Nổi kinh hoàng của đạn tổ ong

 NỖI KINH HOÀNG của đạn Beehive 


Hồi nhỏ mình nghe mấy người lớn nói có đạn bắn bằng mũi tên, đạn chụp chi đó khiến mình như bò đội nón, cứ tưởng tượng nỏ thần An Dương Vương với mối tình hữu nghị Trọng Thuỷ Mỹ Châu. Vào mấy trang nhà của cựu lính Mỹ tại Việt Nam thì khám phá ra là có thật. Họ gọi là Đạn tổ ong (beehive round).


Họ cho biết trong chiến tranh Việt Nam, quân đội Bắc Việt (NVA) khiếp sợ chúng. Có nhiều người kể là khi xưa nhờ mấy loại đạn này mà sống sót khi bị bộ đội bao vây và súng cà nông chỉa lên trời không ăn thua gì vì địch đã ở ngay hàng rào và đang cắt dây kẽm gai để chui vào. Loại đạn này bắn chụp trên không khiến hàng ngàn phi tiêu bay xuống. Có người kể quan cảnh rùng rợn khi Việt Cộng rút lui, nhiều người bên bộ đội bị phi tiêu cắm vào người như hamburger. Kinh hoàng. 


Mình thấy hình chụp mấy căn cứ của lực lượng đặc biệt mỹ ở gần biên giới như Ben Het, đều có phi đạo và súng cà nông để bắn xa xa khi khám phá ra các đoàn bộ đội di chuyển cách đó mấy dặm sơn khê. Vấn đề là khi cộng quân tấn công căn cứ thì quá gần để bắn đại bác trong khi cộng quân có thể sử dụng súng cối nhỏ để bắn vào căn cứ. Thế là họ đột phá tư duy nghĩ ra cách bắn đạn chụp từ súng đại bác, đã được chỉa lên trời. Nhưng tay đầu đạn bằng đạn tổ ong.


Họ cho biết là năm 1957, Quân đội Hoa Kỳ ký hợp đồng phát triển vũ khí cho Tập đoàn Whirlpool, một công ty sản xuất máy giặt, ngày nay vẫn còn hiện hữu. Các kỹ sư của công ty máy giặt Whirlpool tại Picatinny Arsenal được giao nhiệm vụ giải quyết một vấn đề mà pháo binh Hoa Kỳ đã gặp phải từ thời Nội chiến, nghĩa là rất xa xưa.


Làm thế nào để chặn đứng một đợt tấn công bộ binh ồ ạt khi chúng đã áp sát trận địa pháo? Câu trả lời của họ là một quả đạn pháo 105 mm chứa 8.000 mũi tên thép ổn định bằng cánh. Mỗi mũi tên có kích thước gần bằng một chiếc đinh, có bốn cánh nhỏ, giúp nó bay mũi nhọn về phía trước như một mũi tên tí hon. Hình như tiếng Việt gọi là phi tiêu. Khi ngòi nổ cơ học theo thời gian của quả đạn kích hoạt, có thể được cài để nổ ngay khi rời nòng, lớp vỏ nhôm vỡ tung và 8.000 mũi flechette phun ra phía trước thành một hình nón phẳng đang mở rộng với tốc độ khoảng 1.500 feet mỗi giây. Độ 400 mét cho mỗi giây. Quá nhanh để trốn. Chỉ một lần giật dây cò đã biến pháo dã chiến thành một khẩu shotgun.


Không phải ẩn dụ mà là shotgun theo nghĩa đen. Không phải bắn 9 viên như đạn 12 gauge, mà là 8.000 mũi thép trong một phát, có thể bao phủ mặt trước rộng 30 mét ở khoảng cách 100 mét. Họ gọi nó là đạn “tổ ong” (beehive).


Và lần đầu tiên nó được sử dụng trong chiến đấu tại một căn cứ hỏa lực tên LZ Bird vào đêm 27 tháng 12 năm 1966, nó đã quét qua ba tiểu đoàn bộ binh Bắc Việt và góp phần gây ra hơn 250 thương vong tử trận phía đối phương. Dễ sợ. Không biết một tiểu đoàn Việt Cộng là bao nhiêu, nghe nói từ 300-500 người. Vậy xem như có 900-1,500 bộ đội ở trận đánh này và có đến 250 bị chết. Kinh


Đó mới chỉ là phần mở đầu. Nhưng khoảnh khắc chứng minh bản chất thật sự của loại vũ khí này, trận đánh khiến pháo thủ hoàn toàn tin tưởng và buộc bộ đội bác Hồ phải thay đổi cách tác chiến trong suốt phần còn lại của cuộc chiến diễn ra ba tháng sau tại một căn cứ hỏa lực tên Suối Tre.


Nhưng trước tiên, cần hiểu vấn đề mà đạn beehive được tạo ra để giải quyết vì nếu không có bối cảnh đó, các con số chỉ khiến chúng ta bá vơ. Đây là thực tế chiến thuật của một căn cứ hỏa lực ở Việt Nam lúc 3 giờ sáng. Một pháo thủ bên trong vòng phòng thủ, bao cát, dây thép gai concertina, mìn Claymore, pháo sáng bẫy. Hình như loại này được gắn cài ở ngoài rào. Việt Cộng chui đến đụng thì pháo nổ sáng lên để mấy người canh gác nhắm vào chỗ đó để bắn.


Khẩu pháo trong trại, căn cứ đang hướng ra ngoài với góc cao để yểm trợ hỏa lực gián tiếp cho các đơn vị bộ binh hoạt động cách đó hàng dặm. Đó là nhiệm vụ bình thường của pháo thủ. Bắn đạn qua các ngọn đồi tới các tọa độ được báo về qua radio bởi đề lô. Rồi vòng phòng thủ bị tấn công, Đặc công của bộ đội đã cắt hàng rào. Đạn cối rơi dồn dập vào vị trí của các pháo thủ. Và giữa khói, ánh pháo hỏa châu và tiếng ồn, lính trong căn cứ có thể thấy hoặc chỉ cảm nhận cho rằng có hàng trăm người đang tiến về phía bạn qua khoảng đất trống. Mình nghe kể là Việt Cộng hay dùng chiến thuật Biển Người của Mao Trạch Đông, thổi kèn in ỏi, la hét “hàng sống chống chết” chi đó khi tấn công vào đồn. Nghe âm thanh này cũng đủ sợ, vái tứ phương.


Biệt động Việt Cộng đã vào trong phạm vi 300 mét. Họ đang áp sát rất nhanh. Khẩu pháo trong căn cứ lúc này gần như vô dụng. Nó đang chĩa lên trời. Đạn nổ mạnh được thiết kế để bay vòng cung qua địa hình và phát nổ khi chạm đất hoặc trên không. Chúng phát tán mảnh văng theo mọi hướng, rất hiệu quả ở khoảng cách xa, nhưng cực kỳ thiếu chính xác ở cự ly gần.


Ở 100 mét, một quả đạn pháo có thể bay quá mục tiêu, nổ phía sau kẻ tấn công, hoặc tệ hơn, rơi trúng chính quân mình. Súng máy đang bắn. Mìn Claymore phát nổ nhưng làn sóng tấn công vẫn tiếp tục tiến lên vì bộ đội NVA hiểu rõ bài toán. 


27 người Mỹ đã thiệt mạng so với 250 bộ đội. Thiếu tướng David Ott, Tư lệnh Pháo binh Dã chiến của Lục quân, sau này viết rằng LZ Bird đã chứng minh đạn “beehive” là một vũ khí cực kỳ quan trọng cho toàn bộ chương trình phòng thủ căn cứ hỏa lực.


Từ đêm đó trở đi, mọi căn cứ hỏa lực mỹ tại Việt Nam đều bố trí sẵn đạn beehive với các khu vực bắn được chỉ định. Loại vũ khí từng chỉ là một khái niệm lý thuyết giờ đã trở thành học thuyết tiêu chuẩn.


Nhưng LZ Bird là hỗn loạn. Đạn beehive được bắn trong tuyệt vọng vào một vị trí đã bị tràn ngập, như biện pháp cuối cùng. Câu hỏi mà chưa ai trả lời lúc đó là: điều gì xảy ra khi sử dụng nó một cách có chủ đích, như một phần của hệ thống phòng thủ được lên kế hoạch, trước khi đối phương chạm đến hàng rào? Ba tháng sau, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã đưa ra câu trả lời tại căn cứ hỏa lực Suối Tre, Tỉnh Tây Ninh.


Ngày 21 tháng 3 năm 1967 vào rạng bình minh. Hai tiểu đoàn Việt Cộng thuộc Trung đoàn 272 tấn công căn cứ do Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh 22, Sư đoàn 25 trấn giữ. Cuộc tấn công đến từ phía đông và đông nam. Bộ binh Việt Cộng đông đảo tiến qua bìa rừng về phía chu vi phòng thủ. Lần này, việc phòng thủ không còn là ứng biến như LZ Bird. Chỉ huy đã lập kế hoạch sẵn các khu vực bắn đạn beehive. Khi làn sóng tấn công tiến vào khu vực giao chiến, ông ra lệnh. Trước tiên, ông yêu cầu các chỉ huy đại đội bộ binh cho binh sĩ vào vị trí ẩn nấp. Sau đó, ông ra lệnh cho các khẩu pháo 105 mm nạp đạn APERS và bắn về phía đông và đông nam. Các khẩu pháo khai hỏa.


40 quả đạn beehive trong một trận đánh, số lượng đạn M546 được sử dụng nhiều nhất trong bất kỳ trận nào tính đến thời điểm đó. 320,000 phi tiêu được bắn ra. Báo cáo sau trận mô tả kết quả trong một câu. Những khoảng trống lớn đã bị xé toạc trong đội hình tấn công, không phải bị thương, không phải bị chế áp mà là những khoảng trống. Toàn bộ các phân đoạn của đội hình xung phong đã biến mất. Cuộc tấn công của Việt Cộng bị phá vỡ. Bộ binh chuyển sang phản công, truy đuổi những bộ đội sống sót trở lại bìa rừng. Khi trận chiến kết thúc, số thi thể được đếm là 299 lính NVA tử trận. 31 người Mỹ thiệt mạng. Tỷ lệ gần 10:1.


Và báo cáo sau trận ghi nhận một điều đã thay đổi vĩnh viễn cách Lục quân nhìn nhận phòng thủ căn cứ hỏa lực. Đạn beehive cực kỳ hiệu quả trong việc chặn đứng bộ binh địch đang xung phong. Đó là một đánh giá tác chiến, được viết bởi những sĩ quan vừa chứng kiến 8.000 mũi thép trong mỗi quả đạn xé nát một cuộc tấn công cấp tiểu đoàn trong 100 mét cuối cùng của hướng giao tranh.


Trước LZ Bird và Suối Tre, học thuyết tấn công chính của bộ đội là bộ binh tập trung lực lượng. Đánh vào chu vi tại một điểm. Áp đảo bằng số lượng của biển người, chấp nhận thương vong trên đường tấn công. Sau năm 1967, học thuyết đó thay đổi. Các nhà phân tích tình báo Mỹ ghi nhận rằng các đơn vị Việt Cộng bắt đầu điều chỉnh chiến thuật tấn công để đối phó với hỏa lực bảo vệ cuối cùng, trong đó có đạn beehive.


Tại Xa Cát tháng 10 năm 1967, các tiểu đoàn bộ đội tiếp cận bằng cách bò, giữ tư thế nằm để giảm mức độ phơi bày trước quỹ đạo thấp của chùm flechette. Họ áp dụng chiến thuật “bám sát”, giao tranh  trong khoảng 20–30 mét trước khi khai hỏa, lực lượng phòng thủ không thể bắn beehive mà không gây nguy hiểm cho chính quân mình. Họ chuyển từ các làn sóng bộ binh đông đảo sang các mũi đột nhập do đặc công dẫn đầu, những nhóm nhỏ chuyên cắt hàng rào và phá hầm thay vì cả đại đội xông qua địa hình trống.


Đến năm 1969, quân đội Mỹ tiếp tục hoàn thiện khái niệm phòng thủ căn cứ. Căn cứ hỏa lực Crook, tháng 6 năm 1969, đại diện cho việc áp dụng hoàn chỉnh học thuyết beehive. Radar giám sát mặt đất và cảm biến địa chấn phát hiện lực lượng NVA đang tập trung ở bìa rừng trước khi cuộc tấn công bắt đầu. Pháo binh bắn đạn beehive vào các tọa độ đã được ghi nhận sẵn dựa trên dữ liệu cảm biến, không phải như biện pháp cuối cùng, mà là đòn đánh mở đầu.


Trong hai đêm giao tranh, 76 thi thể NVA được tìm thấy trong một khu vực. Tỷ lệ tiêu diệt tại khu vực đó gần 76:1. Đạn beehive đã tiến hóa từ một biện pháp tuyệt vọng thành một vũ khí được tính toán. Không còn bắn trong hoảng loạn khi đối phương đã vào trong hàng rào, mà được dẫn hướng bằng radar vào các đội hình vẫn còn đang tập họp trong rừng. Loại đạn được thiết kế để chặn một cuộc tấn công đang diễn ra giờ đây ngăn chặn chúng trước khi bắt đầu.


Khi chiến tranh tiếp diễn, nhiều đơn vị pháo binh ngày càng dựa vào thứ họ gọi là “Killer Junior” đạn nổ mạnh tiêu chuẩn với ngòi nổ thời gian cơ học, được cài đặt để phát nổ ở độ cao 10–30 mét, tạo ra vụ nổ trên không phát tán mảnh theo mọi hướng. Killer Junior bền vững hơn về hậu cần. Mỗi đội pháo binh mang theo hàng trăm quả đạn HE, nhưng chỉ có số lượng hạn chế đạn beehive. Họ thay đổi cách bắn, nổ trên không hoạt động 360°, trong khi chùm của beehive chỉ bao phủ khu vực phía trước nòng pháo.


Nhưng Killer Junior không thể làm điều mà beehive làm được tại hàng rào. Nó không thể lấp kín mặt trận 30 mét bằng 8.000 đầu đạn trong một lần bắn. Nó không thể biến 100 mét cuối cùng của hướng tiếp cận thành một bài toán không có lời giải đối với bộ binh đông đảo tiến trên địa hình trống.


Ở những khoảng cách mà phòng thủ căn cứ là vấn đề sống còn, nơi người lính có thể nhìn thấy những người đang cố giết họ. Không có gì trong kho vũ khí Mỹ sánh được với những gì M546 mang lại. Đạn beehive không thắng cuộc chiến Việt Nam. Không có vũ khí đơn lẻ nào làm được điều đó. Nhưng nó đã thay đổi điều kiện của trận chiến tại điểm duy nhất mà Việt Cộng luôn có lợi thế: đòn tấn công cuối cùng.


Trước beehive, chạm đến hàng rào là cái giá thương vong có thể chấp nhận. Sau beehive, chạm đến hàng rào là án tử cho bất kỳ ai còn đứng thẳng. Bộ đội là những người lính chuyên nghiệp, thích nghi với mọi loại vũ khí mới mà Mỹ. Họ cũng thích nghi với beehive bằng cách bò, bằng cách bám sát, bằng cách sử dụng đặc công thay vì cả tiểu đoàn.


Những pháo thủ đã bắn những loạt đạn đó tại LZ Bird, tại Suối Tre, tại Crook, và tại hàng chục căn cứ hỏa lực không bao giờ được ghi vào sách lịch sử, họ kể lại là nhớ âm thanh. Không phải tiếng nổ của khẩu pháo, mà là âm thanh sau đó.


8.000 mũi flechette xé gió ở tốc độ 1.500 feet mỗi giây tạo ra một âm thanh mà các cựu binh mô tả là tiếng rít, hay tiếng vo ve, hoặc thứ gì đó mà họ chưa bao giờ tìm được từ ngữ chính xác.



Có ông mỹ kể như sau về trận đánh ở Suối Tre:


l only know of only one time that a bee hive was used in combat. l meet a guy who came to our unit right before l transferred out. He was on a 155mm howitzer at the battle of Soui Tre. They were being over run when they fired l think one round. l remember him saying he heard it go off and then it was dead quiet. Ai buồn đời thì đọc hai đường dẫn dưới đây để hiểu rõ hơn. Mình thấy giết người quá kinh khủng.


https://en.wikipedia.org/wiki/Beehive_anti-personnel_round


https://grokipedia.com/page/Beehive_anti-personnel_round


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét