Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Sự thật về cuộc đời của ông Jackie Chan

 Hậu quả chiến tranh quốc - cộng


Chiến tranh Việt Nam đem lại nhiều đỗ vỡ cho rất nhiều gia đình mà vết thương đến ngày nay vẫn chưa được lành. Hôm nay tình cờ đọc, xem một chuyện của gia đình người Tàu, cũng vì tranh chấp quốc-cộng. Đều là người Tàu nhưng họ muốn xây dựng nước họ theo ý thức hệ riêng khác nhau đưa đến thảm hoạ, gia đình ly tán, đầy nước mắt. Câu chuyện kể về gia đình diễn viên điện ảnh Jackie Chan. Mình tóm tắc lại đây.


Năm 1947, trong khói bụi hỗn loạn của Thượng Hải thời hậu chiến, một người đàn ông 32 tuổi làm việc cho một trong những tổ chức bí mật nhất Trung Hoa đang kiểm tra hành khách tại một cảng đông đúc. Trên giấy tờ, ông tên là Charles Chan. Tên khai sinh của ông là Phòng Đa Long (Fang Daolong). Ông là một mật vụ Quốc Dân Đảng, từng được huấn luyện dưới quyền Trung tướng Dai Li, trùm tình báo quyền lực nhất của Trung Hoa Dân Quốc và nhiệm vụ hôm đó, trong số nhiều việc khác, là bắt những kẻ buôn lậu.


Một người phụ nữ bước vào hàng kiểm tra của ông, bị ông phác giác đang mang theo thuốc phiện. Tên bà là Trần Nguyệt Dung (Chen Yuerong), nhưng mọi người gọi bà là Lee-Lee. Khoảng 31 tuổi, bà từng có một cuộc đời hoàn toàn khác. Cha mẹ bà sở hữu một cửa hàng tạp hóa. Người chồng đầu tiên của bà là một thợ đóng giày, sau đó làm công nhân đường sắt, và họ có hai cô con gái nhỏ. Nhưng vào đầu những năm 1940, bom của Nhật Bản trút xuống Vũ Hán, chồng bà thiệt mạng. Khi đó bà 28 tuổi, không tiền bạc, phải nuôi hai con; Yulan 12 tuổi và Guilan 4 tuổi. Bà làm những gì có thể để nuôi con. Bà để hai con ở lại một nhà ga tại Vũ Hán với người thân, nói rằng sẽ quay lại, rồi đi Thượng Hải kiếm tiền. Sau này bà nói dối như vậy để các con không buồn. Bà nghe nói buôn thuốc phiện rất có lời và bà đã mua một ít mang theo thử thời vận. Nên nhớ dạo ấy, người Anh quốc bán thuốc phiện cho người Tàu mệt nghỉ, kiếm tiền rất nhiều.


Xui cho bà ta là ông Charles tìm thấy thuốc phiện và tịch thu nó. Theo đúng nhiệm vụ, ông phải lập tức bắt bà và đưa vào tù. Ông đã chuẩn bị biên bản và còng tay nhưng rồi ông nhìn thấy một thứ trên người bà. Trên tóc bà là một bông hoa nhỏ màu xanh. Với đầu óc tiểu tư sản, chưa giác ngộ cách mạng, ông ta thấy xót xa nên biến đau thương thành một hành động cách mạng. Thả bà ta. Đây là lý do mà cộng sản thắng với lòng tin vững chắc vào đảng, không có tiểu tư sản. Như Cò Giao Đà Lạt khi xưa gốc Bến Tre kể là anh em trong nhà đi vượt biên bị bắt mà chúng còn bỏ tù mục gông. Ngày nay chúng ta thấy người cộng sản bỏ tù người cộng sản. Chán Mớ Đời 


Trong thời chiến ở Trung Quốc, hoa cài tóc của phụ nữ là một mật hiệu. Hoa trắng nghĩa là mất cha mẹ. Hoa xanh nghĩa là mất chồng, hoặc con, hoặc cả hai. Ông Charles nhẹ nhàng hỏi chuyện gì đã xảy ra. Bà kể về trận bom ở Vũ Hán, về hai đứa con ở nhà ga, về người chồng không bao giờ trở về. Ông Charles với đầu óc tiểu tư sản, chưa giác ngộ cách mạng trả lại thuốc phiện cho bà. Rồi ông để bà đi. Đó là sai lầm ý tưởng mà phe Tưởng Giới Thạch sau này bị thua.


Sau hôm đó bà Lee-Lee sợ bị bắt nên bỏ buôn lậu và chuyển sang đánh bạc và hóa ra lại cực kỳ giỏi. Bà thắng liên tục đến mức giới giang hồ gọi bà là “Đại Tỷ.” Bà được kính nể, được bảo vệ và sống sót trong thời chiến.


Đến năm 1949, lực lượng cộng sản của Mao trạch Đông tràn khắp Trung Quốc cất tiếng ca như có bác Mao trong ngày vui đại thắng. Những người liên quan đến Quốc Dân Đảng đặc biệt là một cựu điệp viên như ông Charles trở thành mục tiêu. Ông xuống tàu chạy sang Hương Cảng. Ông buộc phải bỏ lại bà vợ và hai người con trai từ cuộc hôn nhân đầu, Shide và Shisheng, vẫn còn nhỏ, ở Thượng Hải. Bạn bè phải giấu chúng đi. Họ sợ hãi; chứa chấp con của một gián điệp Quốc Dân Đảng có thể khiến họ bị bắt. Sau này, ông Charles nói rằng suốt 36 năm, ông không biết hai con mình còn sống hay đã chết.


Năm 1951, Lee-Lee cũng sang Hương Cảng. Họ tìm lại được nhau, hai kẻ lưu vong, cùng một lứa bên trời lận đận, đều bỏ lại con cái phía sau, đều không còn quê hương. Họ kết hôn năm 1954. Ngày 7 tháng 4 năm 1954, trong một căn phòng nhỏ phía sau Lãnh sự quán Pháp, nơi ông Charles làm đầu bếp, con trai họ ra đời. Họ đặt tên là Trần Cảng Sinh (Chan Kong-Sang) nghĩa là “sinh ra ở Hương Cảng.” Sau này đứa bé được mọi người trên thế giới biết đến với tên JAckie Chan.


Mình không biết, tác giả Amy Tan khi viết Joy Luck Club, có kể chuyện bà mẹ do diễn viên Kiều Chinh đóng, bỏ lại tại Trung Cộng là chuyện thân thay qua câu chuyện về gia đình của tài tử Jackie Chan.


Trong phần lớn cuộc đời, ông Jackie không hề biết điều này. Cha ông là một người hiền lành như hải quan phi trường Tân Sơn Nhất, ít nói, làm đầu bếp tại Lãnh sự quán Pháp rồi Đại sứ quán Mỹ ở Canberra. Mẹ ông lo việc gia đình. Họ nói tiếng Quảng Đông thay vì tiếng quan thoại. Họ làm việc rất nhiều ngày đêm, hy sinh đời bố mẹ củng cố đời con. Khi họ gửi ông Jackie Chan lúc 6 tuổi vào Học viện kịch Trung Hoa, nơi ông trải qua 10 năm học kịch Bắc Kinh, nhào lộn và võ thuật, Jackie từng nghĩ mình bị bỏ rơi. Mình có xem phim này ở New York, hình như với nhóm sinh viên MIT xuống thăm mình, kể về cuộc đời của ông Jackie Chan và Jimmy Ho. Ông âm thầm oán trách cha mẹ suốt nhiều năm. Ông không biết rằng căn hộ họ mua cho ông ở Hồng Kông được trả bằng từng đồng họ tiết kiệm, kể cả tiền tip mẹ ông kiếm được khi làm người giúp việc.


Mãi đến khi Jackie đã ngoài 40, đã là một siêu sao quốc tế, cha ông mới nói trong một lần ngồi trên xe: “Cha có một bí mật. Con không phải họ Trần. Tên gốc của con là họ Phòng.” Ông Charles kể hết mọi chuyện. Công việc gián điệp, những ngày bị Nhật giam giữ. Cuộc hôn nhân đầu với hai người con trai bị bỏ lại ở Thượng Hải. Hai người con gái của Lee-Lee ở Vũ Hán. Chán Mớ Đời 


Năm 1985, với sự giúp đỡ của một người bạn tại Đại sứ quán Trung Quốc ở Úc, ông Charles tìm lại được hai người con trai. Họ đang sống ở Vũ Hán. Một người làm bưu tá. Một người làm việc ở trang trại nuôi heo. Cuộc đoàn tụ diễn ra tại Quảng Châu,đầy nước mắt, ngượng ngùng, nhưng sâu sắc. Họ nói về những năm tháng đã mất, về việc sống sót không có cha, những sinh nhật trôi qua trong im lặng.


Bà Lee-Lee qua đời năm 2002. Ông Charles qua đời năm 2008, thọ 93 tuổi, tại Hương Cảng. Ông được chôn cất bên cạnh bà Lee-Lee tại nghĩa trang Gungahlin, Canberra.


Đây là phần câu chuyện tình hiếm khi được kể. Mối tình giữa một điệp viên và một người buôn thuốc phiện là phần dễ nhớ. Nhưng phần khó hơn, thật hơn, là: họ là hai con người đã buộc phải rời bỏ cuộc đời cũ và con cái của mình để sống sót qua chiến tranh và mang theo gánh nặng đó suốt phần đời còn lại, trong im lặng, khi nuôi dạy một đứa trẻ phi thường ở Hồng Kông.


Phim của Jackie Chan đầy những pha nguy hiểm có thể giết chết ông. Nhưng khoảnh khắc rủi ro nhất trong lịch sử gia đình ông xảy ra trước khi ông được sinh ra khi một người đàn ông cầm huy hiệu nhìn thấy một kẻ buôn lậu với bông hoa xanh trên tóc… và quyết định cất tờ biên bản đi.


Bộ phim tài liệu năm 2003 về câu chuyện này có tên Traces of a Dragon. Phim truyện năm 2013 là A Tale of Three Cities, đều do Mabel Cheung  đạo diễn. Cả hai đều đáng xem và đều không phải hư cấu. Ai muốn coi phim này thì theo đường dẫn cuối bài. 


Chiến tranh đều đem lại nhà tan cửa nát, gia đình ly tán. Như người Việt sau 54, 75 gia đình ly tán khắp nơi. Con trai ở pháp, con gái ở Mỹ, cha mẹ ở Úc Đại Lợi,… đó là may mắn còn sống để gặp lại. Mình có chị bạn 30/4/75 di tản, mấy ông anh và bố đi riêng mất tích luôn. Có người đi vượt biển mất tích, gia đình không bao giờ nghe tin tức.


Như gia đình mình trải qua chiến tranh chống Pháp rồi chống mỸ. Thời kháng chiến pháp mình có ông chú bị tây bắn chết. Ông cụ mình thì bị du kích bao vây nhà ban đêm như nhạc sĩ nGuyễn Đức Quang diễn tả trong bài hát “Người anh Vĩnh Bình”, nhảy qua tường khi du kích đến nhà ban đêm bắt, chạy vào Nam, còn ông chú thứ 2 thì đi bộ đội vào nam thì bị bom B 52 dập chết trên đường mòn Hồ CHí Minh. Sau 75 thì ông cụ mình đi cải tạo 15 năm, em mình vượt biển, đưa thì ở Mỹ, đứa thì ở Pháp.


https://youtu.be/L880VLBeIMI?si=oYjYsyvjyzBYsR5x


Do đó, mấy năm trước, mình và đồng chí gái tổ chức buổi họp mặt đại gia đình ở Dubai để anh em và cháu có thể gặp mặt nhau, xum họp sau bao nhiêu năm xa cách, mẹ mình được nhìn đầy đủ con cháu một lần. Vì mỗi khi về Đà Lạt thì có người về người không, cháu bận không về,… có lần được xem hình Dubai, đồng chí gái kêu không tiếc tiền. Còn sống gặp nhau là mừng, hạnh phúc một đời.


https://youtu.be/SpoeZcAksMs?si=_DtagEchrm7he6G5


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Người lính Mỹ được nhiều huy chương nhất

 Người lính Mỹ được nhiều huy chương nhất


Đọc tài liệu chiến tranh Việt Nam của người Mỹ thì lâu lâu lại lòi ra nhiều nhân vật chống đối chính sách của chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Có nhiều người phản chiến nhưng lại có những người lính lên tiếng chỉ trích, cho rằng chính sách của chính phủ sẽ không cho quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam thắng được cuộc chiến. Như không bỏ bom các đê điều, hạ tầng cơ sở, các đường tiếp liệu của Liên Sô và Trung Cộng.


Mình có đọc tin tức của Trung Cộng thì họ có cho biết, đưa ra hình ảnh lính của họ, 300,000 có mặt tại miền bắc, bận quân y của bộ đội Việt Nam. Bộ đội bác Hồ vào Nam hết nên hậu phương cần bảo vệ nên binh lính của Trung Cộng đảm nhiệm phần này. Những hình ảnh lính tàu bận quân y bộ đội bác Hồ, lại đứng chào hình ảnh của Mao chủ tịch khiến người Việt chới với. Với những hình ảnh này nên mình đoán Hoa Kỳ không muốn dội bom các hạ tầng cơ sở của Bắc Việt sợ giết lầm lính của bác Mao.

Bắc Mao giận lên, cho lính tràn qua vĩ tuyến 17 là mệt. Vì năm 1953, lính tàu đánh giết không biết bao nhiêu lính mỹ tại Triều Tiên. Hôm nay đọc một tài liệu khác về một cựu chiến binh Mỹ từng tham gia chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam.

Vào tháng 6 năm 1971, người lính được trao nhiều huân chương nhất nước Mỹ đã xuất hiện trên truyền hình quốc gia và nói ra sự thật về chiến tranh Việt Nam. Ai buồn đời thì theo đường dẫn.


https://atvaudio.com/ata_search.php?record_id=16642#:~:text=David%20Hackworth.%20On%20June%2027%2C,post%2DWorld%20War%20II%20era%2C%20Col.


Một cuộc phỏng vấn đó đã chấm dứt sự nghiệp 25 năm binh nghiệp, được xây dựng bằng máu, lòng dũng cảm và khả năng chỉ huy chiến đấu xuất sắc của ông là David Hackworth. Ông khai gian tuổi để nhập ngũ khi mới 15 tuổi vào năm 1946. Đến chiến tranh Triều Tiên, ông đã là một chỉ huy dày dặn tại trận mạc. Ở tuổi 20, ông trở thành một trong những đại úy trẻ nhất trong lịch sử quân đội sau khi được thăng cấp ngay tại chiến trường. Triết lý của ông cực kỳ đơn giản nhưng khắc nghiệt: dẫn đầu từ tuyến trước, di chuyển nhanh, đánh mạnh, và không cho kẻ thù một giây thở. Binh sĩ theo ông vì ông không bao giờ yêu cầu họ làm điều gì mà chính ông không làm trước thường là trước nhất và nguy hiểm hơn.


Ông không chỉ dũng cảm, còn cực kỳ giỏi trong tác chiến. Tại Việt Nam, ông nhận chỉ huy Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 39 Bộ binh ở đồng bằng sông Cửu Long, một đơn vị “đen đủi” đã chịu hàng trăm thương vong và tinh thần suy sụp. Ông gạt bỏ giáo trình cứng nhắc của Ngũ Giác Đài. Ông lập các đội trinh sát tinh nhuệ, huấn luyện binh sĩ theo chiến thuật du kích cấp tiểu đội, và nhấn mạnh tuần tra tấn công cùng tác chiến ban đêm để khiến Việt Cộng luôn bị động. Ông nghiên cứu chính phương thức của đối phương và đánh bại họ bằng chính cách đó.


Tiểu đoàn của ông Hackworth, sau này được gọi là “Hardcore Battalion”, gây tổn thất nặng nề cho đối phương trong khi giảm thương vong phía Mỹ. Ông chiến đấu theo cách cần thiết trên thực địa, chứ không phải theo cách Hoa Thịnh Đốn muốn thể hiện trên giấy tờ. Nên nhớ chiến tranh Việt Nam khởi đầu với sự tham chiến của binh sĩ mỹ với chủ thuyết của bộ trưởng bộ quốc phòng MacNamara. Thực thi chủ trương của giới kỹ nghệ chiến tranh.


Quân phục của ông đầy huân chương: hai Huân chương Chữ Thập Phục Vụ Xuất Sắc, mười Huân chương Ngôi Sao Bạc, tám Huân chương Ngôi Sao Đồng với chữ “V” vì lòng dũng cảm, tám Huân chương Trái Tim Tím, ba mươi bốn Huân chương Không Quân, và tổng cộng hơn chín mươi phần thưởng. Ông là một huyền thoại trong mắt những người lính từng phục vụ dưới quyền.


Và rồi, vào tháng 6 năm 1971, Đại tá David Hackworth đã làm điều không tưởng. Vẫn đang tại ngũ và mặc quân phục, ông tham gia một cuộc phỏng vấn dài trên chương trình truyền hình của ABC mang tên Issues and Answers. Nhìn thẳng vào ống kính, ông nói với người dân Mỹ điều mà Ngũ Giác Đài không muốn thừa nhận: cuộc chiến này không thể thắng theo cách đang tiến hành. Lãnh đạo thì tha hóa và chạy theo sự nghiệp. Số liệu “đếm xác” bị thổi phồng dối trá. Những người lính Mỹ trẻ tuổi đang chết vì một chiến lược không có cơ hội thành công. Thêm cần sa đầy nơi. Mình có xem một phim tài liệu kể là các quan tài của binh sĩ Mỹ chết tại Việt Nam, đem về Hoa Kỳ được giấu cần sa ma tuý ở tỏng.


Như sau này ông cựu bộ trưởng bộ quốc phòng McNamara viết trong hồi ký về chiến tranh Việt Nam. Ông kêu chúng ta đánh cộng sản trong khi Hà Nội đánh Tây rồi nay đánh Mỹ, “ngoại nhân” ra khỏi VN. Hai suy nghĩ về cuộc chiến khác nhau. 


Chúng ta không chiến thắng,” ông nói. “Chúng ta thậm chí còn không chiến đấu đúng cuộc chiến.” Phản ứng từ Ngũ Giác Đài đến nhanh và dữ dội. Các sĩ quan cấp cao phẫn nộ. Điều tra được mở ra. Áp lực gia tăng. Con đường gần như chắc chắn lên cấp tướng của ông tan biến chỉ sau một đêm. Chỉ trong vài tháng, sự nghiệp 25 năm của ông coi như kết thúc. Ông nghỉ hưu với cấp bậc đại tá, danh tiếng trong giới chính quyền Washington bị phá hủy.


Giới tướng lĩnh gọi ông là kẻ bất tuân, thiếu trung thành, thậm chí là phản bội. Nhưng những người lính, những người đã đổ máu cùng ông trong rừng rậm lại nhìn ông khác. Họ tôn trọng ông vì ông đã nói ra điều mà ai cũng biết nhưng không ai dám nói nếu không muốn tự hủy hoại sự nghiệp của mình.


Hackworth không biến mất. Ông trở thành một nhà báo và tác giả không sợ hãi. Cuốn hồi ký bán chạy About Face của ông phơi bày thẳng thắn những thất bại của lãnh đạo quân sự. Ông tiếp tục viết báo và lên tiếng chống lại sự quan liêu, lãng phí và những chiến lược đặt sự nghiệp lên trên sinh mạng người lính. Ông không bao giờ mềm mỏng. Ông cũng không bao giờ xin lỗi và lịch sử đã chứng minh ông đúng.


Pentagon Papers, sự sụp đổ của Sài Gòn, và hàng thập kỷ phân tích trung thực sau đó đã xác nhận gần như mọi chỉ trích mà ông đưa ra từ năm 1971. Người mà hệ thống cố bịt miệng đã luôn nói sự thật.


Những năm cuối đời, Hackworth đấu tranh mạnh mẽ cho người lính bình thường, huấn luyện tốt hơn, trang bị tốt hơn, lãnh đạo tốt hơn, và chăm sóc tử tế cho cựu quân nhân. Năm 2005, ở tuổi 74, ông qua đời vì ung thư bàng quang tại Tijuana, Mexico, khi đang tìm kiếm phương pháp điều trị. Nhiều người thân tin rằng căn bệnh này liên quan đến việc ông tiếp xúc với chất độc da cam trong những năm ở Việt Nam. Cuộc chiến cuối cùng cũng đã lấy đi ông, chậm rãi và đau đớn, rất lâu sau khi ông rời chiến trường.


Về chất độc Da Cam, tuần này thấy ở Paris họ có dựng tượng về nạn nhân của chất độc Da Cam này. Mình theo dõi các nhóm cựu quân Nhân Mỹ tại Việt Nam thì có nhiều người cho biết về già họ bị bệnh đủ thứ vì chất độc này.


Trong tang lễ của ông, từ tướng lĩnh đến binh nhì đứng cạnh nhau. Có người vẫn xem ông là anh hùng đã lên tiếng vì người lính. Có người không bao giờ tha thứ vì ông “phá vỡ hàng ngũ”. Nhưng không ai có thể phủ nhận di sản của ông: ông đã chiến đấu quyết liệt, lãnh đạo tốt, và cuối cùng thể hiện lòng can đảm đạo đức lớn hơn đa số.


David Hackworth nhận hơn chín mươi (90) huân chương qua hai cuộc chiến. Ông biến những đơn vị rệu rã thành lực lượng tinh nhuệ. Nhưng trận chiến định hình nhất của ông không diễn ra ở đồi núi Triều Tiên hay đầm lầy Việt Nam.


https://youtu.be/-UhgAzycMSE?si=B6rh3teMjsRrLn9A


Đó là trận chiến năm 1971, khi ông đứng một mình trước ống kính truyền hình, nói với một quốc gia đang chia rẽ một sự thật khó chấp nhận, biết rõ rằng điều đó sẽ khiến ông mất tất cả những gì đã xây dựng.


Ông có thể im lặng, nhận đủ quân hàm, và tận hưởng nghỉ hưu trong vinh quang. Nhưng ông đã chọn nguyên tắc thay vì thăng tiến. Đó là một dạng dũng cảm hiếm hơn cả việc lao vào làn đạn, dũng cảm đạo đức: sẵn sàng hy sinh sự nghiệp, danh tiếng và tương lai vì sinh mạng của những người lính vẫn đang chiến đấu, và vì sự thật mà đất nước cần được nghe.


Ông là người lính còn sống được trao nhiều huân chương nhất nước Mỹ và ông đã từ bỏ tất cả để chấm dứt những lời dối trá. Đó không chỉ là một anh hùng chiến tranh mà là một kiểu anh hùng hoàn toàn khác.


 Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn  

Nổi kinh hoàng của đạn tổ ong

 NỖI KINH HOÀNG của đạn Beehive 


Hồi nhỏ mình nghe mấy người lớn nói có đạn bắn bằng mũi tên, đạn chụp chi đó khiến mình như bò đội nón, cứ tưởng tượng nỏ thần An Dương Vương với mối tình hữu nghị Trọng Thuỷ Mỹ Châu. Vào mấy trang nhà của cựu lính Mỹ tại Việt Nam thì khám phá ra là có thật. Họ gọi là Đạn tổ ong (beehive round).

Họ cho biết trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Bắc Việt (NVA) khiếp sợ chúng. Có nhiều người kể là khi xưa nhờ mấy loại đạn này mà sống sót khi bị bộ đội bao vây và súng cà nông chỉa lên trời không ăn thua gì vì địch đã ở ngay hàng rào và đang cắt dây kẽm gai để chui vào. Loại đạn này bắn chụp trên không khiến hàng ngàn phi tiêu bay xuống. Có người kể quan cảnh rùng rợn khi Việt Cộng rút lui, nhiều người bên bộ đội bị phi tiêu cắm vào người như hamburger. Kinh hoàng. 


Mình thấy hình chụp mấy căn cứ của lực lượng đặc biệt mỹ ở gần biên giới như Ben Het, đều có phi đạo và súng cà nông để bắn xa xa khi khám phá ra các đoàn bộ đội di chuyển cách đó mấy dặm sơn khê. Vấn đề là khi cộng quân tấn công căn cứ thì quá gần để bắn đại bác trong khi cộng quân có thể sử dụng súng cối nhỏ để bắn vào căn cứ. Thế là họ đột phá tư duy nghĩ ra cách bắn đạn chụp từ súng đại bác, đã được chỉa lên trời. Nhưng tay đầu đạn bằng đạn tổ ong.

Đầu đạn tổ ong


Họ cho biết là năm 1957, Quân đội Hoa Kỳ ký hợp đồng phát triển vũ khí cho Tập đoàn Whirlpool, một công ty sản xuất máy giặt, ngày nay vẫn còn hiện hữu. Các kỹ sư của công ty máy giặt Whirlpool tại Picatinny Arsenal được giao nhiệm vụ giải quyết một vấn đề mà pháo binh Hoa Kỳ đã gặp phải từ thời Nội chiến, nghĩa là rất xa xưa.


Làm thế nào để chặn đứng một đợt tấn công bộ binh ồ ạt khi chúng đã áp sát trận địa pháo? Câu trả lời của họ là một quả đạn pháo 105 mm chứa 8.000 mũi tên thép ổn định bằng cánh. Mỗi mũi tên có kích thước gần bằng một chiếc đinh, có bốn cánh nhỏ, giúp nó bay mũi nhọn về phía trước như một mũi tên tí hon. Hình như tiếng Việt gọi là phi tiêu. Khi ngòi nổ cơ học theo thời gian của quả đạn kích hoạt, có thể được cài để nổ ngay khi rời nòng, lớp vỏ nhôm vỡ tung và 8.000 mũi flechette phun ra phía trước thành một hình nón phẳng đang mở rộng với tốc độ khoảng 1.500 feet mỗi giây. Độ 400 mét cho mỗi giây. Quá nhanh để trốn. Chỉ một lần giật dây cò đã biến pháo dã chiến thành một khẩu shotgun.


Không phải ẩn dụ mà là shotgun theo nghĩa đen. Không phải bắn 9 viên như đạn 12 gauge, mà là 8.000 mũi thép trong một phát, có thể bao phủ mặt trước rộng 30 mét ở khoảng cách 100 mét. Họ gọi nó là đạn “tổ ong” (beehive).


Và lần đầu tiên nó được sử dụng trong chiến đấu tại một căn cứ hỏa lực tên LZ Bird vào đêm 27 tháng 12 năm 1966, nó đã quét qua ba tiểu đoàn bộ binh Bắc Việt và góp phần gây ra hơn 250 thương vong tử trận phía đối phương. Dễ sợ. Không biết một tiểu đoàn Việt Cộng là bao nhiêu, nghe nói từ 300-500 người. Vậy xem như có 900-1,500 bộ đội ở trận đánh này và có đến 250 bị chết. Kinh


Đó mới chỉ là phần mở đầu. Nhưng khoảnh khắc chứng minh bản chất thật sự của loại vũ khí này, trận đánh khiến pháo thủ hoàn toàn tin tưởng và buộc bộ đội bác Hồ phải thay đổi cách tác chiến trong suốt phần còn lại của cuộc chiến diễn ra ba tháng sau tại một căn cứ hỏa lực tên Suối Tre.

Có ông mỹ tải tấm ảnh này nói là nhờ đầu đạn tổ ong đã cứu đại đội của ông thoát chết

Nhưng trước tiên, cần hiểu vấn đề mà đạn beehive được tạo ra để giải quyết vì nếu không có bối cảnh đó, các con số chỉ khiến chúng ta bá vơ. Đây là thực tế chiến thuật của một căn cứ hỏa lực ở Việt Nam lúc 3 giờ sáng. Một pháo thủ bên trong vòng phòng thủ, bao cát, dây thép gai concertina, mìn Claymore, pháo sáng bẫy. Hình như loại này được gắn cài ở ngoài rào. Việt Cộng chui đến đụng thì pháo nổ sáng lên để mấy người canh gác nhắm vào chỗ đó để bắn.


Khẩu pháo trong trại, căn cứ đang hướng ra ngoài với góc cao để yểm trợ hỏa lực gián tiếp cho các đơn vị bộ binh hoạt động cách đó hàng dặm. Đó là nhiệm vụ bình thường của pháo thủ. Bắn đạn qua các ngọn đồi tới các tọa độ được báo về qua radio bởi đề lô. Rồi vòng phòng thủ bị tấn công, Đặc công của bộ đội đã cắt hàng rào. Đạn cối rơi dồn dập vào vị trí của các pháo thủ. Và giữa khói, ánh pháo hỏa châu và tiếng ồn, lính trong căn cứ có thể thấy hoặc chỉ cảm nhận cho rằng có hàng trăm người đang tiến về phía bạn qua khoảng đất trống. Mình nghe kể là Việt Cộng hay dùng chiến thuật Biển Người của Mao Trạch Đông, thổi kèn in ỏi, la hét “hàng sống chống chết” chi đó khi tấn công vào đồn. Nghe âm thanh này cũng đủ sợ, vái tứ phương.


Biệt động Việt Cộng đã vào trong phạm vi 300 mét. Họ đang áp sát rất nhanh. Khẩu pháo trong căn cứ lúc này gần như vô dụng. Nó đang chĩa lên trời. Đạn nổ mạnh được thiết kế để bay vòng cung qua địa hình và phát nổ khi chạm đất hoặc trên không. Chúng phát tán mảnh văng theo mọi hướng, rất hiệu quả ở khoảng cách xa, nhưng cực kỳ thiếu chính xác ở cự ly gần.


Ở 100 mét, một quả đạn pháo có thể bay quá mục tiêu, nổ phía sau kẻ tấn công, hoặc tệ hơn, rơi trúng chính quân mình. Súng máy đang bắn. Mìn Claymore phát nổ nhưng làn sóng tấn công vẫn tiếp tục tiến lên vì bộ đội NVA hiểu rõ bài toán. 


27 người Mỹ đã thiệt mạng so với 250 bộ đội. Thiếu tướng David Ott, Tư lệnh Pháo binh Dã chiến của Lục quân, sau này viết rằng LZ Bird đã chứng minh đạn “beehive” là một vũ khí cực kỳ quan trọng cho toàn bộ chương trình phòng thủ căn cứ hỏa lực.


Từ đêm đó trở đi, mọi căn cứ hỏa lực mỹ tại Việt Nam đều bố trí sẵn đạn beehive với các khu vực bắn được chỉ định. Loại vũ khí từng chỉ là một khái niệm lý thuyết giờ đã trở thành học thuyết tiêu chuẩn.


Nhưng LZ Bird là hỗn loạn. Đạn beehive được bắn trong tuyệt vọng vào một vị trí đã bị tràn ngập, như biện pháp cuối cùng. Câu hỏi mà chưa ai trả lời lúc đó là: điều gì xảy ra khi sử dụng nó một cách có chủ đích, như một phần của hệ thống phòng thủ được lên kế hoạch, trước khi đối phương chạm đến hàng rào? Ba tháng sau, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đưa ra câu trả lời tại căn cứ hỏa lực Suối Tre, Tỉnh Tây Ninh.


Ngày 21 tháng 3 năm 1967 vào rạng bình minh. Hai tiểu đoàn Việt Cộng thuộc Trung đoàn 272 tấn công căn cứ do Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh 22, Sư đoàn 25 trấn giữ. Cuộc tấn công đến từ phía đông và đông nam. Bộ binh Việt Cộng đông đảo tiến qua bìa rừng về phía chu vi phòng thủ. Lần này, việc phòng thủ không còn là ứng biến như LZ Bird. Chỉ huy đã lập kế hoạch sẵn các khu vực bắn đạn beehive. Khi làn sóng tấn công tiến vào khu vực giao chiến, ông ra lệnh. Trước tiên, ông yêu cầu các chỉ huy đại đội bộ binh cho binh sĩ vào vị trí ẩn nấp. Sau đó, ông ra lệnh cho các khẩu pháo 105 mm nạp đạn APERS và bắn về phía đông và đông nam. Các khẩu pháo khai hỏa.


40 quả đạn beehive trong một trận đánh, số lượng đạn M546 được sử dụng nhiều nhất trong bất kỳ trận nào tính đến thời điểm đó. 320,000 phi tiêu được bắn ra. Báo cáo sau trận mô tả kết quả trong một câu. Những khoảng trống lớn đã bị xé toạc trong đội hình tấn công, không phải bị thương, không phải bị chế áp mà là những khoảng trống. Toàn bộ các phân đoạn của đội hình xung phong đã biến mất. Cuộc tấn công của Việt Cộng bị phá vỡ. Bộ binh chuyển sang phản công, truy đuổi những bộ đội sống sót trở lại bìa rừng. Khi trận chiến kết thúc, số thi thể được đếm là 299 bộ đội tử trận. 31 người Mỹ thiệt mạng. Tỷ lệ gần 10:1.


Và báo cáo sau trận ghi nhận một điều đã thay đổi vĩnh viễn cách Lục quân nhìn nhận phòng thủ căn cứ hỏa lực. Đạn beehive cực kỳ hiệu quả trong việc chặn đứng bộ binh địch đang xung phong. Đó là một đánh giá tác chiến, được viết bởi những sĩ quan vừa chứng kiến 8.000 mũi thép trong mỗi quả đạn xé nát một cuộc tấn công cấp tiểu đoàn trong 100 mét cuối cùng của hướng giao tranh.


Trước LZ Bird và Suối Tre, học thuyết tấn công chính của bộ đội là bộ binh tập trung lực lượng. Đánh vào chu vi tại một điểm. Áp đảo bằng số lượng của biển người, chấp nhận thương vong tạo khí thế tấn công. Sau năm 1967, học thuyết đó thay đổi. Các nhà phân tích tình báo Mỹ ghi nhận rằng các đơn vị Việt Cộng bắt đầu điều chỉnh chiến thuật tấn công để đối phó với hỏa lực bảo vệ cuối cùng, trong đó có đạn beehive.


Tại Xa Cát tháng 10 năm 1967, các tiểu đoàn bộ đội tấn công bằng cách bò, giữ tư thế nằm để giảm mức độ phơi bày trước quỹ đạo thấp của chùm flechette. Họ áp dụng chiến thuật “bám sát”, bám lại gần binh sĩ mỹ trong khoảng 20–30 mét trước khi khai hỏa, lực lượng phòng thủ không thể bắn beehive mà không gây nguy hiểm cho chính quân mình. Họ chuyển từ các làn sóng biển người đông đảo sang các mũi đột nhập do đặc công dẫn đầu, những nhóm nhỏ chuyên cắt hàng rào và phá hầm thay vì cả đại đội xông qua địa hình trống.


Đến năm 1969, quân đội Mỹ tiếp tục hoàn thiện khái niệm phòng thủ căn cứ. Căn cứ hỏa lực Crook, tháng 6 năm 1969, đại diện cho việc áp dụng hoàn chỉnh học thuyết beehive. Radar giám sát mặt đất và cảm biến địa chấn phát hiện lực lượng bộ đội đang tập trung ở bìa rừng trước khi cuộc tấn công bắt đầu. Pháo binh bắn đạn beehive vào các tọa độ đã được ghi nhận sẵn dựa trên dữ liệu cảm biến, không phải như biện pháp cuối cùng, mà là đòn đánh mở đầu.


Trong hai đêm giao tranh, 76 thi thể NVA được tìm thấy trong một khu vực. Tỷ lệ tiêu diệt tại khu vực đó gần 76:1. Đạn beehive đã tiến hóa từ một biện pháp tuyệt vọng thành một vũ khí được tính toán. Không còn bắn trong hoảng loạn khi đối phương đã vào trong hàng rào, mà được dẫn hướng bằng radar vào các đội hình vẫn còn đang tập họp trong rừng. Loại đạn được thiết kế để chặn một cuộc tấn công đang diễn ra giờ đây ngăn chặn chúng trước khi bắt đầu.


Khi chiến tranh tiếp diễn, nhiều đơn vị pháo binh ngày càng dựa vào thứ họ gọi là “Killer Junior” đạn nổ mạnh tiêu chuẩn với ngòi nổ thời gian cơ học, được cài đặt để phát nổ ở độ cao 10–30 mét, tạo ra vụ nổ trên không phát tán mảnh theo mọi hướng. Killer Junior bền vững hơn về hậu cần. Mỗi đội pháo binh mang theo hàng trăm quả đạn HE, nhưng chỉ có số lượng hạn chế đạn beehive. Họ thay đổi cách bắn, nổ trên không hoạt động 360°, trong khi chùm của beehive chỉ bao phủ khu vực phía trước nòng pháo.


Nhưng Killer Junior không thể làm điều mà beehive làm được tại hàng rào. Nó không thể lấp kín mặt trận 30 mét bằng 8.000 đầu đạn trong một lần bắn. Nó không thể biến 100 mét cuối cùng của hướng tiếp cận thành một bài toán không có lời giải đối với bộ binh đông đảo tiến trên địa hình trống.


Ở những khoảng cách mà phòng thủ căn cứ là vấn đề sống còn, nơi người lính có thể nhìn thấy những người đang cố giết họ. Không có gì trong kho vũ khí Mỹ sánh được với những gì M546 mang lại. Đạn beehive không thắng cuộc chiến Việt Nam. Không có vũ khí đơn lẻ nào làm được điều đó. Nhưng nó đã thay đổi điều kiện của trận chiến tại điểm duy nhất mà Việt Cộng luôn có lợi thế: đòn tấn công cuối cùng.


Trước beehive, chạm đến hàng rào là cái giá thương vong có thể chấp nhận. Sau beehive, chạm đến hàng rào là án tử cho bất kỳ ai còn đứng thẳng. Bộ đội là những người lính chuyên nghiệp, thích nghi với mọi loại vũ khí mới mà Mỹ. Họ cũng thích nghi với beehive bằng cách bò, bằng cách bám sát, bằng cách sử dụng đặc công thay vì cả tiểu đoàn.


Những pháo thủ đã bắn những loạt đạn đó tại LZ Bird, tại Suối Tre, tại Crook, và tại hàng chục căn cứ hỏa lực không bao giờ được ghi vào sách lịch sử, họ kể lại là nhớ âm thanh. Không phải tiếng nổ của khẩu pháo, mà là âm thanh sau đó.


8.000 mũi flechette xé gió ở tốc độ 1.500 feet mỗi giây tạo ra một âm thanh mà các cựu binh mô tả là tiếng rít, hay tiếng vo ve, hoặc thứ gì đó mà họ chưa bao giờ tìm được từ ngữ chính xác.


Có ông mỹ kể như sau về trận đánh ở Suối Tre:


l only know of only one time that a bee hive was used in combat. l meet a guy who came to our unit right before l transferred out. He was on a 155mm howitzer at the battle of Soui Tre. They were being over run when they fired l think one round. l remember him saying he heard it go off and then it was dead quiet. Ai buồn đời thì đọc hai đường dẫn dưới đây để hiểu rõ hơn. Mình thấy giết người quá kinh khủng.


https://en.wikipedia.org/wiki/Beehive_anti-personnel_round


https://grokipedia.com/page/Beehive_anti-personnel_round


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn