Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Cuộc chiến kinh tài trước 75

 Cuộc chiến kinh tài trước 75

Trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua, người ta thường nói về quân sự, chiến thuật với những trận đánh nhưng có lẻ việc quan trọng để thắng một cuộc chiến là kinh tế. Chúng ta thấy ngày nay các cuộc chiến Ukraina hay vùng vịnh Ba tư, các nước cứ ra lệnh cấm vận để thắc chặt nền kinh tế của Nga hay Ba Tư, mong sao họ sẽ kinh tế họ kiệt quệ và đầu hàng.


Vấn đề là các cuộc cấm vận này thường không thành công. Lý do là có chợ đen. Ông thần Putin bán cho anh ba tàu dầu hoả rẻ. Thế là bác Putin cứ tha hồ đánh anh Ukraina. Tương tự Hoa Kỳ cấm vận anh Ba tư thì họ bán dầu rẻ cho anh ba tàu. Huề cả làng.


Tương tự khi người Pháp trở lại Đông-Dương năm 1945 với danh nghĩa tước vũ khí quân đội Nhật Bản thì đảng cộng sản có gây quỹ để chống pháp. Mệ ngoại mình kể là có tuần lễ vàng, khiến thiên hạ nô nức góp tiền bạc. Mệ ngoại tặng 1 sợi dây chuyền. Thời xưa có một sợi dây chuyền, nghèo là Qúy lắm. Pháp quốc sau thế chiến thứ 2 thì đói nên họ sử dụng thuốc phiện do người Thái trắng trồng để bán ở Hà Nội và toàn Việt Nam, nhằm gây quỹ chống lại Việt Minh.


Do đó khi Việt mInh đã làm chủ tình hình vùng Việt bẮc thì quay qua vùng tự trị của người Thái, để đánh phá nhằm cắt đường kinh tài cho người Pháp. Do đó người pháp đã biến thung lũng Điện Biên Phủ thành một căn cứ nhằm đánh tan các sư đoàn của việt minh như họ đã từ làm tại căn cứ Na-San. Điện biên Phủ thất thủ thì người Pháp chả còn tiền để tiếp tục cuộc chiến nên rời Việt Nam.


Trong cuộc chiến Việt Nam trước 75, ngoài các trận đánh, có một cuộc chiến âm thầm bí mật khác mà ít ai nhắc đến, rất quan trọng là cuộc chiến kinh tài. Việt Cộng đưa bộ đội qua ngõ Hạ Lào, Cam Bốt để đánh phá Việt Nam Cộng Hoà. Họ chuyên chở vũ khí từ Trường Sơn, hải cảng Sihanoukville,… cho các bộ chỉ huy của Hà Nội tại Cam Bốt và Hạ lào. Có cuốn hồi ký của ông Lê Văn Châu “Huyền thoại con đường tiền tệ trong kháng chiến chống Mỹ”, kể lại hoạt động bí mật của ngành ngân hàng trong việc bảo đảm tài chánh cho chiến trường miền Nam giai đoạn 1965–1975.  


Nếu đường Trường Sơn vận chuyển người và vũ khí, thì “con đường tiền tệ” vận chuyển tiền và ngoại tệ phục vụ chiến tranh. Hệ thống này do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức bí mật để đưa tiền từ nước ngoài về, sau đó phân phối cho các chiến trường miền Nam.  Mình nghe kể đại đội trinh sát 302 đi thám thính ở Núi Với, bắt được một cái sacoche, chứa đâu 5,000 mỹ kim của Việt Cộng. Các đại đội chia nhau số tiền khiến Việt Cộng căm thù. Sau 75, đi lùng lính 302 ở Đà Lạt.


Theo cuốn hồi ký, nhu cầu tài chính của chiến trường không chỉ là tiền Việt Nam mà còn cần:

  • Đồng đô la Mỹ.
  • Tiền Sài Gòn.
  • Đồng Riel của Campuchia.
  • Đồng Kip của Lào.
  • Đồng Baht của Thái Lan.  

Họ cần tiền để nuôi mấy ông tướng của vua Sihanouk để cho vũ khí được chuyển qua xứ họ. Cũng như phải bôi trơn các quan chức người Lào. Còn tiền Việt Nam Cộng Hoà để mua gạo muối, nước mắm cho bộ đội.


Đà Lạt xưa kia có mấy người ở Đà Lạt có môn bài bán gạo như cô Ba Chỉ, tiệm Bình Lợi ở dưới CHợ Mới, tiệm Sơn Hà ở đường Phan Đình Phùng, dì T ở Chi Lăng,… đó là những đại lý gạo ở Đà Lạt mà mình biết vì khi xưa đi lấy gạo đường từ họ. Mẹ mình kể là có lần cô Ba CHỉ kêu mẹ mình vào tiệm nói là có gạo mới về, ai hỏi thì bán kiếm lời nuôi con. Hình như 7,000 một bao. Độ 1 tiếng đồng hồ sau thì có bà vợ của ông T, làm đài phát thanh Đà Lạt ghé lại kêu muốn mua 100 bao gạo. Mẹ mình bán 8,000 một bao, bà ta không trả. Cứ lâu lâu bà ta đến mua mẹ mình gạo cứ 100 bao. Sau 75 mới khám phá ra bà ta nằm vùng, kinh tài cho Việt Cộng. Nằm trong nhóm của cô Ba Chỉ nên cô cứ kêu mẹ mình bán dùm. Mình đoán lý do là ông cụ mình là công chức nên ít ai để ít đến mẹ mình.


Một mạng lưới đặc biệt mang mật danh B29 được thành lập ở ngoài Việt Nam. Các cán bộ ngân hàng hoạt động dưới nhiều vỏ bọc khác nhau tại các trung tâm tài chính quốc tế như Hồng Kông và Bắc Kinh để tiếp nhận, chuyển đổi và vận chuyển ngoại tệ. Tiền bạc cho Việt kiều yêu nước đóng góp, ngoại quốc viện trợ,… mình có đọc tài liệu là Hà Nội đưa người qua Pháp để chuyển đổi tiền bạc nữa. Đọc bài đô la đỏ.



Khi tiền được đưa về nước: Tiền được chia nhỏ, niêm phong trong các hộp thiếc chống cháy. Vận chuyển bí mật qua nhiều tuyến đường và phân phát tới các đơn vị hoạt động ở miền Nam và các cơ sở nằm vùng ở Sài Gòn.  Như bà mua gạo của mẹ mình.


Hoạt động này cực kỳ nguy hiểm: khối lượng tiền có thể lên tới hàng triệu USD. Nguy cơ bị phát hiện, tịch thu hoặc cướp đoạt rất lớn. Tất cả đều được giữ bí mật tuyệt đối trong nhiều năm. Hàng trăm cán bộ ngân hàng đã tham gia nhiệm vụ đặc biệt này nhưng rất ít người được biết đến công khai.  


Ngoài ra, Hà Nội còn đưa vàng vào Nam để đổi tiền và mua thực phẩm. Hai đơn vị nổi tiếng nhất của con đường tiền tệ là: Quỹ ngoại tệ đặc biệt B29 và Ban Tài chính đặc biệt N.2683


Cuốn sách không chỉ kể về nghiệp vụ ngân hàng mà còn cho thấy vai trò của tài chính trong chiến tranh. Những chiến dịch bí mật ít được biết đến. Các cán bộ ngân hàng hoạt động như những chiến sĩ tình báo kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu xem “con đường tiền tệ” là một kỳ tích hậu cần tài chính, tương tự như vai trò của tuyến đường Hồ Chí Minh đối với vận tải quân sự.  


Ông Lê Văn Châu là một trong những nhân chứng quan trọng nhất của “con đường tiền tệ” trong cuộc chiến đánh chiếm miền Nam. Điều đặc biệt là ông không phải một cán bộ hậu cần thông thường mà hoạt động như một sĩ quan tài chính - tình báo trong mạng lưới B29.  Vào cuối thập niên 1960, ông là thành viên nòng cốt của B29 – quỹ ngoại tệ đặc biệt chuyên tiếp nhận và chuyển các nguồn ngoại tệ viện trợ vào chiến trường miền Nam.  


Năm 1967, Lê Văn Châu được cử sang Bắc Kinh dưới vỏ bọc Tùy viên Kinh tế của Bộ Ngoại thương Việt Nam. Công việc công khai là ngoại giao kinh tế, nhưng nhiệm vụ thực sự là điều phối dòng tiền viện trợ quốc tế. Theo các tài liệu hồi ký và lời kể của ông, Bắc Kinh trở thành một nút trung chuyển cực kỳ quan trọng: Tiền từ Hồng Kông được chuyển đến. Tiền viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa được tập kết. Sau đó tiền được đưa về Hà Nội hoặc chuyển tiếp theo các tuyến bí mật vào miền Nam.  


Trong mạng lưới này, ông mang mật danh “Anh Bảo”. Một số tài liệu gọi ông là “trung tâm của ba trung tâm”, vì ông là đầu mối kết nối: B29 tại Hà Nội. Đầu mối tài chính tại Hồng Kông. Ngân hàng Trung Quốc tại Quảng Châu.  


Điều đáng chú ý là những đầu mối này thường không biết danh tính của nhau. Họ chỉ liên lạc bằng mật mã và hệ thống cơ yếu ngoại giao.  


Nhân vật được xem là kiến trúc sư của hệ thống B29 là Mai Hữu ÍchÔng là người trực tiếp phụ trách B29 ngay từ khi thành lập năm 1965. Dưới quyền ông chỉ có khoảng hơn mười cán bộ nhưng quản lý lượng ngoại tệ rất lớn phục vụ chiến trường. Các thành viên được tuyển chọn rất kỹ: Thành thạo ngoại ngữ, có nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, khả năng hoạt động bí mật và chấp nhận làm việc theo nguyên tắc đơn tuyến như tình báo.  


Theo chính lời kể của Lê Văn Châu, B29 hoạt động giống một cơ quan tình báo hơn là một ngân hàng: Mỗi người chỉ biết phần việc của mình. Nhiều mệnh lệnh chỉ truyền miệng. Không có hồ sơ công khai. Các cán bộ hoạt động dưới nhiều vỏ bọc khác nhau ở ngoại quốc. Toàn bộ hệ thống báo cáo theo đường đơn tuyến lên lãnh đạo cấp cao vì vậy gọi B29 là “tổ chức tình báo kinh tế đầu tiên của Việt Nam”.  


Theo các tài liệu được công bố sau chiến tranh, trong khoảng 10 năm hoạt động, B29 và N2683 đã huy động và vận chuyển hàng trăm triệu USD cùng nhiều loại tiền tệ khác cho chiến trường miền Nam. Phần lớn các khoản tiền đều đến nơi an toàn dù phải đi qua những tuyến đường cực kỳ nguy hiểm. Điều khiến nhiều người ngạc nhiên là toàn bộ chiến dịch này được giữ bí mật trong nhiều thập niên. Chỉ đến khi các nhân chứng như Lê Văn Châu bắt đầu viết hồi ký, công chúng mới biết rõ hơn về những “người lính ngân hàng” đã vận hành một hệ thống tài chính bí mật xuyên quốc gia giữa thời chiến.  


Hồng Kông là mắt xích quan trọng nhất và cũng táo bạo nhất của toàn bộ mạng lưới B29. Nếu Hà Nội là nơi chỉ huy, Bắc Kinh là nơi điều phối, thì Hồng Kông chính là “sàn giao dịch ngoại tệ bí mật” của con đường tiền tệ.  


Trong những năm 1960–1970, Hong Kong là thuộc địa của Anh và là một trong những trung tâm tài chính tự do lớn nhất châu Á. Mình có quen một cặp vợ chồng, khi xưa là đại gia tại Việt Nam, sau 75 họ có kể cho mình là có mua nhà ở Tây Ban Nha, căn hộ tại Hương Cảng, nay thấy lớn tuổi nên tính bán. Tại Hương Cảng Đồng USD được lưu thông rộng rãi. Các ngân hàng quốc tế hoạt động mạnh. Việc mua bán ngoại tệ dễ dàng hơn nhiều so với các nước xã hội chủ nghĩa. Có mạng lưới của Bank of China hỗ trợ các giao dịch tài chính của Trung Cộng. Chính vì vậy, B29 chọn Hồng Kông làm nơi chuyển đổi các khoản viện trợ quốc tế thành loại tiền cần thiết cho chiến trường.


Theo các cán bộ B29 kể lại, hệ thống làm việc gồm nhiều bước:

  1. Tiền viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác được tập trung về Quỹ B29 tại Hà Nội.
  2. Tiền được gửi vào hệ thống tài khoản của Ngân hàng Ngoại thương.
  3. Từ đó chuyển sang các ngân hàng ở Hồng Kông.
  4. Tại Hồng Kông, các loại tiền như franc Pháp, bảng Anh, đô la Hồng Kông được đổi sang USD hoặc các đồng tiền phù hợp với từng chiến trường.
  5. Sau đó mới tiếp tục được đưa về Hà Nội hoặc chuyển tới các đầu mối bí mật khác.  


Nghe có vẻ giống một nghiệp vụ ngân hàng bình thường, nhưng điều đặc biệt là tất cả đều diễn ra dưới sự giám sát của các cơ quan tình báo và trong điều kiện chiến tranh. Một trong những chi tiết thú vị nhất được công bố gần đây là hệ thống được vận hành bởi ba trung tâm đặc trách cùng mang bí danh “Anh Bảo”:

  • BOC Hồng Kông.
  • BOC Quảng Châu.
  • B29 Hà Nội.

Các đầu mối này gần như không liên hệ trực tiếp với nhau. Họ sử dụng mật mã và hệ thống cơ yếu để trao đổi thông tin. Người điều phối ở giữa là ông Lê Văn Châu tại Bắc Kinh. Ông Lê Văn Châu từng được các đồng đội gọi là “trung tâm của ba trung tâm”, vì mọi luồng thông tin về tiền tệ cuối cùng đều phải qua ông để điều phối. Một phần tiền được chuyển bằng nghiệp vụ ngân hàng (FM), nhưng có thời kỳ phải vận chuyển tiền mặt trực tiếp (AM).


Các cán bộ chuyển ngân mang sổ thông hành ngoại giao, di chuyển bằng máy bay quốc tế hoặc tàu hỏa liên vận. Mang theo va-li chứa lượng tiền rất lớn. Hành trình được giữ bí mật tuyệt đối. Theo lời kể của các cựu cán bộ B29, có những chuyến mang theo số tiền trị giá hàng triệu USD nhưng người vận chuyển gần như đi một mình, không có lực lượng bảo vệ công khai.  


Theo các tài liệu được giải mật và hồi ức của những người tham gia, nhiều cán bộ B29 làm việc ở Hồng Kông nhiều năm nhưng không biết đầy đủ nhiệm vụ của những người cùng mạng lưới. Họ chỉ nhận các chỉ thị rất ngắn gọn, thực hiện giao dịch được giao rồi chuyển kết quả cho đầu mối tiếp theo. Mô hình này giống hệt nguyên tắc “cell system” của các tổ chức tình báo chuyên nghiệp.  


Vì vậy, khi nghiên cứu về B29, nhiều sử gia cho rằng điều đáng kinh ngạc nhất không phải là số tiền đã được chuyển, mà là việc một nhóm chỉ khoảng 14 cán bộ đã vận hành thành công một mạng lưới tài chính xuyên quốc gia giữa lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt, kéo dài suốt gần một thập niên mà vẫn giữ được bí mật.  


Điều đặc biệt của B29 và N2683 là họ không chỉ đưa tiền từ miền Bắc vào miền Nam, mà còn tìm ra cách lấy được tiền ngay trong hệ thống tài chính của chính quyền Sài Gòn mà không phải vận chuyển qua Trường Sơn. Đây chính là phương thức nổi tiếng mang mật danh FM (chuyển khoản), được nhiều nhà nghiên cứu xem là một sáng tạo tài chính-tình báo rất độc đáo.  


Từ 1965 đến khoảng đầu thập niên 1970, phương thức chủ yếu là AM. Đưa tiền trực tiếp. B29 thu gom ngoại tệ, chủ yếu là USD, rồi: Đóng trong hòm kẽm chống cháy. Ngụy trang trong thùng gỗ. Giao cho các đơn vị vận tải quân sự. Chuyển theo đường Trường Sơn, đường biển hoặc các tuyến bí mật khác vào Nam.  


Nhược điểm của hệ thống này rất lớn:

  • Đi hàng tuần hoặc hàng tháng.
  • Dễ bị bom đạn phá hủy. Như tường hợp đại đội trinh sát 302 đi thám thính bắt được một sacoche có đến 5000 mỹ kim.
  • Tốn chi phí đổi tiền.
  • Khó đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của chiến trường.  

Các cán bộ N2683 nhận ra một điều: tại sao phải chở USD từ Hà Nội vào Sài Gòn, trong khi tiền Sài Gòn đã có sẵn trong các ngân hàng ở Sài Gòn? Từ đó họ xây dựng mạng lưới gồm:

  • Các thương gia yêu nước.
  • Chủ doanh nghiệp lớn. Như ông người Tàu chú của Vương Vũ ở Sàigòn. Mấy ngừoi này có tiền là họ làm chớ chả yêu bác Hồ hay bác Mao gì cả.
  • Một số đầu mối tài chính bí mật trong nội đô.

Những người này có:

  • Tài khoản ngân hàng ở Sài Gòn.
  • Tài khoản ngoại tệ ở Hồng Kông hoặc nước ngoài.
  • Khả năng rút lượng lớn tiền mặt mà không gây chú ý. 

Cách chuyển tiền qua ngân hàng tuần tự theo 4 bước:

Bước 1: Thương gia rút tiền tại Sài Gòn

Một doanh nhân hợp tác với N2683 đến ngân hàng ở Sài Gòn.

Ông ta rút một khoản lớn tiền mặt với lý do:

  • Mua hàng.
  • Trả lương.
  • Đầu tư kinh doanh.

Đối với ngân hàng Sài Gòn, đây là giao dịch hoàn toàn bình thường.  Mình đoán là ông thần này bán xuất cảng cái gì đó giá gấp 10 lần cho Việt Cộng rồi họ chuyển tiền qua ngân hàng. Khi tiền về thì họ rút tiền mặt đẻ giao cho N2383. Tiền sau đó được cất giữ tại các kho bí mật, phân phối cho lực lượng hoạt động nằm vùng, và chuyển tới các căn cứ của bộ đội tại miền Nam như Núi Với gần Đà Lạt.

Bước 3: N2683 gửi điện mật ra Hà Nội

Sau khi nhận đủ tiền, N2683 báo bằng điện mật:

“Đã nhận đủ.”

Đây là tín hiệu để kích hoạt khâu thanh toán quốc tế.  

Bước 4: B29 trả tiền ở nước ngoài

B29 không trả tiền tại Việt Nam. Thay vào đó:

  • Chuyển USD vào tài khoản nước ngoài của thương gia.
  • Thường thông qua các đầu mối tại Hồng Kông.
  • Hoặc các ngân hàng quốc tế khác.

Kết quả là:

Tại Sài Gòn

Tại Hồng Kông/Nước ngoài

N2683 nhận tiền mặt

Thương gia nhận USD

Không có giao dịch đáng ngờ

Thanh toán hợp pháp qua ngân hàng

Đây thực chất là một dạng thanh toán bù trừ xuyên biên giới bí mật. Bởi vì không có dòng tiền nào chảy trực tiếp từ Hà Nội vào Sài Gòn.

Những gì hệ thống ngân hàng nhìn thấy chỉ là:

  • Một doanh nhân rút tiền cho hoạt động kinh doanh.
  • Một tài khoản ở nước ngoài được ghi có USD.

Hai giao dịch này diễn ra ở hai nơi khác nhau và không dễ liên hệ với nhau. 

 

Theo lời kể của các cựu cán bộ N2683, nhiều giao dịch FM chỉ mất vài giờ hoặc vài ngày, trong khi vận chuyển AM có thể mất hàng tháng. Sau này thời gian chi viện được rút ngắn đáng kể, có tài liệu cho biết từ khoảng 30 ngày xuống còn vài ngày, thậm chí nhanh hơn khi hệ thống đã vận hành thuần thục.  


Một nhân vật ít được nhắc tới là đầu mối mang mật danh C130 của N2683 tại Sài Gòn.

C130 là trung gian:

  • Tiếp xúc với giới thương gia
  • Nhận tiền mặt.
  • Tổ chức giao nhận bí mật.
  • Báo xác nhận để B29 thanh toán ở nước ngoài. Họ chuyển ngân ra hải ngoại bằng kiểu này, tương tự như ngày nay, sinh viên du học, gia đình đưa tiền ở ở Việt Nam rồi ở ngoại quốc họ đưa lại.

Trong nhiều tài liệu hồi ký, C130 được mô tả như “ngân hàng ngầm” của cách mạng ngay giữa trung tâm tài chính Sài Gòn. Theo các tổng kết được công bố sau chiến tranh, FM đã chuyển được hơn 161 triệu USD giá trị tương đương cho chiến trường miền Nam, bên cạnh hơn 315 triệu USD đi bằng phương thức AM. Điều khiến các nhà nghiên cứu tài chính quan tâm là FM không chỉ là một tuyến hậu cần tiền tệ. Nó kết hợp:

  • Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
  • Hối đoái ngoại tệ.
  • Mạng lưới thương gia.
  • Liên lạc mật mã.
  • Nguyên tắc tổ chức kiểu tình báo.  

Vì vậy nhiều người xem FM của B29–N2683 là một trong những chiến dịch tài chính bí mật quy mô lớn và độc đáo nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ngày nay dân Việt Nam chuyển tiền ra hải ngoại còn tinh vi hơn nữa. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Tài, trùm tình báo khét tiếng của Hà Nội

 Nguyễn Tài, tình báo khét tiếng của Hà Nội 


Hôm nay đọc một bài của người Mỹ viết kể về một người làm phản gián cho Hà Nội, bắt hết các điệp viên hay lính Lôi Hổ của Nhà Kỹ Thuật nhảy Bắc để phá hoại thu thập tin tức như ông Đặng Chí bÌnh kể trong tập hồi ký Thép Đen. Sau này ông ta vào miền nam để cầm đầu hệ thống gián điệp ở miền Nam rồi tình cờ bị bắt. Việt Nam Cộng Hoà giao cho CIA khai thác và trước khi Hoa Kỳ rút lui, giao lại cho cảnh sát Việt Nam Cộng Hoà. Trước 30/4/ 75, ông Nguyễn Khắc Bình ra lệnh thủ tiêu ông ta nhưng lúc đó chả ai còn hồn để lo mấy vụ này nên khi Việt Cộng vào Sàigòn thì ông ta được thả và sau này làm lớn lắm nhưng cái kết khá buồn.


Ông ta tên Nguyễn Tài, tên khai sinh là Nguyễn Tài Đông, biệt danh Tư TrọngTư DuyBa Sáng, là con trai của nhà văn Nguyễn Công Hoan. Ông nguyên là Cục trưởng Cục Bảo vệ Chính trị và bị CIA bắt tra khảo trong 5 năm, với biệt danh "The Man in the Snow White Cell"..hồi ký của một cựu nhân viên tình báo Mỹ. Mình có kể ông này rồi khi ông ta diễn thuyết về điệp viên giỏi nhất của Việt Nam Cộng Hoà là ông Võ Văn Ba, bí danh là X92. Mình mò thêm tài liệu của Hà Nội nên tóm tắc như sau vì tài liệu của cảnh sát Việt Nam Cộng Hoà thì xem như y tờ. 


Nguyễn Tài không theo nghiệp văn giống cha, tham gia Việt Minh khi mới 18 tuổi làm cách mạng khá sớm, có khiếu nghề công an, khai thác tin tức. Tháng 9 năm 1945, ông bắt đầu công tác trong ngành an ninh. Khi mới 21 tuổi, ông là Trưởng ty Công an Hà Nội, rồi Giám đốc Sở Công an đặc khu Hà Nội. Tháng 9 năm 1951, dưới sự chỉ đạo của ông và lực lượng điệp báo bộ công an, một nữ điệp báo viên Hà Nội đã đánh bom cảm tử tàu chiến Pháp. Đây được xem là vụ đánh bom cảm tử đầu tiên trên thế giới bởi phụ nữ. Cô này vác 30 kí lô mìn trong Vali để lên tàu rồi làm nổ mìn và chết banh xác theo tiếng nổ của mìn. Được xem là người phụ nữ đầu tiên đánh bom cảm tử trên thế giới. Không biết nhạc sĩ Văn Cao có làm dưới quyền ông này hay không vì theo lời nhạc sĩ Văn Cao kể là khi xưa ông ta là đại uý biệt động, được lệnh giết mấy người thuộc đảng khác, đi hút thuốc phiện,…

Ông Nguyễn Tài và bộ trưởng Trần Công Hoàn


Được cái là ông ta như ông Trường Chinh, tố cáo bố ruột của mình là nhà văn Nguyễn Công Hoan là phản động, giúp đảng cộng sản tin tưởng và được thăng chức làm lớn. Hy sinh đời bố để củng cố đời con.


Tháng 9 năm 1958, ông là Cục trưởng Cục bảo vệ chính trị 2, mật danh KG2 (Bộ Công an). Đầu những năm 1960, ông là người được Lãnh đạo Bộ Công an giao nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy toàn diện cuộc chiến chống gián điệp - biệt kích, góp phần làm thất bại âm mưu phá hoại miền Bắc của CIA và Việt Nam Cộng Hoà qua Nha Kỹ Thuật. Bao nhiêu toán biệt kích miền nam được gửi ra bắc bằng tàu hay nhảy dù thì đến nơi đã có Việt Cộng chờ sẵn. Ông Trần Quốc Hùng, tự  Đặng CHí BÌnh có kể lại qua hồi ký của ông ta “Thép Đen”.


Ngày 21 tháng 3 năm 1964 ông được Trung ương cử vào miền Nam trực tiếp chiến đấu, được xem là "người có cấp cao nhất trong ngành công an từ trước đến lúc đó xâm nhập vào Nam". Ông thành lập và phát triển Ban An ninh khu Sài Gòn - Gia Định thành một lực lượng vững mạnh, được chính quyền Hà Nội khen thưởng danh hiệu Đơn vị anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân. Ngay cả đối phương, trước thời gian ông bị bắt, cũng không nắm được đầy đủ về người lãnh đạo T4.


Lạ là người Hưng Yên có tài làm công an vì nghe nói bộ trưởng công an của Hà Nội toàn là người Hưng Yên. 


Sau Mậu Thân thì hệ thống nằm vùng của Việt Cộng tại Sàigòn bị banh ta lông nên họ phải dời ra ngoại ô của Sàigòn để củng cố lực lượng lại. Ngày 23 tháng 12 năm 1970, trên đường đi dự một cuộc họp của Thường vụ Thành ủy Sài Gòn - Gia Định, ông bị chận xe và bị bắt trong địa phận tỉnh Bến Tre. Cảnh sát quốc gia chận xe hỏi theo giấy căn cước, ông tên Nguyễn Văn Lắm, sinh ở Định Thủy, Mỏ Cày, Bến Tre, tại sao nói giọng Bắc? Thế là ngọng. Ông giải thích: cha người Bắc, mẹ người Nam, sinh ở quê mẹ nhưng lớn lên ở quê cha, năm 1954 di cư vào Nam, sống ở Bến Tre. Cho thấy muốn làm gián điệp phải biết giả giọng bắc Nam trung nếu không là ngọng.


Để không ảnh hưởng tới tổ chức và nhân sự của Thành ủy (mà ông là ủy viên thường vụ) và Ban An ninh T4 (mà ông là trưởng ban), ông tạo ra một lý lịch giả, tự nhận là Nguyễn Văn Hợp, đại úy của Cục nghiên cứu, mới vào Nam tháng 11-1970 (một tháng trước khi bị bắt), bị bắt trên đường đi Hồng Ngự để được để được giao nhiệm vụ cụ thể, tạo dựng vỏ bọc hợp pháp nhằm qua Pháp hoạt động. (Lời khai này đã gây ra rắc rối cho ông sau năm 1975, trong vấn đề thẩm tra và đánh giá lại quá trình ông bị bắt). Sau này, đối phương phát hiện ra danh tính thật của ông nhờ chỉ điểm của những hồi chánh viên.


Vào mùa thu năm 1971, cấp trên của ông nGuyễn Tài thay đổi chiến thuật để cứu ông ta. Ngày 9 tháng 10, họ thả thượng sĩ John Sexton bị Việt Cộng bắt với lá thư của ông Trần Bạch Đằng, đứng đầu Sàigòn-Gia Định. Lá thư yêu cầu thả ông Nguyễn Tài và một tù nhân Việt Cộng khác tên Lê Văn Hoài để đổi lấy một công chức toà đại sứ Hoa Kỳ tại Sàigòn tên Douglas Ramsey, bị bắt từ năm 1966 mà Việt Cộng nghi ông ta là nhân viên tình báo của Hoa Kỳ vì nói được tiếng Việt. Như phép lạ, các cuộc tra tấn lấy khẩu cung được tạm ngưng. Tình báo mỹ đột phá tư duy là giá trị ông NGuyễn Tài quá lớn hơn họ tưởng trước đây. Mỹ từ chối lời đề nghị của Hà Nội vì cho rằng "Nguyễn Tài quá quan trọng để đánh đổi lấy Ramsey". Sau này, Bộ trưởng Bộ Công an Trần Quốc Hoàn, nổi tiếng trong hồi ký của ông Vũ Thư Hiền, với câu chuyện về cô gái họ Nông tên Xuân, nói rằng đó là một hình thức ngăn cản Mỹ và Việt Nam Cộng hòa thủ tiêu Nguyễn Tài.


Khác với các thẩm vấn viên của Việt Nam Cộng Hoà, các chuyên gia CIA không dùng nhục hình làm biện pháp duy nhất. CIA sử dụng kết hợp các kỹ thuật cả về thể xác lẫn tâm lý trong một phương pháp cùng cực. Việc đầu tiên của CIA là cho xây cho ông Tài một xà-lim đặc biệt ngay trong khuôn viên Trung tâm thẩm vấn cảnh sát quốc gia, một xà-lim hình vuông, mỗi cạnh 2 mét. Các bức tường đều sơn trắng toát khiến tinh thần người tù luôn bị căng thẳng; trần gắn 5 ngọn đèn thắp sáng choang 24 trên 24 giờ nhằm làm cho người tù mất khái niệm về thời gian. Xà-lim kín mít khiến người tù "không bao giờ thấy ánh sáng bình minh của ngày mới", chỉ có một lỗ nhỏ trên cánh cửa ra vào để đưa thức ăn. Tường và cửa đều dày, cách âm, người bên trong không nghe tiếng động bên ngoài. Trên trần có gắn máy thu âm và thu hình ngày đêm truyền hình ảnh và âm thanh sang phòng bên cạnh để các cai ngục có thể bí mật theo dõi mọi hành động và cử chỉ của người tù. Ngoài ra, còn có hệ thống máy lạnh mở ở công suất cao vì CIA biết ông Tài không chịu lạnh được. Ông Frank Snepp gọi xà-lim đặc biệt đó là "môi trường làm mất phương hướng" (disorienting environment). 


Khi bị biệt giam ở đó trong thời gian dài, người tù bị "một sức ép tâm lý mãnh liệt" khiến nhận thức của họ bị rối loạn và có thể tiết lộ thông tin một cách vô ý thức. So với các nhục hình của các thẩm vấn viên của cảnh sát đặc biệt của Việt Nam Cộng Hoà, cách hỏi cung bằng tra tấn tinh thần và tâm lý của các chuyên viên CIA tinh vi hơn. Ai buồn đời thì đọc báo Hà Nội theo đường dẫn. Đọc báo Hà Nội và tài liệu của người Mỹ để đối chiếu. Chỉ có vấn đề là tài liệu Việt Nam Cộng Hoà thì không có cho nên cũng không biết bên nào đúng hơn.


Điệp viên Võ Văn Ba, bí danh là X92, thì có thiếu tá Ngưu của Việt Nam Cộng Hoà, cảnh sát đặc biệt vùng Tây Ninh, có kể thêm và ông Frank Snepp của CIA và tài liệu báo chí của Hà Nội nên mình có thể tổng hợp được. Còn đây thì hơi khó.


https://dantri.com.vn/thoi-su/anh-hung-nguyen-tai-tai-nang-duc-do-bat-khuat-kien-cuong-1345499681.htm


Ông Nguyễn Tài có tinh thần, ý chí cao thật. Do đó, sau này khi Hoa Kỳ xâm chiếm Iraq, sử dụng tra khảo để lấy cung thì ông Frank Snepp chống đối vì đã sử dụng cách tra tấn để lấy khẩu cung với ông Nguyễn Tài. Kinh nghiệm cho thấy người ta đau quá nói bừa nhất là các thành viên sẵn sàng chết cho ISIS,…. Thì họ sẽ nói bựa ra để qua ngày.


Năm 2009, tức gần 40 năm sau, ông Frank Snepp thú nhận "vẫn còn bị ám ảnh bởi những gì tôi đã làm" trong thời gian thẩm vấn ông Tài. Ông Nguyễn Tài tìm cách chống lại các thủ đoạn "làm mất phương hướng" của các thẩm vấn viên CIA. Theo kể rằng, "ông tự động thức dậy lúc 6 giờ sáng mỗi ngày. Lúc đó, ông hát thầm Quốc ca của Bắc Việt Nam, tập các động tác thể dục đơn giản, sáng tác các bài thơ, bài hát trong đầu, chào một ngôi sao mà ông vẽ trên tường xà-lim tượng trưng cho Quốc kỳ của Bắc Việt Nam. Ông lặp đi lặp lại những sinh hoạt đó trong ngày và đi ngủ vào lúc 10 giờ tối mỗi ngày". Mình đọc bài của Hà Nội viết về ông thì được biết ông làm thơ trữ tình nay nọ, chắc vì vậy sau này ông ta bị cho ra rìa vì bị mất lập trường cách mạng.


Cuối cùng, họ kết luận: "ông Tài đã đánh bại các phương pháp của KUBARK (mật danh của CIA) vì đã giữ vững thế chủ động cả về thể chất lẫn tinh thần". CIA thừa nhận điều đó: "Phần lớn những thông tin mà ông khai có lẽ chỉ là những thông tin bị làm sai lạc một cách có tính toán". Do đó, trong ba năm... các thẩm vấn viên CIA đấu trí với ông Tài nhưng không thu được hiệu quả". Ông Frank Snepp được giao thẩm vấn 8 tù nhân tại Trung tâm thẩm vấn quốc gia, nhưng ông thú nhận "thẩm vấn Nguyễn Tài là thẩm vấn nhiều thách thức nhất của tôi" và kết luận: cho đến 30-4-1975, "ông Tài đã trải qua hơn bốn năm bị biệt giam trong xà-lim nhưng ông chưa từng khai nhận một cách đầy đủ ông là ai".


Ngày 26-4-1975, khi 5 cánh quân của miền bắc sắp tiến vào Sài Gòn, "một viên chức cao cấp của CIA, gợi ý cho nhà cầm quyền Nam Việt Nam cần thủ tiêu ông Nguyễn Tài" để tránh việc "ông Tài được giải thoát bởi các đồng chí của ông ta". Tướng Nguyễn Khắc Bình, tư lệnh Cảnh sát quốc gia kiêm đặc ủy trưởng Phủ đặc ủy trung ương tình báo, ra lệnh cho số cầm đầu Trung tâm thẩm vấn quốc gia thủ tiêu ông Tài theo lệnh của CIA. Tuy nhiên, theo ông Pribbenow, "lệnh đến quá trễ. Tất cả các viên chức cao cấp của Phủ đặc ủy trung ương tình báo đang tìm cách chạy trốn khỏi Nam Việt Nam". Bản thân các viên chức CIA trong đó có Frank Snepp cũng lo tháo chạy thoát thân sau khi đưa cựu tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ra sân bay để phòng hờ ông Thiệu bị ám sát. 


Hai năm sau, 1977, trong lúc quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ đang gián đoạn, ông Frank Snepp hoàn toàn không có tin tức gì về ông Tài, yên trí là ông Nguyễn Khắc Bình đã thi hành lệnh của CIA, nên ông ta viết trong cuốn Decent Interval (Khoảng cách thích đáng): "Tài bị đưa lên một máy bay và bị ném xuống biển Đông ở độ cao 1.000 feet". Sự thật không phải vậy. Ông Pribbenow cho biết: "Các nhân viên cấp dưới (của Trung tâm thẩm vấn quốc gia) sợ bị trừng phạt nếu những người Cộng sản chiến thắng biết họ đã giết Tài", do đó họ "không dám thi hành (lệnh thủ tiêu) vì sợ mang thêm tội với Cách mạng".


Trưa 30-4-1975, một tiểu đoàn thuộc Quân đoàn IV tiến vào Sài Gòn, chiếm Phủ đặc ủy trung ương tình báo. Ông Tài được giải thoát khỏi xà-lim trắng toát sau 4 năm 4 tháng 10 ngày bị biệt giam.



Sau khi ra khỏi nhà tù, ông Nguyễn Tài quay lại làm việc ở trong ngành Công an Việt Nam với chức vụ Ủy viên Thường vụ Thành ủy TP Hồ Chí Minh, Giám đốc Sở Nội vụ TP Hồ Chí Minh, Thứ trưởng Bộ Nội vụ, phụ trách điều tra xét hỏi nhân viên tình báo VNCH sau năm 1975. Rồi ông bị đình chỉ công tác vì có một tài liệu nói ông đã bị CIA sử dụng cùng với một số nội dung về ông trong hồi ký Decent Interval của ông Frank Snepp, chuyên gia CIA từng tham gia thẩm vấn ông. Sau chiến tranh thì quyền lợi đến nên các đồng chí đánh nhau để dành chức phận,….nên ông ta bị cho ra rìa.

(Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen