từ Na-San đến Điện Biên Phủ


Hôm nay , ở Hoa Kỳ họ tưởng niệm ngày cựu chiến binh, ngày lễ chiến sĩ trận vong nên kể chuyện thời Bảo Đại, tây đánh nhau với Việt Nam.

Lính tây nhảy dù xuống Điện Biên Phủ


Hồi xưa, thầy dạy kể về các trận đánh chống pháp này nọ, có nghe đến trận Na-San và tướng Raul Salan mà mấy ông tây đi lính khi xưa khen ông tướng này. Sau này ông ta chống lại việc tổng thống Để Gaulle nên tính làm đảo chính nhưng chỉ có một số binh sĩ theo ông ta nên sau này bị tổng thống De Gaulle bắt bỏ tù. Hồi ở Paris, mình có gặp ong tướng này mấy lần ở hội cựu chiến binh Đông-Dương mỗi lần ông ta lên Paris thăm gia đình, và ông tướng Bigeard, người đầu hàng Việt mInh tại Điện Biên Phủ cũng như bác sĩ Paul Grovin, người đã trải qua bao nhiêu trận pháo của việt minh tại lò chảo Điện Biên này. Ông này có viết cuốn sách “ j’étais médecin à Điện Biên Phủ”. Mình có đọc cuốn này khi ở Pháp. Có dịp mình kể về ông bác sĩ này.

Căn cứ Na-San là nơi đụng độ mạnh nhất giữa Việt minh và quân đội Pháp. Các vùng miền cao như Cao Bằng, Lạng Sơn đều được việt mình chiếm đóng các khu vực này. Lý do là gần biên giới Trung Cộng. Dễ nhận tiếp tế.

Có lần về quê, ngủ lại nhà lần đầu tiên, thì sáng sớm nghe cái loa phường tuyên dương các người dân làng mình đã hy sinh trong trận đánh Điện Biên Phủ. Cái loa đọc tên rồi kêu đã chết rất lâu khiến mình rùng mình. Nếu ông cụ mình theo việt mInh ở làng chắc cũng đã nằm xuống ở Điện Biên Phủ. Ông cụ lại không theo nên việt minh tìm cách giết vào ban đêm. May sao ông cụ đã chuẩn bị nên nhảy qua tường nhà hàng xóm rồi trốn ra Hà Nội rồi đăng lính vào nam.


Mình có đọc đâu đó, ông tướng Võ Nguyên Giáp có kể là khi Trung Cộng đồng ý giúp đỡ vũ trang và cán bộ thì Việt mInh mới khởi đầu đánh pháp. Cậu ruột của đồng chí gái đi theo việt minh và làm sĩ quan tuỳ viên cho võ đại tướng. Sau này lên hàm tướng.

Không ảnh của Na-San, thấy phi trường 

Hôm nay tình cờ đọc một bài của ông tây nào kể về trận đánh Na-San, khiến quân đội pháp ỷ y nên chơi lớn hơn ở Điện Biên Phủ cùng chiến thuật nhưng rồi sau khi thất bại tại Na-San, Việt mInh học được bài học đau đớn nên đã tương kế tựa kế, bao vây Điện Biên Phủ và người Pháp không ngờ kỳ này quân đội Việt Minh có thể kéo đại bác lên trên đỉnh núi và trực chỉ bắn xuống các nơi phòng ngự của lính pháp. Cuối cùng không được tiếp tế nên đầu hàng. Ông tướng Bigeard có nói với mình tướng Phú của Việt Nam Cộng Hoà cũng có mặt tại trận này và bị bắt làm tù binh. Hình như dạo đó tướng Phạm Văn Phú là trung uý trong quân đội viễn chinh pháp.


Pháp có 2 trận đánh nổi tiếng ở Việt Nam là Na-San và Điện Biên Phủ trong khi quân đội mỹ có trận Khe sanh, cũng do tướng Giáp tấn công. Chỉ có Điện Biên PHủ là thắng còn hai trận kia thì phải rút lui vì tổn thất quá nhiều. Mình đọc đâu đó ông Giáp có kể vụ bộ chính trị ra lệnh ông ta phải chiếm lại Quảng Trị cho bằng được khiến mỗi đêm 100 bộ đội chèo ghe sang sống đều bị bắn chết hết. Để chiếm lại Quảng trị Việt Nam Cộng Hoà cũng mất nhiều binh sĩ.


 Vào tháng 12 năm 1946, tại Đông Dương thuộc Pháp lúc bấy giờ, Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh. Một phong trào dành độc lập cho Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo và Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân sự. Mình chỉ nghe nói là các đảng phái Việt Nam hợp lực với đảng cộng sản để đánh tây nhưng rồi từ từ bị đảng cộng sản giết hết.

Phi đạo của Na-San
Họ đào hầm phòng ngự, hình như đa số  người đào là gốc việt hay Thái

Nhận thấy không thể thắng được bằng sức mạnh ở những cánh đồng lúa phẳng, ông Võ Nguyên Giáp, chả bao giờ đi lính cả nhưng lại cầm quân kháng chiến chống pháp. Mình nghe ông Vũ Quốc Thúc, học chung với ông Giáp. Ông Giáp mê lịch sử nhất là các trận đánh của Napoleon, ông ta kể rõ từng chi tiết. Sau này ông ta không được đi pháp học thêm như ông Vũ Quốc Thúc vì ông thầy giáo tây ghét cái tính của ông Giáp không chịu luồng cúi người Pháp nên đánh rớt. Chứ nếu tây cho ông Hồ và ông Giáp đi du học thì ngày nay có thể Việt Nam vẫn là thuộc địa cuả pháp cũng có thể không phải cộng sản. Hay chả có chiến tranh chết chóc 3 miền.


Bộ chỉ huy Việt Minh mới quyết định năm 1952 chuyển hướng nỗ lực của Việt Minh sang vùng núi phía Bắc (Tonkin, nay là miền Bắc Việt Nam). Ở đó, ông tin chắc sẽ tận dụng được sự linh hoạt của quân đội và sự quen thuộc với rừng núi, cũng như hậu cần trở nên linh hoạt hơn nhờ sự hỗ trợ ngày càng gia tăng từ Trung Quốc cộng sản láng giềng.


Do đó, đầu tháng 10 năm 1952, ba sư đoàn bộ binh Việt Minh đã vượt sông Hồng và mở cuộc tấn công vào tỉnh Thái ( tây gọi Tai) ở tây bắc miền bắc mà tây gọi là Tonkin, nơi sinh sống của các dân tộc Thái thân Pháp. Hình như thực dân pháp để cho các dân tộc này tự trị nên họ ủng hộ và giúp đỡ người Pháp. Mục tiêu của Việt Minh là đẩy lui quân Pháp và thiết lập đường nối trực tiếp với Lào, sau đó xâm lược phần này của Đông Dương thuộc Pháp và mở thêm một mặt trận mới.


Chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần, các sư đoàn Việt Minh đã tiến được khoảng 60 km và tiến đến sông Đen, Hắc Giang (Black River) ở phần trung tâm tỉnh Thái. Sự tiến quân này buộc các lực lượng Pháp-Việt phải rút khỏi các cứ điểm chính tại Nghĩa Lộ và Sơn La, cũng như các tiền đồn nhỏ lân cận. Không lâu sau, các cứ điểm Điện Biên Phủ và Lai Châu nằm phía bên kia sông Hắc giang  cũng phải di tản.

Tướng Raoul Salan, sau này bị tổng thống De Gaulle ra lệnh bắt bỏ tù vì muốn giữ Algeria cho đế quốc Pháp. Mình có ăn cơm với ông ta mấy lần tại hội cựu chiến binh Đông-Dương 

Đáp lại, Tướng Raoul Salan, khi đó là Tổng Tư lệnh lực lượng Pháp tại Đông Dương, quyết định chặn bước tiến của Việt Minh sang Lào bằng cách xây dựng một căn cứ kiên cố tại Na San, một thung lũng nằm bên kia sông Hắc giang. Na San có một sân bay quan trọng, là điểm đến của viện binh và tiếp tế cho khu tự trị người Thái.


Thung lũng Na San dài khoảng 5 km, rộng 2,5 km, được bao quanh bởi hai dãy đồi. Nó nằm trên đường tỉnh lộ 41 (RP 41) tuyến giao thông chính của tỉnh Thái. Một sân bay quân sự đã được xây dựng trong thung lũng, được một tiền đồn nhỏ canh giữ nhằm tăng khả năng tiếp tế cho khu vực. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Tướng Salan chọn Na San làm nơi tập trung quân, bao gồm cả các đơn vị đang rút lui. Ông hy vọng sẽ thu hút các sư đoàn Việt Minh đang tiến tới tấn công cứ điểm trên đường sang Lào, đồng thời chặn đứng và tiêu hao chúng bằng cách biến thung lũng thành một pháo đài bất khả xâm phạm.


Vì vậy, ngày 16 tháng 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh Lê dương 3 (3e REI) dưới quyền Thiếu tá Favreau đã đổ bộ xuống Na San và bắt đầu công việc củng cố xây dựng các tuyến hào. Ngày 26 tháng 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 5e REI (vẫn dưới quyền Thiếu tá Dufour, sau chuyển sang Đại úy Reppelin từ giữa tháng 11) cũng được chuyển đến thung lũng. Các đại đội của họ chiếm giữ nhiều ngọn đồi bao quanh thung lũng và ngay lập tức biến chúng thành các vị trí phòng thủ.


Trong quá trình xây dựng quy mô lớn, hai tiểu đoàn được hỗ trợ bởi các đơn vị công binh Pháp và lính công binh Lê dương từ Tiểu đoàn Công binh hỗn hợp 73 (73e BG). Trong nhiều tuần, máy bay liên tục chở đến lương thực, vật liệu xây dựng, đạn dược, gạo, dây thép gai, pháo, và thậm chí cả máy ủi. Bên cạnh vận tải bằng máy bay dân sự, không quân còn cung cấp giám sát từ xa và gần để theo dõi kẻ thù.

Tiểu đoàn nhảy dù Lê Dương 

Ngày 19 tháng 11, Tiểu đoàn Nhảy dù Lê dương 2 (2e BEP) của Thiếu tá Bloch đến Na San, tiếp theo ngày hôm sau là Tiểu đoàn 1er BEP của Thiếu tá Brothier. Cả hai đơn vị ngay lập tức được đưa đến cách thung lũng khoảng 20 km về phía đông nam để đón các đơn vị khác đang rút lui tại Chiên Đông và Cò Nòi, rồi hộ tống họ về Na San. Trong chiến dịch hai ngày này, đã xảy ra những cuộc đụng độ đầu tiên với Sư đoàn 316 Việt Minh đang tiến tới.


Lúc này, căn cứ Na San gồm hai tuyến phòng thủ. Tuyến ngoài được xây trên các ngọn đồi bao quanh thung lũng, cách sân bay bán kính lên đến 2 km, gồm bảy cứ điểm lớn (points d’appui, đánh số từ 21 đến 27). Sáu cứ điểm trong số đó gồm thêm nhiều vị trí phòng thủ kiên cố, mỗi vị trí do một đại đội canh giữ. Tuyến trong nằm ngay đáy thung lũng, gồm mười cứ điểm kiên cố (số 1 đến 10) cùng các vị trí phòng thủ bổ sung, bảo vệ Bộ chỉ huy, sân bay, pháo binh và kho tàng.


Cách tổ chức này cho phép chỉ huy sử dụng chiến thuật “phòng thủ nhím” hérisson (hedgehog defense) chống lại các cuộc tấn công của quân địch đông hơn về số lượng. Căn cứ kiên cố được bảo vệ bởi 11 tiểu đoàn, bao gồm hai tiểu đoàn bộ binh Lê dương, ba tiểu đoàn nhảy dù (hai BEP và Tiểu đoàn Nhảy dù Thuộc địa 3 – 3e BPC), một tiểu đoàn bộ binh nhẹ Maroc, một tiểu đoàn bộ binh nhẹ Algeria, ba tiểu đoàn phụ lực Thái, và một tiểu đoàn phụ lực Việt Nam.


Ban đầu, các lực lượng này chỉ được hỗ trợ bởi một đại đội súng cối Lê dương (CMLE) được thành lập đặc biệt cho sứ mệnh này. Đơn vị đóng tại tiền đồn nhỏ ban đầu của Na San, trang bị súng cối 120 mm và 81 mm. Đến cuối tháng 11, ba khẩu đội pháo 105 mm đã tăng cường cho căn cứ. Ngoài lực lượng mặt đất, căn cứ Na San còn được bảo vệ bởi nhiều máy bay chiến đấu, bao gồm Privateer, SB2C Helldiver, F6F Hellcat và Douglas A-26 Invader, luôn sẵn sàng xuất kích từ Hà Nội cách đó 45 phút.


Chỉ huy toàn bộ căn cứ là Đại tá Jean Gilles, sau này trở thành Tổng Tư lệnh các đơn vị nhảy dù Pháp tại Đông Dương. Ngày 22 tháng 11, Việt Minh dưới quyền Tướng Giáp tiến đến Na San và bao vây với các Sư đoàn 308 từ phía bắc, Sư đoàn 312 từ phía đông, Sư đoàn 316 từ tây nam. Mỗi sư đoàn gồm ba trung đoàn, mỗi trung đoàn có 2-3 tiểu đoàn. Nghĩa là quân Pháp tại Na San phải đối mặt ít nhất 18 tiểu đoàn Việt Minh, được hỗ trợ bởi pháo binh.


Tối ngày 23 tháng 11, Việt Minh mở cuộc tấn công đầu tiên vào Na San bằng mưu kế giả dạng lính Thái. Ở phía bắc căn cứ, trên tuyến phòng thủ trong, có Cứ điểm 8 (PA 8). Nơi đây do Đại đội 11, Trung đoàn 5e REI dưới quyền Đại úy Letestu trấn giữ (ông là nhà vô địch bắn súng của quân đội Pháp và sau này trở thành lãnh đạo Quân đoàn Lê dương). Cứ điểm gồm nhiều hầm ngầm kiên cố, nối với nhau bằng hệ thống hào và hố cá nhân dày đặc, được bao quanh bởi dây thép gai và bãi mìn.


Khoảng 20 giờ, lính gác tại một cổng vào cứ điểm báo động cho toàn PA 8. Một đơn vị phụ lực Thái rút lui đã đến cứ điểm, thông báo Việt Minh đang tới và xin lánh nạn. Nhưng có lẽ vì vội vã, họ quên đi tuyến đường quy định và lao thẳng vào lưới thép gai và bãi mìn. Trung úy Durand, chỉ huy một trung đội Đại đội 11, người đã sống sót kỳ diệu qua vụ thảm sát nhóm Kháng chiến của ông bởi quân Đức trong Thế chiến II, bước ra ngoài cổng để dẫn dắt đoàn quân nhỏ đang rút lui.


Sĩ quan chỉ huy đơn vị Thái nói được tiếng Pháp. Trung úy tiếp cận và bắt đầu trò chuyện. Nhưng ông lập tức nhận ra sai lầm: đây không phải phụ lực địa phương. Ông đang đối mặt với Việt Minh! Trung úy Durand, bất ngờ trước kẻ thù và bị ra lệnh im lặng, quay về phía lính trong cứ điểm và hét lớn: “Cẩn thận, chúng là Việt Minh, bắn!” Đồng thời ông bị bắn nhiều phát và trở thành người Pháp đầu tiên chết của trận Na San.


Mưu kế này khởi đầu cuộc tấn công của các đơn vị Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 (hoặc 312 theo một số nguồn). Quân Việt Minh giả dạng Thái đã xâm nhập qua cổng mở vào hệ thống hào. Tuy nhiên, họ gặp phải sự kháng cự quyết liệt. Đại úy Letestu và binh lính chiến đấu sáp lá cà. Đại đội CMLE nhanh chóng can thiệp và bắn đạn cối vào lực lượng Việt Minh tiến công từ ba hướng. Cuộc tấn công đầu tiên nhanh chóng bị chặn đứng. Vài giờ sau, một đại đội của 3e BPC đến tăng viện. Lực lượng liên hợp còn đẩy lùi được đợt tấn công thứ hai. Sau nửa đêm, quân Việt Minh rút lui. Cứ điểm được giữ vững.

Tù binh Việt Minh

Sáng hôm sau, người ta tìm thấy 64 thi thể Việt Minh xung quanh cứ điểm. Bên phía Pháp, ngoài Trung úy Durand, có 5 lính Lê dương hy sinh, 13 người bị thương và 6 người mất tích. Sau thất bại bất ngờ này, ông Giáp hủy cuộc tấn công ban đầu. Phần còn lại của tháng 11, Na San trở nên hơi yên tĩnh, chỉ bị pháo kích lẻ tẻ. Việt Minh tập hợp lại lực lượng và sửa đổi kế hoạch. Tuy nhiên, tình báo cho thấy Việt Minh chưa từ bỏ ý định chiếm thung lũng và đánh bại quân Pháp. Uy tín của Việt Minh đang bị đặt cược.


Đêm 30 tháng 11 đến 1 tháng 12, Việt Minh mở cuộc tấn công mới. Lần này nhằm vào hai cứ điểm ở rìa tây và đông thung lũng: PA 22 bis và PA 24, do phụ lực Thái và bộ binh Maroc trấn giữ. Chắc họ đoán lính Maroc đáng giặc dỡ. Khoảng 2 giờ 30 sáng, một tiểu đoàn Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 mở cuộc tấn công quy mô lớn kèm oanh kích mạnh. Cứ điểm 22 bis (cách sân bay khoảng 1 km về phía tây) nhanh chóng bị chiếm; lực lượng Thái phòng thủ rút lui mau chóng. Đồng thời, ở phía đối diện, Cứ điểm 24 bị Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 tấn công. Dù có pháo binh và cối yểm trợ, cứ điểm vẫn thất thủ sau ba giờ chiến đấu.


Tuy nhiên, Đại tá Gilles đã có kế hoạch dự phòng. Đó là phản công lúc bình minh bằng một tiểu đoàn nhảy dù đang chờ trong lực lượng dự bị gần sân bay. Gilles ra lệnh bắn chuẩn bị bằng cối 120 mm trong ba giờ vào Cứ điểm 22 bis đã mất, sau đó 2e BEP phản công lúc khoảng 7 giờ sáng. Ngọn đồi nhanh chóng được chiếm lại.

Mấy ông ta này chắc về nhà vợ la chắc không nghe

Tình hình tại Cứ điểm 24 phức tạp hơn. Khoảng 7 giờ sáng, sau pháo kích mạnh, quân của Tiểu đoàn Nhảy dù Thuộc địa 3 phản công. Họ phải cận chiến bằng lưỡi lê, được hỗ trợ bởi cối và máy bay. Đến trưa, hai đại đội 2e BEP và một đại đội Maroc đến tăng viện. Cuối cùng khoảng 14 giờ, ngọn đồi được giành lại. Những cuộc phản công này đã ngăn không cho Việt Minh đặt súng phòng không trên các ngọn đồi và bắn hạ máy bay Pháp, vốn cực kỳ quan trọng đối với lực lượng mặt đất.


Mặc dù đã đánh giá thấp sức mạnh phòng thủ của Na San dẫn đến hai thất bại và tổn thất lớn, ông Giáp vẫn kiên quyết chiếm thung lũng. Cuộc tổng tấn công được dự định ngay đêm hôm sau (1-2 tháng 12), lại nhắm vào hai vị trí phòng thủ khác nhau.


Khoảng 0 giờ 45, ở phần đông của dãy đồi trên, Trung đoàn 88 (Sư đoàn 312) và Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) mở cuộc tấn công quy mô lớn vào Cứ điểm 26, cứ điểm lớn nhất Na San. Một dãy núi dài khoảng 800 m với sườn dốc đứng đã được biến thành pháo đài với hầm ngầm, hố chiến đấu, hào và dây thép gai dày đặc. Cứ điểm do Tiểu đoàn 3, 3e REI của Thiếu tá Favreau (cựu chiến binh Lê dương nổi tiếng, mất một mắt trong Thế chiến II) trấn giữ.


Pháo binh Việt Minh bắn không ngừng, trong khi quân tấn công dùng ngư lôi Bangalore (ống tre chứa thuốc nổ) phá dây thép gai. Lính Lê dương để địch tiến sát hào rồi mới bắn. Pháo binh Pháp, bao gồm CMLE, can thiệp chính xác. Máy bay Pháp thả dù sáng và ném bom vào các khe núi gần đó.


Đến khoảng 2 giờ sáng, đợt tấn công thứ hai bị đẩy lui. 4 giờ 30 sáng, đợt cuối cùng bị chặn đứng. Đến 5 giờ sáng, địch kiệt sức rút lui, để lại gần 240 thi thể. Bốn đại đội của Tiểu đoàn 3e REI chỉ tổn thất 7 chết và 22 bị thương. Đánh cả đêm thì mệt, phải rút lui.

Đồi núi phòng ngự, ở dưới bò lên là hơi mệt

Khoảng 1 giờ 30 sáng, ở phía tây dãy đồi dưới, Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312) pháo kích Cứ điểm 21 bis do Đại đội 10, 5e REI dưới quyền Trung úy Bonnet trấn giữ. Sau khi phá dây thép gai, địch tiến sát đến chỉ còn khoảng 20 mét từ Bộ chỉ huy đại đội. Trong hầm, Trung úy Bonnet chỉ huy hỏa lực. Bỗng một quả lựu đạn địch rơi vào hộp chất nổ. Ông nhanh tay vứt ra ngoài nhưng nó nổ ngay, khiến ông hy sinh. Trung úy Blanquefort thay thế chỉ huy. Tại trung đội 4 của Trung úy Bachelier, dù bị thương, ông vẫn bình tĩnh di chuyển chỉ huy và khích lệ binh sĩ cho đến khi bị bắn vào cổ và hy sinh.


Cuối cùng, máy bay A-26 đến ném bom và napalm. Khoảng 4 giờ sáng, Việt Minh giảm cường độ tấn công. Đến 7 giờ sáng, im lặng. Khoảng 350 thi thể Việt Minh và 50 người bị thương nằm trước cứ điểm cùng nhiều vũ khí. Bên Pháp: hai sĩ quan và hai lính Lê dương hy sinh, 11 người bị thương.


Sáng cùng ngày, Đại tá Gilles báo về Hà Nội qua radio: “Chúng tôi không bị chọc thủng! Tất cả vị trí vẫn giữ vững! Đó là một trận mưa lửa không thể tả.” Lúc đó ông chưa biết Trận Na San đã thực sự kết thúc.


Nỗ lực chiếm Na San của ông Giáp bị thất bại. Chỉ trong ba đêm, các sư đoàn của ông tổn thất ít nhất 1.000 người chết và nhiều người bị thương, bị bắt. Bốn ngày sau, quân Việt Minh mệt mỏi và đói rút lui, chỉ để lại một số đơn vị nhỏ quan sát và quấy rối.


Ngày 10 tháng 12, tại Na San, Tướng Salan trao Huân chương Chiến công Nhà hát Chiến tranh Ngoại bang cho hai tiểu đoàn bộ binh Lê dương. Các đơn vị được khen thưởng ở cấp Quân đội (cao nhất).


Nhờ tổn thất lớn về nhân lực, lương thực và đạn dược, ông Giáp phải hủy kế hoạch xâm lược Bắc Lào. Chiến thuật của Salan đã thành công, mang lại thắng lợi rõ ràng cho Pháp.


Tuy nhiên, sau khi Tướng Salan rời đi năm 1953, Bộ chỉ huy Pháp mới tại Đông Dương quyết định bỏ hoàn toàn căn cứ kiên cố Na San để chiếm một thung lũng lớn hơn, khó phòng thủ hơn: Điện Biên Phủ. Quyết định này cuối cùng dẫn đến thất bại lớn của Pháp và mất Đông Dương.

người Pháp bỏ căn cứ này dọn đến Điện Biên Phủ và đưa đến thất trận

Mình đọc trên Facebook của ông Việt Lê, thì được biết lý do thực dân pháp cho phép các bộ tộc người Thái tự trị ở Đông-Dương là vì họ trồng thuốc phiện bán cho người Pháp. Quân đội pháp dùng tiền này để trang trải kinh phí chiến tranh Đông-Dương. Thấy cũng có lý vì Pháp quốc mới banh ta lông sau đệ nhị thế chiến nên không có tiền để tái thiết Pháp quốc. Nên đoán lý do Việt Minh muốn đánh vùng này để phá hoại kinh tài của người Pháp.


Thực tế, khác với Bộ chỉ huy Pháp mới, ông Giáp đã rút được kinh nghiệm quý báu từ Na San và áp dụng thành công trong trận Điện Biên Phủ nổi tiếng năm 1954. Và được các sĩ quan do Trung Cộng đưa sang hỗ trợ. Nên khi quân đội pháp, bỏ căn cứ Na-San và muốn dàn trận ở chiến địa lớn hơn là Điện Biên Phủ. Việt mInh nhờ lòng dũng cảm đã cố đưa lên các đỉnh núi các dàn pháo do Trung Cộng viện trợ và từ trên núi tha hồ nả pháo xuống các căn cứ, phòng ngự của lính pháp. Cuối cùng đưa đến sự đầu hàng của quân đội viễn chinh pháp và sau hiệp định Geneva, pháp rút khỏi Việt Nam vào năm 1956.


Việt Minh được sự ủng hộ của bộ tộc người Mèo, Thái Đen vùng này nếu không thì khó áp đảo được lính pháp trấn thủ nơi đây. người Pháp cho người Thái Trắng nhiều đặc quyền trong khi người thái đen và người Mèo ở vùng này trơ mỏ nên họ giúp Việt mInh. Xin trích từ Facebook Viet Le:


“Cần biết Điện Biên Phủ nằm trên đất của Liên bang Thái tự trị gồm 3 tỉnh Tây Bắc do Pháp cắt cho gia tộc họ Đèo do Đèo Văn Long, một người Thái trắng đứng đầu vào sau Thế chiến thứ 2. Khu vực này từ lâu đã được gọi là Xứ Thái, do Pháp phong cho Đèo Văn Trị, cha của Đèo Văn Long cai quản từ cuối thế kỷ 19.


Theo Alfred McCoy, một nhà nghiên cứu táo bạo, Đèo Văn Long là đồng minh lâu năm của Pháp. Không những thế, ông này còn đóng vai đầu nậu thu mua hoa anh túc để bán lại cho Pháp. Số hoa anh túc thô này sẽ được chở về Vũng Tàu để bào chế thành á phiện, rồi sau đó bỏ cho thủy tặc Bình Xuyên phân phối ở khu Chợ Lớn. Đây là một nhánh trong đường dây sản xuất và tiêu thụ thuốc phiện do chính phủ Pháp duy trì từ trước Thế chiến thứ 2. 


Sau Thế chiến, chính phủ Pháp phát động phong trào bài trừ thuốc phiện và cắt đứt đường dây này. Nhưng tình báo Pháp thuộc quân đội, cụ thể là cơ quan SDECE, thông qua lực lượng gọi là Liên đoàn biệt kích dù hỗn hợp đã ngay lập tức tiếp quản đường dây thuốc phiện này. Chiến phí của 9 năm chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của Pháp được trang trải từ nguồn thu thuốc phiện trên.


Bên cạnh vùng Cánh đồng Chum ở Lào và vùng Tam giác Vàng (lúc này quy mô vẫn còn yếu) thì khu xứ Thái là nơi có sản lượng hoa anh túc rất cao, đem lại nguồn lợi lớn cho quân đội Pháp. Do đó, có thể hiểu được khi Pháp quyết định đặt tập đoàn cứ điểm ngay tại Điện Biên Phủ, thung lũng lớn nhất của Liên bang Thái tự trị, nơi chiếm 13% sản lượng hoa anh túc và 30% sản lượng lúa của toàn liên bang. Bên cạnh đó, Điện Biên Phủ có thể xem như một tấm khiên để bảo vệ đồng minh Đèo Văn Long.


Tuy nhiên, sai lầm chính của Pháp dẫn đến thất bại chung cuộc tại Điện Biên Phủ là họ đã không nắm rõ tình hình ở đây. Đèo Văn Long và nhóm Thái trắng tuy nắm quyền nhưng chỉ chiếm thiểu số trong khu liên bang, bên cạnh nhóm Thái đen đông hơn, và 50 ngàn người Mèo. Những người Mèo, sắc dân được biết đến rộng rãi hơn ngày nay như người H’Mong, sống ở triền núi, có lối canh tác thích hợp cho việc trồng hoa anh túc ở vùng Tây Bắc. Chính những người Mèo trồng hoa anh túc và cung cấp phần lớn sản lượng của khu Xứ Thái. Đèo Văn Long từ khi được giao quyền quản lý Liên bang Thái tự trị đã dùng quân đội địa phương người Thái đàn áp và ép giá hoa anh túc từ người Mèo. Người Mèo ở vùng Tây Bắc nhận giá thấp hơn mười lần so với giá thị trường, mà không có lựa chọn khác. Do đó, trong hơn mười năm sống dưới sự quản lý của Đèo Văn Long, người Mèo đã quá bất mãn và dần bỏ sang cảm tình Việt Minh.” (Hết trích)


Mình nghe kể thủ tướng Pierre Mendes France kêu nếu hoà đàm không thành công sẽ đem lính thêm và bom nguyên tử. Cuối cùng thì hiệp định Geneva được ký kết và các cường quốc chia đôi Việt Nam thành hai miền như Triều Tiên và Đức quốc khiến Việt mINh điên tiết và chuẩn bị đánh tiếp với lính mỹ.


Vấn đề là đánh cho mỹ cút nguỵ nhào cho cố rồi kêu gọi người Mỹ trở lại Việt Nam đầu tư này nọ. Như một cựu sĩ quan bộ đội ở Hạ Long kể với mình là ông ta vào nam đánh cho mỹ cút nguỵ nhào rồi bây giờ mỹ hay nguỵ nó vào ăn, phải phục vụ chúng nếu thì không được tiền boa. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Lịch Sử Trường Thiếu Sinh Quân Đà Lạt

 Lịch Sử Trường Thiếu Sinh Quân Đà Lạt

Cổng trường thiếu sinh quân Đà Lạt xưa, sau này Việt Nam Cộng Hoà dùng trường này để thành lập viện đại học Đà Lạt 


Dạo này không hiểu ông tây bà đầm nào lại rủ rê mình vào nhóm cựu lính Đông-Dương của người Pháp khiến mình thấy nhiều hình ảnh Việt Nam khi xưa, trước khi mình ra đời, thời gian tây đánh nhau với Việt Minh. Các người lính pháp xưa kể những trận đánh từ miền bắc, nơi học lịch sử Việt Nam mình có nghe thầy giáo nhắc đến nhưng chưa bao giờ lên đó như Yên BÁi, nơi ông Nguyễn Thái Học và các đồng chí bị hành quyết. Có tấm ảnh một người việt minh bị bắn chết nơi đồng ruộng, khiến mình liên tưởng đến cái chết của ông chú ruột mình bị tây bắn chết ở Sơn Tây, lúc 15 tuổi.

Chiếc tàu Poincarre đã đưa các thiếu sinh quân về pháp, tiếp tục học. Thấy có mẹ Việt Nam đưa con lên tàu


Nói chung thì hình ảnh đăng tải đa số là do con cháu đưa lên vì thế hệ này đã chết nhiều hay quá già nhưng cũng giúp mình có cái nhìn thời xưa ở Việt Nam nhất là miền Việt Bắc, nơi kháng chiến trường kỳ mà nhà thơ Quang Dũng và Hoàng Cầm hay nhắc đến. Cho thấy tây hay ta thì sớm muộn gì con cháu sẽ tìm tòi về lịch sử của cha ông họ.


Có tấm ảnh chụp ở bến cảng Sàigòn đưa các thiếu sinh quân Đà Lạt về nước vì Pháp rút lui khỏi Đông-Dương. Trường thiếu sinh quân mà tây gọi là École Militaire Préparatoire de Đà Lạt (Trường Võ bị Dự bị Đà Lạt, còn Việt Nam Cộng Hoà gọi là trường Thiếu Sinh Quân) là một trong những cơ sở đào tạo quân sự đặc biệt nhất từng tồn tại tại Đông Dương thuộc Pháp. Mình có tấm ảnh chụp mấy ông tây con hay mít con, gọi là Les Enfants Des Troupes, khi tây về nước thì Việt Nam Cộng Hoà dùng trường này để xây dựng viện đại học Đà Lạt sau này. Để đi tìm xem để ở đâu. Mình có mấy ngàn tấm ảnh về Đà Lạt xưa nên mỗi lần xem là hoa cả mắt.



Mẹ đưa tiễn con đi pháp không biết bao giờ trở lại
Thiếu sinh quân trên tàu nhìn lại và bắt chước ông Enrico Macias hát J’ai quitté mon pays


Trường được thành lập vào năm 1939 tại Đà Lạt dưới thời chính quyền Pháp, với mục tiêu đào tạo con em sĩ quan, con em công chức, và thanh thiếu niên ưu tú, để chuẩn bị cho con đường quân nghiệp trong quân đội Pháp. Khi xưa ở tây phương, có các trường đào tạo con cháu hoàng gia trở thành các sĩ quan quân đội hoàng gia.


Trường này đa số là con lai tây gọi là métisses, người Việt không nhận mà người Pháp cũng nơ-pa. Con lai đây là cha pháp, mẹ Việt Nam, Cao Miên hay Ai Lao. Mình đọc một cuốn sách của ông lai tây hay tây lai. Rất cảm động. Nên nhớ là trường Couvent des Oiseaux ở Đà Lạt, khi xưa được thành lập cũng có con lai học nhiều. Mình có đọc một cuốn sách của một cô đúng hơn là bà tuổi lớn hơn mình, con lai gốc phi châu, cựu học sinh Couvent rất tội nghiệp vì bà ta kể bị kỳ thị ở Việt Nam cũng như khi về tây. Lai tây trắng kỳ thị bà ta vì lai tây đen. Kinh


Bác nào đọc được tiếng tây thì nên tìm cuốn sách của ông tây lai này đọc trên trang nhà Banh-mi.co

Con lai, tôi không chọn lựa. Ở Quảng Yên, thành phố tôi sinh sống, người ta cấm tôi vào các hầm trú bom. Sau này, ở Pháp quốc, người ta kêu tôi trở về xứ mày…. 

Mô hình của trường được xây dựng theo kiểu các trường quân sự dự bị (écoles militaires préparatoires) của Pháp, tương tự các trường ở: Autun, Aix-en-Provence, hay La Flèche. Đây không phải là học viện sĩ quan hoàn chỉnh như École spéciale militaire de Saint-Cyr, hay như trường West Point của Hoa Kỳ mà là bậc trung học quân sự nội trú nhằm chuẩn bị thanh niên cho tương lai quân sự và hành chính. Hình như tây có trường huấn luyện phi công thuộc địa ở Maroc, nơi ông Nguyễn Cao Kỳ và ông Cung Trầm Tưởng được pháp chọn cho đi học lái máy bay, rồi ghé Paris một thời gian ngắn đủ giúp ông Cung Trầm Tưởng làm mấy bài thơ nhớ đời. Và ông Kỳ kiếm được bà đầm mang về Việt Nam.


Mình có hai anh bạn; một khi xưa theo học trường Thiếu Sinh Quân ở Vũng Tàu, mà tháng 7 này họ có đại hội Thiếu Sinh Quân ở quận Cam và một anh là Quốc Gia Nghĩa Tử. Khiến mình cứ lộn hoài. Anh Quốc Gia Nghĩa Tử thì mê vào trường Thiếu Sinh Quân, theo nghiệp đao binh như ông bố đã tử trận nhưng không được vào vì phải thi cử hay chi đó.

Năm 1939, người Pháp thành lập trường Thiếu Sinh quân tại Đà Lạt, do thiếu uý Savani điều hành theo đường lối của trường Autun, ngôi trường nơi ông xuất thân. Khởi đầu chỉ có một chục thiếu sinh quân nhưng sau này con số lên đến 150 người.

Năm 1944, Nhật Bản đảo chánh nên trường chuyển về Cao Miên. Năm 1951-1951 thì tướng De Lattre De Tassigny cho mở lại tại Đà Lạt. Từ năm 1954 đến năm 1956 thì trường đổi về Cap Saint Jacques, (Vũng tàu). Sau này Việt Nam Cộng Hoà tiếp tục sử dụng trường thiếu sinh quân ở Vũng tàu để đào tạo các thiếu sinh quân.


Vì sao trường được đặt tại Đà Lạt. Người Pháp xem Đà Lạt như: “tiểu Paris” của Đông Dương, nơi nghỉ dưỡng cao nguyên cho dân họ và binh sĩ và trung tâm giáo dục kiểu Pháp. Khí hậu mát mẻ của Đà Lạt được cho là thích hợp cho: huấn luyện thể chất, giáo dục nội trú, và xây dựng tinh thần kỷ luật. Mình có xem bản đồ phát triển Đà Lạt thì thấy phái sau trung tâm nguyên tử lực, họ dự định thành lập một doanh trại lính pháp rất to lớn.


Trong thời Pháp thuộc, Đà Lạt tập trung nhiều trường nổi tiếng: Lycée Yersin, các trường dòng, trường quân sự và cơ sở hành chính cao cấp. Vì vậy việc đặt một trường võ bị dự bị tại đây hoàn toàn phù hợp với chiến lược thuộc địa của Pháp.


Các học sinh được gọi là: “enfants de troupe” (thiếu sinh quân). Họ sống nội trú trong môi trường quân đội: mặc quân phục, học văn hóa theo chương trình Pháp, rèn luyện thể lực, học quân sự căn bản, và chịu kỷ luật nghiêm ngặt. Ngôn ngữ chính là tiếng Pháp.

Đây tấm ảnh của trường Thiếu Sinh Quân của Pháp mà họ gọi École de troupe. Phái sau ta thấy dáng dấp của viện đại học sau này


Nhiều học sinh là: người Pháp sinh tại Đông Dương, người Việt thuộc tầng lớp trung lưu hoặc thượng lưu, con em quân nhân phục vụ trong quân đội thuộc địa. Trường không chỉ đào tạo kiến thức quân sự mà còn hình thành một tầng lớp tinh hoa trung thành với hệ thống Pháp.


Chiến tranh Đông Dương bùng nổ sau Thế chiến II, vai trò của trường thay đổi. Nhiều cựu học sinh gia nhập quân đội Pháp, quân đội Liên hiệp Pháp, hoặc sau này là quân đội Quốc gia Việt Nam.


Trong giai đoạn chiến tranh: tinh thần chống cộng, kỷ luật quân đội, và bản sắc “Franco-Indochinois” (Pháp–Đông Dương) được nhấn mạnh mạnh mẽ hơn. Một số học sinh sau này trở thành sĩ quan trong: Quân lực Việt Nam Cộng hòa, quân đội Pháp, hoặc các lực lượng đặc biệt.


Biến cố 1954 và sự kết thúc tại Việt Nam

Lớp học của trường Thiếu Sinh Quân pháp khi xưa, nay là viện đại học Đà Lạt 
Mấy ông tây lai không được người Việt và người Pháp công nhận nên cho vào trường Thiếu SInh Quân. Mấy người tây lai làm việc đắc lực cho mật thám pháp, phòng nhì vì biết tiếng Việt và người Việt nên tra khảo tìm thông tin rất dễ. Đà Lạt có vụ bắn chết mật thám tây lai ở trước tiệm Đức Xương Long khiến 20 người theo việt minh bị bắt và xử tử tại Cam Ly.
Nhìn hàng rào mới nhớ đến hàng rào ở trường Petit Lycee.
Cổng trường



Sau khi thất bại tại Điện Biên Phủ và hội nghị Geneva khiến người Pháp phải rút khỏi Đông-Dương, sự hiện diện quân sự của Pháp tại Đông Dương suy giảm nhanh chóng. Chính quyền Pháp quyết định di chuyển các học sinh của trường sang Pháp. Ngày 2 tháng 2 năm 1956, các thiếu sinh quân rời Vũng Tàu lên tàu Raymond Poincaré , cựu tổng thống Pháp để tới Autun, Pháp quốc.


Đây là một khoảnh khắc mang tính biểu tượng: sự kết thúc của một thế giới thuộc địa cũ, và sự tan rã dần của tầng lớp quân sự Pháp tại Đông Dương. Nhiều học sinh lúc ấy còn rất trẻ, phải rời quê hương lần đầu tiên để sang mẫu quốc mà họ chỉ biết qua sách vở và giáo dục Pháp.


Tại Autun, các học sinh được nhập vào hệ thống trường quân sự dự bị Pháp. Một số tiếp tục phục vụ quân đội Pháp, tham chiến tại Algérie, sau này có chiến tranh Algerie với cuộc đảo chánh của tướng Salan,… rồi gia nhập OAS (tổ chức quân đội bí mật) hoặc trở thành công chức và kỹ sư tại Pháp. Một số khác sau này di cư sang Hoa Kỳ, Canada, Úc.


Đối với nhiều người, ký ức về Đà Lạt trở thành ký ức tuổi trẻ, biểu tượng của Đông Dương đã mất, và một bản sắc nằm giữa hai thế giới vừa Pháp, vừa Việt.


Nhiều người thường nhầm lẫn trường này với Trường Võ Bị Quốc Gia Đà Lạt. Hai trường khác nhau: trường Võ bị Dự bị Đà Lạt (thiếu sinh quân) do Pháp lập, dành cho thiếu niên, cấp trung học quân sự dự bị. Trong khi trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam / Việt Nam Cộng Hoà thành lập thay thế trường lục quân của Pháp thành lập trước đây; đào tạo sĩ quan trưởng thành, mô phỏng theo Saint-Cyr và West Point.


Ngày nay, Trường Võ bị Dự bị Đà Lạt không còn tồn tại, nhưng nó vẫn mang ý nghĩa lịch sử đặc biệt. Nó phản ánh hệ thống giáo dục thuộc địa Pháp, quá trình hình thành tầng lớp quân sự bản xứ, và sự chuyển tiếp đầy biến động từ Đông Dương thuộc Pháp sang thời kỳ hậu thuộc địa.


Đối với nhiều cựu học sinh và gia đình họ, trường không chỉ là nơi học tập. Nó là một cộng đồng, một ký ức về Đà Lạt xưa, và một phần của lịch sử Đông Dương thế kỷ 20. Anh bạn nha sĩ, khi xưa ở Việt Nam đi thiếu sinh quân học ở Vũng Tàu, kêu rất thương bạn cùng lớp hay dưới lớp. Nói chung anh ta kể là các thiếu sinh quân ở trường khi xưa như anh em nên mỗi lần có tổ chức đại  hội thiếu sinh quân là anh ta bay về tham dự và nhậu mệt thở với các bạn học một thời. Tháng 7 này, đồng chí gái đã mua vé đi dự đại hội thiếu sinh quân ở Quận Cam. Xong om


Ai đi pháp chơi thì ghé trường này xem viện bảo tàng của họ. https://www.terre.defense.gouv.fr/art-patrimoine-terre/nos-musees/musees-larmee-terre/musee-enfants-troupe


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Gan và Huyền Thoại “Detox”

 Gan và Huyền Thoại “Detox”


Trong thời đại hiện nay, từ “detox” xuất hiện ở khắp nơi. Từ này bị lạm dụng và thương mại hoá khắp nơi như Nước detox, Trà detox, Juice cleanse, Liver cleanse. Ôi thôi đủ trò, cứ bật truyền hình lên là thấy hay trên mạng xã hội. Hoặc thân hữu gửi email. Những quảng cáo hứa hẹn “thải độc gan”, “làm sạch cơ thể”, “đánh thức hệ thống lọc tự nhiên” xuất hiện liên tục trên mạng xã hội và trong ngành công nghiệp bảo gìn sực khoẻ trị giá hàng tỷ đô la mỗi năm. Chúng ta tin sói cổ , mua về thử một hai ngày rồi quăng đó. Lâu lâu xem lại quá date nên liệng thùng rác. Thiên hạ thi đua detox để rồi vài tháng, thậm chí vài ngày lại bỏ dỡ dang khiến các công ty, bác sĩ làm tiền như người Mỹ. Chán Mớ Đời 


Phía sau tất cả những cường điệu ấy lại tồn tại một phần sự thật sinh học rất đáng chú ý. Gan thật sự là cơ quan trung tâm trong việc xử lý chất độc của cơ thể. Không có gan, con người không thể sống quá vài ngày. Nhưng điều khoa học nói về “detox” khác rất xa với phiên bản thần bí thường thấy trong quảng cáo, bán dịch vụ hay thuốc men để làm giàu.


Người á châu thường gen khiến khi uống rượu, mặt đỏ như trương phi. Nên người tây phương, họ pha chất hoá học để người á châu không bị đỏ mặt để bán rượu. Thường thì người á châu bị đỏ mặt khi uống rượu, dễ bị đau gan. Do đó cần hạn chế uống rượu thay vì dzô dzô 100%. Lý do là khi đau thì hành vợ con, nhà cửa bán hết để chữa bệnh.


Gan không hoạt động như một phép màu huyền học. Nó hoạt động như một nhà máy hóa học cực kỳ phức tạp, nơi hàng tỷ phản ứng sinh học diễn ra liên tục mỗi giây để giữ cho máu sạch, năng lượng ổn định và cơ thể tồn tại. Hiểu đúng về gan không chỉ giúp chúng ta tránh bị cuốn vào những lời quảng cáo thiếu cơ sở, mà còn giúp nhìn rõ hơn cách cơ thể con người thật sự vận hành. Để từ đó chúng ta có thể ăn uống cẩn thận hơn theo phương chí ăn để mà sống thay vì sống để mà ăn.

Gan là trạm trung chuyển lớn nhất của Cơ Thể. Mọi thứ chúng ta ăn, uống hoặc hấp thu cuối cùng đều đi qua gan. Sau khi thức ăn được tiêu hóa trong ruột, các chất dinh dưỡng được hấp thu vào máu và đi theo tĩnh mạch cửa đến gan trước khi được phân phối tới phần còn lại của cơ thể. Tương tự như khi nước từ đường được đưa vào nhà thì có cái máy lọc nước, trước khi đi vào các đường giống dẫn nước khác trong nhà. Nói cụ thể để dễ hiểu.


Điều này có nghĩa gan là “trạm kiểm tra biên giới” của cơ thể, quyết định: chất nào được giữ lại, chất nào được chuyển hóa, chất nào cần trung hòa, và chất nào phải bị đào thải. Gan đồng thời thực hiện hàng trăm nhiệm vụ khác: điều hòa đường huyết, dự trữ glycogen, tổng hợp protein, tạo cholesterol, sản xuất mật, chuyển hóa hormone, và xử lý thuốc men mà chúng ta cứ uống như điên hay các chất bổ sung. Trong nhiều khía cạnh, gan không chỉ là một cơ quan, nó là trung tâm hậu cần sinh học của toàn bộ cơ thể.


Trong văn hóa đại chúng, “detox” thường được mô tả như: “làm sạch độc tố tích tụ trong cơ thể. Nhưng trong y học, khái niệm này cụ thể và cơ học hơn nhiều. Cơ thể liên tục tạo ra: chất thải chuyển hóa, phân tử oxy hóa, hormone cũ, sản phẩm phụ từ vi khuẩn ruột, và các chất ngoại lai từ môi trường. Gan có nhiệm vụ biến các chất đó thành dạng ít độc hơn và dễ đào thải hơn. Quá trình này chủ yếu diễn ra qua hai giai đoạn sinh hóa lớn.


Trong giai đoạn đầu tiên, gan sử dụng hệ enzyme cực kỳ nổi tiếng gọi là: Cytochrome P450. Hệ enzyme này hoạt động như một “bộ công cụ hóa học”: cắt phân tử, oxy hóa, khử, hoặc thay đổi cấu trúc của các chất lạ. Điển hình khi nhậu, rượu được chuyển thành acetaldehyde, khi uống thuốc hay chất bổ sung, thuốc được biến đổi thành dạng khác, hay uống cà phê thì chất caffeine bị phân giải, nhiều chất độc môi trường được trung hòa một phần.


Điều nghịch lý là nhiều chất sau giai đoạn này lại trở nên độc hơn tạm thời. Điều đó có nghĩa giai đoạn đầu tiên chưa phải “detox hoàn chỉnh”. Nó chỉ là bước chuẩn bị cho giai đoạn tiếp theo.


Sau khi bị biến đổi, các phân tử sẽ bước vào giai đoạn hai. Gan gắn chúng với các phân tử khác như: sulfate, glycine, glucuronide,hoặc glutathione. Mình chỉ mới học được Glutathione còn mấy từ kia mới lạ nên để tìm hiểu thêm. Bác nào biết thì cho em hay hoặc có tài liệu. Sulfate thì mình biết vì sử dụng ở vườn giúp trái bơ nở lớn hơn.


Mục tiêu là giảm độc tính, tăng độ tan trong nước, giúp cơ thể dễ đào thải. Sau đó thận sẽ đưa chúng ra ngoài qua nước tiểu, hoặc gan tiết chúng vào mật để thải qua phân.


Đây mới là quá trình “detox” thật sự theo nghĩa sinh học. Không phải phép màu, không phải “flush toxins” như các quảng cáo bú xua la mua mà là hóa sinh học chính xác ở cấp độ phân tử. Chớ không phải ngồi thiền định.


Một trong những phân tử quan trọng nhất trong hệ thống này là: Glutathione thường được gọi là “chất chống oxy hóa chủ lực” của cơ thể. Gan sử dụng nó để trung hòa gốc tự do, giảm stress oxy hóa, hỗ trợ giai đoạn 2 detox, bảo vệ tế bào gan khỏi tổn thương.


Khi cơ thể chịu áp lực kéo dài từ rượu, viêm mạn tính, béo phì, thiếu ngủ, chế độ ăn siêu chế biến, hoặc bệnh gan, mức glutathione có thể giảm. Đó là lý do nhiều nghiên cứu hiện đại quan tâm đến dinh dưỡng hỗ trợ gan, NAC, silymarin, và các cơ chế chống oxy hóa. Điều này không có nghĩa các thực phẩm bổ sung là “thần dược”. Nhưng nó cho thấy sinh học phía sau các khái niệm này không hoàn toàn bịa đặt. Dạo này thay vì xịt thuốc cho chết, mình nhổ bằng tay các cây bồ công anh để lấy rể, phơi khô để uống. Mình đọc là rể của bồ công anh rất tốt giúp lá gan thải độc. Mình có thấy Mistle nhưng đọc tài liệu thì loại trên vườn của mình không tốt lắm. Cho nên đợi hết bồ công anh rồi tính sau. Bác nào muốn hái bồ công anh to đùng thì lên vườn em, tha hồi mà hái.


Gan còn tạo ra một chất vô cùng quan trọng: Bile (mật). Đi bác sĩ thử máu hay thấy vụ này để xem gan làm việc tốt hay không. Mật giúp tiêu hóa chất béo, hấp thu vitamin tan trong dầu, và đào thải một số chất thải khỏi cơ thể. Gan sử dụng cholesterol để tạo acid mật. Cholesterol không hoàn toàn là “kẻ xấu”. Nó là nguyên liệu sinh học thiết yếu. Chúng ta biết là lá gan mỗi ngày tạo 80% cholesterol giúp cơ thể hoạt động nên khi bác sĩ bắt uống thuốc trị cao cholesterol là nhằm cản trở gan tạo ra cholesterol, khiến giảm số lượng cholesterol. Đó là cái bẩy mà chúng ta không hiểu khi thấy lượng cholesterol bình thường nên ỷ y và cứ uống rượu, ăn bú xua la mua vào. Thường chúng ta không hiểu sự hoạt động của gan nên uống bú xua la mua để giảm cholesterol nhưng lại không hiểu sự thật về cholesterol.


Cơ thể cần cholesterol để tạo hormone, xây dựng màng tế bào, tổng hợp vitamin D, và sản xuất mật. Trong khi đó, chúng ta cứ nghe là phải giảm số lượng Cholesterol. Nên nhứo năm 1981, lượng cholesterol được xem là cao từ 300- 361 nhưng vấn đề các công ty dược phẩm không thể bán thuốc nên họ phải giảm hàm lượng xuống 200 như ngày nay để chúng ta hoảng tiều uống thuốc làm giàu cho công ty dược phẩm. Vấn đề không nằm ở bản thân cholesterol, mà ở sự mất cân bằng trong toàn bộ hệ thống chuyển hóa.


Mặc dù gan thật sự xử lý độc chất, ngành bảo gìn sức khoẻ thường phóng đại điều này thành những khái niệm mơ hồ như: “gan bẩn”, “gan tắc nghẽn”, “toxin backlog”, “sluggish liver”, không biết dịch ra tiếng Việt. Phần lớn các thuật ngữ này không phải chẩn đoán y học chính thức mà do các tay tổ quảng cáo hay các lớp học hay bán thuốc bổ sung này nọ. Mình thấy nhiều bác sĩ ngày nay cứ lên YouTube để bán thuốc bổ sung. Họ giải thích đơn giản vấn đề và thề chết sống trên thân thể mụ vợ là uống thuốc bổ sung này bảo đảm 3 tháng sau là hết bệnh, hết cholesterol.


Nếu gan thật sự suy giảm nghiêm trọng chức năng: xét nghiệm máu thường bất thường, men gan tăng, bilirubin thay đổi, hoặc xuất hiện bệnh lý rõ rệt. Điều này không có nghĩa mọi người đang tưởng tượng ra triệu chứng của mình như mệt mỏi, đầy bụng, sương mù não, ngủ kém đều là trải nghiệm thật. Nhưng việc gắn tất cả vào một “lá gan tắc độc tố” thường là sự đơn giản hóa quá mức của một hệ thống sinh học phức tạp.


Nhiều người thật sự cảm thấy khỏe hơn khi: uống milk thistle, ăn kiểu Mediterranean, bỏ rượu, hoặc theo các chương trình “liver support”. Có nhiều lý do hợp lý cho điều này. Thứ nhất, họ thường giảm thực phẩm siêu chế biến, ngủ tốt hơn, uống ít rượu, giảm cân, tập thể dục nhiều hơn. Tất cả những điều đó đều cải thiện chức năng chuyển hóa và giảm áp lực lên gan. Mình thấy mấy anh bạn nghe quảng cáo uống rượu giảm cholesterol này nọ nên ngày nào cũng khui một chai uống. Nay thì sợ rượu, bác sĩ cấm uống rượu. Vấn đề là khi chúng ta nghe quảng cáo nhất là hợp với tư duy của mình: thích uống rượu.


Sự thật thì trong hạt nho có chất revesratrol, giúp cơ thể kháng oxy nên trong rượu khi họ nghiền nát hạt nho thì có chất này. Vấn đè là phải bao nhiêu chai rượu đỏ mới có đủ chất này trong khi đó độ cồn sẽ hại gan. Nếu muốn revesratrol thì họ có bán chất bổ sung rẻ nhe bèo nhưng chất bổ sung phải ăn uống cộng trừ các thứ khác mới hiệu nghiệm còn không thì chỉ tốn tiền nhưng tật vẫn còn.


Thứ hai, một số hợp chất thật sự có hoạt tính sinh học như: Milk thistle, có nghiên cứu cho thấy: khả năng chống oxy hóa, bảo vệ tế bào gan, và hỗ trợ một số bệnh gan nhẹ. Tuy nhiên, bằng chứng hiện nay vẫn chưa đủ mạnh để xem nó như “phương pháp chữa gan toàn diện”. Dạo này mình nhổ rể cây của Bồ Công Anh mọc hoang trong vườn mình, phơi khô để uống như trà. Nghe nói rang một chút như cà phê.


Khoa học hiện đại khá nhất quán về điều này. Những thứ giúp gan mạnh nhất không phải các “detox cleanse” đắt tiền, mà là: hạn chế rượu, kiểm soát cân nặng, ngủ đủ, tập thể dục, ăn nhiều chất xơ, kiểm soát tiểu đường, và tránh viêm mạn tính kéo dài.


uống cà phê mức vừa phải lại liên quan đến nguy cơ thấp hơn của nhiều bệnh gan mạn tính. Điều này nghe ít “huyền bí” hơn rất nhiều so với quảng cáo nhưng lại có bằng chứng khoa học mạnh hơn đáng kể. Vấn đề là ngày nay, người trồng cà phê xịt thuốc sâu khá nhiều nhưng gần đây mình đọc một tài liệu về cà phê thì không đúng như các tên quảng cáo bán cà phê nói. Hôm nào rảnh mình kể vụ này. Đồng chí gái kêu uống cà phê để giúp trí nhớ này nọ, mình kêu đừng nghe họ. Bựa.


Điều kỳ diệu thật sự của gan không nằm ở các chương trình detox. Nó nằm ở khả năng phục hồi. Liver regeneration là một trong những hiện tượng đáng kinh ngạc nhất của sinh học con người. Gan có thể tái tạo mô sau tổn thương tốt hơn gần như mọi cơ quan khác trong cơ thể. Đó là lý do khi chúng ta giảm rượu, giảm cân, cải thiện giấc ngủ, và thay đổi lối sống thì có thể cải thiện xét nghiệm gan chỉ trong vài tháng. Cơ thể con người không hoàn hảo. Nhưng nó có khả năng sửa chữa phi thường nếu được giảm bớt áp lực liên tục từ môi trường hiện đại.


Gan không phải một “bộ lọc thần bí” bị nghẽn bởi “độc tố vô hình”. Nó là một cơ quan sinh học cực kỳ tinh vi, vận hành bằng hóa học, enzyme và năng lượng. Ngành chăm sóc sức khỏe thường đúng ở điểm: gan thật sự quan trọng nhưng họ thường sai ở chỗ; biến một hệ thống sinh học phức tạp thành một câu chuyện đơn giản để bán giải pháp đơn giản. Sự thật khoa học thường ít kịch tính hơn quảng cáo. Không có phép thanh tẩy thần kỳ, không có một loại viên bổ sung hay thuốc duy nhất giải quyết mọi vấn đề. Nhưng cũng không có nghĩa cơ thể bất lực. 


Gan của con người là một trong những cơ quan cực kỳ nhất từng xuất hiện trong tự nhiên, điều tốt nhất chúng ta có thể làm cho nó không phải là “detox” mà là ngừng bắt nó phải chịu quá nhiều thứ cùng một lúc như làm việc quá tải nhất là khi chúng ta về già như uống rượu, ăn nhiều. Hôm nào mình kể rõ thêm vụ gan. Đừng có xem quảng cáo hay bạn bè nói này nói nọ rồi bỏ tiền ra đi học detox thanh lọc gan này nọ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn