Cuộc Cách Mạng hàng không Pan Am

 


 Cuộc Cách Mạng Boeing 747


Nhớ dạo về Sàigòn làm giấy tờ đi Tây, đi ngoài đường thấy các công ty hành không như Pan Am, Air France thấy phê, cứ tưởng tượng một ngày nào đó được ngồi trên chiếc phi cơ của mấy công ty này chắc sướng như đi Tây. Rồi cuối cùng mình được đi máy bay Air France qua Tây. Cái vé này cũng khẩm bạc cho bà cụ mình nhưng được đi tây là chả nghĩ gì thêm. Nhớ hôm được sổ thông hành ở bộ Nội Vụ, sau đó chạy lại toà lãnh sự Pháp để được cái chiếu khán xong thì mình có bò lại công ty Air france để hỏi giá đi tây. Bước vào thấy máy điều hoà không khí, mát rượi, thấy sang và hạnh phúc quá đổi. Nông dân thị xã Đà Lạt về thủ đô là phải biết.

Chiếc máy bay Boeing 747 đầu  tiên

Trong chuyến bay từ Luân Đôn qua New York, lần đầu tiên mình được đi máy bay Boeing 747, to nhất các loại máy bay thời đó. Thấy sướng như đi Mỹ nhưng sau này không thấy loại máy bay này nữa trong khi đó Airbus của âu châu lại làm chiếc máy bay to đùng A380 mà mình có dịp đi Hán Thành. Lần cuối được đi A380 là khi bay sang Dubai. Buồn đời mình tìm tài liệu đọc về Boeing 747, lý do ngày nay không bay nữa.


Vào giữa thập niên 1960, vận tải hàng không quốc tế vẫn là một lãnh vực xa xỉ cho người dân bình thường. Nông dân như mình khi xưa, nói đi Tây như chuyện lên trời. Năm 2025, ứng dụng TripIt cho biết mình bay năm nay 79,896 dặm xem như 3.2 lần vòng quanh trái đất, viếng 13 quốc gia và 48 thành phố. Các chuyến bay xuyên đại dương chủ yếu phục vụ giới thượng lưu, chính khách và doanh nhân. Giá vé cao, năng lực vận chuyển hạn chế và chi phí vận hành lớn khiến việc bay quốc tế vượt xa khả năng tài chính của đa số dân chúng. Xem phim xi-nê thấy họ đẩy xe với gà nướng đủ trò thấy sang quá cở thợ mộc. Hình như khi tổng thống Bill Clinton và bộ trưởng Robert Reich được học bổng Rhodes đi học bên Anh quốc, họ phải đi bằng tàu thuỷ.

Người sáng lập ra công ty Pan Am, Juan Trippe

Năm 1965, một vé bay xuyên Đại Tây Dương có giá tương đương nhiều tháng lương của một công nhân bình thường. Du lịch quốc tế khi ấy không phải là nhu cầu đại chúng, mà là đặc quyền của thiểu số cực giàu, lắm tiền.


Trong hoàn cảnh đó, ông Juan Trippe, Tổng giám đốc Pan American World Airways (thường được đọc vắn tắc Pan Am), hãng hàng không quốc tế hàng đầu thế giới dạo ấy (sau này bị phá sản) đã đưa ra một tầm nhìn mang tính cách mạng vào thời ấy. Sau này khi mình ở Âu Châu thì công ty hàng không Virgin của Anh quốc nổi tiếng vì vé máy bay sang New York rất rẻ khiến đám đông trẻ lên đường sang New York chơi cuối tuần rồi bay về. Có quen một tên tây, hắn làm việc ở New York, lâu lâu hắn bay về thăm cô bồ, nhìn hắn mình quá ngưỡng mộ khi đi nhảy đầm nghe hắn nói chuyện bên mỹ. Mình cứ nhìn hắn mà nuốt nước miếng trong đầu lại kêu u chau u chau. Trong khi cô bồ hắn mặt vênh lên trên trời khi được mấy cô bạn ngưỡng mộ nhưng rồi hai người này cũng chả lấy nhau.


Ông Juan Trippe không chỉ là một nhà quản lý hàng không giỏi, mà còn là một nhà chiến lược có tầm nhìn toàn cầu. Ông tin rằng hàng không không nên chỉ phục vụ giới giàu có, mà phải trở thành phương tiện kết nối toàn nhân loại, đại chúng hoá việc du lịch bằng phi cơ. Mục tiêu của Trippe rất rõ ràng: giảm giá vé bằng cách gia tăng sức chở hành khách, từ đó đưa chi phí bay quốc tế về mức mà tầng lớp trung lưu có thể trả để được đi du lịch xa. Mình có kể vụ Duty Free, ai buồn đời thì tìm lấy đọc để hiểu lịch sử hàng không.


Để đạt được điều này, ông đưa ra một yêu cầu chưa từng có tiền lệ trong lịch sử hàng không dân dụng. Trong một cuộc họp với các lãnh đạo Boeing, ông Trippe yêu cầu hãng chế tạo một máy bay có thể chở 400 hành khách vượt đại dương, gần ba lần năng lực của Boeing 707, chiếc máy bay thương mại lớn nhất lúc bấy giờ.

Đề xuất này khiến các giám đốc Boeing suýt bị sặc cơm trong miệng, như bò đội nón, bị coi là liều lĩnh, thậm chí điên rồ. Những thách thức kỹ thuật và rủi ro tài chính là vô cùng lớn. Một thất bại có thể kéo theo sự sụp đổ của cả Pan Am lẫn Boeing. Hôm trước, mình đọc một bài kể về công ty hàng không Nhật Bản ANA, cũng sử dụng chiến lược này với Airbus sau này. Mình nhất trí, nhớ đi Nhật Bản với bà cụ, mình đi hạng thương gia, thấy rất sướng cuộc đời. Vấn đề là đối với phụ nữ khi mình giới thiệu họ việc gì mà họ ưa thích là khổ. Mình mua vé hạng thương gia cho mẹ nên phải mua cho vợ. Vấn đề là mụ vợ nay cứ đòi đi máy bay hạng thương gia. Chán Mớ Đời 


Tuy nhiên, ông Juan Trippe đã đưa ra một quyết định mang tính lịch sử: Pan Am cam kết đặt mua trước 25 chiếc máy bay, dù chúng chưa được thiết kế. Cam kết tài chính khổng lồ này đã buộc Boeing phải chấp nhận thách thức chế tạo máy bay khổng lồ. Dạo ấy chưa có Airbus ra đời. Chỉ khi mình sang Pháp thì mới thấy xuất hiện Airbus, mình có tên bạn tây học ra trường rồi về Toulouse làm cho Airbus.


Để chế tạo chiếc máy bay mới, Boeing xây dựng một nhà máy hoàn toàn mới tại thành phố Everett, tiểu bang Washington, công trình có thể tích lớn nhất thế giới vào thời điểm đó. Kết quả của nỗ lực này là Boeing 747, chiếc “jumbo jet” đầu tiên trong lịch sử ra đời.

Khi xưa đi Máy Bay là như đi trên trời, họ cho ăn mệt nghỉ. Nay đi thương gia đường bay dài thì tha hồ ăn. Họ có hai bữa chính nhưng giữa hai bữa nếu đói thì cứ gọi chiêu đãi viên, họ đem đồ ăn ra như Phô-mát, Sandwich này nọ.


Ra mắt năm 1968, chiếc máy bay Boeing 747 gây chấn động giới hàng không toàn cầu. Máy bay có thân rộng hai lối đi, tầng trên đặc trưng, chiều cao tương đương tòa nhà sáu tầng và trọng lượng cất cánh tối đa hơn 330 tấn. Ukraina có chiếc máy bay to nhất thế giới và bị phá huỷ bởi Puchin trong cuộc chiến.


Dù bị hoài nghi, chuyến bay thử nghiệm đầu tiên vào ngày 9 tháng 2 năm 1969 đã chứng minh 747 không chỉ bay được, mà còn bay rất êm và hiệu quả. Hình như bộ quốc phòng của Hoa Kỳ có mua mấy chiếc để  sử dụng bắt đài radar trên không.


Ngày 22 tháng 1 năm 1970, chuyến bay Pan Am số 1 từ New York đến London đánh dấu lần đầu tiên Boeing 747 vận hành thương mại. Không gian khoang hành khách rộng rãi, tiện nghi vượt trội và khả năng di chuyển tự do trong cabin đã thay đổi hoàn toàn trải nghiệm bay. Những chiếc 747 đời đầu thậm chí còn có phòng sinh hoạt chung, quầy bar, cầu thang xoắn và giường ngủ cho các chuyến bay dài. Xem xi-nê họ hay chiếu cái cầu thang lên tầng trên nơi các bọn nhà giàu ăn uống, vui chơi.


Tuy nhiên, giá trị lịch sử lớn nhất của 747 không nằm ở sự sang trọng, mà ở năng lực vận chuyển. Việc phân bổ chi phí cho hàng trăm hành khách giúp giá vé giảm rất nhiều, mở ra cơ hội du lịch quốc tế cho tầng lớp trung lưu. Chỉ trong vài năm, Boeing 747 nhanh chóng được các hãng hàng không lớn trên thế giới đưa vào khai thác. Các tuyến bay quốc tế mở rộng nhanh chóng, tần suất tăng cao.


Nhớ năm 1986, mình sang Hoa Kỳ lần đầu tiên, công ty TWA hạ giá, mỗi vé $50 cho 10 chuyến bay tại Hoa Kỳ nên mình mình bay đi viếng 10 thành phố của Hoa Kỳ. Sau đó công ty này phá sản. Chán Mớ Đời 


Hệ thống hạ tầng hàng không toàn cầu buộc phải thích nghi: đường băng được gia cố, nhà ga mở rộng, thiết bị mặt đất được thiết kế lại. Đồng thời, giao lưu kinh tế, văn hóa và xã hội giữa các châu lục tăng tốc chưa từng thấy. Các nhà sử học gọi giai đoạn thập niên 1970 và đầu 1980 là “thời kỳ hoàng kim của kỹ nghệ hàng không”, trong đó Boeing 747 giữ vai trò trung tâm.


Sự thành công của 747 cũng dẫn đến những hệ quả không lường trước. Khi bay trở nên phổ biến, các hãng hàng không cạnh tranh khốc liệt về giá khiến nhiều công ty bị phá sản như Pan Am, TWA,… Để tối đa hóa lợi nhuận, họ tăng mật độ ghế ngồi, loại bỏ các không gian sinh hoạt chung và giảm dần mức độ tiện nghi. Dần dần, trải nghiệm sang trọng từng gắn liền với 747 biến mất, nhường chỗ cho mô hình vận tải hiệu quả nhưng chật chội. Và rẻ như ngày nay bay từ Paris đến Venise chỉ có 49 Euro nhưng nếu đem theo hành lý này nọ là họ chém không nương tay. Cũng như mình bay từ Los Angeles đến Paris có $200.


Từ cuối thế kỷ XX, vai trò chở hành khách của Boeing 747 dần được thay thế bởi các máy bay hai động cơ tiết kiệm nhiên liệu hơn. Tuy nhiên, 747 tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong vận tải hàng hóa toàn cầu. Năm 2023, Boeing chính thức kết thúc dây chuyền sản xuất 747 sau 54 năm, với tổng cộng 1.574 chiếc được chế tạo.


Di sản của Boeing 747 không chỉ là một thành tựu kỹ thuật. Đó là sự thay đổi căn bản trong cách con người tiếp cận khoảng cách. Nhờ tầm nhìn của ông Juan Trippe, du lịch quốc tế đã trở thành một phần bình thường của đời sống hiện đại. Chiếc 747 không làm phá sản ngành hàng không như lo ngại ban đầu. Ngược lại, nó đã định hình lại toàn bộ ngành, biến điều từng không thể thành quen thuộc, và đưa thế giới lại gần nhau hơn.


Ngày nay, đi máy bay có nhiều loại, rẻ, đắt tiền tuỳ theo khách hàng. Tháng 8 vừa rồi mình về âu châu, đi hãng Norse thì một vé từ Los Angeles - Roma hay Paris, giá có $200, thêm thuế này nọ nhưng nếu mình cần đem theo hành lý thì phải trả thêm $80, ăn uống thì phải trả thêm, ngồi ghế nào được lựa chọn thì trả thêm, cuối cùng như các chuyến bay khác. Keo kiệt như mình thì chỉ trả như vậy rồi vô Lounge Centurion ăn rồi đem đồ ăn và nước lên máy bay ăn và uống.


Nghe nói họ có dự định sản xuất loại máy bay bay cực nhanh và rộng lớn. Nếu họ qua được cái ải EPA, năng lượng xanh đã hạn chế đủ loại máy bay, cấm máy bay, đánh thuế đủ loại thì trong tương lai, có thể chúng ta sẽ thấy nhiều loại máy bay như Los Angeles bay về Việt Nam chỉ mất 5 tiếng thay vì cả ngày. Hay nhanh hơn. Một tiếng là tới Sàigòn. Nhưng chắc là cả ngàn hành khách.


Mình nhớ mãi lần đầu tiên đi máy bay qua tây với hãng hàng không Air France, quá cảnh tại Vọng Các, Tân Đề Li , Téheran. Cứ mỗi lần quá cảnh, họ kêu xuống máy bay rồi dẫn đi vòng vòng đến chỗ nào ngồi đợi họ bơm xăng máy bay, dọn dẹp rồi tới giờ lên lại máy bay. Mình nông dân cứ nhìn xung quanh, miệng há mồm, cứ u châu u châu hay hè hay hè. Mới đó mà đã 52 năm kinh. Cũng thời gian này mình đến Paris để hỏi Paris có gì lạ không Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 

Những người Việt giàu nhất tại Hoa Kỳ

 Những người Việt giàu nhất tại Hoa Kỳ 

Hôm trước, thấy có ông nào gốc việt, tặng tiền cho đại học UCI rất nhiều tiền nên được đặt tên cho một toà nhà trong khuôn viên đại học này nên mò mò thêm tài liệu để xem ai khác giàu nhưng không bao giờ hỏi: Biết bố mày là ai không”. Như bà nào ở Việt Nam, kêu tặng bao nhiều tiền cho đại học Anh quốc rồi xù không gửi tiền. Còn lập lại câu nói của tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: “đừng tin những gì cộng sản nói, hãy nhìn kỹ những gì cộng sản đã và đang làm”.

Bà Như An và 5 cô con gái
Người đưa thức ăn Việt Nam đến cho ngoại quốc.

Người thứ nhất là chủ dãy nhà hàng sang trọng nổi tiếng mà ở Quận Cam có tên AnQi, ở Beverly Hills mang tên Crustacean. Bà chủ tên là Như Trần, tên mỹ là Helene An (Ân là họ của chồng) được xem là “Mother of Fusion Cuisine” là 1 trong 17 người con của một đại gia đình có cha là quan, trong nhà có 3 đầu bếp, tàu, Việt và Pháp. Bà ta sinh ngày 12 tháng 4 năm 1944 tại Hà Nội. Bà lấy chồng tên Danny Ân, phi công của Việt Nam Cộng Hoà.


Năm 1975, gia đình bà ta di tản và định cư tại San Francisco. Một hôm, bà mẹ chồng nổi hứng mua lại một quán ăn Ý Đại Lợi, và mở một tiệm ăn Việt Nam mang tên Thăng Long. Khởi đầu bà ta gặp khó khăn vì mùi thức ăn Việt Nam rất đặt trưng khiến người Mỹ không chịu nổi nên bà ta mới đột phá tư duy, pha trộn các món ăn với nhau mà người ta gọi Fusion, giữa thức ăn tàu, pháp. 


Viết đến đây mình nhớ có quen một gia đình người Việt tại Connecticut, khi mình nhận vẽ chùa cho gia đình phật tử vùng này. Theo lời kể của ông chồng, phi công, em của tướng Ngô Dzu, nếu mình không lầm là chú ấy tên Ngô Nhân. Khi lộn xộn trước 30/04, chú gọi điện thoại về kêu bà vợ chuẩn bị mấy đứa con và đồ đạt, chú ghé về nhà chở ra sân bay. Bà vợ thì vội vàng , con nhà giàu khi xưa nên chỉ đi học nấu ăn với bà Quốc Việt nên lính quýnh vơ mấy cuốn sách của bà Quốc Việt vào cái túi rồi ôm con chạy ra xe. Khi máy bay đáp xuống phi trường ở Thái Lan, chú giao súng cho quân đội Thái ở phi trường rồi nói vợ đưa cho bộ đồ thay. Mở cái túi xách ra chỉ toàn là sách nấu ăn nên ông nổi khùng muốn quăng thùng rác nhưng bà vợ không chịu. Em ra đi chỉ đem theo gia tài của bà Quốc Việt.


Sau được nhà thờ bảo lãnh đến COnnecticut. Để cảm ơn các người bảo lãnh của nhà thờ nên mỗi tuần hai vợ chồng mời người Mỹ, ghé nhà ăn cơm để tạ ơn họ. Ai ngờ có người quen với đầu bếp người Pháp tên Jacques Pépin. Ông thần này, con cháu thực dân nghe nói đến cơm Việt Nam, bị ảnh hưởng cơm thực dân nhưng chưa bao giờ nếm nên liên lạc và nhờ cô Bạch Ngô nấu cho một bữa ăn Việt Nam. Ăn xong ông ta mê quá và đề nghị cô Bạch viết cuốn sách với một bà mỹ. Sau khi sách được xuất bản, cô Bạch được nghe đâu $60,000 thời đó lớn lắm nhưng phải đi bay vòng vòng để được các chương tình địa phương phỏng vấn để bán sách. Ở khách sạn hoài, đừ quá lại nhớ chồng con nên xin ngưng bay về COnnecticut, mướn một chỗ mở nhà hàng người Việt hạng sang và 5 năm sau mua đứt luôn khu phố.


Trở lại gia đình họ Ân. Từ tiệm ăn có 24 chỗ ở San Francisco, bà ta xây dựng một đế chế nhà hàng cực sang như:


•  Crustacean San Francisco 

•  Crustacean Beverly Hills (1997, nghe nói có hồ cá) mình có nghe nói đến nhưng xem thực đơn thì quá đắt so với nông dân như mình nên không bảo giờ mơ tưởng đến. Chỉ ăn phở bolsa là xong việc. Nghe nói họ mới tân trang lại nhà hàng này tốn mất 10 triệu đô. Kinh. Có anh bạn cho biết là họ vừa mới tân trang lại tiệm ăn thì COVID ụp đến nên hơi chới với.

•  AnQi (Costa Mesa), chỗ này mình ăn 1 hay 2 lần rất ngon, đám cưới em họ mình ở đây. Tiệm Tiato (Santa Monica).

Cả đại gia đình 3 thế hệ tiếp tục cai quản dãy nhà hàng này. Rất giàu. Một năm bán nhà hàng bằng 10 năm đi làm công cho thiên hạ.


Người thứ hai là người sáng lập ra chuỗi nhà hàng bánh mì Lee’s Sandwiches do hai anh em tên Lê văn Chiêu và người em tên Lê Văn Hướng sáng lập. Vượt biên năm 1979 đến định cư tại Hoa Kỳ. Khởi đầu ở New Mexico rồi Monterey, sau an cư tại San Jose. Ông ta khởi đầu làm việc cho một người chủ xe bán thức ăn, chạy lòng vòng gần mấy công sở hay công trường.


Có lần mình đi chơi với bạn ở Hạ Uy Di, có quen một gia đình người Việt có chiếc xe bán thức ăn. Nghe hai vợ chồng nói là làm tiền đếm không hết. Cô con gái không đẹp lắm chớ nếu không mình ở lại sắm một chiếc xe nấu thức ăn bán cho thiên hạ. Sau cơm trưa là về đi lướt sóng Hạ Uy Di.

Hai anh em họ Lê, sáng lập công ty bán bánh mì Lee’s Sandwiches

Trở lại ông Chiêu, đi làm cho thiên hạ xong, để dành tiền rồi mua một chiếc xe khởi nghiệp, bán hamburger, mì xào và bánh mì. Năm 1982, hai anh em sáng lập công ty Lee Bro. Foodservices, Inc. Nhằm cung cấp cho các xe bán thực phẩm khác như bán đĩa giấy, ly giấy này nọ. Tương tự người Việt làm nail nhiều nên cần người cung cấp các đồ nghề. Năm 1983, bố mẹ hai ông thần buồn đời, kêu cuối tuần tụi con không đi bán vì công sở nghỉ nên cho ba má mượn để bán bánh mì thịt cạnh đại học San Jose và trở thành nổi tiếng. Tháng 6 năm 1983, gia đình này mở một tiệm đầu tiền Lee’s Sandwiches trên đường Santa Clara ở San Jose.


Khởi đầu, họ chú ý vào thực khách người Việt nhưng ngoại quốc ưa thích nên họ khuếch trương nhiều nơi. Vào thập niên 90, ông Chiêu và con trai tên Minh Lê, mở một tiệm ở miền Nam Cali ngay góc đường Brookhurst và Westminster. Chỗ này khi xưa là tiệm cho thuê video Blockbuster. Khi họ đóng cửa, mình kiếm chủ tiệm để mua lại nhưng họ không thích bán cho mình. Hai cha con đưa ra công thức mới là làm bánh mì nóng thổi như bánh mì Vĩnh Chấn ở Đà Lạt khi xưa, ngoài bánh mì thịt Việt Nam, họ chơi thêm loại Sandwich của người Mỹ. Với croissant, đủ loại sinh tố, cà phê. Người con chết vì tai nạn vào tuổi 21 tuổi. Có thể nói món bánh mì thịt của người Việt được người Mỹ ưa chuộng ngày nay là nhờ công ty này.


Công ty được khởi đầu Franchise ra vào năm 2005, mình thấy ông Tony Lâm mua và mở ở đường Beach. Gặp mình ông ta đón chào vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Sau này ông ta dẹp tiệm sang lại cho Sàigòn Sandwiches thì phải. Họ cho mở tiệm ở Sàigòn (2008), Đài Bắc (2015). Năm 2017 họ thành lập công ty Lee’s Coffee Roastery, cà phê của họ được COstco bán. Ông Chiêu qua đời năm 2016. Ngày nay công ty này có độ 60 chi nhánh khắp Hoa Kỳ. Nói lên sự thành công từ xe bán thức ăn bên lề đường lên hàng triệu. Hình như sau này, họ lấy thực phẩm làm từ Việt Nam nên dân tình không thích thêm các tiệm khác ra đời, làm tốt hơn nên mất khách khá nhiều. có thể nói là từ 10 năm hơn, mình không mua bánh mì của tiệm này.


Có lần lên San Jose, ngụ lại nhà của bạn đồng chí gái ở Fremont. Đi vào khu vực trên đồi, có cổng khiến mấy đứa con mình kêu u châu u châu nhà bạn của mẹ giàu quá. Mình chỉ trên đồi có một căn nhà giá $15 triệu. Nói với chúng, bạn của mẹ là kỹ sư, ở nhà 2.5 triệu, còn trên kia người Việt bán bánh mì ở trên đó. Phi thương bất phú nhưng người Việt cứ kêu con đi học trường nổi tiếng để làm việc cả đời tôi mọi cho một công ty trong khi người Tàu khuyến khích con cháu họ Phi Thương Bất Phú,.


Người thứ 3 là ông Triệu Phát, (Frank Jiao) được xem là người xây dựng Little Sàigòn. Ông ta thành lập công ty Bridge Creek Development, được xem ngày nay có tài sản độ 400 triệu, chủ của Phước Lộc Thọ. Phải công nhận thời đó, ông ta dám xây Phước Lộc Thọ, phải nói rất giỏi, và gan. Ông ta cho xây 150,000 sqft khu thương mại Phước Lộc Thọ hai tầng lầu.


Khi thiết kế khu thương mại này, thành phố muốn xây theo kiểu mỹ nhưng ông ta muốn xây theo kiểu á châu để thu hút du khách. Ngày nay ông ta được xem là vua Little Sàigòn. Lần sau sẽ nói đến ông thần Trung Dung mình có gặp tại Boston vài lần (còn tiếp)


Tiếp theo kỳ trước về mấy người Việt giàu tại Hoa Kỳ. Người kế tiếp là Trung Dung. Ông thần này mình có gặp tại nhà chị Chấn khi xưa, quản thủ thư viện á đông của Harvard. Ông thần học chung với em trai của chị Chấn tên Tuấn thì phải. Bố ông thần Trung này là sĩ quan nguỵ nên không được đi học, buồn đời ông thần vượt biển mấy lần, bị bắn, ở tù Việt Cộng. Đến năm 1984, ông thần thoát được Việt Nam và định cư tại Boston, theo học trường Đại học Massachussetts, như đồng chí gái, cùng thời. Tốt nghiệp về computer sciences năm 1988. Hình như lúc mình gặp thì ông thần đang theo học tiến sĩ rồi mình sang Cali lấy vợ thì hết còn liên lạc.


Ra trường đi làm cho công ty Open Market đến năm 1995 thì thành lập công ty mang tên OnDisplay rồi 5 năm sau bán cho công ty Vignette Corporation đâu 1.8 tỷ mỹ kim. Sau đó có mở thêm các công ty khác như Fogbreak, Bluekey Services, V-Home Group tại Việt Nam. Hình như mình có đọc đâu đó, anh ta về Việt Nam hướng dẫn giới trẻ Việt Nam làm giàu chi đó. Rồi ICare Benefits (2008). Câu chuyện của ông thần này được ông Dan Rather kể trong cuốn sách của ông ta The American Dream.

Trung Dung

Cùng thời mình có quen một anh chàng tên Cảnh Lê, cựu sinh viên MIT do Chử Tam Anh giới thiệu. Anh ta đi học MBA ở trường Kellog xong thì làm việc cho Wall Street nên hay gặp nhau vì dạo ấy mình làm việc ở New York. Anh ta thân với một anh chàng khác, học đại học Yale. Họ hàng với gia đình Võ Đình Dung Đà Lạt. Cháu của ông Hoàng Xuân Hãn. Gia tộc này học giỏi kinh hoàng. Mấy anh em học Yale, Harvard và MIT. Anh chàng này, thành lập một tờ báo địa phương ở Maryland. Kêu mình hùn vốn. Mình mới gửi tiền đâu chưa đầy mấy tuần lễ thì nhận được thư kêu là hội đồng quản trị quyết định bán cho người Mỹ. Thể là mình nhận tiền vốn và lời gấp 2 lần. Gần đây anh chàng có liên lạc với mình kêu hùn vốn chi đó nhưng mình già rồi nên chả muốn đầu tư gì nữa. Đến mùa bán bơ xong thì đi chơi cho khoẻ đời Cô Lựu, chứ lo đầu tư nhức đầu lắm.


Sau này ông thần Cảnh bỏ làm ở New York, bay về San Jose mở công ty với hai tên bạn gốc tàu cùng xuất thân tại MIT. Đâu vài năm sau thì bán cho IBM, nghe nói đâu cả 100 triệu. Sau đó thì Dot Com bị banh ta lông. Số hên. Chả biết làm gì ngoài việc quản lý tiền của mình đầu tư, anh ta nói với mình là ghi danh đi học lấy bằng Ph. D. Cho vui cửa vui nhà. Cách đây đâu mấy năm, tình cờ gặp lại tại nhà một bác sĩ mình quen. Hai người này thân nhau từ Việt Nam.

Gia đình ông David Duong

Có một ông thần khác họ Dương tên David, được gọi là vua rác. Mình có gặp một lần trong một buổi hội thảo ở nam Cali với nhóm chuyên gia người Mỹ gốc việt. Ông ta thành lập công ty lượm rác tên California Waste Solutions (CWS) mà gần đây nghe nói có dính kiếu gì về vụ hối lộ cho công chức để được thầu rác.


Ông David Dương này sang Hoa Kỳ năm 1979 ở San Francisco. Đi lượm các thùng giấy để kiến tiền rồi để dành tiền mua chiếc xe tải. Năm 2014, ông ta trúng thầu gói thầu 1 tỷ đô la để lượm rác cho thành phố Oakland. Mình gặp anh ta đâu năm 1994 thì phải. Sau đó trúng thầu ở San Jose. Nghe nói anh ta về Việt Nam cũng làm lượm rác và xử lý rác. Gần đây nghe nói bị đá khỏi Việt Nam, họ vớt hết cơ sở của anh ta ở Việt Nam, và đang kiện cáo gì đó như vụ Trịnh Vĩnh Bình, người Hoà LAn.

Sau vua rác là đến vua tương ớt, ông David Trần. Với danh hiệu Sriracha, Huy Phong. Ông này trở thành tỷ phú qua Forbes nhờ bán tương ớt. Ông này là sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà, năm 1979, ông ta vượt biển trên chiếc tàu mang tên Huy Phong. Khi đến Nam Cali, buồn đời không biết làm gì ông ta làm tương ớt và đem bỏ mối cho các nhà hàng Việt Nam ở Nam Cali. Ngày nay ông ta làm chủ một nhà máy 650,000 sqft. Mình có xem một phim tài liệu phỏng vấn ông ta thì ngày nay có ông con rể gốc mỹ trắng phụ giúp phát triển công ty rất bài bảng theo luật lệ của Hoa Kỳ. Hình như ông ta về Việt Nam, tính làm ăn chi đó, bị Việt Cộng vớt 2 triệu đô, ôm đầu máu về lại Hoa Kỳ. Lạ người Việt mình đã chạy trốn cộng sản mà vẫn về Việt Nam kiếm cách làm ăn với Việt Cộng để bị họ cướp thêm một lần nữa.

Ông Hoàng Kiều tặng 5 triệu cho nạn nhân bão lụt ở san Jose

Người kế tiếp là ông Hoàng Kiều, cháu của nhạc sĩ Hoàng Thì Thơ. Có dạo Forbes cho rằng ông ta có đến 3.8 tỷ mỹ kim. Ông này sinh năm 1944 tại làng Triệu Phong, Quảng Trị. Năm 1975, ông ta di tản qua Hoa Kỳ, làm việc với $1.25/ giờ để nuôi 5 người con. Nổi tiếng với kỹ nghệ Blood Plasma. Đọc đâu đó, ông ta kể là làm việc cho một công ty mỹ, Abbott laboratories. ông ta tư duy đột phá làm về Plasma để kiếm tiền nhưng ông chủ kêu mày tỵ nạn mà biết gì. Nên buồn đời ông ta mở công ty mang tên  Rare Antibody Antigen Supply (RAAS) và kêu mấy anh ba tàu cho mở công ty bên Trung Cộng mang tên Shanghai RAAS Blood Products năm 1988, một công ty có trên thị trường chứng khoán Shenzhen Stock Exchange.


Năm 2014, ông ta mua một vườn nho của công ty Mondavi, và đổi tên là Kieu Hoang Winery. Nghe nói sau này công ty ông ta xuống giá nên không còn chức tỷ phú nữa nhưng vậy là đủ rồi, về hưu uống rượu của mình. Hình như rượu của ông ta không bán được nhiều, đem cho người Việt khá nhiều. Có lần ai đó cho mình một thùng, mình lại không uống rượu nên đem cho bạn bè.


Việt Nam sang Hoa Kỳ thế hệ đầu tiên mà đã thành công quá giỏi trong khi mình thì làm nông dân. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 




1984 của George Orwell linh nghiệm

 Lịch sử qua cái nhìn của George Orwell

Hồi mới sang Paris, có nhiều người kêu mình nên đọc sách của George Orwell nên mò vào thư viện mượn đọc. Nói cho ngay dạo đó đọc nhưng cũng không hiểu nhiều lắm. Sau này qua mỹ đọc lại mới giác ngộ cách mạng ý tưởng của ông ta khi nói về chế độ Stalininist hay các chế độ nắm quyền nhân danh tự do dân chủ bú xua la mua.

Vì quyền lực biến họ thành chế độ độc tài, kiểm soát mà ngày nay chúng ta thấy không những tại các quốc gia cộng sản như Trung Cộng, Việt Nam, Cuba, Triều Tiên,..mà ngay chính các nước tự xưng là tự do ngôn luận bú xua la mua. Ai nắm giữ quyền lực đều muốn ở muôn đời trên đó.


Ông này có cuộc đời khá lạ, sinh ra tại Ấn Độ, thuộc địa của Anh quốc, thuộc gia đình trung lưu, cha ông là một công chức trong chính quyền thuộc địa. Gia đình ông ta trở về Anh quốc sau đó. Ông theo học các trường danh tiếng rồi thay vì theo học đại học, ông ta gia nhập cảnh sát ở Miến Điện. Làm việc trong cho đế chế Anh quốc khiến ông ta mang mặc cảm tội lỗi về cách xử sự đối với người bản xứ và từ chức.


Ông ta trở về âu châu, sinh sống trong nghèo khó ở Paris, nói như ngày nay là đi thực tế, kiếm ý để viết sách sau này. Ông ta làm những công việc tay chân tại Paris rồi Anh quốc. Ông sống chung với giới bình dân nghèo khó và lấy tên “George Orwell” để khỏi gây liên luỵ đến dòng họ của mình.


Khi có cuộc nội chiến tại Tây Ban Nha, giữa hai phe: Phát-xít của Franco mà người ta gọi là Franquiste, được Hitler và Mussolini ủng hộ và phe thân Cộng Sản được Stalin ủng hộ. đó là cuộc chiến quốc cộng đầu tiên tại âu châu nên các tên mê lý tưởng Cộng Sản cũng như Phát xít tại âu châu, bỏ nhà qua Tây Ban Nha tham dự cuộc chiến này. Tỏng đó có ông Orwell tham chiến với phía thân cộng sản, được Stalin ủng hộ.


Năm 1937, trên một mặt trận đầy bụi mù của cuộc Nội chiến Tây Ban Nha, ông George Orwell trúng một viên đạn vào cổ. Tay bắn tỉa đã ngắm bắn ông ta nhưng may thay cho chúng ta, viên đạn chỉ sượt qua động mạch của ông vài ly. Nằm bất động trên mặt đất, nghẹt thở, ông Orwell tưởng mình sẽ chết, không phải vì Tổ quốc, không phải vì vinh quang mà vì sự thật. Cuộc đời cho Ông ta sống sót và từ ngày đó, có một điều trong thâm tâm ông vĩnh viễn rạn nức. Lý tưởng của tuổi trẻ bị lợi dụng bởi kẻ cầm quyền.


Đến Tây Ban Nha để chiến đấu chống chủ nghĩa phát xít, ông phát hiện nơi tiền tuyến một kẻ thù còn thâm hiểm hơn: sự dối trá. Ông chứng kiến những lý tưởng cao đẹp bị bóp méo, những con người phản bội nhân danh công lý, và báo chí nhào nặn sự kiện cho đến khi chính thực tại bị xóa nhòa. Vết thương khép lại, vết sẹo còn đó. Nhỏ bé trên da nhưng tâm hồn ông Orwell mở rộng cho một cái nhìn khác biệt và đã lên tiếng khi đã trải nghiệm.


Từ vết thương ấy ra đời những cuốn sách cay đắng nhất của ông. Trong cuốn “Trại súc vật”, ông cho chúng ta thấy các cuộc cách mạng, một khi chiến thắng, có thể biến thành bạo quyền. Trong cuốn “1984”, ông đưa ra một lời cảnh cáo lạnh người: sự thật có thể bị hủy diệt, bị viết lại, bị thay thế bằng ngôn ngữ của quyền lực. Lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc và xoá hết các dấu tích tàn bạo, dối trá, chỉ đưa ra những điều hay của cách mạng, của kẻ cầm quyền.


Nhưng thiên tài, ý tưởng của Orwell chưa bao giờ sinh ra trong những phòng khách chính trị êm ái như Karl Marx, nó bén rễ trong sự nghèo khó và sự tỉnh táo. Ông từng lau sàn ở Paris, sống cùng thợ mỏ miền bắc nước Anh, ở giữa những kẻ bị lãng quên để hiểu thế giới từ phía dưới, tận cùng của xã hội, nơi của những kẻ bần cùng của xã hội tây phương sinh sống ra sao.


Với ông, viết lách không phải là một sự nghiệp mà là một bổn phận đạo đức. Ông cho rằng “Trong thời đại của sự lừa dối phổ quát, nói ra sự thật là một hành động cách mạng.” Khi viết cuốn “1984”, ông bị bệnh lao gặm nhấm, sống cô lập trên một hòn đảo băng giá ở Scotland. Ông viết giữa những cơn ho dồn dập, không chịu giữ gìn sức lực. Ông biết thời gian không còn nhiều. Ông muốn để lại một sự thật cuối cùng trước khi tiếng nói của mình tắt lịm. Và khi tiếng nói ấy tắt đi, ông không chỉ để lại những cuốn tiểu thuyết, Ông để lại một tấm gương. Một tấm gương mà cho đến hôm nay vẫn phản chiếu thế giới của chúng ta với độ trung thực đáng sợ.


George Orwell không chỉ viết về áp bức. Ông đã nhìn thấy nó, Ông đã chịu đựng nó; Ông đã chống lại nó và với một vết sẹo trên cổ cùng ngọn lửa bất khuất trong từng chữ, ông đã cảnh cáo chúng ta để chúng ta không bao giờ có thể nói rằng mình không biết.


Ngày nay, với kỹ thuật tân tiến, kẻ cầm quyền còn kiểm soát chúng ta một cách tinh vi hơn lười ông kể trong “1984”. Năm 1984, mình đang làm việc tại Thuỵ Sĩ. Phong trào Solidarnosc từ Ba Lan đã lan toả khắp âu châu. Giới trí thức tây phương bắt đầu đặt lại câu hỏi, về chủ nghĩa cộng sản, chiến thắng của cộng sản tại Đông NAm Á cũng như Phi châu khi đám khờ me đỏ, tàn sát 1/5 dân khờ me. Khi các chiếc thuyền nhỏ bé vượt biển Đông NAm Á từ thiên đường mù Việt Nam.


Họ đặt lại câu hỏi lý do người Việt ra đi sau khi đạt được hoà bình, liều chết mà theo cao uỷ tỵ nạn liên hiệp quốc thì chỉ có 50% người Việt vượt biển đến được bến bờ tự do. Phải đợi thêm 5 năm sau năm 1984 như ông Orwell đã cảnh cáo, Liên Sô mới sụp đỗ. Nhưng thế giới chưa kịp vui mừng thì khám phá ra các xứ tự xưng là tự do dân chủ cũng kiểm soát người dân tinh vi hơn với những phương pháp truyền thông để cấy vào đầu chúng ta những tư duy, không chống lại nhà cầm quyền. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn