Nhà thổ mỹ trong chiến tranh Việt Nam

 Nhà thổ mỹ trong chiến tranh Việt Nam 


Hôm nay xem một phim tài liệu của mỹ về chiến tranh Việt Nam và hệ quả. Một vấn đề khá quan trọng trong cuộc chiến, giải quyết sinh lý cho lính mỹ khi tham chiến tại Việt Nam. Mình thường nghĩ các phụ nữ chạy giặc từ làng vào thành phố, bị ma-cô hay tú bà gạt như trong truyện tiểu thuyết hay tuồng cải lương, không nghề nghiệp nên làm gái bán bar, mãi dâm nhưng không ngờ tỷ lệ đọc thấy thất kinh.


Có ông mỹ đăng tấm ảnh này và tìm đứa bé trong ảnh. Ai biết cho em hay

Năm 1966, thương nghị sĩ William Fulbright, thuộc đảng Dân chủ, người chống việc Hoa Kỳ tham chiến tại Việt Nam, đứng trước thượng viện và gọi Việt Nam Cộng Hoà là nhà thổ của Hoa Kỳ trong khi bộ trưởng bộ quốc phòng Robert McNamara, ngồi im, chối bỏ và không nhìn nhận sự việc. Nhưng các tài liệu chiến tranh, ngày nay được giải mật cho biết như sau:


Người Mỹ ước lượng độ 300,000 đến 500,000 phụ nữ miền nam có hoạt động mại dâm và tỷ lệ mắc bệnh phong tình của lính mỹ lên cao nhất trong các cuộc chiến mà Hoa Kỳ đã từng tham chiến. Nhiều lúc chính quân đội mỹ quản lý các hoạt động mãi dâm và chính sự trải nghiệm này đã thay đổi một thế hệ thanh niên mỹ đã tham chiến tại Việt Nam thậm chí gây ảnh hưởng đến các thế hệ sau này đến ngày nay. Hút sì-ke, bạch phiến, và mãi dâm. Tưởng tượng cả triệu người Mỹ đã tham chiến tại Việt Nam mà 51% đã từng hút sì ke và chơi bạch phiến tại Việt Nam. Những trò giải trí khá đặc thù này đã đi theo họ suốt cuộc đời, gây ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Đó là hậu quả của sự tham chiến tại Việt Nam và thế hệ thanh niên đã tham chiến tại Việt Nam đã thay đổi các thế hệ khác sau này. Nhiều binh sĩ về lại Hoa Kỳ, bị lộn xộn với sì ke, ma tuý từng sử dụng trong thời gian tham chiến.

Nhà thổ cho quân đội pháp thời thực dân tại Sàigòn 


Để hình dung sự việc, năm 1960, dân số người Việt tại Sàigòn chỉ có 500,000 người và đến năm 1968 thì dân số lên đến 4 triệu người. Xem như nhân gấp 8 lần trong vòng 8 năm. 10 triệu người miền nam (dân số Việt Nam Cộng Hoà dạo ấy là 18 triệu), bị bắt buộc rời bỏ làng quê của họ với chiến lược phá huỷ các làng mạc để chận đứng sự tiếp tế lương thực cho Việt Cộng. Mình nhớ dạo đó Việt Nam Cộng Hoà có đâu 18 triệu dân. Thấy các hình ảnh lính mỹ đốt nhà dân, kho gạo và lùa dân lên xe chở ra thành phố cho vào các trại tạm cư. Người có bà con họ hàng ở các thành phố an ninh hơn thì dọn về đó như Đà Lạt gia tăng rất nhiều. Các trại tạm cư là những ổ sinh ra nằm vùng, phá hoại miền nam khi xưa. Cũng dễ hiểu, anh đến anh đốt phá nhà chúng tôi để Việt Cộng khỏi sử dụng, được tiếp tế, rồi cho ở trong các căn lều trong các trại tạm cư. Việt Cộng nằm vùng chỉ cần nói nho nhỏ là anh chị đi theo ngay. Tương tự các nhóm khủng bố kiếm người cảm tử ở các trại tạm cư tỵ nạn Palestine mà mình có dịp đi ngang khi ghé Jordan.

The burning of villages by the U.S. military in Vietnam was primarily driven by "Search and Destroy" tactics and the broader attrition strategy of General William Westmoreland. Because the Viet Cong relied on guerrilla warfare, blending into the rural population, American forces burned villages to destroy enemy supply caches, deny sanctuary, and punish communities harboring insurgents. [123]
The Core Mechanisms of the Strategy
  • "Zippo Raids": Troops routinely used flamethrowers, grenades, and Zippo lighters to raze thatched-roof huts and structures suspected of being Viet Cong tactical installations. [12]
  • Tunnel and Bunker Destruction: Military doctrine mandated the destruction of underground tunnel networks, rice caches, and bunkers that frequently connected to or ran underneath civilian homes. [1234]
  • Denying Terrain: The overarching goal was to dismantle the infrastructure supporting the insurgency, forcing the Viet Cong out into the open to face conventional U.S. firepower. [12]
Impact and Public Backlash
  • Civilian Displacement: The practice resulted in massive displacement, leaving thousands of non-combatants homeless and stripping away ancestral connections to the land. [12]
  • Morale and Hearts-and-Minds: Destroying civilian homes often alienated the rural population, generating immense unrest and driving many displaced peasants to sympathize with or join the Viet Cong. [1]
  • Media Scrutiny: The strategy gained widespread infamy after CBS News correspondent Morley Safer filmed a U.S. Marine unit burning the village of Cam Ne in August 1965. The uncensored broadcast shocked the American public, triggering a major shift in domestic attitudes toward the war. [12]

Xem vụ này mình mới hiểu lý do tại sao Đà Lạt khi xưa sau khi ông Diệm bị lật đỗ thì dân tứ xứ chạy vào Đà Lạt đông như người Việt. Khi quân đội Hoa Kỳ đổ bộ vào Việt Nam năm 1965, thì vô hình trung họ tạo ra một nền kinh tế vô hình với các hoạt động quân sự và cá nhân của lính mỹ. Năm 1968, có một phóng sự của tờ McLean cho rằng có đến 1,400 quán Bar ở Sàigòn, Biên Hoà và Thủ Đức. Chính quyền Việt Nam Cộng Hoà tính có đến 200,000 người bán dâm nhưng có nhiều nhà nghiên cứu cho rằng số này nhiều hơn.

Maclean’s (Canada's premier current affairs magazine) provided notable coverage of the Vietnam War and the rampant expansion of the sex trade. During the conflict, the proliferation of brothels, bars, and a booming underground economy were heavily tied to American dollars, military policy, and corruption. [123]
Coverage of the Conflict and Vice
  • During the Vietnam War, Maclean's featured regular dispatches from the front lines and the home front, analyzing both the military strategies and the social impact of the conflict on the ground. [123]
  • The magazine's correspondents covered the immense cultural shockwaves caused by the influx of hundreds of thousands of young, often isolated and heavily paid American GIs into South Vietnam. [12]
The Brothel Economy and Diplomacy
  • As U.S. troop levels swelled in the mid-1960s, the environment in South Vietnam—particularly in areas like Saigon's Tu Do Street and Cholon—changed drastically. U.S. Senator J. William Fulbright famously went on record declaring that "Saigon has become an American brothel". [12]
  • Historically, the sex industry in Vietnam was deeply tied to wartime corruption. Many brothels and hostess bars were owned or protected by the wives of high-ranking South Vietnamese officers or local gangs. [12]
  • Military policies further normalized this presence. In 1972, for example, the U.S. military command in Vietnam faced severe backlash and congressional scrutiny after it was revealed that U.S. bases (such as the Long Binh Post) were allowing local prostitutes onto the compounds as "local national guests".[123]

To explore more of the socio-cultural dynamics and historical context of the conflict and the wartime economy, you can read more of the Maclean's coverage of the region in the Maclean's Vietnam Archives.

Vấn nạn này được xẩy ra vì quân lực Hoa Kỳ không cấm cản mà còn khuyến khích thậm chí còn tổ chức chương trình mà họ gọi là Rest & Recuperation. Hãng hàng không Pan Am chở trên 800,000 binh sĩ mỹ đi phép, giải trí ở Thái Lan, Phi Luật tân, Đài Loan, Nhật Bản, Nam Hàn, Guam,…


Họ cho biết năm 1966, trong số 21,000 binh sĩ dưới quyền của tướng Harry Canard, tư lệnh đệ nhất sư đoàn kỵ binh có đến 1/3 lính (7,000) mỹ bị bệnh Giang Mai. Tình trạng nguy cập đến nổi các bô lão trong các làng Việt Nam, phải đề nghị xây dựng các nhà thổ trong căn cứ của người Mỹ. Khiến người Mỹ đột phá tư duy đồng ý và xây dựng đâu 2.5 mẫu ta, 1 căn trại để mỗi ngày có từ 100-300 lính mỹ viếng nhà thổ này khiến tuần báo Time đặt tên là Disneyland East. Tương tự ở Pleiku cũng được đặt tên là thành phố tội lỗi (Pleiku Sin City.) chả biết ông nào làm thơ em Pleiku má đỏ môi hồng, xuất phát từ trong động mãi dâm? Một binh sĩ mỹ có thể trả 300 đồng Việt Nam Cộng Hoà, độ $2.5 mỹ kim, thời ấy, có thể vui thú bên cô gái suốt 3 tiếng đồng hồ.


Năm 1972, New York Times cho biết mỗi binh sĩ mỹ có 1 tuần nghỉ phép vui thú được gọi là Rest & Recuperation (R&R). Họ được bộ quốc phòng cho bay qua các địa điểm như Thái Lan, Đài Loan, Phi Luật Tân, Hương Cảng, Đông Kinh, Sydney,… và biến Thái Lan thành ổ điếm của lính mỹ như ngôi làng chài Pattaya, nghèo xác xơ, nhờ lính mỹ đến đã biến ngôi làng này trở thành nhà thổ lớn nhất đông nam-á. Và từ đó hoạt động này vẫn tiếp diễn, và là nơi mà du khách ngày nay hay ghé lại. Được mệnh danh Sex Tourismo.


Lính Mỹ gọi tuần lễ đó là Intoxicate & Intercourse (I&I). Ở Vọng Các, lính mỹ chỉ cần trả độ $72 mỹ kim là được một em gái hậu phương suốt một tuần lễ, cung phụng, mát-xa, nấu nướng đầy đủ. Bộ trưởng McNamara thương lượng với chính quyền Thái Lan, bù lại sẽ giúp phát triển kinh tế. Trong vòng mấy năm, Thái Lan có đến 50,000 cô gái bán dâm phục vụ lính mỹ, và có đến 20,000 nhà thổ tại Thái Lan để phục vụ cho lính mỹ được nghỉ phép. Nhờ đó mà Pattaya , một làng chài nhỏ bé bổng nhiên trở thành ổ điếm lớn nhất Đông Nam Á.


Cho nên có thể nói cuộc chiến Việt Nam đã giúp các nước lân cận giàu lên như Tân Gia Ba, bán dầu cho hạm đội Hoa Kỳ, Thái Lan, Phi Luật Tân, Nam Hàn, chớ làm ăn với quân đội Hoa Kỳ.


Bệnh phong tình mà lính mỹ bị dính tại Việt Nam đạt kỹ lục chưa từng thấy. Họ cho biết trong đệ nhị thế chiến, cứ 1,000 lính mỹ có 43 trường hợp bệnh giang mai. Ở Đại Hàn thì cứ 1,000 binh sĩ thì có đến 184 trường hợp và đến Việt Nam kiên cường, thì đoạt giải nhất, tỷ lệ tăng lên đến 262 trường hợp cho mỗi 1,000 lính mỹ. Nặng nhất là trên các hàng không mẫu hạm thì tỷ lệ lên đến 582/ 1,000 binh sĩ. Không lẻ họ cho trực thăng chở mấy chị em ta lên hàng không mẫu hạm để giú  mấy thuỷ thủ xả xú-bắp. Với biển cả anh là thuỷ thủ u u, với lòng nàng anh là hoàng tử u u.


Vấn đề là 88% lính mỹ bị bệnh này cho biết đã được huấn luyện, cảnh giác nguy cơ về vấn đề này nhưng vẫn bị dính vì sợ xài áo mưa vì đồng đội kêu có bệnh Black Syphilis nên binh sĩ sợ. Chắc tuyên truyền của Hà Nội.


Mình nhớ Đà Lạt tuy không có sự hiện diện của lính mỹ nhiều nhưng ở chợ Đà Lạt, có khách sạn Mộng Đẹp, của thầu khoán Nguyễn Linh Chiểu, cho mỹ thuê nên thấy họ rào kẽm gai, và có mấy cô gái ở với lính mỹ. Mấy cô này làm rớt một chiếc máy bay trực thăng sau khi bốc các trinh sát 302 đi hàng quân về. Ngoài ra lính mỹ đóng ở phi trường Cam Ly, nhiệm vụ tải rau cải cho lính mỹ tại Việt Nam, có ông đóng tại Cam Ly kể và gửi cho mình xem mấy tấm ảnh của nơi họ trú ngụ, ở đường Đinh Tiên Hoàng, mướn chủ người Việt, thấy bao cát chất đầy, có mấy chị giặt quần áo, nấu nướng,… rảnh thì mình bỏ lên mạng cho thiên hạ xem.


Đó là về phía Hoa Kỳ còn các nữ hộ lý người Việt thì còn te tua hơn vì không am hiểu sự việc như lây lan, truyền nhiễm nên họ cho biết là có trên 80% phu nữ làm hộ lý bị dính bệnh phong tình. Đa số không được chữa trị đúng cách. Thời thực dân pháp thì họ cho phép mở nhà thổ để họ quản lý kiếm tiền nhưng được cái là bảo vệ sức khoẻ cho cộng đồng, vì các chị em ta được khám định kỵ, cho thuốc than,… giả thích áo mưa áo nắng.


Mình nhớ có ông thần quên tên, vì ở trên xóm lên nhà thương, lớn hơn mình mấy tuổi đi huấn luyện ở Đồng Đế về kể cho mấy tên trong xóm nên mình nghe lén. Có bà nào bán cháo hay chi đó rồi cuối tháng, có lương mấy ông học tập ở quân trường kêu bà ta hộ lý ban đêm. Bà ta tiếp thu cả đại đội, hơn 100 người, nước tinh trùng leng láng. Kinh


Vấn đề là mãi dâm ở Việt Nam không hoàn toàn là sự đổi chát, tiền trao ôm em vì có nhiều lính mỹ lấy vợ người Việt, và đem về mỹ. Mình có kể đâu 8,000 người Việt lấy chồng mỹ được đem về mỹ. Lý do là đối với lính mỹ, đa số họ cần được sự an ủi, vổ về để bù lại những ngày tháng đánh trận. Đa số lính mỹ kể không xem các cô gái Việt Nam như các cô gái điếm như người Việt mình xem thường các cô gái bán sương, Me Mỹ, gái bán bar. Họ xem các cô gái việt như bạn gái, tìm an ủi sau những giờ giao tranh.


Nên nhớ là đa số bị kêu đi quân dịch, mới 18 tuổi chả biết gì, được thảy vào lò sát sinh bắn giết nếu không sẽ bị giết. Tinh thần của lính mỹ bị giao động cực mạnh nên rất cần được sự vuốt ve, an ủi như trong sách Gone Native của Al Cornett, có kể rõ.


Ông Richard Marceno, tham chiến tại Việt Nam, sau này thành lập đội biệt kích danh tiếng Team 6, kể sau những giờ phút giao tranh, có những cô gái bên cạnh giúp bớt bị stress. Trong cuốn Gone Native, ông Al Cornett, biệt kích mỹ, cố vấn cho đại đội trinh sát 302, có kể là về phép ông ta đến Xóm Bà Thái, và hút sì ke và chơi bạch phiến. Sau này ông ta lấy cô em gái của vợ thiếu tá Lê Xuân Phong. Đưa cô vợ về Hoa Kỳ nhưng rồi hệ quả chiến trường khiến họ không sống với nhau lâu bền.


Hà Nội hiểu vấn đề của lính mỹ nên họ cho người của họ vào làm hộ lý để thu thập tin tức. Cuốn phim Good Morning Vietnam có kể vụ này. Chị LỆ Lý Hayslip có kể cuộc đời chị, nạn nhân của cuộc chiến qua cuốn ”When Heaven and earth changed places”, được đạo diễn Oliver Stone đưa lên màn bạc. Ở vùng xôi đậu, ban ngày thì Việt Nam Cộng Hoà đóng giữ, chiều tối thì rút lui, đêm mấy ông kẹ về, kêu mẹ Việt Nam anh hùng nấu cơm cả đói. Một hôm chị ta được nhiệm vụ canh gác lính Việt Nam Cộng Hoà thì ngủ quên nên bị Việt Cộng tuyên án tử hình. Tên được giao nhiệm vụ giết chị thấy uổng của trời nên hiếp chị ta trước khi giết nhưng may quá, sau đó mệt quá hắn lăn ra ngủ thì chị ta bỏ trốn vào Đà Nẵng rồi gặp ông lính mỹ thương chị, đem về mỹ.


Sau 1975, Hà Nội tống cổ trên 14,000 mấy cô có liên hệ với lính mỹ vào các nhà tù, được gọi là trại phục hồi nhân phẩm. Nghe nói bà Thái Đà Lạt cũng bị vào tù rồi sau này chết sớm. Ngày nay thì xem hình ảnh Việt Nam thì còn quá cha thời mỹ-nguỵ.


Xã hội Việt Nam khinh khi, xem thường các người bán dâm dù hoàn cảnh hay không. Ai đã bị lâm vào tình thế làm gái bán Bar thì khó có thể kiếm được chồng. Mình nhớ lần đầu tiên gặp chị Lệ Lý, chị ta khóc khi kể về cuộc đời chị, nói là qua mỹ thì mấy người Việt cũng kỳ thị với quá khứ của chị.


Ngoài ra có vấn nạn khác là “Con Lai”. Người ta ước lượng có 25,000 đến 100,000 con lai. Sau 75 thì những đứa con lai này lâm vào tình trạng vô thừa nhận với chính quyền mới vì là hình ảnh của chế độ cũ, đế quốc mỹ dù chẳng phải lỗi của chúng cũng như xã hội Việt Nam hà khắc. Nhất là các đứa trẻ lai da đen còn bị loại bỏ ngoài lề xã hội.


Năm 1970, Hoa Kỳ lên tiếng là không có nhiệm vụ với những đứa con lai. Khi người Pháp đến Việt Nam thì có nạn con lai nên họ phải mở trường Thiếu Sinh Quân, hay Couvent des Oiseaux để nuôi mấy người này. Mình có đọc cuốn sách của một cô tây lai, cựu học sinh Couvent kể về sự kỳ thị, vô thừa nhận của người Việt cũng như người Pháp. Gần đây mình có đọc một tài liệu pháp có một ông tây lai đi thiếu sinh quân rồi về pháp. Than là ở Việt Nam thì người Việt không chấp nhận, về pháp tương tự. 


Phải đợi 17 năm sau khi thượng nghĩ sĩ McCain đề xuất dự luật và được quốc hội Hoa Kỳ chấp thuận, “Amerasian Homecoming Act”.  Mấy đứa trẻ này được chính phủ Mỹ chấp nhận cho hồi hương.

The Amerasian Homecoming Act (often referred to as the American Asian Homecoming Act) is a 1988 U.S. law that allowed children born in Vietnam to American fathers during the Vietnam War, along with their immediate relatives, to immigrate to the United States and receive refugee-level benefits. [12]
Also known as the Amerasian Immigration Act of 1987, this legislation sought to protect these individuals (derogatorily referred to as bui doi, or "children of the dust") from social stigma and discrimination in post-war Vietnam. [1]
Key Details of the Act
  • Eligibility: Principal applicants had to be born in Vietnam between January 1, 1962, and January 1, 1976, and fathered by a U.S. citizen. [1]
  • Family Unity: Unlike previous legislation, this act allowed the mothers, spouses, and siblings of the Amerasian children to immigrate as well, ensuring families weren't separated. [12]
  • Benefits: Admitted individuals and their families were granted permanent legal residency status and were entitled to the same resettlement and social services as formal refugees. [1]
  • Impact: An estimated 23,000 Amerasians and over 67,000 of their relatives successfully relocated to the U.S. under this program. [1]
You can review the official text of the legislation on the Congress.gov H.R.3171 Archive, or learn more about the immigration policies regarding these individuals on the USC資訊 Policy Manual on Amerasian Immigrants. [1]

Bổng nhiên mấy đứa con lai từng bị xã hội Việt Nam chê bỏ, nguyền rủa trở nên đắt giá. Các gia đình người Việt muốn định cư ở Hoa Kỳ, đi khắp Việt Nam để nhận mấy đứa trẻ này về làm con nuôi để nộp hồ sơ chung. Hoa Kỳ biết có nhiều hồ sơ giả nhưng nhắm mắt để cho họ sang Hoa Kỳ. Không biết ngày nay họ có khui ra vụ này không rồi tống cổ về Việt Nam. Vì nghe nói có đến 17% trên tổng số 60,000 người Việt đi theo diện con lai.


Mình nhớ ở New York, có gặp mấy người con lai. Họ kể là các gia đình Việt Nam dựa hơi họ để làm giấy tờ rồi sang mỹ được rồi thì xù họ. Một số đi vào con đường hư hỏng. Họ sống chung với nhau. Lý do là xã hội mỹ không chấp nhận họ. Còn cộng đồng người Việt cũng chê. Hình như có nữ ca sĩ người Việt, con lai, có ông bố sang Việt Nam nhận ra trên sân khấu rồi đưa cả gia đình về mỹ. Họ ước lượng chỉ có 3% những người con lai tìm lại được cha mình ở Hoa Kỳ. Lý do là chính phủ mỹ không cho xét DNA.


Năm 2009, chấm dứt chương trình này thì được biết Hoa Kỳ đã hồi hương 25,000 mỹ lai, và cộng thêm gia đình lên đến 70,000 người. Theo người Mỹ thì họ biết có đến 17% trường hợp là gian lận.


Hệ quả chiến tranh vẫn tiếp tục đến ngày nay. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn 


Mối tình vắt vai xưa

 Mối tình vắt vai xưa



“Ê mày có nhớ Lê Thị Hồng Diệp”, Không. “nhà ở đường Phan đình Phèo, chỗ Xóm Giếng nhìn qua”, chỗ khách sạn Mimosa, có cái dốc lên nhà thờ Tin Lành, đường Hàm Nghi. “Đúng rồi”. Không biết. Khi xưa mày có nhiều em mê mà mày có bao giờ thố lộ cho tao đâu mà biết. Đó là câu hỏi của anh bạn học xưa. Về già anh ta lâu lâu buồn đời cô lựu, gọi hỏi mình về mấy cô khi xưa anh ta quen ở Đà Lạt khiến mình ú ớ. Lý do là tuy bạn học nhưng anh chàng này có nhóm bạn riêng để tâm sự về gái gú còn mình chỉ biết đánh bi-da, đá banh vớ vẩn, tập võ, chưa giác ngộ tình yêu trai gái như anh ta. Còn chậm xuân thì.


Lâu lắm mình nghe ai nói lại cụm từ “Trường Thành Nhân” nơi mình học hè với ông giáo Kim, người bắc thời tiểu học. Nói chuyện với anh bạn thì mới lần mò ra khu vực này khi xưa. Anh ta kể là có quen cô nào ở khu vực này tên Lê Thị Diệp Hồng, Lá Đỏ. Mình đoán là Hồng Diệp, nhà ở ngay 4 căn nhà sát liền, cạnh tiệm đóng hòm và tiệm bán gạo Sơn Hà, quen bà cụ mình vì hay mua gạo của ông bà này để bán lại. Mình nghĩ thời đó dân đóng hòm là giàu nhất Đà Lạt. Có một chỗ khác ở đầu đường Phan Đình Phùng, chỗ nhà Nguyễn mInh Dũng đánh bóng bàn, con ông bà Nguyễn Đình Thừa. Lính chết như rạ nên chôn cất nhiều.


Mình nói hồi học tiểu học, hè học với ông giáo Kim thì có thấy một cô tuổi trạc tụi mình hay đứng dựa tường ngay khách sạn Mimosa. Hay chửi lộn với cô ta. Mình khi xưa là có cái tật không sợ con gái, chửi lộn bú xua la mua. Chỉ khi lấy vợ rồi thì cái tính phản động phản kháng phụ nữ bị chìm vào lãng quên.

Bên trái là trường Thành Nhân của ông giáo Kim, giữa trường và khách sạn Mimosa không có trong hình là con dốc lên đường Hàm Nghi. Bên phải là cái giếng nước, khi xưa trời mưa đi ngang đây hay đứng lại lấy nước xối đôi dép dính bùn


Năm 1992, khi mình về Đà Lạt, đi ăn phở với ông cụ ngay sau lưng dãy nhà Đội Có, góc tiệm vàng Thương, bến xe Tùng nGhĩa khi xưa thì gặp ông giáo Kim, nên mời ăn phở luôn. Đó là bát phở tạ ơn thầy giáo thời tiểu học. Ông giáo kêu mới đi tây về, lấy bà vợ sau nên yêu đời yêu người lắm. Ông ta có người con trai tên Ánh hình như bị chột con mắt hay bị lé, học Yersin trên mình mấy lớp, có dạy hè mình tại nhà in của Phước Lâm Viên. Nhà ông giáo Kim ở phía sau phòng mạch Bác sĩ LƯơng và nhà bảo sanh Trương Thị Lập, góc Phan Đình Phèo và Duy Tân. Nếu mình không lầm thì chỗ con hẻm này có con đường mòn băng qua Hai Bà Trưng.

Về Đà Lạt năm 1992, ông cụ dẫn mình đi ăn phở ngay quán chỗ tiệm ăn tàu, ngay bến xe Minh Trung ngày xưa. Tiệm này mình và thằng nGuyên khao bạn bè khi đậu tú tài đúng hơn có 2 thằng bạn là Võ Hoàng Đa và Nguyễn Đình Tài. 4 thằng ăn mì xào ở tiệm này. Đó là lần đầu tiên mình được ăn mì xào dòn trong đời tình anh bán bơ  


Em khi xưa, gửi thiệp chúc tết cho tao đề bài thơ : Người đi qua nhà tôi ngày 02 bận. Mắt xa đưa nên chẳng thấy tôi buồn. Hồn lưu lạc chưa hề 1 chúa . Yêu 1 người ta dâng cả tình thương.“ Mình nghe anh ta kể thì choáng váng luôn không ngờ khi xưa anh chàng ta học cùng lớp mà thi ca đủ trò trong khi mình Chán Mớ Đời với bằng bằng trắc trắc. Học cô Ngô Thị Liên thơ Đường với thơ Muối là mình nổi điên trong khi anh bạn lại được mấy cô gửi thư đưa vào thi ca. Kinh


Mình hỏi chớ không phải Lá Diêu Bông, đầu đường Phan Đình Phèo gửi cho mày. Anh ta kêu tao nhớ ra rồi. Em lá diêu bông đó gửi bài thơ “nắng mưa là bệnh của trời, tương tư là bệnh của tôi yêu chàng”. Về già anh ta có kỷ niệm về thời học sinh, gái gú tình yêu vớ vẩn cũng vui. Không có ai để thố lộ một thời vàng son cực thịnh, đắt đào về gái gú nên gọi mình kể chuyện đời xưa. Một thời để yêu một thời để không quên trước khi bị Alzheimer. Anh chàng có cái hay là quen toàn mấy cô tên Lá Diêu Bông, lớn tuổi hơn và sau này cũng lấy vợ tên Lá Diêu Bông và lớn tuổi hơn.


Có người cho mình biết đối tượng một thời của anh bạn trong hình

Lê thị Ngọc Diệp ( đứng giữa cạnh Ngọc Bích mặc quần hồng ) hình mới nhất hôm qua 12/6 ở khách sạn Mariott sau 5 ngày đi Cruise về !

Người Xưa của bạn anh Sonny Nhat Nguyen hiện ở Huỳnh Văn Bánh Saigonnaise hihi !


Nghĩ lại cũng may chớ thời đó mà hắn thố lộ tình yêu và thi ca, rủ mình vào nhóm của anh ta thì chắc khó đi du học bên tây. Đầu óc cứ nghĩ đến mấy em hay Lá Diêu Bông thì học không vào.


Anh chàng ở đường Phan đình Phèo lại biết đàn hát nên chiều chiều ngồi trên gác đánh đàn thì mấy cô nữ sinh đi ngang nhà nhìn lên là thấy vui đời cô lựu, cứ tưởng anh bạn hát cho mình nghe “yêu tôi hay yêu đàn”. “Người đi qua nhà tôi ngày 02 bận. Mắt xa đưa nên chẳng thấy tôi buồn. Hồn lưu lạc chưa hề 1 chúa . Yêu 1 người ta dâng cả tình thương.“ anh ta hay rủ mấy cô lên Sân Cù hay Thung Lũng Tình Yêu, đem theo cây đàn để đàn cho mấy cô hát. Anh ta kể có một cô bận váy trắng quỳ xuống cỏ, hát bài “mùa thu cho em” trong khi anh chàng đánh đàn, phê không thể tả. Em xinh quá như một thiên thần. Rồi 75 đến chạy mất dép. “Sao em không như một thiên thần,…”( bài hát này do một nhạc sĩ ở Paris làm và hát cho mình nghe lâu lắm rồi khi về Paris thăm gia đình. Sau này khám phá ra là thân với anh bạn NGuyễn Hoàng, người phổ nhạc bài Khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển).


Anh chàng hỏi mình biết Nguyễn ĐÌnh Dũng ở đường Hai Bà Trưng, học chung với ông chú tao. Mình nói hàng xóm. Ông thần này mình nhớ năm 6 ème hay 5 ème thì phải trong trường Yersin có Gala, ông thần đóng vai Thân, bị bà vợ tên Loan, cãi nhau ra sao, bà vợ lấy kéo đâm cho một nhát đi tây luôn. Sau này lấy vợ, đồng chí gái lại thích may áo quần, hay cầm cái kéo cắt vải nên mình không dám lộn xộn, nhớ gương của tên gia trưởng Thân trong Đoạn Tuyệt là câm mồm ngay. Hình như ông thần này dạy mình chạy xe đạp. Ông ta có chiếc xe đạp đàn bà nên dạy mình té xe đạp trên đường Thi sách.


Ông thần Dũng này, hay dạy chị Lan con bà Tân gầy nhảy đầm. Chị này lâu lâu thấy chạy lên nhà chú Dũng, mình gọi ông thần bằng chú vì ông thần gọi bố mẹ mình bằng anh chị. Hai người tập nhảy xì-lô xì-la gì đó, mình chỉ biết đứng nhìn hai người ôm nhau như tây đầm hay xem hình Playboy. Ông thần Dũng này có báo Playboy nhiều nên lâu lâu mình chạy qua nhà, xem ké. Thấy mấy bà đầm ở truồng khiến mình thất kinh thấy lạ khi thấy lông xoắn xoắn ở cái mu. Mấy chục năm rồi không gặp chị Lan, hình như chị ta có liên lạc với mình, nay ở San Jose, có con bà Hoà trên đó. Có tên ở cư xá Địa Dư, nay ở Gia-nã-đại, đi an ninh quân đội kể là khi xưa rất kết chị Lan này. Sau này ông thần Dũng đậu tú tài về học sư phạm ở Sàigòn, rồi dạy pháp văn. Năm 1973, được đi tu nghiệp bên pháp mấy tháng như thầy Phan Nam. Năm mình đi du học có ghé thăm bà Thường, mẹ đẻ của ông thần ở Sàigòn.


Bà Thường này vui lắm, khi cô con gái đầu lòng sinh con so ở cử thì sáng nào bà cũng qua nhà kêu mình ra sân đưa cái cốc rồi bắt mình tè vào để cho cô con gái uống cho bổ chi đó. Nguyên một tháng ở cử, sáng nào mình cũng phải mở robinet cung cấp nước tiểu nhi đồng cho bà. À nhớ rồi con gái bà tên Oanh. Cô lấy ông chồng nào ở Nha Trang. Mỗi lần ông chồng lên Đà Lạt, hai người ban đêm ngồi ngoài sân thổi sáo. Hồi đó mình chưa giác ngộ cách mạng, nếu không đã quảng cáo bán nước tiểu mỗi sáng cho dân Đà Lạt uống trị bá bệnh như Xuyên tâm Liên. Nước tiểu sơn đen bổ thần hoàn. Mại dô mại dô. 


Mình có một kỷ niệm khá đau thương với gia đình này. Mình ở dãy cư xá Công Chánh có đến 7 căn hộ liền nhau nên trên gác có lỗ ăn thông suốt 7 căn nhà. Một hôm Lê Công Hùng, con ông Lê CÔng Oai, làm trung tâm thẩm vấn, vua bắt nằm vùng, nhà đối diện nhà trung tá Tốn, ở đường Thi Sách, có con gái tên Quỳnh Thi, nghe nói có đôi mắt to đùng khiến ông Trịnh Công Sơn đi ngang nhà thấy hớp hồn làm bài hát “nắng thuỷ tinh”. Mình đọc tài liệu thì được biết bài ca bắt nguồn từ bà Dao Ánh nào chớ không phải Quỳnh THi. Ông thần Hùng này hay xuống nhà mình chơi vì dạo ấy hai đứa tập Thái Cực Đạo trong Adran với nhau.


Buồn đời, không biết làm gì, mình rủ hắn leo lên trần nhà rồi đi thám hiểm mấy nhà bên cạnh. Nhà mình là căn đầu rồi đến nhà ông Hà Thúc Mãn, cán sự công chánh, cháu của ông Hà Thúc Nhơn, bị bắn chết ở Nha Trang khi tử thủ chống tham nhũng. Rồi đến nhà bà Thường, rồi nhà bà Tước, bà Hoà, bà Vinh.


Mình dỡ cái nắp đậy trần nhà, độ 30 cm x 30 cm, lấy ghế bắt thang trèo lên, rồi đến phiên thằng Hùng. Thằng Hùng nhỏ con nhưng nó ăn cơm khoẻ như trâu. Xuống nhà mình nó đẫn một lần 6 chén cơm. Nó leo lên sau mình, mình dặn nó đi trên các cây gỗ, tránh đi trên plafond.


Lên trên attic xong thì mình đi về hướng nhà ông Mãn, rồi đến nhà bà Thường, tránh mấy lỗ plafond. Đến nhà bà Thường thì có cái tường cao chắn giữa nhà bà Thường và nhà bà Tước, được cái là nơi cao lên tới mái có một cái lỗ ăn thông đi suốt cả xóm. Mình bé con nên chui qua được. Thằng hÙng to con nên tìm cách chui qua cái lỗ thì đụng nhằm cục gạch khiến nó rớt xuống plafond nhà bà Tước nghe cái đùng. Mình thất kinh mặt xanh đít nhái, nghe chị Tí Chị, con bà Tước dưới plafond kêu Tèo ngủ đi. Khiến mình thất kinh, quay đầu lại ra dấu cho thằng hÙng quay lại. Thằng này lớ quớ ra sao thay vì đi trên các thanh gỗ rafter lại đạp trúng cái lỗ leo lên trần nhà của nhà bà Thường. Đội ơn bề trên nó đạp xuống cái lỗ thêm nó to con nặng như tạ gạo nên lọt xuống nhà bà Thường qua cái lỗ leo lên trần nhà.


Vấn đề là cái lỗ leo lên trần nhà lại được đặt ngay bàn thờ tổ tiên nhà bà Thường, có di ảnh của ông Thường. Thế là mình nghe tiếng rầm rồi loen xoen, nhìn xuống mình thấy thằng Hùng nằm cu đơ, còn bàn thờ, nến lư, chân đèn bay xuống đất hết, lăn leng keng. Mình sợ quá bay về nhà, leo xuống nhà rồi lén lén bò ra sân thì nghe tiếng bà Thường chửi thằng Hùng Đồ Mất dạy đủ trò. Mình giả bộ ngây thơ vô số tội đi lại thì thằng HÙng hỏi mình “Tao ăn chưa” cứ như tên Obelix trong truyện hoạt hoạ Asterix. Nó cứ đi theo mình về nhà mồm cứ hỏi tao ăn chưa trong khi bà Thường đi theo nó chửi banh xác luôn. Phải mất cả tiếng đồng hồ sau nó mới lấy lại hồn bay phách vía.


Mình chỉ nhớ cô gì chị chú Dũng lấy ông chồng là trung uý Công Binh, đóng ở đồn Quân Cụ trước ấp  Sòng Sơn, chỗ cổng vô vườn nhà mình tên Minh. Trưa chú về nhà ăn cơm rồi rồi ngủ trưa với vợ. Nên sau đó cô vợ cứ kiếm mình hỏi có thấy gì không hôm đó. Cô cứ tưởng trên gác, nằm vùng núp trên nhảy xuống bắt cóc ông chồng vì giường hai vợ chồng nằm cạnh bàn thờ. Mình chỉ nhớ cô lấy mền quấn lại người chớ mình chưa thấy gì cả. Chán Mớ Đời 


Mình nghe nói chú Dũng nay ở Hoa Kỳ, bị tai biến có cô con gái chăm sóc. Mình có hỏi anh bạn tìm dùm điện thoại để liên lạc xem còn nhớ đến mình. Em chú Dũng có một cô tên Bích, ngoài ra có hai người chị nữa, một cô đi du học ở Nhật về cắm hoa. Hôm trước có con bác Ngọc Robert, số 49B Hai Bà Trưng có liên lạc từ Úc Đại Lợi.


Mình nói anh bạn thì mày cứ lên Pha-sờ-bót mà kiếm chớ tao đâu biết đối tượng mày khi xưa là ai. Anh bạn này không có Pha-sờ-bót. Chỗ xóm giếng thì tao chỉ nhớ có thằng Thành, con ông nào làm cảnh sát, đá banh, cao lêu nghêu học Văn Học, có một cô tên là Ánh, bạn của Cái Bớt Một Thời vì sau khi đi cắm trại ở Hồ Than Thở về, tao có chở CBMT và cô này về. Còn ngoài ra thì chịu. Bác nào ở khu vực này có biết cô lá đỏ thì cho em xin.


Mình nói hôm trước tao kiếm được một em, đối tượng của mày khi xưa rồi Thị ả gọi điện thoại cho mày, đánh thức mày giữa đêm khuya như hồn tử sĩ tình yêu triệu hồn về sinh Nam tử Mỹ khiến mày mất ngủ. Bây giờ kiếm thêm thì mày chết sớm vì ngủ không được khiến hắn cười. Mấy đối tượng một thời cứ thay phiên gọi điện thoại đánh thức mày từ Coma về thì chỉ có chết thôi.


Có lần có bà nào nói quen anh bạn nên mình có nhắn tin cho biết, rồi bà này lại xin số điện thoại thì mình cho. Thế là bà ta gọi điện thoại vào lúc 11, giờ đêm nói chuyện rất lâu sau đó thì hắn hết ngủ, cả ngày cứ vật vờ như người thiếu ngủ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Phục Hưng Ý Đại Lợi và hải quân Anh quốc


Ý Đại Lợi, không giống như phần còn lại của châu Âu thời Trung cổ, đã nổi lên như một tập hợp các nước được xây dựng với nền cộng hòa như Venice, Florence và Genoa trong khi phần còn lại của lục địa bị cai trị bởi các vị vua. Lý do đằng sau sự khác biệt này không phải là triết lý như mình được học như trước đây; mà là chất lượng của đất đai như vùng Toscana.

Cháu kêu bằng Bà, mẹ là gốc Nhật Bản nên đi học trường Nhật Bản. Họ dạy nó xếp giày dép nên tới nhà mình là nó xếp giày dép hết. Bác nào có cháu nội cháu ngoại nên cho đi học trường Nhật Bản 


Khi Đế quốc La Mã sụp đổ, mọi thị trấn ở Châu Âu bổng nhiên không còn sự bảo vệ của binh sĩ đế quốc. Sự vắng mặt của lực lượng đi tuần tra trên những con đường đế quốc, chống cướp bóc, tàu chở ngũ cốc và quyền lực trung ương đã khiến các thị trấn phải tự xoay sở để tự nuôi sống, tự bảo vệ và tự quản lý bản thân chỉ trong một đêm. Nói như Việt Nam Cộng Hoà trước 75 là tự túc tự cường sau khi mỹ rút lui với hiệp định Paris.


Một thị trấn được bao quanh bởi đất nông nghiệp màu mỡ có thể thích nghi với thực tế mới này. Các gia đình lãnh đạo của nó tập hợp trong một hội trường, thành lập một hội đồng, và gọi nó là “thượng viện” (senate) như thời kỳ dưới sự cai trị của người La Mã, đồng thời nắm quyền kiểm soát thị trấn. Đây chính là mô hình được các thành phố như Venice, Florence và hàng chục thành bang Ý khác noi theo.


Ngược lại, các thị trấn có đất nghèo không thể thích nghi tốt. Khi nguồn cung thực phẩm cạn kiệt và bọn cướp đe dọa sự an toàn của họ, người dân ở những thị trấn yếu thế đã chọn một chiến lược giản dị quen thuộc: họ tìm đến trú ẩn trong những ngôi nhà kiên cố với các tường thành cao vời vợi của các gia đình giàu có. Khi mình đi du lịch nước Georgia cạnh Nga thì có đến một vùng ở Caucase, thấy người dân xây mấy tháp cao bằng đá rất kiên cố, họ dự trữ lương thực cho cả năm ở trong tháp. Khi quân cướp hay các làng bên cạnh đói quá kéo lại cướp lương thực thì họ đóng cửa phía trong và chống chọi. Đói quá giặc bỏ đi. Vui lòng giặc đến đói quá giặc đi. 


Năm ngoái đi bộ 375 km ở vùng Toscana thì thấy rõ vấn đề, các làng hay thành phố đều được xây dựng trên đồi cao. Trong ngày mình đi bộ ở vùng ruộng nên thấp, cứ tung tăng vô tư như người Hà Nội, khi chiều đến thì phải leo đồi núi để vào các thành phố như San Gimignano, xung quanh là bức tường thành, chỉ có cổng đi vào. Đi cả ngày đã oải rồi tối phải bò lên đồi để vào thành phố ngủ đêm và ăn uống. Chán Mớ Đời 


Những ngôi nhà kiên cố này thường là các biệt thự (villas), nằm ở các trang trại kiên cố ngoài đồng quê. Dân tình đem gia đình đến tá túc như khi xưa Việt Cộng vào là bỏ chạy. Hãy bảo vệ chúng tôi, và chúng tôi sẽ làm việc đồng áng trên đất của ngài,” dân thị trấn đề nghị tự làm nô lệ biến các địa chủ có tường thành che chở, trở thành bọn cường hào ác bá, có nợ máu với nhân dân. Các thị trấn trở nên trống rỗng, còn các biệt thự thì chật kín người. Đó là chế độ phong kiến khởi đầu, người nông dân bỏ đất của mình để xin làm tá điền cho các đại địa chủ để được bảo vệ với bọn cướp. Bình dân học vụ là xin vào ở trong ấp chiến lược để tránh Việt Cộng xâm nhập cướp đất cướp nhà và lương thực. Ngày ra làm ruộng tối rút vào làng.


Trước Mậu thân mấy người ở các vùng xôi đậu miền trung bỏ chạy vào Đà Lạt rồi đi làm thuê như chú Hai và chú Nhị làm vườn cho nhà mình vì vườn tược ở Quảng Ngãi bị Việt Cộng chiếm hết khiến mất an ninh. 


Nếu ai có dịp đi viếng Ý Đại Lợi về phía nam có nhiều thành phố, người dân xây nhà trong mấy hang đá như Matera,…rất lạ nhưng để hiểu khi xưa người ta phải sống còn ra sao. Chui vào các hang đá để khi giặc cướp đến, chỉ lăn cục đá to đùng ở trong thì ngoại bất khả nhập. Ở Capodoccia ở Thổ Nhĩ Kỳ mình có viếng một địa đạo từ 2000 năm trước, cho mấy ngàn người theo công giáo sống ở trong để tránh bị quân la-mã, bắt giết. 


Cư dân định cư xung quanh những biệt thự này được gọi là villaggio, hay làng (village). Không giống như các thị trấn nhỏ, các ngôi làng là những chế độ quân chủ thu nhỏ. Chúng được cai trị bởi một lãnh chúa duy nhất, được những người theo phe ủng hộ, và được duy trì bởi tầng lớp nông dân cung cấp lương thực cho ông ta. Kết quả là, bản đồ châu Âu sau thời La Mã được định hình bởi năng suất nông nghiệp. Đất tốt màu mỡ tạo ra các nước được xây dựng chính trị trên nền cộng hòa, trong khi đất nghèo tạo ra các ngôi làng, từ đó dẫn đến sự xuất hiện của các lãnh chúa, và cuối cùng là các vị vua. Ý Đại Lợi thì phía nam đất không màu mỡ lắm như miền trung Việt Nam nên người dân Ý Đại Lợi từ từ bỏ quê ra đi lên miền bắc kiếm cơm hay di dân qua các Châu Mỹ. 


Thế kỷ này, chúng ta đang đứng trước một tình trạng là những người ở các xứ nghèo đói, theo bản năng sinh tồn họ sẽ vượt đường xa để đến các nước tây phương như trước đây tổ tiên loài người đã làm. Cuộc di dân lớn nhất lịch sử loài người đã và đang được thành hình từ cuối thế kỷ 20 đến nay và chắc chắn sẽ không thể ngăn ngừa được dù có xây tường cao. Như khi xưa, tổ tiên chúng ta đói, bỏ nước , bỏ làng ra đi kiếm ăn.


Trong lịch sử loài người khi quê mình nghèo thì thiên hạ bỏ xứ đi lập nghiệp nơi khác như bên ngoại mình bỏ xứ Huế lên Đà Lạt. Rồi mấy ông Việt Cộng vào cướp hết. Chán Mớ Đời 


Bắc Ý Đại Lợi sở hữu vùng đất nông nghiệp màu mỡ nhất châu Âu, đó là lý do tại sao Thời kỳ Phục hưng, một giai đoạn phát triển văn hóa và trí tuệ vĩ đại lại nở rộ ở đây. Không phải vì người Ý bẩm sinh thông minh hơn. Thay vào đó, đất đai màu mỡ của Italy đã duy trì một giai cấp thương nhân thịnh vượng trong thời gian dài. Những thương nhân này, khi đã có ảnh hưởng lớn, cuối cùng tiếp cận được văn học cổ điển HY-La, xây dựng những mái vòm tráng lệ, và thay đổi cả thế giới về tư tưởng và nghệ thuật đến ngày nay. Người ta gọi đó là thời kỳ Phục Hưng của âu châu. Quatrocento như người Ý Đại Lợi gọi.


Tương tự người Việt tỵ nạn khi mới sang Hoa Kỳ thì chỉ muốn kiếm cơm nhưng dần dần tích tụ được chút tiền thì bắt đầu mua tranh, nghệ thuật, xây nhà đủ kiểu theo văn hoá “biết bố mày là ai không.” Hay phong thủy và phong hỏa. 


Chỉ khi ai đó cung cấp cho chúng ta, chúng ta mới có thể thưởng thức được những tác phẩm kinh điển. Florence đặc biệt được hưởng lợi từ sự hỗ trợ này. Khi đế chế Ottoman chiếm đóng nước Hy-Lạp thì các nhóm trí thức, giàu có của xứ này mới lên thuyền vượt biển qua Ý Đại Lợi. Họ đem theo các sách cổ điển và triết học của họ khiến người Florence tò mò, khai hoá họ thêm tạo ra một văn hoá hoành tráng đưa nghệ thuật lên cao vút. Tương tự khi các giống dân trên thế giới di dân qua Hoa Kỳ, các nghệ sĩ, trí thức, kỹ sư,… đã giúp Hoa Kỳ trở thành một cường quốc dù mới được thành lập 250 năm nay.


Hay về mặt thực phẩm, nay đi khắp nước Mỹ đều có tiệm ăn bán pizza đeen từ người Ý Đại Lợi, hay taco của người Mễ hoặc phở hay bánh mì của người Việt. người Tàu thì khỏi nói chỗ nào trên thế giới đều có tiệm ăn tàu. 


Tương tự sau 1954, các văn nghệ sĩ di cư từ miền Bắc đã tạo nên một nền văn hoá mà đến ngày nay, người Việt vẫn còn tự hào. Ngay cả dân miền bắc vẫn tìm đọc các cuốn sách miền nam xưa, điển hình nhất là dân Hà Nội nghe nhạc Bolero trong khi nhạc sĩ Trần Tiến, trên đài truyền hình Việt Nam, kêu gọi loại bỏ Nhạc Đỏ, chỉ hát Nhạc Vàng đồi trụy của Nguỵ Quân Nguỵ Quyền. Như nhà phê bình Văn Học Hoài Thanh, khi viếng miền Nam, ông ta nói, về cơ bản bọn nGuỵ là xấu mà sao chúng làm thơ hay nhạc thậm chí văn của chúng quá hay. Không hiểu nổi.


Mình hay tò mò lý do Anh quốc một đảo nhỏ ở âu châu mà có thể chiếm đóng khắp nới trên thế giới và tuyên bố mặt trời không bao giờ lặn tại Anh quốc. Trở thành một cường quốc bậc nhất ở thế kỷ 19. Lý do là họ đã tìm ra cách giảm thiểu thủy thủ chết trên tàu khi ra khơi mấy tháng hay năm liền.


Năm 1768, Thuyền trưởng Cook đã chất lên tàu HMS Endeavour 7.860 pound (khoảng 3.565 kg) dưa cải bắp muối (sauerkraut). Thủy thủ đoàn ban đầu từ chối ăn, nên ông chỉ phục vụ riêng cho các sĩ quan và bảo họ ăn một cách công khai trước mặt thủy thủ mỗi ngày, cho đến khi các thủy thủ cũng muốn ăn theo. Đáng chú ý là, không một ai trên tàu tử vong vì bệnh scurvy trong suốt chuyến đi kéo dài ba năm. Một bệnh thiếu sinh tố khi đi biển vì ăn toàn là đồ khô. 


Chuyến đi vòng quanh thế giới đầu tiên của thuyền trưởng Thomas Cook là một thành tựu phi thường, khi ông đã hoàn thành việc đi vòng quanh quả đất mà không mất một thủy thủ nào vì scurvy. Để ghi nhận phương pháp bảo vệ sức khỏe phi thường cho thủy thủ đoàn, Hội Hoàng gia London đã trao cho ông Huy chương Copley, một trong những vinh dự khoa học danh giá nhất nước Anh.


Giải pháp của thuyền trưởng Cook cho bệnh scurvy, vì đây từng là tai họa chết người đối với thủy thủ trên những chuyến đi dài trong nhiều thế kỷ. Một số ước tính cho rằng scurvy gây ra nhiều cái chết hơn cả giao tranh với kẻ thù, bão tố và tất cả các nguyên nhân khác cộng lại. Ai đi vượt biển chắc hiểu sự việc này. Thiếu vitamin C.


Phương pháp sáng tạo của thuyền trưởng Cook bao gồm bắp cải lên men và sự thấu hiểu sâu sắc về tâm lý con người. Thực đơn hàng ngày điển hình trên tàu Endeavour gồm:

  • Bữa sáng: lúa mì luộc với đường
  • Bữa trưa: thịt bò muối hầm với rau củ
  • Bữa tối: súp kèm bánh quy tàu cứng đến mức phải dùng que sắt mới đập vỡ được.

Tàu chở một lượng lương thực khoảng 5.500 lít bia, 7.300 lít rượu mạnh, 16 tấn bánh mì, 2 tấn thịt bò muối, và hơn 3 tấn dưa cải bắp muối. Nên nhớ trong bia có chất dinh dưỡng nên khi người âu châu đi tàu di dân sang Mỹ, họ đem theo bia rất nhiều, vừa giải khát vừa có chất dinh dưỡng.


Thủy thủ tiêu thụ khoảng 5.000 calo mỗi ngày để đáp ứng nhu cầu thể lực khi vận hành một con tàu buồm thế kỷ 18. Thuyền trưởng Cook còn mang theo nước dùng di động từ nội tạng bò, 40 thùng malt, giấm, mù tạt và nước chanh cô đặc như các biện pháp bổ sung chống scurvy. Ông đang tiến hành một thí nghiệm dinh dưỡng có kiểm soát đầu tiên trong lịch sử hải quân, kéo dài ba năm và vượt qua 40.000 dặm đại dương.


Một chi tiết nổi bật trong câu chuyện này là “tâm lý dưa cải bắp”. Thuyền trưởng Cook nhận thấy thủy thủ Hà Lan ít bị scurvy hơn nhiều so với thủy thủ Anh, và ông chú ý họ mang theo thùng dưa cải bắp. Ông ra lệnh cho tàu mình làm theo, nhưng thủy thủ Anh hoàn toàn từ chối món ăn lạ ngoại quốc này. Thuyền trưởng Cook quyết định chỉ phục vụ cho sĩ quan và để họ ăn công khai trước mặt thủy thủ. Chỉ sau vài tuần, các thủy thủ bắt đầu đòi phần của mình. Thuyền trưởng Cook nhận ra rằng: những thủy thủ nghi ngờ món ăn lạ sẽ ăn ngay khi họ tin rằng người có địa vị cao hơn đang được hưởng thứ mà họ không có. Đó là cách đánh lừa thuỷ thủ để cứu mạng của họ. Tương tự người Việt khi xưa có chức tiền bạc, bắt chước tây đầm nhảy đầm, ăn cơm tây với dao nĩa đủ trò vì nghĩ mình sẽ đạt ngôi vị của kẻ cai trị mình. Lâu lâu chửi thể tiếng tây cho sang.


Ngày nay khoa học chứng minh là thuyền trưởng Thomas Cook, đã sai khi nói ăn mấy đồ như sauerkraut này nọ. Học cho biết là nhờ mỗi lần cập bến, ông ta đã tiếp tế thức ăn tươi, trái cây cho thủy thủ vì bệnh scurvy xảy là vì thiếu sinh tố C. Do đó hải quân Anh quốc đều trang bị rất nhiều nước chanh để thuỷ thủ uống. Nhờ đó mà họ không còn thuỷ thủ chết nhiều khi đi biển. Ngày nay người ta cho biết sinh tố C là rất quan trọng như ở Đức quốc họ sử dụng truyền sinh tố C để trị bệnh ung thư mà mình có kể rồi. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen