Chọn mặt gửi vàng
Vào thập niên 1960, dưới sự lãnh đạo của tổng thống De Gaulle, ông ta ra lệnh hồi hương vàng của Pháp quốc từ Hoa Kỳ về khiến có sự xích mích giữa Hoa Kỳ và Pháp quốc từ dạo ấy. Mình có kể vụ hội thảo trước khi đệ nhị thế chiến chấm dứt ở Bretton Woods ở Hoa Kỳ. Trước khi thế chiến chấm dứt, các nước đồng minh gặp nhau tại khu nghỉ dưỡng này để bàn thảo hậu chiến về tài chánh.
Trong chiến tranh, ở âu châu thiếu thốn mọi điều nên khi họ qua Hoa Kỳ hội họp thì được ăn uống phủ phê, uống rượu như uống coca nên say mèn. Cuối cùng Hoa Kỳ đề nghị sử dụng tiền mỹ lim làm tiền tệ để sử dụng khi buôn bán với nhau thay vì đồng bảng anh như cả thế kỷ qua. Ai nấy đều say mướt nên nhất trí. Họ ra quy tắc là cứ lấy một lượng vàng thì đổi được $35 đô la hay ngược lại. Đại diện Anh quốc về nước bị nữ hoàng Elizabeth chửi quá cỡ, tính chém đầu.
Tổng thống De Gaulle buồn đời, kêu sao cho Hoa Kỳ sung sướng thế, có đặc quyền cho rằng Hoa Kỳ có thể duy trì thiếu hụt ngân sách và xuất cảng lạm phát, bằng cách in tiền trong khi các nước trên thế giới ôm đô la làm ngoại tệ. Ông ta nhớ sực là có đọc cuốn sách việt ngữ nào có câu châm ngôn: “chọn mặt gửi vàng” mà mặt của tên tổng thống Hoa Kỳ thấy nghi nghi, có gì gian dối nên không dám gửi vàng tại Hoa Kỳ.
Dạo ấy, Pháp quốc có vấn nạn lạm phát nên ông ta học được bài học. Ông Gignac, chủ tịch hội cựu chiến binh pháp và Đông Dương, theo nhóm OAS, ám sát hụt ông De Gaulle nên đi tù. Ra tù, ông ta kể đến ngân hàng rút tiền tiết kiệm chỉ đủ ăn bữa cơm ngoài đời là hết vì Pháp quốc, đổi tiền phật lăng cũ (AF) với tiền quan pháp Franc mới (NF), với tỷ giá 1 franc mới (NF) ăn 100 đồng phật lăng cũ (AF). Nên người Pháp hay nói tiếng lóng, hỏi mày có 1 franc thì kêu có 100 balles (tiếng lóng tiền quan cũ). Trước khi đi tù ông ta có 5,000 quan cũ trong quỹ tiết kiệm, nay ra tù rút được 50 quan pháp mới nên buồn đời ra kêu tô mì quảng và chai rượu nếp uống cho quên đời thằng tù.
Ông lo ngại về khả năng đồng đô la sẽ bị phá giá hoặc hệ thống tiền tệ sẽ sụp đổ vào một thời điểm nào đó, điều vốn có thể đe dọa đến lượng vàng dự trữ của Pháp đang được lưu giữ ở nước ngoài, đặc biệt là tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York. Pháp đã tích lũy được một lượng vàng dự trữ đáng kể nhờ vào thặng dư thương mại và việc chuyển đổi đô la sang vàng, nhưng phần lớn số vàng này lại đang nằm tại New York (và một phần tại London).
Không biết ông thần này có bằng tiến sĩ chưa.Vào tháng 3 năm 1963, tổng thống de Gaulle đã yêu cầu hồi hương toàn bộ số vàng của Pháp về Paris vì các lý do chủ quyền và an ninh, dựa trên những bài học rút ra từ các cuộc khủng hoảng trong quá khứ (ví dụ: những tổn thất trong đợt phá giá đồng bảng Anh năm 1931). Ngân hàng Trung ương Pháp (Banque de France) ban đầu đã khuyên can vì chi phí vận chuyển và bảo hiểm quá cao, nhưng tổng thống de Gaulle vẫn kiên quyết thực hiện. Một thỏa hiệp đã dẫn đến việc khởi động chiến dịch mật mang tên “Vide-Gousset” (Làm rỗng túi) vào tháng 9 năm 1963.
Chiến dịch này kéo dài cho đến năm 1966 và bao gồm tổng cộng 3.313 tấn vàng (từ cả Hoa Kỳ và Vương quốc Anh). Trong số đó:
• 1.638 tấn đến từ Hoa Kỳ (từ các kho lưu trữ của Cục Dự trữ Liên bang tại New York).
• Số còn lại (khoảng 1.175 tấn trong một giai đoạn chính) đến từ London.
Toàn bộ quá trình được giữ bí mật nhằm tránh làm leo thang căng thẳng địa chính trị, hoặc phát đi tín hiệu về sự ngờ vực trắng trợn vốn có thể châm ngòi cho các biện pháp trả đũa từ phía Hoa Kỳ. Ngân hàng Trung ương Pháp đã thực hiện một số đợt chuyển giao thông qua các tài khoản trung gian (ví dụ: tại Ngân hàng Trung ương Anh hoặc BIS ở London) để tăng thêm tính bảo mật. Các mật danh được sử dụng bao gồm “Affaire 18” cho các chuyến vận chuyển bằng đường biển từ New York, và “Affaire 19/20” cho các chuyến vận chuyển bằng đường hàng không.
Chương trình hồi hương vàng của Pháp quốc này kết hợp cả vận tải đường biển và đường hàng không, sử dụng các hãng vận tải thương mại thay vì các phương tiện quân sự (nhằm đảm bảo tính bảo mật và tránh gây khiêu khích):
Vận tải đường biển (chủ yếu diễn ra trong giai đoạn đầu, trước năm 1965): Các tàu biển của Pháp thuộc hãng Compagnie Générale Transatlantique đảm nhận việc vận chuyển hàng hóa từ New York. Mỗi chuyến tàu có thể chuyên chở khoảng 25 tấn, với tần suất ban đầu là xấp xỉ hai chuyến mỗi tháng. Tổng cộng đã có 24 chuyến tàu khởi hành từ Hoa Kỳ. Chuyến hàng lớn đầu tiên vào tháng 9 năm 1963 đã vận chuyển tới 400 tấn. Các thỏi vàng được bốc xếp tại bến cảng ở New York, vượt Đại Tây Dương để cập bến các cảng của Pháp, sau đó được chuyển về cất giữ tại các kho tiền của Ngân hàng Trung ương Pháp (Banque de France) ở Paris.
Vận tải đường hàng không (được đẩy mạnh từ cuối năm 1964/đầu năm 1965): Các máy bay của hãng Air France (bao gồm cả máy bay chở khách và máy bay chở hàng của Boeing) đã thực hiện việc vận chuyển vàng từ New York (từ sân bay JFK đến Orly) và đặc biệt là từ London. Mỗi chuyến bay chuyên chở xấp xỉ 30 tấn. Chỉ riêng trong giai đoạn 1965–1966, đã có 35 chuyến bay khởi hành từ New York và 94 chuyến bay từ London, qua đó vận chuyển tổng cộng 1.175 tấn vàng từ Vương quốc Anh trong khoảng thời gian này. Phương thức vận tải đường hàng không trở nên khả thi và được sử dụng rộng rãi hơn một khi các vấn đề liên quan đến bảo hiểm cho vận tải đường biển được giải quyết thỏa đáng, hoặc khi tính cấp bách của việc vận chuyển gia tăng.
Toàn bộ chiến dịch đã huy động 44 chuyến tàu và 129 chuyến bay. Tổng chi phí cho một phần lớn số lượng vàng (khoảng 2.934 tấn) ước tính vào khoảng 4,2 triệu đô la. Quá trình hồi hương vàng được đẩy nhanh sau cuộc khủng hoảng đồng bảng Anh năm 1964 (vốn làm gia tăng lo ngại về một đợt phá giá tiền tệ trên diện rộng), và sau cuộc họp báo tháng 2 năm 1965 của Tổng thống de Gaulle, trong đó ông công khai chủ trương quay trở lại áp dụng chế độ bản vị vàng thuần túy cho các hoạt động thanh toán quốc tế. Đến năm 1966, khoảng 90% lượng vàng dự trữ của Pháp đã được lưu giữ ngay tại Paris.
Trong giai đoạn này, Pháp vẫn tiếp tục thực hiện việc chuyển đổi lượng dự trữ bằng đồng đô la sang vàng tại Bộ Tài chính Hoa Kỳ và Cục Dự trữ Liên bang (Fed), chẳng hạn như thông qua các đợt mua định kỳ hàng tháng, cộng thêm những đợt chuyển đổi đặc biệt với quy mô lớn, trị giá từ 150 đến 300 triệu đô la, sau đó trực tiếp vận chuyển số vàng thỏi này về nước.
Đây là một phần trong chiến lược "ngoại giao vàng" rộng lớn hơn của Pháp, diễn ra trong bối cảnh lượng dự trữ vàng của Hoa Kỳ đang sụt giảm mạnh (từ mức hơn 20.000 tấn vào cuối thập niên 1950 xuống dưới 10.000 tấn vào cuối thập niên 1960). Chiến dịch này đã góp phần tạo nên những áp lực dẫn đến sự sụp đổ của "Quỹ Vàng London" (London Gold Pool) vào năm 1968, và đỉnh điểm là quyết định của Tổng thống Nixon vào ngày 15 tháng 8 năm 1971 về việc đóng cửa "cửa sổ vàng" (chấm dứt khả năng chuyển đổi trực tiếp đồng đô la sang vàng). Đã xuất hiện nhiều đồn đoán (đôi khi bị phóng đại trong các câu chuyện đại chúng) về sự tham gia của Hải quân Pháp, chẳng hạn như việc huy động các tàu tuần dương kiểu như chiếc Colbert, tuy nhiên, trên thực tế, toàn bộ chiến dịch này lại hoàn toàn dựa vào các phương tiện vận tải đường biển và đường hàng không thương mại nhằm đảm bảo tính bí mật và kín đáo.
Trong những thập niên gần đây, Pháp đã bí mật hồi hương số vàng còn lại đang được lưu giữ ở nước ngoài (chủ yếu từ London) trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến 2016 (với khối lượng khoảng 221 tấn); sau đó, toàn bộ số vàng tiền tệ của quốc gia này (khi đó vào khoảng 2.435 tấn) đều được cất giữ an toàn trong hầm chứa kiên cố mang tên “La Souterraine” của Ngân hàng Trung ương Pháp (Banque de France) tại Paris. Cho đến những năm gần đây, vẫn còn một phần nhỏ số vàng còn sót lại (khoảng 129 tấn, tương đương ~5%) trên danh nghĩa vẫn gắn liền với số vàng đang được lưu giữ tại New York; vào giai đoạn 2025–2026, Ngân hàng Trung ương Pháp đã thực hiện một biện pháp nâng cấp bằng cách bán đi những thỏi vàng cũ tại New York và mua vào những thỏi vàng hiện đại, đạt chuẩn LBMA ngay tại Paris—qua đó thực chất đã hoàn tất nốt phần “hồi hương” cuối cùng mà không cần phải vận chuyển vật lý những thỏi vàng cũ về nước. Động thái này đã mang lại một khoản lợi nhuận vốn lớn và mang tính một lần (khoảng 13 tỷ euro) nhờ vào mức giá vàng đang ở mức cao, đồng thời vẫn giữ cho tổng khối lượng dự trữ vàng của quốc gia không thay đổi, duy trì ở mức khoảng 2.437 tấn.
Sự kiện diễn ra vào thập niên 1960 vẫn được xem là ví dụ lịch sử kinh điển về việc Pháp khẳng định chủ quyền tiền tệ thông qua hành động trực tiếp thu hồi số vàng của mình từ Hoa Kỳ. Sự kiện này đã làm nổi bật những căng thẳng tồn tại trong hệ thống tài chính xoay quanh đồng đô la, đồng thời đóng vai trò như một bước đi mang tính phòng vệ nhằm đối phó với những rủi ro được nhận định là xuất phát từ sự thống trị về mặt tài chính của Hoa Kỳ.
Khi xưa, một lượng vàng ăn $35, nay một lượng vàng ăn trên $5,000. Nếu tổng thống De Gaulle không biết vụ lạm phát tại pháp thời ông ta làm tổng thống, mà cứ để yên vàng bên Mỹ là ngọng rồi. Lúc tổng thống Nixon kêu không sử dụng tiền mỹ kim đổi vàng nữa. Thì thiên hạ kêu vậy thì chúng em đòi vàng lại thì bác Nixon mới sai ông Kissinger qua Trung Đông thương lượng để mấy ông hoàng ả rập bắt khách hàng phải trả bằng đồng đô la thì họ mới chịu bán.
Thế là thiên hạ phải kêu ông mỹ đổi đô la cho họ để họ mua dầu hoả. người Mỹ in tiền đưa cho họ mua dầu hoả và mỹ là cha thiên hạ, cứ xào cho đã rồi lấy máy photocopy để in ra tiền nữa để mua đồ thiên hạ. Cho nên một lượng vàng từ $35 mà đến 80 năm sau lên trên $5,000.
Mấy xứ kia họ đâu thuộc loại ngu lâu dốt bền như mình nên họ to nhỏ với nhau kêu tụi mình mua bán với nhau không cần đến tiền đô la. Mày bán dầu cho tao thì tao đưa lại quần áo madze in Trung Cộng, hay gà cà ri madze in ấn Độ. Họ buồn đời ra đời BRICS. Anh Mỹ thấy vậy thì ngại đời Kiều pHong nên cho máy bay vào Venezuela bắt cóc anh Maduro rồi bây giờ đánh bom anh chàng thà chết không hề lui Ba Tư, lái thảm không lái đi bỏ bom khắp nơi, cấm không cho tàu qua eo biển Hormutz.
Thế là anh Ấn Độ kêu thiếp nào có ý phản bội chàng, quay về nấu cà ri cho anh mỹ chấm hamburger. Họ kêu ca bom nguyên tử này nọ nhưng trên thực tế là Pedro-dollar. Họ sợ thiên hạ chê dô-la nên đánh nhau, bỏ bom, cho Ba Tư kêu chận đường cho tàu ra vô eo biển Hormtz là khiến mấy anh ba tàu lo ngại dầu hoả khan hiếm thì kinh tế lên như diều đứt dây thung.
Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen
Nguyễn Hoàng Sơn


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét