Trận chiến trực diện đầu tiên tại Việt Nam

 Trận chiến trực diện đầu tiên tại Việt Nam


Hôm trước, đọc trên trang nhóm cựu chiến binh Mỹ tại Việt Nam, một bài về trận chiến Ia Drang, mà họ kêu là trận đánh đầu tiên trực diện với bộ đội Bắc việt. Có một đại đội Mỹ bị chết và bị thương gần hết khiến mình tò mò đọc thêm tài liệu. Hình như có một cuốn phim nói về trận chiến này, dựa theo hồi ký của tướng Hal Moore “we were soldiers once”.

Dạo ấy mình còn bé nên không rành lắm, chỉ nhớ sau trận đánh thì chú Ký bạn quân ngũ của ông cụ về phép là lên nhà kể chuyện thời chiến. Ông cụ xin giải ngũ được. Chú là thượng sĩ già của sư đoàn 22 bộ binh. Chỉ nhớ sau này có nghe ca sĩ Thái Thanh hát “anh trở về dang dỡ đời em, Đắc Tô, Chu Prong, Đồng Xoài, Bình Dã,…” những địa danh của những trận đánh khốc liệt của chiến tranh Việt Nam. Lính nam Bắc tha hồ chết theo chỉ thị của nga -tàu và Mỹ. 

Có một trang toàn tài liệu về chiến tranh Việt Nam, nếu ai muốn tìm đọc thì theo đường dẫn Vietnam War, 1961-1975, Wilson Center, có khá nhiều tài liệu lịch sử được giải mả.

Theo mình hiểu là sau Điện Biên Phủ, các nước lớn họp nhau tại Geneva được ký kết. Việt Nam có hai phái đoàn; miền nam và miền Bắc đi ăn ké. Nghe kể, ông Phạm Văn Đồng đi gặp với phái đoàn Nga về khách sạn gọi cho ông Trần Văn Đỗ, sau này là ngoại trưởng của Việt Nam Cộng Hoà, nói bọn chúng đã ký kết với nhau, chia đôi Việt Nam. Nên họ gặp nhau để bàn, thống nhất ngày mai đưa ra yêu sách này nọ nhưng 4 cường quốc thắng trận đệ nhị thế chiến đã ký kết, lấy vĩ tuyến 17 để cưa đôi Việt Nam như xứ Triều tiên năm trước đó.

Hiệp định được thông qua là sẽ có tổng tuyển cử hai miền vào năm 1956. Vấn đề là khi chia cắt như vậy mà cứ để dân chúng tại chỗ thì miền nam bị lỗ vì có đến 3 triệu người đông hơn ở miền Bắc việt. Do đó chính phủ của ông Ngô đình Diệm không thể thực thi được những điều kiện trong hiệp định Geneva vì sẽ bị thua chắc chắn. Nếu họ chia cắt từ Thanh Hóa trở vào Nam thì dân số 2 bên đồng đều sẽ bình đẳng hơn.

Khi chia đôi đất nước thì người Việt có thể chọn miền Bắc hay miền nam để sống. Do đó có 1 triệu người từ Bắc Việt, chọn thế giới tự do, di cư vào nam và 350,000 người Việt tập kết ra Bắc để giúp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nghe nói số người di dân vào Nam đông quá khiến Hà Nội phải tìm cách chận làn sóng di cư trước thời hạn chót. Đa số là người công giáo, vào Nam, nên sau này CIA và chính quyền miền Nam cho người xâm nhập vào miền Bắc để móc nối, đều bị phát hiện vì hệ thống an ninh rất chặt chẽ. Thậm chí ngay các cố đạo còn làm việc cho công an. Như ông Đặng CHí BÌnh kể trong Thép Đen, khi vào nhà thờ ở Hà Nội, đưa lá thư của một linh mục từ Sàigòn cho ông cố đạo thì sau đó phát hiện ra bị công an theo dõi, bị tù 18 năm, sau này mới khám phá ra ông cố đạo báo tin cho công an. Tại sao ít người ra Bắc ở vì người cộng sản chỉ thị một số đông của họ, cài đặt ở lại miền nam. Khi người miền nam tập kết ra Bắc thì họ cho người nằm vùng liên lạc để chiêu dụ giúp đỡ họ để có tin tức từ người thân tập kết. Cho thấy ít nhất có đến 300,000 gia đình của những người tập kết, ít nhiều giúp đỡ Hà Nội trong thời kỳ chiến tranh. Điển hình là em của ông Dương văn Minh là Dương văn Nhựt được Hà Nội cho vào Sàigòn và ở trong nhà ông Minh. Nghe kể là cảnh sát đặt biệt bắt và thả ra vì ngại đụng chạm đến ông Big Minh. 

Qua tài liệu của trung tâm Wilson về Việt Nam thì vào năm 1964, nghĩa là sau vụ đảo Chánh chế độ đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà thì ngày 5/10/1964, trong một buổi họp, ông Phạm Văn Đồng, được Mao Trạch Đông chỉ định cho 1 sư đoàn bộ độ chính quy xâm nhập vào miền Nam. Trước đó, Hà Nội chỉ cho thành lập mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, do các người gốc miền Nam, chống lại chế độ miền Nam, đánh du kích với quân đội Việt Nam Cộng Hoà và cố vấn Mỹ. Họ chỉ tiếp vận vũ khí qua đường mòn Hồ CHí Minh.

Mình đọc trên mạng của ông Nguyễn Văn Tín, tài liệu khá chính xác khi đối chiếu với tài liệu Hoa Kỳ, có lẻ ông ta dựa theo hai bên để viết, xin trích dẫn đây:


Theo tướng Nguyễn Nam Khánh: “Đầu năm 1965, Bộ Tổng tham mưu cho gọi tôi và đồng chí Sư đoàn trưởng sư đoàn 304 lên giao nhiệm vụ vào miền Nam chiến đấu.

Tháng 8 năm 1965, Sư Đoàn 304 nhận lệnh gập rút chuẩn bị đi tới vùng Cao Nguyên Trung Phần vào tháng 9 (Sư Đoàn 304):

Đầu tháng 8 năm 1965, chỉ huy sư đoàn 304 nhận được lệnh của Bộ Quốc Phòng "đưa cả sư đoàn 304 vào chiến trường B… mọi công tác chuẩn bị phải hoàn thành trong hai tháng".

Trong tháng 9 năm 1965, Bộ Tư Lệnh Mặt Trận B3 đặt xong kế hoạch Chiến Dịch Plâyme với sự tham chiến của ba trung đoàn – 32, 33 và 66.

Kế hoạch trù tính thực hiện làm bốn giai đoàn: 1) Trung Đoàn 33 vây hãm trại Pleime để dụ lực lượng chính của Quân Đoàn II ra khỏi thành Pleiku; 2) Trung Đoàn 33 phục kích lực lượng tiếp cứu trại; 3) Cả hai trung đoàn hiệp lực tấn chiếm trại; 4) Trung Đoàn 66 hiệp lực với hai Trung Đoàn 32 và 33 tấn chiếm thành phố Pleiku.


Hà Nội nghiên cứu chiến dịch Pleime với sự trợ giúp của cố vấn quân sự Trung Cộng, đặt tổng hành dinh tại Nam vang để phối hợp chiến dịch này. Cho thấy xứ Cao Miên rất quan trọng cho Hà Nội trong cuộc chiến xâm chiếm miền Nam vì được tiếp tế gạo, lương thực của xứ này để nuôi quân. Họ nằm cạnh biên giới rồi lâu lâu chạy qua Việt Nam đánh rồi rút về. Việt Nam Cộng Hoà cũng như quân đội Mỹ chỉ biết đứng hát, bắt chước ông Nguyễn Văn Đông, kêu chiều mưa biên giới bộ đội đi về đâu. Do đó khi Nixon ra lệnh tiến đánh xứ CHùa Tháp thì bộ đội Hà Nội bị te tua vì nghĩ không bao giờ Việt Nam Cộng Hoà dám chạy qua biên giới hỏi thăm sức khoẻ của họ.

người Mỹ có kỹ thuật kiểm thính các liên lạc công khai của cố vấn Trung Cộng và Hà Nội, nhờ đó mà bộ tư lệnh quân đoàn II nhận được tin tức tình báo cập Nhật tình hình để hoạch định kế hoạch phản công, giúp chiến thắng Pleime. Có đường dẫn nói về Hà Nội cầu viện Trung Cộng. Có lần mình đọc phỏng vấn tướng Võ Nguyên Giáp, ông ta cho biết là cuộc chiến chống pháp không thể thành công nếu không có sự hổ trợ của Trung Cộng.

Sau này nghe ông Lê Duẫn cho biết là chúng ta đánh cho Tàu cho Liên Sô.


https://nguyentin.tripod.com/pleime_redchina-u.htm


Trong tháng 9 năm 1965, Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đặt kế hoạch Chiến Dịch Chuprong. Mục đích là triệt tiêu ba trung đoàn Bắc Quân với bom trải thảm B-52 tại ngay thời điểm ba trung đoàn này qui tụ tại các vùng tập trung tại Chu Prong để chuẩn bị tấn công trước khi chúng có thể ra tay hành động.

Căn cứ Chu Prong được biết là đã được tạo lập lâu trước cuộc tấn công Pleime và Ban 2 MACV đã chấm lấy vùng này để nghiên cứu vào tháng 9 năm 1965 như là có thể làm mục tiêu cho B-52.

Trong chiến tranh tình báo rất quan trọng. Sau 75, người ta khám phá Hà Nội cài người của họ ngay trong phủ tổng thống hay trong bộ chỉ huy thả lực lượng đặc biệt ra Bắc nên khi phe ta nhảy dù xuống Bắc việt là đã được đón chờ cánh dù như lâu ngày gặp lại người yêu. 

Bộ tư lệnh B3 ra lệnh tấn công sớm hơn dự tính và sử dụ g hai trung đoàn 32 và 33, gia tăng mức độ chuẩn bị trước 1 tháng. Trong khi đó, các đại đội chuyển vận được các lao công bị cưỡng bức trưng dụng tại vùng địa phương trợ giúp ráo riết tồn thu gạo và đạn dược.


Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II cấp tốc điều chỉnh kế hoạch thành Chiến Dịch Pleime-Chuprong. Khái niệm hành quân của chiến dịch là phòng thủ và đẩy lui cuộc tấn công của địch và chờ cho hai Trung Đoàn 32 và 33 qui tụ lại với Trung Đoàn 66 tại Chu Prong ngõ hầu có thể dùng trải thảm bom B-52 như đã trù tính trước.

Cuộc chiến kéo dài 38 ngày 

Trận chiến kéo dài 38 ngày chấm dứt vào ngày 26 tháng 11 (Pleime, Trận Chiến Lịch Sử):

Cho tới ngày 24-11-65 thì các cuộc tiếp xúc với địch không còn nữa và giai đoàn 3 cuả trận chiến Pleime kết thúc lúc 18g45 ngày 26-11-1965 với: 265 VC chết tại chỗ và 10 VC bắt sống.


Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét