Hiển thị các bài đăng có nhãn Tình yêu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tình yêu. Hiển thị tất cả bài đăng

người Tình Cindy

 Mordechai Vanunu và người Tình Cindy


Nhớ dạo mình làm việc ở Luân Đôn, có lần thiên hạ bàn tán về một ông người do thái bán tin tức cho một tờ báo Times, nói là do Thái có vũ khí nguyên tử rồi sau đó ông ta biệt tăm. Nay mình lò dò vào đọc tin tức của Do Thái thì khám phá ra ông ta bị bắt và dẫn độ về độ Thái và bị lên án 18 năm. Hình như mình có xem một phim tài liệu nói về ông này cũng như cặp điệp viên pháp, giả làm vợ chồng qua xứ  Tân Tây Lang đặt mìn tàu của hội Greenpeace nhưng không thành và bị bắt. Năm ngoái đến xứ Tân Tây Lan mình có bò lại bến tàu nơi cặp tây đầm điệp viên tây bị bắt.


Mordechai Vanunu sinh năm 1954 tại Marrakech, Morocco, trong một gia đình Do Thái có 11 người con. Năm 1963, gia đình ông di dân đến Israel và định cư tại Beersheba, miền nam đất nước. Thời đó ở Algeria xứ bên cạnh đuổi cổ dân Tây dân gốc do thái ra khỏi nước họ nên có lẻ vì vậy mà gia đình ông này và các người Do Thái dọn về Do Thái cho lành. Mình nghe nói là ở maroc trước kia các người đạo hồi, công giáo và do thái sống yên vui với nhau dưới thời tây cai trị nhưng khi mấy xứ này bắt đầu dành độc lập thì không còn anh em với nhau nữa. Đánh nhau chí choé. 


Giống như mọi công dân Israel, ông hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Sau đó, ông học triết học và địa lý tại Ben-Gurion University. Chính tại đây, ông bắt đầu đặt ra những câu hỏi lớn về chính phủ, công lý và đạo đức.


Năm 1976, ông làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Negev, gần Dimona, một cơ sở lớn giữa sa mạc. Israel luôn tuyên bố đây là cơ sở nghiên cứu hòa bình và chưa bao giờ chính thức xác nhận hay phủ nhận việc sở hữu vũ khí hạt nhân.


Trong 9 năm làm kỹ thuật viên hạt nhân, ông Vanunu vận hành hệ thống xử lý plutonium nằm sâu dưới lòng đất, sau nhiều lớp cửa an ninh. Ông tận mắt chứng kiến: Israel đang sản xuất vũ khí hạt nhân. Không phải vài quả mà có thể hàng chục, thậm chí hàng trăm. Hoàn toàn bí mật với thế giới, kể cả Liên Hiệp Quốc.


Dần dần, suy nghĩ của ông thay đổi, mầm mống phản động khơi mào. Ông tham gia các hoạt động chính trị cánh tả, quan tâm đến quyền của người Palestine. Năm 1985, hợp đồng của ông không được gia hạn. Chán Mớ Đời ông ta muốn biến đau thương thành hành động cách mạng. Ông ta đột phá tư duy, ông làm một việc thay đổi cả cuộc đời mình: Mang máy ảnh vào khu vực cấm, Chụp khoảng 60 bức ảnh chi tiết về cơ sở hạt nhân.


Năm 1986, ông rời Israel, đi qua châu Á rồi đến Úc. Tại Sydney, ông cải đạo sang Thiên Chúa giáo. Nói như người thiên chúa giáo là trở về đạo. Ông ta đã lầm đường lạc lối nên nay muốn cách mạng khoan hồng nên  Ông tin rằng mình có nghĩa vụ đạo đức phải nói ra sự thật. Ông liên hệ với tờ The Sunday Times ở London. Các chuyên gia độc lập xác nhận toàn bộ thông tin: Israel có chương trình vũ khí hạt nhân bí mật, Ước tính từ 100–200 đầu đạn


Khi bài báo sắp được công bố, ông ta được một số tiền nên vào bar ăn uống cho vui đời cô lựu thì choáng váng khi một giai nhân xuất hiện. Anh ta nghĩ ông bà nói quả không sai khi có tiền thì mấy cô gái dẫn xác đến nạp thân, lúc ông đói chả cô nào thèm nhìn mặt. Tin tưởng đã phát hiện ra mối tình hữu nghị sông liên sông núi liền núi. 


Cô gái đẹp nức nở là một nữ điệp viên tên “Cindy” (Cheryl Bentov) thua ông ta đến 14 tuổi, tiếp cận ông. Bên tai Cindy thỏ thẻ anh làm em ngưỡng mộ quá, ba má em có căn hộ ở la mã, hay cuối tuần này em nghĩ làm chúng mình bay qua La MÃ để cùng nhau viếng nhà thờ San Pedro. Ông ta nhất trí tưởng đến quỳ lạy chúa cho con lấy được Cindy, mời cô nàng đi ăn ở các tiệm sang trọng của La Mã và ăn gelato ở Trastevere. Thế là ông ta bị dụ sang Rome. Vừa chạy taxi từ phi trường về nhà chưa đầy 5 phút, ông ta chưa kịp đè Cindy xuống giường thì có tiếng gõ cửa. Cindy ra mở và các bác Mossad bước vào đè đầu ông ta và đánh thuốc mê trong giấc mơ bên cạnh em Cindy thơm như múi mít. Ngày 30/9/1986, ông bị đánh thuốc mê, bắt cóc và đưa bí mật về Israel.


Ngày 5/10/1986, bài báo vẫn được đăng. Cả thế giới biết sự thật. Ông  Vanunu bị xét xử bí mật, kết án phản quốc và gián điệp. Năm 1988, ông bị tuyên 18 năm tù. 11 năm trong phòng biệt giam, Một căn phòng 2m x 3m, Không giao tiếp, không con người, chỉ có im lặng nhưng ông không bao giờ hối hận. Chắc con cháu của Trương Bất Hối. Năm 1998, ông được chuyển ra khỏi biệt giam. Amnesty International gọi ông là “tù nhân lương tâm”. Ông được đề cử Nobel Hòa bình 17 lần nhưng chưa từng được trao. Vì DO Thái Lobby rất kiến hiệu ở Na Uy.


Ngày 21/4/2004, ông được trả tự do sau 18 năm. Nhưng… ông vẫn không thật sự tự do. Không được rời Israel. Không được nói chuyện với báo chí nước ngoài. Bị giám sát liên tục. Ông nhiều lần bị bắt lại chỉ vì nói chuyện với phóng viên. Năm 2007, ông bị kết án thêm 6 tháng tù vì… nói rằng ông muốn rời khỏi đất nước. Họ hỏi ông ta đi đâu, chắc là muốn sang đầu quân cho Ba Tư. Ông xin tị nạn ở Na Uy, Mỹ và nhiều nơi khác đều bị từ chối. Chán Mớ Đời 


Israel nói ông vẫn còn “bí mật trong đầu”. Một người rời khỏi cơ sở hạt nhân từ 40 năm trước… vẫn bị coi là nguy hiểm. Ông Vanunu nói:“Tôi không hối hận. Thế giới cần biết sự thật.” Xem như thành phần ngoan cố, không bao giờ cải tạo được.


Một người bình thường.

Một công việc ổn định.

Một cuộc sống có thể yên ổn.


Nhưng ông đã chọn nói ra sự thật. Đổi lại: 18 năm tù, 11 năm biệt giam và hàng chục năm bị hạn chế tự do. 


Có những người nói ra sự thật và được trao huy chương. Có những người nói ra sự thật… và sống 11 năm trong một căn phòng nhỏ hơn phòng tắm. Và Mordechai Vanunu đã nói ra sự thật. Và phải trả một giá quá đắt. Ông cụ mình cũng phải trả giá nói lên sự thật và bị bắt nhốt 15 năm cải tạo. Chán Mớ Đời 


Mình nghĩ chắc lúc đó ông ta chưa có vợ con, chớ một khi có vợ con thì họ sống hèn lại, để có thể đi làm để nuôi vợ nuôi con. Còn nói lên sự thật thì vợ con phải gánh chịu hậu quả. Mình làm mình chịu nhưng nếu ông ta có gia đình thì có lẻ không xẩy ra vấn đề này. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 

Xã hội mạng ngày nay

 


Xã hội mạng được toàn cầu thế giới


Mấy người trong nhóm thành lập trang nhà cựu học sinh trường Văn Học Đà Lạt khi xưa đang dự định tổ chức một cuộc hội ngộ cựu học sinh Văn Học qua Zoom vì nay ai cũng đã già khó gặp nhau tại Đà Lạt hay Hoa Kỳ như thập niên trước. Mới khám phá ra có nhiều người bạn học khi xưa không sử dụng mạng xã hội. Họ sử dụng điện thoại cầm tay để gọi điện thoại nhau chớ mấy vụ mạng xã hội hay zoom ziết thậm chí i-meo cũng ì tờ. Mình có anh bạn thân ở Hoa Kỳ cũng chả có Facebook gì cả. Khi mới tìm lại nhau, mình kêu anh ta thành lập facebook rồi vào các nhóm của Yersin xưa nhưng anh ta kêu mệt quá phải học hỏi thêm nên chỉ nhắn tin mình. Rồi nhờ mình chuyển lại cho mấy tên bạn một thời.


Mình để ý từ khi ông Elon Musk mua mạng xã hội X thì các mạng xã hội mình dùng như Facebook bớt kiểm duyệt như trước kia trong thời gian dưới chính quyền của tổng thống Biden. Nhớ dạo đó mình bị chặn bởi Facebook rất nhiều, có nhiều lần bị cấm cả mấy tuần. Chán Mớ Đời 


Mình để ý ngày nay, các mạng xã hội tự động chuyển ngữ cho mình. Mình hay tham gia các nhóm bên tây, bên Ý Đại Lợi, bên Tây Ban Nha,… vấn đề là nhiều khi họ chuyển ngữ tiếng Việt, tiếng tây, tiếng Ý Đại Lợi,… khiến nhiều khi chả biết mình đang ở đâu. Tất cả các phương tiện truyền thông trong lịch sử đều gắn liền với một nền văn hóa, một ngôn ngữ, một bong bóng địa lý. Le Monde nói chuyện với người Pháp. NYT nói chuyện với người Mỹ. NHK nói chuyện với người Nhật. Mỗi phương tiện lọc thực tế qua lăng kính văn hóa địa phương của mình. Nhưng ngày nay, một người ở Hoa Kỳ như mình có thể mua báo NHK của Nhật Bản để hiểu thêm về á châu. Điển hình là khi mình đi âu châu, hôm nay thì mở mạng xã hội ở La Mã thì bao nhiêu đều hiện ra tiếng ý, rồi ngày mốt qua Pháp thì mở mạng xã hội thì lòi ra chữ pháp. Hôm trước đi Panama thì chữ Tây Ban Nha hiện ra khi mở mạng xã hội thì biết mình ở vùng nói tiếng Tây Ban Nha. Chơi nhớ dạo đi Thổ Nhĩ Kỳ thì hiện ra chữ Thổ Nhĩ Kỳ hay qua Tajikistan thì tiếng gif hiện ra, sợ nhất là khi sang nước georgia thì chữ của xứ này rất lạ.


X đang trở thành phương tiện truyền thông đầu tiên của nhân loại. Không phải của một quốc gia. Mà của cả loài người. Mình đang chứng kiến điều đó từng ngày. Bài đăng bằng tiếng Pháp của một ông tây được người Nhật retweet, người Brazil trả lời, người Mỹ trích dẫn. Những cuộc trò chuyện mà cách đây 5 năm không thể nào xảy ra. Một người theo chủ nghĩa tự do Pháp tranh luận với một kỹ sư Tokyo và một doanh nhân mễ tây cơ ngay dưới cùng một tweet. Không cần biên tập viên dịch. Được dịch tức thì bởi AI, chỉ với một cú click, thậm chí tự động. Những bong bóng lọc văn hóa đang vỡ tung. Một mạng xã hội hiệp chủng quốc.


Còn nếu mình vào Facebook thì chỉ liên lạc với các nhóm tiếng Việt thì người Việt khắp năm châu xúm lại còm bú xua la mua. Mình có bờ lốc mực tím sơn đen thì để ý là người Việt từ Hoa Kỳ, Việt Nam, âu châu, nhưng thay đổi. Như tuần này sau Hoa Kỳ thì Đức quốc nơi đọc bài của mình nhiều nhất. Trung Cộng cũng nhiều, nhưng điểm lạ là Tân Gia Ba lại có nhiều người đọc nên khó hiểu. Không biết lý do vượt tường lửa hay sao nhưng lại có Ấn Độ khá đông. Còn Trung Cộng thì mình nghe nói đó là công an.


Và chúng ta đang đánh giá thấp những hiệu ứng kép của điều này. Khi một ý tưởng có thể vượt qua đại dương chỉ trong 3 giây, khi một lập luận có dẫn chứng đăng ở Paris có thể được kiểm chứng bởi một nhà kinh tế ở Singapore và được khuếch đại bởi một lập trình viên ở Austin trong cùng một giờ, thì chi phí lan truyền của một ý tưởng tốt đang tiến gần về zero. 


Nhiều khi mình thấy một ông tây viết một bài rồi có một ông người nga, một kỳ thủ danh tiếng một thời lên tiếng, phản biện hay dẫn chứng này nọ, rồi một ông xứ Nigeria lên tiếng, rồi một bà nào ở Đài Loan xào lại,.. nên tầm nhìn của bài viết được nhiều người trên thế giới bình luận. Giúp mình học hỏi thêm cách nhìn của những người sống trên thế giới với văn hoá địa phương của họ, giúp mình có cái nhìn rộng hơn thay vì hạn hẹp như trước đây.


Và điều này là thảm họa đối với một loại tác nhân rất cụ thể: những phương tiện truyền thông đã xây dựng mô hình kinh doanh dựa trên độc quyền thông tin địa phương. Những nơi có thể nói bất cứ điều gì về “những gì đang xảy ra ở nơi khác” vì không ai có thể kiểm chứng. Ở Việt Nam thì nhà mình chỉ có máy truyền hình đâu 1, 2 năm trước khi mình đi tây nên cũng không để ý về tin tức trên đài truyền hình, chỉ đọc báo hàng ngày. Phần mình đọc trước tiên không phải là tin tức thời sự mà đọc truyện Kim Dung được dịch hàng ngày. Qua tây thì không có đài truyền hình, chỉ khi sang Hoa Kỳ thì mới mua đài truyền hình khi cưới vợ.


Các đài truyền hình này chiếm độc quyền về tin tức cũng như phim, hay các buổi hoà nhạc, phóng sự. Ngày nay với mạng xã hội thì sự tập trung quyền lực về truyền thông không còn nữa nên sự bùng nổ về thông tin khiến chúng ta phải mất thời gian kiểm chứng có thật hay không. Lúc đầu mình hay bị lầm về mấy cái tin bựa này nhưng nay thì bắt đầu nghi ngờ cần kiểm chứng lại.


Khi một nhà báo Pháp viết rằng “mô hình Mỹ không hiệu quả”, giờ đây có ngay 50 người Mỹ trong phần trả lời kèm theo nguồn. Khi một cây viết xã luận nói “Đan Mạch chứng minh chủ nghĩa xã hội thành công”, liền có người Đan Mạch giải thích rằng Đan Mạch xếp thứ 10 thế giới về tự do kinh tế. Điển hình khi vụ ông trump muốn mua Greenland, thiên hạ lên tiếng chửi bới ý tưởng này thì có một ông xứ Đan Mạch lên tiếng, kêu ý tưởng rất hay vì sẽ giúp trả nợ cho Đan Mạch, vì xứ này tốn tiền hàng năm mà lại chả làm gì được vì không có khả năng khai thác vùng này.


Fact-checking không còn là một bộ phận nữa. Nó trở thành hiệu ứng mạng lưới. Những phương tiện truyền thông trung thực không có gì phải sợ. Những phương tiện đã bán một câu chuyện được bảo vệ bởi sự thiếu hiểu biết địa lý của khán giả sẽ gặp vấn đề tồn vong. Vì chúng ta không thể còn nói dối ở quy mô địa phương khi cả thế giới đang nhìn vào. Như hôm trước, có ông người nga giải thích về người nga, ít dân mà đất đai của họ quá rộng lớn. Ông ta bị bắt đi cải tạo ở Tây Bá Lợi Á, mất 7 ngày đi xe lửa mới đến trại tù. Chính phủ Puchin tuyên truyền về tây phương như thời chiến tranh lạnh mà nay càng tinh vi hơn. Người dân không biết rõ về bên ngoài xứ này.


Có cái hay nhưng bù lại các mạng xã hội cũng là những cỗ máy phun ra hận thù, bài xích, bạo lực, phân biệt chủng tộc, bài Do Thái, kỳ thị đồng tính, kỳ thị người béo… thiên hạ nhảy vào chửi bới đủ trò. Nó là tấm gương phản chiếu xã hội nhưng không có bộ lọc. “Tự do của người này dừng lại nơi tự do của người kia bắt đầu.” Tự do ngôn luận là một quyền nhưng chúng ta không nhất quyết phải nghe họ nói. Nếu thấy nội dung không thể chấp nhận được, chúng ta hoàn toàn có quyền ngắt kết nối hoặc rời bỏ nó. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tại sao di dân lậu quan trọng cho năm 2030

 Di dân lậu và năm 2030


Ngày ngày thấy tin tức về tội phạm do các người di dân lậu khiến mình thất kinh. Lý do theo mình nghĩ một người ở lậu tại Hoa Kỳ, đa số là họ không muốn ai biết đến, chỉ lo làm lậu, kiếm tiền gửi về cho gia đình ở xứ họ. Chắc chắn sẽ có một số nhỏ phạm pháp này nọ nhưng tin tức được đưa lên báo chí, truyền hình khiến người xem có thể có một hiểu biết sai lệch về người di dân. Lý do là họ đề “Non-citizen” khiến thiên hạ hiểu lầm. Vì “Non-citizen” có thể là những người có thẻ xanh, có chiếu khán lao động, cư trú hợp pháp nhưng không phải công dân Hoa Kỳ. Buồn đời mình mò tài liệu để xem hư thật ra sao vì chính trị xen vào khiến người Mỹ có một hiểu biết sai lệch nhất là họ chỉ tin vào những gì đảng của họ nói.

Câu hỏi mình muốn tìm sự thật về di dân lậu gây tội ác nhiều hơn những người di dân hợp pháp hay người Mỹ sinh trưởng tại Hoa Kỳ. Câu trả lời là tuỳ theo các nguồn tin đọc hay xem và ủng hộ. Một bên thì cho thấy các người di dân đến Hoa Kỳ, chịu khó làm việc, tạo dựng một tương lai trên đất Mỹ. Bên kia thì đưa ra toàn tin tức về các tội ác của người di dân chính thức cũng như lậu. Tin tức của hai bên đều thật nhưng phải tìm các thống kê để hiểu sự thật vì hai bên đều dùng thống kê và thay đổi tuỳ theo lập trường của họ và đảng của họ đưa ra.

Incarceration and Conviction Rates
  • Compared to U.S.-Born: Multiple studies, including analyses of Texas Department of Public Safety data, have found that undocumented immigrants are, on average, less likely to be convicted of crimes or incarcerated than native-born Americans.
  • Texas Data (2013-2022): Research from the Cato Institute indicated that the homicide conviction rate in Texas for illegal immigrants was 2.2 per 100,000, compared to 3.0 per 100,000 for native-born Americans.
  • Long-Term Trends: Research from the Proceedings of the National Academy of Sciences suggests that undocumented immigrants are roughly half as likely to be arrested for violent and property crimes as U.S.-born citizens.
  • Incarceration Rates: A 2021 study indicated that undocumented immigrants are 33% to 60% less likely to be incarcerated than U.S.-born individuals.

Theo thống kê thì người di dân lậu gây tội ác thấp hơn người Mỹ. Nếu đánh máy hỏi các trí tuệ nhân tạo thì đều nói như nhau. Vấn đề là các tin tức thống kê của các AI đều sử dụng một nghiên cứu độc nhất một tiểu bang dù Hoa Kỳ có đến 50 tiểu bang. Đó là tiểu bang Texas. Lý do là ngân sách của mỗi tiểu bang không cho phép, trong khi tiểu bang Texas nằm ngay biên giới Mễ-Hoa Kỳ nên phải làm.


Vấn đề là các chính trị gia, giới hàn lâm, ký giả, các hội bất vụ lợi,…đều tuyên bố là họ nói sự thật. Thật ra họ đều bựa, phản đạo đức cách mạng hết. Chúng ta có thể tìm các dữ liệu mong muốn từ số người á châu, phụ nữ bị chết đuối 10 năm trước hay hôm qua, tỷ lệ phụ nữ á đông không có bằng đại học. Nhưng Hoa Kỳ không truy tìm số di dân lậu phạm pháp, bị bắt hay ở tù. Lấy thí dụ, cơ quan FBI có trên 3,500 nhân viên mà ông Trump đòi dẹp hay dọn chỗ khác, có thể cho chúng ta biết chút dữ liệu về các di dân hợp pháp bị giam trong tù liên bang nhưng không ai biết số người di dân lậu bị giam giữ. Nhưng mỗi ngày chúng ta thấy tin tức ào ào về các di dân lậu hiếp dâm rồi giết người này nọ,… tuyên truyền cho một chính sách.


Cái mất dạy là họ không biết gì cả trong các trại tù tiểu bang, các nơi chứa 90% tù nhân khắp nước mỹ. FBI có hỏi các cơ quan nhà tù ở tiểu bang nhưng không được trả lời. Sẽ kể lý do sau này. Khi một người bị bắt, cảnh sát viên địa phương sẽ kiểm soát tên tuổi. Vợ mình khi xưa làm phần mềm cho các cơ quan cảnh sát khắp nước mỹ. Để kết nối các người có tiền án nên khi cảnh sát bắt được ai là trong vài giây đồng hồ là có thể phát hiện ra tiểu sử người bị chận xe hay bắt. Nhưng không có tin tức gì về diện cư trú, đã từng bị dẫn độ hay dấu lăn tay…


Cho nên khi các chính trị gia, giáo sư hàm lâm, ký giả cho rằng họ biết tỷ lệ, con số về tội phạm này nọ, là họ bựa hết vì không ai có thể xét lại được. Vì các dữ liệu về vấn nạn này không có.

https://youtu.be/BlRdyclVzzg

Thử xem hai nghiên cứu, một do Libertarian Kato Institute, một tổ chức thiên di dân và một nghiên cứu thứ hai do các giáo sư nghiên cứu. Cả hai đều dùng các dữ liệu của nhà tù của Texas. Kato thì cho rằng từ 2012 đến 2018, các di dân lậu ở Texas phạm tội thấp hơn các người Mỹ sinh trưởng tại Hoa Kỳ đến 42%. Về tội ác giết người thì 25% thấp hơn người Mỹ địa phương. Nói chung cả hai nghiên cứu này đều đồng ý thì theo hàng năm, người di dân lậu ít phạm tội, bị bỏ tù.


Vấn đề là các đài truyền hình, sách báo đều tung tin khác với hai nghiên cứu của hai bên. Lý do là khi cảnh sát địa phương bắt một người thì không biết tình trạng di trú của người đó để có thể gọi là di dân lậu hay chính thức, có thẻ xanh. Họ chỉ dựa vào các tin tức của những người đã từng bị dẫn độ, mới có tên trong sổ phong thần. Có ông mỹ gốc mễ, kể là bố ông ta vượt biên giới năm 1965 mất 9 lần. Cứ qua biên giới bị bắt, biên phòng chở đến biên giới MỸ-Mễ thả về, ông ta lại tiếp tục. Mấy người như vậy thì có tên trong sổ phong thần. Còn những người vượt qua an toàn rồi trốn luôn thì không ai biết đến. Người ta khám phá ra có 11,000 người được xem là di dân lậu khi họ bị nhốt trong các nhà tù của tiểu bang Texas. Trong khi đó cả triệu người di dân lậu chưa bao giờ bị bắt hay dẫn độ thì đâu biết con số chính thức.


Thường thì người ta dùng số người di dân lậu phạm pháp chia với tổng số người di dân lậu nhưng đây chúng ta không biết bao nhiêu người di dân lậu thì làm sao có thể làm thống kê. Người ta chỉ ướt lượng thôi từ 11-22 triệu người, xem như độ 3.2% đến 6.4% dân số Hoa Kỳ. Riêng Cali thì nghe nói có đến 5 triệu người thì xem như 12-15% dân số Cali. Do đó khó mà có con số chính xác về tỷ lệ tội phạm di dân lậu. Ngoài ra tuỳ khu vực nữa. Thí dụ vùng San Francisco thì ít tội phạm trong khi ở vùng Oakland gần đó thì lại cao. Hình như tuần này, có tin một người Mỹ gốc Việt giết bà mẹ vì cãi nhau này nọ tại thành phố này. 


Cho thấy các nghiên cứu về tội ác của người di dân lậu hoàn toàn sai. Goverment Accountability Office cho biết 1/3 các tù nhân liên bang là “non-citizen”, không phải công dân Hoa Kỳ nhưng “non-citizen” có nghĩa là những người có thẻ xanh, ngoài ra những người này được xem là vi phạm luật di trú của Hoa Kỳ, một tội liên bang nhưng không phải tội của tiểu bang. Chỉ có độ 10% các tù nhân này bị giam trong các trại giam liên bang.


Có vấn đề thêm là States Criminal Allien Assistance Program (SCAP), một chương trình của liên bang, được thành lập vào năm 1994 nhằm trả tiền cho các tiểu bang giam các người di dân lậu. Nghĩa là càng có di dân lậu bị giam thì các tiểu bang này nhận được thêm tiền từ liên bang. Nghe nói $57,000/ người. Có những nhóm nghiên cứu các dữ liệu của SCAP, họ khám phá ra các di dân lậu bị giam tại các tiểu bang như Cali, New York, gấp 4 lần các tiểu bang gần đó như Arizona và New Jersey. Mình có mua cổ phiếu của công ty lo các trại giam tư nhân vì nhà tù tiểu bang đã quá tải. Các tiểu bang ăn tiền liên bang rồi bán cái cho các trại giam tư nhân rẻ hơn, bỏ tiền vô túi. Không biết cho ngân sách tiểu bang hay túi của các cán bộ, đại biểu. Càng có tù thì càng có tiền nên vô tư.


Vụ di dân này tốn tiền cho Hoa Kỳ rất nhiều nên mình hiểu lý do chính phủ Hoa Kỳ muốn giảm vụ này. Chúng ta nên nhớ thế hệ BabyBoom về hưu mà chính phủ không có tiền trả tiền hưu trí và y tế cho họ. Khi an sinh xã hội được thành lập, người Mỹ trung bình chết vào lứa tuổi 63.5 tuổi nghĩa là 18 tháng trước khi nhận được tấm ngân phiếu đầu tiên khi về hưu. Ngày nay người Mỹ sống đến 75 tuổi còn phụ nữ thì 82 tuổi nghĩa là sống thêm 10-17 năm. Do đó không có tiền. Vì dạo ấy 25 người Mỹ đi làm để nuôi một người Mỹ về hưu trong khi ngày nay thì 10 người đi làm để nuôi một người về hưu và họ tính đến năm 2035 thì 5 người đi làm nuôi một người.


Vấn đề là người di dân lậu không đóng thuế, không đóng tiền bảo hiểm, khi đau ốm họ cứ chạy vào nhà thương phòng cấp cứu thì bắt buộc bác sĩ nhà thương chữa bệnh nhưng không có tiền trả hay an sinh xã hội để đòi.


Mình xem dữ liệu dẫn độ di dân lậu của tổng thống Obama thì thấy rất cao. Nhưng nhìn kỹ cách thức dẫn độ dạo ấy như sau: chính phủ của ông Obama thay đổi từ ngữ dẫn độ. Thường đuổi về (return) là khi một người vượt biên giới bị bắt thì biên phòng kêu trở về bên kia biên giới. Những người này không được liệt kê vào danh sách của những người bị dẫn độ chính thức (formal deportation). Chính phủ Obama gom cả hai dữ liệu này khiến tổng số dẫn độ lên cao ngất mây xanh, tạo dựng một chính phủ chống di dân lậu để chuẩn bị đạo luật ACA, con em của những người di dân lậu, được mang theo. Muốn giới này được hợp thức hoá. Họ sẽ bầu cho đảng Dân CHủ. Do đó đảng Cộng Hoà cản trở.


Đến thời ông BIden thì còn cao hơn. Có ứng dụng Borrower Patrol One được người di dân lậu tải về khi qua biên giới cứ kêu là tỵ nạn, nộp đơn qua ứng dụng rồi hẹn ngày ra toà, 4-6 năm chờ đợi để được duyệt xét tỵ nạn chính trị. Người tàu chạy qua biên giới kêu là không được thờ phụng chúa ở Trung Cộng thế là được nạp đơn tỵ nạn tôn giáo, đợi ngày ra toà 4-6 năm sau rồi kêu người nhà đến đón. Mình có xem một phim tài liệu 2 tiếng của đài truyền hình Tân Gia Ba đi theo hai cặp người Tàu từ Trung Cộng qua Equador, rồi đi xe buýt đến biên giới Mỹ Mễ. Rồi bà phóng viên đứng đợi bên kia biên giới Mỹ để quay mấy cặp người Tàu vượt biên giới. Sau đó thì có người quen họ hàng đến đón chở đi đâu trên Los Angeles ở.


Theo dữ liệu thì thời bác Biden, có đến hơn 800,000 nộp đơn cứu xét tỵ nạn ở biên giới. Trước đó, họ được xem là di dân lậu. Đến năm 2025, thì ông Trump bỏ vụ này. Để mình giải thích lý do người Mỹ đa số không thích ông Trump nhưng lại bầu cho ông ta. Nhớ dưới thời bác BIden, cho dân di dân lậu qua biên giới như đi chợ. Thống đốc tiều bang Texas, buồn đời, ông ta mướn xe buýt chở mấy người di dân lậu lên các tiểu bang, thành phố rêu rao là di dân là tự do bú xua la mua. Khi xe buýt chở mấy người này lên New York, Boston,…khiến dân tình mấy chỗ này kêu không muốn di dân lậu ở vùng này, họ cho cảnh vệ quốc gia hốt hết chở đi đâu mình không theo dõi. Nhờ các hình ảnh này mà ông Trump cứ rao rảo và được người Mỹ lưng chừng bầu nhiều.


 Họ cho biết thời bác Biden trong một năm có đến 2.4 triệu người di dân. Có một ông thần kêu trả $50,000 để được vợ con đưa qua biên giới. Buồn cười là khi nói chuyện với người gốc Mễ, họ tò mò hỏi mình sao nói tiếng mễ. Mình nói là Coyote. Tiếng lóng nghĩa là người đưa di dân lậu qua biên giới. Mấy người này xin điện thoại rồi hai ba ngày sau gọi mình nhờ đưa họ hàng của họ qua biên giới. Mình nói bỏ nghề rồi vì quá nguy hiểm. Chán Mớ Đời 


Mà từ khi ông Trump lên nắm chính quyền thì số người vượt biên xuống thấp nhất từ 50 năm nay. Vấn đề là chính phủ Trump muốn thay đổi hạ tầng cơ sở về di dân. Họ gọi là 287(g). Đó là chương trình liên bang mà ICE phụ giúp các chính quyền địa phương có thể kết nối với dữ liệu liên bang. Nhớ là khi một người di dân bị bắt trong tiểu bang hợp tác với chính phủ liên bang thì họ có thể kiểm điểm qua hệ thống an ninh DHS. Nếu được biết là di dân lậu thì cơ quan ICE sẽ được thông báo và sẽ gửi người đến nhà bắt. Chúng ta thấy cách đây mấy tuần có một ông nào bị bắt khi bận quần áo không được ấm khiến phía dân chủ lên tiếng kêu lã dã man. Nếu hiểu chương trình này thì mới hiểu làm sao ICE có thể biết người di dân lậu ở đâu để đến bắt. Và người báo động cho di dân lậu, mình đoán là họ làm trong các cơ quan cảnh sát,… năm 2030 sắp tới sẽ có Census mới thì mình đoán là các người di dân lậu sẽ không dám ghi tên vì sợ La Migra tìm đến nhà.


The 287(g) program is a partnership between U.S. Immigration and Customs Enforcement (ICE) and state/local law enforcement, allowing trained local officers to perform designated immigration enforcement functions, such as identifying, detaining, and processing noncitizens booked into local jails


Thật ra chương trình này đã có từ thời bác Obama, có đến 35 trường hợp  287(g) nhưng đến thời ông Trump nhiệm kỳ thứ nhất thì gia tăng lên 150 và kỳ này thì 255 đồng thuận với cơ quan địa phương. Tiểu bang Florida ngày nay bắt buộc các cơ quan giam tù phải tham gia. Tiểu bang Texas cũng bắt buộc các ty cảnh sát trong thành phố tham gia chương trình này.


Các tiểu bang do đảng Dân Chủ nắm chính quyền như Cali thì không tham gia chưởng trình này. Năm vừa qua 52% số người bị bắt bởi ICE đều do dữ liệu từ các trại giam hợp tác trong các tiểu bang theo đảng Cộng Hoà. Như tiểu bang Texas ICE bắt được 27,000 vụ từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2025. Di dân lậu ở Florida và Texas nguy cơ bị bắt nhiều hơn tại CAli. Mình nhớ có anh bạn làm việc tại tiểu bang Arizona kể là lúc ông Trump lên lần trước, tiểu bang Arizona ICE kiếm lùng bắt di dân lậu nên dân đây bỏ chạy qua Cali hết.


Vấn đề di dân lậu rất quan trọng. Mình mới khám phá ra vụ này. Di dân lậu sẽ chọn tiểu bang để sinh sống. Các tiểu bang Cộng hoà sẽ thấy di dân lậu suy giảm trong khi các tiểu bang theo Dân Chủ sẽ có di dân lậu gia tăng để chuẩn bị cho Census 2030.


Hiện nay, các tiểu bang có ghế quốc hội, Hạ Viện dựa trên tổng số dân số của tiểu bang, dân số chớ không tính công dân Hoa Kỳ. Nhiều dân số thì có nhiều ghế quốc hội và electoral college votes bất kể là công dân hay không. Do đó đảng Cộng Hoà muốn đi bầu phải cần có quốc tịch Hoa Kỳ trong khi đảng dân Chủ thì chống. Nếu các tiểu bang Đỏ dẫn độ đuổi di dân thì sẽ mất vài ghế ở Quốc hỘi trong khi các tiểu bang Xanh có thêm vài ghế thì bầu phiếu về luật mới sẽ có lợi cho đảng Dân CHủ.


Khi mình mới sang Hoa Kỳ, tiểu bang Cali là một tiểu bang đa số là cử tri của đảng Cộng Hoà. Tổng thống Reagan từng là thống đốc của tiểu bang này nhưng rồi ông ta đồng ý cho ân xá các người di dân lậu. Ông Gignac mà mình quen ở pháp có một người con trai ở lậu tại Cali. Có vợ có con nhưng không về thăm gia đình được. Sau được ân xá của tổng thống Reagan thì về Pháp với vợ con gặp lại gia đình sau cả 20 năm. Và từ từ tiểu bang này trở thành quê hương đồng khởi thành trì chống đảng Cộng Hoà. Xem như ngày nay 70% cử tri bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, thêm Census cho thấy có thêm nhiều dân số với người di dân lậu mà họ ước tính là trên 5 triệu người hay độ 15% dân số.


Nay đảng Cộng Hoà tìm cách ra luật đi bầu phải có quốc tịch Hoa Kỳ trong khi đảng Dân Chủ thì chống. Tiểu bang theo cộng hòa ít dân số sẽ bị giảm số ghế đại biểu trong khi các tiểu bang dân chỉ có di dân lậu nhiều sẽ gia tăng số ghế đại biểu quốc hội. Thế là dân chủ năm quyền suốt đời. 


Do Đó di dân lậu và Census sắp tới là cuộc chiến sinh tử chính trị của Hoa Kỳ cho năm 2030 sắp tới. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Câu chuyện tình già 3 giờ sáng

Đi Tân Gia Ba chơi với Bà cụ và đồng chí gái thì rất cảm động khi nghe bà cụ kêu “đẹp quá con hỉ”, kêu gặp lại mình như trẻ hơn 10 tuổi. Trong chuyến đi mình có đọc được một câu chuyện về một người sở tại lớn tuổi, bà vợ qua đời, để lại ông một cuộc sống vắng vẻ, buồn chán. Xin tóm tắc như sau:

Người đàn ông goá vợ, mỗi ngày ra quán cơm ngồi ăn một mình trong nổi cô đơn trống vắng khi người vợ đã qua đời. Khi chúng ta mất đi mới quý sự hiện diện của người bạn đời

 Tôi sống ở Bukit Ho Swee. Khu tập thể cũ. Loại HDB sơn màu pastel đã phai, hành lang hẹp đến mức hàng xóm nghe được cả tiếng bạn hắt xì. Ở đây yên tĩnh. Không phải kiểu yên bình. Mà là kiểu ai ở nhà nấy, đóng cổng sớm, không ai dây với ai. Nghe kể là 80% căn hộ ở Tân gia Ba thuộc của chính phủ nên mua hay thuê rẻ.

Dưới nhà có một quán cà phê. Chẳng có gì đặc biệt. Ghế nhựa, đèn huỳnh quang chói mắt. Một quán zi char, một quầy nước, một quán cơm bình dân, và một dì bán bánh mì kaya buổi sáng. Loại chỗ mà khách du lịch sẽ chẳng bao giờ tìm thấy, còn người Singapore thì đi ngang qua mỗi ngày mà không buồn nhìn. Gia đình mình có trải nghiệm, ăn trong vài quán bình dân kiểu này nhưng kêu thức ăn đều qua điện thoại di động. Được cái là thức ăn ngon, hỏi khách sạn thì họ chỉ đến mấy chỗ này. Đến tân Gia Ba hay mưa mùa đó nên cầm ô đi vòng vòng gần khách sạn.

Tôi bắt đầu để ý tới ông ấy khoảng một năm trước. Tối nào cũng vậy. 6 giờ 30. Cùng một bàn. Cùng một góc, quay mặt về phía cái TV chẳng ai xem. Ông ngồi xuống, gọi một ly kopi-o kosong và một dĩa cơm. Lúc nào cũng là cơm bình dân. Lúc nào cũng giống nhau: một món mặn, một món rau. Không thêm thắt. Ông ăn chậm. Không phải vì muốn thưởng thức, mà vì ăn xong rồi cũng chẳng biết đi đâu nữa.

Ăn xong, ông không về. Ông cứ ngồi đó, nhìn xuống mặt bàn. Thỉnh thoảng nhìn người qua lại. Thỉnh thoảng chỉ ngó hai bàn tay của mình. Ông chủ quầy nước sẽ tự động châm thêm kopi cho ông, không cần hỏi. Kiểu 1 thỏa hiệp im lặng được xây bằng nhiều năm, dù chẳng biết tên nhau.

Một tối, tôi xuống mua đồ ăn mang về, quán gần như trống trơn. Chỉ có ông ấy, tôi, và ông chủ quầy nước đang lau quầy. Tôi ngồi cách hai bàn. Vừa ăn vừa lướt điện thoại. Như ai cũng vẫn làm. Rồi tôi nghe thấy gì đó. Rất nhỏ. Gần như không có. Nhưng trong một quán cà phê trống lúc 8 giờ tối, bất cứ âm thanh nào bạn cũng nghe được.

Ông đang nói chuyện. Với cái ghế trống phía đối diện. Không lớn tiếng. Không điên loạn. Chỉ là đang nói chuyện. Giọng điệu của người nói với một người từng ngồi đó. “Hôm nay nóng quá ha. Bà lúc nào cũng nói tôi uống nhiều nước. Tôi uống rồi mà.”  Ông ngừng lại, như chờ ai trả lời. “Con cá hôm nay cũng được. Bà sẽ nói mặn quá. Cái gì trong mắt bà cũng mặn hết.” Tôi đặt điện thoại xuống.

Ông nói chuyện với cái ghế đó suốt mười phút. Về thời tiết. Về đồ ăn. Về một chương trình trên Channel 8 ông xem chiều nay. Những chuyện bình thường. Chuyện vụn vặt hằng ngày. Kiểu chuyện chỉ kể cho người đã cùng mình đi qua cả đời. Nói xong, ông gấp khăn giấy, đặt lên dĩa, rồi lại ngồi đó. Im lặng. Hai tay đặt trên bàn. Như thể cuộc trò chuyện đã kết thúc, và giờ họ chỉ ngồi cạnh nhau. Kiểu như những cặp vợ chồng già vẫn làm. Tôi không rời mắt được. Mà cũng không dám nhìn thẳng. Tôi cứ giả vờ ăn, nhưng trong ngực như có cái gì đó vừa rạn nứt ra.

Đêm nào ông cũng đến. Tôi bắt đầu để ý kỹ hơn. Thứ Hai. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Ghế trống. Thứ Ba. Vẫn vậy. Thứ Tư. Vẫn vậy. Thứ Năm…ông gọi hai ly kopi. Đặt một ly bên kia bàn. Không hề động tới. Để nó nguội lạnh. Đêm đó tôi chuyển bàn. Không có kế hoạch. Không chuẩn bị câu nào. Tôi chỉ bưng dĩa cơm sang ngồi ngay bàn bên cạnh. Đủ gần để mở lời. Đủ xa để nếu cần thì vẫn giả vờ như chẳng quen.

Chú, cơm bình dân ở đây cũng được ha?” Ông ngẩng lên, ngạc nhiên. Như thể quên mất rằng vẫn có người nhìn thấy ông. “Cũng được. Nhưng hồi trước ngon hơn. Cô bán trước…wah, thịt kho tàu của cổ. Vợ tôi lúc nào cũng gọi gấp đôi phần.” Lần đầu tiên ông nhắc đến bà với một người lạ. Có lẽ cũng là lần đầu ông nói chuyện đàng hoàng với ai đó trong quán này sau rất lâu.

Ông tên là Tân. Bảy mươi tám tuổi. Sống tầng chín. Cùng block với tôi. Ở đó từ năm 1970, ngay sau khi kampung cũ bị dỡ sau vụ cháy. Nuôi ba đứa con trong một căn hộ ba phòng. Lái xe buýt cho SBS suốt ba mươi lăm năm. Nghỉ hưu năm 2003. Vợ ông mất hai năm trước. Đột quỵ. Nhanh. Bà đang ở chợ Beo Crescent một buổi sáng, mua ikan bilis thì ngã xuống ngay cạnh sạp rau. Xe cấp cứu tới SGH thì bà đã đi rồi.

“Bà đi chợ mỗi ngày đó. Ngày nào cũng đi. Mưa cũng đi. Tôi nói, ‘Aiyah, hôm nay đừng đi nữa.’ Bà nói, ‘Vậy tối nay ông ăn gì?’ Ông cười khi kể. Nụ cười như được giữ lại bằng những sợi chỉ mỏng manh.

Bà đi rồi, tôi chẳng biết làm gì. Năm mươi hai năm bà nấu cho tôi. Giặt đồ. Nhắc tôi uống thuốc. Tôi còn không biết bật máy giặt sao nữa. Năm mươi hai năm mà tôi không tự giặt nổi quần áo mình.”Ông tự học. Bằng YouTube. Ở tuổi bảy mươi tám. Thằng cháu trai chỉ cho ông một lần, dịp Tết Âm lịch…lần cuối cùng có ai đến thăm. Giờ ông thức lúc 2 giờ sáng xem video nấu ăn vì không ngủ được, mà căn nhà thì quá yên tĩnh.

Anh biết cái gì tệ nhất không? Không phải nấu ăn. Không phải dọn dẹp. Tệ nhất là giờ ăn tối. Mỗi tối, 6 giờ, bà ngồi ở bàn bếp. Hai đứa ăn với nhau. Nói chuyện tào lao. Than phiền hàng xóm. Cười những chuyện cũ rích. Giờ tôi ngồi đó, cái ghế trống. Nhà yên đến mức tôi nghe rõ tiếng kim đồng hồ.

Đó là lý do ông xuống quán cà phê. Không phải vì đồ ăn. Mà là vì tiếng người. Vì âm thanh của những người khác đang sống. Bởi trên căn hộ phía trên, mọi thứ như một bảo tàng của người đã mất, và sự im lặng ở đó là kiểu im lặng khiến người ta quên rằng mình vẫn còn thở.

Tôi hỏi về con cái ông. Ông im lặng. Một khoảng im dài. “Con trai tôi ở KL. Đi làm. Thỉnh thoảng gọi. Chắc một tháng một lần. Rất nhanh. ‘Ba, ba khỏe không?’ ‘Khỏe.’ ‘Rồi, bye.’ Vậy đó. Con gái…ở Woodlands. Xa. Nó có gia đình riêng. Hai đứa nhỏ. Bận. Tôi hiểu. Ở Singapore mà. Lần cuối tôi gặp nó là dịp Thanh Minh. Đi nghĩa trang chung. Xong rồi thôi.”

Còn cháu ngoại, cháu nội thì sao chú?” “Thằng cháu đó hả. Nó đang đi nghĩa vụ quân sự. Nó nhắn tin chúc mừng sinh nhật tôi vào tháng Chín. Nhầm tháng. Sinh nhật tôi là tháng Ba.” Ông cười. Nhưng không phải kiểu buồn cười.

Tôi không trách tụi nó. Cuộc sống Singapore mà. Ai cũng bận. HDB mắc. Con cái thì học thêm. Công việc thì tăng ca. Làm xong hết mấy thứ đó, còn thời gian đâu nữa. Tôi hồi đó cũng vậy. Mẹ tôi…tôi gửi bà vô viện dưỡng lão ở Yishun. Nói cuối tuần ghé. Mà lâu lâu lại bận. Bà không nói gì. Nhưng giờ tôi hiểu cái mặt bà lúc đó muốn nói gì rồi.”

Ông nhìn sang cái ghế trống. “Giờ tôi là người ngồi chờ. Buồn cười ha. Đời đúng là vòng tròn.” Tôi bắt đầu ngồi với ông. Không phải tối nào. Nhưng đa phần tối. Tuần ba, bốn lần, tôi xuống lúc 6 giờ 30, mua đồ ăn rồi ngồi vào bàn của ông. Có lúc nói chuyện. Có lúc chỉ ăn trong im lặng. Cả hai cùng nhìn cái TV chẳng ai xem, ăn cơm bình dân, chỉ đơn giản là có mặt ở đó.

Ông kể tôi nghe chuyện đi lái xe buýt hai mươi năm. Cùng một tuyến: Bukit Merah tới Tampines. Ông thuộc mặt khách quen. Cô dì lúc nào cũng chuẩn từng đồng lẻ. Đám học sinh chạy hộc tốc bắt xe ở Queenstown. Một cô gái trẻ đi xe mỗi sáng suốt ba năm, rồi tự nhiên biến mất…tới giờ ông vẫn tự hỏi không biết đời cô ấy rẽ đi đâu.

Ông kể về vợ mình. Cách bà trả giá với ông bán cá ở chợ Beo Crescent mỗi sáng chỉ vì hai chục xu. Cách bà cất tất cả phong bao lì xì Tết trong một cái hộp thiếc dưới gầm giường…bốn mươi năm tiền lì xì không mở ra đếm. Cách bà ngân nga mấy bài hát tiếng Phúc Kiến khi nấu ăn mà không hề biết mình đang hát.

Tôi nhớ nhất là tiếng bà ngân nga. Anh biết không, khi một người ở bên mình mỗi ngày, mình không còn nghe họ nữa. Rồi họ đi. Tự nhiên cái im lặng ồn ào kinh khủng.”

Một tối thứ Năm, ông không đến. 6 giờ 30. 7 giờ. 7 giờ 30. Bàn của ông trống trơn. Tôi lên nhà. Tầng chín. Gõ cửa. Không ai trả lời. Tôi gõ thêm lần nữa. Cửa mở. Ông mặc áo ba lỗ, quần đùi. Mắt đỏ. Trên tay cầm một khung ảnh.

Chú khoẻ chứ? Hôm nay chú không xuống.”

“Hôm nay là sinh nhật bà.” Ông đưa tôi xem tấm hình. Một người phụ nữ trẻ, mặc sườn xám đỏ, cười rạng rỡ. “Năm 1971. Năm đầu tụi tôi cưới nhau.” Cả ngày ông ở trong nhà. Ngồi nhìn hình. Nói chuyện với bà. Nấu món bà thích nhất, cá hấp gừng với xì dầu, rồi bày lên bàn.

Hai cái dĩa. Hai chén cơm. Hai đôi đũa.

Năm nào tới sinh nhật bà tôi cũng nấu cho bà. Tôi biết bà không còn ở đây. Nhưng tay tôi vẫn nhớ bà thích ăn thế nào. Gừng phải xắt thiệt mỏng. Xì dầu không được nhiều. Nếu tôi ngừng nấu, thì chẳng còn ai trên đời nhớ được bà thích ăn cá thế nào nữa. Vậy là bà mất luôn thiệt rồi.”

Tôi ngồi xuống. Hai chú cháu ăn với nhau. Cá rất ngon. Gừng mỏng. Xì dầu vừa miệng. Đêm đó về đến nhà, tôi gọi cho mẹ. Bình thường hai mẹ con nói chuyện khoảng tuần một lần. Ngắn gọn. “Má ăn cơm chưa?” “Ăn rồi.” “Vậy ha.” “Ừ.” Như kịch bản học thuộc lòng. Nhanh gọn, kiểu Singapore.

Nhưng tối đó tôi nói lâu hơn. Ba mươi phút. Tôi hỏi má về một ngày của má. Má nấu gì. Hàng xóm dưới nhà còn chơi mạt chược tới nửa đêm không. Lúc đầu má có vẻ ngạc nhiên. “Sao hôm nay con hỏi nhiều vậy? Con có chuyện gì không?” “Con không sao, má. Chỉ muốn nói chuyện thôi.”

Đầu dây bên kia im lặng một chút. Rồi má tôi nói một câu đã rất lâu tôi không nghe. “Má mừng vì con gọi. Nhà dạo này yên lắm.” Nhà dạo này yên lắm. Y chang câu ông Tân nói. Cùng những chữ đó. Cùng cái tông giọng đó. Chỉ khác người.

Ông Tân vẫn đến quán mỗi tối. 6 giờ 30. Bàn trong góc. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Tôi cũng ngồi với ông hầu hết các tối. Trở thành thói quen. Thỉnh thoảng ông chủ quầy nước rảnh tay cũng qua ngồi chừng mười phút. Có hôm dì bán zi char gửi sang thêm một đĩa đồ ăn.

Cho chú Tân, nói là quán mời.”

Một cái bàn nhỏ ở quán cà phê Bukit Ho Swee. Đôi khi ba, bốn người. Đa phần là hai. Đó là cả thế giới của ông bây giờ.

Tuần trước, ông nói một câu mà tới giờ tôi vẫn không ngừng nghĩ tới.

Anh biết không, hồi đó tôi lái xe buýt. Mỗi ngày tôi chạy ngang qua bao nhiêu người. Hàng ngàn. Tôi thấy họ nhưng chẳng biết họ là ai. Giờ tôi già. Tôi ngồi đây. Người ta đi ngang qua. Họ thấy tôi mà chẳng biết tôi là ai. Cũng vậy thôi. Chỉ là bây giờ tôi là người ngồi ở trạm xe buýt.”

Ông nhấp một ngụm kopi.

Còn anh. Anh ngồi xuống. Anh ăn với tôi. Anh nghe một ông già nói tào lao về vợ, về xe buýt, về con cá. Không ai bắt anh làm vậy. Nhưng anh làm. Và tôi muốn nói với anh…đây là điều quan trọng nhất có người làm cho tôi từ ngày bà mất tới giờ.”

Tôi không biết trả lời sao. Chỉ nói: “Mai, giờ này nữa hả chú?

Giờ này chứ đâu. Tôi còn chỗ nào để đi đâu.”

Ông cười. Lần này là nụ cười thật sự.

Đó là câu chuyện của ông. Và từ khi đọc xong, tôi không còn như trước nữa.

Điều tôi rút ra là:

Ba mẹ chúng ta sẽ không nói với chúng ta là họ cô đơn. Họ sẽ không bảo, “Nhà im lắm.” Họ sẽ không thú thật là họ đang nói chuyện với một cái ghế trống trong bữa tối. Họ sẽ chỉ nói, “Má/ba khoẻ.” Họ sẽ nói, “Đừng lo.” Họ sẽ nói, “Con bận mà, không sao, để lần sau.

Nhưng “lần sau” rồi lần sau thành tháng sau rồi tháng sau thành Tết rồi năm sau và năm sau….

Rồi một ngày, chính chúng ta sẽ là người ngồi ở quán cà phê, nói chuyện với cái ghế trống, ước gì có ai ngồi xuống với mình. Chúng ta không cần phải bay về nhà. Không cần một cử chỉ hoành tráng. Không phải sửa hết mọi thứ. Chỉ cần gọi. Nói chuyện lâu hơn hai phút. Hỏi hôm nay họ ăn gì. Hỏi về hàng xóm. Hỏi những chuyện không đầu không đuôi. Để họ có người mà kể.

Hoặc tốt hơn nữa…nếu có thể, hãy bước xuống nhà. Đi tới quán cà phê. Ngồi với họ. Ăn dĩa cơm bình dân đó. Xem cái TV chẳng ai để ý. Không biết nói gì cũng không sao. Chỉ cần có mặt ở đó. Vì sẽ đến một ngày cái ghế đó trống thật sự. Và chúng ta sẽ ước gì được nghe họ than món cá mặn thêm một lần nữa. Đừng đợi tới khi cái ghế trống rồi mới nhận ra trước đó nó đầy ắp. Tối nay, hãy ngồi xuống cạnh ai đó.

Câu chuyện nói về người già như mình, từ từ con cháu dọn ra riêng, lủi thủi còn hai vợ chồng. Nhưng rồi một ngày sẽ đến, người chồng hay người vợ ra đi trước, để lại nổi trống vắng của cuộc đời. Chúng ta khi xưa bận con cái, công ăn việc làm nên không có thời gian để ý đến cha mẹ rồi khi có chút thời gian thì cha mẹ đã vắn số, để rồi có người kêu đổi thiên thu để thấy nụ cười của mẹ.

Như ông Tân, vợ chết sớm, chả biết làm gì ngoài sự trống vắng. Ông ta xuống quán ăn để khẳng định mình là có mặt trên cỏi đời vì thức ăn không ngon như vợ nấu nhưng cũng phải ăn vì lo sợ cái im lặng ồn ào trong căn hộ của mình. Mỗi tuần mình cố gắng nói chuyện với bà cụ ở Đà Lạt. Cố nhìn mụ vợ, ôm mụ mỗi ngày vì biết đâu một ngày nào đó, sẽ không còn thấy nhau. Câu chuyện hơi tiêu cực nhưng cũng khiến mình suy nghĩ về cuộc đời.

Đi chơi mà đọc câu chuyện thật về cuộc đời nên hơi buồn. Nghĩ lại thì bà vợ của ông này hên là đi sớm, trước ông ta. Vì nếu ông ta đi trước thì bà ta còn buồn hơn cả ông chồng. Mình thấy bố vợ mình qua đời sớm nên mẹ vợ loay hoay buồn vì không có ai cãi nhau hàng ngày. Cái may đến là trả nhớ về không. Như ông anh vợ nói là may mẹ trả nhớ về không, giúp con cháu từ từ quen với cảnh xa mẹ và quên mẹ dần dần nên khi mẹ qua đời, con cháu bớt đau khổ. Vì đã quen xa cách mẹ vài năm trước, không nhận ra con cháu.

Nàng trao một nữa nỤ cười

Làm Ta mất một đời làm ô-sin

https://youtu.be/BlRdyclVzzg

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn