Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Chuyện ngày xưa xa

 Chuyện ngày xưa xa


Mình hay vào trang của nhóm Đông-Dương cũ, để đọc bài hay xem tài liệu về chiến tranh Tây-Việt, và những gì xảy ra vào thời đó, để có thể hiểu thêm về cuộc đời của song thân. Ông cụ thì chống Việt Minh, còn bà cụ thì theo Việt Minh, bị tây bắt bỏ tù. Mấy người tham gia nhóm này đa số là người Pháp, có người gốc Việt. Họ không muốn tranh cãi ai thua hay ai thắng, thực dân hay bốc lột. Họ chỉ muốn tìm hiểu về cha ông của họ, vì tuổi thanh xuân đã sang Việt Nam, đi lính hay làm công chức, rồi có người gục ngã trên chiến trường. Họ có mấy tấm ảnh của bố, ông nội, ông cố khi xưa ở Việt Nam, đăng lên để hy vọng có ai đó khi xưa, cũng ở chung đại đội, có chút gì tin tức về tổ tiên của họ.

Cha nằm trên giường bệnh, không nhớ sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà nào đã đến thăm


Vì lý do đó mà mình phải làm gia phả của gia đình bên nội rồi bên ngoại để sau này con cháu có thể tìm lại để đọc. Hôm trước có cô cháu bên bên vợ đưa cho một bản sao gia phả bên ngoại, mới khám phá ra, đồng chí gái thuộc hệ thứ 7 của vua Gia Long. Kinh. Mình sẽ nhờ người ở Việt Nam chuyên viết lại gia phả để ông ta biên tập lại, rồi gom vào gia phả bên ông cụ mình.


Những ai quan tâm đến lịch sử Đông Dương đều biết vai trò của các giáo sĩ thừa sai, đến Đông-Dương để truyền đạo. Do đó có nhiều người lên án nhà thờ thiên chúa giáo đã làm nền tảng cho cuộc xâm chiếm Đông-Dương của đế quốc Pháp. Hồi nhỏ học lịch sử cận đại của Việt Nam rồi các phong trào Cần Vương, sau đó đến của kháng chiến chống Pháp đưa đến người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Người Việt thắng Pháp, dàng lại độc lập nhưng tại sao lại đất nước bị chia đôi.


Đó là câu hỏi mình đặt ra khi học sử Việt Nam cận đại khi xưa. Sau này ra hải ngoại đọc sách báo ngoại quốc thì mới hiểu Việt Nam chỉ là một nước nhỏ, các đảng phái đều bị chi phối bởi ngoại quốc. Như ngoại trưởng Trần Văn Đổ kể là khi hiệp định Geneve sau chiến thắng Điện Biên Phủ, người Việt chết như rạ nhưng các cường quốc tự động chia ra làm 2. người Việt chết cho cuộc kháng chiến chống pháp, là công cụ cho cường quốc. Tóm lại là cuộc chiến uỷ nhiệm và người Việt hăng hái nhân danh chi đó để đánh nhau, bỏ tù nhau rồi lại đi xin viện trợ, xin bỏ lệnh cấm vận này nọ. Và khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận thì Việt Nam mới khá như ngày nay.


Trong các giáo sĩ tây phương phải nói đến một người, đã mang tính quyết định của Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) trong sự hình thành của đất nước Việt Nam hiện đại. Nhớ ngày xưa, học sử Việt Nam cận đại, đều nhắc đến ông cha này. Tuy nhiên, dù ảnh hưởng của vị Giám mục Adran là vô cùng to lớn, vẫn còn nhiều nhà truyền giáo khác, ít được biết đến hơn, nhưng cũng để lại dấu ấn sâu sắc đối với đời sống của người dân bản địa. Một trong số đó là Đức cha Jean Cassaigne, nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris).


Làng người phong tại Di-Linh do cha thành lập để cứu chữa họ rồi sau đó cha cũng bị lây bệnh.

Cha Jean Cassaigne sinh ngày 30 tháng 1 năm 1895 tại thị trấn Grenade-sur-l’Adour, thuộc vùng Landes của nước Pháp. Ông mồ côi mẹ từ khi còn rất nhỏ. Cha ông gửi ông sang Tây Ban Nha tiếp tục việc học tại một trường của Dòng Sư huynh các Trường Kitô giáo, gần thành phố Saint-Sébastien, vùng Basque, phía bắc của Tây Ban Nha, gần dãy núi Pyrénées ngăn hai nước pháp và Tây Ban Nha. Điểm vui là phiá bên pháp cũng có một vùng được gọi là Basques. Cũng đòi tự trị này nọ như bên Tây Ban Nha, do Liên Sô dật dây khi xưa. Sau này Liên Sô tan rã thì cũng mất luôn phong trào này cũng như ở đảo Corse.


Sau khi trở về Pháp năm 1912, cha Jean Cassaigne bày tỏ nguyện vọng trở thành một nhà truyền giáo. Nhưng đến năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Ông được động viên vào trung đoàn Bộ binh số 6, phục vụ với vai trò y tá quân đội và liên lạc viên. Trung đoàn của ông tham gia nhiều trận đánh khốc liệt nhất của cuộc chiến, từ trận sông Marne, trận Verdun, đặc biệt là tại Đồi 304 (Côte 304), cho đến các chiến dịch tại vùng Ailette. Cuộc chiến này tàn khốc, giết không biết bao nhiêu người từ hai bên.


Có lẽ chỉ khi hình dung được mức độ khốc liệt của chiến trường Verdun, người ta mới hiểu hết lòng dũng cảm cần có để làm nhiệm vụ liên lạc hay cáng thương trên Đồi 304. Ngọn đồi này khống chế toàn bộ thung lũng Esnes ở phía nam cùng các làng Malancourt và Haucourt ở phía bắc. Quan trọng hơn, đây là vị trí chiến lược nhằm yểm trợ cho các trận đánh tại Mort-Homme.


Quân Đức liên tục tìm mọi cách chiếm lấy ngọn đồi, nã pháo không ngừng nghỉ rồi mở hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác. Quân Pháp vẫn giữ được vị trí ấy, nhưng phải trả giá bằng khoảng 10,000 sinh mạng chỉ trong 300 ngày giao tranh liên tiếp. Ở vùng Triéste, Ý Đại Lợi, vào thời gian này có đến trên 500,000 người trẻ chết trận. Năm kia mình có ghé sang thành phố này nhưng trời tối nên không đi viếng nghiã trang này. Kinh hoàng.


Sau khi xuất ngũ năm 1919, ông Jean Cassaigne gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris vào năm sau. Ngày 19 tháng 12 năm 1925, ông được thụ phong chức linh mục. Ngày 6 tháng 4 năm 1926, ông xuống tàu lên đường sang Đông Dương. Điểm đến đầu tiên của ông là Cái Mơn, một cộng đồng Công giáo lớn thuộc tỉnh Bến Tre, nơi ông dành một năm để học tiếng Việt.


Sau một năm sống tại đồng bằng sông Cửu Long, Đức cha Dumortier cử ông lên Di Linh để thành lập một giáo điểm giữa đồng bào dân tộc Ko Ho. Khi ấy, vùng đất này hầu như chưa có người Việt sinh sống, nên ông lại phải học thêm tiếng của người bản địa. Ông đã biên soạn nhiều công trình ngôn ngữ học có giá trị, trong đó có:

  • Cẩm nang và hội thoại thông dụng bằng tiếng Mọi (Koho và Phau Sore) dành cho các chủ đồn điền, thợ săn và người nghỉ dưỡng (khu vực Djiring – Đà Lạt). Mấy từ Đà Lạt, Blao, Djiring,…đều do các giáo sĩ phiên âm từ người sở tại.
  • Từ điển tiếng Koho của tỉnh Thượng Đồng Nai, cho đến ngày nay vẫn được xem là một tài liệu tham khảo quan trọng.

Có anh bạn kể khi xưa, đi dạy ở vùng kinh tế mới cạnh Đà Lạt, phải học tiếng của người CHu-Ru, may là người Mỹ khi xưa, đến vùng này giảng đạo Tin lành nên họ có nghiên cứu ngôn ngữ chu-ru giúp anh ta học nhanh. Mình có ghé lại một giáo xứ gần Đà Lạt, có gặp mấy em người Chủ-Ru, nói tiếng Việt bằng giọng bắc vì thầy cô đều từ ngoài bắc vào dạy.


Tại vùng cao nguyên Di Linh, cha Jean Cassaigne sớm chứng kiến cảnh nghèo đói cùng cực của đồng bào các dân tộc thiểu số, bị đẩy ra khỏi môi trường sinh sống truyền thống, mất đi nguồn sống từ rừng núi, nhiều người rơi vào cảnh suy dinh dưỡng lâu dài và vì thế rất dễ mắc bệnh tật. Trong số họ, đáng thương nhất là những người mắc bệnh phong (cùi, hủi). Họ bị chính gia đình ruồng bỏ, bị cộng đồng xa lánh và bị bỏ mặc trong rừng sâu, sống cô độc chờ cái chết. Cảnh tượng ấy khiến cha Jean Cassaigne vô cùng xúc động.


Cha quyết định hiến trọn cuộc đời mình để chăm sóc những con người bất hạnh nhất ấy. Cùng với một số cộng sự, ông thành lập làng Kala, gần Djiring (Di Linh). Ngôi làng gồm những căn nhà sàn được xây dựng theo đúng kiến trúc truyền thống của người bản địa. Cha đặt tên cho nơi ấy là “Thành phố Niềm Vui” (Cité de la Joie). Từng bước một, cha đưa những người phong từ trong rừng về sinh sống tại Kala, coi họ như chính con cái của mình. Cha cho họ ăn, chữa bệnh cho họ, chăm sóc từng vết thương và quan trọng hơn cả là trả lại cho họ phẩm giá của những con người vốn đã bị cả xã hội lãng quên.


Ngay từ năm 1929, trại phong đã chăm sóc khoảng một trăm bệnh nhân, một con số rất lớn vào thời điểm ấy. Với sự trợ giúp của Các Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô (Filles de la Charité de Saint-Vincent-de-Paul), cha Jean Cassaigne tiếp tục công việc đầy nhân ái này suốt hơn mười năm.


Đến năm 1941, cuộc đời cha bước sang một chương mới. Đức Giáo hoàng Piô XII bổ nhiệm ông làm Giám mục và Đại diện Tông tòa Sài Gòn. Ngày 24 tháng 6 năm 1941, đúng lễ kính Thánh Gioan Tẩy Giả, ông được tấn phong giám mục.v Hơn ba nghìn người đã đến tham dự thánh lễ tấn phong tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Đặc biệt xúc động là sự hiện diện của một đoàn đông đảo người Ko Ho từ Djiring.


Trong trang phục truyền thống của dân tộc mình, họ vượt hàng trăm kilômét để về Sài Gòn tham dự buổi lễ, đại diện cho cộng đoàn Kitô hữu mà chính cha Jean Cassaigne đã gây dựng giữa núi rừng Tây Nguyên. Đó không chỉ là một nghi lễ tôn giáo, mà còn là lời tri ân của những con người từng bị lãng quên dành cho vị mục tử đã đem lại cho họ niềm hy vọng và một cuộc sống mới.


Ngày 10 tháng 3 năm 1945, ngay sau cuộc đảo chính của Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương, quân đội Nhật nhanh chóng nắm quyền kiểm soát toàn bộ bộ máy hành chính của Liên bang Đông Dương và bắt giữ hầu hết các viên chức dân sự cũng như các sĩ quan quân đội Pháp.


Một nhân chứng của thời kỳ ấy là ông Jean Orsini, khi đó còn là một sĩ quan trẻ, sau này trở thành trung tá, đã để lại những ghi chép đặc biệt quý giá. Ông kể lại: “Đức cha Cassaigne cho tôi biết rằng hôm trước ngài vừa tiếp Đại tá Amano…” Qua lời chứng này, có thể thấy chính quyền quân sự Nhật đã muốn giao cho Đức cha Jean Cassaigne đứng ra điều hành Nam Kỳ (Cochinchine) sau khi toàn bộ giới chức Pháp bị bắt giữ.


Đó là một đề nghị đầy quyền lực nhưng Đức cha Cassaigne đã từ chối. Ngài không chấp nhận đảm nhận bất kỳ vai trò chính trị nào. Đối với ngài, sứ mạng của một giám mục là phục vụ con người, chứ không phải cai trị họ. Tuy nhiên, ông Jean Orsini đã thuyết phục ngài nhận lời thành lập một tổ chức hoàn toàn mang tính nhân đạo, với mục đích duy nhất là cứu trợ cộng đồng người Pháp đang lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn tại Sài Gòn.


Từ đó ra đời Ủy ban tương trợ Pháp tại Sài Gòn (Comité français d’entraide de Saïgon). Trên thực tế, tổ chức này nhanh chóng trở thành cơ quan duy nhất của người Pháp vẫn còn được chính quyền Nhật cho phép hoạt động. Ủy ban đảm nhận rất nhiều công việc: phân phát lương thực và hàng cứu trợ; hỗ trợ các gia đình gặp khó khăn; giải quyết nhiều thủ tục hành chính và trong một số trường hợp, còn đảm nhiệm cả công tác hộ tịch.


Vì vậy, mặc dù chưa bao giờ mong muốn, Đức cha Jean Cassaigne trên thực tế đã trở thành người đứng đầu cộng đồng người Pháp tại Sài Gòn trong những tháng cuối của thời kỳ Nhật chiếm đóng. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc và nước Pháp được giải phóng, hoàn cảnh ấy lại khiến ngài rơi vào vòng điều tra vì mang tội pháp gian, tiếp tay với kẻ thù. Ngài bị đưa ra trước các cơ quan thanh tra trong phong trào “thanh lọc sau chiến tranh” (épuration) với cáo buộc cấu kết với kẻ thù. Tỏng thời gian đệ nhị thế chiến, Đông-Dương được chính quyền Vichy, do thống chế Pétain điều hành, bổ nhiệm ông Jean Decoux làm toàn quyền Đông-Dương.


Nhưng cuộc điều tra nhanh chóng chứng minh một sự thật hoàn toàn khác. Mọi hành động của Đức cha Cassaigne đều chỉ nhằm bảo vệ thường dân Pháp, cứu giúp những người đang lâm cảnh khốn cùng trong thời kỳ hỗn loạn. Ngài chưa bao giờ cộng tác với quân đội Nhật vì mục đích chính trị hay quân sự. Do đó, tất cả các cáo buộc đều bị bác bỏ.


Không những được tuyên bố vô tội, công lao của ngài còn được chính thức ghi nhận. Chính phủ Pháp đã trao tặng ngài Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) để tôn vinh những đóng góp đặc biệt ấy. Điều đáng chú ý là, trong suốt biến cố lịch sử đầy sóng gió đó, cha Jean Cassaigne vẫn giữ nguyên một lập trường: cha không đứng về phía một chính quyền nào, chỉ đứng về phía những con người đang cần được cứu giúp.


Vài năm sau khi được minh oan và tiếp tục sứ vụ Giám mục Sài Gòn, một biến cố lớn xảy đến với chính cuộc đời Đức cha Jean Cassaigne. Ngài mắc bệnh phong. Chính căn bệnh mà suốt mấy chục năm ngài đã tận tụy chữa trị cho biết bao người, nay lại đến với bản thân mình. Đối với nhiều người, đó có thể là một bi kịch. Nhưng đối với cha Jean Cassaigne, đó dường như chỉ là một phần tự nhiên của con đường mà Thiên Chúa đã dành cho ngài.


Ý thức rằng bệnh tật sẽ khiến mình không còn đủ khả năng điều hành giáo phận, ngài đã trình đơn xin từ nhiệm lên Tòa Thánh. Đơn xin ấy được chấp thuận.


Năm 1955, thay vì ở lại Sài Gòn để hưởng sự chăm sóc và những điều kiện thuận lợi dành cho một vị giám mục, ngài lại đưa ra một quyết định khiến nhiều người xúc động. Ngài tự nguyện trở về Djiring (Di Linh), không phải để nghỉ hưu, không phải để dưỡng bệnh mà để sống những năm cuối đời giữa những người phong và đồng bào dân tộc mà ngài vẫn luôn coi là gia đình thực sự của mình.


Ngài trở lại Kala. Vẫn căn làng nhỏ năm xưa. Vẫn những căn nhà sàn đơn sơ. Vẫn những con người mà xã hội từng ruồng bỏ. Ở đó, ngài tiếp tục chăm sóc bệnh nhân, động viên người đau yếu, cầu nguyện với họ và chia sẻ với họ từng ngày của cuộc sống. Lần này, ngài không còn chỉ là vị linh mục hay vị giám mục đến giúp người phong. Ngài đã trở thành một người phong sống giữa những người phong. Không còn khoảng cách. Không còn sự khác biệt. Chỉ còn tình yêu thương và sự đồng cảm.


Đức cha Jean Cassaigne qua đời ngày 31 tháng 10 năm 1973, sau gần nửa thế kỷ gắn bó với vùng đất Tây Nguyên và con người Việt Nam. Theo đúng di nguyện của mình, ngài không được an táng trong một nhà thờ lớn hay một nghĩa trang dành cho các giám mục.


Ngài được chôn cất tại nghĩa trang nhỏ của trại phong Kala, giữa những con người mà ngài đã dành trọn cuộc đời để phục vụ. Điều cảm động hơn nữa là ngôi mộ ấy chính do ngài tự chuẩn bị từ trước. Nó nằm ngay cạnh mộ của người đầu tiên được ngài cải đạo, như một dấu chỉ rằng, ngay cả sau khi qua đời, ngài vẫn muốn được ở lại với những người mình yêu thương.


Trong suốt cuộc đời, Đức cha Jean Cassaigne đã được trao nhiều phần thưởng cao quý. Ngài là:

  • Sĩ quan Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) của Pháp;
  • Huân chương Chiến tranh 1914–1918 (Croix de Guerre) vì lòng dũng cảm trong Thế chiến thứ nhất;
  • Huy chương Danh dự của nền Cộng hòa Việt Nam.

Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất của ngài không phải là những tấm huân chương. Đó là tình yêu và lòng biết ơn của hàng ngàn người phong, của đồng bào Ko Ho và của biết bao người Việt Nam đã được ngài cứu giúp.


Cuộc đời của Đức cha Jean Cassaigne là minh chứng rằng lòng bác ái chân chính không phân biệt dân tộc, màu da hay địa vị. Từ chiến hào Verdun đến núi rừng Di Linh, từ Tòa Giám mục Sài Gòn đến trại phong Kala, ngài luôn chọn đứng về phía những người yếu thế nhất.


Bởi vậy, trong lịch sử Việt Nam, cha Jean Cassaigne không chỉ được nhớ đến như một vị Giám mục của Giáo hội Công giáo, mà còn như một nhà nhân đạo vĩ đại, người đã hiến trọn cuộc đời mình để mang lại hy vọng, phẩm giá và tình thương cho những con người bị lãng quên nhất.


Mình thích tìm đọc tiểu sử những người như vậy để cố gắng noi theo trên con đường hướng thiện, giúp mình bớt gian ác, không cần phải lên mạng xã hội, chửi thiên hạ này nọ, chỉ cần đóng góp một tí gì cho cộng đồng xung quanh mình là đủ. Mình gặp nhiều sơ ở các vùng núi ở gần Đà Lạt, hy sinh cuộc đời để giúp đỡ các người dân tộc thiểu số, giúp họ thuốc men….khiến mình khâm phục.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Parc à buffles , nhà thổ quân đội pháp tại Sàigòn

 « Parc à buffles » nhà thổ quân đội pháp

Không ảnh Parc à Buffles tại Sàigòn, 

Hôm nay vào trang nhà chiến tranh Đông-Dương xưa, thấy có không ảnh của nhà thổ Tây ở Sàigòn khi xưa mà lính viễn chinh người Pháp gọi là Parc à buffles , tên chính thức là Bordels Militaires de Campagne (BMC). Nôm na là chuồng trâu vì theo họ kể lại thì như nhà máy hộ lý. Ngoài Đông-Dương ra người Pháp cũng có thành lập nhiều nhà thổ ở các thuộc địa khác của họ như ở Bắc Phi. 


Tò mò mình tìm tài liệu để đọc vì có mấy ông tây có nghiên cứu về vấn đề hộ lý cho lính pháp và lính thuộc địa của họ đem sang Việt Nam như lính Lê Dương (légionnaires) , mặt gạch (malgache),… hay lính Maroc. Mình có đọc một bài giải thích về lính Maroc đi lính cho tây rồi sao đó họ đào ngủ chạy về phiá Việt Minh, hay bị bắt làm tù binh nên dần dần họ lập gia đình với người Việt nên miền Bắc Việt Nam có cái làng gọi làng hữu nghị Maroc-Việt.

Cửa vào nhà thổ tại Sàigòn 


Mình hay đọc mấy chuyện này không phải để lên án người Pháp này nọ chỉ để hiểu thêm về lịch sử của Việt Nam thời bị người Pháp đô hộ để hiểu về xã hội, kinh tế thời xưa. Thời thực dân với hoàn cảnh chính trị, kinh tế địa chính khác của thế giới khác với tư duy của chúng ta ngày nay.  Cho nên không cần lên án này nọ chỉ để hiểu người xưa sống ra sao. Mấy người Pháp thuộc thế hệ của mình hay trẻ hơn cũng tò mò tìm hiểu về lịch sử cha ông của họ đã đi qua. Như tìm về phương diện tâm lý, để hiểu thêm về cha ông của mình. Họ đăng tải hình ảnh cha ông của họ hay thư từ gửi từ Đông-Dương về, hy vọng có ai đó đã kinh qua sự việc sẽ nói thêm sự việc giúp họ hiểu hơn về lịch sử gai đình và cha ông. Cũng có sự phiền hà là các chiến sĩ an ninh mạng nhảy vào chửi bới bú xua la mua không giúp đem lại sự hiểu biết rõ ràng thêm về lịch sử khi xưa.


Trong lịch sử loài người thì khi có can qua, phụ nữ là người chịu thiệt thòi nhất. Kẻ thắng cướp giật, hãm hiếp họ, bắt làm nô lệ,… xem phỏng vấn của mấy người đức kể khi quân đội hồng quân chiếm đóng vùng Đông đức, thì họ tha hồ hãm hiếp mấy phụ nữ người đức đêm ngày. Nhưng bên thắng cuộc không bao giờ nhắc đến sự việc này.

Bên trong chuồng trâu, thấy phụ nữ người Việt và lính tây đang dò hỏi nhau. Tỏng cuốn phim thấy rõ hơn


Phụ nữ Việt Nam đóng vai trò trung tâm nhưng cũng rất bi kịch trong hệ thống Bordels Militaires de Campagne (BMC), đặc biệt tại Parc à buffles ở Chợ Lớn (Sài Gòn). Dưới đây là nghiên cứu chi tiết dựa trên các nguồn lịch sử Pháp và các nghiên cứu liên quan.


Tại Parc à buffles – BMC lớn nhất Sài Gòn – có hàng trăm phụ nữ, chủ yếu là người Việt (Indochinoises) và một phần người Hoa. Một số nguồn ước tính BMC lớn nhất có tới gần 500 phụ nữ Việt. Hình như cũng có người Nhật vì mình có đọc tài liệu, nói người Nhật đói quá nên có di dân sang Đông NAm Á, các phụ người Nhật thường làm việc trong các chỗ bán thuốc phiện, và điếm. Mình có mấy tấm ảnh này. Người Nhật đi dân khá đông sang Hoa Kỳ, Nam Mỹ,…


Phần lớn là phụ nữ nghèo từ nông thôn (đặc biệt miền Bắc – Tonkin), thành thị, hoặc những người bị hoàn cảnh đẩy vào. Nhiều người bị buôn bán, dụ dỗ, hoặc ép buộc bởi mạng lưới môi giới (các “mères maquerelles” tú bà, chủ nhà thổ). Một số là “congaï” (từ chỉ phụ nữ Việt chung sống hoặc quan hệ với lính Pháp), chuyển sang làm trong BMC.


Điều kiện làm việc cực kỳ khắc nghiệt: cabin vải mỏng, giường gỗ, thiếu vệ sinh, làm việc liên tục với số lượng khách lớn.

  • Phục vụ nhu cầu tình dục: Đây là vai trò rõ ràng nhất, nhằm “giải khuây” cho binh lính Pháp và các lực lượng thuộc địa. Quân đội Pháp quản lý chặt chẽ để kiểm soát bệnh tật.
  • Kiểm soát y tế: Phụ nữ phải khám sức khỏe định kỳ bởi bác sĩ quân y. Nếu nhiễm bệnh, họ bị cách ly hoặc điều trị bắt buộc. Hệ thống này mang tính thực dụng thuộc địa, coi phụ nữ như một “công cụ” để duy trì sức chiến đấu của quân đội.

Khi tướng De Lattre ra quyết định đổ quân để xây dựng căn cứ Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt quân Việt Minh. Quân Pháp đã đưa một số BMC (bao gồm phụ nữ Việt và Algeria) bằng máy bay đến Điện Biên Phủ. Giúp mấy ông lính thú đóng đồn ở vùng này xả xú-bắp. Nhưng khi trận đánh nổ ra, nhiều phụ nữ Việt trong BMC tình nguyện chuyển sang làm y tá, cứu thương. Chăm sóc thương binh dưới bom đạn và hỗ trợ bệnh xá, băng bó vết thương. Sau khi Pháp thất bại, họ bị Việt Minh bắt. Nhiều người bị xét xử, cải tạo, nhục mạ và tra tấn vì bị coi là “kẻ tiếp tay cho thực dân”. 


Sau này, người Pháp chỉ nói đến một phụ nữ duy nhất có mặt tại căn cứ Điện Biên Phủ là bà y tá tên Genevieve de Galard. Bà ta muốn nhắc đến các phụ nữ trong binh đoàn hộ lý cho lính pháp nhưng được nhà cầm quyền Pháp ngăn cản. Trong cuốn phim Putains de Guerre, có bà người Maroc kể là người ta đến làng của bà kêu gọi đi Việt Nam kiếm tiền nên đi theo, sau bị thương nên được chữa trị và hồi hương.


Các nguồn tài liệu như (Michel Bodin, hồi ký bác sĩ Grauwin, ông bác sĩ này mình có gặp ăn cơm vài lần ở Paris, rất dễ thương với tướng Bigeard và tướng Raoul Salan. Bà Geneviève de Galard…) gọi họ là “những anh hùng bị lãng quên” của Điện Biên Phủ, dù trước đó họ bị xã hội khinh miệt.


Hệ thống nhà thổ BMC là biểu tượng của chủ nghĩa thực dân Pháp, trong đó phụ nữ bản xứ bị coi là “tài nguyên” phục vụ quân đội. Nhiều nghiên cứu hiện đại nhấn mạnh yếu tố cưỡng bức, buôn người, và lạm dụng vị thành niên. Làm nghề hộ lý này cũng bị dính bệnh tật, bạo lực, thai nghén ngoài ý muốn, và bị kỳ thị khi trở về cộng đồng. Nhiều phụ nữ Việt trong BMC gặp khó khăn lớn trong việc hòa nhập xã hội sau 1954. Một số theo lính Pháp sang Pháp hoặc các thuộc địa khác (có cộng đồng nhỏ “Senegalese Vietnamese wives” hoặc tương tự). Bên Maroc có một cái làng Việt-Maroc vì mấy ông lính Maroc, sang Việt Nam lấy vợ Việt Nam đem về xứ. Lần sau đi Maroc, mình sẽ ráng ghé viếng ngôi làng này.


Ngày nay chúng ta có thể lên án này nọ nhân danh đạo đức ở thế kỷ 21 nhưng vào thời đó, tư duy rất khác như thời Hy Lạp, các nhà hiền triết như Aristotle, Plato, Socrates, đều chấp nhận vai trò các kẻ nô lệ. Đối với người Pháp, thì họ thường miêu tả mang tính thực dụng (duy trì moral des troupes) hoặc hoài niệm (exotisme). Ông Michel Bodin và các sử gia khác ghi nhận vai trò của họ nhưng vẫn trong khuôn khổ lịch sử quân sự. Có thể có mấy nhà thổ giúp lính pháp không đi hiếp dâm bậy bạ ngoài đường hay làng mạc. Trong cuốn phim kể trên, có ông kể có bà đầm than phiền là có mấy cô gái giang hồ, ông ta giải thích nhờ vậy mà các cô trong làng hay tành phố không bị chọc ghẹo khi lính ra trại.


Ngày nay, có biết bao nhiêu căn cứ quân đội Hoa Kỳ trên thế giới, mình chắc chắn sẽ cũng có các nhà thổ gần căn cứ mỹ để giúp binh lính mỹ xả sú-bắp nếu không có thể xảy ra nhiều phiền phức như có nghe nhiều lần lính mỹ hiếp dâm mấy cô gái người Nhật gần căn cứ mỹ.


Trong cuốn phim cũng nói đến khi lính Mỹ đóng ở vùng Evreux, Pháp quốc sau đệ nhị thế chiến thì có nhiều cô gái pháp bán sương vì có lính mỹ, gây thêm tang vỡ nhiều gia đình vì dính thai lai mỹ. Ở Pháp, mình có kể vụ trong suốt 4 năm lính Đức quốc xã chiếm đóng, người ta gọi là “collaboration horizontale”, nôm na là hợp tác trên giường của các cô gái pháp. Đói quá, nên phải ngủ với kẻ thù khiến sau này có đến trên 200,000 con lai Đức quốc, bị nguyền rủa, cũng như các cô gái hợp tác trên giường với lính đức, bị cạo đầu bêu xấu trước đám đông. Sau này, người ta nói trớ đi là các cô hy sinh cơ thể để kiếm tin tức cho quân đội kháng chiến pháp.


Còn người Việt thì ít được ghi chép công khai, thường gắn với tội ác thực dân, bóc lột phụ nữ, và bi kịch chiến tranh. Họ là nạn nhân của cả hai bên xung đột. Trong khi ngày nay,  các học giả như (Marie Robin, Christian Henriot…) nhấn mạnh khía cạnh giới, quyền lực thuộc địa và bạo lực tình dục trong chiến tranh. Mình nghe kể trên đường mòn Hồ Chí Minh, khi xưa cũng có rất nhiều cô gái hộ lý, giúp các bộ đội vào nam lên tinh thần.


Mình tìm được tài liệu của ông  Michel Bodin được viết qua vài cuốn sách nên ghi chú lại đây cho ai thích nghiên cứu lịch sử thay vì lên án:

« Parc à buffles » là một khu bordel quân sự khổng lồ ở Chợ Lớn (khu phố người Hoa của Sài Gòn), hoạt động chủ yếu từ cuối những năm 1940 đến giữa những năm 1950.

  • Nó nằm dọc theo đại lộ Gallieni, Sàigòn 
  • Đây là một phức hợp rộng lớn được tổ chức cho quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương, nhằm kiểm soát mại dâm và hạn chế bệnh lây truyền qua đường tình dục ở binh lính (các cô gái phải khám sức khỏe định kỳ).
  • Hàng trăm phụ nữ làm việc trong điều kiện sơ sài (các cabin vải, giường gỗ). Nó được gọi tên như vậy một cách mỉa mai hoặc so sánh với khu chuồng trại chăn nuôi gia súc, do quy mô công nghiệp (« trung tâm giết mổ lớn » theo một số lời kể).
  • Đây là một phần trong hệ thống các cơ sở giải trí (nhà thổ, tiệm hút thuốc phiện, v.v.) được quân đội Pháp dung túng hoặc quản lý thời bấy giờ. Sau năm 1955, khi quân Pháp rút đi, cơ sở này đã biến mất. Hình như chính phủ Ngô Đình Diệm dẹp vụ này.
  • Ngày nay không còn dấu vết gì; đây là một địa điểm lịch sử được nhắc đến trong các hồi ký về Chiến tranh Đông Dương, ký ức của binh lính và các tác phẩm về thời kỳ thuộc địa/cuối sự hiện diện của Pháp tại Việt Nam.


Có phim tài liệu về nhà thổ tại Việt Nam, Algérie, Bosnia của nó thực hiện. Ai biết tiếng pháp thì xem cho qua ngày. Putains de Guerre của đài Pháp.

https://youtu.be/WGQ_HAQUQxU?is=cE4HEajRB6vyOfmZ


Dưới đây là cái nhìn tổng quan về lời chứng của các binh sĩ Pháp (và các đơn vị khác thuộc CEFEO) trong Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), tập trung vào bối cảnh « Parc à buffles » và đời sống hàng ngày (khoái lạc, BMC, tinh thần binh lính). Những câu chuyện này xuất phát từ hồi ký, lưu trữ quân sự, sách lịch sử và phỏng vấn. Chúng thường thô ráp, e dè hoặc mang tính hoài niệm, phản ánh không khí thời đại.

Về « Parc à buffles » (BMC khổng lồ ở Chợ Lớn/Sài Gòn)

  • Đây là một nhà thổ quân sự dã chiến (BMC) khổng lồ trên đại lộ Gallieni, là cơ sở dành cho quân đội. Một sĩ quan kể: « Chỉ riêng cảnh tượng đã đáng giá chuyến đi… » (mô tả quy mô và sự nhộn nhịp). Hàng trăm phụ nữ (chủ yếu người bản xứ Đông Dương) làm việc trong những cabin sơ sài với giường gỗ và một thùng nước để rửa ráy.
  • Michel Bodin (nhà sử học dựa trên nhiều lời chứng) mô tả nó như một « trung tâm giết mổ lớn » phục vụ « mọi sở thích và mọi túi tiền ». Binh lính đến đây để nghỉ ngơi sau chiến trận, với kiểm soát y tế định kỳ nhằm hạn chế bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  • Một trung sĩ (tại ngũ 1948-1951) nhắc đến các thực hành thông thường trong BMC, trong đó có Parc, kết hợp giữa sự kỳ lạ và thói quen vệ sinh.
    người Pháp gửi bưu thiếp về cho người thân kể về nhà thổ.

Ví dụ cụ thể từ lời chứng (André Calves, nhập ngũ 1951-1952) Trong hồi ký viết tay của mình, ông kể lại một câu chuyện trực tiếp từ một người bạn đồng đội tái nhập ngũ tại Sài Gòn (tháng 7/1952):

« Tối qua tao đã quyết tâm đụ cho đã. […] Không phải ở Parc à buffles, mà ở nhà thổ trong trại. Cô ta bảo: “đã hơn mười một giờ rồi, đưa tao thêm 20 piastre.” […] Như thằng ngu tao lại đưa thêm hai mươi piastre. Chúng tao cọ qua cọ lại một chút, khi tao cương cứng tốt, tao lật cô ta lại một phát. Nhưng ngay khi cô ta cảm nhận đầu con cặc của tao cọ vào đít, cô ta nhảy dựng lên. […] Tao bị mất tiền oan. Xui xẻo thật! »

Điều này minh họa cho cuộc sống hàng ngày bình thường, những cuộc mặc cả và nỗi thất vọng trong các nhà thổ địa phương hoặc trong trại.


Lính Lê Dương của Pháp về nước dưỡng sức thì chắc chắn nhà thổ cũng đâu đó gần đây. Có ông tây kể ở Algerie có nơi, hai bên hai cái quán rượu và ở giữa là độn mãi dâm


Các lời chứng khác rộng hơn về cuộc chiến

  • Đời sống tình dục và tinh thần binh lính: Các báo cáo của Sở Y tế và lời chứng do Michel Bodin thu thập nhấn mạnh vai trò quan trọng của BMC và « con gái » (quan hệ với phụ nữ Việt) đối với tinh thần quân đội. Nhiều binh sĩ lý tưởng hóa phụ nữ Đông Dương (vẻ duyên dáng, dịu dàng) đồng thời nhắc đến rủi ro (bệnh tật, thất vọng). Quân Bắc Phi và Lính Lê dương đôi khi có BMC riêng.
  • Tại Điện Biên Phủ: Phụ nữ trong BMC đôi khi hỗ trợ như y tá tạm thời. Bác sĩ chỉ huy Grauwin và Geneviève de Galard đã chứng kiến sự tận tụy anh hùng của họ bên cạnh thương binh, trước khi bị bắt và chịu số phận bi thảm dưới tay Việt Minh.
  • Tổng quát: Nhiều cựu binh nhắc đến nỗi buồn chán, nỗi sợ hãi, sự kỳ lạ, thuốc phiện, rượu và nỗi nhớ « Mal jaune » (sự gắn bó với xứ sở dù trong chiến tranh). Các câu chuyện thường e dè về chuyện tình dục, nhưng rất phong phú trong lưu trữ (SHAT) về sức khỏe và tinh thần.

Những cuốn sách mà các bác có thể tìm đọc nếu muốn hiểu rõ hơn về một thừoi tỏn g lịch sử cận đại của Việt Nam.

  • Michel Bodin, Le plaisir du soldat en Indochine (1945-1954) (bài nghiên cứu chi tiết kèm lời chứng).
  • M.S. Hardy, De la morale au moral des troupes ou histoire des BMC.
  • Hồi ký như của André Calves hoặc P. Giudicelli (Médecins de bataillon en Indochine).
  • Phim tài liệu Putains de guerre (Stéphane Benhamou, 2013) với các đoạn phim và phỏng vấn về BMC ở Đông Dương. Mình có tải đường dẫn phía trên. Nói tiếng pháp.

Chán Mớ Đời 


Mình tìm được hai tấm ảnh của bà Nguyễn THị Minh Khai, không dính dáng gì đến bài viết. Để đây để nhớ khi nào cần thì mò ra để xoá trên máy vì quá nhiều hình ảnh.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn