Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Thị trưởng cuối cùng của Đà Lạt

 Thị trưởng cuối cùng của Đà Lạt 


Nhớ khi xưa, ông cụ mình làm cho ty công quản nước nên hay gặp ông Nguyễn Hợp Đoàn, cấp bậc đại tá, thị trưởng Đà Lạt kiêm tỉnh trưởng Tuyên Đức. Lý do là cái dinh tỉnh trưởng ở trên đồi cao mà ống nước của Đà Lạt khi xưa do Pháp thành lập cũ nên nước không lên nổi. Ông cụ mình phải canh thời gian Đà Lạt không xài nước để bơm nước lên cái bồn nước ở dinh tỉnh trưởng để gia đình ông ta có nước sử dụng.

Đại tá Nguyễn Hợp Đoàn, cựu tỉnh trưởng Tuyên Đức và thị trưởng Đà Lạt.


Tình cờ tìm thấy tin tức về ông ta trên mạng thì khám phá ra ông ta thuộc loại sĩ quan hạng ngầu vì từng là tư lệnh của lục lượng đặc biệt, Biệt Cách Nhảy Dù trước khi được giao chức tỉnh trưởng Tuyên Đức kiêm thị trưởng Đà Lạt. Được biết nhờ ông ta làm tỉnh trưởng suốt 5 năm trời khiến dân Đà Lạt sống yên ổn, nhờ đại đội trinh sát 302 luôn đi hành quân xung quanh Đà Lạt.


Tháng 4 cuối cùng của 1975, khi ông Thiệu ra lệnh rút lui thì có bổ nhiệm ông Nguyễn Hợp Đoàn làm đô trưởng Sàigòn kiêm luôn tỉnh trưởng Gia Định, nhưng rồi tình hình chiến sự lộn xộn đưa đến 30/04/1975. Ông và gia đình kịp thời di tản và định cư tại Houston, Texas. Nghe nói ông ta mở tiệm bán đồ trang trí nội thất và có ngỏ ý giúp thiếu tá Lê Xuân Phong khi ông ta vượt biên đến Hoa Kỳ, mở một tiệm bán đồ trang trí nội thất nhưng thiếu tá kể là không có khiếu buôn bán nên từ chối.


Mình chỉ nhớ con trai ông ta tên Nguyễn Thế Hùng , học Yersin cùng promo với mình, học chung ở Hội Việt Mỹ, nhớ trong lớp anh ta thích con gái của tiệm cà phê Au Meilleur Gout, đường Minh Mạng nên cứ rà rà hỏi chuyện cô này. Hình như học Bùi Thị Xuân, thấp thấp người nhưng xinh. Đậu tú tài thì anh chàng đi du học ở Mỹ, cùng thời với Đinh Việt Hùng (Pháp), con ông Đinh Văn Đệ, nằm vùng và Nguyễn Văn Chương (Hoa Kỳ), con ông Đoàn, đại gia về cây ở Đà Lạt, trên số 4, chỗ nhà của Kháng, học chung khi xưa.


Nhớ có lần Việt Cộng pháo kích Đà Lạt, trúng ngay vườn chỗ ấp Ánh Sáng. Ông nhờ thiếu tá Lê Xuân Phong, đại đội 302 vào rừng bắn vài Việt Cộng đem về bỏ xác tại cái lỗ do Việt Cộng pháo kích để trấn an người dân địa phương. Tháng 3 năm 1975, Đà Lạt trước khi bỏ ngõ ông ta cũng nhờ tiều đoàn 204, đem một chiếc Molotova của Việt Cộng lên Đà Lạt, đậu ngay trước tiệm Hạnh Tâm và cột một thượng tá Việt Cộng bị bắt sống nơi xe để trấn an người dân thị xã.


Chính ông ta thành lập tiểu đoàn 204. Lý do là đại đội trinh sát 302 có lực lượng quân số rất đông so với cáp đại đội, trên 300 người lính. Do đó ông ta mới hỏi thiếu tá Lê Xuân Phong, thành lập tiểu đoàn 204. Mình nghe kể là tháng 3 năm 1975, tiều đoàn này bị tổn thất rất nhiều khi đánh chiếm lại Di-Linh, giúp thị dân Đà Lạt có đường chạy di tản về Sàigòn. Ai di tản được về Sàigòn lúc đó thì nên nhớ công và sự hy sinh rất nhiều lính của tiểu đoàn 204. Sau này họp thì các vị chỉ huy ra lệnh rút lui nên phải chạy về ngõ Phan Rang-BÌnh Tuy.


Theo tài liệu thì ông ta sinh ngày 28 tháng 8 năm 1930 tại Hải Dương và qua đời ngày 15 tháng 4 năm 2002. Vậy chết còn trẻ khi mới được 72 tuổi. Gia đình ông ta vào nam khi đất nước chia đôi. Ông ta nhập ngũ ngày 15 tháng 4 năm 1951. Ông ta chết cùng ngày với ngày ông ta nhập ngũ. Ông ta tốt nghiệp khoá 4 của trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam. Năm 1958, ông theo học Trường Chỉ huy và Tham mưu của Việt Nam Cộng hòa, rồi đến năm 1964 thì được nhận vào học tại Trường Chỉ huy và Tham mưu Lục quân Hoa Kỳ (USACGSC) và học tiếp lên Trường Chiến tranh Lục quân Hoa Kỳ(USAWC). Ông từng được coi là Thiếu tá trẻ nhất trong Quân đội Việt Nam Cộng hòa khi mới 24 tuổi. Xem như ông ta giỏi anh ngữ vì được đi học ở Hoa Kỳ về tham mưu. Nghe nói ông ta không vào quốc tịch mỹ cho đến chết, vẫn giữ quốc tịch Việt Nam Cộng Hoà.

Nguyễn Hợp Đoàn trong trận Tết Mậu Thân tại Bộ Tư lệnh Quân sự Kontum năm 1968.


Ông từng giữ các chức vụ Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 705, Trung đoàn trưởng Trung đoàn 42 (Thái Bình), Trung đoàn trưởng Trung đoàn 14 Bộ binh Sư đoàn 9 Bộ binh, Phó Giám đốc Trường Tâm lý chiến Quốc gia, Tham mưu phó Quân đoàn IV Tâm lý chiến kiêm Tham mưu trưởng Sư đoàn 9. Ông còn làm Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Biệt cách Dù (Tiểu đoàn 81 Biệt cách Dù) vào năm 1961 và Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh Lực lượng Đặc biệt Việt Nam Cộng hòa vào năm 1965. Cho thấy ông ta thuộc loại sĩ quan chiến đấu giỏi của Việt Nam Cộng Hoà. 

Đại tá  Nguyễn Hợp Đoàn tham chiến trong trận Đắk Tô năm 1967.

Ông từng làm Tỉnh trưởng Kon Tum năm 1965–1970, nơi mà cuộc Tổng tiến công Tết Mậu Thân năm 1968 của cộng sản đã bị thất bại nặng nề. Ông tỏ ra xuất sắc trong vai trò quân nhân và công chức, qua hai chức vụ Tỉnh trưởng kiêm Tiểu khu trưởng Tiểu khu Tuyên Đức, và Thị trưởng Đà Lạt năm 1970–1975. Trong nhiệm kỳ thị trưởng của mình, Đà Lạt được xem là nơi trú ẩn an toàn. Ông đã góp phần xây dựng nơi đây dựa trên sự quyến rũ và vẻ đẹp của nó, đồng thời giữ cho thành phố này trở thành điểm đến yêu thích cho tuần trăng mật của người dân. Đà Lạt còn là trung tâm học tập với nhiều trường nội trú, đại học, học viện quân sự và chủng viện. Lò phản ứng hạt nhân duy nhất của Việt Nam Cộng hòa cùng các nhà khoa học và nhân viên liên quan đều được đặt tại Đà Lạt. 


Ngoài các vụ đặt chất nổ tại Đà Lạt thì dạo ấy thị xã được xem là an bình, không bị pháo kích hàng đêm như các tỉnh khách ở miền Nam. Có dạo sau Mậu Thân, mình và ông cụ tối phải ra phố ngủ ở số 11 Duy tân vì Việt Cộng hay về ban đêm, bắt công chức và bắn chết. Sau này chiến dịch Phụng Hoàng đã thanh lọc khá nhiều nằm vùng như trong xóm mình có ông thần tên V, học sinh Trần Hưng Đạo bị bắt nhốt trên trung tâm thẩm vấn.


Bước sang năm 1975, với hy vọng đại tá Nguyễn Hợp Đoàn sẽ mang lại an ninh trật tự cho thủ đô Sài Gòn đang bị cộng sản tiến công ráo riết, Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu đã bổ nhiệm ông làm Đô trưởng Sài Gòn tiếp theo. Đến gần cuối giai đoạn chiến tranh khi Sài Gòn sắp sửa thất thủ, đại tá Nguyễn Hợp Đoàn vẫn còn trụ vững và quyết chiến đến cùng trong khi mấy viên Quận trưởng Quân sự lân cận bỏ chạy mà không thèm kháng cự, tạo ra sự hỗn loạn khi dân tị nạn đổ vào Sài Gòn từ Quân đoàn I và II. Thiếu tá Lê Xuân Phong có kể khi di tản về Sàigòn thì có gặp lại đại tá Nguyễn Hợp Đoàn, đại tá Phan Văn Huấn, Biệt Cách Nhảy Dù và tìm cách tạo vòng đai chiến đấu ở Sàigòn nhưng rồi ông Dương Văn Minh lên banh-ta-lông hết.


Trên đường đi, đoàn người tị nạn phải gánh chịu thương vong nặng nề khi Sư đoàn 340 Bắc Việt pháo kích làm tổn thất nhân mạng hàng ngàn người. Gia đình mình kể là khi di tản, Việt Cộng pháo kích vào con lộ của người dân di tản. Tụi bây không đón chúng ông thì chúng ông cho chúng mày chết. Có chiếc xe Lam chở đầy người bóp còi liên tu-ti qua mặt xe ông cụ. Độ 10 phút sau thì xe ông cụ thấy xe lam banh-ta-lông vì trung đạn pháo kích của Việt Cộng, họ chết thế cho gia đình mình. Ông chỉ ra lệnh rút quân sau khi nhận ra rằng cả thành phố và địa bàn của mình bị cô lập. Ông cho tiến hành một cuộc rút lui có trật tự, sát cánh cùng binh sĩ và cứu sống nhiều người dân. Thiếu tá Lê Xuân Phong kể là khi ra lệnh rút quân thì ông ta chỉ đi với một số lính của tiểu đoàn 204 vì không dám nói rõ hết lệnh của trên đưa xuống nên sau này có nhiều người lính trách.


Nhớ có dạo đại tá Nguyễn Hợp Đoàn nói ông cụ mình ra ứng cử hội đồng thị xã Đà Lạt, bảo đảm đắc cử. Ông cụ mình công chức nên mỗi lần có bầu cử là phải đi gác các thùng phiếu, sợ Việt Cộng nằm vùng đến phá hoại. Nhớ dạo ấy có thấy truyền đơn Việt Cộng kêu gọi dân Đà Lạt tẩy chay bầu cử. Ông cụ kể là khi xe nhà binh đến lấy phiếu thì họ đổi các thùng phiếu đầy nhóc phiếu bầu cho ứng cử viên của chính quyền đưa ra nên không muốn ra vì không có tham vọng gì cả. Cho nên ngày nay Hà Nội cho bầu cử đắc cử 99% là chuyện thường ngày.

                                 Trần Văn Phước

                                      (1955 – 1963)


Trần Ngọc Huyến

(1963 – 1964)


Đinh Văn Đệ

(1964 – 1965)


Trần Văn Phấn

(1965 – 1966)


Nguyễn Thị Hậu

(1966 – 1968)


Lộ Công Danh

(1969)


Nguyễn Bá Thìn

(1970 – 1973)


Nguyễn Hợp Đoàn

(1973 - 1975)

Từ 1955 đến 1975, suốt 20 năm Đà Lạt có nhiều thị trưởng thay phiên nhau quản lý Đà Lạt. Mình nghĩ chỉ có 2 ông thị trưởng đáng nhắc đến là ông Trần Văn Phước, được tổng thống Ngô Đình Diệm bổ nhiệm và ông Nguyễn Hợp Đoàn được tổng thống Nguyễn Văn Thiệu bổ nhiệm và tại vị lâu nhất vì các người khác chỉ nắm quyên 1 năm là chạy. Mình có viết về sự đóng góp của thị trưởng Trần Văn Phước cho Đà Lạt như xây dựng Chợ Mới, viện đại học Đà Lạt, chỉnh trang lại khu thương mại Hoà BÌnh, xây cất xung quanh Đà Lạt và các bến xe đò. Rất liêm chính.


Nay xin kể về ông Nguyễn Hợp Đoàn, cảm ơn người đã giữ an ninh cho Đà Lạt suốt 5 năm trời. Thời gian ông ta làm tỉnh trưởng Tuyên Đức thì không có gì xây dựng nhiều vì chiến tranh khốc liệt. Mình chỉ biết có đường ống nước do chính phủ Tây Đức viện trợ mà ông cụ mình có thực hiện tại đường Hai Bà Trưng. Mình có thấy bản vẽ Đà Lạt muốn dời các bến xe ra ngay đường Nguyễn Tri Phương nhưng chưa thực hiện thì tan hàng. Được cái ngày nay Việt Cộng cũng dời bến xe ra đây theo bản vẽ của chế độ cũ. Dời bến xe để tránh xe tải nặng làm hư đường trong thành phố, dễ kiểm soát hơn là ngay ấp Ánh Sáng và sau khu nhà Đội Có.


Trong số thị trưởng Đà Lạt, có ông Đinh Văn Đệ đâu 6-12  tháng là nằm vùng của Việt Cộng. Ai buồn đời thì đọc đường dẫn của họ Đinh. Hình như nhà ông ta ở ngay cổng ra vào của tường Yersin cũ.

https://hodinh.vn/tin-tuc-nha-tinh-bao-dinh-van-de-nguoi-co-cong-lon-voi-dat-nuoc-352.html


AI cho tin tức về U4

Đinh Văn Đệ (1924–2020), còn gọi là Ba Đệ, là một điệp viên chiến lược mang bí danh U4 của lực lượng cách mạng, từng giữ chức vụ Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ viện trong chính quyền Việt Nam Cộng hòa. 

Thân thế và quá trình hoạt động nằm vùng

  • Bí danh và tổ chức: Ông hoạt động với bí danh U4, thuộc Cụm điệp báo VĐ2 của lực lượng tình báo miền Nam. 
  • Chức vụ nắm giữ: Ông từng làm dân biểu Hạ nghị viện, Phó Chủ tịch Hạ viện và Chủ tịch Ủy ban Quốc phòng Hạ viện Việt Nam Cộng hòa. 
  • Cơ duyên giác ngộ: Từ năm 1969, qua sự vận động và tác động của hoàn cảnh lịch sử (như sự kiện Mậu Thân 1968) cùng người em trai là sĩ quan tình báo Đinh Văn Huệ, ông chính thức nhận lời làm điệp viên nằm vùng. 
  • Nhiệm vụ tình báo: Nhờ vị thế chính trị cao cấp và mối quan hệ thân thiết với các tướng lĩnh như Tổng trưởng Quốc phòng Cao Văn Viên, ông dễ dàng ra vào Bộ Tổng tham mưu để thu thập và chuyển giao nhiều tài liệu, tin tức chiến lược quan trọng về phía cách mạng. 

Sự kiện tháng 3 năm 1975

  • Chuyến đi Mỹ: Vào tháng 3 năm 1975, ông tham gia phái đoàn Việt Nam Cộng hòa sang Mỹ vận động viện trợ khẩn cấp.
  • Bài diễn thuyết: Ông đã có bài phát biểu trước Quốc hội Mỹ phản ánh tình hình suy sụp và rối ren của chính quyền Sài Gòn lúc bấy giờ.
  • Báo cáo về chiến khu: Toàn bộ thái độ thờ ơ của phía Mỹ và thông tin thực tế từ chuyến đi đã được ông cấp tốc báo về tổng hành dinh, giúp cấp trên đẩy nhanh kế hoạch giải phóng miền Nam. 

Giai đoạn sau năm 1975

  • Sau ngày đất nước thống nhất, thân phận điệp viên U4 của ông mới dần được hé lộ.
  • Ông tiếp tục làm việc tại cơ quan lãnh đạo của Thành phố Hồ Chí Minh và được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
  • Tìm hiểu chi tiết về hoạt động của nhân vật này qua bài viết trên U4 – điệp viên cộng sản làm 'quan lớn' trong Nghị viện VNCH

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vụ án tiền Đông-Dương và thất bại của pháp tại Điện Biên PHủ

 Vụ án tiền Đông-Dương và thất bại của pháp tại Điện Biên PHủ


Buồn đời đọc tài liệu của pháp khi xưa về cuộc chiến tranh tại Việt Nam đưa đến chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cáo chung nền cai trị thuộc địa cũ của Pháp quốc. Mình nhớ khi xưa, học lịch sử Việt Nam thì được biết dưới thời cai trị của thực dân pháp thì một đồng Đông-Dương có tỷ giá là 10 quan pháp (franc). Nay lại đọc tài liệu sau khi quân đội đồng minh giải phóng thủ đô Paris dưới ách cai trị của Đức quốc xã thì tướng De Gaulle ra lệnh tỷ giá 1 đồng bạc Đông-Dương ăn 17 đồng quan pháp đưa đến vụ xì-căn-đang mà người Pháp gọi: Affaire des piastresScandale des piastres hoặc Trafic des piastres) là một trong những vụ bê bối tài chính, chính trị lớn nhất của Đệ tứ Cộng hòa Pháp, diễn ra trong bối cảnh Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất (1946–1954). Bây giờ mình mới hiểu sau này Việt Cộng vẫn tiếp tục sử dụng chiêu thức này sau khi tây về nưuosc để đánh thắng miền nam. Mình đã có kể rồi. Ai buồn đời thì tìm trên bờ lốc.


Đồng piastre (hay “bạc”) là đơn vị tiền tệ chính thức của Đông Dương thuộc Pháp, do Ngân hàng Đông Dương phát hành. Sau Thế chiến II, ngày 25–26/12/1945, chính quyền lâm thời Pháp (dưới sự lãnh đạo của tướng de Gaulle và Bộ trưởng Tài chính René Pleven) ấn định tỷ giá chính thức 1 piastre = 17 franc Pháp. Nên dân Việt Nam thời đó cho con đi tây học rẻ hơn là học ở Việt Nam. Tưởng tượng ở Sàigòn, Hà Nội cho con lên học ở nội trú ở Đà Lạt, giá gấp 4 lần cho con đi du học ở tây. Đà Lạt dạo ấy, gia đình ông Võ Quang Tiềm, ông NGuyễn Văn Phúng, ông Xu Tiếng, ông Võ Đình Dung,… xem như các đại gia ở Đà Lạt khi xưa đều cho con đi du học ở pháp ngay thời còn học trung học đệ nhất cấp. Không như sau này đậu tú tài rồi mới đi.


Trong khi đó, giá trị thực trên thị trường châu Á chỉ khoảng 8,5–10 franc. Sự chênh lệch này (khoảng 7–8,5 franc mỗi piastre) tạo ra một “dàn máy làm giàu” gần như hợp pháp: mua piastre (đồng Đông-Dương) với giá thấp ở Sài Gòn/Hà Nội rồi chuyển về Pháp đổi theo tỷ giá chính thức. Ngân khố Pháp (tức người nộp thuế) phải gánh phần chênh lệch.



Tiền Đông-Dương đại diện cho 3 xứ Việt Nam, Lào và Cam Bốt

Để được chuyển tiền, người ta cần giấy phép của Office Indochinois des Changes (Văn phòng Hối đoái Đông Dương). Các hình thức phổ biến gồm:

  • Lính Pháp (và cả lính thuộc địa) đứng tên chuyển “tiết kiệm” về nước (thực tế là tiền của doanh nhân hoặc giới làm ăn).
  • Doanh nghiệp lập hãng xuất nhập khẩu giả hoặc xuất hàng không bán được (phim hạng B, sách giáo khoa hết hạn, xi măng kém chất lượng, dù, bô vệ sinh…) để tạo lý do chuyển tiền.
  • Chuyển tiền “chính trị” cho các nhân vật thân Pháp (điển hình là Quốc trưởng Bảo Đại được cho phép chuyển số tiền tương đương hàng trăm triệu franc). Vụ này thì mới đọc được, mới hiểu lý do ông Bảo Đại thoái vị mà tiền đâu mà sống tà tà ở Hương Cảng. Trước đây có tài liệu cho biết các đại xì-thẩu Chợ Lớn, Bình Xuyên gửi tiền cho ông Bảo Đại, để ông ta cho phép buôn bán, sau ông Ngô Đình Diệm dẹp hết nên ông Bảo Đại hết tiền đánh bài nên qua Pháp sinh sống.
  • Mạng lưới bất hợp pháp: đưa vàng, đô la lậu vào Đông Dương, đổi lấy piastre rồi chuyển ngược về Pháp; thủy thủ và hải quan (nhiều người gốc Corse) đóng vai trò trung gian. Lý do đó người pháp hay gọi “clan des Corses). Nếu ai ở Đà Lạt chắc nhớ người đầu tiên xây các khách sạn ở Đà Lạt là ông Desanti, gốc Corse, sau này ông ta làm quản lý cho khách sạn Palace rồi khách sạn không trả tiền nên ông ta thưa kiện.

Theo ước tính của Jacques Despuech (cựu nhân viên Văn phòng Hối đoái), thiệt hại cho ngân khố Pháp có thể lên tới khoảng 100 tỷ franc mỗi năm(tương đương hàng tỷ đô la ngày nay).


Đặc biệt quan trọng nhất là Việt Minh cũng tham gia mạng lưới này (qua trung gian Trung Quốc và Việt Nam), dùng tiền thu được để mua vũ khí, một phần vũ khí sau đó quay lại chống lại quân Pháp. Trong khi đó quân đội Pháp lại cần tiền để chi trả cho chiến tranh nên phải bảo vệ người Thái Trắng ở vùng tự trị xung quanh biên giới Lào, gần Điện Biên Phủ, hổ trợ họ trồng thuốc phiện để đem về Sàigòn, Hà Nội để bán kiếm tiền cho quân đội pháp.


Các nhân vật nổi bật trong sự việc này:

  • Ông Mathieu Franchini: Ông chủ khách sạn Continental (đường Catinat, Sài Gòn), được coi là một trong những đầu mối quan trọng của mạng lưới Corse.
  • Nhà báo François-Jean Armorin (Franc-Tireur) điều tra và cáo buộc ông Franchini; ông thiệt mạng trong vụ rơi máy bay năm 1950 khi trở về Pháp, khiến dư luận nghi ngờ có yếu tố “thanh toán”. Sẽ kể sau về nhà báo tây đã gióng lên sự ăn gian buôn bán tiền Đông-Dương.
  • Jacques Despuech: Cựu công chức Văn phòng Hối đoái, bị sa thải trong hoàn cảnh đáng ngờ. Năm 1952 ông viết bài trên Le Monde, năm 1953 xuất bản sách Le Trafic des Piastres trở thành best-seller và kích động dư luận mạnh mẽ.
  • Các nhân vật bị nêu tên hoặc bị nghi ngờ: Bảo Đại, cựu Cao ủy Émile Bollaert, một số tướng lĩnh (Revers, Mast), quan chức và chính trị gia Pháp.

Vụ việc còn liên quan đến Affaire des généraux (vụ các tướng) năm 1949, khi báo cáo mật của tướng Revers về tình hình Đông Dương bị lộ ra ngoài và có liên hệ với mạng lưới piastre. Cho thấy các tướng của quân đội pháp chả để ý gì đến quân sĩ của họ, và cứ thế mà ăn tiền và báo cho mọi người biết tình hình, và quân đội pháp sẽ làm gì để họ kiếm lời. Sẽ kể sau. Kiểu trung tướng Nguyễn Văn Toàn, tư lệnh quân đoàn II, sai đàn em giao tiền đo-la cho Việt Cộng để họ cho người của ông vào rừng chặt cây bán cho ngoại quốc.


Áp lực dư luận và báo chí ngày càng lớn. Ngày 11/5/1953, 10 tháng trước khi người Pháp thất trận tại Điện Biên pHủ, chính phủ René Mayer quyết định hạ tỷ giá piastre xuống 10 franc, chấm dứt phần lớn hoạt động buôn lậu. Một ủy ban điều tra nghị viện được thành lập (7/1953), nhưng kết quả bị giữ bí mật một phần và vụ việc dần lắng xuống sau Hiệp định Genève 1954.


Vụ bê bối góp phần làm suy yếu niềm tin của dư luận Pháp vào cuộc chiến Đông Dương, củng cố hình ảnh “chiến tranh bẩn” (sale guerre), và trở thành một trong những biểu tượng của tham nhũng thuộc địa thời Đệ tứ Cộng hòa.


Sau Thế chiến II, Pháp cố giữ hệ thống thuộc địa Đông Dương trong khi chiến tranh với Việt Minh ngày càng tốn kém. Nên nhớ là lính Nhật Bản đã giải giới lính pháp trong 1 đêm. Nên sau thế chiến thứ 2 kết thúc, người Anh quốc và lính của Tưởng Giới Thạch đến Việt Nam để giải giới lính Nhật Bản. Nghe kể lính tàu đói quá bị phù, đến Việt Nam ăn nhiều quá đâm ra chết bội thực.


Một quyết định tài chính rất quan trọng được đưa ra cuối năm 1945: 1 piastre Đông Dương được ấn định chính thức ở mức 17 franc Pháp. Mình đoán là để kiếm tiền để trả chi phí vụ lính pháp trở lại Đông-Dương. Mình đoán người Pháp hạ giá tiền quan pháp để thuộc địa mua hàng hoá giúp kinh tế pháp gia tăng.


Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: giá trị thực của piastre thấp hơn rất nhiều. Theo Jacques Despuech, khoảng năm 1952, giá trị thực tế chỉ vào khoảng 8,50 franc, trong khi sức mua tại Đông Dương còn thấp hơn. Lý do kinh tế của Đông-Dương dạo đó rất mạnh.


Nói đơn giản: mua 1 piastre (đồng bạc Đông-Dương ) với giá khoảng 8–10 franc → đem đến ngân hàng chuyển tiền chính thức → đổi được 17 franc. Chênh lệch đó không phải tiền từ trên trời rơi xuống. Nó cuối cùng tạo ra một khoản chi phí cho hệ thống tài chính Pháp, tức người đóng thuế Pháp phải gánh.


Đây chính là “kẽ hở” làm phát sinh trafic des piastres. Một ví dụ rất đơn giản. Giả sử một người có: 1.000.000 piastres. Nếu mua chúng trên thị trường với giá trung bình 8,5 franc:

1.000.000 × 8,5 = 8,5 triệu franc


Nhưng nếu chuyển hợp pháp về Pháp theo tỷ giá chính thức:

1.000.000 × 17 = 17 triệu franc

Bỏ túi: 17 − 8,5 = 8,5 triệu franc. Hay 85%. Đó là lợi nhuận khổng lồ và đây mới chỉ là một vòng giao dịch.


Làm thế nào để biến tiền bất hợp pháp thành tiền “hợp pháp”? Đây mới là điểm tinh vi. Không phải chỉ cần mua thật nhiều piastre rồi đem tới ngân hàng. Việc chuyển piastre từ Đông Dương về Pháp chịu kiểm soát của Office Indochinois des Changes (OIC). Chính vì vậy, những người tham gia đường dây phải tạo ra một vỏ bọc thương mại.


Despuech, tác giả cuốn sách mô tả một mô hình đại khái như sau: Tại Saigon, Hà Nội, Chợ Lớn,…. Người ta thành lập một công ty thương mại, công ty này đặt hàng hàng hóa từ Pháp. Tại Paris, một công ty import-export lập hóa đơn gửi sang Saigon, hóa đơn có thể bị thổi giá (surfacturation). OIC nhìn thấy một giao dịch thương mại có vẻ hợp pháp. Tiền piastre được chuyển sang Pháp theo tỷ giá chính thức, phần tiền chênh lệch trở thành lợi nhuận.


Điều đáng chú ý là không nhất thiết phải có tiền mặt chạy qua biên giới. Một phần giao dịch có thể được thực hiện thông qua:

  • hóa đơn thương mại;
  • ngân hàng;
  • hối phiếu;
  • tài khoản ở nước thứ ba;
  • các công ty trung gian;
  • Hong Kong;
  • Bangkok;
  • Paris;
  • New York.

Đó là lý do vụ việc trở nên cực kỳ khó điều tra. Mình có kể khi xưa, trong thời chiến, Hà Nội đã cho người sang Hương Cảng, Paris để tìm cách chuyển ngân qua Nam Vang để mua thực phẩm cho bộ đội đánh mỹ cứu nước cũng như tại Sàigòn các đại xì-thẩu Chợ Lớn cũng nhúng tay làm giàu kiểu. Hà Nội chỉ cần có đô-la là có thể mua gạo cơm thực phẩm cho bộ đội đánh phe ta.


Theo các tài liệu mà Despuech công bố, cùng một hệ thống tài chính có thể phục vụ những người đang kiếm tiền từ chế độ thuộc địa và đồng thời tạo điều kiện cho Việt Minh tiếp cận ngoại tệ. Một bài của Le Monde năm 1953 dẫn lại tài liệu của Despuech và L’Observateur, cho rằng việc đầu cơ piastre đã giúp Việt Minh có được ngoại tệ mạnh. 


Hệ thống được mô tả đại khái như sau: Piastre tại Đông Dương, được dùng để mua USD, sau đó USD được đưa ra các trung tâm tài chính Châu Á như Hong Kong / Bangkok / Manila và Việt Minh có thể sử dụng ngoại tệ để mua: vũ khí + đạn dược + vật tư, y chang thời 1963-1975. Điều này đặc biệt quan trọng sau năm 1950, khi Trung Quốc cộng sản đã mở ra một nguồn cung cấp và tuyến hậu cần mới cho Việt Minh.


Điều mà các tài liệu đương thời cho thấy là một hệ thống tiền tệ bị bóp méo đã tạo ra những dòng tiền mà trong đó cả các nhà đầu cơ và những người chống Pháp đều có thể khai thác. Đây chính là điều làm vụ án trở thành một trong những nghịch lý tài chính lớn nhất của Chiến tranh Đông Dương.


Jacques Despuech không phải người ngoài cuộc hoàn toàn. Ông từng làm việc liên quan đến hệ thống kiểm soát ngoại hối ở Đông Dương và sau đó trở thành người công khai vạch ra cơ chế này. Ngày 20 tháng 11 năm 1952, Le Monde đăng bài của ông về “Le trafic des piastres”. Sau đó, năm 1953, ông xuất bản cuốn: “Le Trafic des piastres”, cuốn sách gây chấn động vì Despuech không chỉ giải thích hệ thống, ông còn:

  • đưa tên những người bị ông cho là có liên quan;
  • công bố tài liệu;
  • trình bày các hóa đơn;
  • chỉ ra những giao dịch đáng ngờ;
  • đề cập đến các ngân hàng và mạng lưới quốc tế;
  • và đặc biệt là mối liên hệ giữa hệ thống này với Việt Minh.

Le Monde khi giới thiệu cuốn sách năm 1953 ghi nhận rằng Despuech đưa ra khoảng 40 tấm tài liệu photocopy, trong đó có sơ đồ liên hệ ngân hàng, danh thiếp, địa chỉ và các chứng từ thương mại mà ông cho là có dấu hiệu surfacturation. 


Viết tới đây mới nhớ cách đây đâu 30 năm, có ông chú họ ở Thái Nguyên, viết thư cho mình. Ông chú nói là làm thầu khoán nên cần mình mua cho 20 xe chở xi-măng cũ. Mình có hỏi dùm thì công ty ở nam Cali có 20 chiếc và muốn bán mỗi chiếc dạo đó $15,000. Vấn đề là ông chú họ bảo mình phải niêm giá trong biên lai là gấp đôi là $30,000/ chiếc. Ở Hoa Kỳ đâu có vụ này, rồi ai đóng thuế dùm. Nên cuối cùng mình thấy phức tạp làm ăn với Việt Nam nên dẹp bỏ vụ buôn bán với Việt Nam.


Trong lịch sử Đông Dương cuối thời thuộc địa, có một mạng lưới người Corse rất nổi tiếng tại Saigon, Marseille và các trung tâm thương mại khác. Họ tham gia vào nhiều lĩnh vực: hải cảng → vận tải → thương mại → sòng bạc → nhà hàng → bảo kê → chính trị địa phương → các hoạt động kinh tế bán hợp pháp và phi pháp. Dân đảo Corse của Pháp nghèo nên họ đi tứ xứ làm ăn. Ông xây khách sạn đầu tiên ở Đà Lạt , tên Desanti, cũng gốc Corse. Họ chịu khó như dân miền trung Việt Nam, nhưng có điều là khi họ ở Sàigòn thì Không có nhớ đến dòng Seine như mấy ai đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh.


Từ thời thuộc địa, người Corse đã có một cộng đồng khá mạnh tại Đông Dương. Họ hoạt động trong: thương mại; nhà hàng và khách sạn; vận tải; cảng; các cơ sở giải trí; kinh doanh và môi giới. Một tài liệu về Amicale Corse de Cochinchine cho thấy cộng đồng Corse ở Nam Kỳ có tổ chức riêng và có mạng lưới xã hội khá chặt chẽ. Ông Despuech thậm chí viết một câu rất mạnh rằng người Corse “ở khắp nơi” trong đời sống thuộc địa. Ông đặc biệt nhắc đến những cơ sở lớn ở đường Catinat như Continental, Croix-du-Sud, Impérial và Hôtel des Nations, mà ông cho rằng là những nơi gặp gỡ của những người tham gia các hoạt động đầu cơ. Nhưng đây là nhận xét của Despuech, không phải bằng chứng rằng mọi cơ sở ấy đều là trung tâm tội phạm. 


Một cái tên nổi bật trong hồ sơ vụ đổi tiền là ông Mathieu Franchini. Ông đến Đông Dương từ năm 1922 và tự khai rằng mình đến trong hoàn cảnh nghèo khó, sau đó xây dựng được một cơ nghiệp rất lớn. Vụ này thì khả thí vì dân Corse nghèo đói tương tự dân miền nam nước Ý Đại Lợi như đảo Sicily. Đến năm 1953, ông Franchini đã trở thành nhà phân phối của General Motors; sở hữu Hôtel Continental và Hôtel Majestic. 2 khách sạn sang trọng nhất Sàigòn.


Trước khi Despuech trở thành nhân vật trung tâm của scandal, nhà báo Jean-François Armorin của tờ Franc-tireur đã điều tra vụ việc. Các tài liệu nghiên cứu sau này ghi nhận rằng Armorin đã phát hiện những dấu hiệu liên quan đến mạng lưới tội phạm Corse trong vụ Piastre. Ông Armorin chết trên chuyến bay từ Saigon về Paris khi máy bay gặp tai nạn.Sau đó, một số bài báo và người viết đương thời đặt câu hỏi liệu cái chết có liên quan đến cuộc điều tra của ông hay không. 


Ông Despuech nhấn mạnh rằng những giao dịch đáng ngờ không chỉ liên quan đến người Pháp. Trong cuốn sách của ông có những trường hợp liên quan tới người Việt Nam ở Paris, những người làm trung gian cho các khoản chuyển tiền có tính chất chính trị. Le Monde năm 1953 cũng ghi nhận rằng Despuech đặc biệt chú ý đến những “correspondants vietnamiens à Paris”. Điều này đưa chúng ta đến một câu hỏi cực kỳ quan trọng: Việt Minh có nằm trong hệ thống này không?


Có bằng chứng rằng các lực lượng chống Pháp đã khai thác những kẽ hở của hệ thống tiền tệ. Đây chính là điều làm vụ Piastre trở nên đặc biệt. Pháp đang chi hàng tỷ franc để đánh Việt Minh. Nhưng chính sách tỷ giá 17:1 lại tạo ra một hệ thống:


Chính phủ Pháp → trả giá cao cho piastre → người đầu cơ kiếm lợi → một phần tiền chạy qua các trung tâm tài chính châu Á → những người chống Pháp cũng có thể khai thác hệ thống đó. Một nghiên cứu gần đây về chiến tranh Đông Dương cũng nhấn mạnh nghịch lý này: tỷ giá nhân tạo đã tạo ra những khoản lợi lớn cho các cá nhân có quan hệ, đồng thời các nguồn đương thời cho rằng Việt Minh cũng tận dụng được hệ thống. 


Nếu chỉ là vài thương nhân Corse kiếm tiền, câu chuyện sẽ không trở thành scandal quốc gia. Điều làm Quốc hội Pháp phải điều tra là ông Despuech đưa ra những tài liệu liên quan đến cả quan chức, chính trị gia và những người có vị trí cao trong bộ máy thuộc địa. Le Monde mô tả cuốn sách năm 1953 của ông là một “hồ sơ” với rất nhiều tên tuổi, bao gồm:

  • quan chức cấp cao;
  • nhân viên Office Indochinois des Changes;
  • sĩ quan;
  • doanh nhân;
  • và những người liên quan đến các vụ chuyển tiền chính trị. 

Saigon → OIC → Paris → Hong Kong/Bangkok → vàng/USD → Việt Minh


Hãy lấy một ví dụ đơn giản: 1.000.000 piastres. Trong hệ thống tỷ giá chính thức 17:1, khoản tiền đó có giá trị trên giấy tờ:

1.000.000 × 17 = 17 triệu franc


Trong khi người muốn gom piastres có thể mua chúng với giá thấp hơn nhiều trên thị trường. Chính khoảng cách giữa giá chính thức và giá thực tế tạo ra lợi nhuận. Người tham gia không nhất thiết phải ôm tiền mặt từ Saigon bay sang Paris. Họ cần một giao dịch thương mại hoặc tài chính có vẻ hợp pháp để đưa giá trị của số piastres đó vào hệ thống chuyển tiền chính thức.


Sau 1949, Hong Kong trở thành một trung tâm tài chính cực kỳ quan trọng của châu Á. Nó nằm ngay cạnh Trung Quốc nhưng vẫn nằm dưới quyền Anh. Điều đó tạo ra một vị trí đặc biệt: Trung Quốc-Hong Kong- Đông Nam Á- Đông Dương. Tại đây có thể giao dịch: USD; vàng; tiền tệ châu Á; hàng hóa; tín dụng; vận tải biển.


Vì vậy, một khoản tiền bắt đầu dưới dạng piastre ở Saigon có thể sau nhiều giao dịch trở thành USD hoặc vàng ở Hong Kong. Và lúc ấy việc truy tìm nguồn gốc ban đầu trở nên cực kỳ khó. Hoa Kỳ cấm vận Ba-Tư nhưng xứ 1001 đêm vẫn ung dung tự tại vì có đường riêng để rữa tiền.


Bangkok quan trọng vì Thái Lan nằm ngoài hệ thống thuộc địa Pháp có: thương mại với Đông Dương; đường bộ; đường biển; các thương nhân Trung Hoa; thị trường vàng; mạng lưới tiền tệ khu vực.


Do đó, nếu muốn đưa giá trị ra khỏi Đông Dương, một tuyến như Saigon → Phnom Penh → Bangkok hoặc Saigon → Hong Kong có thể tạo ra một lớp trung gian bên ngoài sự kiểm soát trực tiếp của Pháp. Đó là cách Hà Nội đã thực hiện chuyển tiền vào Nam để đánh Việt Nam Cộng Hoà.


Việt Minh có nhiều nguồn tài chính:

  • thuế đánh vào các nhà tư thương như bà Nguyễn Thị Năm ở Hà Nội hay sau này dân buôn bán tại Đà Lạt có xe hàng Sàigòn-Đà Lạt đều phải đóng thuế cho Việt Cộng nếu không họ phá hay đặt mìn.
  • đóng góp; Mệ ngoại mình kể ông Hồ đi quyên góp vàng bạc của dân chúng để kháng chiến và cho tiền ông tướng tàu để ông ta kéo quân về nước.
  • kiểm soát vùng nông thôn;
  • buôn bán;
  • ngoại thương;
  • hỗ trợ từ Trung Quốc sau 1950;
  • các hoạt động tài chính bí mật.

Vì vậy piastre không phải nguồn tài chính duy nhất của Việt Minh nhưng ngoại tệ rất quan trọng vì Việt Minh cần mua những thứ mà họ không thể sản xuất trong nước: USD / vàng để mua hàng, vũ khí, đạn dược, radio, thuốc men, vật tư quân sự. Đặc biệt sau chiến thắng của Cộng sản Trung Quốc năm 1949 và việc Trung Quốc công nhận Việt Minh năm 1950, Việt Minh có một hậu phương quốc tế mới. Ông Võ Nguyên Giáp có viết là nếu không có Trung Cộng ủng hộ thì chắc chắn sẽ không kháng chiến. Một khoản tiền có thể đi từ Saigon → Hong Kong trong khi vũ khí đi: từ Trung Quốc → Việt Bắc. Điều đặc biệt là các vụ bán bán đa số là thuốc men,… mà mấy thứ này Sàigòn đâu cần nhiều, Việt mInh cần để đánh pháp khiến người Pháp sau khi khám phá ra khóc như mưa bất.


Ông Despuech không chỉ nói:“Có tham nhũng.” Mà đưa ra một luận điểm nguy hiểm hơn: chính phủ Pháp đang tạo điều kiện cho một hệ thống làm thất thoát tiền. Và trong hệ thống ấy: người Pháp kiếm tiền, người Việt Nam trung gian kiếm tiền, những mạng lưới quốc tế chuyển tiền và Việt Minh có thể khai thác một phần dòng tiền. Pháp đang vô tình làm suy yếu chính cuộc chiến của mình. Nghe nói có một luận án nghiên cứu lịch sử kinh tế về vụ việc cũng mô tả chính luận điểm này: Despuech cho rằng tham nhũng và sự thụ động của chính quyền đã tạo điều kiện cho những hoạt động làm lợi cho nỗ lực chiến tranh của Việt Minh. (Mình chưa đọc bản này)


Và rồi chúng ta đến câu hỏi lớn nhất, Việt Minh thực sự nhận được bao nhiêu tiền từ hệ thống Piastre? Có rất nhiều con số được lặp đi lặp lại, nhưng khi truy ngược về nguồn thì chúng thường quay lại ước tính của Despuech, chứ không phải một bản kiểm toán độc lập.


Liên quan vụ này người Pháp hay nhắc đến “Affaire des généraux” năm 1949 là một mắt xích cực kỳ quan trọng, và thực ra nó nối trực tiếp với câu chuyện piastres, mạng lưới Corse và Việt Minh mà chúng ta đang lần theo.


Affaire des généraux không phải ban đầu là một vụ tiền bạc. Nó là vụ rò rỉ một báo cáo quân sự tối mật của tướng Georges Revers cho phía Việt Minh. Sau đó mới xuất hiện những dấu vết về tiền, môi giới và các nhân vật trung gian. Như chính phủ Trump kêu có người rò rỉ tin tức Hoa Kỳ đánh bom Ba-Tư, cần phải được xử nghiêm ngặt.


Năm 1949, tướng Georges Revers là Tổng tham mưu trưởng Lục quân Pháp, được chính phủ cử sang Đông Dương để đánh giá tình hình chiến tranh. Chuyến đi này cực kỳ quan trọng cho tình hình Việt Nam vì tướng Revers nhận thấy tình hình nghiêm trọng hơn những gì Paris muốn tin. Ông đề nghị một số thay đổi căn bản:

  • xây dựng một quân đội Việt Nam; có vào những năm này, ông cụ mình đang đi lính Ngự Lâm Quân và sau đó được chuyển qua quân đội Việt Nam Cộng Hoà 
  • dựa nhiều hơn vào chủ nghĩa dân tộc Việt Nam để chống Việt Minh;
  • không cố giữ những vị trí biên giới quá khó phòng thủ;
  • xem xét rút khỏi một số cứ điểm ở biên giới Bắc Việt;
  • tìm kiếm sự hỗ trợ quốc tế, đặc biệt từ Anh và Thái Lan. 

Đây là một báo cáo rất nhạy cảm. Bởi nó có nghĩa là chính quân đội Pháp đang thừa nhận rằng chiến lược hiện tại có vấn đề. Báo cáo được in chỉ khoảng 50 bản, dưới sự kiểm soát đặc biệt trong một cơ sở quân sự. Chỉ 33 bản được phân phối chính thức; những bản còn lại được giữ trong hệ thống của Revers. Vậy mà vài tháng sau… Việt Minh có được báo cáo và đây là nơi vụ án bùng nổ.


Người ta nói đến ông Roger Peyré. Ông là một nhân vật có quan hệ với các tướng Revers và Charles Mast, đồng thời có liên hệ với SDECE, cơ quan tình báo đối ngoại Pháp. Theo hồ sơ được công bố, ông có những hoạt động kinh doanh rất đáng ngờ ở Đông Dương và đặc biệt quan tâm tới trafic des piastres. Đây là điểm mà hai câu chuyện bắt đầu lòi ra “Affaire des gênsraux” và “Affaire des piastres”.


Ông Peyré đi Đông Dương trước khi tướng Revers. Theo hồ sơ vụ án, ông tìm cách tiếp xúc với nhiều nhân vật để tạo ảnh hưởng đối với báo cáo mà tướng Revers sẽ viết. Ông muốn người ta đánh giá tướng Mast là người thích hợp để chỉ huy tình hình Đông Dương. Nói cách khác: ông Peyré không chỉ là người đưa tin, dường như đang cố tác động đến chính sách quân sự. Không biết ông ta có là đảng viên cộng sản pháp hay không.


Có một nhân vật người Việt trong vụ án này tên là Hoàng Văn Cơ, hậu duệ của ông Hoàng Cao Khải. Ông là một nhà báo, hoạt động chính trị và có vị trí trong hệ thống thông tin của chính quyền Việt Nam Quốc gia/Bảo Đại. Theo hồ sơ vụ án, Hoàng Văn Cơ có quan hệ với nhiều phe phái Việt Nam tại Paris. Vấn đề là ông cũng xuất hiện trong đường dây tiền bạc liên quan đến Peyré. Theo hồ sơ được tổng hợp, Peyré nhận từ Hoàng Văn Cơ hai tấm ngân phiếu, mỗi tấm trị giá 1 triệu franc, ngoài tiền mặt và một chiếc tủ lạnh trị giá khoảng 150.000 franc. 


Ngày 26/8/1949, đài phát thanh Việt Minh bắt đầu phát những đoạn nội dung của báo cáo. Đến 18/9/1949, tại Paris xảy ra một vụ việc tưởng như rất bình thường: Một cựu quân nhân Pháp tranh cãi với hai người Việt Nam gần Gare de Lyon. Cảnh sát can thiệp và trong hành lý của một người Việt Nam… người ta tìm thấy bản sao báo cáo Revers. Vụ “Affaire des généraux” chính thức bùng nổ. Mấy ông người Việt theo Việt Minh, cứ gặp tây là cãi dù biết mình đem tỏng người hồ sơ tối mật.


Nhưng câu hỏi làm thế nào Việt Minh có được báo cáo? Đây là phần hấp dẫn nhất. Điều tra của DST lần theo các bản sao. Một số bản được tìm thấy trong tay những người có liên hệ với Việt Minh. Một đường dây dẫn tới Trần Ngọc Danh, cựu đại diện Việt Minh tại Paris. Một đường dây khác dẫn tới hoàng tử Vĩnh Xá, người em họ của ông Bảo Đại nhưng cũng bị mô tả là một nhân vật hai mang, có liên hệ với cả các phe chống Bảo Đại và Việt Minh. Tổng cộng, điều tra viên phát hiện nhiều bản sao, trong đó có 72 bản được cho là đã lưu hành trong các tổ chức/người Việt liên quan. 


Nhưng câu hỏi vẫn còn: Ai là người đưa bản gốc cho họ? Tướng Revers đã đưa một bản báo cáo cho tướng Charles Mast. Vấn đề là tướng Mast không thuộc nhóm người chính thức cần được nhận báo cáo. Theo hồ sơ, tướng Mast nhận bản số 27. Tướng Mast lại có quan hệ với Roger Peyré và Peyré là người đang bị điều tra vì những hoạt động tài chính và quan hệ rất đáng ngờ.


Theo điều tra của DST, 2 tướng Mast và Revers phủ nhận các cáo buộc. Chính phủ cuối cùng quyết định không đưa vụ việc đến một kết luận hình sự đầy đủ; hồ sơ bị thu lại và vụ điều tra bị đóng theo quyết định của chính quyền Ramadier. 


Nhưng hậu quả chính trị rất lớn. Tướng Revers mất chức vào cuối năm 1949 và vụ việc trở thành một scandal lớn của Đệ Tứ Cộng hòa. Có một hậu quả quân sự mà chúng ta không nên bỏ qua. Báo cáo Revers đã đề cập đến vấn đề: biên giới Bắc Việt – Trung Quốc và khả năng Pháp không thể giữ mãi các vị trí như Cao Bằng và Lạng Sơn. Sau khi báo cáo bị lộ, phía Việt Minh biết được đánh giá chiến lược của quân đội Pháp. Nghiên cứu về trận Cao Bằng cho rằng thông tin từ Affaire des généraux giúp các nhà chiến lược Việt Minh và Trung Quốc hiểu rõ hơn dự định của Pháp, trong đó có khả năng rút khỏi khu vực biên giới. 


Một năm sau: Chiến dịch Biên giới 1950, Việt Minh đánh mạnh trên tuyến Route Coloniale 4 (RC4). Các đơn vị Pháp rút khỏi Cao Bằng vào tháng 10/1950 và bị phục kích. Đây là một trong những thất bại lớn nhất của quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương.


Từ đầu mình tưởng rằng có ba câu chuyện:

① Affaire des généraux — 1949: Rò rỉ bí mật quân sự.

② Affaire des piastres — 1950–1953: Tham nhũng và đầu cơ tiền tệ.

③ Mạng lưới Corse / quốc tế: Doanh nhân, môi giới, ngân hàng và các đường dây chuyển tiền nhưng thực tế chúng chồng lên nhau. Có những nhân vật xuất hiện ở nhiều câu chuyện. Roger Peyré, là một trong những chiếc cầu nối đáng chú ý nhất.


Sau khi nhìn vào Affaire des généraux, chúng ta có thể nói chính xác hơn: Hoàng Văn Cơ thực sự xuất hiện trong hồ sơ của vụ các tướng. Ông có quan hệ với các phe phái Việt Nam, trong đó có những người ủng hộ Bảo Đại; đồng thời tên ông xuất hiện trong điều tra về các khoản tiền trả cho Peyré. Nhưng không nên từ đó kết luận Hoàng Văn Cơ là đặc vụ Việt Minh. Chính hồ sơ lại mô tả tình hình phức tạp hơn: các phe Bảo Đại – quốc gia – Việt Minh có những quan hệ chồng chéo và đôi khi có những nhân vật hai mang. 


Hãy theo dòng thời gian thì nhận thấy:

1949

→ Revers điều tra Đông Dương

→ Peyré xuất hiện

→ báo cáo tối mật bị rò rỉ

→ Việt Minh biết được đánh giá chiến lược của Pháp tại Việt Nam 

→ Revers bị mất chức


1950

→ chiến tranh chuyển biến mạnh

→ thất bại RC4, Việt Minh phục kích lính tây khi họ rút lui về Nasan.


1950–1952

→ những câu hỏi về piastre ngày càng lớn


1952–1953

→ Despuech công khai hồ sơ

→ Quốc hội điều tra

→ vụ trafic des piastres trở thành scandal quốc gia


1953

→ tỷ giá piastre bị hạ từ 17 xuống 10 franc


Vì vậy, “Affaire des généraux” chính là chiếc chìa khóa để hiểu giai đoạn đầu của vụ Piastre. Và điều đáng kinh ngạc nhất là một số nhân vật và mạng lưới xuất hiện trước trong vụ rò rỉ quân sự năm 1949, rồi sau đó lại xuất hiện trong câu chuyện tiền bạc. Đây có lẽ là nhân vật quan trọng nhất để hiểu toàn bộ mạng lưới:

Peyré → tướng Mast → Revers → Hoàng Văn Cơ → Bảo Đại → Việt Minh → piastres → SDECE/DST.


Từ đó chúng ta mới có thể trả lời câu hỏi khó nhất: Peyré thực sự là một kẻ đầu cơ, một môi giới chính trị, một điệp viên hai mang, hay ông ta là người bị các cơ quan tình báo sử dụng?


Nằm gần hải cảng, phía dưới đường Catinat, khu này là một ốc đảo yên bình thực sự. Chỉ cách đó vài trăm mét, lựu đạn đã nổ trên sân thượng các quán cà phê. Sở Mật thám Pháp và các lực lượng dân quân Việt Nam đang tiến hành những cuộc thanh toán đẫm máu với những người ủng hộ Độc lập. Tất cả diễn ra dưới ánh mắt chế giễu của các compradore Trung Quốc (những người môi giới cho các hãng phương Tây) và giới tư sản Annam, những tay đầu cơ lớn  có thể tập hợp trong vài phút những khoản tiền khổng lồ mà tốt hơn đừng hỏi nguồn gốc, trừ khi muốn kết thúc cuộc đời trong dòng nước đục ngầu của một con rạch. Piastre – tên gọi của đồng tiền địa phương, đã trở thành một trong những ngoại tệ được săn đón nhất hành tinh kể từ khi, vào tháng 12 năm 1945 ở Paris, một viên chức vô danh của Bộ Tài chính ấn định tỷ giá chính thức tại chính quốc là 17 franc, gấp đôi giá trị thực tế (8,50 franc). Quyết định ngày 25 tháng 12 đó trở thành món quà Giáng sinh đẹp nhất mà Đệ tứ Cộng hòa dành cho giới làm ăn phi pháp.


Chấm dứt thời đại của những “BOF” (bơ – trứng – pho mát) làm giàu nhờ chợ đen dưới thời chiếm đóng. Giờ đến lượt những kẻ buôn lậu piastre, bị cuốn vào một cơn sốt vàng thực sự. Một số người đã xây dựng những gia sản khổng lồ chỉ trong vài tuần, thậm chí vài ngày. Nguyên tắc rất đơn giản: chỉ cần sống ở Đông Dương, đặc biệt là trong nền cộng hòa ngắn ngủi Cochinchine, và xin được giấy phép chuyển piastre về chính quốc, ở Sài Gòn piastre chỉ đáng 8,50 franc nhưng khi đổi ở Paris thì được 17 franc. Hệ thống ban đầu nhằm khuyến khích xuất khẩu từ Pháp sang các thuộc địa châu Á, sau đó nhanh chóng tách thành hai nhánh: một nhánh “hợp pháp” (ít nhất về nguyên tắc) và một nhánh bất hợp pháp. Những người hoạt động trong khuôn khổ pháp lý tuyệt đối là binh lính của đoàn quân viễn chinh được phép chuyển tự do về Pháp số tiền tiết kiệm của họ.


Và chỉ có trời mới biết các anh lính tây tiết kiệm đến mức nào: từ năm 1947 đến 1949, họ hầu như không tiêu một đồng piastre nào ở Đông Dương và làm tăng trưởng số vốn của mình. Hơn thế, tổng số tiền piastre được chuyển về còn vượt xa rất nhiều tổng số lương của quân nhân. Thế nhưng người ta vẫn thấy lính thủy, phi công, bộ binh và lính lê dương sống rất sung túc, đánh bạc những khoản tiền thiên văn tại Grand Monde Đại Thế Giới ở Chợ Lớn – khu phố Trung Hoa của Sài Gòn hoặc chi tiêu hào phóng cho gái mại dâm tại Parc à buffles, nhà chứa quân sự lớn nhất của thủ phủ Cochinchine. Thực tế, các quân nhân, với một khoản hoa hồng hợp lý, chỉ đóng vai người đứng tên cho các doanh nhân hoặc “tiểu bạch” muốn “làm piastre”, giống như sau này người ta làm CFA ở châu Phi. Khi làm tiền dễ dàng thì khó ai mà gian khổ đánh Việt Minh.  Thời Mỹ cũng có vụ đổi Đô-la đỏ và Xanh làm giàu.


Những “người hợp pháp” khác, cảm nhận được sự kết thúc của sự hiện diện Pháp, thề rằng họ muốn rời bỏ Đông Dương nơi họ đã sống hàng năm, thậm chí hàng thập kỷ. Người ta chứng kiến một cuộc di cư cảm động của những “người ra đi vĩnh viễn”, được phép chuyển không khó khăn thành quả lao động của mình, rồi vài tuần sau lại thấy họ ngồi trên sân thượng Continental, bị cơn “nhớ quê hương” không cưỡng nổi. Một số người ra đi như vậy năm, sáu, bảy lần, cho đến khi nhà chức trách siết chặt kiểm soát và chấm dứt những chuyến đi về liên tục đó.


Các doanh nhân thì bị cuốn vào một cơn sốt mua sắm thực sự. Rất nhanh, Sài Gòn trở thành thánh địa của các hãng xuất nhập cảng, thường được thành lập từ con số không và có địa chỉ ít nhiều giả tạo cả ở Pháp lẫn Đông Dương, thường nằm trong các quán rượu của bạn bè.


Đông Dương thuộc Pháp chứng kiến các hải cảng tràn ngập mọi loại hàng tồn kho không bán được chất đống trong kho ở Pháp: phim hạng B, sách giáo khoa hết hạn, xác tàu sắp tháo dỡ, bao xi măng không dùng được, hàng ngàn cây dù, bô vệ sinh… Người ta không thể liệt kê hết danh sách kiểu Prévert những hàng xuất khẩu của Pháp sang Sài Gòn mà chủ hàng thậm chí không đến nhận ở cảng, hoặc sau đó tìm thấy trên những bãi đất trống xung quanh thành phố. Tại Văn phòng Hối đoái trên đường Guynemer, khoảng hai mươi nhân viên hợp đồng người Pháp và bốn mươi thư ký Annam xử lý hồ sơ theo kiểu “may rủi”, từ chối một số khoản chuyển tiền, chấp nhận một số khác, theo những tiêu chí mà các khoản hối lộ khéo léo phân phối góp phần làm mềm mại hơn.


Phải giả định rằng các viên chức Văn phòng Hối đoái là những Adonis thực thụ, vì những cô gái xinh đẹp si mê những người đàn ông trung niên bụng phệ và chiều theo mọi ý thích của họ, cho đến ngày cô gái yêu cầu người tình “giúp một việc nhỏ”: ký một lệnh chuyển piastre cho mình hoặc cho những người bạn rất thân.


Giám đốc văn phòng cũng không hứng thú dọn sạch chuồng ngựa Augias, vì chính ông cũng chịu áp lực từ các Cao ủy liên tiếp (Bollaert hay Pignon), các nghị sĩ, bộ trưởng, thượng nghị sĩ hoặc tất cả những người Việt “thân Pháp” mà lòng trung thành tỷ lệ nghịch với số lượng và quy mô các khoản chuyển tiền được cấp. Nhà vô địch tuyệt đối trong lĩnh vực này là Hoàng đế Bảo Đại, sống thanh bạch nơi lưu vong ở Hồng Kông kể từ khi thoái vị năm 1946.


Người Pháp muốn ông trở lại Đông Dương, nhưng Hoàng thượng ngần ngại. Vì vậy, để dụ dỗ, người ta cho phép ông chuyển về chính quốc số piastre tương đương 500.000 đô la. Mình đọc tài liệu nghe nói người Tàu CHợ Lớn gửi cho ông ta tiền tiêu xài để được các thưuong vụ buôn bán với chính phủ Việt Nam.


Còn các lãnh đạo những hãng xuất nhập cảng lớn ở Bordeaux (Denis Frères, Alcan, Comptoirs France-Asie…) thì nhân lên gấp 10 lần, từ năm 1947 đến 1953, các hoạt động thương mại từ Pháp sang Đông Dương, đồng thời không quên thu về những khoản bồi thường chiến tranh hậu hĩnh cho những thiệt hại thực hoặc giả do quân Nhật gây ra từ 1940 đến 1945. Hàng trăm triệu piastre được chuyển mỗi năm từ Sài Gòn về Paris đã giúp các công ty này thoát hiểm sau thất bại năm 1954 và ký kết Hiệp định Genève. Cho thấy chiến tranh là nơi người ta làm giàu trên xương máu chiến sĩ.


Chi tiết lạ: không ít hàng nhập từ Pháp là thuốc men, đèn pin, giày dép, băng gạc… không hề được bán trên đường Catinat mà, nhờ những trung gian Trung Quốc và Annam không ai nghi ngờ, đã đến tay lực lượng Việt Minh, cũng là một bên tham gia vào mạng lưới buôn lậu này. Khi Ganay, giám đốc chi nhánh Ngân hàng Đông Dương, quyết định can thiệp vào những chuyện bẩn thỉu này, người hầu phòng kiêm tình nhân của ông bị Việt Minh bắt cóc cùng với một tượng nhỏ mà ông rất quý. Sau những cuộc thương lượng dài và kín đáo, ông lấy lại được người tình trẻ và tác phẩm nghệ thuật, nhưng từ đó mất khả năng nói bất cứ điều gì liên quan đến nạn buôn lậu piastre.


Một khi đã được phép chuyển tiền, người ta có thể lặp lại vô tận thao tác này. Chỉ cần đưa vàng lậu vào Sài Gòn, mỗi lượng ở Paris giá 586 franc nhưng ở Đông Dương lên tới 1.300 franc – hoặc đô la qua Hồng Kông, Colombo hay Macao. Bọn buôn lậu đổi chúng lấy piastre, rồi lại chuyển piastre về Paris.


Các thủy thủ trên những tàu khách tuyến Marseille – Sài Gòn chuyên làm những vụ này, và những nhân viên quan thuế người Corse ở hải cảng, mơ về một cuộc hưu trí sung túc trên đảo Đẹp, sẵn sàng nhắm mắt trước vài khoản hối lộ rồi chuyển ngay về nhà nhờ… Văn phòng Hối đoái.


Người ta từng thấy một ông già quý tộc bước xuống tàu với một cây đàn accordion trên tay. Xúc động trước cảnh cụ già vác nặng, một anh lính trẻ xung phong giúp. Không may anh là người yêu nhạc musette và muốn thử chơi thử cây đàn. Đàn vỡ tan, nhiều thỏi vàng rơi xuống đất trước mắt các nhân viên quan thuế.


Một cú sốc đã làm chấn động thế giới piastre. Ngày 18 tháng 9 năm 1949, một cuộc ẩu đả xảy ra tại nhà ga Lyon giữa một người lính vừa từ Đông Dương về và hai người Annam. Trong cặp của một trong hai người: Doc Dai Phuoc, nhân viên sứ quán Việt Nam, người ta tìm thấy bản sao báo cáo mật của tướng Revers gửi Paul Ramadier, Bộ trưởng Quốc phòng, sau chuyến thanh tra ở Đông Dương. Các cuộc khám xét trong giới Đông Dương ở Paris cho phép tìm thấy 38 bản báo cáo rất phê phán, trong đó Revers tố cáo gay gắt vụ bê bối buôn lậu piastre và điểm danh nhiều nhân vật, trong đó có một “M. Paul” bí ẩn mà một số nhà báo cho là Paul Auriol, con trai Tổng thống pháp.


Ngày 17 tháng 1 năm 1950, một ủy ban điều tra nghị viện có sự tham gia của nghị sĩ cộng sản Maurice Kriegel-Valrimont được thành lập. Nhưng ủy ban này không bao giờ có thời gian hoàn tất công việc. Còn những cáo buộc do Kriegel-Valrimont đưa ra và được báo chí cộng sản tiếp tục thì bị coi là vô giá trị vì xuất phát từ đồng minh của Việt Minh. Vụ bê bối thứ hai bùng nổ năm 1953 với việc xuất bản tại Éditions des Deux Rives cuốn sách của một viên chức khiêm tốn của Văn phòng Hối đoái Sài Gòn bị sa thải trong hoàn cảnh đáng ngờ: Jacques Despuech.


Le Trafic des Piastres (Nạn buôn lậu Piastre) trở thành sách bán chạy thực sự, nhất là khi các lãnh đạo công ty bị nêu tên kiện tác phẩm về tội phỉ báng. Họ thắng kiện chủ yếu nhờ thủ tục, nhưng báo chí đã nắm lấy vụ việc. Le MondeLibération (của d’Astier de La Vigerie), La Croix hay Le Populairedành nhiều bài viết cho vụ bê bối này, mỗi tờ cố gắng tấn công kẻ thù chính trị của mình: MRP, đảng Cấp tiến, UDSR của Pleven và Mitterrand, hoặc SFIO. Cuộc tranh luận càng nóng hơn vì Despuech chỉ rõ rằng việc tiếp tục cuộc chiến ở Đông Dương chẳng nhằm mục đích nào khác ngoài việc cho phép các hãng này và những kẻ lừa đảo được bảo kê chính trị vững chắc tích tụ những gia sản khổng lồ.


Chính phủ René Mayer, bị chất vấn tại Hạ viện, buộc phải quyết định ngày 11 tháng 5 năm 1953 hạ tỷ giá piastre Đông Dương từ 17 xuống 10 franc, qua đó hạn chế đáng kể khả năng làm giàu. Và 14 tháng sau, người Pháp tuyên bố đầu hàng tại Điện Biên Phủ. Và cáo chung luôn các thuộc địa của Pháp quốc tại Đông-Dương. Có lần nói chuyện với một cựu chiến binh pháp tại Đông-Dương, ông ta nói Sàigòn đã hủ bại người Pháp, sau đó người Mỹ và cuối cùng là bộ đội miền bắc. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn