Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn chiến tranh. Hiển thị tất cả bài đăng

Về già, cái gì quý nhất


Hôm nay đi vườn về sớm để đi thăm người thân nằm nhà thương. Hỏi ra hai người quen đều nằm chung bệnh viện, cùng lầu nên đỡ. Một người bị ung thư ruột, vừa mới được giải phẫu, nằm lim dim, một người thì bệnh già nên Chán Mớ Đời, cũng lim dim trên giường bệnh. Hỏi thăm chúc mau lành bệnh rồi ra về, thấy nản đời anh bia ôm.

Hôm nay mở ứng dụng thì thấy có thêm phần này nên tò mò thì khám phá ra từ trên 9 năm qua mình đã đi bộ trên 8,772 dặm. Lâu nhất là 375 cây số năm ngoái còn thì lai rai ở vườn . Xem như mỗi ngày trung bình đi 2.5 dặm


Hôm trước có anh bạn rủ đi ăn bún đậu. Kể có 4 thằng bạn banh ta lông. 2 người bị black-out khi lái xe. Tiền bạc nhiều đếm không hết nhưng rồi cũng hoa rụng ven sông. Anh bạn đang dự định mua chiếc xe Tesla mới, có vụ lái xe tự động, không người lái chớ như mấy anh bạn bị black out thì hơi mệt. Kể mỗi ngày thức dậy, phơi nắng một tí rồi mò xem có tiệm ăn nào mới mở, ngon thì lái xe đi ăn thử. Ăn cho đã chớ mai mốt con cháu không cần hỏi thèm món gì, khỏi phải đợi chúng cúng quẩy gì cả. Mình thích chạy tesla nhất là ban đêm, cứ nhấn nút kêu “take me home” là tự động nó chạy về nhà, đỡ sợ ngủ gục.


Mỗi tháng anh ta kể tiêu từ $4,000-$5,000 tiền ăn tiệm khiến mình thất kinh. Anh chàng này mình quen thuộc dạng biết ăn đồ tây, không như đa số Việt Nam, uống rượu khi ăn cơm lại bỏ đá vào. Lý do là về hưu tiền an sinh xã hội của đồng chí gái gấp đôi của mình mà cô nàng giữ hết khiến mình không có tiền, phải đi trồng bơ bán kiếm tiền lo nhà cửa, điện nước. Về già thiên hạ đi ăn cái này thử món kia, trong khi mình chỉ có bơ và bơ thêm bưởi, cây nhà lá vườn cho qua đời cô lựu. Thấy anh bạn hay, có tiền cứ đi kiếm tiệm ăn nào ngon thử, chớ mai mốt đi tây về thiên quốc thì tiền để lại cho ai. Mình thì ngược lại, chả thích ăn uống gì lắm. Lâu lâu có mấy người bạn nấu cho một nồi thịt kho trứng hay cá ăn là vui đời cô lựu.


Anh ta cho biết dạo này sức khỏe yếu, mới nằm nhà thương về. Ăn nhiều không được. Ăn chút xíu là phải ngưng nên ngày ăn 6 cử. Kinh. Mình nói nên mướn 1 hay cô y tá phi luật tân về chăm sóc. Anh ta kêu hết xí quách rồi. Mình nói đâu cần phải làm gì tối nằm ngủ với mấy cô như khi xưa vua Càn Long ngủ theo tư thế với 3 cô hầu đâu có làm gì. Nhằm hút khí lực của mấy cô gái trẻ. Mình có đọc một cuốn sách của một bác sĩ đông y ở pháp kể về vụ này. Bệnh nhân của ông ta đa số có vấn đề hết cường dương nên ông ta chữa theo cách đông y xưa. Ông ta chỉ nói nhiều người nổi tiếng bên tây , bên Mỹ đến khám. Ông ta kể có mấy quan nhớn Việt Nam sang sửa bệnh, đổ rượu vào bồn nước cho mấy cô gái còn trinh, vào ngâm thân thể mình rồi họ lấy vá múc rượu uống đủ trò. Có lẻ vì vậy mà mấy ông lớn hay đến đảo của ông Epstein để kiếm các cô gái vị thành niên. Đọc cho biết chớ mình cũng không tin lắm. Trong phim Áo Lụa Hà Đông , có quay cảnh một bà có con, nghèo nên bán sữa, cho ông già tàu nào ở Hội An bú sữa mình. Đó là quan niệm đông y nên tin hay không tuỳ người. Nay truyền nước biển cũng khoẻ mạnh như tây.


Nói tới ăn uống mới nhớ cuối tuần trước, mấy bà Trưng Vương họp mặt nhưng không cho mấy ông chồng tham dự. Có anh bạn hay tặng mình lá Vối uống, kêu đến nhà anh ta cho trái dâu tằm vì năm nay ra quá nhiều, anh ta làm rượu dâu tằm không hết. Đem về làm sinh tố xả ruột rất tốt. Chị vợ cũng là Trưng Vương, con cháu hai bà. Anh chồng kêu tại sao không cho mấy ông đi. Mình đoán mấy ông đi thì lại uống say nên mấy bà vợ để ở nhà trông nhà. Mình nói bà vợ đi họp lớp thì anh ghé nhà mình uống nước vối. Thế là nhất trí hôm đó nhưng đâu có ngờ, anh ta thèm nhậu.

Đôi giàu leo núi Whitney, nay sắp mòn rách. Chán Mớ Đời kệ ráng đi cho nó mòn luôn rồi thay đế mới.

Lúc anh ta gõ cửa thì thấy có đem theo một ông bạn nhậu nữa. Ông thần này mình có gặp vài lần ở nhà thân hữu, cũng văn nghệ văn gừng lắm. Mình tưởng họ đến nhà uống nước trà hay nước vối vì mình không ăn sau 6 giờ chiều. Ai ngờ họ đem theo một chai whisky và Soda. Đúng là dân mỹ chỉ uống Whisky và Soda. Hai ông ngồi nhậu và uống hết chai whisky, còn mình thì hết hai bình thủy nhỏ nước vối khiến mình thất kinh. Một ông càng uống mặt càng đỏ như gấc Nhà Bè, còn một ông càng uống thì mặt càng trắng như bột mì Trung Quốc khiến mình da xanh tái như như thịt heo thối mấy ngày. Nếu chụp hình thì như cờ tam tài. Chán Mớ Đời 


Người xưa hay nói Rượu vào thì lời ra nên họ bắt đầu kể chuyện đời xưa. Thời sau 75, Việt Cộng bắt đi làm rẫy, ở vùng kinh tế mới. Được xung phong vào dân quân du kích chi đó, mấy từ thấy lạ tai vì không biết. Họ kể mấy người đi buôn lậu để nuôi con, đêm khuya bị công an chận đầu tính làm tiền thì mấy ông thần dân quân chạy ra đòi bắn vì không biết mật khẩu. Nói tới mật khẩu lại nhớ đến câu chuyện ông lính gốc Quảng Nam, đêm canh gác, có mật khẩu “Bạch Đằng” thì đối tác phải nói: “Quang Trung”. Đến khi ông chỉ huy đồn về nhà ôm ấp vợ xong xuôi vào trại. Ông thần Quảng Nam kêu : “Bẹt đèn” khiến ông chỉ huy trưởng bật đèn pha xe lên thì ông kia kêu tét đèn rồi bẹt đèn khiến ông chỉ huy trưởng cứ bật đèn tắt đèn. Cuối cùng ông thần Quảng Nam ria một tràng đại liên.


Sau này khổ quá nên đi vượt biển, đến lần thứ 13 mới thoát ra khỏi hải phận Việt Nam. Sang Hoa Kỳ, thay vì đi làm rẫy như nhà nước giao phó cho con có cha chết trận cho Việt Nam Cộng Hoà “quốc gia nghĩa tử”, anh ta học ra kỹ sư đi làm hách xì xằng lắm. Họ kể bị Việt Cộng bắt ở tù khi đi vượt biển, bị nhốt ở tù như cơm bữa. Vừa về đến nhà thì có người kêu có tàu đi không. Lại xách dép chạy tiếp. Nói như cởi lên lưng cọp, ghiền vượt biển nên cứ có thuyền là đi. Anh kia, mình đoán đi theo diện đoàn tụ gia đình.

Thật ra mình đi bộ tiêu chuẩn mỗi ngày là 3.5 dặm nhưng dạo gần đây thấy đồng chí gái hơi yếu nên phải kéo đầu vợ đi bộ thêm 2-3 dặm vào buổi chiều nên lên hơi nhiều.


Anh ta kể ở Sàigòn đi cua gái nhưng đối tượng chê anh ta không biết đàn hát nên nổi điên lên đi học đàn và thanh nhạc. Rốt cuộc sau này gặp lại cô ta vẫn chê anh ta vì không biết hát đàn hai nốt Đô và La. Sau hai ông thần đòi tự lái xe về khiến mình lo sợ. May quá Chúa đã đưa hai ông thần về nhà bình yên. Nhận được tin nhắn mình mới yên tâm đi ngủ.


Hôm nay, xem lại đồng hồ thì thấy ứng dụng Pedometer nên mở ra xem thì khám phá ra từ 22 tháng 9 năm 2016, đến nay mình đã đi bộ trên 8,772 dặm, xem ra là trung bình 2.5 dặm mỗi ngày. Ở San Jose, có anh gốc Đà Lạt, du học ở Bỉ quốc trước mình chắc cũng 3,4 năm, rồi sang Hoa Kỳ làm luận án rồi ở lại đây làm việc. Mỗi ngày hai vợ chồng đi bộ mỗi sáng, không biết bao nhiêu dặm nhưng cứ 5 giờ sáng là họ dậy, đem gậy lên đường dù bình minh chưa ló dạng. Dạo ghé thăm hai vợ chồng, họ rủ đi với họ nhưng có đồng chí gái mà 5 giờ sáng thì khó đánh thức mụ vợ dậy. Hai vợ chồng nhìn mặt là biết chả bệnh hoạn gì cả, gầy như mắm. Họ ăn uống cũng rất kỹ, trồng rau ở nhà để ăn. Anh ta nói có chiết một nhánh dâu tằm Đà Lạt cho mình. Để xem tháng 6 này, chạy lên San Jose thăm thân hữu rồi ghé nhà anh ta.


Mình đi bộ vì bất đắc dĩ vì phải làm vườn còn hai vợ chồng này thì xem như quen rồi. Họ cho biết giờ sức khoẻ là hàng đầu, họ chỉ lo giữ gìn sức khoẻ. Mình vừa về đến Đà Lạt, đang còn jetlag, họ đã gọi kêu đi bộ xung quanh hồ Xuân Hương nên xin kiếu. Kiểu như mình sáng 5 giờ là đi tập ở Đông Phương Hội 90 phút. 


Con gái mình gửi cái link cho biết có ông Mỹ nào đi bộ mất 6 tháng từ New Jersey đến Cali. Em thấy cái này hấp dẫn. Có bác nào buồn đời trốn vợ đi bộ với em trong chuyến này. 

https://time.com/5713206/mike-posner-walk-across-america/

Cuộc đời lạ lắm, mình đâu có muốn đi bộ rồi khi không thiên hạ kêu mua cái vườn để chia lô xây nhà bán nhưng rồi như chán xây cất nên mình cứ để làm vườn vô hình trung mỗi ngày lên vườn lại đi bộ từ 4-9 dặm. Rồi có tên mỹ quen rủ leo núi cao nhất nước mỹ nên bỏ thời gian tập leo núi. Mới đi lần đầu lên Yosemite, bị té nức xương, phải mất 6 tháng mới lành. Thay vì bỏ cuộc mình lại tiếp tục tập luyện, và từ đó leo Kilimanjaro, Machu Picchu rồi cuối cùng đỉnh Whitney, cao nhất Hoa Kỳ nội địa.


Cho thấy mình may mắn có người xúi đi leo núi và tập Hồng Gia nên dạo này tương đối sức khoẻ khá ổn. Chỉ ăn ngày một bữa cho đỡ tiền chợ. Chịu khó lên vườn 5-6 ngày một tuần, chỉ có hôm nào có đá banh giải âu châu thì ngồi nhà xem cho vui đời cô lựu. 


Cần nhất là không tham dự vào cuộc chiến Dân Chửi v Mao-Gà, chả đem lại lợi ích gì cho bản thân, lại căm thù người này người nọ, sẽ giảm sức khoẻ của mình. Ai buồn đời thì lên vườn em một ngày một tuần chính có anh quen, gốc Huế, về hưu, mỗi tuần anh ta ghé vườn phụ em làm lặt vặt vài chuyện, có sức khoẻ đi bộ lên đồi xuống dốc. Không thấy anh ta vào mạng xã hội chửi bới này nọ. Rất khoẻ, anh ta dạo này bận vì phải lên mấy ngọn núi xung quanh vùng này đẻ phụ mấy người làm lại đường mòn cho dân cư đi leo núi vì tuyết tan thì sẽ làm hư một số con đường mòn. Về già như anh ta rất tốt, tinh thần yêu đời, không bị lộn xộn trong đầu.

Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Trận chiến trực diện đầu tiên tại Việt Nam

 Trận chiến trực diện đầu tiên tại Việt Nam


Hôm trước, đọc trên trang nhóm cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, một bài về trận chiến Ia Drang, mà họ kêu là trận đánh đầu tiên trực diện với bộ đội Bắc việt. Có một đại đội Mỹ bị chết và bị thương gần hết khiến mình tò mò đọc thêm tài liệu. Hình như có một cuốn phim nói về trận chiến này, dựa theo hồi ký của tướng Hal Moore “we were soldiers once”.


Dạo ấy mình còn bé nên không rành lắm, chỉ nhớ sau trận đánh thì chú Ký bạn quân ngũ của ông cụ về phép là lên nhà kể chuyện thời chiến. Ông cụ xin giải ngũ được sớm tránh chuyện binh đao. Hình như nhờ ông Nguyễn Chánh Thi là bác họ của bà cụ xin phép giải ngủ. Chú là thượng sĩ già của sư đoàn 22 bộ binh. Chỉ nhớ sau này có nghe ca sĩ Thái Thanh hát “anh trở về dang dỡ đời em, Đắc Tô, Chu Prong, Đồng Xoài, Bình Dã,…” những địa danh của những trận đánh khốc liệt của chiến tranh Việt Nam. Lính nam Bắc tha hồ chết theo chỉ thị của nga -tàu và Mỹ. 


Có một trang toàn tài liệu về chiến tranh Việt Nam, nếu ai muốn tìm đọc thì theo đường dẫn Vietnam War, 1961-1975, Wilson Center, có khá nhiều tài liệu lịch sử được giải mả.


Theo mình hiểu là sau Điện Biên Phủ, các nước lớn họp nhau tại Geneva được ký kết. Việt Nam có hai phái đoàn; miền nam và miền Bắc đi ăn ké. Nghe kể, ông Phạm Văn Đồng đi gặp với phái đoàn Nga về khách sạn gọi cho ông Trần Văn Đỗ, sau này là ngoại trưởng của Việt Nam Cộng Hoà, nói bọn chúng đã ký kết với nhau, chia đôi Việt Nam. Nên họ gặp nhau để bàn, thống nhất ngày mai đưa ra yêu sách này nọ nhưng 4 cường quốc thắng trận đệ nhị thế chiến đã ký kết, lấy vĩ tuyến 17 để cưa đôi Việt Nam như xứ Triều tiên năm trước đó.


Hiệp định được thông qua là sẽ có tổng tuyển cử hai miền vào năm 1956. Vấn đề là khi chia cắt như vậy mà cứ để dân chúng tại chỗ thì miền nam bị lỗ vì có đến 3 triệu người đông hơn ở miền Bắc việt. Do đó chính phủ của ông Ngô đình Diệm không thể thực thi được những điều kiện trong hiệp định Geneva vì sẽ bị thua chắc chắn. Nếu họ chia cắt từ Thanh Hóa trở vào Nam thì dân số 2 bên đồng đều sẽ bình đẳng hơn.

Khi chia đôi đất nước thì người Việt có thể chọn miền Bắc hay miền nam để sống. Do đó có 1 triệu người từ Bắc Việt, chọn thế giới tự do, di cư vào nam và 350,000 người Việt tập kết ra Bắc để giúp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nghe nói số người di dân vào Nam đông quá khiến Hà Nội phải tìm cách chận làn sóng di cư trước thời hạn chót. Đa số là người công giáo, vào Nam, nên sau này CIA và chính quyền miền Nam cho người xâm nhập vào miền Bắc để móc nối, đều bị phát hiện vì hệ thống an ninh rất chặt chẽ. Thậm chí ngay các cố đạo còn làm việc cho công an. Như ông Đặng CHí BÌnh kể trong Thép Đen, khi vào nhà thờ ở Hà Nội, đưa lá thư của một linh mục từ Sàigòn cho ông cố đạo thì sau đó phát hiện ra bị công an theo dõi, bị tù 18 năm, sau này mới khám phá ra ông cố đạo báo tin cho công an. 


Tại sao ít người ra Bắc ở vì người cộng sản chỉ thị một số đông của họ, cài đặt ở lại miền nam. Khi người miền nam tập kết ra Bắc thì họ cho người nằm vùng liên lạc để chiêu dụ giúp đỡ họ để có tin tức từ người thân tập kết. Cho thấy ít nhất có đến 300,000 gia đình của những người tập kết, ít nhiều giúp đỡ Hà Nội trong thời kỳ chiến tranh. Điển hình là em của ông Dương văn Minh là Dương văn Nhựt được Hà Nội cho vào Sàigòn và ở trong nhà ông Minh. Nghe kể là cảnh sát đặt biệt bắt và thả ra vì ngại đụng chạm đến ông Big Minh. 

Qua tài liệu của trung tâm Wilson về Việt Nam thì vào năm 1964, nghĩa là sau vụ đảo Chánh chế độ đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà thì ngày 5/10/1964, trong một buổi họp, ông Phạm Văn Đồng, được Mao Trạch Đông chỉ định cho 1 sư đoàn bộ độ chính quy xâm nhập vào miền Nam. Trước đó, Hà Nội chỉ cho thành lập mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do các người gốc miền Nam, chống lại chế độ miền Nam, đánh du kích với quân đội Việt Nam Cộng Hoà và cố vấn Mỹ. Họ chỉ tiếp vận vũ khí qua đường mòn Hồ CHí Minh.

Mình đọc trên mạng của ông Nguyễn Văn Tín, tài liệu khá chính xác khi đối chiếu với tài liệu Hoa Kỳ, có lẻ ông ta dựa theo hai bên để viết, xin trích dẫn đây:


Theo tướng Nguyễn Nam Khánh: “Đầu năm 1965, Bộ Tổng tham mưu cho gọi tôi và đồng chí Sư đoàn trưởng sư đoàn 304 lên giao nhiệm vụ vào miền Nam chiến đấu.

Tháng 8 năm 1965, Sư Đoàn 304 nhận lệnh gập rút chuẩn bị đi tới vùng Cao Nguyên Trung Phần vào tháng 9 (Sư Đoàn 304):

Đầu tháng 8 năm 1965, chỉ huy sư đoàn 304 nhận được lệnh của Bộ Quốc Phòng "đưa cả sư đoàn 304 vào chiến trường B… mọi công tác chuẩn bị phải hoàn thành trong hai tháng".

Trong tháng 9 năm 1965, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 đặt xong kế hoạch Chiến Dịch Plâyme với sự tham chiến của ba trung đoàn – 32, 33 và 66.

Kế hoạch trù tính thực hiện làm bốn giai đoàn: 1) Trung Đoàn 33 vây hãm trại Pleime để dụ lực lượng chính của Quân Đoàn II ra khỏi thành Pleiku; 2) Trung Đoàn 33 phục kích lực lượng tiếp cứu trại; 3) Cả hai trung đoàn hiệp lực tấn chiếm trại; 4) Trung Đoàn 66 hiệp lực với hai Trung Đoàn 32 và 33 tấn chiếm thành phố Pleiku.


Hà Nội nghiên cứu chiến dịch Pleime với sự trợ giúp của cố vấn quân sự Trung Cộng, đặt tổng hành dinh tại Nam vang để phối hợp chiến dịch này. Cho thấy xứ Cao Miên rất quan trọng cho Hà Nội trong cuộc chiến xâm chiếm miền Nam vì được tiếp tế gạo, lương thực của xứ này để nuôi quân. Họ nằm cạnh biên giới rồi lâu lâu chạy qua Việt Nam đánh rồi rút về. Việt Nam Cộng Hoà cũng như quân đội Mỹ chỉ biết đứng hát, bắt chước ông Nguyễn Văn Đông, kêu chiều mưa biên giới bộ đội đi về đâu. Do đó khi Nixon ra lệnh tiến đánh xứ CHùa Tháp thì bộ đội Hà Nội bị te tua vì nghĩ không bao giờ Việt Nam Cộng Hoà dám chạy qua biên giới hỏi thăm sức khoẻ của họ.

người Mỹ có kỹ thuật kiểm thính các liên lạc công khai của cố vấn Trung Cộng và Hà Nội, nhờ đó mà bộ tư lệnh quân đoàn II nhận được tin tức tình báo cập Nhật tình hình để hoạch định kế hoạch phản công, giúp chiến thắng Pleime. Có đường dẫn nói về Hà Nội cầu viện Trung Cộng. Có lần mình đọc phỏng vấn tướng Võ Nguyên Giáp, ông ta cho biết là cuộc chiến chống pháp không thể thành công nếu không có sự hổ trợ của Trung Cộng.

Sau này nghe ông Lê Duẫn cho biết là chúng ta đánh cho Tàu cho Liên Sô.


https://nguyentin.tripod.com/pleime_redchina-u.htm


Trong tháng 9 năm 1965, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đặt kế hoạch Chiến Dịch Chuprong. Mục đích là triệt tiêu ba trung đoàn Bắc Quân với bom trải thảm B-52 tại ngay thời điểm ba trung đoàn này qui tụ tại các vùng tập trung tại Chu Prong để chuẩn bị tấn công trước khi chúng có thể ra tay hành động.

Căn cứ Chu Prong được biết là đã được tạo lập lâu trước cuộc tấn công Pleime và Ban 2 MACV đã chấm lấy vùng này để nghiên cứu vào tháng 9 năm 1965 như là có thể làm mục tiêu cho B-52.

Trong chiến tranh tình báo rất quan trọng. Sau 75, người ta khám phá Hà Nội cài người của họ ngay trong phủ tổng thống hay trong bộ chỉ huy thả lực lượng đặc biệt ra Bắc nên khi phe ta nhảy dù xuống Bắc việt là đã được đón chờ cánh dù như lâu ngày gặp lại người yêu. 

Bộ tư lệnh B3 ra lệnh tấn công sớm hơn dự tính và sử dụ g hai trung đoàn 32 và 33, gia tăng mức độ chuẩn bị trước 1 tháng. Trong khi đó, các đại đội chuyển vận được các lao công bị cưỡng bức trưng dụng tại vùng địa phương trợ giúp ráo riết tồn thu gạo và đạn dược.


Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II cấp tốc điều chỉnh kế hoạch thành Chiến Dịch Pleime-Chuprong. Khái niệm hành quân của chiến dịch là phòng thủ và đẩy lui cuộc tấn công của địch và chờ cho hai Trung Đoàn 32 và 33 qui tụ lại với Trung Đoàn 66 tại Chu Prong ngõ hầu có thể dùng trải thảm bom B-52 như đã trù tính trước.

Cuộc chiến kéo dài 38 ngày 

Trận chiến kéo dài 38 ngày chấm dứt vào ngày 26 tháng 11 (Pleime, Trận Chiến Lịch Sử):

Cho tới ngày 24-11-65 thì các cuộc tiếp xúc với địch không còn nữa và giai đoàn 3 cuả trận chiến Pleime kết thúc lúc 18g45 ngày 26-11-1965 với: 265 VC chết tại chỗ và 10 VC bắt sống. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Sự thật về cuộc đời của ông Jackie Chan

 Hậu quả chiến tranh quốc - cộng


Chiến tranh Việt Nam đem lại nhiều đỗ vỡ cho rất nhiều gia đình mà vết thương đến ngày nay vẫn chưa được lành. Hôm nay tình cờ đọc, xem một chuyện của gia đình người Tàu, cũng vì tranh chấp quốc-cộng. Đều là người Tàu nhưng họ muốn xây dựng nước họ theo ý thức hệ riêng khác nhau đưa đến thảm hoạ, gia đình ly tán, đầy nước mắt. Câu chuyện kể về gia đình diễn viên điện ảnh Jackie Chan. Mình tóm tắc lại đây.


Năm 1947, trong khói bụi hỗn loạn của Thượng Hải thời hậu chiến, một người đàn ông 32 tuổi làm việc cho một trong những tổ chức bí mật nhất Trung Hoa đang kiểm tra hành khách tại một cảng đông đúc. Trên giấy tờ, ông tên là Charles Chan. Tên khai sinh của ông là Phòng Đa Long (Fang Daolong). Ông là một mật vụ Quốc Dân Đảng, từng được huấn luyện dưới quyền Trung tướng Dai Li, trùm tình báo quyền lực nhất của Trung Hoa Dân Quốc và nhiệm vụ hôm đó, trong số nhiều việc khác, là bắt những kẻ buôn lậu.


Một người phụ nữ bước vào hàng kiểm tra của ông, bị ông phác giác đang mang theo thuốc phiện. Tên bà là Trần Nguyệt Dung (Chen Yuerong), nhưng mọi người gọi bà là Lee-Lee. Khoảng 31 tuổi, bà từng có một cuộc đời hoàn toàn khác. Cha mẹ bà sở hữu một cửa hàng tạp hóa. Người chồng đầu tiên của bà là một thợ đóng giày, sau đó làm công nhân đường sắt, và họ có hai cô con gái nhỏ. Nhưng vào đầu những năm 1940, bom của Nhật Bản trút xuống Vũ Hán, chồng bà thiệt mạng. Khi đó bà 28 tuổi, không tiền bạc, phải nuôi hai con; Yulan 12 tuổi và Guilan 4 tuổi. Bà làm những gì có thể để nuôi con. Bà để hai con ở lại một nhà ga tại Vũ Hán với người thân, nói rằng sẽ quay lại, rồi đi Thượng Hải kiếm tiền. Sau này bà nói dối như vậy để các con không buồn. Bà nghe nói buôn thuốc phiện rất có lời và bà đã mua một ít mang theo thử thời vận. Nên nhớ dạo ấy, người Anh quốc bán thuốc phiện cho người Tàu mệt nghỉ, kiếm tiền rất nhiều.


Xui cho bà ta là ông Charles tìm thấy thuốc phiện và tịch thu nó. Theo đúng nhiệm vụ, ông phải lập tức bắt bà và đưa vào tù. Ông đã chuẩn bị biên bản và còng tay nhưng rồi ông nhìn thấy một thứ trên người bà. Trên tóc bà là một bông hoa nhỏ màu xanh. Với đầu óc tiểu tư sản, chưa giác ngộ cách mạng, ông ta thấy xót xa nên biến đau thương thành một hành động cách mạng. Thả bà ta. Đây là lý do mà cộng sản thắng với lòng tin vững chắc vào đảng, không có tiểu tư sản. Như Cò Giao Đà Lạt khi xưa gốc Bến Tre kể là anh em trong nhà đi vượt biên bị bắt mà chúng còn bỏ tù mục gông. Ngày nay chúng ta thấy người cộng sản bỏ tù người cộng sản. Chán Mớ Đời 


Trong thời chiến ở Trung Quốc, hoa cài tóc của phụ nữ là một mật hiệu. Hoa trắng nghĩa là mất cha mẹ. Hoa xanh nghĩa là mất chồng, hoặc con, hoặc cả hai. Ông Charles nhẹ nhàng hỏi chuyện gì đã xảy ra. Bà kể về trận bom ở Vũ Hán, về hai đứa con ở nhà ga, về người chồng không bao giờ trở về. Ông Charles với đầu óc tiểu tư sản, chưa giác ngộ cách mạng trả lại thuốc phiện cho bà. Rồi ông để bà đi. Đó là sai lầm ý tưởng mà phe Tưởng Giới Thạch sau này bị thua.


Sau hôm đó bà Lee-Lee sợ bị bắt nên bỏ buôn lậu và chuyển sang đánh bạc và hóa ra lại cực kỳ giỏi. Bà thắng liên tục đến mức giới giang hồ gọi bà là “Đại Tỷ.” Bà được kính nể, được bảo vệ và sống sót trong thời chiến.


Đến năm 1949, lực lượng cộng sản của Mao trạch Đông tràn khắp Trung Quốc cất tiếng ca như có bác Mao trong ngày vui đại thắng. Những người liên quan đến Quốc Dân Đảng đặc biệt là một cựu điệp viên như ông Charles trở thành mục tiêu. Ông xuống tàu chạy sang Hương Cảng. Ông buộc phải bỏ lại bà vợ và hai người con trai từ cuộc hôn nhân đầu, Shide và Shisheng, vẫn còn nhỏ, ở Thượng Hải. Bạn bè phải giấu chúng đi. Họ sợ hãi; chứa chấp con của một gián điệp Quốc Dân Đảng có thể khiến họ bị bắt. Sau này, ông Charles nói rằng suốt 36 năm, ông không biết hai con mình còn sống hay đã chết.


Năm 1951, Lee-Lee cũng sang Hương Cảng. Họ tìm lại được nhau, hai kẻ lưu vong, cùng một lứa bên trời lận đận, đều bỏ lại con cái phía sau, đều không còn quê hương. Họ kết hôn năm 1954. Ngày 7 tháng 4 năm 1954, trong một căn phòng nhỏ phía sau Lãnh sự quán Pháp, nơi ông Charles làm đầu bếp, con trai họ ra đời. Họ đặt tên là Trần Cảng Sinh (Chan Kong-Sang) nghĩa là “sinh ra ở Hương Cảng.” Sau này đứa bé được mọi người trên thế giới biết đến với tên JAckie Chan.


Mình không biết, tác giả Amy Tan khi viết Joy Luck Club, có kể chuyện bà mẹ do diễn viên Kiều Chinh đóng, bỏ lại tại Trung Cộng là chuyện thân thay qua câu chuyện về gia đình của tài tử Jackie Chan.


Trong phần lớn cuộc đời, ông Jackie không hề biết điều này. Cha ông là một người hiền lành như hải quan phi trường Tân Sơn Nhất, ít nói, làm đầu bếp tại Lãnh sự quán Pháp rồi Đại sứ quán Mỹ ở Canberra. Mẹ ông lo việc gia đình. Họ nói tiếng Quảng Đông thay vì tiếng quan thoại. Họ làm việc rất nhiều ngày đêm, hy sinh đời bố mẹ củng cố đời con. Khi họ gửi ông Jackie Chan lúc 6 tuổi vào Học viện kịch Trung Hoa, nơi ông trải qua 10 năm học kịch Bắc Kinh, nhào lộn và võ thuật, Jackie từng nghĩ mình bị bỏ rơi. Mình có xem phim này ở New York, hình như với nhóm sinh viên MIT xuống thăm mình, kể về cuộc đời của ông Jackie Chan và Jimmy Ho. Ông âm thầm oán trách cha mẹ suốt nhiều năm. Ông không biết rằng căn hộ họ mua cho ông ở Hồng Kông được trả bằng từng đồng họ tiết kiệm, kể cả tiền tip mẹ ông kiếm được khi làm người giúp việc.


Mãi đến khi Jackie đã ngoài 40, đã là một siêu sao quốc tế, cha ông mới nói trong một lần ngồi trên xe: “Cha có một bí mật. Con không phải họ Trần. Tên gốc của con là họ Phòng.” Ông Charles kể hết mọi chuyện. Công việc gián điệp, những ngày bị Nhật giam giữ. Cuộc hôn nhân đầu với hai người con trai bị bỏ lại ở Thượng Hải. Hai người con gái của Lee-Lee ở Vũ Hán. Chán Mớ Đời 


Năm 1985, với sự giúp đỡ của một người bạn tại Đại sứ quán Trung Quốc ở Úc, ông Charles tìm lại được hai người con trai. Họ đang sống ở Vũ Hán. Một người làm bưu tá. Một người làm việc ở trang trại nuôi heo. Cuộc đoàn tụ diễn ra tại Quảng Châu,đầy nước mắt, ngượng ngùng, nhưng sâu sắc. Họ nói về những năm tháng đã mất, về việc sống sót không có cha, những sinh nhật trôi qua trong im lặng.


Bà Lee-Lee qua đời năm 2002. Ông Charles qua đời năm 2008, thọ 93 tuổi, tại Hương Cảng. Ông được chôn cất bên cạnh bà Lee-Lee tại nghĩa trang Gungahlin, Canberra.


Đây là phần câu chuyện tình hiếm khi được kể. Mối tình giữa một điệp viên và một người buôn thuốc phiện là phần dễ nhớ. Nhưng phần khó hơn, thật hơn, là: họ là hai con người đã buộc phải rời bỏ cuộc đời cũ và con cái của mình để sống sót qua chiến tranh và mang theo gánh nặng đó suốt phần đời còn lại, trong im lặng, khi nuôi dạy một đứa trẻ phi thường ở Hồng Kông.


Phim của Jackie Chan đầy những pha nguy hiểm có thể giết chết ông. Nhưng khoảnh khắc rủi ro nhất trong lịch sử gia đình ông xảy ra trước khi ông được sinh ra khi một người đàn ông cầm huy hiệu nhìn thấy một kẻ buôn lậu với bông hoa xanh trên tóc… và quyết định cất tờ biên bản đi.


Bộ phim tài liệu năm 2003 về câu chuyện này có tên Traces of a Dragon. Phim truyện năm 2013 là A Tale of Three Cities, đều do Mabel Cheung  đạo diễn. Cả hai đều đáng xem và đều không phải hư cấu. Ai muốn coi phim này thì theo đường dẫn cuối bài. 


Chiến tranh đều đem lại nhà tan cửa nát, gia đình ly tán. Như người Việt sau 54, 75 gia đình ly tán khắp nơi. Con trai ở pháp, con gái ở Mỹ, cha mẹ ở Úc Đại Lợi,… đó là may mắn còn sống để gặp lại. Mình có chị bạn 30/4/75 di tản, mấy ông anh và bố đi riêng mất tích luôn. Có người đi vượt biển mất tích, gia đình không bao giờ nghe tin tức.


Như gia đình mình trải qua chiến tranh chống Pháp rồi chống mỸ. Thời kháng chiến pháp mình có ông chú bị tây bắn chết. Ông cụ mình thì bị du kích bao vây nhà ban đêm như nhạc sĩ nGuyễn Đức Quang diễn tả trong bài hát “Người anh Vĩnh Bình”, nhảy qua tường khi du kích đến nhà ban đêm bắt, chạy vào Nam, còn ông chú thứ 2 thì đi bộ đội vào nam thì bị bom B 52 dập chết trên đường mòn Hồ CHí Minh. Sau 75 thì ông cụ mình đi cải tạo 15 năm, em mình vượt biển, đưa thì ở Mỹ, đứa thì ở Pháp.


https://youtu.be/L880VLBeIMI?si=oYjYsyvjyzBYsR5x


Do đó, mấy năm trước, mình và đồng chí gái tổ chức buổi họp mặt đại gia đình ở Dubai để anh em và cháu có thể gặp mặt nhau, xum họp sau bao nhiêu năm xa cách, mẹ mình được nhìn đầy đủ con cháu một lần. Vì mỗi khi về Đà Lạt thì có người về người không, cháu bận không về,… có lần được xem hình Dubai, đồng chí gái kêu không tiếc tiền. Còn sống gặp nhau là mừng, hạnh phúc một đời.


https://youtu.be/SpoeZcAksMs?si=_DtagEchrm7he6G5


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Người lính Mỹ được nhiều huy chương nhất

 Người lính Mỹ được nhiều huy chương nhất


Đọc tài liệu chiến tranh Việt Nam của người Mỹ thì lâu lâu lại lòi ra nhiều nhân vật chống đối chính sách của chính phủ Hoa Kỳ tại Việt Nam. Có nhiều người phản chiến nhưng lại có những người lính lên tiếng chỉ trích, cho rằng chính sách của chính phủ sẽ không cho quân đội Hoa Kỳ tại Việt Nam thắng được cuộc chiến. Như không bỏ bom các đê điều, hạ tầng cơ sở, các đường tiếp liệu của Liên Sô và Trung Cộng.


Mình có đọc tin tức của Trung Cộng thì họ có cho biết, đưa ra hình ảnh lính của họ, 300,000 có mặt tại miền bắc, bận quân y của bộ đội Việt Nam. Bộ đội bác Hồ vào Nam hết nên hậu phương cần bảo vệ nên binh lính của Trung Cộng đảm nhiệm phần này. Những hình ảnh lính tàu bận quân y bộ đội bác Hồ, lại đứng chào hình ảnh của Mao chủ tịch khiến người Việt chới với. Với những hình ảnh này nên mình đoán Hoa Kỳ không muốn dội bom các hạ tầng cơ sở của Bắc Việt sợ giết lầm lính của bác Mao.

Bắc Mao giận lên, cho lính tràn qua vĩ tuyến 17 là mệt. Vì năm 1953, lính tàu đánh giết không biết bao nhiêu lính mỹ tại Triều Tiên. Hôm nay đọc một tài liệu khác về một cựu chiến binh Mỹ từng tham gia chiến tranh Triều Tiên và Việt Nam.

Vào tháng 6 năm 1971, người lính được trao nhiều huân chương nhất nước Mỹ đã xuất hiện trên truyền hình quốc gia và nói ra sự thật về chiến tranh Việt Nam. Ai buồn đời thì theo đường dẫn.


https://atvaudio.com/ata_search.php?record_id=16642#:~:text=David%20Hackworth.%20On%20June%2027%2C,post%2DWorld%20War%20II%20era%2C%20Col.


Một cuộc phỏng vấn đó đã chấm dứt sự nghiệp 25 năm binh nghiệp, được xây dựng bằng máu, lòng dũng cảm và khả năng chỉ huy chiến đấu xuất sắc của ông là David Hackworth. Ông khai gian tuổi để nhập ngũ khi mới 15 tuổi vào năm 1946. Đến chiến tranh Triều Tiên, ông đã là một chỉ huy dày dặn tại trận mạc. Ở tuổi 20, ông trở thành một trong những đại úy trẻ nhất trong lịch sử quân đội sau khi được thăng cấp ngay tại chiến trường. Triết lý của ông cực kỳ đơn giản nhưng khắc nghiệt: dẫn đầu từ tuyến trước, di chuyển nhanh, đánh mạnh, và không cho kẻ thù một giây thở. Binh sĩ theo ông vì ông không bao giờ yêu cầu họ làm điều gì mà chính ông không làm trước thường là trước nhất và nguy hiểm hơn.


Ông không chỉ dũng cảm, còn cực kỳ giỏi trong tác chiến. Tại Việt Nam, ông nhận chỉ huy Tiểu đoàn 4, Trung đoàn 39 Bộ binh ở đồng bằng sông Cửu Long, một đơn vị “đen đủi” đã chịu hàng trăm thương vong và tinh thần suy sụp. Ông gạt bỏ giáo trình cứng nhắc của Ngũ Giác Đài. Ông lập các đội trinh sát tinh nhuệ, huấn luyện binh sĩ theo chiến thuật du kích cấp tiểu đội, và nhấn mạnh tuần tra tấn công cùng tác chiến ban đêm để khiến Việt Cộng luôn bị động. Ông nghiên cứu chính phương thức của đối phương và đánh bại họ bằng chính cách đó.


Tiểu đoàn của ông Hackworth, sau này được gọi là “Hardcore Battalion”, gây tổn thất nặng nề cho đối phương trong khi giảm thương vong phía Mỹ. Ông chiến đấu theo cách cần thiết trên thực địa, chứ không phải theo cách Hoa Thịnh Đốn muốn thể hiện trên giấy tờ. Nên nhớ chiến tranh Việt Nam khởi đầu với sự tham chiến của binh sĩ mỹ với chủ thuyết của bộ trưởng bộ quốc phòng MacNamara. Thực thi chủ trương của giới kỹ nghệ chiến tranh.


Quân phục của ông đầy huân chương: hai Huân chương Chữ Thập Phục Vụ Xuất Sắc, mười Huân chương Ngôi Sao Bạc, tám Huân chương Ngôi Sao Đồng với chữ “V” vì lòng dũng cảm, tám Huân chương Trái Tim Tím, ba mươi bốn Huân chương Không Quân, và tổng cộng hơn chín mươi phần thưởng. Ông là một huyền thoại trong mắt những người lính từng phục vụ dưới quyền.


Và rồi, vào tháng 6 năm 1971, Đại tá David Hackworth đã làm điều không tưởng. Vẫn đang tại ngũ và mặc quân phục, ông tham gia một cuộc phỏng vấn dài trên chương trình truyền hình của ABC mang tên Issues and Answers. Nhìn thẳng vào ống kính, ông nói với người dân Mỹ điều mà Ngũ Giác Đài không muốn thừa nhận: cuộc chiến này không thể thắng theo cách đang tiến hành. Lãnh đạo thì tha hóa và chạy theo sự nghiệp. Số liệu “đếm xác” bị thổi phồng dối trá. Những người lính Mỹ trẻ tuổi đang chết vì một chiến lược không có cơ hội thành công. Thêm cần sa đầy nơi. Mình có xem một phim tài liệu kể là các quan tài của binh sĩ Mỹ chết tại Việt Nam, đem về Hoa Kỳ được giấu cần sa ma tuý ở tỏng.


Như sau này ông cựu bộ trưởng bộ quốc phòng McNamara viết trong hồi ký về chiến tranh Việt Nam. Ông kêu chúng ta đánh cộng sản trong khi Hà Nội đánh Tây rồi nay đánh Mỹ, “ngoại nhân” ra khỏi VN. Hai suy nghĩ về cuộc chiến khác nhau. 


Chúng ta không chiến thắng,” ông nói. “Chúng ta thậm chí còn không chiến đấu đúng cuộc chiến.” Phản ứng từ Ngũ Giác Đài đến nhanh và dữ dội. Các sĩ quan cấp cao phẫn nộ. Điều tra được mở ra. Áp lực gia tăng. Con đường gần như chắc chắn lên cấp tướng của ông tan biến chỉ sau một đêm. Chỉ trong vài tháng, sự nghiệp 25 năm của ông coi như kết thúc. Ông nghỉ hưu với cấp bậc đại tá, danh tiếng trong giới chính quyền Washington bị phá hủy.


Giới tướng lĩnh gọi ông là kẻ bất tuân, thiếu trung thành, thậm chí là phản bội. Nhưng những người lính, những người đã đổ máu cùng ông trong rừng rậm lại nhìn ông khác. Họ tôn trọng ông vì ông đã nói ra điều mà ai cũng biết nhưng không ai dám nói nếu không muốn tự hủy hoại sự nghiệp của mình.


Hackworth không biến mất. Ông trở thành một nhà báo và tác giả không sợ hãi. Cuốn hồi ký bán chạy About Face của ông phơi bày thẳng thắn những thất bại của lãnh đạo quân sự. Ông tiếp tục viết báo và lên tiếng chống lại sự quan liêu, lãng phí và những chiến lược đặt sự nghiệp lên trên sinh mạng người lính. Ông không bao giờ mềm mỏng. Ông cũng không bao giờ xin lỗi và lịch sử đã chứng minh ông đúng.


Pentagon Papers, sự sụp đổ của Sài Gòn, và hàng thập kỷ phân tích trung thực sau đó đã xác nhận gần như mọi chỉ trích mà ông đưa ra từ năm 1971. Người mà hệ thống cố bịt miệng đã luôn nói sự thật.


Những năm cuối đời, Hackworth đấu tranh mạnh mẽ cho người lính bình thường, huấn luyện tốt hơn, trang bị tốt hơn, lãnh đạo tốt hơn, và chăm sóc tử tế cho cựu quân nhân. Năm 2005, ở tuổi 74, ông qua đời vì ung thư bàng quang tại Tijuana, Mexico, khi đang tìm kiếm phương pháp điều trị. Nhiều người thân tin rằng căn bệnh này liên quan đến việc ông tiếp xúc với chất độc da cam trong những năm ở Việt Nam. Cuộc chiến cuối cùng cũng đã lấy đi ông, chậm rãi và đau đớn, rất lâu sau khi ông rời chiến trường.


Về chất độc Da Cam, tuần này thấy ở Paris họ có dựng tượng về nạn nhân của chất độc Da Cam này. Mình theo dõi các nhóm cựu quân Nhân Mỹ tại Việt Nam thì có nhiều người cho biết về già họ bị bệnh đủ thứ vì chất độc này.


Trong tang lễ của ông, từ tướng lĩnh đến binh nhì đứng cạnh nhau. Có người vẫn xem ông là anh hùng đã lên tiếng vì người lính. Có người không bao giờ tha thứ vì ông “phá vỡ hàng ngũ”. Nhưng không ai có thể phủ nhận di sản của ông: ông đã chiến đấu quyết liệt, lãnh đạo tốt, và cuối cùng thể hiện lòng can đảm đạo đức lớn hơn đa số.


David Hackworth nhận hơn chín mươi (90) huân chương qua hai cuộc chiến. Ông biến những đơn vị rệu rã thành lực lượng tinh nhuệ. Nhưng trận chiến định hình nhất của ông không diễn ra ở đồi núi Triều Tiên hay đầm lầy Việt Nam.


https://youtu.be/-UhgAzycMSE?si=B6rh3teMjsRrLn9A


Đó là trận chiến năm 1971, khi ông đứng một mình trước ống kính truyền hình, nói với một quốc gia đang chia rẽ một sự thật khó chấp nhận, biết rõ rằng điều đó sẽ khiến ông mất tất cả những gì đã xây dựng.


Ông có thể im lặng, nhận đủ quân hàm, và tận hưởng nghỉ hưu trong vinh quang. Nhưng ông đã chọn nguyên tắc thay vì thăng tiến. Đó là một dạng dũng cảm hiếm hơn cả việc lao vào làn đạn, dũng cảm đạo đức: sẵn sàng hy sinh sự nghiệp, danh tiếng và tương lai vì sinh mạng của những người lính vẫn đang chiến đấu, và vì sự thật mà đất nước cần được nghe.


Ông là người lính còn sống được trao nhiều huân chương nhất nước Mỹ và ông đã từ bỏ tất cả để chấm dứt những lời dối trá. Đó không chỉ là một anh hùng chiến tranh mà là một kiểu anh hùng hoàn toàn khác.


 Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn