan trọng mà nước Mỹ từng làm không phải là chế tạo bom nguyên tử mà là những gì họ làm sau thế chiến thứ 2. Đó là chương trình tái thiết Marshall.


Ngày nay, chúng ta cứ nghe truyền thông nói về cuộc đua trí tuệ nhân tạo, sẽ giúp ai đó đi trước sẽ không chế toàn thế giới về kinh tế cũng như quân sự. Hoa Kỳ đang chuyển lực lượng hải quân và quân đội của họ về phiá á châu. Nhật Bản tuyên bố tái thiết bị quân đội. Mình có xem vài phim tài liệu, thấy họ xây hầm hố, chiến đấu nhằm để chống quân đội của Trung Cộng xâm chiếm. Một hòn đảo nhỏ mà Nhật Bản có rất nhiều hòn đảo rãi rác từ Nhật Bản đến Okinawa. Thế chiến thứ 3 chắc sẽ khơi mào tại á châu. Cuộc chiến giữa người tây phương, đúng hơn da trắng và người á châu. Mình đoán người âu châu mong sao cuộc chiến ở á châu bùng nổ để họ có thể theo kịp đà phát triển của trí tuệ nhân tạo.


Hàng ngày trên mạng xã hội không biết bao nhiêu tin tức giả để tuyên truyền có lợi cho các nước từ người Mỹ, người Tàu, người Nga, Ukraina hay âu châu nên không biết đâu mà lần. 


Sau Chiến tranh Thế giới thứ II (1939–1945), châu Âu hoang tàn nằm trong đống đổ nát: hàng chục triệu người chết, cơ sở hạ tầng bị phá hủy nặng nề (đường sá, cầu cống, nhà máy, cảng biển, nông nghiệp). Nạn đói, lạm phát phi mã, thất nghiệp lan rộng. Mình nghe mấy người Pháp lớn tuổi kể lại sau thế chiến thứ 2. Kinh tế Tây Âu gần như tê liệt năm 1946–1947. Liên Xô (Liên bang Xô viết) đang mở rộng ảnh hưởng mạnh mẽ ở Đông Âu, cài đặt các chính quyền cộng sản. Các nước chư hầu mà lộn xộn, là xe tăng chạy vào tự nhiên như người liên xô. Năm 1956 ở Varsovie và năm 1968 với mùa xuân tại Prague.


Mỹ lúc này là siêu cường duy nhất còn lại với nền kinh tế mạnh mẽ và độc quyền vũ khí hạt nhân. Thay vì khai thác lợi thế để thống trị hoặc đòi bồi thường chiến tranh khổng lồ như các đế chế trước đây, Mỹ chọn con đường khác.


Điển hình đế chế Liên Xô, chiếm đất như các đế chế trước đây, chiếm đóng tạo đựng một nền cai trị tập trung ở trung ương, thêm áp lực các chư hầu nhưng rồi cuối cùng bị phá sản năm 1990 như các đế chế trong lịch sử loài người khi họ bành trướng quá lớn ngoài khả năng kiểm soát. Đi viếng vùng Trung-Á mới khám phá ra đế chế liên-sô khi xưa quá rộng lớn dù mình chưa đến tây bá lợi á.


Kế hoạch Marshall được ngoại trưởng George C. Marshall công bố ngày 5 tháng 6 năm 1947 tại Đại học Harvard. Chương trình chính thức mang tên European Recovery Program (ERP), hoạt động từ 1948 đến 1952. Khoảng 13,3 tỷ USD (tương đương khoảng 140–170 tỷ USD theo giá trị hiện nay, tùy cách tính lạm phát). 16 quốc gia Tây Âu (Anh, Pháp, Tây Đức, Ý, Hoà Lan, Đan Mạch, Na Uy, Thụy Điển, Bỉ, Áo, Thụy Sĩ, Hy Lạp, Thổ Nhĩ Kỳ…).


Các nước Đông Âu và Liên Xô (Stalin từ chối và cấm các nước chư hầu tham gia, chỉ có Tito có thể đối đầu dù Stalin gửi 5 lần người đến ám sát ông Tito). Chủ yếu là viện trợ không hoàn lại (grants), một phần là vay ưu đãi. Mỹ cung cấp lương thực, nguyên liệu, máy móc, công nghệ và tư vấn quản lý. Mỹ không chỉ đưa tiền mà yêu cầu các nước châu Âu phối hợp lập kế hoạch chung, đây là bước khởi đầu cho tinh thần hợp tác châu Âu sau này. Nếu Stalin đồng ý nhận tiền tái thiết lại Liên Sô, có lẻ chúng ta đã không có những cuộc chiến uỷ nhiệm của hai bên như Triều Tiên, Việt Nam và Angola,…


Chương trình có mục đích ngăn chặn nạn đói, khôi phục sản xuất, ổn định xã hội, ngăn chặn sự lan rộng của chủ nghĩa cộng sản với chính sách Containment của tổng thống Truman. Kinh tế yếu kém dễ dẫn đến bất ổn và cách mạng tỏng khi tạo thị trường tiêu thụ hàng hóa Mỹ, thúc đẩy xuất cảng và duy trì việc làm trong nước.


Người ta thấy sản lượng công nghiệp Tây Âu năm 1951 đã vượt mức trước chiến tranh 35–40%. Nông nghiệp phục hồi nhanh, lạm phát được kiểm soát. Tây Đức được xem là Kỳ tích kinh tế Tây Đức ( Wirtschaftswunder) và Nhật Bản trở thành động lực tăng trưởng. Đến năm 1952, hầu hết châu Tây Âu đã tự túc tự cường được nhưng vì chế độ dân chủ nên có đảng cộng sản như ở pháp 25% cử tri pháp thuộc đảng cộng sản trong khi ở Ý Đại Lợi là đến 30% nên cuộc chiến chốgn mỹ luôn luôn tiếp diễn đến nay.


Về mặt chính trị, chương trình đã giúp củng cố các chính quyền dân chủ Tây Âu. Dẫn đến sự ra đời của NATO (1949), liên minh quân sự Mỹ - châu Âu. Tạo nền tảng cho sự hợp tác châu Âu (từ Cộng đồng Than Thép ECSC 1951 → Liên minh châu Âu sau này).


Về mặt xã hội chương trình đã giảm nguy cơ nội chiến, ổn định chính trị, góp phần vào “Thời kỳ Vàng son” (Golden Age) của chủ nghĩa tư bản Tây Âu những năm 1950–1970. Mình có kể về đệ ngũ cộng hoà do tổng thống De Gaulle thành lập đã tái thiết Pháp quốc thành một cường quốc tỏng vòng 20 năm. Nền kinh tế của Tây Âu phát triển mạnh đến nổi họ không có đủ nhân công nên phải qua các thuộc địa cũ ở phi châu để mướn người đem về pháp trong ngành sản xuất. Nếu không có chương trình này thì dân âu châu bỏ xứ ra đi rất nhiều như các thế hệ trước kia, đến Hoa Kỳ, hay các vùng Nam Mỹ. Ngày nay họ lãnh hậu quả về các thế hệ của người di dân từ phi châu qua.


Mình nghĩ nếu các nước giàu mạnh không muốn di dân lậu nữa thì bỏ tiền đầu tư tại các nước nghèo giúp họ có công ăn việc làm, không cần phải bỏ nước ra đi tìm đường cứu nước.


Khi mình ở âu châu thì phải công nhận dân tình ghét người Mỹ nhưng thích bận áo quần mỹ và uống coca cola. Các trí thức thiên tả cho rằng đây là chương trình, công cụ cho chủ nghĩa tân thực dân (neo-colonialism), giúp Mỹ kiểm soát kinh tế châu Âu và mở rộng thị trường. Trên thực tế, hàng của Hoa Kỳ nhập vào bị đánh thuế cao trong khi để giúp Tây Âu phát triển nên hàng của họ được nhập cảng vào Hoa Kỳ gần như không có thuế quan. Một phần viện trợ gắn với điều kiện chính trị (chống cộng) và không giúp được Đông Âu, góp phần củng cố sự chia cắt châu Âu (Bức màn sắt). Họ quên là chính Liên Xô đã gây ra nhưng cứ chửi hoài khiến thiên hạ sẽ tin.


Tuy nhiên, đa số học giả công nhận rằng quy mô và tính nhân văn của kế hoạch Marshall là khác biệt căn bản so với cách các đế chế trước đây trong lịch sử hành xử. Người Mỹ chứng minh rằng sức mạnh không chỉ là bom đạn mà còn là khả năng xây dựng và tạo liên minh. Có lẻ vì lẻ đó họ không bỏ bom hết các hạ tầng cơ sở của Ba tư. Chi phí ban đầu cao nhưng mang lại lợi ích chiến lược khổng lồ (NATO, EU, thị trường tiêu dùng, đồng minh đáng tin cậy trong Chiến tranh Lạnh).


Trong thời đại AI và công nghệ, câu hỏi về “ai nắm quyền lực tuyệt đối” càng quan trọng. Kế hoạch Marshall là minh chứng rằng một nền văn minh có thể chọn xây dựng thay vì chinh phục. Tóm lại, kế hoạch Marshall không chỉ là một chương trình viện trợ, là một tuyên ngôn văn minh. Nó cho thấy nước Mỹ thời kỳ đó đã quyết định sử dụng quyền lực tối thượng của mình theo cách nhân văn và chiến lược nhất trong lịch sử loài người.


Nghe nói ông Đỗ Mười sau 75, tuyên bố sẽ lấy nhà bọn nguỵ quân nguỵ quyền, lấy vợ của chúng,… bỏ tù trên 3 triệu người thuộc chế độ cũ (theo lời tuyên bố của ông Phạm Văn Đồng trả lời Paris Match) đó là hình ảnh chinh phục của kẻ thắng trận từ xưa đến giờ. Nhưng chủ nghĩa tư bản đã nảy ra ý tưởng hợp tác, cùng giàu sang phú quý. Để chúng đói thì tiền đâu chúng mua đồ của mình sản suất.


Câu hỏi mình đặt ra ngày nay là chính phủ mỹ đã thay đổi tên của bộ quốc phòng thành Bộ Chiến Tranh. Hoa Kỳ cảm thấy đang chạy đua với cuộc chiến AI, sẽ quyết định số phận của xứ này trong vài chục năm tới. Khi trí tuệ nhân tạo có thể đào tạo huấn luyện những người tin tưởng vào lãnh tụ của mình. Chúng ta thấy rõ ngày nay, các video hay bài báo bựa ra để tìm cách phân chia gia đình, người Mỹ, người Pháp,…


2 năm nữa ông Trump về vườn thì họ sẽ cài đặt thêm một người khác để chúng ta không chú ý vào những điểm thay đổi khác của cuộc sống. Lúc đó sẽ không có chiêu bài Mà Gà mà là Ma Xó hay Ma cà rồng chi đó và bác Newsom sẽ trở thành vị lãnh tụ của đảng Dân Chủ và con người tiếp tục tin vào các xảo ngôn của lãnh tụ của họ, lại tiếp tục chửi bới nhau cho đời vui hơn trước. Chán Mớ Đời 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn