Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Người lính Mỹ được nhiều huy chương nhất

 Người lính Mỹ được nhiều huy chương nhất


Đọc tài liệu chiến tranh Việt Nam của người Mỹ thì lâu lâu lại lòi ra nhiều nhân vật chống đối chính sách của chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Có nhiều người phản chiến nhưng lại có những người lính lên tiếng chỉ trích, cho rằng chính sách của chính phủ sẽ không cho quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam thắng được cuộc chiến. Như không bỏ bom các đê điều, hạ tầng cơ sở, các đường tiếp liệu của Liên Sô và Trung Cộng.


Mình có đọc tin tức của Trung Cộng thì họ có cho biết, đưa ra hình ảnh lính của họ, 300,000 có mặt tại miền bắc, bận quân y của bộ đội Việt Nam. Bộ đội bác Hồ vào Nam hết nên hậu phương cần bảo vệ nên binh lính của Trung Cộng đảm nhiệm phần này. Những hình ảnh lính tàu bận quân y bộ đội bác Hồ, lại đứng chào hình ảnh của Mao chủ tịch khiến người Việt chới với. Với những hình ảnh này nên mình đoán Hoa Kỳ không muốn dội bom các hạ tầng cơ sở của Bắc Việt sợ giết lầm lính của bác Mao.

Bắc Mao giận lên, cho lính tràn qua vĩ tuyến 17 là mệt. Vì năm 1953, lính tàu đánh giết không biết bao nhiêu lính mỹ tại Triều Tiên. Hôm nay đọc một tài liệu khác về một cựu chiến binh Mỹ từng tham gia chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam.

Vào tháng 6 năm 1971, người lính được trao nhiều huân chương nhất nước Mỹ đã xuất hiện trên truyền hình quốc gia và nói ra sự thật về chiến tranh Việt Nam. Ai buồn đời thì theo đường dẫn.


https://atvaudio.com/ata_search.php?record_id=16642#:~:text=David%20Hackworth.%20On%20June%2027%2C,post%2DWorld%20War%20II%20era%2C%20Col.


Một cuộc phỏng vấn đó đã chấm dứt sự nghiệp 25 năm binh nghiệp, được xây dựng bằng máu, lòng dũng cảm và khả năng chỉ huy chiến đấu xuất sắc của ông là David Hackworth. Ông khai gian tuổi để nhập ngũ khi mới 15 tuổi vào năm 1946. Đến chiến tranh Triều Tiên, ông đã là một chỉ huy dày dặn tại trận mạc. Ở tuổi 20, ông trở thành một trong những đại úy trẻ nhất trong lịch sử quân đội sau khi được thăng cấp ngay tại chiến trường. Triết lý của ông cực kỳ đơn giản nhưng khắc nghiệt: dẫn đầu từ tuyến trước, di chuyển nhanh, đánh mạnh, và không cho kẻ thù một giây thở. Binh sĩ theo ông vì ông không bao giờ yêu cầu họ làm điều gì mà chính ông không làm trước thường là trước nhất và nguy hiểm hơn.


Ông không chỉ dũng cảm, còn cực kỳ giỏi trong tác chiến. Tại Việt Nam, ông nhận chỉ huy Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 39 Bộ binh ở đồng bằng sông Cửu Long, một đơn vị “đen đủi” đã chịu hàng trăm thương vong và tinh thần suy sụp. Ông gạt bỏ giáo trình cứng nhắc của Ngũ Giác Đài. Ông lập các đội trinh sát tinh nhuệ, huấn luyện binh sĩ theo chiến thuật du kích cấp tiểu đội, và nhấn mạnh tuần tra tấn công cùng tác chiến ban đêm để khiến Việt Cộng luôn bị động. Ông nghiên cứu chính phương thức của đối phương và đánh bại họ bằng chính cách đó.


Tiểu đoàn của ông Hackworth, sau này được gọi là “Hardcore Battalion”, gây tổn thất nặng nề cho đối phương trong khi giảm thương vong phía Mỹ. Ông chiến đấu theo cách cần thiết trên thực địa, chứ không phải theo cách Hoa Thịnh Đốn muốn thể hiện trên giấy tờ. Nên nhớ chiến tranh Việt Nam khởi đầu với sự tham chiến của binh sĩ mỹ với chủ thuyết của bộ trưởng bộ quốc phòng MacNamara. Thực thi chủ trương của giới kỹ nghệ chiến tranh.


Quân phục của ông đầy huân chương: hai Huân chương Chữ Thập Phục Vụ Xuất Sắc, mười Huân chương Ngôi Sao Bạc, tám Huân chương Ngôi Sao Đồng với chữ “V” vì lòng dũng cảm, tám Huân chương Trái Tim Tím, ba mươi bốn Huân chương Không Quân, và tổng cộng hơn chín mươi phần thưởng. Ông là một huyền thoại trong mắt những người lính từng phục vụ dưới quyền.


Và rồi, vào tháng 6 năm 1971, Đại tá David Hackworth đã làm điều không tưởng. Vẫn đang tại ngũ và mặc quân phục, ông tham gia một cuộc phỏng vấn dài trên chương trình truyền hình của ABC mang tên Issues and Answers. Nhìn thẳng vào ống kính, ông nói với người dân Mỹ điều mà Ngũ Giác Đài không muốn thừa nhận: cuộc chiến này không thể thắng theo cách đang tiến hành. Lãnh đạo thì tha hóa và chạy theo sự nghiệp. Số liệu “đếm xác” bị thổi phồng dối trá. Những người lính Mỹ trẻ tuổi đang chết vì một chiến lược không có cơ hội thành công. Thêm cần sa đầy nơi. Mình có xem một phim tài liệu kể là các quan tài của binh sĩ Mỹ chết tại Việt Nam, đem về Hoa Kỳ được giấu cần sa ma tuý ở tỏng.


Như sau này ông cựu bộ trưởng bộ quốc phòng McNamara viết trong hồi ký về chiến tranh Việt Nam. Ông kêu chúng ta đánh cộng sản trong khi Hà Nội đánh Tây rồi nay đánh Mỹ, “ngoại nhân” ra khỏi VN. Hai suy nghĩ về cuộc chiến khác nhau. 


Chúng ta không chiến thắng,” ông nói. “Chúng ta thậm chí còn không chiến đấu đúng cuộc chiến.” Phản ứng từ Ngũ Giác Đài đến nhanh và dữ dội. Các sĩ quan cấp cao phẫn nộ. Điều tra được mở ra. Áp lực gia tăng. Con đường gần như chắc chắn lên cấp tướng của ông tan biến chỉ sau một đêm. Chỉ trong vài tháng, sự nghiệp 25 năm của ông coi như kết thúc. Ông nghỉ hưu với cấp bậc đại tá, danh tiếng trong giới chính quyền Washington bị phá hủy.


Giới tướng lĩnh gọi ông là kẻ bất tuân, thiếu trung thành, thậm chí là phản bội. Nhưng những người lính, những người đã đổ máu cùng ông trong rừng rậm lại nhìn ông khác. Họ tôn trọng ông vì ông đã nói ra điều mà ai cũng biết nhưng không ai dám nói nếu không muốn tự hủy hoại sự nghiệp của mình.


Hackworth không biến mất. Ông trở thành một nhà báo và tác giả không sợ hãi. Cuốn hồi ký bán chạy About Face của ông phơi bày thẳng thắn những thất bại của lãnh đạo quân sự. Ông tiếp tục viết báo và lên tiếng chống lại sự quan liêu, lãng phí và những chiến lược đặt sự nghiệp lên trên sinh mạng người lính. Ông không bao giờ mềm mỏng. Ông cũng không bao giờ xin lỗi và lịch sử đã chứng minh ông đúng.


Pentagon Papers, sự sụp đổ của Sài Gòn, và hàng thập kỷ phân tích trung thực sau đó đã xác nhận gần như mọi chỉ trích mà ông đưa ra từ năm 1971. Người mà hệ thống cố bịt miệng đã luôn nói sự thật.


Những năm cuối đời, Hackworth đấu tranh mạnh mẽ cho người lính bình thường, huấn luyện tốt hơn, trang bị tốt hơn, lãnh đạo tốt hơn, và chăm sóc tử tế cho cựu quân nhân. Năm 2005, ở tuổi 74, ông qua đời vì ung thư bàng quang tại Tijuana, Mexico, khi đang tìm kiếm phương pháp điều trị. Nhiều người thân tin rằng căn bệnh này liên quan đến việc ông tiếp xúc với chất độc da cam trong những năm ở Việt Nam. Cuộc chiến cuối cùng cũng đã lấy đi ông, chậm rãi và đau đớn, rất lâu sau khi ông rời chiến trường.


Về chất độc Da Cam, tuần này thấy ở Paris họ có dựng tượng về nạn nhân của chất độc Da Cam này. Mình theo dõi các nhóm cựu quân Nhân Mỹ tại Việt Nam thì có nhiều người cho biết về già họ bị bệnh đủ thứ vì chất độc này.


Trong tang lễ của ông, từ tướng lĩnh đến binh nhì đứng cạnh nhau. Có người vẫn xem ông là anh hùng đã lên tiếng vì người lính. Có người không bao giờ tha thứ vì ông “phá vỡ hàng ngũ”. Nhưng không ai có thể phủ nhận di sản của ông: ông đã chiến đấu quyết liệt, lãnh đạo tốt, và cuối cùng thể hiện lòng can đảm đạo đức lớn hơn đa số.


David Hackworth nhận hơn chín mươi (90) huân chương qua hai cuộc chiến. Ông biến những đơn vị rệu rã thành lực lượng tinh nhuệ. Nhưng trận chiến định hình nhất của ông không diễn ra ở đồi núi Triều Tiên hay đầm lầy Việt Nam.


https://youtu.be/-UhgAzycMSE?si=B6rh3teMjsRrLn9A


Đó là trận chiến năm 1971, khi ông đứng một mình trước ống kính truyền hình, nói với một quốc gia đang chia rẽ một sự thật khó chấp nhận, biết rõ rằng điều đó sẽ khiến ông mất tất cả những gì đã xây dựng.


Ông có thể im lặng, nhận đủ quân hàm, và tận hưởng nghỉ hưu trong vinh quang. Nhưng ông đã chọn nguyên tắc thay vì thăng tiến. Đó là một dạng dũng cảm hiếm hơn cả việc lao vào làn đạn, dũng cảm đạo đức: sẵn sàng hy sinh sự nghiệp, danh tiếng và tương lai vì sinh mạng của những người lính vẫn đang chiến đấu, và vì sự thật mà đất nước cần được nghe.


Ông là người lính còn sống được trao nhiều huân chương nhất nước Mỹ và ông đã từ bỏ tất cả để chấm dứt những lời dối trá. Đó không chỉ là một anh hùng chiến tranh mà là một kiểu anh hùng hoàn toàn khác.


 Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn  

Nổi kinh hoàng của đạn tổ ong

 NỖI KINH HOÀNG của đạn Beehive 


Hồi nhỏ mình nghe mấy người lớn nói có đạn bắn bằng mũi tên, đạn chụp chi đó khiến mình như bò đội nón, cứ tưởng tượng nỏ thần An Dương Vương với mối tình hữu nghị Trọng Thuỷ Mỹ Châu. Vào mấy trang nhà của cựu lính Mỹ tại Việt Nam thì khám phá ra là có thật. Họ gọi là Đạn tổ ong (beehive round).

Họ cho biết trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Bắc Việt (NVA) khiếp sợ chúng. Có nhiều người kể là khi xưa nhờ mấy loại đạn này mà sống sót khi bị bộ đội bao vây và súng cà nông chỉa lên trời không ăn thua gì vì địch đã ở ngay hàng rào và đang cắt dây kẽm gai để chui vào. Loại đạn này bắn chụp trên không khiến hàng ngàn phi tiêu bay xuống. Có người kể quan cảnh rùng rợn khi Việt Cộng rút lui, nhiều người bên bộ đội bị phi tiêu cắm vào người như hamburger. Kinh hoàng. 


Mình thấy hình chụp mấy căn cứ của lực lượng đặc biệt mỹ ở gần biên giới như Ben Het, đều có phi đạo và súng cà nông để bắn xa xa khi khám phá ra các đoàn bộ đội di chuyển cách đó mấy dặm sơn khê. Vấn đề là khi cộng quân tấn công căn cứ thì quá gần để bắn đại bác trong khi cộng quân có thể sử dụng súng cối nhỏ để bắn vào căn cứ. Thế là họ đột phá tư duy nghĩ ra cách bắn đạn chụp từ súng đại bác, đã được chỉa lên trời. Nhưng tay đầu đạn bằng đạn tổ ong.

Đầu đạn tổ ong


Họ cho biết là năm 1957, Quân đội Hoa Kỳ ký hợp đồng phát triển vũ khí cho Tập đoàn Whirlpool, một công ty sản xuất máy giặt, ngày nay vẫn còn hiện hữu. Các kỹ sư của công ty máy giặt Whirlpool tại Picatinny Arsenal được giao nhiệm vụ giải quyết một vấn đề mà pháo binh Hoa Kỳ đã gặp phải từ thời Nội chiến, nghĩa là rất xa xưa.


Làm thế nào để chặn đứng một đợt tấn công bộ binh ồ ạt khi chúng đã áp sát trận địa pháo? Câu trả lời của họ là một quả đạn pháo 105 mm chứa 8.000 mũi tên thép ổn định bằng cánh. Mỗi mũi tên có kích thước gần bằng một chiếc đinh, có bốn cánh nhỏ, giúp nó bay mũi nhọn về phía trước như một mũi tên tí hon. Hình như tiếng Việt gọi là phi tiêu. Khi ngòi nổ cơ học theo thời gian của quả đạn kích hoạt, có thể được cài để nổ ngay khi rời nòng, lớp vỏ nhôm vỡ tung và 8.000 mũi flechette phun ra phía trước thành một hình nón phẳng đang mở rộng với tốc độ khoảng 1.500 feet mỗi giây. Độ 400 mét cho mỗi giây. Quá nhanh để trốn. Chỉ một lần giật dây cò đã biến pháo dã chiến thành một khẩu shotgun.


Không phải ẩn dụ mà là shotgun theo nghĩa đen. Không phải bắn 9 viên như đạn 12 gauge, mà là 8.000 mũi thép trong một phát, có thể bao phủ mặt trước rộng 30 mét ở khoảng cách 100 mét. Họ gọi nó là đạn “tổ ong” (beehive).


Và lần đầu tiên nó được sử dụng trong chiến đấu tại một căn cứ hỏa lực tên LZ Bird vào đêm 27 tháng 12 năm 1966, nó đã quét qua ba tiểu đoàn bộ binh Bắc Việt và góp phần gây ra hơn 250 thương vong tử trận phía đối phương. Dễ sợ. Không biết một tiểu đoàn Việt Cộng là bao nhiêu, nghe nói từ 300-500 người. Vậy xem như có 900-1,500 bộ đội ở trận đánh này và có đến 250 bị chết. Kinh


Đó mới chỉ là phần mở đầu. Nhưng khoảnh khắc chứng minh bản chất thật sự của loại vũ khí này, trận đánh khiến pháo thủ hoàn toàn tin tưởng và buộc bộ đội bác Hồ phải thay đổi cách tác chiến trong suốt phần còn lại của cuộc chiến diễn ra ba tháng sau tại một căn cứ hỏa lực tên Suối Tre.

Có ông mỹ tải tấm ảnh này nói là nhờ đầu đạn tổ ong đã cứu đại đội của ông thoát chết

Nhưng trước tiên, cần hiểu vấn đề mà đạn beehive được tạo ra để giải quyết vì nếu không có bối cảnh đó, các con số chỉ khiến chúng ta bá vơ. Đây là thực tế chiến thuật của một căn cứ hỏa lực ở Việt Nam lúc 3 giờ sáng. Một pháo thủ bên trong vòng phòng thủ, bao cát, dây thép gai concertina, mìn Claymore, pháo sáng bẫy. Hình như loại này được gắn cài ở ngoài rào. Việt Cộng chui đến đụng thì pháo nổ sáng lên để mấy người canh gác nhắm vào chỗ đó để bắn.


Khẩu pháo trong trại, căn cứ đang hướng ra ngoài với góc cao để yểm trợ hỏa lực gián tiếp cho các đơn vị bộ binh hoạt động cách đó hàng dặm. Đó là nhiệm vụ bình thường của pháo thủ. Bắn đạn qua các ngọn đồi tới các tọa độ được báo về qua radio bởi đề lô. Rồi vòng phòng thủ bị tấn công, Đặc công của bộ đội đã cắt hàng rào. Đạn cối rơi dồn dập vào vị trí của các pháo thủ. Và giữa khói, ánh pháo hỏa châu và tiếng ồn, lính trong căn cứ có thể thấy hoặc chỉ cảm nhận cho rằng có hàng trăm người đang tiến về phía bạn qua khoảng đất trống. Mình nghe kể là Việt Cộng hay dùng chiến thuật Biển Người của Mao Trạch Đông, thổi kèn in ỏi, la hét “hàng sống chống chết” chi đó khi tấn công vào đồn. Nghe âm thanh này cũng đủ sợ, vái tứ phương.


Biệt động Việt Cộng đã vào trong phạm vi 300 mét. Họ đang áp sát rất nhanh. Khẩu pháo trong căn cứ lúc này gần như vô dụng. Nó đang chĩa lên trời. Đạn nổ mạnh được thiết kế để bay vòng cung qua địa hình và phát nổ khi chạm đất hoặc trên không. Chúng phát tán mảnh văng theo mọi hướng, rất hiệu quả ở khoảng cách xa, nhưng cực kỳ thiếu chính xác ở cự ly gần.


Ở 100 mét, một quả đạn pháo có thể bay quá mục tiêu, nổ phía sau kẻ tấn công, hoặc tệ hơn, rơi trúng chính quân mình. Súng máy đang bắn. Mìn Claymore phát nổ nhưng làn sóng tấn công vẫn tiếp tục tiến lên vì bộ đội NVA hiểu rõ bài toán. 


27 người Mỹ đã thiệt mạng so với 250 bộ đội. Thiếu tướng David Ott, Tư lệnh Pháo binh Dã chiến của Lục quân, sau này viết rằng LZ Bird đã chứng minh đạn “beehive” là một vũ khí cực kỳ quan trọng cho toàn bộ chương trình phòng thủ căn cứ hỏa lực.


Từ đêm đó trở đi, mọi căn cứ hỏa lực mỹ tại Việt Nam đều bố trí sẵn đạn beehive với các khu vực bắn được chỉ định. Loại vũ khí từng chỉ là một khái niệm lý thuyết giờ đã trở thành học thuyết tiêu chuẩn.


Nhưng LZ Bird là hỗn loạn. Đạn beehive được bắn trong tuyệt vọng vào một vị trí đã bị tràn ngập, như biện pháp cuối cùng. Câu hỏi mà chưa ai trả lời lúc đó là: điều gì xảy ra khi sử dụng nó một cách có chủ đích, như một phần của hệ thống phòng thủ được lên kế hoạch, trước khi đối phương chạm đến hàng rào? Ba tháng sau, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đưa ra câu trả lời tại căn cứ hỏa lực Suối Tre, Tỉnh Tây Ninh.


Ngày 21 tháng 3 năm 1967 vào rạng bình minh. Hai tiểu đoàn Việt Cộng thuộc Trung đoàn 272 tấn công căn cứ do Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh 22, Sư đoàn 25 trấn giữ. Cuộc tấn công đến từ phía đông và đông nam. Bộ binh Việt Cộng đông đảo tiến qua bìa rừng về phía chu vi phòng thủ. Lần này, việc phòng thủ không còn là ứng biến như LZ Bird. Chỉ huy đã lập kế hoạch sẵn các khu vực bắn đạn beehive. Khi làn sóng tấn công tiến vào khu vực giao chiến, ông ra lệnh. Trước tiên, ông yêu cầu các chỉ huy đại đội bộ binh cho binh sĩ vào vị trí ẩn nấp. Sau đó, ông ra lệnh cho các khẩu pháo 105 mm nạp đạn APERS và bắn về phía đông và đông nam. Các khẩu pháo khai hỏa.


40 quả đạn beehive trong một trận đánh, số lượng đạn M546 được sử dụng nhiều nhất trong bất kỳ trận nào tính đến thời điểm đó. 320,000 phi tiêu được bắn ra. Báo cáo sau trận mô tả kết quả trong một câu. Những khoảng trống lớn đã bị xé toạc trong đội hình tấn công, không phải bị thương, không phải bị chế áp mà là những khoảng trống. Toàn bộ các phân đoạn của đội hình xung phong đã biến mất. Cuộc tấn công của Việt Cộng bị phá vỡ. Bộ binh chuyển sang phản công, truy đuổi những bộ đội sống sót trở lại bìa rừng. Khi trận chiến kết thúc, số thi thể được đếm là 299 bộ đội tử trận. 31 người Mỹ thiệt mạng. Tỷ lệ gần 10:1.


Và báo cáo sau trận ghi nhận một điều đã thay đổi vĩnh viễn cách Lục quân nhìn nhận phòng thủ căn cứ hỏa lực. Đạn beehive cực kỳ hiệu quả trong việc chặn đứng bộ binh địch đang xung phong. Đó là một đánh giá tác chiến, được viết bởi những sĩ quan vừa chứng kiến 8.000 mũi thép trong mỗi quả đạn xé nát một cuộc tấn công cấp tiểu đoàn trong 100 mét cuối cùng của hướng giao tranh.


Trước LZ Bird và Suối Tre, học thuyết tấn công chính của bộ đội là bộ binh tập trung lực lượng. Đánh vào chu vi tại một điểm. Áp đảo bằng số lượng của biển người, chấp nhận thương vong tạo khí thế tấn công. Sau năm 1967, học thuyết đó thay đổi. Các nhà phân tích tình báo Mỹ ghi nhận rằng các đơn vị Việt Cộng bắt đầu điều chỉnh chiến thuật tấn công để đối phó với hỏa lực bảo vệ cuối cùng, trong đó có đạn beehive.


Tại Xa Cát tháng 10 năm 1967, các tiểu đoàn bộ đội tấn công bằng cách bò, giữ tư thế nằm để giảm mức độ phơi bày trước quỹ đạo thấp của chùm flechette. Họ áp dụng chiến thuật “bám sát”, bám lại gần binh sĩ mỹ trong khoảng 20–30 mét trước khi khai hỏa, lực lượng phòng thủ không thể bắn beehive mà không gây nguy hiểm cho chính quân mình. Họ chuyển từ các làn sóng biển người đông đảo sang các mũi đột nhập do đặc công dẫn đầu, những nhóm nhỏ chuyên cắt hàng rào và phá hầm thay vì cả đại đội xông qua địa hình trống.


Đến năm 1969, quân đội Mỹ tiếp tục hoàn thiện khái niệm phòng thủ căn cứ. Căn cứ hỏa lực Crook, tháng 6 năm 1969, đại diện cho việc áp dụng hoàn chỉnh học thuyết beehive. Radar giám sát mặt đất và cảm biến địa chấn phát hiện lực lượng bộ đội đang tập trung ở bìa rừng trước khi cuộc tấn công bắt đầu. Pháo binh bắn đạn beehive vào các tọa độ đã được ghi nhận sẵn dựa trên dữ liệu cảm biến, không phải như biện pháp cuối cùng, mà là đòn đánh mở đầu.


Trong hai đêm giao tranh, 76 thi thể NVA được tìm thấy trong một khu vực. Tỷ lệ tiêu diệt tại khu vực đó gần 76:1. Đạn beehive đã tiến hóa từ một biện pháp tuyệt vọng thành một vũ khí được tính toán. Không còn bắn trong hoảng loạn khi đối phương đã vào trong hàng rào, mà được dẫn hướng bằng radar vào các đội hình vẫn còn đang tập họp trong rừng. Loại đạn được thiết kế để chặn một cuộc tấn công đang diễn ra giờ đây ngăn chặn chúng trước khi bắt đầu.


Khi chiến tranh tiếp diễn, nhiều đơn vị pháo binh ngày càng dựa vào thứ họ gọi là “Killer Junior” đạn nổ mạnh tiêu chuẩn với ngòi nổ thời gian cơ học, được cài đặt để phát nổ ở độ cao 10–30 mét, tạo ra vụ nổ trên không phát tán mảnh theo mọi hướng. Killer Junior bền vững hơn về hậu cần. Mỗi đội pháo binh mang theo hàng trăm quả đạn HE, nhưng chỉ có số lượng hạn chế đạn beehive. Họ thay đổi cách bắn, nổ trên không hoạt động 360°, trong khi chùm của beehive chỉ bao phủ khu vực phía trước nòng pháo.


Nhưng Killer Junior không thể làm điều mà beehive làm được tại hàng rào. Nó không thể lấp kín mặt trận 30 mét bằng 8.000 đầu đạn trong một lần bắn. Nó không thể biến 100 mét cuối cùng của hướng tiếp cận thành một bài toán không có lời giải đối với bộ binh đông đảo tiến trên địa hình trống.


Ở những khoảng cách mà phòng thủ căn cứ là vấn đề sống còn, nơi người lính có thể nhìn thấy những người đang cố giết họ. Không có gì trong kho vũ khí Mỹ sánh được với những gì M546 mang lại. Đạn beehive không thắng cuộc chiến Việt Nam. Không có vũ khí đơn lẻ nào làm được điều đó. Nhưng nó đã thay đổi điều kiện của trận chiến tại điểm duy nhất mà Việt Cộng luôn có lợi thế: đòn tấn công cuối cùng.


Trước beehive, chạm đến hàng rào là cái giá thương vong có thể chấp nhận. Sau beehive, chạm đến hàng rào là án tử cho bất kỳ ai còn đứng thẳng. Bộ đội là những người lính chuyên nghiệp, thích nghi với mọi loại vũ khí mới mà Mỹ. Họ cũng thích nghi với beehive bằng cách bò, bằng cách bám sát, bằng cách sử dụng đặc công thay vì cả tiểu đoàn.


Những pháo thủ đã bắn những loạt đạn đó tại LZ Bird, tại Suối Tre, tại Crook, và tại hàng chục căn cứ hỏa lực không bao giờ được ghi vào sách lịch sử, họ kể lại là nhớ âm thanh. Không phải tiếng nổ của khẩu pháo, mà là âm thanh sau đó.


8.000 mũi flechette xé gió ở tốc độ 1.500 feet mỗi giây tạo ra một âm thanh mà các cựu binh mô tả là tiếng rít, hay tiếng vo ve, hoặc thứ gì đó mà họ chưa bao giờ tìm được từ ngữ chính xác.


Có ông mỹ kể như sau về trận đánh ở Suối Tre:


l only know of only one time that a bee hive was used in combat. l meet a guy who came to our unit right before l transferred out. He was on a 155mm howitzer at the battle of Soui Tre. They were being over run when they fired l think one round. l remember him saying he heard it go off and then it was dead quiet. Ai buồn đời thì đọc hai đường dẫn dưới đây để hiểu rõ hơn. Mình thấy giết người quá kinh khủng.


https://en.wikipedia.org/wiki/Beehive_anti-personnel_round


https://grokipedia.com/page/Beehive_anti-personnel_round


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Quân đội bị lãng quên

 Quân đội bị bỏ quên


Khi đọc sách báo về cuộc chiến tranh Việt Nam từ người Mỹ hay Hà Nội viết thì tuyệt nhiên không thấy ai nhắc đến công lao và sự hy sinh trên 1 triệu người ở miền Nam. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc. Người Mỹ thì kêu các sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà tham nhũng, bất tài trong khi Hà Nội chỉ kêu bọn nguỵ quân nguỵ quyền, tay sai đế quốc sài lang. Thật ra thì có vài ông tướng tham nhũng như ông Nguyễn Văn Toàn, khi làm tư lệnh quân khu II, đã cho đệ tử trao tiền cho Việt Cộng để người ông ta vào cưa cây đem bán cho ngoại quốc. Mình có kể vụ này rồi khi trinh sát 302 bắt gặp và bắn chết Việt Cộng và thiếu tá đưa tiền Việt Cộng khiến ông ta nổi điên đi trực thăng kiếm thiếu tá Phong ở ngoài mặt trận. Nếu con chúng ta đọc những tài liệu này hay được dạy ở trường thì chúng sẽ bị xấu hổ về cha ông của chúng. Ngày nay thì Hà Nội còn tham nhũng gấp vạn lần.

Khi mình sang Hoa Kỳ thì thấy đại học Hoa Kỳ tổ chức các buổi thảo luận về chiến tranh Việt Nam. Để diễn đàn thêm phần trung dung, họ mời đại diện Hà Nội, đại diện người Mỹ phản chiến và đại diện cộng đồng người Việt tỵ nạn. Vấn đề là cộng đồng người Việt không thống nhất đưa ai đi đại diện. Người muốn đi thì không rành anh ngữ, các sinh viên Việt Nam nói sẽ thông dịch rồi cuối cùng họ từ chối tham dự, chỉ kéo nhau lại biểu tình trước cổng đại học rồi ra về hồ hởi vì đã đi biểu tình chống cộng trong khi người Mỹ phản chiến và Hà Nội bên trong nói chuyện đưa ra quan điểm của họ cho thính giả mỹ. Nhiều người trong cộng đồng người Việt từng là sĩ quan cấp tá mà không hiểu cuộc chiến tranh tâm lý. Trình bày quan điểm tại sao Việt Nam Cộng Hoà thua và sự tàn ác của Việt Cộng. Cứ kêu bọn Việt Cộng không tin được, gian ác lắm. người Việt chúng ta nói chuyện theo cảm tính nhưng người Tây phương thì họ nói chuyện theo lý lẻ, phải giải thích lý do thì người mới tâm phục khẩu phục. Ngoài ra mình dám chắc nội tuyến của Hà Nội khắp nơi trong các hội đoàn người Việt. Tìm cách gây lũng đoạn.


Khi mình được sinh viên mời đi nói chuyện với người Mỹ tại đại học như NYU hay Brown,… Gặp phản chiến mỹ như ngày nay thế hệ xuống đường chống MAGA này nọ. Mình chỉ đưa ra vài điểm cho người Mỹ hiểu. Tại sao cả triệu người Việt bỏ nước ra đi bằng đường biển mà theo tin tức của cao uỷ tỵ nạn liên hiệp quốc cho biết chỉ 50% đến bờ còn lại chôn vùi trong biển sâu. Thủ tướng Phạm Văn Đồng trả lời Paris Match có 3 triệu tù nhân cải tạo. Đưa ra thí dụ của 3 anh em Nguyễn Tuệ, không được Hà Nội cho học, nay 3 anh em vượt biển, ai nấy đều có bằng tiến sĩ nhất là Nguyễn Tuệ có 7 cái bằng của đại học MIT. Không cần chửi bới đưa thí dụ để sinh viên mỹ hiểu vì chính họ đã thấy các sinh viên gốc việt kể là thuyền nhân. Tiếng tây tiếng u không rành nhưng cứ nói. Có lần bà giáo sư đại học NYU tranh cãi với mình, sau đó bắt tay mình kêu “good debate!”.


Dạo ấy mình hay ghé nhà ông Al Santoli, cựu chiến binh mỹ, có qua trại tỵ nạn giúp người Việt tỵ nạn và lấy vợ ở trại đem về mỹ. Chỉ có ông ta đơn độc nói về chiến tranh Việt Nam. Nên nhớ sau vụ Mỹ Lai, các cựu chiến binh mỹ về lại Hoa Kỳ hay bị người Mỹ lên án là những kẻ giết đàn bà con nít babykiller”. Nên ít cựu chiến binh xuất hiện, nay thì khác nhưng họ đều lớn tuổi.


Có ông mỹ viết cuốn sách Vietnam’s Forgotten Army: Heroism and Betrayal in the ARVN, nói về quân đội Việt Nam Cộng Hoà bị bỏ quên để dấy lên sự đóng góp của quân lực Việt Nam Cộng Hoà trong cuộc chiến đấu cho tự do. Những cuốn sách này nên khuyến khích con cháu chúng ta đọc để chúng tự hào về Việt Nam Cộng Hoà, thay vì chỉ đọc sách mỹ hay của Hà Nội đều gieo tiếng ác, hạ nhục kẻ thua cuộc.

Cuốn sách của Andrew Wiest góp phần lấp đầy một khoảng trống lớn trong lịch sử Chiến tranh Việt Nam. Trong khi hàng nghìn cuốn sách đã được viết về cuộc chiến từ góc nhìn của người Mỹ và phía cộng sản Việt Nam, thì Quân lực Việt Nam Cộng hòa (ARVN) lại thường bị các sử gia phương Tây xem như đúng theo những gì tuyên truyền cộng sản mô tả một lực lượng “tay sai”, nguỵ quân kém cỏi, với những nỗ lực hầu như không ảnh hưởng đến kết cục của cuộc chiến. Rất ít sự chú ý được dành cho những trải nghiệm, đóng góp và lòng dũng cảm của các binh sĩ ARVN, những người đã chiến đấu suốt nhiều thập kỷ trong điều kiện khắc nghiệt và vì những lý do mà ít người Mỹ thực sự hiểu rõ.


Có nhiều người miền Nam đem tâm tình viết hồi ký nhưng đường như để đánh bóng cá nhân của họ nhiều hơn. Ít được dịch ra anh ngữ hay pháp ngữ,… khi xưa sống tại Đà Lạt đọc báo và nghe radio thì tin tức chiến sự đều phe ta vô sự, hạ sát mấy chục cộng quân, bắt tù binh này nọ,… chỉ khi ra hải ngoại đọc tin tức hai bên thì mới khám phá ra chiến dịch Lam Sơn 719 là thất bại, chết rất nhiều cả hai bên ở Quảng trị,…


Nhớ dạo ấy, đài Sàigòn nói nhiều về đại tá Nguyễn Đình Bảo hy sinh tại Hạ Lào, sau này đọc hồi ký của nhạc sĩ Tô Hải thì ông ta kể Hà Nội bắt sống ông đại tá này và cho rêu rao trên đài phát thanh Hà Nội. Nhạc sĩ Tô Hải có viết cuốn hồi ký thằng Hèn, nói chung ông ta bị Hà Nội đì mệt thở. Nhau công ta được chơi ở nhà hát Hà Nội nhưng ông ta không được tham dự vì chống lại Hà Nội.


Giáo sư Wiest kể lại câu chuyện đầy kịch tính về hai sĩ quan trẻ của Việt Nam Cộng Hoà, Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ, những người có cuộc đời song hành nhưng cuối cùng cuộc chiến lại đưa ra những lựa chọn hoàn toàn khác nhau khi đối mặt với quyết định khắc nghiệt nhất mà một người lính có thể gặp phải. Cả hai đều xuất thân từ những gia đình trung lưu có học thức, đều sinh ra tại cố đô Huế, và đều phục vụ suốt sự nghiệp quân sự của mình trong Sư đoàn 1 bộ binh Việt Nam Cộng Hoà mà theo nhiều chuyên gia quân sự đánh giá là một trong những đơn vị tinh nhuệ nhất của quân đội miền Nam. 


Cả hai ông Đính và Huệ đều có thành tích chiến đấu xuất sắc. Cả hai đóng vai trò quan trọng trong trận tái chiếm thành phố Huế trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân năm 1968, nơi họ thể hiện năng lực vượt trội đến mức đều được trao tặng huân chương quân sự của Hoa Kỳ (Ngôi Sao Đồng và Ngôi Sao Bạc) vì lòng dũng cảm và thành tích trong trận chiến kéo dài và đẫm máu này. Giáo sư Wiest chỉ ra rằng vai trò quan trọng của các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà trong trận chiến này phần lớn đã bị các sử gia Mỹ bỏ qua. Hình như mất cả tháng mới chiếm lại hoàn toàn Huế.


Sau Tết Mậu Thân, khi cuộc chiến dần kết thúc đối với quân đội Mỹ nhưng lại trở nên ác liệt hơn đối với Việt Nam Cộng Hoà, cả hai người tiếp tục chỉ huy các đơn vị của mình và bất ngờ rơi vào những tình huống tuyệt vọng, nơi lựa chọn duy nhất là đầu hàng và chuyển sang phía đối phương, đối mặt với thất bại không thể tránh khỏi, bị bắt, bị giam cầm, hoặc cái chết. Trần Ngọc Huệ, chiến đấu tại Lào vào đầu năm 1971, đã đưa ra một lựa chọn, trong khi Phạm Văn Đính, với tư cách là một chỉ huy trung đoàn đối mặt với tình thế vô vọng trong cuộc Tổng tấn công mùa Phục Sinh năm 1972, lại chọn một con đường khác. Giáo sư Wiest đã giải thích những yếu tố chính trị và tâm lý ảnh hưởng đến quyết định của mỗi người.


Với tư cách là một bức chân dung về hai cá nhân sống động và quan trọng, cuốn sách này đưa ra tình huống, và câu chuyện của họ phản ánh hình ảnh của nhiều sĩ quan và binh lính Việt Nam Cộng Hoà dũng cảm đã chiến đấu và hy sinh vì lý tưởng của mình trong Chiến tranh Việt Nam. Tuy nhiên, ở một tầng ý nghĩa khác, Giáo sư Wiest dựa vào quan điểm của hai sĩ quan này để đưa ra một số phê bình chung về chiến lược quân sự của Hoa Kỳ tại Việt Nam.


Xuyên suốt cuốn sách, Giáo sư Wiest lặp lại những chỉ trích của Đính và Huệ rằng vào thập niên 1950 và đầu những năm 1960, quân đội Hoa Kỳ đã “ép buộc” ban lãnh đạo Việt Nam Cộng Hoà và Tổng thống Ngô Đình Diệm xây dựng quân đội Việt Nam Cộng Hoà thành một “quân đội quy ước” thay vì như các tướng lĩnh Việt Nam Cộng Hoà và ông Diệm được cho là mong muốn một lực lượng tập trung vào chống nổi dậy, du kích chiến. Giáo sư Wiest khẳng định đây là một sai lầm chiến lược căn bản. Ai buồn đời đọc báo Hà Nội theo đường dẫn. 


https://www.qdnd.vn/chinh-tri/tiep-lua-truyen-thong/tu-duy-chien-luoc-quan-su-cua-dai-tuong-vo-nguyen-giap-745496#:~:text=Chi%E1%BA%BFn%2520tranh%2520nh%C3%A2n%2520d%C3%A2n%2520%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c%2520ph%C3%A1t%2520huy,v%E1%BB%9Bi%2520ph%C6%B0%C6%A1ng%2520ch%C3%A2m%2520%E2%80%9Chai%2520ch%C3%A2n%252C%2520ba%2520m%C5%A9i%E2%80%9D;


Thực tế, như bất kỳ ai nghiên cứu về Chiến tranh Việt Nam và các tác phẩm của tướng Bắc Việt Võ Nguyên Giáp đều biết, chiến lược “chiến tranh nhân dân” của phía cộng sản không phải là một cuộc nổi dậy cổ điển. Họ tiến hành chiến tranh bằng một chiến lược kết hợp độc đáo giữa chiến tranh du kích quy mô nhỏ và các chiến dịch quy ước quy mô lớn. Một quân đội Việt Nam Cộng Hoà được tổ chức chủ yếu để chống nổi dậy có lẽ đã bị tiêu diệt trước các đợt tấn công quy mô lớn của lực lượng chính quy cộng sản bắt đầu từ năm 1964; thực tế, ngay cả lực lượng Việt Nam Cộng Hoà “quy ước” do Hoa Kỳ xây dựng trong chương trình Việt Nam hoá mà Wiest chỉ trích cũng tỏ ra quá yếu để chống lại những đòn đánh này. Chính sự yếu kém đó, chứ không phải việc Việt Nam Cộng Hoà không thể đối phó với du kích, đã buộc Hoa Kỳ phải đưa lực lượng bộ binh chiến đấu vào Việt Nam năm 1965. Chúng ta nhớ vụ áp dụng chương trình ấp chiến lược được áp dụng thành công ở Mã Lai nhưng thất bại ở Việt Nam vì văn hoá khác nhau.

Trung tá Đính đầu hàng Việt Cộng để cứu binh sĩ vì hết đạn, không được tiếp tế.

Cuối cùng, sự nghiệp quân sự của cả Phạm Văn Đính và Trần Ngọc Huệ đều bị hủy hoại khi các đơn vị Việt Nam Cộng Hoà quy mô lớn mà họ chỉ huy bị các đơn vị Bắc Việt áp đảo trong những trận đánh quy mô trung đoàn lớn… có báo Hà Nội nói về vụ trung tá Đính đầu hàng như sau:


https://cand.com.vn/Tu-lieu-antg/Ngay-tro-ve-cua-trung-ta-Pham-Van-Dinh-trong-mua-he-do-lua-i303933/


Tại căn cứ Carroll, ông Phạm Văn Đính, chỉ huy tiểu đoàn 56 khi quân đội chính quy của Hà Nội tấn công cuối tháng 3 năm 1972. Theo người ta kể lại thì tiểu đoàn của ông thiếu đạn dược, không được tiếp viện. Và bị tổn hại khá nhiều. Cuối cùng ông ta liên lạc với cộng quân vào 2:30 chiều ngày 2 tháng 4 năm 1972, xin đầu hàng. Sự đầu hàng của ông ta khiến quân đội miền Nam mất thêm nhưng địa cứ khác như Mai Lộc vì tiểu đoàn này có pháo binh hạng nặng. Và đưa đến mất Quảng Trị và Hải Lăng. Hình như sau vụ này hai tướng Vũ Văn Giai và Hoàng Xuân Lãm bị cách chức, ông Vũ Văn Giai bị lên án 5 năm tù, sau 75 đi tù Việt Cộng. Còn ông Hoàng Xuân Lãm thì ngồi chơi xơi nước đến 75.

Trong khi ông Trần Ngọc Huệ thì bị bắt làm tù binh tháng 3 năm 1971 trong thời gian chiến dịch Lam Sơn 719. Ông ta được đưa ra Hà Nội nhốt tại Hoa Lò mà người Mỹ hay gọi Hà Nội Hilton. Ông ta được thả năm 1983 và sang Hoa Kỳ năm 1991 với gia đình. (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn