Bạn hàng của Mẹ

Mình ra chợ Đà Lạt mỗi ngày từ khi còn nằm trong bụng mẹ đến khi đi Tây. Bà cụ mình, khởi nghề buôn bán ở chợ Cũ (khu Hoà Bình), trước đó người ta gọi Chợ Gỗ, hay Chợ Cây vì cấu trúc làm bằng gỗ ván ép xây vào năm 1932.

Đến thời thị trưởng Trần VĂn Phước, cho xây dựng một ngôi chợ mới rộng lớn hơn do người Việt di dân đến Đà Lạt rất nhiều sau 1954 và tân trang lại Chợ Cũ thành hí viện Hoà Bình và các tiệm xung quanh. Mẹ mình dọn xuống chợ mới, xây trên mảnh đất trồng rau cải mà các bạn hàng thường gọi Chợ Mới. Chợ này do KTS Nguyễn Duy Đức thiết kế và thi công bởi nhà thầu Nguyễn Linh Chiểu, chủ khách sạn Mộng Đẹp, mà thời mỹ qua được đặt tên Modern, cho lính mỹ mướn. 

Mình nghe bà cụ kể khi chưa xây chợ thì mỗi lần trời mưa thì khu vườn này bị ngập nước vì bao nhiêu nước mưa từ các đồi xung quanh như đường Phan Bội Châu, khu Hoà Bình hay dinh tỉnh trưởng đều đổ xuống thung lũng này nên họ trồng rau muống nhiều hơn.

Sau này các ống cống được thành lập giúp nước mưa thoát ra cái suối Cam Ly gần ấp Ánh Sáng cạnh cầu ông Đạo. Mình ngạc nhiên khi thấy bản thiết kế đầu tiên của kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, về dãy tiệm từ cà phê Hạnh Tâm đi vào chợ Đà Lạt. Tạo dựng một khu vườn kiểu Anh quốc nhưng sau này, làm thẳng bong từ chợ chạy ra bùng binh cầu Ông Đạo. Sau này về lại mình mới hiểu lý do vì bao nhiêu ống cống của chợ Đà Lạt, nước thải, phạt làm ống cống cho chảy ra suối Cam Ly ở đầu ấp Ánh Sáng.

Hình ảnh của mấy người bạn hàng, thân của mẹ mình khi xưa. Người đứng bên cạnh mẹ mình là Dì Bê, bán Chuối. Người ngồi trước mẹ mình bên tay trái là Dì Huệ, bán trái cây, Dì Rọm và Dì Khá. Trong 5 người thì mình nghĩ chỉ còn mẹ mình sống sót đến nay qua cuộc bể dâu. Dì Bơn mới chết cách đây 2 năm thì phải. Mình về lần cuối, có gặp dì. Toàn là mấy cô, gốc xứ hUế, đeo Kiềng,..Ngoại trừ dì Bê, mấy dì kia đều đi tù với mẹ mình, khi theo Việt Minh.

Bà cụ mình bốc thăm được phép bán hàng xén nên mua một gian hàng ở Chợ Dưới thay vì Chợ Trên (lầu 2) như bác Đoàn Mừng gái, có tiệm may ở đường Duy Tân. Chợ Trên thì trần nhà thấp hơn và có cửa sổ đóng mở theo mùa nên tương đối ấm hơn về mùa mưa bão nhất là sạch và ít hôi hơn Chợ Dưới vì các gian hàng toàn bán vãi, quần áo, áo len, giày dép, sách vỡ,... 

Nếu có gian hàng ở Chợ Dưới thì khi mưa bão là một cực hình, gió thổi vào bốn bề nên rất lạnh thêm đường đi trơn trợt vì mưa tạt vào nhưng tiện cho việc di chuyển hàng hoá vì hàng xén rất nặng, cho nên nếu có gian hàng ở trên lầu thì phải khiên vác lên cầu thang nên khách hàng cũng ngại vì phải khiên đi xa. Hàng bà cụ mình nằm cạnh dãy hàng ăn, bên hông chợ nằm ngay cầu thang số 1, cạnh bể nước. Chợ có 4 cầu thang để lên lầu, thường gọi là số 1,2, 3,4 thêm một bể nước ở bên cạnh chợ cá. Có dịp mình sẽ kể rõ về cấu trúc, gian hàng của chợ mới.

Đây là góc chợ, nơi có gian hàng của Mẹ mình. Thấy hai cầu thang (phía ngoài và phía trong đi lên chợ Trên). Bể nước là  nơi mình và cô em kế, hay ngồi rữa chén đĩa khi người ta thuê chén đĩa để tổ chức đám cưới tại nhà hay tiệc tùng tại công sở. Gian hàng đầu tiên lợp tôn, là của hai anh em tên Ba và Thạc , thợ thiếc, thợ hàn, chuyên làm mấy đồ tưới vườn, gian thứ hai là của Chú Lìn, bán cà phê và hủ tíu Triều Châu. Hình như mình có kể về tấm ảnh này rồi. Ai tò mò tìm đọc. Hình này chụp trước khi họ xây dãy phố do kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Đoán là vào năm 1962.

Dạo đó có thằng Sính, con đầu của ông bà Sở ở hàng cạnh bên, lớn hơn mình mấy tuổi nhưng vẫn xưng mày tao, cho có vẻ dân chủ tập thể. Thiên hạ kêu mình mất dạy vì lớn bé gì đối với mình đều mày tao. Hắn chạy chiếc xe Honda 90 cc, đeo kính mát Rayban, được ông bà Sở rất cưng vì con trai đầu, hay ăn thịt bò bít tết ở hàng chú Lìn, thêm cái trứng gà au plat, uống cốc cà phê sữa, rít điếu thuốc lá Pall Mall rồi phà khói lên trời như Loan Mắt Nhung, làm mình thèm thuồng, không biết ngày nào mới được thưởng thức món này. 

Chú Lìn pha cà phê bằng chiếc tất, chú bỏ bột cà phê xay vào trong cái tất, cột vào cái quai tay cầm của cái vá lưới dùng luộc mì, nhúng trong cái ấm nhôm rồi đổ nước sôi vào ngâm ít phút rồi chế cho khách hàng uống nên dù có thèm nhưng mình không bao giờ uống cà phê vì hình ảnh bi hùng ấy. Trước khi đi Tây, chú Lìn đãi mình một miếng bít tếc thêm một cái hột gà au plat với bánh mì quẹt thêm tí bơ Bretel. Mình cắn miếng thịt bò bằng ba ngón tay rồi nhai từ từ để hương vị thịt bò lắn dần trong tâm khảm. Sau này ăn thịt bò bít tếc khắp nơi trên thế giới nhưng mùi vị thịt bò bít tếc lần đầu tiên ăn tại hàng cô chú Lìn vẫn theo mình đến ngày nay. 

Cô chú Lìn có nhà ở dốc Nhà Làng, ngay ngõ hẻm từ mấy thang cấp đối diện với khách sạn Cẩm Đô, cạnh phòng mạch bác sĩ Đào Huy Hách đi lên Minh Mạng, khúc Tăng Bạt Hổ có cái ống rãnh đen xì và hôi thối đỗ từ đường Minh Mạng xuống Phan Đình Phùng. Sau 79 thì gia đình chú Lìn, gốc tàu bị đuổi nên chạy sang Mỹ, nghe nói có lần về thăm bà cụ mình, nay đã qua đời.

Thằng Sính, có con em tên Bê, lớn hơn mình đâu một tuổi, rất đô con, ra chợ dọn hàng, còn thằng Sính chỉ chạy xe Honda ra ăn hàng, xin tiền đánh bi da. Sau này rớt tú tài, chạy giấy tờ giả về Saigon học, làm cô nào có bầu, rồi đám cưới nên mình không có dịp gặp lại, nghe nói đang ở bên Mỹ. Con Bê thì tội lắm, to con lại học dốt nhưng rất chăm làm, chăm buôn bán sau bỏ học để bán hàng sĩ nên khuân vác mệt nghỉ, lại lo 5-6 đứa em. Có lần mình thấy nó vác mấy bao gạo chạy như điên còn mình thì vác bao 50 kí là oải rồi. Hình như bà Sở bán đường nữa thì phải. Bà bán sĩ cho thiên hạ.


 Nghe nói nay nó có xe hàng chạy Saigon Đà Lạt, khá sung túc, lại mua căn tiệm của ông bà Nguyễn Văn Ngạch. Ông bà Sở có chiếc xe hàng chạy chở hàng Saigon-Đà Lạt, lấy hàng ở Saigon đem về cho bà cụ mình và những người khác trong chợ rồi chở rau về Saigon. Trước khi xuống Saigon thì ông ta đi một vòng chợ, thâu tiền rồi bà cụ mình dặn mua hàng nào thì ông ghi rồi lấy tiền để trả cho các công ty ở Saigon. 

Ngoài ra, bà cụ còn mua hàng xén của lò Thiên Nhiên ở Trại Mát, Vĩnh Tường ở Fi Nôm,..Ông Sở dạy mình cách xài máy tính tàu Abacus, hay chất hàng của bà cụ mình cuối cùng nên khi xe hàng của ông ta về chợ thì mình có thể lấy hàng ngay đem vào kho sớm hơn mọi người, không phải đợi các người khác dỡ hàng xong nên có thể về sớm. Mỗi lần hàng về là mệt, mình nhớ vác mấy cái lò than làm bằng đất sét màu đỏ bọc thiếc rồi chén đĩa, ly tách, đũa,..mà phải cẩn thận vì dễ bể nếu không là ốm đòn.

Lò đất nấu than khi xưa, khiến cả nhà đen xịt vì khói.

Hồi nhỏ như đa số gia đình sinh sống tại Đàlat, nhà mình xài loại bếp than, trong nhà có ba cái lò đất nấu than, có dây kẻm ràn xung quanh để khỏi bị nứt. Sau này, mọi người dùng lò dầu hôi, bây giờ thì xài lò ga mệt nghỉ. Xài lò than khá tốn công nhất là khói bay mịt mù làm nhà bếp đen thui vì lọ nghẹ. 

Lò có hai tầng; tầng trên để than và có mấy cái lỗ tròn nhỏ để tro tàn rơi xuống tần dưới, lâu lâu phải hốt tro đem đi đỗ, bón cây trồng ngoài vườn. Lâu lâu có ông bán than, ở đường Phan đình Phùng, cạnh nhà hai bác Nguyễn Đình Thừa, chạy chiếc xe camionnette qua nhà, giao một bao tải to đựng than. Than này được đốt bằng gỗ dài như khúc cũi nên phải chẻ nhỏ trước khi dùng do đó bụi than bay đầy nhà. Lò có ba cái chân để kê nồi niêu cho vững, nghe người lớn nói là tượng trưng cho hai ông Táo và bà Táo nhưng không biết có đúng không. 

Sáng sớm, thức dậy là mình phải chẻ ngo mua từ những người Thượng hay Việt Nam Mới ra từng khúc nhỏ nhỏ bỏ vào tầng 2, rồi chặt than bỏ lên trên, bê ra sân để mồi lửa để tránh khói bay khắp nhà đến khi lửa hồng thì bê vào bếp đun nước sôi, pha trà và chế vào bình thuỷ để khi mấy đứa em dậy thì pha sữa đặc có đường hiệu Ông Thọ hay bột gạo lức Bích Chi để ăn sáng. 

Mỗi lần than gần tàn thì phải chêm thêm than thì khói bay mịt mù. Có lẽ vì vậy mà mặt mình lúc nào cũng đen? Dạo đó chưa có nồi cơm điện nên chỉ nấu bằng than, sau khi nước cạn thì người ta hay gắp mấy cục than đỏ ở tầng 2, bỏ trên nắp nồi cơm để tránh cơm bị sống ở phía trên. 

Sau này, xài lò dầu hôi thì khoẻ hơn chỉ cần khơi cái tim đèn, thắp lửa bằng cây hương rồi châm lửa thoải mái chỉ ngữi mùi dầu hôi hay khi bị cúp điện thì nhà nào cũng dùng đèn dầu hôi, khói đen bay lên đầy nhà nên lâu lâu phải giặt mùng vì bị khói bám với bột giặt Viso với nhãn hiệu con ngỗng mà hảng này hay cho xe Lam chạy vòng vòng các đường khuyến mãi. Ở Bolsa, mỗi lần vào nhà người Việt thì thường thấy họ lấy giấy bạc che trần nhà để khói hương nơi bàn thờ không làm đen trần nhà làm mình hay nhớ đến thời còn bé, ngồi học bên đèn dầu hôi vì hay bị tắt điện, sáng ra thì lọ nghẹ đầy lỗ mũi.

Nhiều khi đường bị tăn-bo, ra chợ là mấy người xôn xao nên xe hàng của ông Sở về trễ thì cực lắm, phải thức khuya để lấy hàng lại đói nữa vì hàng quán đóng cửa khoảng 6:00 chiều, khi về nhà là coi như giới nghiêm. Ngày nay, mình thấy quán xá mở rất khuya, có chợ Âm Phủ. Dạo đó, chỉ mở khuya mấy tuần trước Tết vì có chợ đêm. Mình phải lấy hàng để các người khác lấy hàng vì hàng của họ được chất phía trong xe, trong khi ông Sở và tên lơ xe, chăm sóc máy xe, dầu nhớt để về lại Saigon. 

Thường hàng về thì xe ông Sở hay đậu chỗ cầu nổi, gần đồn cảnh sát để cho bạn hàng có thể lấy hàng dễ. Khúc đầu bên tay phải là hàng của ông Ba thợ thiếc. Sau đó là quán ăn cơm.

Ông bà Sở người Quảng, siêng làm lại tiết kiệm, ở đâu trong xóm Mỹ Lộc, sau lưng đồi Phan Đình Phùng, cạnh chùa Linh Sơn. Sau này, họ mua nhà ở đường Hàm Nghi rồi tiệm Nguyễn Văn Ngạch ở chợ dưới để mấy đứa con gái quản lí còn đám con trai thì được thằng Sính bảo lãnh sang Mỹ.

Mình không bao giờ thấy họ ăn hàng ngoài chợ, lúc nào cũng đem cơm nấu ở nhà ra chợ rồi cả gia đình ngồi ăn ngoại trừ thằng Sính là được ăn hàng thoải mái. Bà Sở rất giỏi về buôn bán nhưng rất dữ, ngoài chợ không ai muốn đụng tới bà lại hay la chồng bai bãi ngoài chợ còn ông Sở thì rất hiền, cam phận làm thằng đàn ông, cười nhe cái răng vàng sáng chói. Sau này, lấy vợ mình mới thông cảm và bắt chước ông Sở, tịnh khẩu khi vợ nói như người ta nói: “1 sự nhịn 9 sự lành”. Thật sự, lấy bà vợ dữ nhưng biết làm ăn thì có Phước, không nên cãi lại.

Bán hàng xén nhưng bà cụ mình còn cho mướn chén đĩa, muỗng, đũa, ly tách,.. cho những đám cưới hay tiệc tùng thường vào tháng Chạp hay cuối năm. Thường thường sau đám cưới thì người mướn không rữa ly tách,...trước khi trả lại. 

Có lẽ vì bận đi tuần trăng mật nên trả tiền cho mình và cô em gái rữa ở cái bể nước bên cạnh hàng nên có tiền bỏ heo đất nhưng rất mệt vì phải về khuya nhưng nhờ vậy mà khi sang Tây đi làm bồi rữa chén cho tây đầm cũng chuyên nghiệp. Rữa xong lấy dây lạt buộc lại để bán cho khách hàng. Dạo trong lớp tổ chức bán chè, làm văn nghệ thì mình có mượn bà cụ chén đĩa cho lớp nên có lời tổ chức đi picnic ở thác Datanla. Mấy bà ban C có làm bể mấy cái nhưng mình không bắt đền.

Bên cạnh hàng bà Sở thì có hàng bà Tàu tên Cẩu, bán tương ớt dưới cầu thang. Hai ông bà Tàu này có hai thằng con thua mình đâu 4-5 tuổi không nhớ tên, ngoài tương ớt thì có bán tầu vĩ yểu, hột vịt muối, cam thảo,...nói chung đồ tạp phô của người Tàu. Sau 75, khi gia đình mình chạy di tản về Đàlạt thì hết vốn. Em ruột mẹ mình, đem hàng hoá đi bán tháo khi Đà Lạt di tản, không đưa lại tiền cho mẹ mình. Bà Cẩu  cho bà cụ mình mượn tiền để buôn bán, vẫn nói chuyện thăm hỏi khi ông cụ mình bị lên án 18 năm tù. Thêm dì Gái, đứng giả bảo kê cho mẹ mình đi buôn lại. Thời đó, bố mình ở tù, hàng xóm muốn đuổi cả nhà đi kinh tế mới.

Cạnh hàng bà cụ mình thì có hàng dì Gái, tên mụ là Gụ, con bà Cáp người Huế bán đồ khô như đường, muối, bột ngọt, ớt bột, đậu mà mình đã kể rồi. Có lần bà Cáp đau mình có lên nhà trên số 4 thăm, thấy cái bụng to như đàn bà có chữa, nghe nói bị ai thư nên lúc thầy bùa móc ra toàn là tóc và tóc, không biết ai thù ghét nhưng rồi cũng chết. Mỗi lần bà cụ mình đi sinh ở nhà bảo sanh Tôn Thất Chí thì dì Gái hay đem biếu một đòn chả lụa và một lố hột gà. Hột gà để uống với soda còn chả lụa để kho tiêu với thịt ba chỉ. Mỗi lần mình đem cơm cho bà cụ thì hay được ăn ké vì cơm nấu ở nhà bảo sanh không ngon lại đắt tiền. Dạo ấy hột gà đắt tiền hơn hột vịt.

Cạnh dì Gái là hàng dì Nhâm bán dừa, người Bắc được xem là người hàm hồ nhất khu đó. Có lần dì Nhâm chửi lộn với bà Sở, bên giọng Bắc cầy bên giọng Quảng nghe muốn bể tai. Mình thích hóng nghe họ chửi nhau, rất hay, rất dân giả.

Mỗi lần người đi mua, trả giá mà không mua là bị dì chửi toát móng heo luôn, khỏi cần đốt phong long. Mẹ truyền con nối lúc đầu mẹ dì Nhâm bán rồi dì Nhâm là con đầu, nghĩ học phụ mẹ rồi khi tay nghề chửi lộn đạt chỉ tiêu của dòng họ bán dừa thì bà mẹ giao lại cái xập, về nhà nghĩ hưu. Sau này dì lấy chồng lính, nay ở bên Mỹ với chồng con ở Minnesota. Khi mẹ mình sang, có điện thoại nói chuyện nhưng ở xa quá nên mình không đưa đi thăm. Dì có 2 thằng em lớn tuổi hơn mình, hay nói chuyện vớ vẩn nhưng không thân lắm.

Phía sau hàng cô Gái, bán trái cây, là gian hàng bán dừa của Dì Nhâm, bên cạnh là hàng bà Sở, có chút chút hàng mẹ mình. Hàng của cô Gái là nơi mấy thùng giấy ở trước, không hiểu sao lại ngồi ngay hàng bà Tạo. Chắc bà Tạo đi đâu, nhờ ngó hàng dùm.

Mình nhớ cách chặt dừa của dì Nhâm nên sau này trong chợ á đông có bán dừa tươi của Thái Lan, hay mua về chặt cho đồng chí gái uống. Dì Nhâm hay ngồi nạo dừa bằng cái đồ nạo dừa, đầu tròn với bán kính khoảng 2-3 cm, có những răng cưa quanh vòng tròn. Dì cắt trái dừa khô làm hai rồi lấy một bàn chân đè lên cái nạo dừa, nhiều khi thấy dì ấy gãi chân nên đất nơi chân lọt vào thùng dừa nạo để bán cho những người làm xôi bắp, bán chè để họ làm nước dừa. Mỗi lần xe chở dừa từ lục tỉnh về là phải mướn mấy tên gánh mướn ở chợ, gánh mấy cần xé vì dừa dính từng chùm mà mỗi trái khá nặng hay dừa khô thì cũng bỏ cần xé.

Tên trước tên sau xỏ cái gậy tròn qua mấy sợi dây thừng cột ở bốn góc của cái cần xé nếu nặng còn nhẹ thì cột dây ở hai cái quai cần xé để gánh. Mình có học chung ở Văn Học với một tên người Huế ở ấp Ánh Sáng nhưng không nhớ tên, thân với Huỳnh Kim Sang, chiều là hắn ra chợ đi gánh thuê cho mấy hàng dừa, đường, gạo,..mà hắn rất nhỏ con nhưng gánh tài lắm sau này không thấy mặt nữa chắc bị động viên khi bị Đôn quân năm 1973 sau mùa hè đỏ lửa. Hay vào Bưng không chừng.

Đối diện Dì Nhâm thì có dì Liên cũng bán dừa, ngày xưa làm công cho cô Ba Chỉ, tiệm Bình Lợi. Sau cô Ba Chỉ cho mượn thêm vốn để mua cái xập buôn bán, sau này chắc cũng có chồng con vì mình không bao giờ gặp lại. Mình chỉ nhớ trước khi đi Tây có đến chào thì dì bảo mẹ mày mất một đứa con, ngẫm lại đúng vì mình đi luôn cho tới nay, chỉ về thăm gia đình được vài lần.

Nói đến dừa làm mình nhớ đến mức dừa. Mọi năm vào tháng chạp ta thì bà cụ mình tối đi chợ về thì làm mức bỏ mối cho mấy tiệm hay bán ở cửa hàng. Sau này, bác Ngự gái, tiệm Thanh Nhàn trong xóm thầu hết. Cứ sáng còi vừa hụ báo hết giới nghiêm là bà chạy lên nhà mình lấy hết mức mới làm đêm qua vì sợ các tiệm khác đến lấy. Bà cụ mua dừa khô về cắt làm hai, lột võ rồi bào mỏng, luộc sơ cho khỏi hôi mùi dừa vì trong cơm dừa có dầu. Nếu không luộc thì lâu ngày sẽ bốc mùi dầu hay chảy dầu ra ướt mức, rồi rim với đường cát trắng.

 Tương tự như mứt gừng, gừng cắt ra cũng luộc nhưng lấy kim chỉ xâu chung mấy lát gừng thành từng xâu để khi rim, phải trở nguyên xâu gừng để tránh gãy vụng. Gừng vụng thì thái mỏng để làm mứt gừng dẽo cay với đậu phụng. Còn mức bí thì cắt ra tỉa bông hoa rồi luộc sơ, ngâm nước với vôi trắng để khi rim thì bí giữ được màu trắng. Bà cụ mình có món mứt dâu có một không hai ở Đà Lạt, mua dâu còn cái cuống đem luộc sơ rồi rim với đường rồi lấy ra từng trái để nơi cái mâm cho khô rồi lấy giấy bóng gói chừa cái cuống để vào hộp rồi gói giấy bóng đỏ. Ngoài ra bà cụ còn lấy dâu bị rụng cuống hay bị nát làm rượu dâu kiểu Lafaro nhưng chỉ để dùng mời khách thăm viếng trong nhà.

Cạnh hàng dì Liên là dì Bộ bán đồ khô, dầu ăn, khi xưa cũng làm công cho cô Ba Chỉ, tiệm Bình Lợi rồi ra riêng sang cái xập, lấy hàng hoá của tiệm Bình Lợi ra bán nên cũng có của ăn của để đến khi lấy chồng thì gặp tên cà bơ, đánh bài thua phải bán cái xập để trả nợ. Bà vợ của ông thầy Chiêm mua lại nên cũng thân với gia đình mình. Mình nghe ông chủ tiệm Hương Giang ở Bolsa kể; nhờ cái tượng của bà ngoại mình đem từ Thái Lan về đã giúp ông bố của thầy Chiêm và sau này đến ông nối nghiệp, nổi tiếng một thời ở Đà lạt. Ông này cũng như Kim Trọng lấy hai chị em, người vợ đầu sinh nở bị sản hậu qua đời, cô em gái đến nhà phụ chị rồi thương ông anh rễ đơn côi khi bà chị qua đời nên lấy có đâu 4 mặt con. Bà cũng dễ thương, ít ai ghét lại kiếm thêm khách hàng cho chồng ở chợ. Mình có gặp thầy Chiêm vài lần ở chợ khi ông ta ra chợ phụ vợ dọn hàng nhưng chưa bao giờ vào nhà.

Giáp hàng bà cụ là hàng của dì Huê, con của tiệm Nguyễn Văn Ngạch, cạnh tiệm Bình Lợi, người Huế, có ông chồng trốn lính, nhà ở dốc Nhà Làng chỗ cái hẻm đi lên đường Duy Tân mà mình có lần ngủ lại nhà một vài lần. Ông chồng ban ngày thì cứ leo lên gác sinh hoạt trên đó để khỏi bị bắt đi lính nên người lúc nào cũng tái vì thiếu ánh nắng. Sau này dì sanh được vài đứa con. Cảnh sát tới nhà bắt lính không tìm thấy ông chồng nhưng cứ thấy dì sinh năm một nên bó tay chấm còm. Dì Huê này ganh tị với bà cụ mình vì cũng bán hàng xén, sau 75 nhờ chồng không đi lính nguỵ nên cũng có thớ với chế độ mới nên cũng đì bà cụ mình mệt thở. Dạo mình về lần đầu thì có gặp, sau này, dì dọn về Saigon ở với mấy đứa con ruột.

Hàng bà Phòng, người Bắc, bên cạnh là hàng dì Bơn, bạn của mẹ mình, bán cam quít. Trong ảnh thấy bà ngồi dưới đất sau lưng bà Phòng là bà Bắc, làm cho gia đình dì Bơn, có con bé gái, mình đoán là con Hương, con gái đầu của dì Bơn rồi đến dì Bơn. Chồng dì Bơn là bạn nối khố với ông cụ từ trong quân đội. Sau này đi tù cũng ngày và ra trại cùng ngày. Chú mất sau khi bố mình qua đời.

Cạnh hàng dừa của dì Nhâm là hàng thịt của ông Tàu tên Dồng. Mỗi chiều khoảng 3-4 giờ, thịt ở abattoir mới làm được chở ra chợ, mình thấy ông ta đội cái áo mưa nilon kiểu khăn tang của đàn bà để che đầu và cái lưng để máu không thấm qua áo rồi lấy cái móc sắt ra xe chở thịt, móc mấy con heo hay đùi bò bỏ lên vai vừa chạy vào buồng thịt vừa kêu lước sôi, lước sôi rồi móc thịt lên các thanh sắt để bán cho khách hàng.

Lâu lâu thấy mấy bà rụt rè hỏi mua ngầu pín sau này lớn lên mới hiểu ăn gì bổ nấy. Dân bán hàng ngoài chợ thì mua thịt sau 4 giờ chiều vì tươi còn dân đi mua thường là ban ngày sau một đêm phơi trên mấy cái móc, ruồi bu khá nhiều vì dạo đó không có tủ lạnh đông đá mà mình cũng không biết bây giờ trong chợ có dùng máy này chưa. Dạo học Petit Lycée thì mình hay đi ngang abattoir gần garage Trung Tín thì nghe tiếng bò kêu rống có lần chạy vào lò sát sinh xem thì thấy người ta cột con bò lại, có một ông cầm cái búa tạ, đứng trước con bò rồi giáng cái búa tạ lên đầu con bò đến khi nó ngã quỵ xuống, sau đó họ treo bò lên cái móc để lột da, mổ bụng. Cái này chắc phải hỏi lại Nguyễn Trung Thiện vì nhà hắn ở gần đó, nếu mình không lầm chính hắn rũ mình đi xem.

Cạnh đó thì có hàng bà Tạo, người Bắc, lúc nào cũng quấn khăn, răng đen ăn trầu hình như có một thằng con trai lớn hơn mình nhưng không chơi với mình. Bà này hay lấy trà của bà Tư, em dâu của ông ngoại mình ở Bảo Lộc, hãng trà Nguyễn Đăng. Dòng họ này khi xưa thuộc họ Mạc Đăng Dung, khi bị tru di tâm tộc thì một số con cháu trốn chạy vô Nam, đổi họ thành Nguyễn Đăng, lấy chữ lót Đăng để con cháu nhớ tổ tiên mình là họ Mạc Đăng, tương tự như con cháu của Hồ Quý Ly chạy vào phía Nam đổi tên họ Nguyễn sau này là có con cháu khởi nghĩa lập nên nhà Tây Sơn. Mình thường thấy bà Tư, đi xe đò từ Bảo Lộc lên với mấy bao bố trà để bỏ hàng cho chợ Đà Lạt. Đa số dân Đàlạt mua trà từng kí, bỏ bịt nilon để pha uống ở nhà còn trà gói trong bao thường để mua tặng hay đám hỏi,... Bà Tạo có bán lá vối cho người nghèo mua để pha uống.

Mình có uống vài lần ở nhà mấy người làm vườn. Hồi còn bé mình có đi xuống Blao thăm ông ngoại nên có thấy mấy cái vườn trồng trà nhưng không nhớ cách sấy lá trà ra sao. Chỉ nhớ là xứ khỉ ho cò gáy, ông ngoại mình hay đi săn cọp, thấy chụp hình rồi da cọp treo trên tường. Sau này vì lí do an ninh, đi đường hay bị mấy ông kẹ ra bắt lính, đóng thuế nên mình không đi nữa. Mình có ghé lại Blao thăm mấy người bà con trong chuyến về thăm đầu tiên sau này thì đi máy bay cho nhanh, khỏi mất thì giờ.
Mẹ đi ăn cưới với bạn hàng

Cạnh hàng bà Tạo là hàng của dì Bê bán trái cây nhất là chuối, có ông chồng theo bà nhỏ, chị của bà Bửu Ngự. Ở dưới ấp Ánh Sáng, một mình nuôi người con trai lớn hơn mình đâu 2, 3 tuổi tên Phong, đi hướng đạo sau 75 nghe nói làm giám đốc Ngân hàng ở Đà Lạt, nay ở Hoa Kỳ, được ông bố bảo lãnh sang. 

Ngoài dãy hàng trái cây có dì Bơn bán trái cây. Dì này có đặc điểm là không bao giờ nghỉ bán hàng, quanh năm ngày nào cũng như ngày nào đi bán ngay cả ngày mồng một Tết, dì ra bán mở hàng nhưng khi thấy khách đến mua là cứ ở lì đến tối, ông chồng là bạn nối khố với ông cụ mình ở trong quân đội sau này đi tù chung trại. Nghe nói năm nay bệnh nặng nên phải ở nhà, đúng là một anh hùng lao động gương mẫu. Dì có mấy đứa con gái và thằng út. Con đầu tên Hương có tên Việt Kiều nào về cưới 20 năm trước nhưng không bảo lãnh sang, nghe nói năm trước hắn về lại dẫn đi du lịch Thái Lan, con thứ nhì tên Loan, lấy chồng nghe nói nay ở Đức còn mấy đứa sau thì không nhớ vì còn bé khi mình xa Đà Lạt.
Hàng chuối của dì Bê, phái ngoài là hàng hoa. Mình thấy dì Bê rất đẹp nhưng không hiểu sao ông chồng lại bỏ.

Phía hàng thịt đi vào khu chợ cá thì bên tay phải có các hàng giày, guốc và thuốc lá thì có hàng của cậu Liễu bán thuốc cẩm lệ mà dân gốc Huế hay hút và có bán mấy cái điếu bát để hút thuốc lào. Nó như cái ấm tròn bằng sành, nơi chứa nước đặt lên cái đĩa hay trong một cái chậu bằng sành, người ta vân vê thuốc lào bằng một viên cở ngón tay rồi têm thuốc vào cái lỗ thường gọi là nõ ở trên cùng rồi mồi lửa bằng cái đóm, cây que dài như cây kem bằng tre, lấy cái điếu cắm bào cái lổ nhỏ bên hông rồi hít chậm chậm để lửa cháy đều thuốc ở cái nõ, rồi hít dài thì nghe tiếng lạch tạch trong bình thuốc lào do hơi trong cái nõ được hút nên làm nước ở trong bì bỏm, rồi thả khói ra rất phê, uống cụm nước trà. Ông cụ mình với người bạn bắc kỳ hay hút cái này khi đánh tổ tôm. Su này thì không thấy ông cụ hút thuốc lào nữa, lại chuyễn qua hút thuốc lá Mỹ.

Mình hay thấy cậu Liễu, con của bà Dụ, chị bà Võ Quang Tiềm, ngồi trên cái sập, thái thuốc với con dao hai cán hình cung như mấy ông thầy thuốc Bắc, rồi tẩm thuốc cho thơm. Mình hay ra hàng cậu Liễu để mua thuốc Cẩm Lệ và giấy quyến cho bà ngoại. Dì Tân, chị hay em của cậu Liễu mới qua đời.

Nếu mình không lầm, cậu học nghề thuốc Cẩm Lệ khi giúp ông bà Tiềm. Khi xưa, ông Tiềm, mua thuốc Cẩm Lệ vào Đà Lạt, rồi bán lại cho người Đà Lạt, gốc huế. Ông có môn bài bán rượu nên giàu khủng luôn.

Người hút thuốc cẩm lệ không cuốn tròn như thuốc lá mà cuốn theo kiểu hình ống, cuốn có cái đầu thì to còn đuôi thì nhỏ dẹp để dính nơi môi. Hút xong, họ dán điếu thuốc trên tường. Khi hết thuốc thì gỡ mấy điều thuốc trên tường ra, gom lại để vấn điều mới.

Khi nào hút thì mới cuốn thuốc hút, sau này sang tây thì thấy mấy thằng bạn tây mua thuốc Gauloise với giấy quyến để quấn tròn thành hình ống để hút. Cậu Liễu, kêu bà ngoại mình bằng O, nhà ở ngay vườn chỗ xóm Địa Dư băng qua đường Phan Đình Phùng, có cây ổi và cái am màu xanh trước nhà. Nhà cậu luôn luôn bị ngập nước khi trời mưa vì nước trên số 4 chảy về thác Cam Ly theo hai con suối dọc đường Hai Bà Trưng và Phan Đình Phùng qua trường Việt Anh, Hoàng Diệu,.. nên nền nhà được xây khá cao. Cậu hay tếu nói ở đây khi lụt để khỏi nhớ Huế. Mình hay ra hằng cậu mua thuốc Cẩm Lệ cho Mệ ngoại hút.

Lần đầu tiên về Đà Lạt sau 75 thì có gặp cậu còn lần sau về thì cậu đã qua đời.

Ngoài ra gần hàng của bà cụ có hai anh em người Bắc, tên Ba và Thạc, hàng thợ thíết nằm sát đường dưới chợ thuộc dãy hàng ăn, ở xóm địa dư.



Ông này làm cho nha địa dư nhưng có nghề tay trái là thợ hàn, chuyên đóng các thùng tưới nước cho nhà vườn. Nhà vườn lấy đòn gánh, lấy hai cái quai sắt móc hai thùng nước có vòi sen, đi xuống ao hay suối để múc rồi đi giữa hai cái vồng để tưới bên trái và phải của vồng nước. Hình như Đà Lạt chỉ có hai anh em ông này chuyên đóng thùng tưới nước nên cũng khá giả. Ông không có đồ nghề gì nhiều, cái bình phun lửa chạy bằng dầu, bỏ cái mỏ hàn có tay cầm bằng gổ cho lửa hơ nóng cái mỏ hàn rồi lấy chì hơ theo cái kẻ giữa hai tấm thiết. 

Cái khó nhất là cắt cái vòi hình ống để ráp vào cái bình để hàn, vì phải cắt theo góc 45 độ. Sau này học kiến trúc mình bị bầm dập khi học vẽ hình học cắt đủ thứ loại hình tròn, ống,...nên phục ông này. Ông này người Bắc, có lần lên nhà mình đi hỏi chị Gấm cho người em trai tên Hải nhưng không may chị này đã đi hái chè gặp thằng phải gió, sau này anh Hải này đi lính tử trận.

Cạnh hàng của ông Thạc có hàng của dì Sắc, có chồng làm cảnh sát ở trên đường Thi Sách, xóm ông Ba Tây. Dì này bán đồ Mỹ như Coca Cola, Fanta. RC Cola, bia Mỹ,... mình có kể vụ đồ hộp của quân đội Mỹ. Mỗi lần có tiền là mình chạy ra hàng dì mua mấy lon bánh Mỹ có peanut butter, khui cái lon có hai ngăn; một là bánh biscuit và một là cái hộp nhỏ đựng bơ đậu phụng để nếm mùi bơ thừa sữa cặn của đế quốc mỹ hay mua kẹo cao su thổi bong bóng to đùng rồi vỡ. 

Dì cũng bán đồ chơi cho con nít như cái mũ bằng nhựa của lính La Mã mà mình hay đội khi chơi với con nít trong xóm. Tết thì bà cụ mình hay mua của dì mấy lon đồ hộp trái cây như đào, peach,...để tủ lạnh cho khách tới nhà mừng tuổi ăn. Dạo đó ở nhà 10 anh em, khui ra một lon nhỏ màu cứt ngựa, cở hột sửa ông Thọ, chia nhau ăn mổi đứa một muỗng trái Peach đến ba ngày sau vẫn còn thấy ngọt cổ. 

Dạo đó, dì hay bán mấy cục pin to đùn cở 12 inches x 12 inches x 2 inches mà lính Mỹ dùng gắn bóng đèn còn dân Việt thì gắn vào cái radio transistor nhỏ xíu để nghe vì pin thường mau hết lại khá đắt tiền. Khi hết pin thì bỏ dưới đất để chạc điện lại nhưng không nhiều lắm. Mình nhớ dạo ấy ai cũng dùng mấy cái cốc nhựa của Mỹ màu nâu nâu mà quân đội Mỹ dùng uống cà phê rớt không bể chớ mấy cái ly nhựa làm ở Chợ Lớn thì dễ bể. Hình như mẹ mình có bán mấy cái cốc này.

Mình không biết dì buôn đồ PX của Mỹ ở đâu, chỉ nhớ có một lần đến thăm nhà người bạn của ông cụ khi còn trong quân đội ở xóm nha Địa Dư gần ấp Cô Giang thì thấy ông này chuyên buôn đồ PX, nhà có cái tủ lạnh rất sang trọng, ông ta lấy mấy cục nước đá lấy từ chổ đông lạnh mời mình uống chai Fanta sướng đến buốt óc. Mình chỉ thấy mấy cục nước đá to đùn do hai tiệm kem Việt Hưng ở đường Thành Thái và một tiệm ở dốc Minh Mạng và Phan Đình Phùng sản xuất. 

Tiệm này vớt tiền mình cũng khá nhiều với kem Eskimo, bọc chocolat. Chỗ bến xe đò Đà Lạt - Chi Lăng ngay Vũ trường La Tulipe Rouge có mấy xe bán đá nhận, mình hay ra mua, họ có cái bào tương tự như cái bào gổ của thợ mộc, nhưng để ngược rồi bào bỏ vô ly rồi nhận xuống bỏ thêm sirop. Mình không thích đá nhận lắm nhưng đọc truyện Chương Còm của Duyên Anh thấy nói đến món này thì ăn thử nhưng Đà Lạt lạnh ăn tê răng.

Đối diện hàng của dì Sắc là tiệm Lộc Sơn của bố mẹ thằng Võ Ngọc Sơn, có thời học Yersin với mình. Sau này, nó chuyên đánh bi da cá độ với Trung Ba Tai ở tiệm bi da Minh Tâm ở Phan Đình Phùng, nơi bố của Trần Trọng Ân, tiệm Luồng Điện ở Phan Đình Phùng bị bắn chết. Mình nghe nó kể là người ta đang đánh cá độ tới khúc chót, có một tên đang chuẩn bị đánh cái giò gà thì bố TTA, say đi vào xem nên đụng cái cơ của tên này khiến hắn đánh trật giúp Trung Ba Tai đi một lèo thắng độ. Tên thua độ tức quá, rút súng bắn bố TTA chết trước tiệm này. Lại có nghe là ở Chi Lăng. Tên Sơn này chết sau 75. Cạnh tiệm Lộc Sơn thì có tiệm Bình Lợi bán đồ tạp hoá của cô Ba Chỉ, không chồng con, người Nam, nuôi một đám con gái để lo buôn bán trong tiệm rồi ai lớn thì cô cho vay vốn mua cái xập ở chợ rồi lấy hàng của cô ra bán, kiểu franchise mà mình thấy bên Mỹ. Cô này có xe hàng chạy Saigon Đà Lạt. Sau 75, hiện ra nằm vùng thứ gộc của Đà Lạt, đóng góp tài chánh rất nhiều cho cách mạng, được gọi là tư sản cách mạng chi đó. Nay vẫn còn sống ở Đại Ninh.

Bên cạnh tiệm Bình Lợi là tiệm của ông bà Nguyễn Văn Ngạch, bán hàng xén và ngủ cốc, bố mẹ của dì Huê có hàng xén cạnh hàng bà cụ mình. Cùng dãy mấy tiệm này thì có tiệm của gia đình Nguyễn Văn Thuận 11B rồi Hùng Con Cua rồi Long Hưng. Khúc nhà HCC, gần chợ Cá có xập bán báo mà mình thấy bà cụ mướn tuần san phụ nữ để đọc và mình cũng hay đọc ké. Báo dạo đó in bằng khổ giấy lớn nên nhà in in nhiều trang trên một tờ rồi gấp lại làm đôi cho nên khi mua báo thì phải lấy dao rọc chổ gấp lại. Mấy người mướn tuần báo thì không rọc trang giấy nên phải đọc theo kiểu quấn tròn cuốn báo để thấy chữ phía trong mà đọc, rồi trả lại.
Hàng cá, bà ni người Huế nhưng quên tên

Đó là những người quen thân với bà cụ ở chợ dưới, còn trên lầu thì có bác Phước bán len, người Huế. Mỗi lần gặp là nghe bác kể ngày xưa khi mình mới sinh ra thì hai gia đình ở cạnh nhau trong ấp Ánh Sáng, ông cụ mình còn trong quân đội nên bác hay sang nhà, quạt than cho bà cụ mình nằm ở cử, tắm cho mình. Hồi nhỏ mình thấy tấm hình bác đang tắm cho mình treo ở nhà. Sau này bác dọn về dốc Nhà Làng, mua cái nhà của dì Thể bán vãi trên lầu, mua bán lặt vặt nhưng lần chót mình về thì nghe bác kể bị người ta giựt hụi nên phải bán nhà đền cho mấy con hụi nên phải mướn cái tiệm ở đường Minh Mạng để bán áo quần với đứa con gái. Trên 80 tuổi mà vẫn phải đi buôn đi bán trả nợ. Nay bác đã qua đời.

Hồi nhỏ mỗi lần tựu trường là mình chạy lên lầu đến hàng bác Tám bán đồ dụng cụ văn phòng, cho học sinh, mua cái plumier đựng viết, viết chì màu và giấy tập,... Mỗi năm nhà mình đều nhờ Bác 8 trai nấu bánh tét và bánh chưng. Cứ cúng ông Táo xong là bà cụ sai mình đem nếp, thịt heo và đậu xanh lên nhà bác. Bác trai không cho mình xem bác gói, bác kêu thằng Phước, con bác vô phụ bác nhưng thằng này rủ mình đi chợ tết.

Chỉ thấy bác lấy một cái chân bằng sắt bỏ vào nồi để tránh bánh ở tầng chót cạnh nồi bị cháy, rồi bỏ bánh chưng ở giữa rồi bánh tét được xếp đứng xung quanh chồng bánh chưng. Nấu một thời gian, bác lại lấy ra, đổi bánh dưới lên trên và bánh trên xuống dưới rồi châm thêm nước nóng để tránh bị sượn. Sau này bác sang lại cái xập ở chợ, về nhà mở quán "Mây Hồng" bán chè ở nhà đường Tăng Bạt Hổ. Bác có mấy người con gái nên mở tiệm cho chúng trông coi, tiếp thị con gái rồi lần lược mấy cô này đều được trai rước đi hết. Hai thằng con trai Phước và Hải thì nghe nói chết sau 75.

Trên lầu có hai bà mà bà cụ mình gọi là mợ, vợ của hai ông cậu bà con, em của bà Võ Quang Tiềm, chị em bạn dì với bà ngoại mình. Hai người này có tiệm ở đường Duy Tân là Long Hưng và Hiệp Thạnh ngay góc Trương Vĩnh Ký. Tiệm Long Hưng nối dài phía TVK có thêm khách sạn Thuỷ Tiên. Bà Phúng là chị, bán vãi và bà Đàn là em cũng bán vãi gần nhau nhưng chỉ khác một điều là bà Đàn buôn bán đắc khách hơn, Có lẽ nhờ tính lanh lẹ, ăn nói linh hoạt còn bà Phúng chỉ ngồi ngáp ruồi. Ngày xưa làm ăn phát đạt lắm, có nhà ở đường Minh Mạng chỗ nhà may Hoàng Nho, sau xây nhà ở đầu đường Duy Tân thì tự nhiên xuống. Hồi bà cụ mình lên 15 tuổi, rời Huế vô Đà Lạt làm công cho gia đình bà Phúng, tiền lương thì bà ấy gửi thẳng về Huế cho Mệ ngoại mình để nuôi mấy bà dì, ông cậu. 

Sau này lớn lên, học được tài buôn bán của gia đình này thì bà cụ xin ra riêng, ra chợ cũ ở khu Hoà Bình buôn bán, rồi lấy hàng ở tiệm bà Phúng ra bán như franchise cả hai đều được lợi vì bà cụ không cần có vốn lớn, mượn đầu heo nấu cháo. Ông Phúng và ông Đàn lúc được bà Võ Quang Tiềm đem vào Đà Lạt thì làm nghề thợ may sau rồi buôn bán mới giàu lên. Lúc có tiền thì ông Phúng chơi bời có vợ bé bỏ bê buôn bán, sau này theo đạo Tổ Tiên Chính Giáo nên không màn đến tiền bạc trong khi ông Đàn thì chịu khó lắm vì con đông, có hai người con đi du học bên Tây. Dạo mình về lần đầu thì khám phá ra bà Đàn gọi vợ mình bằng Chị vì bà phải gọi mẹ của đồng chí gái là Bác vì bà con xa bên vợ mình.

Dần dần thì mấy người em lớn lên, mình nhân danh làm anh bắt mấy cô này ra chợ phụ bà cụ nên rãnh rỗi đi đánh bi da. Sau này bà cụ mình nghe lời cô Ba Chỉ buôn thêm gạo, đường và dầu ăn vì dạo đó giá cả bị lạm phát rất nhanh. Gạo hôm nay mua 1200 đồng tuần sau lên 1500 nên bà cụ mình dùng một căn nhà để trữ gạo và đường, dầu ăn, mướn ông Tác ở gần xóm, có chiếc xe Lam chở gạo mà phải đi tối hay sáng vừa hết giới nghiêm để hàng xóm đừng để ý vì bà cụ không có tiểu bài bán gạo nên hợp với thời khoá biểu của ông Tác vì ban ngày làm công chức của viện Pasteur, còn mình thì bà cụ nhờ đi giao lẻ tại nhà khách hàng.

Dạo đó, chỉ có đại lý và tiệm có tiểu bài mới có thể bán gạo vì sợ tiếp tế cho VC. Bà cụ mình không có tiểu bài nên mua chui rồi bán chui. Bà cụ hay mua lại gạo của mấy nhà thờ như ở Tùng Lâm, Đa Thiện,..Mỹ viện trợ gạo cho mấy giáo xứ này nhưng không dùng hết nên bán cho bà cụ mình rồi bà cụ bán lại cho cho các lò bún, lò nấu rượu hay dân thường.

Dạo đó, dân Mỹ viện trợ đồ cũ cho mấy bà sơ ở Domaine de Marie, cho đám con mồ côi được mấy bà sơ nuôi bận nhưng mấy bà sơ mang ra chợ trên bán nên dân Đàlạt bận đồ cũ mỹ rất nhiều, ngày nay họ gọi đồ Sida (AIDS). Nhà thờ này nuôi một đám trẻ mồ côi, hàng năm có tổ chức hội chợ vào mùa Noel, cũng không gì đặc sắc lắm nhưng có cớ để trai gái đi liếc nhau. Mình nhớ mấy bà sơ lấy chiếc xe camionette, kê lên mấy cục đá, tháo cái bánh xe ra, gắn cái cần sắt rồi cho máy nổ thì cái trục di chuyễn như xe đang chạy khiến cái trục sắt cũng quay mấy cái ghế có hình máy bay,.. cho con nít ngồi cũng quay theo. Ngoài ra có các trò chơi quăn lon, bắn súng, rao lô tô mà mình có lần trúng chai rượu dâu khi đi chơi với Phạm Anh Tuấn 11 B.

Có người trong quân đội ăn cắp gạo hay sao đó, bán lại cho bà cụ mình.

Dân thường thì chỉ được mua gạo ở khu phố, đem sổ gia đình lên phường, rồi họ xem có bao nhiêu người thì bán chừng đấy gạo, hình như mỗi người được mua 20-24 kí/ tháng mà gạo do phường bán thì rất xấu nên ai có tiền thì phải kiếm mua gạo thơm ăn. Nhà mình ở khu phố II nên lên số 4, đường La Sơn Phu Tử, cạnh tiệm hớt tóc mua. Thường người ta ra đại lý hay tiệm có tiểu bài mua gạo ngon rồi kêu xe lam chở về trong khi bà cụ mình giao tận nhà cho họ lại không lấy tiền nên họ thích lắm. 

Đi học về là mình ra chợ, lấy tên tuổi địa chỉ, lấy Honda chở gạo giao tận nhà cho họ, mấy lò bún, lò nấu rượu rồi cho mình tiền boa nên không có thì giờ đi đánh bi da. Lúc làm ra tiền thì mình bổng nhiên tiếc, không muốn tiêu phí phạm nên bỏ quỹ tiết kiệm ngân hàng. Có dạo mình đọc báo thấy có công ty ở Saigon bán cỗ phần thì gửi thư mua, lấy địa chỉ trường Văn Học vì sợ ông bà cụ biết mình có tiền nhưng vốn của mình ít quá nên họ viết thư cám ơn. Khi đi Tây thì mình có trong ngân hàng trên 40.000 đồng hay 40 tạ gạo có thể gửi gạo cho 40 gia đình nhưng mình rút ra đưa cho bà cụ. Của César thì trả lại cho César.

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo giang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn