Từ làng Ngọc Anh đến Đà Lạt

 Từ làng Ngọc Anh đến Đà Lạt 


Đà Lạt là một thành phố được xây dựng hoàn toàn bởi người Pháp vì trước khi người Pháp khám phá ra vùng đất này thì vùng này chỉ là hoang vu đồi hạ đôi bờ cỏ xanh. Khi xây dựng thì họ cần người Việt và người Tàu để phục vụ cho họ, giúp xây dựng thành phố nghỉ dưỡng với giấc mộng là thủ đô của Đông-Dương của Pháp quốc. Trong số những người đến thật đầu là 100 người Việt khởi đầu. Ông ngoại của một anh bạn gần xóm Công Chánh Hai Bà Trưng, được xem là một trong số 100 người Việt đã đến định cư tại Đà Lạt. Nghe anh ta kể là có giấy khen chi đó của thị trưởng Đà Lạt khi xưa.

Tiệm Vĩnh Hưng của ông bà Võ Quang Tiềm, bên cạnh là tiệm vàng của ông bà Tư Bổ (Huỳnh Ngọc). Dãy phố này được ông Võ Đình dung xây cất.

Đa số là những người đến đầu tiên là từ miền Trung, người Tàu từ Sàigòn, Chợ Lớn đến. Mình có tấm ảnh ở khu vực ấp Ánh Sáng ngày nay, có mấy tiệm tàu tạp hoá. Sau năm 1932, có lũ lụt cuốn trôi mất tiêu nhà cửa ở khu vực này vì nằm dưới cái đập, khiến 15 người dân bị lũ cuốn trôi. Sau này thì có ông Hoàng Trọng Phu, tổng đốc Hà Đông, đưa người từ Hà Đông, Nghệ An và Hà Tỉnh vào Đà Lạt để trồng rau cải cho người Pháp. Thời chiến tranh, các vùng xôi đậu, mất an ninh ở các xứ Quảng, người dân bỏ vào Đà Lạt rất đông. Tóm lại Đà Lạt có người đến từ miền trung đông nhất, sau đến miền bắc vì năm 1954, chính phủ Ngô Đình Diệm có đưa lên Đà Lạt một số đồng bào di cư từ miền bắc. Đặc biệt là vùng Bảo Lộc, Đức Trọng,..


Hình này chụp trước tiệm Hiệp Thạnh số 11 Duy Tân. Chụp khi cậu Võ Quang Tri về Đà Lạt, đến dượng Ân, rể ông Phúng, cạnh ông Phúng là bà Võ Quang Tiềm, cũng là chị ruột, đến bà phúng, dì Thanh, hình như vợ cậu Tri rồi đến dì Bá.

Trong số những người gốc Huế đến Đà Lạt những đợt đầu tiên có ông Võ Quang Tiềm. Ông Võ Quang Tiềm sinh năm 1902 tại làng Ngọc Anh, Phú Vang, Thừa Thiên. Dạo mình về Huế với mẹ mình, xe có chạy ngang làng nên mẹ mình chỉ đây là làng của Ôn Tiềm. Theo cậu Võ Quang Tri, con trai đầu của ôn Tiềm, kể cho mình thì là tên ông có nghĩa là “ánh sáng tiềm ẩn”. Cậu Tri mình chỉ gặp mặt có hai lần ở Paris khi cậu nghỉ hè về Paris thăm gia đình vì dạo ấy cậu làm việc cho cơ quan quốc tế ở Châu Phi. Sau này nhờ mạng xã hội nên cậu cháu có trao đổi tin tức gia đình cho nhau. Sau này, khám phá ra cậu đã qua đời trong mùa dịch covid. Còn cậu Miên thì dọn về miền nam nước pháp gần Nice, nghỉ hưu.

Gia phả của ông bà Võ Quang Tiềm


Thật ra mà nói những người khi xưa, bỏ làng ra đi để mong đổi đời, kiếm miếng ăn, tương tự ngày nay, người Việt đi lao động quốc tế chính thức hay đi chui. Ông bà mình cũng bỏ làng đi vào Sàigòn kiếm cơm hết. Còn không thì chỉ có cách đi theo cách mạng để có cơm ăn và đợi ngày cách mạng thành công về phố, tịch thu tài sản thiên hạ. Chán Mớ Đời 


Mình nghe trong gia đình kể thì ông Tiềm đi với một người anh vào Đà Lạt lập nghiệp, khởi đầu làm nghề thợ may. Ông Tư, anh của mệ ngoại mình vào Sàigòn kiếm cơm làm nghề thợ may, sau này nổi tiếng may áo dài cho tổng thống Ngô Đình Diệm. Viết đến đây mình mới nhớ khi xưa mấy người Huế làm thợ may ở Đà Lạt khá nhiều như bác Đoàn Mừng, hay ông Thi ở đường Duy Tân hình như tên tiệm may Đặng Thi, đối diện đền An Lạc, Khu Phố I, nhìn xéo qua, bên cạnh tiệm bi-da.


Sau này về Huế, lấy được người vợ, tên Nguyễn Thị TUyết, làng An Lưu, sinh năm 1906. Em hay chị bà con cô cậu với mệ ngoại mình, đem vào Đà Lạt. Từ đó bà Tiềm đem cả gia đình vào như người chị tên Dụ, ông Phúng và ông Đàng là hai người em trai vào Đà Lạt. Ông Phúng và ông Đàng cũng khởi nghiệp làm thợ may chắc được ông Tiềm dạy nghề. Dạo đó, người Pháp đang xây tuyến đường xe lửa từ Phan Rang lên Đà Lạt nên mấy anh em may áo quần sẵn rồi gánh xuống chỗ họ làm đường rày xe lửa để bán cho nhân công ở đây. Nghe nói phải đi bộ 3 ngày 3 đêm, chắc đêm ngủ lều. Từ từ mới có tiền và buôn bán thêm mấy thứ mà nhân công cần.


Mình nhớ khi xưa mỗi lần vào nhà ông bà Tiềm, tiệm Vĩnh Hưng (Vĩnh viễn Hưng thịnh do cậu Tri, con trai ông Tiềm giải thích cho mình) mình thấy mấy cái lu to đùng đựng rượu để bán cho dân Đà Lạt. Hình như ông ta có một nhà kho chứa rượu ở đường Hàm Nghi. Nhớ có ông nào quên tên, hình như cháu của ông Tiềm, làm tài xế chở đồ đi giao hàng. Mình có đến 1, 2 lần chi đó, nồng mùi rượu. Nghe nói ông ta có môn bài do người Pháp cấp nên chỉ có ông ta có thể làm đại lý mấy vụ này nên từ từ giàu to vì có những nơi như Đơn Dương, Di Linh, Bảo Lộc,…lên lấy hàng hay làm đại lý cho ông. Mẹ mình kể là khi lấy chồng, ông Tiềm kêu xuống Di Linh làm đại lý cho ôn. Ông Tiềm thích ăn cá do mẹ mình kho nên lâu lâu kêu mẹ mình kho cho nồi cá. Mẹ mình mang ơn ôn Tiềm vì khi đi theo Việt MInh, bị bắt, ông Tiềm có tiếng tăm tại Đà Lạt, bảo lãnh mẹ mình ra tù và cam kết với thị trưởng Đà Lạt lúc đó ông Cao Minh Hiệu nên sau này hay kho cá cho ôn. Mẹ mình nấu ăn cực ngon.


Khi ông cụ mình giải ngủ, học thi vào công chức của ty công chánh Đà Lạt thì ông ta bắt ông cụ mình ra nhà ông ngủ để ông ta xem xét học hành. Sáng sớm ông đánh thức ông cụ dạy kêu học bài. Mới đậu. Nghe nói là nhờ ông ta nộp đơn dùm vì nộp trễ nên ông ta đưa thẳng cho trưởng ty công chánh. Mình nghe nói ông ăn đồ cao lương mỹ vị không được vì bệnh dạ dày hay chi đó. Chỉ thích cá kho của mẹ mình.


Ngoài ra ông còn mua thuốc lá từ Quảng Nam đem về Đà Lạt để bán cho người Huế hút. Người ta gọi quen thuốc Cẩm Lệ ở Huế. Hình như mình có kể vụ này rồi. Thuốc Cẩm Lệ Huế” thường là cách gọi một loại thuốc lá sợi nổi tiếng xưa của Huế, làm từ lá thuốc trồng ở vùng Cẩm Lệ (Quảng Nam – nay thuộc Đà Nẵng), rồi đem ra Huế chế biến theo bí quyết riêng. Năm ngoái mình có ghé làng Thanh Quýt, nơi một anh bạn sinh ra đời. Cũng là nơi trông thuốc lá cẩm lệ ngon cực.


Người Huế thời cuối thế kỷ 19 đến giữa thế kỷ 20 rất chuộng loại thuốc này, từ giới lao động đến tầng lớp quý tộc. Thuốc được xắt sợi, vấn bằng giấy quyến thành điếu nhỏ hình “sâu kèn” để hút. Cậu Liễu, con bà Dụ, chị bà Tiềm, từ Huế vào giúp ông Tiềm buôn bán thuốc Cẩm Lệ , sau này cậu ra chợ mới, khu hàng guốc, có sập bán thuốc cẩm lệ và giấy quyến. Khi xưa, mình hay ra cậu để mua thuốc cẩm lệ cho mệ ngoại khi mệ ở nhà mình. Mệ mình hút thuốc cẩm lệ vui lắm. Lấy giấy quyến ra rồi quấn điếu thuốc hình sâu kèn. Hút dỡ thì tắt lửa rồi dán điếu thuốc hút dỡ lên tường. Khi nào hút tiếp thì lấy hai hay ba điếu thuốc hút dỡ quấn giấy quyến mới làm một điếu.


Mình nghe kể khi tây đổ bộ lại Việt Nam để giải giới quân đội Nhật Bản sau 1945 thì việt minh kêu gọi người Việt tản cư ra khỏi Đà Lạt nên thiên hạ sợ tây bỏ bom, càn quét nên nghe Việt Minh chạy tản cư hết. Ông Tiềm không đi nên ai tản cư thì họ bán rẻ nhà cửa lại cho ông. Lúc tây vào Đà Lạt, có vào tiệm ông hạch hỏi đủ trò, suýt giết. May sao thoát, đến khi dân Đà Lạt hồi cư thì cần nhà cửa nên mướn của ông để buôn bán làm ăn. Nghe bà cụ mình kể là đường Duy Tân khi xưa, phía bên tiệm bà Cửu Viện đi xuống đình An Lạc, khu phố I là toàn nhà của ông cho mướn. Ông Phúng và ông Đàng, em rể của ông Tiềm đều mướn nhà của ông để buôn bán. Sau này mua đất ở số 9 và 11 đường Duy Tân, xây nhà lầu rồi dọn về đó đến giờ. Tiệm đầu tiên đường Duy tân, cạnh tiệm Vĩnh Hoà là của ông Võ Quang Hàm, cháu của ông Tiềm.


Nghe nói ông ta có đâu 100 căn nhà trước khi Việt Cộng vào. Nhà ở Đà Lạt, ở Đơn Dương, Di Linh, Sàigòn thậm chí có mua nhà bên tây khi mấy người con đi học bên tây. Ông mua nhà ở Issy les MOulineaux. 1 căn cho cậu Tri, cậu Miên và dượng Ngô Viết Thụ ở và 1 căn để dì Tiếp và dì Út ở. Nên nhớ thời đó, 1 đồng bạc Đông-Dương có giá trị bằng 10 quan pháp nên mua nhà bên tây rẻ rề. Ngoài ra ông ta có mấy căn phố cho thuê để người ta làm khách sạn như Anh Đào, Mimosa,… Mình chỉ nhớ ông Tiềm và ông Đàng hùn nhau xây cái khách sạn bên cạnh chợ Đà Lạt, ngay bùng binh chợ mới. Nghe nói ông Đàng bỏ ra đâu 800 cây vàng, dượng Ngô Viết Thụ cũng bỏ một ít và thiết kế thì đùng một cái mấy ông Việt Cộng vào, mất hết.


Ông Tiềm vào Đà Lạt với hai bàn tay trắng để dựng nên sự nghiệp, 50 năm sau, mấy ông thần đi theo cách mạng về kêu ông ta là tư bản mại sản, có nợ máu với nhân dân nên tịch thu hết tài sản. Tiệm Vĩnh Hưng cũng bị lấy luôn, họ chỉ cho ông bà ở phía sau tiệm chỗ nhà bếp. Chán Mớ Đời 


Thật ra, dân Đà Lạt mà sung túc giàu có đều từ miền Trung, miền Bắc hay miền Nam đến lập nghiệp với hai bàn tay trắng. Sau vài cục năm chịu khó, họ tạo dựng được tài sản rồi bị Việt Cộng tố là tư bản mại sản, có nợ máu với nhân dân nên tịch thu hết tài sản của họ nên chỉ biết xuống tàu vượt biên. Ai ở lại cũng chết sớm.


Khi mình về Đà Lạt lần đầu thì ông đã qua đời. Mình có lên mả thánh thắp hương cho ông bà. Cái mộ của ông bà được xây hình tròn do người con rể là kiến trúc sư Ngô Viết Thụ thiết kế. Mình có chụp hình nhưng lười đi tìm, chỉ có tấm ảnh mộ của ông Phúng. Nay thì Việt Cộng họ dẹp bỏ mả thánh nên chả biết mồ mả nằm chỗ nào. (Còn tiếp)


mê tiềm tên là nguyên  thi thuyết  ỏ làng An  Lưu huyen phu vang tỉnh Thưa thiên Huế,ôn tiêm ở langf kế bên là Ngoc Anh 2 người luc vô Dalat con nghèo lăm mê ra chơ ngồi bán đồ khô con ôn  may quần đùi  đi bô theo đường ray xe lửa bán với ôn Phung ,bới cơm vắt theo ăn 3 ngày mới trỏ về nhà,luc mơi vô Dalat ai cing ngheo khổ hết cần kiêm và cố gắng làm mới giàu đươc

để di hỏi thêm dì Út còn sông ở  pháp ,dì biết nhiều chuyên hay lắm


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét