Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Văn nghệ. Hiển thị tất cả bài đăng

Lili Marleen, âm nhạc không biên giới

 Lili Marleen, bài hát lịch sử

Hôm nay bổng nhiên nhớ vụ đi du lịch Đan Mạch khi nghỉ mùa xuân khi còn đi học ở Paris. Tình cờ mình quen 2 cô người Đức tên Klaudia và Ute, dạy hát bài “Lili Marleen”, một bài hát khởi đầu ở Đức quốc trong thời chiến tranh rồi lan đến Phi châu khiến quân sĩ của hai bên chiến tuyến đều yêu mến bài hát này và ngưng chiến không chính thức khi đài phát thanh cho phát thanh bài hát này. Mình chưa bao giờ đi lính nhưng xa gia đình nên dạo ấy nghe đến bài này nhớ nhà kinh khủng.

Marlene Dietrich người đức nhưng lại hát cho lính đồng mình trong thời chiến tranh

Theo kể là vào năm 1915, một bính sĩ Đức quốc tên Hans Leip, viết vài câu thơ khi đang đứng gác ở Bá Linh trước khi được chuyển ra mặt trận phía Nga trong thế chiến 1. Tương tự nhà văn Erick Maria Remarque viết trong Im Westen nichts Neues, Ông ta đặt tên tựa bằng cách ghép tên hai người con gái mà ông ta quen biết Lili và Marleen. Nói về nổi buồn của người lính trẻ gác đêm, nhớ về quê nhà, nhớ hai người con gái ở làng quê.

Nhà thơ Hans Leip, tác giả bài thơ được phổ nhạc 

Năm 1937, ông ta in nguyên bài thơ trong tập thơ của ông ta Die kleine Hafenorgel (“The Little Harbour Organ”) với tựa tên “Das Lied eines jungen Soldaten auf der Wacht” (“The Song of a Young Soldier on Watch”). 

Nhạc sĩ đã đưa bài thơ bất tử

Năm 1938, một nhạc sĩ tên Norbert Schultze phổ nhạc và bài hát nổi tiếng đượm chất buồn của người lính chiến. Thật ra có một bài khác được phổ nhạc trước ông ta nhưng bài này nổi nhất. Năm 1939 một ca sĩ tên Lale Andersen thâu đĩa nhạc dưới tựa “Das Mädchen unter der Laterne”  cô gái dưới bóng đèn nhưng không được thành công lắm. Xin nghe bài do Lili Marlene hát.


https://youtu.be/7heXZPl2hik?si=6Lpu2X_7GZkYRcNS


Trong thời kỳ chiến tranh bài hát này được phát thanh trên đài radio Belgrade vùng quân đức chiếm từ 1941. Bài này bổng nhiên được binh sĩ yêu cầu mỗi ngày ở phi châu rồi từ từ chạy qua bên kia chiến tuyến khiến các bính sĩ của Hoa Kỳ và Anh quốc yêu thích và chuyển ngữ qua anh ngữ mà ca sĩ Marlene Dietrich trình bày được yêu thích nhất.


Mình gặp cô Klaudia ở Copenhague, đi chơi với cô bạn rồi mình kêu Lili Marleen, hỏi cô tao có biết bài hát này vì cô ta giống Marlene Dietrich khiến cô ta cười, kêu không ngờ có tên a-na-mít biết đến bà hát này. Khi chào hai cô đức mình kêu Wie Einstein, Klaudia Ute. Có liên lạc thư từ nhưng rồi đi Hoa Kỳ nên mình mất tin tức luôn. Xin chép lại bài hát mà cô Klaudia đã ghi trong cuốn tập vẽ của mình:


Vor der Kaserne, vor dem großen Tor

Stand eine Laterne und steht sie noch davor.

So woll’n wir uns da wiederseh’n,

Bei der Laterne woll’n wir steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Unsre beiden Schatten sah’n wie einer aus;

Daß wir so lieb uns hatten, das sah man gleich daraus.

Und alle Leute soll’n es seh’n,

Wenn wir bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Schon rief der Posten: Sie blasen Zapfenstreich;

Es kann drei Tage kosten! – Kamerad, ich komm ja gleich.

Da sagten wir auf Wiederseh’n.

Wie gerne wollt’ ich mit dir geh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen.


Deine Schritte kennt sie, deinen schönen Gang.

Alle Abend brennt sie, doch mich vergaß sie lang.

Und sollte mir ein Leid gescheh’n,

Wer wird bei der Laterne steh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen?


Aus dem stillen Raume, aus der Erde Grund

Hebt mich wie im Traume dein verliebter Mund.

Wenn sich die späten Nebel dreh’n,

Werd’ ich bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Những lời ca này đã lột tả nỗi nhớ thương của người lính, khoảnh khắc chia ly dưới ánh đèn của toà canh gác, nỗi sợ hãi trước cái chết, cùng niềm hy vọng đoàn tụ với gia đình, người yêu tựa như một giấc mơ. Khổ thơ cuối cùng mang một vẻ ám ảnh, gần như ma mị, đã gây được tiếng vang sâu sắc trong suốt những năm tháng chiến tranh.


Mò mò thì thấy có bản nhạc này bằng anh ngữ như sau:


Outside the barracks, by the big gate,

There stood a lantern, and there it stands still to this day.

So we’ll meet again there,

We’ll stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


Our two shadows looked like one;

That we loved each other so much, anyone could see at a glance.

And everyone shall see it,

When we stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


The sentry already called: They’re sounding retreat;

It could cost me three days! – Comrade, I’m coming right away.

Then we said goodbye.

How I wished I could go with you,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen.


She knows your footsteps, your lovely walk.

Every evening she burns, but she has long forgotten me.

And if something should happen to me,

Who will stand beneath the lantern,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen?


From the quiet place, from the depths of the earth,

Your loving lips lift me as if in a dream.

When the late mists swirl,

I will stand beneath the lantern,

As I did before, Lili Marleen,

As I did before, Lili Marleen.


Phe quân đội Đức: Ca khúc này đã lột tả một cách hoàn hảo nỗi nhớ quê hương, sự chia ly với những người thân yêu, cùng nỗi u sầu của chiến tranh. Những người lính chiến đấu trên sa mạc, tại Mặt trận phía Đông và khắp các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng tại châu Âu đều vô cùng yêu mến bài hát này.


Phe quân đội Đồng minh: Lính Anh, lính Mỹ cùng các lực lượng Đồng minh khác tại Bắc Phi (và sau đó là tại châu Âu) thường xuyên dò đài Radio Belgrade chỉ để được nghe ca khúc này. Họ yêu thích bài hát bất chấp (hay chính vì) phần lời bằng tiếng Đức nên không hiểu nhưng thích. Nhiều người đã mô tả nó là một tác phẩm vô cùng lay động lòng người và gợi lên nỗi hoài niệm sâu sắc.


Nghe kể những cuộc "ngừng bắn" không chính thức thường diễn ra trên chiến trường sa mạc bắc Phi châu, mỗi khi bài hát vang lên, những người lính thuộc cả hai phe đều tạm ngưng giao chiến để cùng lắng nghe.


Sức thu hút mang tính phổ quát của ca khúc này nằm ở phần ca từ giản dị, giàu cảm xúc cùng giai điệu da diết, chạm đến những trải nghiệm chung của nhân loại về nỗi nhớ thương và sự chia ly, bất kể quốc tịch. Có lẻ qua đài phát thanh nên sau này các cuộc chiến tranh họ đều sử dụng đào phát thanh để tuyên truyền như khi xưa ở Việt Nam. Mình đọc đâu đó, nhạc sĩ Tô Hải nghe đài Sàigòn và ngạc nhiên khi nghe nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và Phạm Duy,… ông ta không ngờ nhạc sĩ Miền Nam có thể làm nữa già hát hay như vậy.


Dạo mình xem cuốn phim cũ của Dietrich Marlene, nghe cô ta hát với vẽ điệu nghiện thuốc lào nên mê dù dạo ấy chưa rành hiểu đức ngữ. Khi mình qua Thuỵ Sĩ làm việc thì cô Klaudia có ghé thăm vì gần biên giới Tây đức.


Joseph Goebbels cùng giới lãnh đạo Quốc xã tỏ ra không ưa ca khúc này vì cho rằng nó mang âm hưởng "u ám," "bi lụy" và thiếu đi chất quân sự cần thiết. Họ đã tạm thời cấm phát sóng bài hát này và tìm cách trấn áp nó. Tuy nhiên, chính sự phổ biến rộng khắp của ca khúc trong hàng ngũ binh sĩ đã buộc họ phải nhượng bộ, và bài hát tiếp tục được phát sóng trở lại.


Tương tự phía đồng minh cho rằng những ca từ bằng anh ngữ có thể làm giảm tinh thần chiến đấu của binh sĩ nên bắt viết lại như đã được đăng như trên. Mình tìm không ra lời cảu Andersen làm lúc đầu.


Nghe nói thi sĩ Hans Leip sống sót suốt 2 thế chiến và chết năm 89 tuổi ở Thuỵ Sĩ. Ông ta được đem đi trốn qua Thuỵ Sĩ bởi thân hữu vì sợ chính quyền Nazi làm khó dễ vì sáng tác của ông ta như kiểu Trăm Hoa Đua Nở tại miền bắc khi xưa. Ông ta có trở về Hamburg sau chiến tranh nhưng rời Đức quốc vĩnh viễn và sống ở quê hương thứ 2 đến khi qua đời.


Người ta có hỏi ông ta là hai người phụ nữ có thật hay không thì được trả lời. Đó là hai người con gái ông ta biết ở Berlin, Lili phụ bán hàng rau còn Marlene là con gái một bác sĩ nhưng nhiều cô gái đức kêu họ chính là nhân vật khiến thi sĩ Leip làm nên những bài thơ để đời. Ông Leip cho biết không bao giờ gặp lại hai cô gái ngày xưa từ khi ông ta ra mặt trận năm 1915.


Còn nhạc sĩ Norbert Schultze bị cấm sáng tác sau thế chiến thứ 2 vì ông ta là đảng viên của NAzi. Ông ta làm nghề làm vườn và thợ hồ. Đến năm 1948 thì được phép hành nghề lại nên có làm nhiều nhạc phẩm để đời. Nói cho ngay mình không thích nhạc đức lắm.


Viết tới đây thì mình nhớ thời trước 75, nhạc của Việt Nam Cộng Hoà “Nhạc Vàng” so với nhạc của Hà Nội cùng thời gian mà người ta gọi là “Nhạc Đỏ” với những ca từ như mùa ra trận đẹp lắm thấy thất kinh. Có lẻ nhờ vậy mà Hà Nội đã thắng.

Việt Nam có câu chuyện về nhạc sĩ Nhật Ngân bị bắt khi vượt biên  vào tù sợ nên khịa tên giả nhưng rồi từ từ thiên hạ cũng tìm ra chân tích. Chủ trại tù là ông Năm Nghĩa cho vời nhạc sĩ lên văn phòng và thả về vì nghe nói trong thời chiến phe cũng cũng nghe bài “Xuân này con không về” mà khi xưa mình có nghe ông Duy Khánh hát và ông cụ mình hay mở khi xưa mỗi lần xuân về. Sau này ra hải ngoại mỗi lần Tết đến là mình nhớ đến bài hát này.

Mình có tập Hồng Gia với nhạc sĩ Nhật Ngân rồi có lần đi ăn kỵ bên vợ lại gặp nhạc sĩ, hình như vợ có bà con chi bên đồng chí gái. Sau nghe nói bị ung tư qua đời  


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Du lịch y tế

 Du lịch y tế

Lâu rồi ông Larry kể với mình là hay đem cô bồ sang mễ tây cơ để căng da mặt vì rẻ. Nay cả hai đều đi căng da mặt ở tây phương cực lạc. Phải vào các phòng mạch được canh gác bởi bảo vệ có súng tiểu liên ở Tijuana đề phòng trộm cướp bắt cóc. Khi xưa mình hay mướn nhà ở vùng Rosalito phía nam thành phố biên giới này để đưa gia đinh đi chơi nhưng từ ngày con bà Betty bị giết ở đây thì hết đám mò xuống xứ mễ. Có lần tính mua căn nhà dưới đó cho đại gia đình đi chơi nhưng sợ quá. Cặp người Mỹ về hưu về đây sống, rồi lớn tuổi hơn bệnh hoạn đủ trò nên phải về mỹ để ở gần nhà thương.

Phố Răng Hàm bên cầu biên giới

Hôm nay đọc bài báo kể một thành phố ở biên giới Mễ Mỹ có đến hơn 300 phòng nha khoa, phục vụ các du khách Mỹ và Gia-nã-đại, sang đây du lịch thăm quan và chữa răng rẻ gấp nhiều lần bên Mỹ nên ghi lại đây để bác nào cần thì du lịch nha khoa một chuyến cho biết đời cô lựu và ăn tacos. Ăn tacos trước rồi làm răng.


Nằm cạnh biên giới Mễ của tiểu bang Arizona có một thị trấn nhỏ mang tên Los Algodones, một địa danh nổi tiếng bởi một sự khác thường. Đó là các nha sĩ, được xem là nơi hội tụ nha sĩ đông nhất thế giới. Dân số thị trấn này có vài ngàn người nhưng lại có trên 300 văn phòng nha khoa. Được xem là nơi tập trung nhiều nha sĩ nhất trên thế giới. Hình như cứ 100 người dân sinh sống tại đây có một nha sĩ. Nhớ lúc mới sang pháp họ cho biết là số bác sĩ người Việt ở pháp đông hơn số bác sĩ ở Sàigòn. HỌc xong rồi không về Việt Nam tham chiến nên ở lại bên tây làm Việt kiều yêu nước.


Hàng năm hàng ngàn người Mỹ vượt biên giới gần Yuma, hình như có cuốn phim lâu rồi mang tên Yuma. Có xem ở rạp Ngọc Lan hồi nhỏ. Không nhớ câu chuyện lắm, đại loại có một cảnh sát liên bang đến vùng này để dẹp loạn kiêu binh của đám du thủ du thực địa phương. Hình như sau này có phim do Russell Crowe đóng 3:10 to Yuma thì phải. Có xem phim này lâu rồi vì đồng chí gái mê tên này. Không nhớ câu chuyện, hình như có một tên giết người nhưng bị bắt và khi ông cảnh sát dẫn tên này đến nhà ga để lên chuyến xe lửa thì đàn em của Russell Crowe dàn chào bắn phá chi đó. Không nhớ rõ.


Các người Mỹ đến thành phố này để trồng Răng, nhổ răng cấm, hay làm răng sứ này nọ với giá hữu nghị Mễ Mỹ. Do đó thành phố Los Algodones được gọi là “Molar City.” ( thành phố răng hàm). Kinh


Mình có người quen về Việt Nam làm răng này nọ, có người than có người khen. Nhớ về Hội An, có gặp anh quen nói đưa vợ về Implant răng chi đó ở Đà Nẵng. Trên 7 bó rồi mà vẫn muốn có hàm răng như anh 7 chà da đen Hynos. Mình nghe anh kia quen nói đừng bao giờ làm implant vì anh ta nghe lời làm và khóc như mưa. Nội đeo hàm răng giả đã khó chịu huống chi implant thêm sức khoẻ khi về già cũng khó khăn.


Du lịch nha khoa đã thay đổi nền kinh tế của thị trấn biên giới này. Các phòng khám dành cho bệnh nhân ngoại quốc với nhân viên nói anh ngữ như người Mễ. Với các dụng cụ nha khoa tân tiến thiết kế đa số cho người Mỹ và Gia-nã-đại. Có chị bạn kêu về Việt Nam làm răng vì ở Gia-nã-đại phải chờ đợi rồi rên vì không hài lòng mà cứ bay về hoài để chữa thì tốn tiền quá.


Khởi đầu vài nha sĩ vài thập niên trước để phục vụ các cộng đồng ở vùng biên giới và dần dần trở thành một trung tâm du lịch và chữa bệnh răng.


Bác nào ở Nam Cali thì có thể lái xe, độ 3-4 tiếng đồng hồ, sáng đi chiều về hay ở lại một đêm để nghe nhạc Mariachi. Nhưng người ta khuyên là nên gú gồ trước để xem review, nha sĩ tốt nghiệp ở đâu, có nhiều nha sĩ tốt nghiệp tại Hoa Kỳ, các tên hiệu dùng cho Implant như Nobel, Straumann,.. nhất là e-mail trước để biết quy trình chữa bệnh ra sao trước khi lái xe qua biên giới. Đa số các phòng chữa răng đều nói tiếng anh. Nên gửi hình chụp quang tuyến và hình ảnh hàm răng của mình cho nha sĩ xem trước. Chớ đến nơi họ vẹo tới vẹo phải chụp hình bú xua la mua thêm tiền.


Lái xe đến cổng biên giới tên Andrade/ Los Algonodones. Nếu muốn thì đậu xe ở biên giới bên Hoa Kỳ rồi cuốc bộ sang. Vụ này hay hơn vì em nhớ khi xưa, chạy xe qua mễ phải mua bảo kiểm xe cộ đủ trò, đem sang chúng ăn cắp cũng mệt. Xe mang bản số Cali là dễ bị ăn cắp vì luật lệ môi trường Cali rất khó nên xe tốt. Đậu xe bên mỹ tốn $5-$10/ ngày. Đi bộ qua biên giới mất 1 phút nếu đông thì 5 phút. Đi qua thì dễ đi về thì nhớ đem theo sổ thông hành vì nếu không thì hết đường về mỹ, phải tốn tiền bay đến Tijuana mới có toà lãnh sự Hoa Kỳ.


Sau khi qua biên giới thì vùng nha khoa ở phía bên phải của cổng biên giới. Em xem hình không là thấy hoá gà vì nhiều lắm. Có nhiều phòng mạch cho người đến cổng biên giới đến đón các bác vì sợ có phòng mạch khác vớt bệnh nhân của họ. Chắc tương tự đến Cancun, ở phi trường là thấy thiên hạ bu lại dụ đi xem timeshare.


Họ sẽ xem xét răng của mấy bác miễn phí rồi cho giá hữu nghị. Trung bình giá cả như nhổ răng cấm là $250-$500, anh em cột chèo của mình là nha sĩ nhổ răng cấm giá hữu nghị mỹ-việt $5,000. Implant thì giá hữu nghị Mỹ-mễ từ $900-$1,800. Răng giả thì từ $250-$450. Thường thì họ làm trong ngày chỉ có implant thì cần ít nhất hai suất. Sau 6 tháng trở lại tái khám.


Trong khi chờ đợi họ làm hàm răng giả hay chi đó, các bác có thể ăn tacos hay đi vòng vòng hát bên cầu biên giới hay ghé quán cà phê. Em không biết họ có cà phê võng hay không vì chưa bao giờ đến khu vực này. Tháng 5 này em sẽ đi học ở Phoenix, rãnh em chạy lại đây chụp cái hình cho vui.


Họ khuyên là nên hỏi nha sĩ về bảo đảm cả không phải tốn thêm tiền khi phải làm lại. Nhớ là không nên chọn giá rẻ vì tiền Peéo nào của Mễ. Pesos khác với đô la. Chán Mớ Đời 


Em đi Texas với đồng chí gái rất cảm động. Có người kêu lại nhà ở, người thì lái xe từ Dallas đến Houston đón em ở phi trường. Người thì mời ăn cơm đủ trò. Cho thấy trong cuốn Luận Ngữ có câu “Hữu bằng tự viễn phương lai, bất diệc lạc hồ” thấy khá đúng với em ngày nay.


Chử Nhị Anh đang tổ chức xem hội thoại cựu học sinh Văn Học Đà Lạt xưa qua Zoom. Chắc vui. Mấy bác Yersin nên tổ chức hội thoại qua zoom cho vui. Gửi đường link cho mọi người ngày giờ họ vào tán gẫu vì nay bà con đa số đi đứng khó khăn, khó gặp nhau.


https://van-hocdalat.smugmug.com/


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Trái cây ở vườn và chợ khác nhau?

 Trái cây ở vườn và chợ khác nhau?

Công nhận bơ của cậu Sơn ngon ghê. 2 đứa nhà em hết ăn plain rồi lại làm sinh tố. Thích quá trời. Em cũng hay mua bơ bên này nhưng ko ngon lắm. Cám ơn cậu Sơn”. Đó là lời nhắn tin của cô em ở Phila gửi hôm qua sau khi phải đợi 7 ngày bơ gửi từ Cali mới đến. Mỗi năm mình gửi bơ cho cô em nhưng hạn chế số lượng vì tiền cước đắt gấp 10 lần tiền bơ. Chán Mớ Đời do đó mình không dám bán trên Amazon.

Hôm trước có ai hỏi lý do bơ mua ở chợ về khi chín ăn không được. Tương tự cô em ở phila rên mua bơ ở Costco về ăn không được vì bị đen bên trong. Bơ có nhiều loại, có nhiều loại như Bacon, Duarte,..ngon hơn Hass nhưng tại sao người ta cứ bán Hass. Lý do là da của bơ đa số rất mỏng dễ bị trầy trong khi da của bơ loại Hass thì dầy như da cá sấu, dễ chuyên chở không bị hư.


Có người hỏi là bơ vườn mình có bán thẳng cho chợ Việt Nam không thì mình nói không. Đa số ngày nay, các chợ mua của các công ty bán sĩ cho an toàn, dễ kiểm tra và truy tầm khi có trái cây bị nhiễm trùng. Vườn mình có bán lẻ cho mấy người mua để bán ở Farmers Market hay chợ trời, hoặc cá nhân hay hội đoàn.


Đa phần mình bán cho công ty mua sỹ. Để mình giải thích quá trình từ khâu ở vườn mình đến công ty bán sĩ. Khi bơ đến mùa hái được rồi, đủ tiêu chuẩn của Cali rồi thì sẽ được phép bán. Nếu ai bán trước thì sẽ bị phạt. Có ông mễ quen hay mua bơ của mình để bán mỗi tuần, bị phạt $1,000 trước khi bộ canh nông tiểu bang Cali cho phép.


Mùa bơ của Cali thường là tháng 2 hay tháng 3 trở đi đến tháng 6 là xong. Có nhiều loại bơ ăn được vào các tháng 10, 11 nhưng thời điểm ấy, bơ từ Peru đổ về nhiều nên rẻ nên ít ai trồng loại bơ này vì bán không có giá thêm bận rộng. Còn bơ mà thấy bán ở chợ ở các tháng khác, đa phần là từ Mễ tây Cơ, Peru chở sang hoặc các công ty mua sĩ để phòng lạnh, đến ngày thì đem ra bán. Nhiều khi trái bơ sai trái ở mùa nên giá bán rẻ, các công ty này mua với giá bèo, rồi giữ trong phòng lạnh. Đến khi hết mùa thì đem ra bán ăn lời mệt thở.

Đồ hái bơ cho an toàn, đưa cái cần đến cái cuống của trái bơ rồi cắt, trái rớt vào cái bao lưới.

Trở lại vụ hái bơ ở vườn. Khi bộ canh nông cho phép hái bán thì mình kêu các công ty đến hái. Vườn mình cần độ 10 người hái trong vòng 3-5 ngày tuỳ mùa. Vì lý do vệ sinh, sợ bị nhiễm trùng nên họ phải cắt với cái cuống. Các người hái có cái khèo với cái kéo và cái bịch. Họ đẩy cây sào đến cái cuống của trái bơ và cắt cuống trái bơ lọt vào cái túi. Lý do là để tránh nhiễm trùng, vì bơ rớt xuống đất có thể dính bùn, nước phân của thú vật,… do đó có cái cuống để bảo đảm không bị nhiễm trùng vì vi khuẩn đi vào bên trong trái bơ qua cái cuống hoặc da bị trầy. (Vì lý do đó người ta thích bán Hass vì da ít khi bị trầy.) chớ Zutano rất được các con coyote yêu thích. Nếu thú hoang thích loại trái nào thì có thể nói lên chất lượng hay gì đó phía trong. Do đó vào tháng 1 là mình phải bán Zutano cho đa số các tiệm ăn Mễ để họ làm guacamole nhất là cho Superbowl.


Vườn mình được chứng nhận là Good Agricultural Practices (GAP). Costco chỉ mua trái cây ở vườn nào có giấy chứng nhận GAP của Cali. Mình phải theo học khoá huấn luyện này và được cấp chứng chỉ tốt nghiệp để quản lý vườn. Hàng năm thanh tra đến xem xét, mình dùng loại phân bón nào, nước tưới ra sao. Nước thì của thành phố nên dễ, chớ dùng nước giếng thì phải gửi cho phòng thí nghiệm khám nghiệm và thị thực.

Ông nuôi ong khi xưa đến vườn đem ít bơ về cho vợ

Hái kiểu này rất mất thì giờ nên rất đắt tiền. Họ lấy độ 25% tiền bán bơ. Mấy người này hái xong bỏ vào các cần xé nặng độ 1 tấn rồi kêu công ty mua sĩ đem xe đến chở về. Về đến công ty thì việc đầu tiên là họ bỏ bơ vào phòng lạnh vì thường hái vào những tháng nóng nên trái cây hái xong, để ngoài trời nên có thể nóng nên cần bỏ vào phòng lạnh. Sau đó họ nhúng bơ vào nước hoá học có chất tẩy trùng và chất bảo quản thêm sáp để làm da của trái bơ sáng láng lâu ngày.


Để khô xong, họ cho chạy vào máy, có máy laser để thanh loại các trái to nhỏ, hư hay không hư rồi tự động cho vào thùng hay bao lưới. Từ đó họ chở và chất trong các phòng lạnh. Khi nào khách hàng cần thì họ mới đem vào phòng làm chín trái bơ rồi đem bán, giao cho khách hàng. Điển hình Chipotle không có chỗ chứa nhiều bơ trong nhà bếp của họ. Họ chỉ lấy 24 tiếng đồng hồ trước khi sử dụng. Khi họ nhận Chipotle đặt hàng cho ngày mốt. Họ bỏ mấy thùng vào phòng đặc biệt và xì hơi vào để làm chín cho nhanh. Hôm sau chỉ việc chở đến giao cho các tiệm Chipotle trong vùng.


Theo mình biết thì bơ Cali rất được các nước khác như Nhật Bản, âu châu, Trung Cộng ưa chuộng. Lý do là luật lệ nghiêm khắc hơn các nước lân cận về việc sử dụng hoá chất, phân bón độc hại. Do đó bơ Cali thường được chở xuất cảng qua các nước khác, còn người Mỹ nhất là Cali ít khi có dịp ăn bơ Cali.


Do đó bơ mình mà đến chợ thì cũng đã được ngâm hoá chất và thuốc bảo quản. Khi chín thì phía trong đã đen rồi. Nếu hà tiện ăn thì đắng. Buồn vào hồn không tên. Thật ra là tất cả các trái cây được bày bán trong chợ đều phải qua quá trình như vậy. Nhớ tết nào, có người cho quýt tàu to như quả cam. Da sáp nhưng khi bóc ra ăn thì thấy hơi xanh, ăn đắng nghét. Vì hoá chất đã thắm vào trong vì để lâu ngày, có thể lên cả mấy tháng.

Trong vườn mình có nuôi ong nên có mật ong nguyên chất hữu cơ. Mỗi năm như vậy đến mùa hoa người nuôi ong đem đến độ 300 tổ ong. Đây chỉ để vài tổ vào mùa đông. Sau khi xong vụ để tổ ong ở các vườn hạnh nhân ở thung lũng San Joaquim thì họ đem về đây.


Có lần mình xem cuốn phim tài liệu của pháp về ngành trồng nho. Có ông tây chủ nông trại trồng nho mấy đời, kêu là ông ta bán cho người Tàu vì không muốn con cháu tiếp thu nông trại. Lý do là xịt thuốc sâu quá nhiều. Cứ nhìn mấy trái nho to đùng không bị sâu ăn gì cả là nhờ họ xịt thuốc sâu mệt thở. Năm ngoái, mình đi bộ 325 cây số xuyến vùng Toscana nơi họ trồng nho để làm rượu. Mình đứng lại quan sát nho thì trái nho bị sâu ăn mệt thở. Mình đi seminar, thấy họ quảng cáo bán loại thuốc xịt hormone đã được Cali cho phép, giúp đậu trái nhiều. Mấy loại nho, trái cây mà không có hột là được xịt thuốc này ra. Mình không xài vì mình muốn trồng bơ theo kiểu Bio-Organic.


Có lần mình đi học ở đại học Riverside, ông giáo sư cầm quả táo và hỏi cả lớp quả này được hái từ bao giờ. Có người kêu hồi sáng, người kêu hổi tuần trước. Cuối cùng ông thầy Scan cái nhãn, thường được dán trên trái cây thì được biết 9 tháng 16 ngày. Vỏ trái táo vẫn tươi như hoa hậu U80. Khi hái táo nhiều thì họ mua rẻ rồi cất trong phòng lạnh, ngâm vỏ hoá chất bảo quản. Đợi khi nào thị trường ít lại thì đem ra bán kiếm lời nhiều hơn.


Từ ngày mình mua cái vườn này thì không ăn trái cây mua ngoài chợ nữa. Chỉ ăn cây nhà lá vườn cho chắc ăn. Vì chất bảo quản và thuốc sâu. Trái cây hữu cơ họ đều xịt thuốc sâu hết, cho nên người ta nói thức ăn hữu cơ là cú lừa thế kỷ. Rất đúng. Đã có kể rồi.


https://youtu.be/AEuY9XxsfMk?si=B1fhfn51BFxGQv60


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn