Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hoá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hoá. Hiển thị tất cả bài đăng

Lili Marleen, âm nhạc không biên giới

 Lili Marleen, bài hát lịch sử

Hôm nay bổng nhiên nhớ vụ đi du lịch Đan Mạch khi nghỉ mùa xuân khi còn đi học ở Paris. Tình cờ mình quen 2 cô người Đức tên Klaudia và Ute, dạy hát bài “Lili Marleen”, một bài hát khởi đầu ở Đức quốc trong thời chiến tranh rồi lan đến Phi châu khiến quân sĩ của hai bên chiến tuyến đều yêu mến bài hát này và ngưng chiến không chính thức khi đài phát thanh cho phát thanh bài hát này. Mình chưa bao giờ đi lính nhưng xa gia đình nên dạo ấy nghe đến bài này nhớ nhà kinh khủng.

Marlene Dietrich người đức nhưng lại hát cho lính đồng mình trong thời chiến tranh

Theo kể là vào năm 1915, một bính sĩ Đức quốc tên Hans Leip, viết vài câu thơ khi đang đứng gác ở Bá Linh trước khi được chuyển ra mặt trận phía Nga trong thế chiến 1. Tương tự nhà văn Erick Maria Remarque viết trong Im Westen nichts Neues, Ông ta đặt tên tựa bằng cách ghép tên hai người con gái mà ông ta quen biết Lili và Marleen. Nói về nổi buồn của người lính trẻ gác đêm, nhớ về quê nhà, nhớ hai người con gái ở làng quê.

Nhà thơ Hans Leip, tác giả bài thơ được phổ nhạc 

Năm 1937, ông ta in nguyên bài thơ trong tập thơ của ông ta Die kleine Hafenorgel (“The Little Harbour Organ”) với tựa tên “Das Lied eines jungen Soldaten auf der Wacht” (“The Song of a Young Soldier on Watch”). 

Nhạc sĩ đã đưa bài thơ bất tử

Năm 1938, một nhạc sĩ tên Norbert Schultze phổ nhạc và bài hát nổi tiếng đượm chất buồn của người lính chiến. Thật ra có một bài khác được phổ nhạc trước ông ta nhưng bài này nổi nhất. Năm 1939 một ca sĩ tên Lale Andersen thâu đĩa nhạc dưới tựa “Das Mädchen unter der Laterne”  cô gái dưới bóng đèn nhưng không được thành công lắm. Xin nghe bài do Lili Marlene hát.


https://youtu.be/7heXZPl2hik?si=6Lpu2X_7GZkYRcNS


Trong thời kỳ chiến tranh bài hát này được phát thanh trên đài radio Belgrade vùng quân đức chiếm từ 1941. Bài này bổng nhiên được binh sĩ yêu cầu mỗi ngày ở phi châu rồi từ từ chạy qua bên kia chiến tuyến khiến các bính sĩ của Hoa Kỳ và Anh quốc yêu thích và chuyển ngữ qua anh ngữ mà ca sĩ Marlene Dietrich trình bày được yêu thích nhất.


Mình gặp cô Klaudia ở Copenhague, đi chơi với cô bạn rồi mình kêu Lili Marleen, hỏi cô tao có biết bài hát này vì cô ta giống Marlene Dietrich khiến cô ta cười, kêu không ngờ có tên a-na-mít biết đến bà hát này. Khi chào hai cô đức mình kêu Wie Einstein, Klaudia Ute. Có liên lạc thư từ nhưng rồi đi Hoa Kỳ nên mình mất tin tức luôn. Xin chép lại bài hát mà cô Klaudia đã ghi trong cuốn tập vẽ của mình:


Vor der Kaserne, vor dem großen Tor

Stand eine Laterne und steht sie noch davor.

So woll’n wir uns da wiederseh’n,

Bei der Laterne woll’n wir steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Unsre beiden Schatten sah’n wie einer aus;

Daß wir so lieb uns hatten, das sah man gleich daraus.

Und alle Leute soll’n es seh’n,

Wenn wir bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Schon rief der Posten: Sie blasen Zapfenstreich;

Es kann drei Tage kosten! – Kamerad, ich komm ja gleich.

Da sagten wir auf Wiederseh’n.

Wie gerne wollt’ ich mit dir geh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen.


Deine Schritte kennt sie, deinen schönen Gang.

Alle Abend brennt sie, doch mich vergaß sie lang.

Und sollte mir ein Leid gescheh’n,

Wer wird bei der Laterne steh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen?


Aus dem stillen Raume, aus der Erde Grund

Hebt mich wie im Traume dein verliebter Mund.

Wenn sich die späten Nebel dreh’n,

Werd’ ich bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Những lời ca này đã lột tả nỗi nhớ thương của người lính, khoảnh khắc chia ly dưới ánh đèn của toà canh gác, nỗi sợ hãi trước cái chết, cùng niềm hy vọng đoàn tụ với gia đình, người yêu tựa như một giấc mơ. Khổ thơ cuối cùng mang một vẻ ám ảnh, gần như ma mị, đã gây được tiếng vang sâu sắc trong suốt những năm tháng chiến tranh.


Mò mò thì thấy có bản nhạc này bằng anh ngữ như sau:


Outside the barracks, by the big gate,

There stood a lantern, and there it stands still to this day.

So we’ll meet again there,

We’ll stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


Our two shadows looked like one;

That we loved each other so much, anyone could see at a glance.

And everyone shall see it,

When we stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


The sentry already called: They’re sounding retreat;

It could cost me three days! – Comrade, I’m coming right away.

Then we said goodbye.

How I wished I could go with you,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen.


She knows your footsteps, your lovely walk.

Every evening she burns, but she has long forgotten me.

And if something should happen to me,

Who will stand beneath the lantern,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen?


From the quiet place, from the depths of the earth,

Your loving lips lift me as if in a dream.

When the late mists swirl,

I will stand beneath the lantern,

As I did before, Lili Marleen,

As I did before, Lili Marleen.


Phe quân đội Đức: Ca khúc này đã lột tả một cách hoàn hảo nỗi nhớ quê hương, sự chia ly với những người thân yêu, cùng nỗi u sầu của chiến tranh. Những người lính chiến đấu trên sa mạc, tại Mặt trận phía Đông và khắp các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng tại châu Âu đều vô cùng yêu mến bài hát này.


Phe quân đội Đồng minh: Lính Anh, lính Mỹ cùng các lực lượng Đồng minh khác tại Bắc Phi (và sau đó là tại châu Âu) thường xuyên dò đài Radio Belgrade chỉ để được nghe ca khúc này. Họ yêu thích bài hát bất chấp (hay chính vì) phần lời bằng tiếng Đức nên không hiểu nhưng thích. Nhiều người đã mô tả nó là một tác phẩm vô cùng lay động lòng người và gợi lên nỗi hoài niệm sâu sắc.


Nghe kể những cuộc "ngừng bắn" không chính thức thường diễn ra trên chiến trường sa mạc bắc Phi châu, mỗi khi bài hát vang lên, những người lính thuộc cả hai phe đều tạm ngưng giao chiến để cùng lắng nghe.


Sức thu hút mang tính phổ quát của ca khúc này nằm ở phần ca từ giản dị, giàu cảm xúc cùng giai điệu da diết, chạm đến những trải nghiệm chung của nhân loại về nỗi nhớ thương và sự chia ly, bất kể quốc tịch. Có lẻ qua đài phát thanh nên sau này các cuộc chiến tranh họ đều sử dụng đào phát thanh để tuyên truyền như khi xưa ở Việt Nam. Mình đọc đâu đó, nhạc sĩ Tô Hải nghe đài Sàigòn và ngạc nhiên khi nghe nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và Phạm Duy,… ông ta không ngờ nhạc sĩ Miền Nam có thể làm nữa già hát hay như vậy.


Dạo mình xem cuốn phim cũ của Dietrich Marlene, nghe cô ta hát với vẽ điệu nghiện thuốc lào nên mê dù dạo ấy chưa rành hiểu đức ngữ. Khi mình qua Thuỵ Sĩ làm việc thì cô Klaudia có ghé thăm vì gần biên giới Tây đức.


Joseph Goebbels cùng giới lãnh đạo Quốc xã tỏ ra không ưa ca khúc này vì cho rằng nó mang âm hưởng "u ám," "bi lụy" và thiếu đi chất quân sự cần thiết. Họ đã tạm thời cấm phát sóng bài hát này và tìm cách trấn áp nó. Tuy nhiên, chính sự phổ biến rộng khắp của ca khúc trong hàng ngũ binh sĩ đã buộc họ phải nhượng bộ, và bài hát tiếp tục được phát sóng trở lại.


Tương tự phía đồng minh cho rằng những ca từ bằng anh ngữ có thể làm giảm tinh thần chiến đấu của binh sĩ nên bắt viết lại như đã được đăng như trên. Mình tìm không ra lời cảu Andersen làm lúc đầu.


Nghe nói thi sĩ Hans Leip sống sót suốt 2 thế chiến và chết năm 89 tuổi ở Thuỵ Sĩ. Ông ta được đem đi trốn qua Thuỵ Sĩ bởi thân hữu vì sợ chính quyền Nazi làm khó dễ vì sáng tác của ông ta như kiểu Trăm Hoa Đua Nở tại miền bắc khi xưa. Ông ta có trở về Hamburg sau chiến tranh nhưng rời Đức quốc vĩnh viễn và sống ở quê hương thứ 2 đến khi qua đời.


Người ta có hỏi ông ta là hai người phụ nữ có thật hay không thì được trả lời. Đó là hai người con gái ông ta biết ở Berlin, Lili phụ bán hàng rau còn Marlene là con gái một bác sĩ nhưng nhiều cô gái đức kêu họ chính là nhân vật khiến thi sĩ Leip làm nên những bài thơ để đời. Ông Leip cho biết không bao giờ gặp lại hai cô gái ngày xưa từ khi ông ta ra mặt trận năm 1915.


Còn nhạc sĩ Norbert Schultze bị cấm sáng tác sau thế chiến thứ 2 vì ông ta là đảng viên của NAzi. Ông ta làm nghề làm vườn và thợ hồ. Đến năm 1948 thì được phép hành nghề lại nên có làm nhiều nhạc phẩm để đời. Nói cho ngay mình không thích nhạc đức lắm.


Viết tới đây thì mình nhớ thời trước 75, nhạc của Việt Nam Cộng Hoà “Nhạc Vàng” so với nhạc của Hà Nội cùng thời gian mà người ta gọi là “Nhạc Đỏ” với những ca từ như mùa ra trận đẹp lắm thấy thất kinh. Có lẻ nhờ vậy mà Hà Nội đã thắng.

Việt Nam có câu chuyện về nhạc sĩ Nhật Ngân bị bắt khi vượt biên  vào tù sợ nên khịa tên giả nhưng rồi từ từ thiên hạ cũng tìm ra chân tích. Chủ trại tù là ông Năm Nghĩa cho vời nhạc sĩ lên văn phòng và thả về vì nghe nói trong thời chiến phe cũng cũng nghe bài “Xuân này con không về” mà khi xưa mình có nghe ông Duy Khánh hát và ông cụ mình hay mở khi xưa mỗi lần xuân về. Sau này ra hải ngoại mỗi lần Tết đến là mình nhớ đến bài hát này.

Mình có tập Hồng Gia với nhạc sĩ Nhật Ngân rồi có lần đi ăn kỵ bên vợ lại gặp nhạc sĩ, hình như vợ có bà con chi bên đồng chí gái. Sau nghe nói bị ung tư qua đời  


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Mỏ dầu và hồi giáo

 DẦU MỎ CÓ GIÚP TIẾN LÊN XHCN ?

Đi chơi ở Nam Dương và Tân Gia Ba mình khám phá ra dân tình yêu chính phủ vì nhà cửa rẻ, mua từ chính phủ cho 99 năm. 80 % căn hộ chung đều do chính phủ kiểm soát, số còn lại của tư nhân. Câu hỏi về việc các nước giàu dầu mỏ như Libya hay vùng Vịnh có phù hợp để theo chủ nghĩa xã hội (XHCN) kiểu Liên Xô hay không thực sự rất sắc sảo. Trả lời ngắn gọn: có, các nước nhiều dầu mỏ và dân số ít là nhóm phù hợp nhất về mặt vật chất để thử mô hình XHCN kiểu Liên Xô. Tuy nhiên, chúng chỉ phù hợp về điều kiện kinh tế, hoàn toàn không phù hợp về điều kiện chính trị-xã hội, nên gần như chắc chắn sẽ thất bại hoặc biến dạng.



Nếu bỏ qua văn hóa, tôn giáo và quyền lực, dầu mỏ kết hợp với dân số ít tạo nên "thiên đường XHCN" trên giấy tờ. Tài nguyên tập trung, dễ quốc hữu hóa. Dân số ít nghĩa là chia đều dễ dàng. Không cần thị trường phức tạp. Nhà nước chỉ cần xuất dầu, thu ngoại tệ, rồi bao cấp giáo dục, y tế, nhà ở. Đây chính là mơ ước của XHCN cổ điển: không cần cạnh tranh, chỉ cần phân phối. Liên Xô từng nghĩ Iraq, Libya, Algeria là tương lai tự nhiên của XHCN, điều này không phải ngẫu nhiên.


Nhưng chính vì dầu mỏ, XHCN càng tệ hại. Dầu mỏ tạo ra cái gọi là "Rentier State" - nhà nước sống nhờ tiền thuê tài nguyên. Nhà nước không cần đánh thuế dân, không cần dân giàu, không cần doanh nghiệp, không cần đổi mới. Hệ quả là dân không có đòn bẩy chính trị, nhà nước không cần trách nhiệm giải trình, quyền lực tập trung tuyệt đối. XHCN cộng dầu mỏ tạo ra nhà nước toàn trị lý tưởng cho giới cầm quyền.


Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: XHCN kiểu Liên Xô giả định có giai cấp công nhân đông, sản xuất phức tạp, và nhà nước điều phối tốt hơn thị trường. Nhưng dầu mỏ không phải công nghiệp, không tạo việc làm, không sinh ra sáng tạo. XHCN ở các nước dầu mỏ chỉ còn là phân phối tiền, không phải tổ chức sản xuất.


Libya dưới thời Gaddafi là ví dụ "chuẩn giáo khoa" của thất bại này. Gaddafi quốc hữu hóa toàn bộ dầu mỏ, xóa bỏ kinh tế tư nhân, tạo phúc lợi rất cao với nhà miễn phí và học miễn phí, chống thị trường và chống phương Tây. Kết quả là GDP trên đầu người cao, nhưng không có tầng lớp trung lưu độc lập, không có thể chế, không có cơ chế kế thừa quyền lực. Khi Gaddafi sụp đổ, nhà nước tan rã ngay lập tức. Lý do đơn giản: toàn bộ xã hội sống nhờ một vòi dầu cộng một người. Không có gì khác đứng vững được khi hai thứ này biến mất.


Đối chiếu Libya hay Algeria với UAE hay Qatar cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Cả hai nhóm đều có dầu mỏ và đều quốc hữu hóa, nhưng Libya và Algeria quốc hữu hóa tuyệt đối, bóp chết kinh tế tư nhân, không thu hút vốn đầu tư, và theo ý thức hệ XHCN nghiêm ngặt. Trong khi đó, UAE và Qatar tuy cũng quốc hữu hóa dầu mỏ nhưng quản trị theo mô hình doanh nghiệp, nuôi dưỡng kinh tế tư nhân, thu hút vốn đầu tư rất mạnh, kết hợp phúc lợi với thị trường, và theo chủ nghĩa thực dụng chứ không phải ý thức hệ cứng nhắc. Vùng Vịnh không theo XHCN mà theo mô hình "nhà nước độc tài kết hợp thị trường mở và phúc lợi mua ổn định".



Vì vậy, các nước dầu mỏ phù hợp nhất để XHCN tồn tại ngắn hạn, nhưng không phù hợp để phát triển dài hạn và cực kỳ nguy hiểm về mặt chính trị. Chúng có thể sống được 20-40 năm, nhưng không tiến hóa thể chế, không tạo con người tự chủ, và rất dễ sụp đổ bạo lực. Dầu mỏ không cứu được XHCN - nó chỉ che giấu khuyết tật của XHCN cho đến khi mọi thứ nổ tung.


Nếu dầu mỏ là lời nguyền cho XHCN và nhiều nước khác, tại sao Na Uy lại thành công? Na Uy là trường hợp hiếm hoi vì họ không "chữa" lời nguyền dầu mỏ bằng mẹo kỹ thuật, mà vô hiệu hóa tận gốc cơ chế gây nghiện tài nguyên. Na Uy làm đúng những điều mà hầu hết nước dầu mỏ không muốn làm.


Các nước dầu mỏ thường gặp năm bệnh: nhà nước sống nhờ dầu nên không cần dân; đồng tiền lên giá làm công nghiệp chết (Dutch disease); quyền lực tập trung dẫn đến tham nhũng; phân phối tiền thay vì phát triển năng lực; và khi dầu biến động thì xã hội sốc, chính trị vỡ. Na Uy chặn từng bệnh ngay từ đầu.


Đầu tiên, Na Uy không dùng tiền dầu để chi tiêu trong nước. Toàn bộ lợi nhuận dầu đổ vào Quỹ tài sản quốc gia, và quỹ này đầu tư ra nước ngoài 100%. Hệ quả là không làm đồng kroner tăng giá, không bóp chết công nghiệp trong nước, không tạo "kinh tế ăn dầu". Phần lớn nước dầu mỏ làm điều ngược lại và chết ở đây.


Thứ hai, dù có dầu, Na Uy vẫn thu thuế cao. Nhà nước sống bằng thuế và chịu trách nhiệm giải trình. Dầu chỉ là tài sản của các thế hệ tương lai. Điều này giữ quan hệ dân-nhà nước là hợp đồng, không biến nhà nước thành "ông phát tiền". Các nước vùng Vịnh và Libya đứt gãy ở chỗ này.


Thứ ba, Na Uy có nhà nước can thiệp mạnh, nhưng Quốc hội thực quyền, báo chí tự do, tư pháp độc lập, và minh bạch tuyệt đối ngân sách dầu. Dầu mỏ không đi qua tay cá nhân hay phe nhóm, không tạo "tầng lớp dầu mỏ".


Thứ tư, Na Uy dùng dầu để đầu tư giáo dục, công nghệ biển, năng lượng, logistics, và tạo ngành phụ trợ cạnh tranh toàn cầu. Dầu nuôi năng lực, không nuôi lối sống. Libya, Algeria, Iraq thì ngược lại: dầu nuôi trợ cấp, không nuôi con người.


Và cuối cùng, đây là điểm rất "Bắc Âu" nhưng cực kỳ thực dụng: người Na Uy chấp nhận thế hệ hiện tại không xài tiền dầu để dành cho con cháu. Quỹ dầu lớn hơn GDP nhiều lần. Xã hội đồng thuận cao nên không có áp lực chính trị "chia ngay".


Khi so sánh Na Uy với Libya và vùng Vịnh, sự khác biệt thật rõ ràng. Na Uy đầu tư tiền dầu ra ngoài trong khi Libya chi tiêu trong nước còn vùng Vịnh vừa chi vừa đầu tư. Na Uy thu thuế dân cao trong khi Libya thu thấp và vùng Vịnh thu rất thấp. Na Uy có trách nhiệm giải trình rất cao trong khi Libya gần như không có và vùng Vịnh thấp. Kinh tế tư nhân Na Uy mạnh, Libya yếu, còn vùng Vịnh tuy có nhưng lệ thuộc nhà nước. Về độ bền vững, Na Uy rất cao, Libya đã sụp đổ, còn vùng Vịnh phụ thuộc hoàn toàn vào dầu.


Na Uy không thoát lời nguyền dầu mỏ vì họ giàu hay giỏi hơn, mà vì họ tự trói tay mình trước khi dầu mỏ trói họ. Đa số nước dầu mỏ dùng dầu để mua ổn định và trì hoãn cải cách. Na Uy dùng dầu để kéo dài kỷ luật và chấp nhận không "sướng" ngay. Nguyên lý quan trọng ở đây: nước dầu mỏ chỉ phát triển khi họ coi dầu là "tài sản tài chính", không phải "nguồn sống".


Quay lại câu hỏi ban đầu về các nước dầu mỏ và XHCN. Trong thực tế, việc thất bại hay thành công trong tương lai không quyết định việc có đi theo mô hình nào hay không. Thực chất là ý thức hệ. Người Hồi giáo với tín ngưỡng cao khó chấp nhận sự vô thần của cộng sản. Đây là nguyên nhân chính khiến Liên Xô thất bại ở Afghanistan cũng như không thể phủ XHCN được ở Trung Đông (thành trì của Hồi giáo) hay Indonesia.


Quyết định theo hay không theo XHCN không phải do hiệu quả kinh tế, mà do tính tương thích ý thức hệ-xã hội. Liên Xô thua ở thế giới Hồi giáo và Indonesia không phải vì nghèo hay giàu, mà vì xung đột cấu trúc niềm tin. Đây là nguyên nhân số 1, không thể vượt qua.


Cộng sản kiểu Liên Xô vô thần, coi lịch sử là động lực, nhà nước tối cao, và Đảng quyết định chân lý. Hồi giáo thì coi Thượng đế là tối cao, luật Chúa lớn hơn luật người, đạo là hệ thống xã hội hoàn chỉnh bao gồm luật pháp, đạo đức và chính trị. Không có vùng đệm thỏa hiệp. Cộng sản không thể "dung nạp" đạo Hồi, chỉ có thể bóp, kiểm soát, hoặc phá. Với Hồi giáo, niềm tin không thể tư nhân hóa như Thiên Chúa giáo hiện đại.


Liên Xô thất bại ở Afghanistan không phải vì sai lầm chiến thuật. XHCN cần nhà nước trung ương mạnh, hệ thống giáo dục thế tục, và Đảng kiểm soát xã hội. Afghanistan có xã hội bộ tộc, luật Sharia, quyền lực phân tán, và thánh chiến là khái niệm chính trị. Liên Xô va chạm trực diện với nền văn minh, không phải đơn thuần là chiến trường quân sự. Có thể thắng về mặt quân sự, nhưng không thể thắng Allah trong tâm trí xã hội đó.


Những nơi XHCN từng tạm đứng được ở Trung Đông như Syria (Ba'ath), Iraq (Ba'ath), Libya (Gaddafi), Yemen Nam đều có điểm chung: đàn áp Hồi giáo chính trị, thế tục hóa bằng bạo lực, và nhà nước an ninh cực mạnh. Chúng không phải xã hội Hồi giáo tự nhiên, mà là "XHCN cưỡng bức lên xã hội tôn giáo". Khi nhà nước yếu đi, Hồi giáo quay lại ngay lập tức.


Indonesia là trường hợp rất thú vị. Indonesia không phải Hồi giáo cực đoan nhưng PKI (đảng Cộng sản Indonesia) vẫn thua dù mạnh, dù có sự hỗ trợ từ Trung Quốc. Indonesia không vô thần. Pancasila coi Thượng đế là nền tảng quốc gia. Xã hội đa tôn giáo, nhưng tôn giáo là chính danh chính trị. Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô bị coi là mối đe dọa đối với nền tảng tồn tại của quốc gia. Năm 1965, quân đội Indonesia tiến hành thanh trừng PKI, hàng trăm nghìn người thiệt mạng. Điều quan trọng: không phải vì PKI kém, mà vì họ xung đột với nền tảng đạo đức quốc gia.


Trung Quốc là ngoại lệ và đây là điểm phân biệt then chốt. Trung Quốc thành công với XHCN vì Nho giáo đã suy, tôn giáo phân mảnh, và nhà nước trung ương rất mạnh. Mao phá sạch không gian thiêng và Đảng lấp chỗ trống. Điều này không thể làm được ở Hồi giáo, nơi niềm tin ăn sâu hơn nhà nước.


XHCN không bén rễ ở "vành đai Hồi giáo" vì ba lý do cấu trúc: không chấp nhận vô thần; không chấp nhận Đảng đứng trên Thượng đế; và đã có sẵn hệ thống công bằng xã hội tôn giáo như zakat, waqf, sharia. XHCN không mang lại thứ họ thiếu. Cộng sản chỉ thắng ở nơi nó thay thế được "niềm tin tối cao". Ở Hồi giáo, niềm tin đó đã có chủ.


Liên Xô thua ở Afghanistan vì đụng phải nền văn minh tôn giáo không thể thế tục hóa. XHCN không thể phủ Trung Đông vì ý thức hệ mâu thuẫn tuyệt đối và không gian thiêng không thể xóa. Indonesia chọn diệt cộng để bảo vệ nền tảng tôn giáo quốc gia.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn