Ông Ba Mươi Lào

 Con cọp Lào



 Có một nhân vật rất nổi tiếng trong chiến tranh Đông-Dương ngay cả người Pháp cũng nói đến ông ta. Một người chống cộng tuyệt đối, đã theo chân quân đội pháp rồi đến quân đội mỹ và cuối cùng bị phản bội. Ông đã chỉ huy ba mươi nghìn binh sĩ. Ông đã chiến đấu, cho Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA), một cuộc chiến mà chính phủ Hoa Kỳ từ chối công khai thừa nhận. Trong mười lăm năm, lực lượng của ông đã giữ vững phòng tuyến trên dãy núi Lào để lính Mỹ không phải làm điều đó. Khi chiếc máy bay vận tải Mỹ cuối cùng cất cánh khỏi đường băng đất tại Long Tieng vào tháng 5 năm 1975, binh sĩ của ông được lệnh phải chờ đợi. Hầu hết họ không bao giờ gặp lại người Mỹ nào nữa. Tên ông là Tướng Vang Pao. Ba mươi lăm năm tiếp theo trong cuộc đời ông được dành để đấu tranh với chính chính phủ mà ông từng phục vụ, thay mặt cho những người lính ông đã phải bỏ lại phía sau.


Check out this video, "vang pao general"
https://share.google/RNWzlw5EWLlp0QewJ

Nghe kể có lần ông ta mổ bụng một cán binh bộ đội đã chết. Lý do là để xem bộ đội có được nuôi ăn uống đầy đủ để hiểu thêm về đối phương.


Cuộc chiến mà ông đã tham gia không chính thức tồn tại. CIA đã chiêu mộ người Hmong, một dân tộc thiểu số sống trên núi ở miền Bắc Lào, vào đầu những năm 1960. Nhiệm vụ là chặn đứng Đường mòn Hồ Chí Minh, cứu phi công Mỹ bị bắn rơi, và kìm chân lực lượng cộng sản ở Lào để chúng không thể di chuyển xuống miền Nam Việt Nam. Suốt toàn bộ chiến dịch, chính phủ Mỹ liên tục phủ nhận rằng có bất kỳ cuộc chiến nào đang diễn ra. Trên giấy tờ, Lào là quốc gia trung lập. Nhân sự Mỹ có mặt tại đó, trên giấy tờ, cũng không tồn tại. Như các biệt kích mỹ đóng tại các tiền đồn, giúp thám thính và B52 dội bom bắc Việt. Mình có kể vụ này rồi.


Người chỉ huy chiến dịch về phía người Hmong là một thiếu tá trẻ tên Vang Pao. Qua những năm tháng chiến tranh, ông được thăng chức lên tướng. Ở đỉnh cao chỉ huy, ông lãnh đạo khoảng ba mươi nghìn chiến binh. Họ được CIA tài trợ, được vũ trang bằng vũ khí Mỹ, và được huấn luyện bởi các cố vấn Mỹ. Họ giữ vững phòng tuyến trên núi để lính Mỹ không phải làm điều đó. Họ đã phải trả giá. Hàng chục nghìn binh sĩ Hmong thiệt mạng trong mười lăm năm chiến đấu mà Ngủ Giác Đài không bao giờ phải ghi nhận trong các báo cáo thương vong công khai.


Vào tháng 4 và tháng 5 năm 1975, các cấu trúc quân sự khắp Đông Nam Á sụp đổ. Sài Gòn thất thủ. Phnom Penh thất thủ. Quân Pathet Lao cộng sản tiến vào vùng núi. Thiếu tá Lê Xuân Phong có kể sau khi vượt trốn được trại Ba Khe thì đi bộ sang Lào, đói quá vào đến một ngôi làng người Lào, họ đi bộ ra biên giới vào báo cáo cho biên phòng, bộ đội cho người vào làng còng đầu hai người trốn trại về lại Việt Nam còn người thứ 3 bị thương nặng nên để ở lại. Chắc chết.


Các nhân viên Mỹ tại Long Tieng bắt đầu lên máy bay vận tải để di tản. Tướng Vang Pao được lệnh rời đi cùng họ. Những người lính dưới quyền ông được lệnh phải chờ. Máy bay không thể chở hết mọi người. Người Mỹ, theo mọi lời kể trung thực về những ngày ấy, biết rõ những gì họ đang bỏ lại phía sau.


Chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng cất cánh khỏi phi đạo bằng đất. Chiến dịch bí mật chính thức kết thúc.

Những người lính bị bỏ lại bắt đầu đi bộ. Hàng chục nghìn người Hmong, một số là binh sĩ và một số là gia đình của họ, men theo rừng rậm tiến về sông Mekong. Họ vượt sang Thái Lan bằng những chiếc bè tre do chính tay họ đóng. Nhiều người không đến được nơi. Pathet Lao săn lùng người Hmong một cách đặc biệt, vì họ đã xác định đây là đồng minh của CIA. Các trại tị nạn dọc biên giới Thái Lan chật kín những người sống sót.


Tướng Vang Pao không lặng lẽ nghỉ hưu. Ông đến Bộ Ngoại giao. Họ đề nghị cho ông một khoản lương hưu thoải mái của Mỹ. Ông đến các ủy ban tình báo. Họ đề nghị cho ông một cuộc sống yên bình. Ông đến các văn phòng di trú để xin giấy tờ cần thiết đưa người của mình ra khỏi trại. Họ đưa cho ông những thủ tục giấy tờ không có thời hạn.


Vấn đề pháp lý rất đơn giản. Năm 1975, Hoa Kỳ có hạn ngạch di trú nghiêm ngặt đối với Đông Nam Á. Bộ Ngoại giao không chính thức công nhận người Hmong là đồng minh quân sự của Mỹ. Chiến dịch ở Lào vẫn được phân loại là không tồn tại về mặt pháp lý. Đất nước này không thể cấp visa cựu chiến binh cho một cuộc chiến mà họ phủ nhận đã tham gia.


Hợp đồng bất thành văn rất đơn giản: Người Hmong đánh trận trên mặt đất. Người Mỹ sẽ lo cho họ sau đó. Hợp đồng đã bị phá vỡ ngay khoảnh khắc chiếc trực thăng cuối cùng bay qua tán cây tại Long Tieng.


Tương tự các người lính Lôi Hổ người Việt được thả ra bắc bị bắt, được CIA trả lương. Sau này, được Việt Cộng tha, có người vượt biển, có người được đi theo diện H.O. Hình như ông Sơn Beatles Đà Lạt xưa nằm trong nhóm này. Nghe đâu ông ta thay mặt đòi hỏi chính phủ mỹ chi đó, được trả lương khi ở tù Việt Cộng. Mình xem video của một anh chàng gốc Việt ở Úc Đại Lợi, qua mỹ đến nhà ông Hùng, biệt danh là Đặng Chí Bình, được Việt Nam Cộng Hoà huấn luyện và đột nhập vào Bắc Việt và bị bắt kể, sau này Hoa Kỳ trả cho ông ta một số lương, ông ta dùng số tiền đó, mua một chung cư cũ và sửa chửa để cho thuê nên sống cũng ổn.


Tướng Vang Pao từ chối biến mất. Ông định cư đầu tiên ở Montana, sau đó chuyển đến Fresno, California. Ông không xây dựng một cuộc sống yên bình. Ông xây dựng một mạng lưới định cư lại. Ông biến những gì còn lại của bộ chỉ huy quân sự cũ thành một cỗ máy hành chính. Ông giao cho các sĩ quan cũ nhiệm vụ theo dõi các gia đình Hmong trong các trại tị nạn Thái Lan và nộp đơn bảo trợ tại Hoa Kỳ. Ông chi tiền riêng của mình. Ông quát tháo các nhân viên di trú làm sai hồ sơ. Ông đòi gặp các thượng nghị sĩ vốn không chịu nghe điện thoại ông. Ông từ chối, cho đến cuối đời, học cách ngoại giao lịch sự.

Theo mọi lời kể, ông cứng đầu, gây khó chịu và khó làm việc cùng. Nhưng ông cũng là, theo một nghĩa đúng chất, nhà lãnh đạo cấp cao duy nhất còn lại của cộng đồng Hmong trên thế giới.


Từ năm 1975 đến 1990, ông đã tổ chức việc tái định cư hơn một trăm nghìn người Hmong vào Hoa Kỳ. Ông biến những gia đình nông dân từ vùng núi Lào thành cư dân của Thung lũng Trung tâm California, ngoại ô Minneapolis, và các thị trấn công nghiệp nhỏ ở Wisconsin. Ông làm chứng trước các tiểu ủy ban quốc hội để mở rộng hạn ngạch, đôi khi thành công. Ông tham dự các cuộc họp bảo trợ địa phương trong hầm nhà thờ. Ông trả lời điện thoại mọi giờ trong ngày.


Ông qua đời vào tháng 1 năm 2011, tại California, ở tuổi tám mươi mốt. Ông chưa bao giờ nhìn thấy dãy núi Lào lần nữa. Hình như ông Yves Gignac, cựu chủ tịch hội cựu quân nhân Đông-Dương pháp, có kể khi sang Hoa Kỳ, có gặp ông Vang Pao. Ngoài ra ông ta kể có gặp ông Kỳ ở Nhật Bản, có mấy ông cận vệ cũ đi theo. Tổng thống pháp Charles De Gaulle có câu bất hủ khi người ta nói về ông Kỳ, ông tây này hỏi: “Qui est Ky?” Khiến ông Kỳ tức giận, chấm dứt chương trình pháp tại Việt Nam, không cho du học ở Pháp đến khi ông ta hết còn làm phó tổng thống.


Chính phủ Hoa Kỳ đã tranh luận trong vài tuần về việc có cho phép chôn cất ông tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington hay không, nơi truyền thống chôn cất các chỉ huy quân sự Mỹ. Quân đội xem xét hồ sơ. Quyết định cuối cùng là không. Cuộc chiến ông chỉ huy chưa từng chính thức tồn tại. Cấp bậc quân sự ông nắm giữ không do Hoa Kỳ cấp. Đất nước này sẽ không, ngay cả trong cái chết, chính thức thừa nhận những gì họ chưa từng thừa nhận khi ông còn sống. Ông được chôn cất tại California. Mình có kể về lính biệt kích mỹ hy sinh tại Lào và Cao Miên, đều không có danh tính. Có nhiều gia đình phải tranh đấu nhiều lắm mới được toại nguyện. Theo tài liệu mình đọc tài liệu của người Mỹ được giải mả sau 30 năm thì có trên 587 người biệt kích mỹ mất tích tại Lào.


Dân số người Mỹ gốc Hmong ngày nay vượt quá ba trăm nghìn người. Tại Fresno, con cháu của những người đã đi bộ ra khỏi núi Lào năm 1975 đang nộp đơn vào đại học và viết bài luận về ông bà mình, những người đã vượt sông Mekong bằng bè tre do chính tay họ đóng. CIA đã giải mật hồ sơ về các chiến dịch bí mật vào cuối những năm 1990. Các tài liệu ngày nay được lưu trữ tại Văn khố Quốc gia. Bất kỳ ai cũng có thể yêu cầu đọc chúng. Nhiều trang vẫn còn bị tẩy đen.


Ông đã nhận lệnh phải biến mất vào tháng 5 năm 1975, và để dân tộc mình chịu số phận mà chính quyền tiếp theo của Lào đã dự định. Ông đã dành ba mươi lăm năm tiếp theo để bảo đảm rằng dân tộc của mình không biến mất cùng ông.


Vấn đề này thì mình thấy người Pháp có trách nhiệm hơn. Khi đi học ở Pháp mình đến hội cựu chiến binh pháp ở Đông-Dương ăn cơm mỗi tháng. Lý do là cho mình học bổng suốt thời kỳ đi học, tuy không nhiều. Tại đây, mình có dịp gặp tướng Salan, tướng Bigeard, vị chỉ huy quân đội Pháp tại Điện Biên phủ. Có lần mình hỏi ông ta về tướng Võ Nguyên Giáp thì ông ta nói ông Giáp rất giỏi, khiến mình nể ông ta vì ông ta đầu hàng quân đội Việt Minh để cứu lính pháp khỏi chết vì không được tiếp tế và chấp nhận đói phương giỏi. Dạo này có mấy ông tây già rủ mình tham gia các nhóm bính sĩ pháp ở Đông-Dương. Hôm tước thấy hình ảnh bác sĩ Grovin, vị y sĩ đang mổ cứu binh sĩ pháp bị thương tại trận Điện Biên Phủ.

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét