Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Sự khác biệt căn bản giữa xã hội Mỹ và Trung Quốc

 



Sự khác biệt căn bản giữa xã hội Mỹ và Trung Quốc


Ngày nay ở thế kỷ 21, chúng ta đang chứng kiến nền văn minh tây phương đang dần dần tàn lụi như các đế quốc trong lịch sử. Có thịnh rồi có suy qua các can qua, tranh chấp như thế kỷ 20, chúng ta chứng kiến sự sụp đỗ của đế chế Ottoman và Anh quốc. Hai đế quốc này tranh giành quyền lực trên thế giới đưa đến sự diệt vong. Thế kỷ 21 thì chúng ta thấy Trung Cộng đang vực dậy sau bao nhiêu thế kỷ bị tây phương áp đảo.

Biểu ngữ của Việt MInh kêu gọi lính tây đầu hàng


Khi Nhật Bản đánh thắng Sa Hoàng khiến các quốc gia bị tây phương đô hộ như Trung Hoa, Việt Nam,… bừng tỉnh, hoá ra người da vàng có thể đánh thắng người tây phương. Thế là người Tàu, người Việt thi đua chạy qua  Nhật Bản để học hỏi tìm đường, canh tân đất nước thay vì bế môn toả cảng như trước đây. Việt Nam có chương trình Đông Du, Tây Du. Bên thì muốn theo đường lối Nhật Bản, người thì muốn cải cách theo đường lối tây phương, người thì muốn đi xa hơn là xây dựng một xã hội vô sản nên khi quay lại Việt Nam, họ không nhất trí về đường lối canh tân Việt Nam và choảng nhau. Ai cũng cho thầy mình là giỏi, bảo hoàng còn hơn vua. Đó là bệnh trầm kha của người Việt, bị đô hộ từ ngày lập quốc đến nay, không có tư duy riêng tư, chỉ vay mượn từ người ngoại quốc.


Khi mình theo học chương trình cao học về phát triển đệ tam thế giới, được bảo trợ bởi các công ty đa quốc gia như Nestle,… tại sao các công ty này bảo trợ các chương trình phát triển này? Để các học viên sau khi tốt nghiệp, trở về nước và ca tụng các công ty như Nestle, và nếu họ có khả năng lên chức cao trong chính quyền của nước họ thì sẽ bảo hoàng còn hơn vua. Kêu áp dụng 1000% cách thức canh tân theo những gì họ học. Thay vì nghiên cứu rõ ràng tình hình đất nước có phù hợp với lối canh tân này hay không. Hoặc chế biến, cải cách sự canh tân theo môi tường địa phương của đất nước thay vì áp dụng triệt để phương cách tây phương.


Lấy trường hợp Việt Nam Cộng Hoà trước 1975, có nhiều người du học từ pHáp về, kêu phải canh tân theo mấy ông tây bà đầm dạy. Mấy người du học từ Hoa Kỳ về thì kêu phải áp dụng như bên mỹ. Chưa kể đụng trận với giới đi học Liên Sô về. Thế là choảng nhau chưa nói đến phía Hà Nội lại đòi theo bác LÊNIN, hay bác Mao. Đó là vấn nạn của người Việt, học từ người ngoại quốc với tinh thần bảo hoàng hơn vua.


Do đó trong thời canh tân xứ sở của họ, Nhật Bản chỉ cho những kỹ sư nào có kinh nghiệm, đã làm việc sau khi tốt nghiệp đi tu nghiệp ở ngoại quốc, ngoài ra họ mời các giáo sư ngoại quốc đến xứ họ, trả tiền rất đắt để dạy học tại Nhật Bản. Các giáo sư này thấy hiện trạng đất nước xứ pHù Tang và theo đó hướng dẫn canh tân. 


Điển hình nếu Sàigòn không mất, tốt nghiệp xong, mình về Việt Nam làm việc. Mình rời Việt Nam ở tuổi 18 nên đâu có kinh nghiệm gì về xây cất ở Việt Nam thậm chí văn hoá Việt Nam. Tiếng việt không thông, qua tây thì lúc đó mới bắt đầu nhìn về tương lai và học ông tây bà đầm. Về Việt Nam thì mình chỉ áp dụng những gì được ông tây bà đầm dạy trong môi trường Việt Nam khác biệt về văn hoá và khí hậu. Được cái là mình có lấy lớp kiến trúc ở các xứ miền nhiệt đới nên có chút đỉnh kiến thức vè xây cất ở vùng nhiệt đới.


Mình lấy thí dụ về Việt Nam, ở nhà thân hữu, nghe nói giá nhà mua trên 1 triệu đô la, nhìn phía ngoài hoành tráng lắm. Được thiết kế như bên mỹ bên tây. Vấn đề là có thể họ mướn kiến trúc sư ngoại quốc như công ty mình từng làm việc, thiết kế khách sạn Equatorial cách đây đâu 35 năm khi đổi mới bắt đầu. Mấy nhà của thân hữu được thiết kế theo tây phương, cửa kính bú xua la mua khiến phía trong nóng chết bỏ. Kiến trúc của xứ trời lạnh, có tuyết trong khi Việt Nam khí hậu nhiệt đới khác. Vào nhà nóng mà mở cửa sổ không dám vì bên ngoài cũng nóng bá cháy. Mình thấy nhà ở Đà Lạt không được thiết kế theo thời tiết ở Đà Lạt nên trong nhà bị mốc ẩm. Bắt chước tây phương nhưng phải cải cách theo địa phương của mình chớ chép y chang là hỏng. Chán Mớ Đời 


Ngày nay chúng ta thấy Hoa Kỳ và Trung Cộng đang găng nhau như hai lưỡng cực để dành ảnh hưởng. Ở tây phương nên chúng ta quen nếp sống trong chế độ dân chủ, nhân danh tu chánh án số 1 nên có thể chửi bới bú xua la mua. Mình chứng kiến cảnh người Việt sinh sống tại âu châu khi xưa, ủng hộ Hà Nội vì các giới trí thức của xứ họ ở theo Hà Nội nên theo. Hãnh diện là một tiểu quốc, được uỷ nhiệm chống lại một đế quốc.


Lịch sử nước Mỹ được giảng dạy trong trường học là con tàu Mayflower, chở các người tỵ nạn tôn giáo đến vùng đất hứa mới để xây dựng một quốc gia như trong kinh thánh giải thích. Từ đó người Mỹ tin vào cá nhân là người tạo ra mọi thứ vì lịch sử chỉ có 250 năm. Niềm tin vào cá nhân đó đã định hình tất cả những gì xảy ra trong quá trình lập quốc. Các người mỹ đi về miền viễn tây bằng ngựa, xây dựng một thị trấn hay chăn nuôi tuỳ theo lòng tin của tín đồ. Như đạo Mormon ở vùng Utah, Evangelist,….


Rồi ở thế kỷ 20 là vận may phi thường xảy đến cho Hoa Kỳ. Hai cuộc Thế chiến đã khiến châu Âu tan hoang, và Hoa Kỳ nổi lên như một cường quốc công nghiệp và công nghệ không bị tổn hại. Khiến dân tình khắp thế giới chiêm ngưỡng xứ Hoa Kỳ, mơ tưởng đến giấc mơ Mỹ. Người Việt đến Hoa Kỳ qua nhiều làn sóng. Làn sóng đầu tiên được gọi là người di tản buồn, họ bỏ nước ra đi không định trước. Khi người Mỹ rời Sàigòn thì họ sợ biển máu của Hà Nội nên lên tàu lên máy bay chạy ra ngoài khơi, đến pHi luật Tân rồi Hoa Kỳ. Làn sóng thứ 2 thì sống không nổi với Việt Cộng sau 75 nên chôn dầu chôn mối tình để xuống thuyền ra khơi dù bão tố. Thà chết ra đi vì ở lại không thấy tương lai. 


Làn sóng này theo mình là thành công nhất vì họ đã trải nghiệm chế độ cộng sản nên sang Hoa Kỳ họ tung ra làm ăn, không nhìn lại phía sau. Họ là chính những người xây dựng cộng đồng người Việt tại hải ngoại.


Trung Cộng có một lịch sử hoàn toàn khác, đầy thăng trầm. 4.000 đến 5.000 năm lên xuống. Những giai đoạn dài không có chính quyền, vô chính phủ, quân phiệt cát cứ. Vậy làm sao người Trung Quốc sống sót qua hàng thế kỷ hỗn loạn khi nhà nước liên tục sụp đổ? Từ bào nhiêu thời đại, nhà Minh cho đến nhà Thanh,…


Tại sao người Tàu vẫn tồn tại bất chấp vô chính phủ, thiên tai, lũ lụt, nạn đói? Bởi vì có một mạng lưới xã hội độc lập với nhà nước đã nâng đỡ họ. Gia đình trực hệ, đại gia đình, dòng tộc. Người Tàu có nghĩa vụ với họ, không thể quay lưng với họ. Đó là cách họ tồn tại. Mình thấy các bang người Tàu hợp nhau ở hải ngoại để giúp đỡ nhau. Mình thấy điểm này khi về thăm quê nội. Thấy có cái gì ràng buộc mình với làng quê, họ hàng dù chả biết ai là ai. Ở Đà Lạt, bên ngoại mình có thấy mấy người vào Đà Lạt làm ăn, tạo dựng các nhà để người trong làng hội họp mỗi năm khi đi tảo mộ, hay kỵ người trong làng như làng An Lưu, Dưỡng Mong,.. 


Đây chính là điểm rẽ về triết lý của người Mỹ và người á đông. Mỹ đặt cá nhân ở trung tâm, họ ca tụng các thành quả cá nhân. Trung Quốc đặt gia đình, họ tộc ở trung tâm. Phải kính trọng người già, cho nên giới trẻ ở Việt Nam hay Trung Cộng không dám vượt qua câu nói “kính lão đắt thọ”. Khiến cá nhân ít khi tiến triển nhanh chóng và sống lâu lên chức lão làng thì lúc đó, đã già, không còn óc tư duy, chỉ củng cố địa vị của mình.


Hệ thống Mỹ tạo ra những Elon Musk, Steve Jobs, Bill Gates hay John Chambers… khi xem Forbes hay Fortune hay bất cứ bảng xếp hạng nào, 50 người xuất sắc nhất, giàu có nhất, đó là trải nghiệm của người Mỹ. Trong khi Trung Cộng có Jack Ma nhưng khi đã đi qua giới hạn, danh tiếng hơn đảng thì bị hạn chế. Hay khi giới trẻ đòi tự do thì Đặng Tiểu Bình cho lính xả súng bắn như điên dại vì dám chống lại chính quyền. Tương tự người Ba Tư xuống đường bị mấy ông Ayatollah kêu vệ binh bắn chết nghe đâu cả 40,000. Nhưng chả động đến chúng ta vì thấy xa xôi quá. Chỉ là con số.


Nhưng mục tiêu ở châu Á thì khác: người tàu cũng muốn cố gắng tạo ra những ‘Bill Gates’ của riêng họ, nhưng trong bối cảnh giữ cho xã hội vững chắc để họ tồn tại như một dân tộc. Nên nhớ Trung Cộng là một hiệp chủng quốc, gom tụ rất nhiều giống dân, nói nhiều thứ tiếng. Nếu ngày mai chế độ sụp đỗ, thì Trung Cộng sẽ banh ta lông như Liên Xô cũ. Bao nhiêu nước nhỏ sẽ được thành lập hay đúng hơn được tái lập. Mình đến Trung Á, ngay sát biên giới của Tân Cương bị Trung Cộng chiếm. Nói chuyện với người dân bên này biên giới thì cảm nhận được điều đó.


Hoa Kỳ bị sa lầy tại nhiều cuộc chiến như Việt Nam, Iraq,… lý do là Hoa Kỳ chưa từng bị chiếm đóng bởi ngoại bang. Hoa Kỳ chỉ có một cuộc nội chiến. Do đó người Mỹ sẽ không bao giờ hiểu được điều đó vì sao các người dân bị Sadam Hussein đàn áp lại đánh du kích chiến chống lại quân đội mỹ trên nguyên tắc đã giải phóng họ khỏi ách đàn áp của Hussein.


Có lẻ người Mỹ ngày nay bắt đầu hiểu vấn nạn này: giá trị của một xã hội không được lựa chọn trong trừu tượng, chúng được rèn luyện bởi những gì xã hội đó đã phải sống sót qua. Chủ nghĩa cá nhân là sản phẩm của sự ổn định. Chủ nghĩa đề cao gia đình là di sản của hàng thế kỷ sụp đổ.


Trong quá trình lịch sử người Việt , có 1000 năm đô hộ bởi người Tàu, rồi mấy ông tây bà đầm sang đô hộ thêm 80 năm. Ngày nay thì vẫn trở lại vai trò lịch sử từ xưa, triều cống nước tàu để được sống bình yên. Người ta có thể lên tiếng chửi bới này nọ, nhưng nếu một người dân ở vùng Trung Mỹ hay Nam Mỹ, vẫn chịu sự ảnh hưởng của Hoa Kỳ, một nước lớn bên cạnh. Maduro tiếp nối cuộc chống mỹ cứu nước khởi xướng từ thời Chavez thì bị bắt đem về mỹ với tội danh gì đó. Các nước này không có tự do định đoạt tương lai của họ như Việt Nam. Chán Mớ Đời


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn  


Đi tìm một nữa của mình

 Đi tìm một nữa của mình

Khi xưa, đọc truyện tiểu thuyết bà Tùng Long, thấy bà này hay nói đến đi tìm một nữa của mình nên chả hiểu gì cả. Đến khi qua pháp thì mới đọc thêm về các huyền thoại hy-lạp thì mới thất kinh. Đa số các huyền thoại hy-lạp đều là đề tài của nền văn mình tây phương như người Việt mình hay nhắc đến sự tích 100 cái trứng.


Tò mò mình kiếm sách như Illiad, Ulyssus qua lời kể của Homer, hay Symposium (Bữa tiệc) của Plato (Platon) qua lời kể của nhà hài kịch Aristophanes… đọc để khi nói chuyện với người Pháp thì còn hiểu được, chớ khi họ nói mà đực ra như ngỗng ị thì mất mặt người Việt. Có lần trong khi nói chuyện với đầm, chả hiểu sao mình nhớ đến cuốn “ Horace” của Pierre Corneille mà khi xưa ông tây bắt học như học sinh trường Việt học Kim Vân Kiều khiến mình Chán Mớ Đời. Buồn đời mình kêu “mon coeur est romain, hélas! Je suis Sabin” cho nó vần”ain” và “in”. Thật ra trong cuốn Horace thì bà vợ người Sabine, kêu “Je suis romaine, hélas ! puisque mon époux l'est” nhưng mình chế thêm khiến tây đầm kêu hay hay hay.


Theo huyền thoại của hy-lạp thì thời xa xưa, con người vốn không phải như hiện nay. Ban đầu có ba loại người:

  • Nam – Nam (sinh từ Mặt Trời) không biết có phải khi xưa đã có đồng tính, vì khi ở Pháp, người Pháp hay nói đến người huy-lạp có rất nhiều người đồng tính 
  • Nữ – Nữ (sinh từ Đất), lesbian? Phụ nữ yêu phụ nữ
  • Nam – Nữ (sinh từ Mặt Trăng) tức là người lưỡng tính

Mỗi người có hình dạng tròn, có 4 tay, 4 chân, 1 đầu với 2 mặt, Có 2 bộ phận sinh dục và di chuyển bằng cách lăn. Họ rất mạnh mẽ, kiêu ngạo và dám tấn công, chí lên cả các vị thần trên đỉnh Olympus. Vì quá mạnh và kiêu ngạo, loài người dám tấn công cả các vị thần trên đỉnh Olympus. Thần Zeus lo sợ, bèn họp hội đồng thần linh để bàn cách xử lý. Cuối cùng Zeus quyết định:“Ta sẽ chẻ chúng ra làm đôi. Như vậy chúng sẽ yếu đi một nửa, mà số lượng lại tăng gấp đôi, nên sẽ có nhiều lễ vật dâng lên ta hơn.” Zeus dùng sét chẻ đôi từng người. Sau đó ông bảo thần Apollo:

  • Xoay mặt của mỗi nửa về phía trước (về phía vết cắt)
  • Kéo da lại và khâu ở giữa bụng (tạo thành cái rốn)
  • Nếu chúng vẫn còn ngang ngược, Zeus sẽ chẻ tiếp lần nữa, để chúng phải nhảy lò cò bằng một chân.

Từ đó, mỗi nửa con người luôn khao khát tìm lại nửa còn lại của mình. Khi tìm được, họ ôm lấy nhau rất chặt, muốn hòa làm một như thuở ban đầu, thậm chí sẵn sàng chết vì nhau nếu không được ở bên.


Aristophanes giải thích: người thuộc giống Nam ban đầu sẽ tìm đàn ông (tình yêu đồng giới nam), người thuộc giống Nữ ban đầu sẽ tìm phụ nữ (tình yêu đồng giới nữ), người thuộc giống lưỡng tính sẽ tìm người khác giới (tình yêu dị tính). Đó chính là nguồn gốc sâu xa của tình yêu và khát vọng “một nửa của mình”. Mình thấy nhiều người quen, trên 7 bó, lỡ lần đò mà ngày nay vẫn đi kiếm một nữa của mình. Nghe họ kể là lái xe đường quốc lộ số 1, dọc bờ biển đến 1, 2 giờ sáng, nghe nhạc tây. Mình tưởng là về già thì chắc chả muốn đi tìm ai nữa. Hoá ra người ta vẫn cô đơn, cần sự hiện diện của một người bạn để đối ẩm, trò chuyện hay nhiều khi chả cần nói năng gì cả, chỉ cần sự hiện diện của một người tâm giao.


Aristophanes không chỉ kể chuyện để giải trí. Ông muốn nói rằng: Tình yêu thực chất là nỗi nhớ về sự hoàn chỉnh đã mất. Mình chưa thấy phụ nữ nào, không bắt ông chồng làm theo ý mình. Con người vốn dĩ không phải là cá thể độc lập hoàn toàn, mà luôn mang trong mình khát vọng trở về trạng thái “một thể”. Nếu không sẽ bắt chước Tuấn Vũ hát “người yêu cô đơn”, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng có thai, yêu ai cũng có bầu,..


Từ đó, mỗi nửa con người luôn khao khát tìm lại nửa còn lại của mình. Khi tìm được, họ ôm lấy nhau không rời, muốn hòa làm một như thuở ban đầu. Đó chính là nguồn gốc của tình yêu và khát vọng “đi tìm một nửa của mình”. Huyền thoại này giải thích tại sao con người luôn cảm thấy thiếu vắng và muốn tìm kiếm người “định mệnh”. Nó cũng là nguồn gốc của khái niệm soulmate (bạn tâm giao / một nửa linh hồn) trong văn hóa phương Tây.


Nếu có thể viết lại huyền thoại của hy-lạp, mình sẽ nói con người khi xưa, không nhất quán với chính mình vì hai nữa của mình cứ chống chọi với nhau suốt 24 tiếng mỗi ngày nên phải bò đến thần Zeus nhờ chẻ làm đôi, tách ra. Họ sẽ đi tìm người bạn tâm giao sau này nhưng một khi không hợp nhau nữa thì sẽ ly dị.


Đi tìm một nữa, có thể là một người con trai, đồng tính, hay một người con gái (lesbian) hay người khác giới tính như khi xưa người lưỡng tính. Thời đó, Plato chưa nghĩ đến chuyện ly dị, có lẻ khi xưa, lấy nhau là họ ăn đời ở kiếp còn ngày nay thì vui thì ở, buồn thì đi.


Họ đã tìm thấy đúng nửa còn lại của mình. Họ yêu nhau sâu sắc và không muốn rời xa nhưng dù có ở bên nhau cả đời, họ vẫn mãi mãi là hai cơ thể riêng biệt. Họ không bao giờ có thể thực sự “hòa làm một” như thuở nguyên thủy nữa. 


Chính vì vậy, tình yêu vừa là niềm hạnh phúc lớn nhất, vừa là nỗi day dứt không bao giờ nguôi. Nó là khát vọng về sự toàn vẹn đã mất, một khát vọng mà con người sẽ mang theo đến hơi thở cuối cùng. Đây chính là lý do Aristophanes cho rằng tình yêu không chỉ là chuyện cảm xúc hay dục vọng, mà là nỗi nhớ về chính bản thân mình đã bị chia cắt.


Lấy vợ được 35 năm thì mình thấy đi tìm phần nữa của mình thì hơi ba-láp, ba-sàm. Phải định nghĩa lại là đàn ông ngu, đi tìm người để mình xung phong làm ô-sin, làm người chồng nhân-dân. Chán Mớ Đời


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Chuyện ngày xưa xa

 Chuyện ngày xưa xa


Mình hay vào trang của nhóm Đông-Dương cũ, để đọc bài hay xem tài liệu về chiến tranh Tây-Việt, và những gì xảy ra vào thời đó, để có thể hiểu thêm về cuộc đời của song thân. Ông cụ thì chống Việt Minh, còn bà cụ thì theo Việt Minh, bị tây bắt bỏ tù còn ông cụ thì Việt Cộng bỏ tù 15 năm tình cũ. Mấy người tham gia nhóm này đa số là người Pháp, có người gốc Việt. Họ không muốn tranh cãi ai thua hay ai thắng, thực dân hay bốc lột. Họ chỉ muốn tìm hiểu về cha ông của họ, vì tuổi thanh xuân đã sang Việt Nam, đi lính hay làm công chức, rồi có người gục ngã trên chiến trường. Tương tự người Việt đi bộ đội vào Nam với danh nghĩa giải phóng miền Nam, còn người miền Nam thì đi quân dịch với danh nghĩa bảo vệ thế giới tự do. Họ có mấy tấm ảnh của bố, ông nội, ông cố khi xưa ở Việt Nam, đăng lên để hy vọng có ai đó khi xưa, cũng ở chung đại đội, có chút gì tin tức về tổ tiên của họ.

Cha nằm trên giường bệnh, không nhớ sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà nào đã đến thăm

Vì lý do đó mà mình phải làm gia phả của gia đình bên nội rồi bên ngoại để sau này con cháu có thể tìm lại để đọc. Hôm trước có cô cháu bên bên vợ đưa cho một bản sao gia phả bên ngoại, mới khám phá ra, đồng chí gái thuộc hệ thứ 7 của vua Gia Long. Kinh. Mình sẽ nhờ người ở Việt Nam chuyên viết lại gia phả để ông ta biên tập lại, rồi gom vào gia phả bên ông cụ mình.


Những ai quan tâm đến lịch sử Đông Dương đều biết vai trò của các giáo sĩ thừa sai, đến Đông-Dương để truyền đạo. Do đó có nhiều người lên án nhà thờ thiên chúa giáo đã làm nền tảng cho cuộc xâm chiếm Đông-Dương của đế quốc Pháp. Hồi nhỏ học lịch sử cận đại của Việt Nam rồi các phong trào Cần Vương, sau đó đến của kháng chiến chống Pháp đưa đến người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Người Việt thắng Pháp, dàng lại độc lập nhưng tại sao lại đất nước bị chia đôi.


Đó là câu hỏi mình đặt ra khi học sử Việt Nam cận đại khi xưa. Sau này ra hải ngoại đọc sách báo ngoại quốc thì mới hiểu Việt Nam chỉ là một nước nhỏ, các đảng phái đều bị chi phối bởi ngoại quốc. Như ngoại trưởng Trần Văn Đổ kể là khi hiệp định Geneve sau chiến thắng Điện Biên Phủ, người Việt chết như rạ nhưng các cường quốc tự động chia ra làm 2. người Việt chết cho cuộc kháng chiến chống pháp, là công cụ cho cường quốc. Tóm lại là cuộc chiến uỷ nhiệm và người Việt hăng hái nhân danh chi đó để đánh nhau, bỏ tù nhau rồi lại đi xin viện trợ, xin bỏ lệnh cấm vận này nọ. Và khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận thì Việt Nam mới khá như ngày nay.


Trong các giáo sĩ tây phương phải nói đến một người, đã mang tính quyết định của Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) trong sự hình thành của đất nước Việt Nam hiện đại. Nhớ ngày xưa, học sử Việt Nam cận đại, đều nhắc đến ông cha này. Tuy nhiên, dù ảnh hưởng của vị Giám mục Adran là vô cùng to lớn, vẫn còn nhiều nhà truyền giáo khác, ít được biết đến hơn, nhưng cũng để lại dấu ấn sâu sắc đối với đời sống của người dân bản địa. Một trong số đó là Đức cha Jean Cassaigne, nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris).

Làng người phong tại Di-Linh do cha thành lập để cứu chữa họ rồi sau đó cha cũng bị lây bệnh.

Cha Jean Cassaigne sinh ngày 30 tháng 1 năm 1895 tại thị trấn Grenade-sur-l’Adour, thuộc vùng Landes của nước Pháp. Ông mồ côi mẹ từ khi còn rất nhỏ. Cha ông gửi ông sang Tây Ban Nha tiếp tục việc học tại một trường của Dòng Sư huynh các Trường Kitô giáo, gần thành phố Saint-Sébastien, vùng Basque, phía bắc của Tây Ban Nha, gần dãy núi Pyrénées ngăn hai nước pháp và Tây Ban Nha. Điểm vui là phiá bên pháp cũng có một vùng được gọi là Basques. Cũng đòi tự trị này nọ như bên Tây Ban Nha, do Liên Sô giật dây khi xưa. Sau này Liên Sô tan rã thì cũng mất luôn phong trào này cũng như ở đảo Corse.


Sau khi trở về Pháp năm 1912, cha Jean Cassaigne bày tỏ nguyện vọng trở thành một nhà truyền giáo. Nhưng đến năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Ông được động viên vào trung đoàn Bộ binh số 6, phục vụ với vai trò y tá quân đội và liên lạc viên. Trung đoàn của ông tham gia nhiều trận đánh khốc liệt nhất của cuộc chiến, từ trận sông Marne, trận Verdun, đặc biệt là tại Đồi 304 (Côte 304), cho đến các chiến dịch tại vùng Ailette. Cuộc chiến này tàn khốc, giết không biết bao nhiêu người từ hai bên.


Có lẽ chỉ khi hình dung được mức độ khốc liệt của chiến trường Verdun, người ta mới hiểu hết lòng dũng cảm cần có để làm nhiệm vụ liên lạc hay cáng thương trên Đồi 304. Ngọn đồi này khống chế toàn bộ thung lũng Esnes ở phía nam cùng các làng Malancourt và Haucourt ở phía bắc. Quan trọng hơn, đây là vị trí chiến lược nhằm yểm trợ cho các trận đánh tại Mort-Homme.




Quân Đức liên tục tìm mọi cách chiếm lấy ngọn đồi, nã pháo không ngừng nghỉ rồi mở hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác. Quân Pháp vẫn giữ được vị trí ấy, nhưng phải trả giá bằng khoảng 10,000 sinh mạng chỉ trong 300 ngày giao tranh liên tiếp. Ở vùng Triéste, Ý Đại Lợi, vào thời gian này có đến trên 500,000 người trẻ chết trận. Năm kia mình có ghé sang thành phố này nhưng trời tối nên không đi viếng nghiã trang này. Kinh hoàng.


Sau khi xuất ngũ năm 1919, ông Jean Cassaigne gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris vào năm sau. Ngày 19 tháng 12 năm 1925, ông được thụ phong chức linh mục. Ngày 6 tháng 4 năm 1926, ông xuống tàu lên đường sang Đông Dương. Điểm đến đầu tiên của ông là Cái Mơn, một cộng đồng Công giáo lớn thuộc tỉnh Bến Tre, nơi ông dành một năm để học tiếng Việt.


Sau một năm sống tại đồng bằng sông Cửu Long, Đức cha Dumortier cử ông lên Di Linh để thành lập một giáo điểm giữa đồng bào dân tộc Ko Ho. Khi ấy, vùng đất này hầu như chưa có người Việt sinh sống, nên ông lại phải học thêm tiếng của người bản địa. Ông đã biên soạn nhiều công trình ngôn ngữ học có giá trị, trong đó có:

  • Cẩm nang và hội thoại thông dụng bằng tiếng Mọi (Koho và Phau Sore) dành cho các chủ đồn điền, thợ săn và người nghỉ dưỡng (khu vực Djiring – Đà Lạt). Mấy từ Đà Lạt, Blao, Djiring,…đều do các giáo sĩ phiên âm từ người sở tại.
  • Từ điển tiếng Koho của tỉnh Thượng Đồng Nai, cho đến ngày nay vẫn được xem là một tài liệu tham khảo quan trọng.

Có anh bạn kể khi xưa, đi dạy ở vùng kinh tế mới cạnh Đà Lạt, phải học tiếng của người CHu-Ru, may là người Mỹ khi xưa, đến vùng này giảng đạo Tin lành nên họ có nghiên cứu ngôn ngữ chu-ru giúp anh ta học nhanh. Mình có ghé lại một giáo xứ gần Đà Lạt, có gặp mấy em người Chủ-Ru, nói tiếng Việt bằng giọng bắc vì thầy cô đều từ ngoài bắc vào dạy.


Tại vùng cao nguyên Di Linh, cha Jean Cassaigne sớm chứng kiến cảnh nghèo đói cùng cực của đồng bào các dân tộc thiểu số, bị đẩy ra khỏi môi trường sinh sống truyền thống, mất đi nguồn sống từ rừng núi, nhiều người rơi vào cảnh suy dinh dưỡng lâu dài và vì thế rất dễ mắc bệnh tật. Trong số họ, đáng thương nhất là những người mắc bệnh phong (cùi, hủi). Họ bị chính gia đình ruồng bỏ, bị cộng đồng xa lánh và bị bỏ mặc trong rừng sâu, sống cô độc chờ cái chết. Cảnh tượng ấy khiến cha Jean Cassaigne vô cùng xúc động.


Cha quyết định hiến trọn cuộc đời mình để chăm sóc những con người bất hạnh nhất ấy. Cùng với một số cộng sự, ông thành lập làng Kala, gần Djiring (Di Linh). Ngôi làng gồm những căn nhà sàn được xây dựng theo đúng kiến trúc truyền thống của người bản địa. Cha đặt tên cho nơi ấy là “Thành phố Niềm Vui” (Cité de la Joie). Từng bước một, cha đưa những người phong từ trong rừng về sinh sống tại Kala, coi họ như chính con cái của mình. Cha cho họ ăn, chữa bệnh cho họ, chăm sóc từng vết thương và quan trọng hơn cả là trả lại cho họ phẩm giá của những con người vốn đã bị cả xã hội lãng quên.


Ngay từ năm 1929, trại phong đã chăm sóc khoảng một trăm bệnh nhân, một con số rất lớn vào thời điểm ấy. Với sự trợ giúp của Các Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô (Filles de la Charité de Saint-Vincent-de-Paul), cha Jean Cassaigne tiếp tục công việc đầy nhân ái này suốt hơn mười năm.


Đến năm 1941, cuộc đời cha bước sang một chương mới. Đức Giáo hoàng Piô XII bổ nhiệm ông làm Giám mục và Đại diện Tông tòa Sài Gòn. Ngày 24 tháng 6 năm 1941, đúng lễ kính Thánh Gioan Tẩy Giả, ông được tấn phong giám mục.v Hơn ba nghìn người đã đến tham dự thánh lễ tấn phong tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Đặc biệt xúc động là sự hiện diện của một đoàn đông đảo người Ko Ho từ Djiring.


Trong trang phục truyền thống của dân tộc mình, họ vượt hàng trăm kilômét để về Sài Gòn tham dự buổi lễ, đại diện cho cộng đoàn Kitô hữu mà chính cha Jean Cassaigne đã gây dựng giữa núi rừng Tây Nguyên. Đó không chỉ là một nghi lễ tôn giáo, mà còn là lời tri ân của những con người từng bị lãng quên dành cho vị mục tử đã đem lại cho họ niềm hy vọng và một cuộc sống mới.


Ngày 10 tháng 3 năm 1945, ngay sau cuộc đảo chính của Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương, quân đội Nhật nhanh chóng nắm quyền kiểm soát toàn bộ bộ máy hành chính của Liên bang Đông Dương và bắt giữ hầu hết các viên chức dân sự cũng như các sĩ quan quân đội Pháp.


Một nhân chứng của thời kỳ ấy là ông Jean Orsini, khi đó còn là một sĩ quan trẻ, sau này trở thành trung tá, đã để lại những ghi chép đặc biệt quý giá. Ông kể lại: “Đức cha Cassaigne cho tôi biết rằng hôm trước ngài vừa tiếp Đại tá Amano…” Qua lời chứng này, có thể thấy chính quyền quân sự Nhật đã muốn giao cho Đức cha Jean Cassaigne đứng ra điều hành Nam Kỳ (Cochinchine) sau khi toàn bộ giới chức Pháp bị bắt giữ.


Đó là một đề nghị đầy quyền lực nhưng Đức cha Cassaigne đã từ chối. Ngài không chấp nhận đảm nhận bất kỳ vai trò chính trị nào. Đối với ngài, sứ mạng của một giám mục là phục vụ con người, chứ không phải cai trị họ. Tuy nhiên, ông Jean Orsini đã thuyết phục ngài nhận lời thành lập một tổ chức hoàn toàn mang tính nhân đạo, với mục đích duy nhất là cứu trợ cộng đồng người Pháp đang lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn tại Sài Gòn.


Từ đó ra đời Ủy ban tương trợ Pháp tại Sài Gòn (Comité français d’entraide de Saïgon). Trên thực tế, tổ chức này nhanh chóng trở thành cơ quan duy nhất của người Pháp vẫn còn được chính quyền Nhật cho phép hoạt động. Ủy ban đảm nhận rất nhiều công việc: phân phát lương thực và hàng cứu trợ; hỗ trợ các gia đình gặp khó khăn; giải quyết nhiều thủ tục hành chính và trong một số trường hợp, còn đảm nhiệm cả công tác hộ tịch.


Vì vậy, mặc dù chưa bao giờ mong muốn, Đức cha Jean Cassaigne trên thực tế đã trở thành người đứng đầu cộng đồng người Pháp tại Sài Gòn trong những tháng cuối của thời kỳ Nhật chiếm đóng. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc và nước Pháp được giải phóng, hoàn cảnh ấy lại khiến ngài rơi vào vòng điều tra vì mang tội pháp gian, tiếp tay với kẻ thù. Ngài bị đưa ra trước các cơ quan thanh tra trong phong trào “thanh lọc sau chiến tranh” (épuration) với cáo buộc cấu kết với kẻ thù. Tỏng thời gian đệ nhị thế chiến, Đông-Dương được chính quyền Vichy, do thống chế Pétain điều hành, bổ nhiệm ông Jean Decoux làm toàn quyền Đông-Dương.


Nhưng cuộc điều tra nhanh chóng chứng minh một sự thật hoàn toàn khác. Mọi hành động của Đức cha Cassaigne đều chỉ nhằm bảo vệ thường dân Pháp, cứu giúp những người đang lâm cảnh khốn cùng trong thời kỳ hỗn loạn. Ngài chưa bao giờ cộng tác với quân đội Nhật vì mục đích chính trị hay quân sự. Do đó, tất cả các cáo buộc đều bị bác bỏ.


Không những được tuyên bố vô tội, công lao của ngài còn được chính thức ghi nhận. Chính phủ Pháp đã trao tặng ngài Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) để tôn vinh những đóng góp đặc biệt ấy. Điều đáng chú ý là, trong suốt biến cố lịch sử đầy sóng gió đó, cha Jean Cassaigne vẫn giữ nguyên một lập trường: cha không đứng về phía một chính quyền nào, chỉ đứng về phía những con người đang cần được cứu giúp.


Vài năm sau khi được minh oan và tiếp tục sứ vụ Giám mục Sài Gòn, một biến cố lớn xảy đến với chính cuộc đời Đức cha Jean Cassaigne. Ngài mắc bệnh phong. Chính căn bệnh mà suốt mấy chục năm ngài đã tận tụy chữa trị cho biết bao người, nay lại đến với bản thân mình. Đối với nhiều người, đó có thể là một bi kịch. Nhưng đối với cha Jean Cassaigne, đó dường như chỉ là một phần tự nhiên của con đường mà Thiên Chúa đã dành cho ngài.


Ý thức rằng bệnh tật sẽ khiến mình không còn đủ khả năng điều hành giáo phận, ngài đã trình đơn xin từ nhiệm lên Tòa Thánh. Đơn xin ấy được chấp thuận.


Năm 1955, thay vì ở lại Sài Gòn để hưởng sự chăm sóc và những điều kiện thuận lợi dành cho một vị giám mục, ngài lại đưa ra một quyết định khiến nhiều người xúc động. Ngài tự nguyện trở về Djiring (Di Linh), không phải để nghỉ hưu, không phải để dưỡng bệnh mà để sống những năm cuối đời giữa những người phong và đồng bào dân tộc mà ngài vẫn luôn coi là gia đình thực sự của mình.


Ngài trở lại Kala. Vẫn căn làng nhỏ năm xưa. Vẫn những căn nhà sàn đơn sơ. Vẫn những con người mà xã hội từng ruồng bỏ. Ở đó, ngài tiếp tục chăm sóc bệnh nhân, động viên người đau yếu, cầu nguyện với họ và chia sẻ với họ từng ngày của cuộc sống. Lần này, ngài không còn chỉ là vị linh mục hay vị giám mục đến giúp người phong. Ngài đã trở thành một người phong sống giữa những người phong. Không còn khoảng cách. Không còn sự khác biệt. Chỉ còn tình yêu thương và sự đồng cảm.


Đức cha Jean Cassaigne qua đời ngày 31 tháng 10 năm 1973, sau gần nửa thế kỷ gắn bó với vùng đất Tây Nguyên và con người Việt Nam. Theo đúng di nguyện của mình, ngài không được an táng trong một nhà thờ lớn hay một nghĩa trang dành cho các giám mục.


Ngài được chôn cất tại nghĩa trang nhỏ của trại phong Kala, giữa những con người mà ngài đã dành trọn cuộc đời để phục vụ. Điều cảm động hơn nữa là ngôi mộ ấy chính do ngài tự chuẩn bị từ trước. Nó nằm ngay cạnh mộ của người đầu tiên được ngài cải đạo, như một dấu chỉ rằng, ngay cả sau khi qua đời, ngài vẫn muốn được ở lại với những người mình yêu thương.


Trong suốt cuộc đời, Đức cha Jean Cassaigne đã được trao nhiều phần thưởng cao quý. Ngài là:

  • Sĩ quan Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) của Pháp;
  • Huân chương Chiến tranh 1914–1918 (Croix de Guerre) vì lòng dũng cảm trong Thế chiến thứ nhất;
  • Huy chương Danh dự của nền Cộng hòa Việt Nam.

Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất của ngài không phải là những tấm huân chương. Đó là tình yêu và lòng biết ơn của hàng ngàn người phong, của đồng bào Ko Ho và của biết bao người Việt Nam đã được ngài cứu giúp.


Cuộc đời của Đức cha Jean Cassaigne là minh chứng rằng lòng bác ái chân chính không phân biệt dân tộc, màu da hay địa vị. Từ chiến hào Verdun đến núi rừng Di Linh, từ Tòa Giám mục Sài Gòn đến trại phong Kala, ngài luôn chọn đứng về phía những người yếu thế nhất.


Bởi vậy, trong lịch sử Việt Nam, cha Jean Cassaigne không chỉ được nhớ đến như một vị Giám mục của Giáo hội Công giáo, mà còn như một nhà nhân đạo vĩ đại, người đã hiến trọn cuộc đời mình để mang lại hy vọng, phẩm giá và tình thương cho những con người bị lãng quên nhất.


Mình thích tìm đọc tiểu sử những người như vậy để cố gắng noi theo trên con đường hướng thiện, giúp mình bớt gian ác, không cần phải lên mạng xã hội, chửi thiên hạ này nọ, chỉ cần đóng góp một tí gì cho cộng đồng xung quanh mình là đủ. Mình gặp nhiều sơ ở các vùng núi ở gần Đà Lạt, hy sinh cuộc đời để giúp đỡ các người dân tộc thiểu số, giúp họ thuốc men….khiến mình khâm phục.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn