Chuyện tưởng như thật trong Chiến tranh Đông Dương
Chả biết ông tây bà đầm nào rủ mình gia nhập nhóm về chiến tranh Đông-Dương của Pháp trên mạng xã hội. Buồn đời mình mò đọc tin tức của họ trên trang của nhóm thì có một bài khiến mình thất kinh. Khiến mình nhớ đến cách đây mấy năm có một người tự xưng là lính mỹ ở Việt Nam, không nói được tiếng mỹ chắc sau mấy chục năm không ESL nên ngọng. Hoá ra trong chiến tranh Đông-Dương có nhiều người đi lính cho pháp, đào ngủ hay bị bắt rồi buồn đời tham gia đánh pháp với quân đội Việt mInh. Việt Minh là viết tắc của Việt Nam Đồng Minh Hội, gồm các lực lượng của các đảng phái người Việt tại Việt Nam, hợp tác đánh pháp, dành độc lập.
Ông Stefan Kubinka và vợ Việt NamCó câu chuyện này kể về cuộc đời của ông Stefan Kubiak, một người Ba Lan đã phục vụ cùng Việt Minh trong Chiến tranh Đông Dương. Kubiak, một cựu binh của Quân đoàn Lê dương, đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc xung đột nhất là tại Điện BIên Phủ. Ông ta sinh ngày 25 tháng 8 năm 1923 tại khu Widzew, thành phố Łódź, Ba Lan. Ông Stefan Kubiak lớn lên trong một gia đình thợ dệt nghèo. Dù tuổi thơ nhiều khó khăn, ông tìm thấy niềm an ủi trong các cuốn sách phiêu lưu, lịch sử và phim ảnh, những thứ đã khơi dậy trí tưởng tượng và niềm say mê với những vùng đất xa xôi. Nếu mình không lầm câu chuyện kể do con ông ta hiện sinh sống tại Ba Lan kể.
Trong Thế chiến II, do Ba Lan bị Đức chiếm đóng, Stefan mới 16 tuổi đã bị cưỡng bức đưa sang Đệ Tam Đế chế làm lao động. Ban đầu, ông làm việc tại một trang trại gần Memel (nay là Klaipėda, Litva), nơi chủ đất người Đức buộc ông làm việc như hai người. Sau đó, ông bị chuyển đến một nhà máy ở Westphalia, nơi ông phải chịu cảnh đói khát nghiêm trọng.
Khi nghe tin Hồng quân đang tiến về Ba Lan, Stefan đã trốn khỏi nơi làm việc và bắt đầu hành trình nguy hiểm băng qua nước Đức Quốc xã bằng cách lén đi tàu. Tuy nhiên, ông bị phát hiện và đưa trở lại vùng ngoại ô Memel, nơi ông bị buộc phải đào chiến hào. Không nản chí, ông lại trốn thoát, tiến về phía đông nam và gia nhập một đơn vị du kích Liên Xô.
Đầu tháng 1 năm 1945, Kubiak, khi đó 21 tuổi, trở về Łódź cùng Hồng quân. Theo lời khuyên của một người bạn có kinh nghiệm, ông đăng ký vào Trường Trung ương đào tạo sĩ quan chính trị. Mục tiêu của ông là trở thành chính ủy trong Quân đội Nhân dân Ba Lan, lực lượng vũ trang của Ba Lan thời Stalin, nhưng sau đó ông đào ngũ trong hoàn cảnh không rõ ràng. Chắc đói quá nên bỏ trốn cũng có thể tỏng thừoi gain đó Liên Xô đã sát hại 30,000 sĩ quan Ba Lan tại Karen thì phải để mình sẽ xét lại có đúng địa danh không. Chỉ nhứo
Cùng với những người Đức bị trục xuất, ông Kubiak có mặt tại nước Đức do phe Đồng minh chiếm đóng. Dù không có tiền bạc, đói khát và không có giấy tờ, ông bị cảnh sát Pháp bắt giữ. Đứng trước lựa chọn giữa tù giam và gia nhập Quân đoàn Lê dương, ông đã chọn con đường thứ hai. Ông được đưa đến Algeria qua cảng Marseille để huấn luyện khắc nghiệt. Mình có xem một phim tài liệu của pháp nói về sự huấn luyện của lính Lê Dương (légionnaire) ở Algerie. Sau khi hoàn thành huấn luyện, với tư cách là lính Lê dương, ông tham gia đàn áp các cuộc nổi dậy chống thực dân tại Maroc năm 1946.
Sau chiến tranh đệ nhị thế chiến, các thuộc địa thấy người Pháp chả là gì cả. Paris bị chiếm đóng trong vòng 7 ngày và bị Đức quốc xã đô hộ. Ở Việt Nam, quân đội Nhật giải giới người Pháp rất nhanh tỏng vòng mấy tiếng đồng hồ vì thật ra người Pháp ở Việt Nam rất ít so với số người Việt. Họ hết sợ thực dân nên đòi độc lập thêm khối liên Sô tìm cách kéo các nước anh em thế giới đại đồng càng nhiều càng tốt nên cũng cấp vũ khí đến đánh nhau với tây. Ở Paris có tổ chức MẶt Trận Giải Phóng Quốc Gia của Algérie (NFL) do ông Ben Bella cầm đầu, bỏ bom bú xua la mua ở pháp khiến Tây sợ lắm.
Tháng 12 cùng năm, ông lên tàu SS Pasteur và được điều sang Đông Dương. Đầu năm 1947, đơn vị của ông đóng tại Nam Định để chống lại lực lượng khởi nghĩa Việt Nam bằng các chiến dịch “tìm và diệt”. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến các phương pháp tra tấn tàn bạo của quân Pháp đối với nông dân Việt Nam, thường dẫn đến cái chết và xâm hại dân thường, Kubiak quyết định rời bỏ vị trí của mình. Ông cùng hai người Đức và một người Áo trong Quân đoàn, những người có cùng suy nghĩ, lập kế hoạch đào ngũ và trốn vào rừng. Lính Lê dương đa số là người ngoại quốc, gia nhập để làm lại cuộc đời cho nên họ không trung thành với đế chế Pháp gì cả. Lính đức đào ngủ, sợ bị quy tội Nazi, phục vụ cho SS này nọ nên đăng lính Lê dương cho quên đời.
Với mục tiêu gia nhập cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Minh, những người châu Âu đào ngũ ban đầu gặp khó khăn trong việc tạo dựng niềm tin với người dân địa phương do ngoại hình và quân phục Pháp. Tình hình cải thiện khi một cậu bé Việt Nam dẫn họ đến gặp lực lượng kháng chiến. Phó của thủ lĩnh địa phương lại là một người Đức đào ngũ, điều này giúp họ dễ dàng hòa nhập. Chỉ trong hai tuần, họ đã được phân vào các đơn vị du kích.
Ông Kubiak bắt đầu nhiệm vụ với công việc táo bạo là phát tờ rơi tuyên truyền tại Nam Định, nơi trước đó ông từng đóng quân. Sau đó, ông tình nguyện vào lực lượng Vệ quốc đoàn và tham gia nhiều cuộc phục kích nhằm vào đoàn xe và đội tuần tra của quân Pháp. Ông cũng huấn luyện các chiến sĩ trẻ Việt Nam sử dụng vũ khí hiện đại. Với đóng góp tại Phủ Thông, ông nhận được huân chương Việt Nam đầu tiên. Tại miền Bắc, ông thể hiện kỹ năng sửa chữa nhiều loại vũ khí thu được như pháo, súng phóng lựu và súng cối. Sau trận Hòa Bình năm 1952, khi Việt Minh thu được nhiều khẩu pháo không sử dụng được, ông đã sửa chữa thành công, giúp lực lượng Việt Nam sử dụng chúng và được cấp trên ghi nhận.
Trong những năm tiếp theo, ông tham gia hầu hết các trận đánh lớn của cuộc chiến. Khi chiến đấu tại Phủ Thông, ông suýt chết do bị mảnh lựu đạn trúng mặt; dù bị thương nặng, ông vẫn dùng sức lực cuối cùng để ném trả quả lựu đạn vào hầm địch. Ông cũng suýt bị bắt khi yểm trợ đồng đội rút lui tại Sơn Tây. Trong Quân đội Việt Minh, ông được đặt biệt danh “Toán” nhờ khả năng chiến thuật xuất sắc, đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho ông chỉ huy một đơn vị pháo binh. Ông được xem là một chiến sĩ tài năng, góp phần phá vỡ phòng tuyến khó khăn nhất của địch bằng cách cải trang thành sĩ quan Pháp, tạo điều kiện cho quân Việt Nam xung phong chiếm cứ điểm. Với chiến công này, ông được thăng cấp đại úy và nhận thêm huân chương. Chi tiết này cho thấy cũng là chiến thuật hay của Việt minh. Tưởng tượng lính tây và Việt Nam đang đánh nhau thì có tên da trắng xổ tiếng pháp, thế là họ ngừng bắn thì bị giết ngay. Lạ không thấy Hà Nội kể về nhân vật vật này.
Dù là người nước ngoài, Kubiak được Việt Minh rất kính trọng, thậm chí còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận làm con nuôi và ban cho tên đệm danh dự “Hồ Chí”, ghi nhận đóng góp của ông trong cuộc đấu tranh dành độc lập của dân tộc Việt Nam. Sau khi Chiến tranh Đông Dương kết thúc năm 1954, ông Kubiak được chuyển về Hà Nội và tiếp tục phục vụ trong quân đội, nhưng với vai trò phóng viên của Báo Quân đội Nhân dân.
Ông đôi khi sang Cộng hòa Nhân dân Ba Lan, được ân xá cho việc đào ngũ trước đây và làm phiên dịch cho các đoàn quân sự Việt Nam. Ông định cư tại Hà Nội và năm 1956 lập gia đình với một phụ nữ Việt Nam tên Nguyễn Thị Phượng, cũng theo Công giáo; họ quen nhau nhờ Franciszek Zwierzyński, một người Ba Lan làm việc tại Việt Nam trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Hai người có hai con trai: Hồ Chí Thắng (sinh năm 1956) và Hồ Chí Dũng (sinh năm 1958). Do vết thương tái phát và bệnh sốt rét nặng, ông Stefan Kubiak lâm bệnh nặng năm 1963 và qua đời tại Hà Nội ngày 28 tháng 11 năm đó, hưởng dương 40 tuổi.
Mộ phần của ông Stefan Kubiak, tên việt là Hồ Chí Toán.Theo nguyện vọng cuối cùng của ông, vợ và các con tại Ba Lan được biết đến với tên Teresa Kubiak cùng hai con Stefan và Wiktor đã chuyển từ Việt Nam về Ba Lan năm 1964 và sống tại Łódź. Mộ của Stefan Kubiak nằm tại nghĩa trang Văn Điển, cách trung tâm Hà Nội 11 km; trên bia mộ, ngoài chữ tiếng Việt còn có dòng chữ Ba Lan: “Tu spoczywa Polak, bohater narodu wietnamskiego, uczestnik bitwy pod Dien Bien Phu” (Nơi đây yên nghỉ một người Ba Lan, anh hùng của dân tộc Việt Nam, người tham gia trận Điện Biên Phủ).
Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen
Nguyễn Hoàng Sơn



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét