Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hoá. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn hoá. Hiển thị tất cả bài đăng

Mỏ dầu và hồi giáo

 DẦU MỎ CÓ GIÚP TIẾN LÊN XHCN ?

Đi chơi ở Nam Dương và Tân Gia Ba mình khám phá ra dân tình yêu chính phủ vì nhà cửa rẻ, mua từ chính phủ cho 99 năm. 80 % căn hộ chung đều do chính phủ kiểm soát, số còn lại của tư nhân. Câu hỏi về việc các nước giàu dầu mỏ như Libya hay vùng Vịnh có phù hợp để theo chủ nghĩa xã hội (XHCN) kiểu Liên Xô hay không thực sự rất sắc sảo. Trả lời ngắn gọn: có, các nước nhiều dầu mỏ và dân số ít là nhóm phù hợp nhất về mặt vật chất để thử mô hình XHCN kiểu Liên Xô. Tuy nhiên, chúng chỉ phù hợp về điều kiện kinh tế, hoàn toàn không phù hợp về điều kiện chính trị-xã hội, nên gần như chắc chắn sẽ thất bại hoặc biến dạng.



Nếu bỏ qua văn hóa, tôn giáo và quyền lực, dầu mỏ kết hợp với dân số ít tạo nên "thiên đường XHCN" trên giấy tờ. Tài nguyên tập trung, dễ quốc hữu hóa. Dân số ít nghĩa là chia đều dễ dàng. Không cần thị trường phức tạp. Nhà nước chỉ cần xuất dầu, thu ngoại tệ, rồi bao cấp giáo dục, y tế, nhà ở. Đây chính là mơ ước của XHCN cổ điển: không cần cạnh tranh, chỉ cần phân phối. Liên Xô từng nghĩ Iraq, Libya, Algeria là tương lai tự nhiên của XHCN, điều này không phải ngẫu nhiên.


Nhưng chính vì dầu mỏ, XHCN càng tệ hại. Dầu mỏ tạo ra cái gọi là "Rentier State" - nhà nước sống nhờ tiền thuê tài nguyên. Nhà nước không cần đánh thuế dân, không cần dân giàu, không cần doanh nghiệp, không cần đổi mới. Hệ quả là dân không có đòn bẩy chính trị, nhà nước không cần trách nhiệm giải trình, quyền lực tập trung tuyệt đối. XHCN cộng dầu mỏ tạo ra nhà nước toàn trị lý tưởng cho giới cầm quyền.


Vấn đề cốt lõi nằm ở chỗ: XHCN kiểu Liên Xô giả định có giai cấp công nhân đông, sản xuất phức tạp, và nhà nước điều phối tốt hơn thị trường. Nhưng dầu mỏ không phải công nghiệp, không tạo việc làm, không sinh ra sáng tạo. XHCN ở các nước dầu mỏ chỉ còn là phân phối tiền, không phải tổ chức sản xuất.


Libya dưới thời Gaddafi là ví dụ "chuẩn giáo khoa" của thất bại này. Gaddafi quốc hữu hóa toàn bộ dầu mỏ, xóa bỏ kinh tế tư nhân, tạo phúc lợi rất cao với nhà miễn phí và học miễn phí, chống thị trường và chống phương Tây. Kết quả là GDP trên đầu người cao, nhưng không có tầng lớp trung lưu độc lập, không có thể chế, không có cơ chế kế thừa quyền lực. Khi Gaddafi sụp đổ, nhà nước tan rã ngay lập tức. Lý do đơn giản: toàn bộ xã hội sống nhờ một vòi dầu cộng một người. Không có gì khác đứng vững được khi hai thứ này biến mất.


Đối chiếu Libya hay Algeria với UAE hay Qatar cho thấy sự khác biệt rõ rệt. Cả hai nhóm đều có dầu mỏ và đều quốc hữu hóa, nhưng Libya và Algeria quốc hữu hóa tuyệt đối, bóp chết kinh tế tư nhân, không thu hút vốn đầu tư, và theo ý thức hệ XHCN nghiêm ngặt. Trong khi đó, UAE và Qatar tuy cũng quốc hữu hóa dầu mỏ nhưng quản trị theo mô hình doanh nghiệp, nuôi dưỡng kinh tế tư nhân, thu hút vốn đầu tư rất mạnh, kết hợp phúc lợi với thị trường, và theo chủ nghĩa thực dụng chứ không phải ý thức hệ cứng nhắc. Vùng Vịnh không theo XHCN mà theo mô hình "nhà nước độc tài kết hợp thị trường mở và phúc lợi mua ổn định".



Vì vậy, các nước dầu mỏ phù hợp nhất để XHCN tồn tại ngắn hạn, nhưng không phù hợp để phát triển dài hạn và cực kỳ nguy hiểm về mặt chính trị. Chúng có thể sống được 20-40 năm, nhưng không tiến hóa thể chế, không tạo con người tự chủ, và rất dễ sụp đổ bạo lực. Dầu mỏ không cứu được XHCN - nó chỉ che giấu khuyết tật của XHCN cho đến khi mọi thứ nổ tung.


Nếu dầu mỏ là lời nguyền cho XHCN và nhiều nước khác, tại sao Na Uy lại thành công? Na Uy là trường hợp hiếm hoi vì họ không "chữa" lời nguyền dầu mỏ bằng mẹo kỹ thuật, mà vô hiệu hóa tận gốc cơ chế gây nghiện tài nguyên. Na Uy làm đúng những điều mà hầu hết nước dầu mỏ không muốn làm.


Các nước dầu mỏ thường gặp năm bệnh: nhà nước sống nhờ dầu nên không cần dân; đồng tiền lên giá làm công nghiệp chết (Dutch disease); quyền lực tập trung dẫn đến tham nhũng; phân phối tiền thay vì phát triển năng lực; và khi dầu biến động thì xã hội sốc, chính trị vỡ. Na Uy chặn từng bệnh ngay từ đầu.


Đầu tiên, Na Uy không dùng tiền dầu để chi tiêu trong nước. Toàn bộ lợi nhuận dầu đổ vào Quỹ tài sản quốc gia, và quỹ này đầu tư ra nước ngoài 100%. Hệ quả là không làm đồng kroner tăng giá, không bóp chết công nghiệp trong nước, không tạo "kinh tế ăn dầu". Phần lớn nước dầu mỏ làm điều ngược lại và chết ở đây.


Thứ hai, dù có dầu, Na Uy vẫn thu thuế cao. Nhà nước sống bằng thuế và chịu trách nhiệm giải trình. Dầu chỉ là tài sản của các thế hệ tương lai. Điều này giữ quan hệ dân-nhà nước là hợp đồng, không biến nhà nước thành "ông phát tiền". Các nước vùng Vịnh và Libya đứt gãy ở chỗ này.


Thứ ba, Na Uy có nhà nước can thiệp mạnh, nhưng Quốc hội thực quyền, báo chí tự do, tư pháp độc lập, và minh bạch tuyệt đối ngân sách dầu. Dầu mỏ không đi qua tay cá nhân hay phe nhóm, không tạo "tầng lớp dầu mỏ".


Thứ tư, Na Uy dùng dầu để đầu tư giáo dục, công nghệ biển, năng lượng, logistics, và tạo ngành phụ trợ cạnh tranh toàn cầu. Dầu nuôi năng lực, không nuôi lối sống. Libya, Algeria, Iraq thì ngược lại: dầu nuôi trợ cấp, không nuôi con người.


Và cuối cùng, đây là điểm rất "Bắc Âu" nhưng cực kỳ thực dụng: người Na Uy chấp nhận thế hệ hiện tại không xài tiền dầu để dành cho con cháu. Quỹ dầu lớn hơn GDP nhiều lần. Xã hội đồng thuận cao nên không có áp lực chính trị "chia ngay".


Khi so sánh Na Uy với Libya và vùng Vịnh, sự khác biệt thật rõ ràng. Na Uy đầu tư tiền dầu ra ngoài trong khi Libya chi tiêu trong nước còn vùng Vịnh vừa chi vừa đầu tư. Na Uy thu thuế dân cao trong khi Libya thu thấp và vùng Vịnh thu rất thấp. Na Uy có trách nhiệm giải trình rất cao trong khi Libya gần như không có và vùng Vịnh thấp. Kinh tế tư nhân Na Uy mạnh, Libya yếu, còn vùng Vịnh tuy có nhưng lệ thuộc nhà nước. Về độ bền vững, Na Uy rất cao, Libya đã sụp đổ, còn vùng Vịnh phụ thuộc hoàn toàn vào dầu.


Na Uy không thoát lời nguyền dầu mỏ vì họ giàu hay giỏi hơn, mà vì họ tự trói tay mình trước khi dầu mỏ trói họ. Đa số nước dầu mỏ dùng dầu để mua ổn định và trì hoãn cải cách. Na Uy dùng dầu để kéo dài kỷ luật và chấp nhận không "sướng" ngay. Nguyên lý quan trọng ở đây: nước dầu mỏ chỉ phát triển khi họ coi dầu là "tài sản tài chính", không phải "nguồn sống".


Quay lại câu hỏi ban đầu về các nước dầu mỏ và XHCN. Trong thực tế, việc thất bại hay thành công trong tương lai không quyết định việc có đi theo mô hình nào hay không. Thực chất là ý thức hệ. Người Hồi giáo với tín ngưỡng cao khó chấp nhận sự vô thần của cộng sản. Đây là nguyên nhân chính khiến Liên Xô thất bại ở Afghanistan cũng như không thể phủ XHCN được ở Trung Đông (thành trì của Hồi giáo) hay Indonesia.


Quyết định theo hay không theo XHCN không phải do hiệu quả kinh tế, mà do tính tương thích ý thức hệ-xã hội. Liên Xô thua ở thế giới Hồi giáo và Indonesia không phải vì nghèo hay giàu, mà vì xung đột cấu trúc niềm tin. Đây là nguyên nhân số 1, không thể vượt qua.


Cộng sản kiểu Liên Xô vô thần, coi lịch sử là động lực, nhà nước tối cao, và Đảng quyết định chân lý. Hồi giáo thì coi Thượng đế là tối cao, luật Chúa lớn hơn luật người, đạo là hệ thống xã hội hoàn chỉnh bao gồm luật pháp, đạo đức và chính trị. Không có vùng đệm thỏa hiệp. Cộng sản không thể "dung nạp" đạo Hồi, chỉ có thể bóp, kiểm soát, hoặc phá. Với Hồi giáo, niềm tin không thể tư nhân hóa như Thiên Chúa giáo hiện đại.


Liên Xô thất bại ở Afghanistan không phải vì sai lầm chiến thuật. XHCN cần nhà nước trung ương mạnh, hệ thống giáo dục thế tục, và Đảng kiểm soát xã hội. Afghanistan có xã hội bộ tộc, luật Sharia, quyền lực phân tán, và thánh chiến là khái niệm chính trị. Liên Xô va chạm trực diện với nền văn minh, không phải đơn thuần là chiến trường quân sự. Có thể thắng về mặt quân sự, nhưng không thể thắng Allah trong tâm trí xã hội đó.


Những nơi XHCN từng tạm đứng được ở Trung Đông như Syria (Ba'ath), Iraq (Ba'ath), Libya (Gaddafi), Yemen Nam đều có điểm chung: đàn áp Hồi giáo chính trị, thế tục hóa bằng bạo lực, và nhà nước an ninh cực mạnh. Chúng không phải xã hội Hồi giáo tự nhiên, mà là "XHCN cưỡng bức lên xã hội tôn giáo". Khi nhà nước yếu đi, Hồi giáo quay lại ngay lập tức.


Indonesia là trường hợp rất thú vị. Indonesia không phải Hồi giáo cực đoan nhưng PKI (đảng Cộng sản Indonesia) vẫn thua dù mạnh, dù có sự hỗ trợ từ Trung Quốc. Indonesia không vô thần. Pancasila coi Thượng đế là nền tảng quốc gia. Xã hội đa tôn giáo, nhưng tôn giáo là chính danh chính trị. Cộng sản Trung Quốc và Liên Xô bị coi là mối đe dọa đối với nền tảng tồn tại của quốc gia. Năm 1965, quân đội Indonesia tiến hành thanh trừng PKI, hàng trăm nghìn người thiệt mạng. Điều quan trọng: không phải vì PKI kém, mà vì họ xung đột với nền tảng đạo đức quốc gia.


Trung Quốc là ngoại lệ và đây là điểm phân biệt then chốt. Trung Quốc thành công với XHCN vì Nho giáo đã suy, tôn giáo phân mảnh, và nhà nước trung ương rất mạnh. Mao phá sạch không gian thiêng và Đảng lấp chỗ trống. Điều này không thể làm được ở Hồi giáo, nơi niềm tin ăn sâu hơn nhà nước.


XHCN không bén rễ ở "vành đai Hồi giáo" vì ba lý do cấu trúc: không chấp nhận vô thần; không chấp nhận Đảng đứng trên Thượng đế; và đã có sẵn hệ thống công bằng xã hội tôn giáo như zakat, waqf, sharia. XHCN không mang lại thứ họ thiếu. Cộng sản chỉ thắng ở nơi nó thay thế được "niềm tin tối cao". Ở Hồi giáo, niềm tin đó đã có chủ.


Liên Xô thua ở Afghanistan vì đụng phải nền văn minh tôn giáo không thể thế tục hóa. XHCN không thể phủ Trung Đông vì ý thức hệ mâu thuẫn tuyệt đối và không gian thiêng không thể xóa. Indonesia chọn diệt cộng để bảo vệ nền tảng tôn giáo quốc gia.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Cúng Táo Tây Táo Da Đỏ

 Hôm kia, 23 âm lịch nên mình làm một mâm cúng ông Táo về trời. Chỉ cúng chè xôi và trái cây vì sợ ông bà Táo bị cao máu, cao mỡ, bay không nổi về trời, để báo cáo tình hình gia đình lên thiên đình, để tâu cho tốt tốt, hảo hảo. Vợ mình thích xôi bắp và chè khoai môn nên chạy ra tiệm Chè Hiển Khánh, mua 3 đĩa xôi và 3 chén chè thêm bánh ú và trái cây ngũ quả. Cái này thì dễ vì đem trong vườn về, nào là cam, quýt, bưởi, bơ Hass, mía là xong.


Đi vườn về, mình tắm gội cho sạch mình, lấy dầu nhị thiên đường xoa xoa nơi mặt cho thơm mùi linh thiêng đế bơ. Thắp hương, lòng thành khẩn, mình cầu nguyện:
Nam Mô A Di Đà Phật! Boong, gõ cái chuông cho nó ngân lên để đưa tâm hồn mình về nơi xa vắng rồi hít một hơi dài, chậm rãi khấn:
Kính lạy Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân !
Tín chủ con là Sơn Đen, vợ là đồng chí gái. Ngụ tại Quận Cam, tiểu bang California, xứ Hiệp Chủng Quốc. Sau đó mình hít sâu vào rồi khấn tiếp: Nhằm ngày 23 tháng Chạp, tín chủ chúng con thành tâm, sửa biện hương hoa phẩm vật, xiêm hài áo mũ, nghi lễ cung trần, dâng lên trước án, dâng hiến Tôn Thần, đốt nén tâm hương dốc lòng bái thỉnh. Đến đây thì mình ngưng, thở một cái để lấy hơi, ép phình bụng ra.
Chúng con kính mời Ngài Đông Trù Tư Mệnh Táo Phủ Thần Quân giáng lâm trước án thụ hưởng lễ vật. Năm nay chúng con sợ các ngài bị cao máu, cao mỡ nên chỉ cúng chay. Phỏng theo lệ cũ, Ngài là vị chủ, Ngũ Tự Gia Thần, soi xét lòng trần, Táo Quân chứng giám. Sau đó mình gõ cái chuông một cái boong cho nó ngân xa xa.
Trong năm sai phạm, các tội lỗi lầm, cúi xin Tôn Thần, gia ân châm chước. Ban lộc ban phước, phù hộ toàn gia, trai gái trẻ già, an ninh khang thái.
Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.
Cẩn cáo. Đánh ba tiếng chuông boong boong boong
Mụ vợ đang tập đàn Mùa Xuân đầu Tiên của Văn Cao, đệm theo tiếng chuông ngân của mình tạo thành một dung dịch trầm bổng linh thiêng, bổng nhiên nói thổ thần đất đai là Mễ, còn ông bà Táo có thể là mỹ, anh khấn tiếng Việt thì bố thằng mễ, con mỹ nào hiểu. Thế là mình phải khấn lại bằng tiếng mễ: 

¡Buda Namo Amitabha! Nos inclinamos respetuosamente ante el Señor de la Cocina, el Dios del Hogar.
Su humilde servidor, Son Den, alias Pintura negra, Mi esposa es camarada. 
Residente en el Condado de Orange, California, Estados Unidos
El día 23 del duodécimo mes lunar, nosotros, sus humildes servidores, preparamos con sinceridad incienso, flores, ofrendas, túnicas, sombreros y artículos ceremoniales, presentándolos ante el altar, ofreciéndolos al Venerable Dios, quemándolos con sincera devoción y ferviente súplica. Lúc này mình thuở một tí để nhớ dịch ra sao từ việt ngữ ra mễ ngữ. Rồi gõ cái chuông boông, hít một hơi dài rồi khấn tiếp.
Invitamos respetuosamente: Al Señor de la Cocina, el Dios del Hogar, a descender ante el altar y participar de las ofrendas. Este año, tememos que las deidades puedan sufrir de hipertensión y colesterol alto, por lo que solo ofrecemos comida vegetariana. Siguiendo la antigua costumbre, tú eres el maestro, los Cinco Dioses del Hogar, que examinan los corazones de los mortales, el Dios de la Cocina que da testimonio.
Por cualquier transgresión o error cometido durante el año, suplicamos humildemente a Dios Venerable que muestre misericordia e indulgencia. Conceda bendiciones y buena fortuna, proteja a toda la familia, jóvenes y ancianos, hombres y mujeres, y asegure la paz y la prosperidad.
Expresamos nuestra sincera devoción y solicitamos humildemente su testimonio.
Respetuosamente presentado. Rồi mình gõ 3 tiếng chuông như báo táo Mễ là xong, terminado. Comida. Trong khi đồng chí gái hát rồi dập diều mùa xuân én về,…

Đợi hương tàn, mình nằm ngay ghế sa-lông, theo mùi hương trầm, nghĩ vớ vẩn. Càng suy nghĩ mình càng thấy văn hoá của người Việt, dựa hoàn toàn theo mấy anh ba tàu. Bên tàu thì họ có thờ 3 ông thần trong nhà: Thổ kỳ, Thổ công và Thổ địa, dựa theo Lão giáo. Người Việt mình bị đô hộ lâu ngày, đói anh hùng nên cứ vớ chuyện của thiên hạ, làm của mình, chỉ chế lại cho hợp với hoàn cảnh thành hai ông Táo và bà Táo.
Hôm trước, có người gửi cho mình những bản đồ Việt Nam theo các thời đại từ ngay lập quốc nên có gửi cho thầy Hồ Thanh Tâm, dạy sử địa mình và trường Võ Bị Quốc Gia. Thầy công nhận là một công trình nghiên cứu công fu. Thì như mình đoán, Hai Bà Trưng dấy quân ở Động Đình Hồ, nằm ở xứ Tàu, cả mấy ngàn cây số về phía bắc biên giới Việt Nam thời đó. Mỗi năm, dân Việt Nam cứ thờ phụng hai bà, Phù đổng thiên vương, Triệu Đà, vua Hùng,..., vô hình trung là thờ tàu, hèn chi 2000 năm nay không thoát nổi sự nô lệ của người Hoa. Mất đất thì còn có thể lấy lại còn mất văn hoá thì vô phương.
Vấn đề là mình có cả gan từ chối, thoát ly khỏi những vướng mắc về tâm linh của tổ tiên để lại vì sợ mang tội bất hiếu với tổ tông. Nếu không làm thì con cháu mình không bao giờ tìm được sự thật về bản thể của mình để có thể vươn lên cùng thế giới. Đó là tình trạng khó xử của người Đài Loan, bị binh lính của Tưởng Giới Thạch, chiếm đóng từ năm 1949 đến nay, xây dựng mô hình xã hội văn hoá theo tàu.
Đang lơ mơ thì bổng có ai lay chân mình rồi nói: "réveilles-toi? On crève la dalle ici!". Mình tá hoả tam tinh, tỉnh dậy thì thấy có thằng tây, bận đồ Chef, màu trắng, đội cái toque. Mình chưa hoàng hồn thì thằng tây tố tiếp. Mày hà tiện cúng cho tụi tao toàn là trái cây và chè thì làm sao tụi tao no mà bay lên trời được. ( phải thông dịch qua tiếng Mít nếu không mấy bà Văn Học lại la mất gốc).
Viết tiếng tây thì bị mấy người bạn học chung Văn Học, không học trường tây la còn viết tiếng Việt thì dân trường Tây, có người không hiểu, hỏi mình có thể tóm tắc bằng tiếng tây. Chán mớ đời cô Lựu. Viết bờ lốc là làm dâu ngàn họ.
Mình nói thằng Tây là vợ mình thích ăn chè khoai môn bạch thảo và trái cây cho nó nhẹ nhàng nên cúng mùi cho nó còn để vợ ăn. Mình hỏi mấy ông bà muốn ăn gì thì họ đòi ăn bánh mì. May quá trong tủ đông lạnh, còn mấy ổ bánh mì nên đem ra, bỏ lò nướng lại. Hôm mụ vợ đi Pháp học, có đem về mấy hộp pâté nên lấy ra mời thằng Tây và cặp vợ chồng lạ mặt.
Hôm trước Tết Tây, có người đem cho chai rượu, bảo là ngon lắm nên cô ta bảo cất đi, mình đem ra khui cho họ uống. Ăn uống xong thì thằng Tây bảo hắn là Táo giai số 2, còn ông kia là Táo giai số 1 còn người đàn bà là Táo gái. Họ kể lí do nào lại được Ngọc Hoàng chỉ thị họ vào làm tổ trưởng Táo ở nhà mình.
Táo tây bảo mình năm sau, có cúng thì khấn bằng tiếng Tây hay tiếng Mễ vì khấn tiếng Việt thì táo ông táo bà không hiểu. Nhất là đòi ăn nên cúng đồ tây và Taco vì đồ Việt Nam ăn không quen mùi nước mắm. Đại loại là Fromage, baguette, raclette vào mùa đông. Mình kêu Parfait.
Bà Pocahônem, Táo gái là người của Bộ lạc Sioux, thủa bé được đính hôn với ông Mèo Rừng, Táo ông 1. Một hôm đi giặt áo quần ở bờ suối thì gặp ông Chef, lính hầu cận của tướng Lafayette, ở vùng Normandie, nghèo nên theo ông Lafayette sang Mỹ đánh giặc, giúp người Mỹ dành độc lập.
Một hôm, ông ra bờ suối múc nước để nấu pot-au-feu cho ông tướng thì gặp bà Pocahônem đang tắm nên nhảy xuống tắm tiên với bà ta rồi rủ bà ta trốn sang Cali làm lại cuộc đời. Ai ngờ ông Táo mọi da đỏ nhớ vợ đi kiếm. Mỗi ngày, ông ta tìm theo dấu chân ngựa của hai người dâm phu dâm phụ.
Họ chạy đến thành phố trồng cam nên được gọi là Quận Cam. Họ chiếm một mảnh đất làm nông trại. Ngày ngày tưới cây, hái cam đem ra chợ bán hay nấu vịt bán canard à l' orange vào cuối tuần. Một hôm, bà táo ở nhà, ông Tây kêu đi chợ mua phân, bón cây thì tên chồng cũ, Táo ông 1 bò vào nhà.
Tình xưa nghĩa cũ không rủ cũng lại. Trong lúc táo ông táo bà ôm nhau khóc lóc thì ông tây lại về sớm. Bà táo sợ quá, bảo ông táo 1 nấp vào cái lò sưởi nơi cái ống khói. Táo tây đem vịt ra vặt lông rồi bỏ nướng trong lò sưởi khiến táo da đỏ chết cháy trong ống khói. Mụ táo thấy vậy cũng lao đầu vào lò lửa kéo theo ông tây.
Nhà cháy rụi nên nhà nước lấy và bán cho bọn đầu tư xây nhà, chặt hết vườn cam. Hai ông táo và bà táo không muốn đi đầu thai vì sợ chia lia nữa nên xin Ngọc Hoàng cho làm ăng ten ở nhà của mình để hàng năm báo cáo Algorithm, tin tức của gia đình mình lại lên thiên đình. Ông tây quen chuyện bếp núc thì làm Thổ công, lo chuyện nấu ăn. Ông Táo da đỏ thì làm Thổ Địa lo chuyện vườn tược còn bà táo thì lo đi chợ làm Thổ Kỳ.
Táo Tây bảo mình nấu ăn quá dở nên mỗi lần mình nấu, ông ta phải phụ giúp bằng cách nói thầm bên tai để nhắc nhủ. Lúc này mới thấy ông Táo da đỏ kêu là mình không biết làm vườn. Mạng mình là Dương Hạ Hoả cho nên đốt cây hết khiến ông ta phải nhắc mụ vợ mình tưới cây. Bà Táo gái kêu mình không biết đi chợ lại hà tiện nên chả mua gì nhiều khiến bà và hai fu quân đói teo râu.
Đang nói chuyện thì ông táo tây kêu Merde! On est en retard. Mình hỏi chuyện gì thì ông ta kể phải về chầu thiên đình mà quên mất. Nếu đi bằng Cá chép thì cũng mất độ 2 tiếng mà có hẹn với Ngọc Hoàng trong 10 phút tới. Mình hỏi muốn đi bằng fi thuyền không rồi chạy lấy cái iPad, mở trang nhà của công ty SpaceX, họ đang phóng vệ tinh lên trời.

Thế là hai ông tái cùng bà táo chui vào cái iPad. 3 người an vị xong là mình nhấn nút chạy thì nghe đếm 20, 19, 18.... Rồi khói mờ mịt, chiếc Hoả tiễn bắn lên không trung đem theo thông điệp của mình cho thiên đình.
Mình đang xem hỏa tiễn bay lên không trung qua màn ảnh iPad thì bổng nhiên nghe mụ vợ la om xòm, kêu cúng ông táo chi mà nằm ngủ chèo queo như ri, hương tàn rơi xuống đầy bàn. Mụ kêu đem cho mụ chén chè khoai môn bạch quả. Mình thấy trong ly chè có dấu 3 cái muỗng.
Trên màn ảnh của SpaceX thấy dàn phóng đã bay ngược trở lại và đậu trên fi đạo, không thấy bóng dáng ông bà táo đâu hết. Xong om!
Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 
Nguyễn Hoàng Sơn 

Tìm địa chỉ “Hotel California”

 “Hotel California”: Kiệt tác đưa Eagles lên đỉnh cao và kéo họ đến bờ tan rã


Nhớ thời sinh viên đi nhảy đầm là nghe bản nhạc Hotel California, xem như bản chính của buổi họp mặt thân hữu, khiến mình mơ một ngày nào đó, viếng cái khách sạn danh tiếng này. Sau này qua California lần đầu tiên, hỏi bạn bè khách sạn này nằm ở đâu thì họ cười quá cỡ thợ mộc, kêu chỉ là tưởng tượng trong trí của nhạc sĩ. Chán Mớ Đời 

Song đấu guitar giữa Don Felder và Joe Walsh

Cách đây mấy năm mình có xem cuốn phim tài liệu trên Netflix thì phải về sự hình thành và tan rã của ban nhạc The Eagles. Có lẻ khúc phim đầy ấn tượng là hai tay đàn Guitar Solo song đấu, tưởng như mày ngon hả, xem đây rồi kéo éo éo, phê không thể tả. Rồi hồi vuốt cây đàn cái vèo. 


Vào những thập niên 60, Los Angeles là vùng thánh địa cho những ai muốn nổi tiếng về âm nhạc. Có 4 ông thần từ xa đến để chơi nhạc kiểu (back up) cho ca sĩ Linda Ronstadt. Họ hợp rơ với nhau khi lưu diễn với ca sĩ Linda Ronstad. Sau chuyến lưu diễn họ hợp nhau thành lập một ban nhạc. Họ thâu đĩa đầu tiên mang tên Eagles và đứng đầu suốt 5 tuần lễ.


Năm 1974, Don Felder được mời gia nhập ban nhạc dù không phải là một trong những người sáng lập. Ông Felder được khuyên là muốn làm nhạc cho ban nhạc thì chỉ làm nhạc thôi còn lời ca thì để hai ông thần chánh làm nên ông ta chỉ làm đâu 15, 16 bài, gọi là Demo, chỉ có 2 bản được thâu sau này là Nạn nhân của tình yêu (victim of Love) và Hotel California.

Trong lịch sử nhạc rock Mỹ, hiếm có ca khúc nào vừa là biểu tượng vinh quang, vừa là dấu mốc cho sự sụp đổ nội bộ như “Hotel California” của ban nhạc Eagles. Phát hành năm 1976, bài hát không chỉ đưa Eagles lên hàng ngũ huyền thoại, mà còn phơi bày và khuếch đại những mâu thuẫn đã âm ỉ từ lâu trong lòng ban nhạc. Thành công của Hotel California chính là con dao hai lưỡi: một mặt mở ra kỷ nguyên vàng son, mặt khác đẩy Eagles vào vòng xoáy quyền lực, cái tôi và sự chia rẽ không thể hàn gắn. Dù sau này vì tiền bạc họ có đoàn tụ để đi lưu diễn nhưng các thế lực thù địch vẫn không thể hoà hợp hoà giải được, dẫn đến tan rã hoàn toàn sau khi kiếm được một mớ tiền về hưu.


Đến ngày nay, thiên hạ cũng đặt câu hỏi về lời ca của bài hát này. Họ phỏng vấn hai người đặt lời ca thì hai ông nói mỗi khác, một cách trừu  tượng. Nghe kể hai ông này phải cách ly với ban nhạc mất mấy ngày để viết lời cho nhạc do ông Felder đã soạn. Có thể sau khi phê cocaine, họ tư duy đột phá viết ra những lời ca trên rồi chả nhớ lý do xuất khẩu thành thơ. Nay tìm cách nói bú xua la mua để nghe vì nghe càng chới với. Nhạc sĩ Việt Nam lấy thơ của ai rồi soạn nhạc trong khi đây họ làm nhạc trước rồi tìm cách soạn lời. Tương tự bài “The Sound of Silence” mà mình đã kể.


Trước Hotel California, ban nhạc Eagles vận hành tương đối dân chủ. Các thành viên cùng tham gia sáng tác, quyết định và chia sẻ ánh hào quang. Làm theo năng suất hưởng theo nhu cầu. Nhưng khi ca khúc trở thành hiện tượng toàn cầu, cán cân quyền lực trong ban nhạc lập tức thay đổi. Họ bắt đầu thấy tiền, trở thành tư bản nên không muốn chia đồng đều mà làm theo nhu cầu, hưởng theo năng suất. Don Henley và Glenn Frey, hai gương mặt nổi bật nhất, sáng lập viên, dần dần nắm quyền kiểm soát sáng tạo và định hướng nghệ thuật. Nghe phỏng vấn tay guitar solo Joe Walsh, ông ta kêu chống chọi nhẹ lại, thậm chí đòi không cho ông ta tham dự ban nhạc. Nếu không chúng ta sẽ không thấy màn song đấu đàn guitar giữa ông ta và Don Felder. Những thành viên khác, đặc biệt là tay guitar Don Felder, bắt đầu cảm thấy mình bị đẩy ra rìa dù nhạc do chính ông ta sáng tác nhạc của bài hát. Quyền quyết định không còn thuộc về tập thể, mà tập trung vào một số ít cá nhân, gieo mầm cho sự bất mãn kéo dài.


Năm 1994 khi ban nhạc được kết hợp lại để đi tour thì hai ông thần Don Henley và Glendale Frey kêu tiền bạc tụi tao lấy nhiều hơn vì có công nhiều hơn khiến ông Don Felder không chịu và bị cho ra rìa nên kiện tụng, phần ông Joe Walsh thì nghiện rượu và cocaine nhưng được ông Don Henley giúp cho vào trung tâm cai nghiện nên vẫn nhớ ơn, kêu không có Don thì đời tôi đã tiêu tùng.


Mâu thuẫn ấy càng trở nên sâu sắc quanh đoạn solo guitar đôi huyền thoại của Hotel California. Don Felder là người viết phần nhạc nền ban đầu, bộ khung tạo nên linh hồn bài hát. Thật ra khi mới được thành lập ban nhạc Eagles hát nhạc miền quê (country music) nhiều hơn như album “take it easy” nhưng thời cuộc đã thay đổi, ông bầu ban nhạc kêu phải thêm rock vào nên họ mời Don Felder và Joe Walsh tham gia hoàn thiện và cùng Felder trình diễn đoạn solo được ca ngợi là hay nhất lịch sử nhạc rock. Tuy nhiên, theo thời gian, Felder cảm thấy đóng góp của mình không được ghi nhận xứng đáng, đặc biệt trong các phát biểu công khai và câu chuyện được kể lại với truyền thông xem như bị cướp công cách mạng. Một đoạn nhạc từng là biểu tượng của sự hòa hợp nghệ thuật, nay trở thành biểu trưng cho cạnh tranh và oán giận. Ai buồn đời nghe “Take ít Easy” sau đây:

https://youtu.be/9KQKJLELs9w?si=bcrovXkH17VXB94_


Danh vọng và tiền bạc tiếp tục đổ thêm dầu vào lửa. Hotel California bán hàng chục triệu bản, hình như 30 triệu khắp toàn cầu, đưa Eagles vào các tour diễn sân vận động và mang lại nguồn lợi khổng lồ. Nhưng thành công không được phân bổ công bằng. Henley và Frey có nhiều quyền lực hơn, nhiều tiếng nói hơn, và trở thành gương mặt đại diện của ban nhạc. Trong bối cảnh đó, những mâu thuẫn vốn nhỏ bị phóng đại, biến thành xung đột cá nhân và đấu đá quyền lợi.


Trớ trêu thay, chính nội dung của Hotel California,  lời cảnh báo về cái bẫy của danh vọng, sự hưởng lạc và ảo tưởng tự do, lại phản chiếu đời sống thực của ban nhạc. Lưu diễn triền miên, lạm dụng chất kích thích, kiệt sức tinh thần và cái tôi nghệ sĩ va chạm liên tục khiến The Eagles dần trở thành hình ảnh mà họ từng phê phán trong ca khúc. “Bạn có thể làm thủ tục trả phòng bất cứ lúc nào, nhưng không bao giờ có thể rời đi”, (you can Check-out anytime but you never leave) câu hát ấy như một lời tiên tri cho số phận của chính họ. Ngày nay khi nói đến ban nhạc này, chúng ta đều nghĩ đến Hotel California. Coi cuốn phim tài liệu mới biết ban nhạc có nhiều nhạc phẩm khác nổi tiếng mà mình từng nghe trên đài phát thanh nhưng không biết là của họ.


Đỉnh điểm của sự rạn nứt đến vào năm 1980, trong chuyến lưu diễn The Long Run. Tại một buổi diễn ở Long Beach, Glenn Frey và Don Felder cãi nhau ngay trên sân khấu, thậm chí đe dọa nhau trong lúc biểu diễn. Không khí thù địch ấy khiến việc tiếp tục tồn tại như một ban nhạc trở nên bất khả thi. Không lâu sau, Eagles chính thức tan rã. Don Henley mỉa mai rằng ban nhạc sẽ không bao giờ tái hợp “cho đến khi địa ngục đóng băng”. Xem đường dẫn năm 1976, lúc bản nhạc Hotel California mới được ra đời.

https://youtu.be/pcGYDuw0YbY?si=pWwuQAeeiFHw9WXr


Mặc dù Eagles sau này tái hợp vào năm 1994 với tour Hell Freezes Over, vết nứt do Hotel California tạo ra chưa bao giờ thực sự lành lại. Don Felder cuối cùng bị sa thải năm 2001 và kiện lại ban nhạc, khép lại chương bi kịch kéo dài nhiều thập kỷ.


Ngày nay, Hotel California vẫn được tôn vinh là kiệt tác bất tử của rock cổ điển. Nhưng đằng sau giai điệu mê hoặc và đoạn solo huyền thoại là một câu chuyện cay đắng: bài hát đưa Eagles lên đỉnh cao cũng chính là khoảnh khắc họ đánh mất sự đoàn kết. Hotel California không chỉ kể về cái bẫy của giấc mơ Mỹ, nó còn là tấm gương phản chiếu bi kịch của chính những người đã tạo ra nó.


Mình xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần đoạn song đấu guitar Solo của hai ông thần này. Ông Don Felder nói là ông ta viết cho hai người, nếu để ý thì cách ông ta đánh và Joe Walsh khác nhau nhưng mình có nghe nhưng chả thấy khác biệt lắm. Ai rành nhạc lý chắc sẽ thấy sự khá sức biệt. Mình theo dõi tay của họ đánh thì thấy khác biệt. Mình mới coi lại phần năm 1976 khi họ chơi đàn thùng thì có thấy sự khác biệt một chút còn khi họ chơi guitar điện thì eo éo luôn. 


Theo mình hiểu thì ông Don Felder viết nhạc cho bản Hotel California nhưng chưa có tên, chỉ đánh vòng vòng rồi thâu lại khi đang được cocaine phê. Sau đó hai ông thần chính mới bắt đầu viết lời. Từ đó họ sửa từng chữ một vì quá nổi tiếng qua các album trước nên nhà sản xuất cần cái gì độc đáo hơn.


Hình như ông Don Felder mới qua đời năm nay hay năm vừa rồi. Người làm lịch sử âm nhạc thời mình học đại học, mê nức nở rồi cũng qua đi. Tấm hình đăng trên bìa của đĩa hát là Hotel Beverly Hills ở Los Angeles. Lúc đầu khách sạn này tính thưa kiện nhưng sau thấy khách đến ở nhiều quá nhờ bản nhạc nên thôi.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

in sách bán hay tặng

 In sách bán hay tặng


Đi chơi về, thấy một phong bì dầy cộm, của người không quen gửi từ tiểu bang khỉ ho cò gáy nên chả hiểu là gì. Mở ra thì thấy cuốn sách của một ông thần lớn tuổi hơn mình, sinh sống đâu ở Úc Đại Lợi mà mình hay đọc bài của anh ta. Ông thần này bay bướm lắm, sinh sống tại nhiều quốc gia. Mình thích anh ta kể chuyện đời xưa, tán gái ra sao ở Sàigòn,… sau này có dạo, anh ta viết về ông Trump mà anh ta kêu Dượng khiến mình ngạc nhiên vì sống ngoài nước Mỹ mà lại chú ý đến chính trị tại Hoa Kỳ. Một fan cứng của ông Trump. Dân thích ông Trump thì hoan hô còn dân ghét ông Trump thì chửi banh ta lông. Hay đọc nhiều còm chửi của thiên hạ khiến nay mình ớn hết dám đọc bài vỡ về ông Trump nữa. Hình như báo chí dạo này, ít đưa tin về ông Trump vì không câu khách nữa. Mình lo năm 2026 có thể kinh tế banh ta lông vì mấy ông thần về tài chánh mà mình theo dõi từ 30 năm nay đều xác quyết như vậy. Mình mong họ sai vì trước đây họ đã từng sai nhưng cũng từng rất đúng. Mình nhắn tin tác giả cảm ơn đã gửi sách.

Bận áo này làm sao đi đứng

Đâu tháng trước, thấy anh ta kêu là đã in sách, và bay về Việt Nam để ra mắt và ký tặng thân hữu này nọ. Thấy anh ta kêu cho địa chỉ gửi sách nên mình ghi danh. Ai ngờ đi chơi mấy tuần về lại nhận được từ fan cứng của anh ta tại Hoa Kỳ khiến mình ngạc nhiên. Mình tưởng anh ta bán nên tính gửi mua, ai ngờ lại cho không còn tốn tiền tem. Chắc Fan cứng bỏ tiền gửi cho anh ta. Xin cảm ơn. Thấy lạ. Lý do là nông dân như mình, cái gì làm không ra tiền thì mình không thích làm. Viết bờ lốc để đầu óc bớt lộn xộn với những thứ nhảy múa chạy vòng vòng trong đầu.


Ngạc nhiên mình hỏi vòng vòng thì khám phá ra người Việt in sách đa số là bỏ tiền túi, rồi tặng thân hữu khiến mình thất kinh. Tặng họ, có chắc họ đọc không. Cái gì miễn phí, người ta không trân trọng. Hiệu Lá Bồ Đề thường ít ai trân quý lắm. Ngoại trừ bố mẹ mình.


Có người xúi mình gom lại mấy bài viết về Đà Lạt ngày xưa, in thành sách. Thấy cũng hay. Mình nghĩ nhờ ai đó biên tập lại những phần nhạy cảm, sửa chửa lỗi chính tả này nọ rồi in ra. Nếu lời thì giúp quỹ học bổng cho học sinh hay sinh viên nghèo. Hỏi lòng vòng thì thấy toàn thiên hạ in ra để tặng. Tốn tiền vô ích. Mình đã từng thấy nhiều người quen in sách bán không được để đầy nhà, khi dọn nhà nhờ mình chở đi quăng hay tặng cho thân hữu. Hay mỗi lần gặp mình, họ quên đã tặng trước đây nên ký tặng một lần nữa.


Có chuyện khác lạ nữa là ở Đà Lạt có ông thần hay viết bài về Đà Lạt. Mình theo dõi ông thần này từ 1 năm nay. Rồi thấy ông thần in sách, mình định lần sau về Đà Lạt, liên lạc mua một cuốn làm kỷ niệm thì gần đây, ông thần kêu có ông thần nào, lấy nhiều bài của ông thần rồi in ra sách về Đà Lạt. Ông thần kêu tên đạo văn này lấy in 50% bài vỡ trong cuốn sách là của ông thần khiến mình thất kinh. Mình chỉ đọc những gì ông thần công bố trên mạng thì thấy ông thần viết sai chính tả “Lac des Soupirs” (hồ Than Thở) thì ông thần in sách cũng không biên tập lại vẫn để y chang cái lỗi chính tả tiếng pháp. Nếu để bán thì có lý, đây bỏ tiền in bài người khác không nói tên tác giả để người ta lầm tưởng mình viết. Lại thấy con ông thần in sách viết trình bày tự gọi tôi là con ông thần đạo văn chi đó. Có kể là ông bố có viết trong thư ngõ, lời phi lộ nói là sưu tầm các bài viết về Đà Lạt này nọ. Nếu in để làm tiền thì nên trách vì không chia tiền còn in để chia sẻ thì không còn vấn đề. Người Đà Lạt xưa có nhiều bờ lốc và trang nhà, gom nhiều bài viết về Đà Lạt trên đó. Chỉ có khác là họ ghi tên tác giả.


Có ông thần nào xin mình gửi cho cái link hình ảnh của ông NK gửi để ông thần làm video. Mình gửi rồi thất kinh khi xem video của ông thần. Mình có giữ mấy tấm ảnh khi đọc giai thoại về bài hát Chuyện Tình Buồn được phổ nhạc qua bài thơ của ông nào, kèm theo hình ảnh của người phụ nữ. Mình tải về để làm tài liệu. Ông thần chả hiểu ất giáp gì cũng tải lên video, kêu là gái Đà Lạt khi xưa khiến mình thất kinh. Sau này mình hết dám gửi cho thiên hạ vì họ không hiểu nên tải sai.


Anh bạn học cũ, tiến sĩ Chử Nhị Anh, buồn đời biên tập 100 bài viết tiêu biểu của mình rồi bỏ lên Amazon. Anh ta mua đâu 10 cuốn để gửi về Việt Nam tặng mấy thầy dạy học khi xưa. 5 cuốn gửi cho một bạn học cũ đảng viên ở Đà Lạt thì trót lọt, còn 5 cuốn gửi cho anh bạn ở Sàigòn, không phải đảng viên thì bị công an văn hoá kêu lên thẩm vấn mấy ngày luôn nên sợ hết dám gửi cho thầy cô. Bạn của đồng chí gái có gửi mua từ Amazon, đến nhà họ vô tư. Anh bạn bỏ công đọc bao nhiêu bài mình viết rồi biên tập sửa lỗi chính tả bú xua la mua, rồi in vài quyển gửi tặng thầy cô ở Việt Nam, chả được nhuận bút gì cả. Anh ta làm vì chỉ muốn chia sẻ những gì mình kể về Đà Lạt xưa, không gian dung dịch mà anh ta đã một thời thở trong vùng ký ức đó. Mình cảm ơn anh ta đã bỏ thời gian, biên tập, sửa lỗi chính tả rồi đăng lên Amazon. Đó là chuyện hiếm của một người bạn học xưa tuy ngày xưa không thân như ngày nay.


Tương tự sau này, có người đề nghị làm bờ lốc cho mình thì mình cũng cảm ơn họ. Thứ nhất không ngờ đã có người đọc thứ hai lại có Fan cứng như chị hàng xóm khi xưa, hay cho mình mượn sách việt ngữ để đọc. Nhờ vậy mà ngày nay mình mới đọc được sách báo việt ngữ.



Gần đây, có người hỏi mình là có dính dáng chi đến một khách sạn nào ở Đà Lạt, họ hay lấy bài của mình để đăng lại nhưng không để tên mình. Mình không để ý vụ ghi tên người viết, có thấy họ đăng lại nhưng thấy không có gì quan trọng lắm. Kiểu như họ thấy tin tức quan trọng trên mạng, đáng được phổ biến thì tốt thôi, chớ quyền tác giả đề tên tác giả này nọ, không có vấn đề. Mình không cần tiền hay tên tuổi hay được mọi người biết đến. Ngày nay, người ta đóng góp cho Wikipedia này nọ, không ai nghĩ đến tên tuổi của họ, tương tự Linux được thành lập để người dân khắp thế giới sử dùng miễn phí. Nếu ai đó đăng tải lại bài của mình thì cảm ơn vì nếu không có họ thì ít người được cơ hội đọc. Còn đề tên tác giả hay không không thành vấn đề lắm vì càng ít người biết đến mình càng tốt. Mình chỉ muốn đóng góp vào ký ức cộng đồng.


Nhưng nhiều người hỏi nên mình phải xác minh là không biết chủ khách sạn chia sẻ bài mình viết về Đà Lạt là ai. Thì thấy dạo này khách sạn này hết đăng lại cũng có thể họ Block mình nên không thấy. Có dạo, một khách sạn ở Đà Lạt, đăng hình hồ Xuân Hương do ông Bill Robbie chụp khi tham chiến tại Đà Lạt. Bị ông ta kêu ai lấy hình tao thế. Ông Robbie có gửi cho mình mấy tấm ảnh do ông ta chụp khi tham chiến tại Đà Lạt. Qua ông ta mới hiểu chính ông ta gây quỹ giúp 4 học sinh của trường Trần Hưng Đạo và Bùi Thị Xuân. Giải mã được cái thắc mắc của mình khi thấy trực thăng mỹ đậu trước trường Trần Hưng Đạo và Bùi Thị Xuân. Ông ta có kể cho mình sự việc, lý do, mình có kể rồi.


Có lần mình gặp và ăn cơm với hai vợ chồng chủ nhà in Phương Nam Việt Nam tại nhà thân hữu. Nếu muốn có tiền thì phải qua mấy nhà in như vậy chớ còn tự in thì chỉ có lỗ. Vì in ra bán không được thì thà dùng tiền in sách, tặng học bổng sinh viên nghèo có lý hơn. Cuốn Mực Tím Sơn Đen của Chử Nhị Anh thực hiện, mình cũng chả có 1 cuốn ở nhà. Mình có mua một cuốn gửi về cho bà cụ ở Đà Lạt. Xong om


Thân hữu về Việt Nam, có mua và cho mình mượn một cuốn sách do ông Nguyễn Vĩnh Nguyên, gốc bắc kỳ, vào nam nhưng không hiểu sao ông ta thích Đà Lạt nên nghiên cứu về Đà Lạt xưa và in thành sách. Không biết ông ta bán được bao nhiêu cuốn về Đà Lạt. Có người vào kho lưu trữ tài liệu và chụp hình cho mình. Định bụng về Đà Lạt, bò lại kho lưu trữ gần nhà mình nhưng cứ quên.


Lần sau, có duyên gặp lại hai vợ chồng nhà in Phương Nam ở Sàigòn, sẽ hỏi thử thị trường đề tài Đà Lạt xưa có bán được không. Cách đây 20 năm mình về Sàigòn, thân hữu xúi đồng chí gái kéo gia đình chụp hình studio thì gặp nhiếp ảnh gia Tam Thái, người Quảng Nam. Trong khi vợ anh ta lo trang điểm cho vợ con mình, Ông này cho biết, đang chuẩn bị in cuốn sách về các biệt thự Đà Lạt thời tây. Sau này mình thấy thiên hạ tải hình ảnh của cuốn sách của anh ta nhưng chả thấy ai ghi chú là được trích trong sách của anh ta. Mình đoán chắc anh ta cũng chả bán được bao nhiêu. Chỉ làm vì đam mê. Cái gì đam mê là không đẻ ra tiền. Không ra tiền thì không nên làm. Mình bỏ nghề Kiến trúc Sư cũng vì không thích vẽ chùa cho thiên hạ. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn