Mình nhận được email của chú Phấn, rể ông bà Võ Quang Hàm, tiệm thuốc tây Minh Tâm, đường Duy Tân cũ; một bài viết về Đàlạt. Chú phấn và thiếm Minh, khi xưa gia nhập Việt mInh tại Đà Lạt, bị bắt cùng ngày với mẹ mình. Nếu gửi qua Facebook thì có người đọc được, người thì không. Thêm được tải trên Scribd phải trả tiền hàng tháng nên mình đành tải về www.Muctimsonden.com cho các bác đọc vô tư.
Mình tìm được nhiều bài rất giá trị lịch sử nên từ từ mình sẽ chép lại, thêm ghi chú của mình rồi tải lên mạng lại. Mất thì giờ nhưng đành chịu. Ngoại trừ có ai chịu giúp mình làm việc này. Mình thích đọc và ghi lại hơn là biên tập, publishing (không rành). Vấn đề là nay thiên hạ đọc qua điện thoại cầm tay nên các bài trên mạng thuộc dạng xưa khiến khó đọc qua điện thoại. Nên cần chỉnh lại để đọc giả dễ đọc hơn. Chán Mớ Đời
Lý do là mình nhận được tin nhắn của nhiều người gốc Đàlạt, trẻ hơn mình, họ đang tìm về lịch sử của Đàlạt nhưng tài liệu của Hà Nội thì Chán Mớ Đời. Có người hỏi về ông ngoại của họ, hay bố mẹ khi xưa vì tình cờ đọc những chuyện kể của mình,… có nhiều người, con cháu của những người khi xưa mình biết nên bao nhiêu ký ức một thời ở Đà Lạt, từ đâu như mây đen kéo về, nên đành viết xả ký ức cho khỏe đời cô lựu.
“Con thấy chú có rất nhiều ký ức về Đà Lạt, nên có những việc con muốn hỏi chú! Mẹ , chị con cũng biết, nhưng kg sâu sắc được như chú!
Chú có biết hồ Tuyền Lâm, trước năm 75 là hồ Suối Tía không ạ?
Dạ đúng rồi chú! Nhưng cs đã xoá tên nó, viết lên Ưikipedia là họ đã xây dựng hồ tuyền Lâm vào sau năm 1980.
Ngày xưa nhà cháu cũng làm rẫy ở Suối Tía…..”
Mình cố gắng ghi lại những gì đọc và nghe kể, ai thấy sai thì cứ cho mình biết để sửa chửa lại trên con đường tìm lại sự thật của Đàlạt khi xưa.
Có bài này được đăng trên mạng của một kiến trúc sư, tên Trần Công Hoà. Mỗi lần về Đà Lạt, muốn đi tìm anh này nhưng rồi lại quên. Mình gom lại nhiều bài, ghi chú của các tác giả khác nhau, nói về một bài thơ, khẩn nguyện cầu của rừng, do một nhà kiểm lâm người đức đã làm và được dịch ra khắp thế giới để nhắc nhở con người không nên phá rừng. Ngày nay, chúng ta chứng kiến nạn phá rừng tại Đàlạt cũng như toàn lãnh thổ Việt Nam, đã gây ra bao nhiêu “nhân tai”. Đưa đến lũ lụt, gần đây xem tin tức bên tàu, người ta nói cái đập lớn nhất thế giới, có khả năng bị banh-ta-lông. Lý do người ta quên là khi chận nước bằng cái đập thì luồng nước ngầm ở dưới rất mạnh. Người Đà Lạt đã chứng kiến tháng 5 năm 1932, luồng nước suối Cam Ly đã phá vỡ khu vực người Việt sinh sống tại Hồ Nhỏ (Petit lac) khiến 15 người chết.
Ai muốn giúp mình vụ này thì xin cho biết vì sẽ giúp mình có thời gian đọc mấy tài liệu nhiều hơn. Mình tìm ra được nhiều tài liệu lịch sử về Đàlạt bằng pháp ngữ. Mình biết tiếng pháp nên có thể dịch hay tóm lược lại các tài liệu này. Xin cảm ơn trước. Bài đầu tiên là lời khẩn cầu của rừng. Hy vọng người Việt ở Việt Nam sẽ có lương tâm để đừng phá rừng nữa. (tải trên mạng, chưa xin phép. Để kiếm email của họ).
Lời khẩn cầu của rừng - La prière de la forêt
Đà Lạt xưa không chỉ nổi tiếng với thác Cam Ly, rừng Tình Ái, hồ Than Thở, thác Prenn, hồ Xuân Hương, vòng Săn bắn, mộ ông bà quận công Nguyễn Hữu Hào, các trại ấp trồng rau nên thơ; xa hơn là thác Gougah, Suối Vàng... mà còn được ghi nhận như là nơi cư dân có sự quan tâm tốt đến vấn đề bảo vệ môi trường.
Xin cung cấp một tư liệu là một bức ảnh (+) do một cư dân Đà Lạt đương thời (năm 1942) ghi lại về một tấm bảng gỗ cao độ 1,2 m rộng 0,8 m đặt tại một gốc thông lớn ngay đầu con đường dẫn lên mộ ông bà Nguyễn Hữu Hào (thân phụ và thân mẫu của Nam Phương hoàng hậu, vợ cựu hoàng Bảo Đại). Tấm bảng gỗ trong bức ảnh này (xem ảnh) gồm hai mảnh; mỗi mảnh do hai, ba miếng gỗ thông ghép lại. Trên đó ghi một bài thơ (?) bằng tiếng Pháp mang nội dung rất thú vị về vấn đề bảo vệ môi trường.
Xin ghi lại như là một phản hồi ủng hộ bài Đà Lạt nóng báo TS ngày 6-3-2007.
(+) Bức ảnh do ông Lương Hòe chụp. Trước năm 1943, ông Hòe là cư dân Đà Lạt; hiện ông ở tại xã Tam An, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam.
Việt Báo (Theo_TuoiTre)
http://vietbao.vn/Xa-hoi/Loi-khan-cau-cua-rung/40190560/157/
"Arbre, quel est ton nom?"
"Je suis la chaleur de ton foyer, par les froides nuits d'hiver,
Je suis l'ombrage ami, lorsque brûle le soleil d'été.
Je suis la charpente de ta maison, la planche de ta table.
Je suis le lit dans lequel tu dors et le bois dont tu fais tes navires.
Je suis le manche de ta houe et la porte de ton enclos.
Je suis le bois de ton berceau et de ton cercueil.
(Phần được ghi trên tấm ảnh)
Je suis l'arbre à pain, l'ombrage de ta justice.
Je suis le calme et la détente lorsque tu es stressé.
Je suis l'ami, le paysage, le compagnon de vie.
Je suis l'attache de ton sol, la source de ton air.
Je suis, tu es, nous sommes, création du vivant.
Ecoute ma prière. Respecte-moi. Aime-moi."
adaptation d'un ancien texte yougoslave, La prière de la forêt.
http://le-blog-du-bucheron.over-blog.com/article-la-priere-de-la-foret-69352879.html
La Prière de la Forêt
Je viens de lire dans les numéros 320 et 322 de la revue Xua và Nay (Hier et aujourd'hui) - une revue sur l'histoire - deux articles sur la ville de Dalat (sud Vietnam). On y a publié la photo d'un panneau montrant le poème "Prière de la Forêt". Le panneau devait exister dans les années 1930. Vu les ravages du temps et des évènements, il n'existe plus depuis longtemps, mais un ancien habitant de Dalat, M. Luong Hoe (encore vivant, 95 ans) en a copié le texte dans son carnet. Le texte a été reproduit dans la revue. Nul ne connait ni le nom de l'auteur, ni son origine.
Par intérêt à la culture francaise, j'ai essayé de chercher par le moteur de recherche Google et je suis tombé sur 2 sites reproduisant ce poème. Je suis très heureux de lire le texte en clair et avoir la confirmation de son existence.
Les deux administrateurs des sites auxquels je me suis adressé, m’ont répondu qu’il s’agit d’un poème soit recopié d’une revue sans mention de l’auteur, soit transmis oralement par un vieux bûcheron voilà une vingtaine d'années. Une seule indication, c’est qu’il figure sur la porte d’entrée du pavillon yougoslave, à l’exposition universelle de 1937 à Paris.
Il est intéressant de noter que le souci de la protection de l’environnement date depuis plus de 70 ans.
J’ai le plaisir de vous présenter la photo du panneau représentant le poème et sa transcription faite par l’ancien habitant de Dalat (identique au texte figurant sur le site internet)
LA PRIÈRE DE LA FORÊT
Homme !
Je suis la chaleur de ton foyer
par les froides nuits d’hiver,
l’ombrage ami
lorsque brûle le soleil d’été.
Je suis la charpente de ta maison,
le plancher de la table.
Je suis le lit dans lequel tu dors
et le bois dont tu fais les navires.
Je suis le manche de la houe
et la porte de ton enclos.
Je suis le bois de ton berceau
et de ton cercueil.
Ecoute ma prière,
Ne me détruis pas !
TẢN MẠN VỀ BÀI THƠ “LỜI NGUYỆN CỦA RỪNG”
Trần Đăng Hồng
Khi còn là sinh viên tôi đã thích bài thơ “La prière de la forêt” – “Lời nguyện của rừng”, mặc dầu tôi chỉ là sinh viên canh nông. Ở Miền Nam vào thập niên 50 và 60, bất cứ sinh viên hay chuyên viên thủy lâm nào cũng thuộc bài này.
Homme !
Je suis la chaleur de ton foyer
par les froides nuits d’hiver,
l’ombrage ami
lorsque brûle le soleil d’été.
Je suis la charpente de ta maison,
le plancher de la table.
Je suis le lit dans lequel tu dors
et le bois dont tu fais les navires.
Je suis le manche de la houe
et la porte de ton enclos.
Je suis le bois de ton berceau
et de ton cercueil.
Ecoute ma prière,
Ne me détruis pas !
Tại Pháp, bài này xuất hiện đầu tiên trên một bích chương của Nam Tư (Yougoslavia) trong một triển lảm quốc tế tại Paris năm 1937. Tuy nhiên, theo các nhân chứng của giới chuyên viên Thủy Lâm Việt Nam, thì bài thơ này đã xuất hiện tại Việt Nam vào những năm đầu của thập niên1930. Bài thơ này được ghi trên bảng gỗ và được trưng bày ở hai nơi, một ở cổng chính Nha Thủy Lâm Miền Nam ở đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu), và Sở Thủy Lâm Đà Lạt có dựng một tấm bảng gỗ to ghi bài thơ này ở Cam Ly, trên đường vào Trung Tâm Thực Nghiệm Lâm Học Manline, cạnh phần mộ của ông Nguyễn Hữu Hào, tức thân phụ của Hoàng Hậu Nam Phương, Ba vợ của Vua Bảo Đại. Cụ Lương Hòe ở Đà Lạt, nay đã 98 tuổi, còn giữ bức ảnh của bảng gỗ này:
Bảng gỗ ghi bài thơ tại Đà Lạt
Sau khi xuất hiện ở Pháp năm 1937, bài này được dịch sang tiếng Anh:
THE PRAYER OF THE FOREST
Man, I am the warmth of your home in the cold winter night, and the protective shade when summer’s sun is strong.
I am the framework of the roof to your house and the top of your table, the bed in which you sleep and the timber with which you fashion your boat.
I am the handle to your hoe and the door to your hut.
I am the wood of your cradle and the boards of your coffin.
I am the bread of your kindness and the flower of beauty.
Hear my prayer: “Destroy me not”!
Trong chuyến thăm quan Ấn Độ năm 1960, Gs Lê Văn Ký, trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Blao và trường Cao Đẳng Nông Lâm Súc Sài Gòn, cũng thấy bài thơ này trưng bày tại nhà ăn sinh viên thuộc Trung tâm nghiên cứu và giáo dục lâm nghiệp Dehra Dun (Forest Research Institute and College).
Đà Lạt ngày nayĐường nguyễn công trứ
Vậy ai là tác giả của bài thơ nỗi tiếng này. Trong chuyến tham quan các Trung tâm nghiên cứu và Trường đại học lâm nghiệp ở Liên bang Đức năm 1962, tại Trường Đại học Freiburg, GS Lê Văn Ký đọc trong một tờ báo Lâm nghiệp cũ tại thư viện một bài thơ tựa đề “Das Gebet des Waldes” (Lời cầu nguyện của rừng) mà tác giả là Hannes Tuch.
O Mensch,
Ich bin deiner Wande Warme,
Wenn der Winter wind Weht
Bin schirmender Schatten, Wenn die Sommer Sonn Sengt!
Ich bin der huntende Helm deines Hauses,
Die Tafel des Tisches!
Ich bin das Bett, das dich Birgt,
Bin das Holz deiner Segelnden Schiffe!
Ich bin der Wachter des Wassers,
Der Hirte der Hindin,
Bin der Stab, der dich Stutzt,
Und der Wehrer des Windes!
Ich bin der Arm deiner Axt,
Das Tor und die Tur deines Hauses.
Ich bin die Wand deiner Wiege und das Brett deiner, Bahre.
Bin raunende Rune,
Und das Klingende Klangholz der Klampfr,
Ich bin das Brot und die Gute!
Erhor meine bitte:
Zerstore mich nicht!
Hannes Tuch là một cán sự lâm nghiệp, sinh ngày 2.11.1906, sống ở Kreis Warburg, Westphalie, Tây Đức. Ông còn là thi sỉ và nhà sưu tầm đồ cổ và sản xuất các loại mặt nạ, v.v. GS Ký có liên lạc với Hannes Tuch và được xác định ông là tác giả của bài thơ nỗi tiếng quốc tế này.
Như vậy từ bài gốc tiếng Đức này, bài thơ được dịch ra làm nhiều ngôn ngữ, mà đọc giả chính là giới sinh viên và chuyên viên Thủy Lâm trên khắp thế giới với tôn chỉ chính là bảo vệ rừng.
Tại Việt Nam, bài thơ tiếng Pháp này được phỗ biến trong giới chuyên viên Thủy Lâm, nói lên tôn chỉ nghề nghiệp là bảo vệ rừng. Bài này cũng được nhiều người dịch ra tiếng Việt, nhưng nỗi tiếng nhất là của B.B, tức Kỹ sư Thủy Lâm Bùi Bá, khoảng năm 1952. Ông sinh năm 1918 và mất vào năm 1991, tốt nghiệp Trường Cao đẳng Nông Lâm Brévié Hà Nội năm 1940, cùng thời với GS Lê Văn Ký. Kỹ sư Bùi Bá theo kháng chiến chống Pháp, sau 1954 ở lại Miền Bắc, đã giữ chức Vụ trưởng Vụ Lâm nghiệp thuộc Bộ Lâm nghiệp và sau đó là chuyên viên cao cấp tại Bộ ở Miền Bắc. Bài dịch của Kỹ sư Bùi Bá như sau:
Người có biết những đêm đông giá lạnh, ta bốc hơi ấm lửa hun nồng
Người có biết, những ngày nắng gắt, ta cho tàng mát rượi ánh thiều nung,
Người có biết, dưới sườn nhà đồ sộ, ta cho người dầu dải nắng mưa chan;
Người có biết, trên nếp giường êm ấm, người nương ta an giấc điệp mơ màng
Người có biết, kìa con thuyền vượt sóng, ta đưa người du ngoạn khắp năm châu,
Người có biết, nọ chuôi cày xới đất, ta vun cây cho nẩy nở hoa màu
Chính ta đã rước người vào cuộc thế, trong chiếc nôi âu yếm mẹ đưa ru
Rồi ta sẽ tiển người khi vĩnh biệt, làm áo quan ấm áp giấc nghìn thu
Người hởi người, nghe lời ta cầu nguyện,
Chớ hại ta mà vủ trụ u sầu.
Để ta sống, ta điều hoà mưa nắng, hoa xinh tươi cây cối nẩy thêm tươi,
Để ta sống, ta ngăn luờng vủ bảo; chận cát bay làn gió bốc tung trời
Để ta sống, ta đùn mây quyện gió, gieo mưa tuôn đầm ấm cỏi trần gian
Để ta sống, ta cản dòng nước lủ, cứu nhân dân cơn thuỷ nộ lầm than
Ta là Mẹ của muôn nền hưng thịnh, làng hưng phong xây dựng nước hưng phong
Ta tô điểm non song nên gấm vóc, cây xanh cao lá biếc lớp trùng trùng
Vì sống ở Miền Bắc, Kỹ sư Bùi Bá không dám để tên thật, mà chỉ để với bút hiệu B.B, chỉ có thân hữu lâm nghiệp thân thiết mới biết tác giả là Bùi Bá. Bài này bị vào quên lãng ở Miền Bắc, ngay cả chuyên viên Thủy Lâm cũng không ai nhớ đến. Mãi đến 1957, sau khi Trường Quốc Gia Nông Lâm Mục Bảo Lộc ở Miền Nam được thành lập (1955), Kỹ sư Thủy Lâm lão thành Nguyễn Hữu Đính ở Huế gửi tặng trường bảng Danh từ Lâm Học Pháp Việt, cùng với bài thơ “Lời cầu nguyện của rừng” của Kỹ sư Bùi Bá. Hai tài liệu này được KS Đính mang từ Bắc về, sau khi đi dự một hội nghị về lâm nghiệp ở miền Bắc trước khi đất nước chia đôi 1954. Kễ từ đó, bài thơ “Lời cầu nguyện của rừng” của Bùi Bá được phổ biến rộng rãi trong giới sinh viên và chuyên viên Lâm Nghiệp ở Miền Nam.
Mãi tới 1982, KS Bùi Bá ghi thêm 2 câu thơ dịch từ 2 câu thơ đầu của bài thơ nỗi tiếng “La Forêt” của Claude Adhémar André Theuriet (8 October 1833 - 23 April 1907);
La forêt
Au plus profond des bois,la Patrie a son coeur;
Un peuple sans forêt est un peuple qui meurt,
C'est pourquoi tous, ici, lorsqu'un arbre succombe,
Jurons d'en replanter un autre sur sa tombe…
Thành:
Người hởi!
Hồn Tổ Quốc ngự giữa sâu thẩm
Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong
André Theuriet còn có bài thơ bất hủ “Không có quá khứ thì chẳng có tương lai” (Sans passé il n’y a rừngpas d’avenir).
Năm 1996, nhân khi thấy tình trạng phá rừng quá trầm trọng ở Việt Nam, nhà văn Võ Hồng dịch bài “La prière de la forêt” mà Ông đã thấy năm 1945 trên bảng gỗ tại Cam Ly Đà Lạt để kêu gọi và nhắn nhủ thanh niên Việt Nam hãy ý thức bảo vệ rừng (Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 21/7/1996). Tiếng gọi của ông bay vào hư vô.
Ở Pháp có câu nói: “Rừng có trước con người, sa mạc đi theo sau con người” (Les forêts précèdent les peuples, les déserts les suivent”. Thật là chí lí! Con người chính là nguồn hủy diệt rừng và sa mạc hóa đất đai.
Tôi thuộc loại “hâm mộ” bài thơ dịch của KS Bùi Bá, mặc dầu tôi là dân Canh Nông, và tôi đắc ý nhất về 2 câu thơ cuối cùng này “Hồn Tổ Quốc ngự giữa rừng sâu thẩm, Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong ». Có lẽ KS Bùi Bá đã thấy hay đã tiên đoán trước sự việc nên mới thêm 2 câu này sau 30 năm (1952 – 1982). Chắc chắn ông có chủ ý.
Đã đành rằng “con người” hủy diệt rừng. Nhưng ai là “con người” phá hủy rừng nhiều nhất. Thật đáng thương cho các dân tộc thiểu số sống trong rừng, họ không có tiếng nói, họ bị xua đuổi để sống trong chốn đèo heo gió hút, để nhường lại mảnh đất phì nhiêu nơi đồng bằng cho “con người” mạnh hơn họ, để nay lại phải mang tiếng là kẻ phá hoại rừng với kỹ thuật “đốt rừng làm nương rẫy” trong đời sống du canh của họ. Nhưng, so với các kỹ thuật canh tác khác, đây là một kỹ thuật rất “bạn” (friendly) với thiên nhiên, vì chỉ 2-3 vụ canh tác, họ dời đi nơi khác và đất rẫy được thành rừng trở lại.
Các tường trình mới đây cho biết chính các nhà đại tư bản, bản xứ hay nước ngoài, thỏa hiệp với cơ cấu chánh quyền địa phương hay trung ương, khai phá tài nguyên dưới rừng mới thật sự là nguồn phá hủy rừng. Như ở Phi Châu, Angola chẳng hạn, Trung quốc đã làm chủ hầu hết các cánh rừng bạt ngàn, ủi đào, tàn phá môi trường để khai thác quặng mỏ. Tại rừng Amazon Nam Mỹ các công ty dầu lửa, mỏ vàng, uranium, v.v. xô đuổi dân tộc thiểu số vốn quen sống trong rừng, để khai thác tài nguyên tiềm tàng dưới rừng. Tại Indonesia, các nhà đại tư bản phá rừng để trồng cây “dừa dầu” (oil palm) để sản xuất xăng sinh học. Các chính phủ này cũng nhân danh phát triển kinh tế, nhân danh gia tăng lợi tức GDP cho quốc gia và dân chúng, nhưng thật sự chỉ có một thiểu số hưởng lợi. Đại đa số dân chúng chỉ hưởng hậu quả của phá hủy môi trường thiên nhiên và vẫn nghèo đói. Sự cách biệt giàu nghèo trong xã hội ở những quốc gia này càng ngày càng cách biệt.
Tài liệu tham khảo:
1. Nguyen Xuan Thu (2009) – La prière de la forêt. http://www.ipernity.com/blog/xuanautuno32/120851
2. GS Lê Văn Ký & KS Huỳnh Minh Bảo (1998). Về bài thơ Lời cầu nguyện của rừng. http://onthay.tumblr.com/post/190695955/ve-bai-tho-loi-cau-nguyen-cua-rung
3. Võ Hồng (1996). Lời cầu nguyện của rừng.Tuổi Trẻ Chủ Nhật, 21/7/1996
Các bài cùng chủ đề của tác giả:
1. Rừng và tài nguyên VN.http://www.trandang.net/Default.aspx?g=posts&t=291
2. Flora and fauna of Vietnam:
http://www.trandang.net/Default.aspx?g=posts&t=296
3. Tản mạn cùng thầy cô:
http://www.trandang.net/Default.aspx?g=posts&t=82
Reading, 9/2010
Trần Đăng Hồng
LỜI CẦU NGUYỆN CỦA RỪNG…
(La Prière de la Forêt)
"Hồn Tổ Quốc ngự giữa rừng sâu thẳm
Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong"
Khoảng năm 1940, tại Đà Lạt xuất hiện bài thơ này và được ghi trên bảng gỗ, được trưng bày ở hai nơi, một ở cổng chính Nha Thủy Lâm, miền Nam, đường Richaud (nay là đường Nguyễn Đình Chiểu), một ở Sở Thủy Lâm, Đà Lạt, trên đường vào Trung Tâm Thực Nghiệm Lâm Học Manline, cạnh phần mộ của ông Nguyễn Hữu Hào, tức thân phụ của Hoàng Hậu Nam Phương, Ba vợ của Vua Bảo Đại. Hiện nay, cụ Lương Hòe ở Đà Lạt (98 tuổi) vẫn còn giữ bức ảnh bảng gỗ này. Nội dung bài thơ cho thấy Đà Lạt từ thập niên 1940 đã có ý thức bảo vệ rừng, dù lúc đó rừng đang đậm nét hoang dã, mênh mông đồi cỏ, rừng thông....
Dưới đây là bài thơ của Hannes Tuch, kỹ sư lâm nghiệp, sinh ngày 2.11.1906, sống ở Kreis Warburg, Westphalie, Tây Đức. Bài thơ nhanh chóng được dịch qua tiếng Pháp, tiếng Anh và được nhiều trường Nông nghiệp trên thế giới xem là tôn chỉ.
Tại Việt Nam có nhiều bản dịch, nhưng bản dịch của KS Bùi Bá được nhiều người trong giới Nông học thích nhất. Sau đây là bản tiếng Pháp khắc tại Đà Lạt và bản dịch của Bùi Bá:
"La Prière de la Forêt
Homme je suis la chaleur de ton foyer
Par les froides nuits d’hiver.
L’ombrage ami lorsque que brûle le soleil.
Je suis la charpente de ta maison,
La planche de ta table.
Je suis le lit dans lequel tu dors,
Et le bois dont tu fais tes navires.
Je suis le manche de ta houe
Et la porte de ton enclos.
Je suis le bois de ton berceau et ton cercueil,
Je suis le pain de la Bonté
La fleur de la Beauté.
Ecoute ma Prière !
Ne me détruis pas."
"Người có biết những đêm đông giá lạnh, ta bốc hơi ấm lửa hun nồng
Người có biết, những ngày nắng gắt, ta che tán mát rượi ánh chiều nung,
Người có biết, dưới sườn nhà đồ sộ, ta che người dầu dãi nắng mưa chan;
Người có biết, trên nếp giường êm ấm, người nương ta an giấc điệp mơ màng
Người có biết, kìa con thuyền vượt sóng, ta đưa người du ngoạn khắp năm châu,
Người có biết, này chuôi cày xới đất, ta vun cây cho nẩy nở hoa màu
Chính ta đã rước người vào cuộc sống, trong chiếc nôi âu yếm mẹ đưa ru
Rồi ta sẽ tiễn người khi vĩnh biệt, làm áo quan ấm áp giấc nghìn thu
Người hỡi người, nghe lời ta cầu nguyện,
Chớ hại ta mà vũ trụ u sầu.
Để ta sống, ta điều hoà mưa nắng, hoa xinh tươi cây cối nẩy thêm tươi,
Để ta sống, ta ngăn luờng vũ bão; chặn cát bay làn gió bốc tung trời
Để ta sống, ta đùn mây quyện gió, gieo mưa tuôn đầm ấm cõi trần gian
Để ta sống, ta cản dòng nước lũ, cứu nhân dân cơn thuỷ nộ lầm than
Ta là Mẹ của muôn nền hưng thịnh, làng hưng phong xây dựng nước hưng phong
Ta tô điểm non sông nên gấm vóc, cây xanh cao lá biếc lớp trùng trùng."
***
(P/S: 1982, KS Bùi Bá ghi thêm 2 câu thơ dịch từ 2 câu thơ đầu của bài thơ nỗi tiếng “La Forêt” của Claude Adhémar André Theuriet (8 October 1833 - 23 April 1907:
"Người hỡi!
Hồn Tổ Quốc ngự giữa rừng sâu thẳm
Rừng điêu tàn là Tổ Quốc suy vong"
Dalat ngày xưa, trên đường vào thác Cam Ly, ngay đầu đường dẫn lên mộ ông bà Nguyễn Hữu Hào (thân phụ và thân mẫu của Nam Phương hoàng hậu, vợ cựu hoàng Bảo Đại) có một tấm bảng gỗ được viết bài thơ với tựa đề Prière de la forêt.
Nhà thơ Việt Trang đã chuyển ngữ tiếng Việt như sau:
LỜI NGUYỆN CỦA RỪNG
Như lời nguyện của Rừng
Như tiếng thầm của Núi
Thế nhân ơi ! Cuộc đời tôi thân thiết với Người
Tôi sưởi ấm người qua đêm đông dài lạnh giá
Tôi che người bóng mát dưới nắng hạ oi nồng
Nhen ngọn lửa hồng Người chia chung từng bữa cơm bữa cháo
Nối tình thương đồng loại từng tháng từng năm những sớm thu phong
Người nghe rừng hoang vu lá đổ
Những chiều hạ vũ Người lắng khúc nhạc mưa nguồn
Nghìn chân tôi ngăn dòng thác lũ
Nghìn tay tôi níu giữ cuồng phong
Để dưới trần gian cuộc sống yên lành
Khi người còn thơ tôi thành chiếc nôi hiền nhỏ
Điệu hát ru em đêm đềm vời vợi u buồn
Khi người lớn lên đi xong một vòng thế hệ
Rất âm thầm tôi sẽ là tình mẹ ôm con
Tiếng kinh cầu tiễn đưa một linh hồn nhân thế
Giữa quan tài người hoá thể lai sinh
Như lời nguyện của Rừng
Như tiếng thầm của Núi
Từ thiên nhiên tha thiết chân thành
Thế nhân ơi! thân tôi xin ngừng phá hoại
Rừng điêu tàn nhân loại thiếu màu xanh.
VIỆT TRANG

















