2 tấm ảnh một thời Tem phiếu

 Tấm ảnh xưa

Hôm nay nhận được hình của ông cậu bà con bên Úc gửi, mới gặp lại tết năm ngoái khi mình viếng xứ Kanguru, thấy có ông cụ mình trong hai tấm ảnh khiến mình thất kinh. Ông cụ đeo kính như thời mình đi Tây. Mình đoán là hình trước khi Việt Cộng vô hay là lúc chưa đi tù sau 75.

Mình thấy 1 tấm hình chụp ngay đường Minh Mạng, ngay mấy bực thang xuống nhà bà giáo Trình, chỗ dốc Minh Mạng đụng đường Tăng Bạt Hổ, có mấy thang cấp đi xuống đường Phan Đình Phùng. Chỗ mấy thang cấp này có nhà chú thím Lìn có quán bên cạnh hàng mẹ mình ở ngoài chợ nên hỏi có phải đám cưới cậu không vì mình biết có một ông cậu bà con, làm rể bà giáo Trình vì bà này bà con bên ông ngoại mình, người làng Dưỡng Mong. Mẹ mình gọi bằng O. Bà giáo Trình với bà Sáu Còm, ở cạnh tiệm Hiệp Thạnh khi xưa, là người tìm ra được ông ngoại mình. Khi xưa chiến tranh nên ông ngoại đi kháng chiến rồi mất tích. Sau này khai thác đồn điền trà ở Blao với nhãn hiệu Nguyễn Đăng. Sau 75, thì ông ngoại mình mất tích luôn, người ta đoán Việt Cộng về giết và thủ tiêu.


Nhìn kỹ, phóng đại ra thì chỗ chụp ở ngay chỗ cái hẻm đi xuống Dốc Nhà Làng, ngay chỗ bà bán bánh căn, vì bên kia đường là tiệm sách Thiên Nhiên, ngay góc đường Nguyễn Biểu. Chỗ tiệm chè gì quên tên, 54 hay gì đó, mình có ăn tại đây một lần tết 1973. Có người nhắc là tiệm chè Hiền Thảo. Tên hiệu thấy lạ, có thể sau 75 họ đổi chủ. Căn nhà do nhà may Tân Tân làm chủ và cho thuê. Mình nghĩ là sau 75 vì thấy cạo sơn các bảng hiệu và tiệm cà phê rang Meilleur Gout đã bị cạo thêm tiệm giày Mỹ Hưng đã đổi tên. Cuối năm 1974, mình còn đóng đôi giày đầu tiên và cuối cùng ở tiệm nay để chuẩn bị đi tây. Được cái là có 3 chiếc xe taxi Đà Lạt đậu bên kia đường, chắc để đón dâu, chớ đi bộ chắc cũng được. Vì từ nhà bà Giáo Trình ở Dốc Nhà Làng, leo lên dốc là tới đường Duy Tân, nhà của chú rể. Nhưng thuê xe Taxi là để chạy lên chùa làm lễ. Xem tấm thứ nhì.


Cận cảnh bên trái là ông Võ Quang Tiềm, kế bên là người em rể, ông Nguyễn Văn Phúng, em trai của bà Võ Quang Tiềm. Bà Tiềm kêu mệ ngoại mình bằng chị, chị em con chú bác. Sau này ông Phúng bảo lãnh cho bà cụ mình vào Đà Lạt năm 1948. Nghe kể khi mới vào Đà Lạt lập nghiệp, hai ông Tiềm và Phúng, may áo quần rồi gánh 3 ngày 3 đêm đi xuống Sông Pha, nơi thợ đang làm đường rầy xe lửa cho Tây, để bán. Từ từ mới chắt chiu, mua nhà cửa làm giàu lên. Mình đi bộ bên Ý Đại Lợi năm ngoái, ngày 30-40 cây số, chỉ vác ba lô nước không mà đã oải đây phải gánh hàng đi bán. Tối ngủ trong rừng. Kinh


Dạo mẹ mình bị bắt vì đi theo Việt Minh, nhờ ông Võ Quang Tiềm bảo lãnh với thị trưởng Cao Minh Hiệu nên mới được thả cùng cô Minh, còn ông bà Võ Quang Hàm. Ông Cao Minh Hiệu là người sáng lập ra Ấp Ánh Sáng. Mình có kể vụ này rồi, có hình ảnh cắt băng khách thành. Chớ nếu không thì tây cho bà cụ ra Bắc mút mùa thì chắc ngày nay không có Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen. Như chú Phấn, tiệm thuốc Minh Tâm ở đường Duy Tân, bị bắt chung cùng một lúc, bị đưa ra bắc. Sau hiệp đình Geneva mới về lại Đà Lạt và lập gia đình với cô Minh vì hai người phát hiện mối tình hữu nghị khi bị giam trong tù. Nếu không chắc chú ở lại miền bắc sau 1954 như ông Lê Xuân Ái và Anh Võ. Họ hay kể bà cụ mình nấu ăn trong tù, hay để dành cơm cháy cho họ. Mẹ mình ở tù nhưng tây cho tiền để mỗi ngày ra chợ mua thức ăn về nấu cho tù. Nên sau này mẹ mình hay kể tây bắt ở tù ăn còn sướng hơn khi được các đồng chí xưa về giải phóng. Về Đà Lạt họ có ghé thăm bà cụ mình kể chuyện đời xưa ở tù chung.


Ông Tiềm thích ăn chao do mẹ mình làm nên lâu lâu, mẹ mình kêu mình đem chao và cá kho vào cho ông Tiềm. Ông Tiềm thương mẹ mình lắm. Khi xưa ông cụ giải ngủ, học thi vào ty công chánh, ông ta kêu ông cụ mình ra nhà ông ta ngủ để học bài để thi. Sáng ông ta đánh thức ông cụ dậy để ôn bài này nọ. Chớ ở nhà ông cụ lại tiêm chích bà cụ sản xuất con cái.


Cô Minh hỏi bà cụ, ai khai chị mà bị bắt. Bà cụ mình kêu Em chứ Ai. Hình như cô Minh bị bắt đầu tiên trong nhóm kháng chiến ở khu CHợ Cũ khi xưa. Trong nhà ông bà Võ Quang Hàm có chị người làm, bị la mắng ra sao đó lại có cái tính thù dai nên báo cho ông chú làm mật thám cho tây biết cô Minh có chân trong nhóm kháng chiến. Thế là bị tóm rồi bị ăn đòn, đau quá khi bị mật thám cho đi tàu thuỷ hay máy bay, nhớ đến mẹ mình nên thành khẩn khai báo để hai chị em ở chung buồng giam cho vui đời kháng chiến. Mẹ mình kể là lúc đó nhờ dì Ba Ca trên Số 4, cháu ruột của mệ ngoại mình, may cho một bộ đồ đi chiến khu, chưa kịp bận áo quần kháng chiến đã bị tóm cổ. Sau này mẹ mình cứ tiếc áo kháng chiến chưa mặc một lần. Chán Mớ Đời 


Sau 1954, thì mấy người Đà Lạt bị bắt chung thời đó , có một số ở lại ngoài Bắc như ông Anh Võ, tiệm Anh Võ, đường Minh Mạng, ông Lê Xuân Ái, mà ngày nay cái nhà của mẹ ông ta vẫn còn ở trong Dốc Nhà Làng. Ông Lê Xuân Ái rất thân với ông Tôn Thất Đính, hình có một ông khác tên Ký thì phải, họ học chung với nhau khi xưa. Rồi ông Đính đi lính cho tây, còn ông Ái và ông Ký đi theo kháng chiến. Sau này con ông Ái đi lính được ông tướng Tôn Thất Đính bảo trợ, không cho ra trận. Không biết sau 75, ông Đính trước khi chết có về Việt Nam thăm lại bạn xưa hay không. Có lần ai gửi cho mình học bạ của ông Lê Xuân Ái khi còn học tiểu học ở trường Đoàn Thị Điểm, đường Trương Vĩnh Ký. Ông này đậu bằng tiểu học, Primaire, thời đó là được xem như học giỏi.


Dạo ấy mật thám Tây bố ráp bắt những ai theo Việt Minh nhiều vì có ông tây mật thám bị ám sát trước tiệm Đức Xương Long, mà sát thủ mới qua đời năm ngoái tại San Francisco. Họ bắt nhiều người Đà Lạt lắm, và đem lên Cam Ly xử tử đâu 20 người, chỉ có một người sống sót tên Lan, sau này sinh sống tại Số 4, mới qua đời mấy năm trước. Có dạo mình đọc một bài của Hà Nội nói về vụ ám sát hụt ông tây mật thám cạnh biệt thự Hoa Hồng, mà sau này ông bố của bà Ngô Đình Như mua cho gia đình bà ta ở.


Trong hình, mình thấy có 3 ông cậu bà con, một ông là chú rể, cậu Dĩnh, con của ông Đàng, em út của bà Võ Quang Tiềm. Ông Đàng tội lắm, khi xưa mỗi lần nghe tin mình về Đà Lạt, chưa kịp lên thăm ông là đã thấy ông chạy xe máy xuống nhà mình thăm rồi. Ai từng học trường Võ Bị Quốc Gia đều biết tiệm Long Hưng, số 9 đường Duy Tân vì bán các huy hiệu Alpha,…cho quân đội. Lên lon cũng ra đây mua lon mới. Kế đến ông cụ mình, đeo kính cận, bận đồ vía thêm mấy ông thần bưng mâm quả thì không nhận ra ai cả, có thể một ông thấy quen quen nhưng không nhớ tên. 


Xem mâm quả thì đoán là sau 75 vì thấy rất ít. Chỉ có hai mâm, cau trầu rượu và bánh xu xê. Nói cho ngay bà con nhưng không biết nhau. Thật ra mình biết họ nhưng họ không biết mình. Hôm trước có bà nào kêu là khi xưa có quen hai bà dì bà con của mình, cũng dân học Yersin. Về Đà Lạt, gặp mấy bà học Yersin cũ bắt mình kêu họ bằng dì vì học chung với 2 bà dì Hoa Dung và Mỹ Dung. Chắc cùng promo với mình. Chán Mớ Đời 


Mình gặp lại ông cậu bà con bên Úc vì ông ta đọc bài về Đà Lạt rồi liên lạc, tương tự cậu Nghị bên Pháp nên khi mình về Đà Lạt, và ghé Úc nên hẹn để bà con gặp nhau. Qua mạng xã hội, mình tìm lại bà con bên nội bên ngoại và hàng xóm khá nhiều. Khi xưa họ không biết hay nhớ mình nhưng khi kể về Đà Lạt thì họ biết ông bà cụ nên gửi thư thăm hỏi. Nhớ có lần cậu Võ Quang TRi, con trai đầu của ông bà Tiềm liên lạc. Mình có gặp cậu bên pháp nên nhớ, sau không thấy liên lạc nữa, mình gửi thư không thấy hồi âm, sau mới biết cậu đã qua đời.

Tấm thứ hai thì chụp trên chùa Linh Sơn, thấy chữ hán phiá sau đề Linh Sơn Tự, chắc lúc đó lên chùa làm lễ xong. Có 3 ông thầy, mình đoán là đứng giữa ông thầy Từ Mãn, còn hai ông kia thì không nhớ. Trong hình mình thấy có ông cụ mình, vợ chồng ông Võ Quang Tiềm, vợ chồng ông Nguyễn Văn Phúng, vợ chồng ông Nguyễn Văn Đàng. Mình nhớ khi về Đà Lạt lần đầu có ghé thăm bà Đàng. Bà ta kêu là cháu họ của ông Võ Văn Triêm, chồng của bà dì ruột đồng chí gái. Bà phải kêu mụ vợ mình là O, trong khi mình lại kêu bà. Mấy bà dì như Hoa dung, Mỹ Dung phải kêu mụ vợ mình là Mụ vì dòng Tôn thất. Chán Mớ Đời 


Thấy hình chiếc xe Taxi Đà Lạt khi xưa với bảng số GA 3229, khiến mình thấy có cái gì đó đã biến mất trong tâm khảm để nay lại dội về. Hình như cậu Dĩnh đi đoàn tụ gia đình ở San Jose. Lần sau mình lên miền bắc Cali sẽ liên lạc. Mấy ông cậu mình đều theo diện ăn theo vợ, đi đoàn tụ gia đình bên vợ hết. Nay Đà Lạt chỉ còn một người, còn cậu Nghị thì du học bên tây, nay về hưu, về Đà Lạt ở thoải mái con gà kê. Mình có gặp năm ngoái khi về Đà Lạt.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Uống cà phê trong tiệm Louis Vuitton

 Uống cà phê trong Louis Vuitton


Đi chơi với bà cụ và đồng chí gái, mình để ý trong các tiệm bán đồ xịn lại có chỗ bán và ngồi uống cà phê như Louis Vuitton, Coach khiến mình thắc mắc. Đồng chí gái và bà cụ chụp hình toả nắng đủ trò khi ghé mấy chỗ này khiến mình thất kinh. Đồng chí gái suýt mua một cái ví ở đây, khiến mình buồn vời vợi khi rút thẻ ra cà, may quá cuối cùng mụ vợ không thích cái quai nên buồn đời mình để ý thấy lạ vì thường mấy chỗ mua sắm họ sợ cà phê hay thức ăn có thể đỗ lên áo quần xịn của họ đang trưng bày. Ở Hoa Kỳ vào tiệm sách như Barnes & Nobles thấy thiên hạ vừa đọc sách vừa uống cà phê, ăn bánh ngọt hay thiên hạ cứ ngồi trước laptop trong các tiệm Starbucks. Mình thì kiếm một chỗ ngồi hay đứng cạnh mấy kệ sách.

Nghe nói phải giữ chỗ cả tháng ở tiệm này tại New York

Khi xưa ở Luân Đôn, mình nhớ đi mấy trung tâm mua sắm như Fortnum and Mason, Harrods’ thì thấy có chỗ Tea room uống trà, ăn bánh ngọt hay có tiệm ăn nhưng ở trên sân thượng. Thường khách đi mua sắm rồi ghé lên đây ăn uống, nghỉ ngơi, đấu láo với bạn bè như kỳ vừa rồi, về Paris, hẹn bạn bè ăn trên lầu ở Au Bon Marché. Thắc mắc nên mình tìm tài liệu đọc thì giác ngộ cách mạng là thế giới đang thay đổi mà mình thì vẫn ngu lâu dốt bền. Đúng là bần cố nông từ nhiều đời nay. Ít khi đi phố nên chả biết thế thái nhân tình là gì.


Ngày nay, họ tích hợp quán cà phê vào không gian bán lẻ và các thương hiệu xa xỉ đã trở thành một đặc điểm nổi bật của môi trường tiêu dùng. Các thương hiệu danh tiếng như Louis Vuitton, Gucci, Coach và Tiffany & Co. Ngày càng vận hành quán cà phê bên trong các cửa hàng flagship của họ, qua đó biến không gian bán lẻ thành những địa điểm ghép giữa tiêu dùng, giải trí và trình diễn văn hóa. Hiện tượng này có thể được phân tích hiệu quả thông qua các lý thuyết của marketing, xã hội học và nghiên cứu văn hóa, mỗi lĩnh vực làm nổi bật những khía cạnh khác nhau nhưng có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, bao gồm việc kiến tạo trải nghiệm, hình thành bản sắc và hàng hóa hóa đời sống văn hóa.


Mình có kể vụ ông tây, vua tiếp thị tìm cách đem cà phê vào Nhật Bản, một xứ theo truyền thống uống trà xanh, nay uống cà phê như người Việt uống nước mắm. Đó là cách thay đổi văn hoá của một cộng đồng thời nay. Xin mở ngoặc là các công ty bán Hamburger như MacDonalds, Burger King không thành công tại Việt Nam, chỉ có độ 20 tiệm đổ lại trong khi dự định của họ là mấy trăm tiệm. Ngược lại các tiệm Gà Chiên KFC rất được người Việt ưa thích.

Từ góc độ quảng cáo, sự xuất hiện của quán cà phê trong cửa hàng gắn liền chặt chẽ với các nguyên lý của marketing trải nghiệm. Trong cuốn Nền kinh tế trải nghiệm Pine, B. J., & Gilmore, J. H. (1999). (The Experience Economy.) hai ông Pine và Gilmore cho rằng giá trị kinh tế đã chuyển dịch từ hàng hóa và dịch vụ sang những trải nghiệm được dàn dựng, nhằm thu hút cảm xúc và giác quan của người tiêu dùng. Quán cà phê đóng vai trò như một nền tảng trải nghiệm, kích thích đồng thời nhiều giác quan, vị giác, khứu giác, thị giác và cảm nhận không gian. Vào Barnes & Noble đọc sách mà cứ nghe tiếng xay cà phê rồi mùi bánh ngọt mới ra lò và cà phê. Từ đó tạo ra những tương tác thương hiệu đáng nhớ. 


Mỗi lần đi xem nhà bán vào cuối tuần mà họ gọi “Open House” mấy bà chuyên gia địa ốc luôn luôn đút lò các bánh tây nên khi bước vào mùi thơm của bánh khiến tạo ra những điều khiến người xem nhà ưa thích và cấu tạo trong khứu giác của họ một căn nhà êm đềm đầy quyến rủ. Các nghiên cứu marketing chỉ ra rằng những trải nghiệm như vậy làm tăng thời gian khách hàng lưu lại trong cửa hàng, qua đó nâng cao khả năng mua hàng và mức độ gắn bó với thương hiệu (Schmitt, 1999). Ở Tân Gia Ba, vào tiệm Louis Vuitton, nhỏ nên không thấy góc cà phê giọt đắng nên khiến đồng chí gái đổi ý dù mình đang rơi lệ từ từ móc thẻ tín dụng ra cà. Nhớ dạo ở New York, có quen một cô, mình ngu nên buồn đời, kêu cô này đi cắt tóc ở Vidal Sasoon, cách công ty mình mấy thước. Họ khôn lắm, đem cà phê ra mời uống không tính tiền nhưng tính trong giá cắt tóc khiến mình thất kinh bỏ chạy luôn, không dám tiếp tục mối tình hữu nghị nữa. Cắt tóc dạo đó $100, rồi chưa kể chuyện khác thêm tiền bo. Ngày nay tính ra là $500-$600. Mình kiếm người vợ biết hà tiện cho chắc ăn.


Nhớ có lần mình bán miếng đất được giá, mụ vợ đi shopping, kêu là vô mấy tiệm áo quần sang tọng, không ngại nữa vì anh mới bán được miếng đất. Thấy thương mụ vợ, lấy chồng nghèo nên chịu, không dám bước vào tiệm ăn sang hay tiệm thời trang sang trọng vì sợ thiên hạ xem thường.


Mình đoán thương hiệu Starbucks được nổi tiếng khắp thế giới nhờ qua các nghiên cứu trải nghiệm chớ nếu nói đến cà phê thì nghe nói không có gì đặc sắc. Ngày nay ở Hoa Kỳ, tiệm cà phê mở đầy nên Starbucks đóng cửa tiệm khá nhiều, nghe nói năm ngoái lên đến 800 tiệm. Ngay bên cạnh tiệm Lee’s Sandwich đầu tiên tại Quận Cam, nay có một tiệm cà phê Aldi, bên kia đường là Starbucks đông người lắm (khi xưa) nay không biết có còn đắt khách hàng nữa không.


Bên cạnh đó, quán cà phê còn hoạt động như một điểm chạm chiến lược trong hệ sinh thái marketing đa diện. Theo lý thuyết giá trị thương hiệu của Keller, thương hiệu mạnh được xây dựng thông qua các liên tưởng tích cực và nhất quán tại nhiều điểm tiếp xúc khác nhau với người tiêu dùng Keller, Kevin Lane. (2013). Strategic Brand Management. Quán cà phê mở rộng ý nghĩa thương hiệu vượt ra ngoài sản phẩm, củng cố các câu chuyện về lối sống và sự gắn kết cảm xúc. Mạng xã hội càng khuếch đại hiệu ứng này, khi nội dung do người tiêu dùng tạo ra từ các quán cà phê thương hiệu trở thành một hình thức quảng bá không công, góp phần gia tăng độ nhận diện và uy tín trong không gian số. Mình theo dõi nhóm người Việt tại Cali thì thấy đa số họ đi ăn mấy tiệm ở Bolsa rồi phê bình. Đang đọc người chụp phê bình ngon này nọ thì có nhiều người còm kêu dỡ như hạch thế là chả biết đường nào mò. Cũng có chủ tiệm đăng đàn quảng cáo tiệm này nọ.


Từ góc nhìn xã hội học, quán cà phê thương hiệu có thể được diễn giải thông qua lý thuyết vốn văn hóa và sự phân biệt (distinction) của ông tây, người đem cà phê vào Nhật Bản, Pierre Bourdieu. Theo ông Bourdieu (1984), các thực hành tiêu dùng đóng vai trò như dấu hiệu thể hiện vị thế xã hội và gu thẩm mỹ. Việc uống cà phê trong một không gian gắn với thương hiệu xa xỉ cho phép người tiêu dùng trình diễn sự tinh tế và thuộc về văn hóa, ngay cả khi họ không mua những sản phẩm có giá cao. Hình thức tham gia mang tính biểu tượng này tạm thời làm giảm rào cản kinh tế, đồng thời vẫn duy trì sự phân tầng thông qua mã thẩm mỹ, cấu trúc giá cả và thiết kế không gian. Cái này mình có trải nghiệm khi ở Luân Đôn, hay bò lên sân thượng của Harrods’ để uống trà và ăn Scones của tiệm này rất ngon. Để khẳng định mình là Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen. Nghèo nhưng làm sang như thâm chòi biết bố mày là ai không. Chán Mớ Đời 


Ngoài ra, các quán cà phê này có thể được xem như một dạng “không gian thứ ba” theo khái niệm của Ray Oldenburg, những địa điểm nằm giữa nhà ở và nơi làm việc, tạo điều kiện cho giao tiếp xã hội (Oldenburg, 1999). Tuy nhiên, khác với các quán cà phê truyền thống, quán cà phê trong cửa hàng bán lẻ được thiết kế và kiểm soát chặt chẽ bởi thương hiệu, qua đó định hình hành vi của người dùng theo các giá trị thương mại. Điều này phản ánh xu hướng tư nhân hóa đời sống xã hội, khi các hoạt động cộng đồng ngày càng diễn ra trong những không gian do thị trường chi phối. Có xem một phỏng vấn, tiệm Coach cho biết giới trẻ 13, 14 tuổi vào đây uống cà phê với giá $9 một ly, dù không mua gì cả nhưng trong tương lai sẽ là khách hàng. Như trường hợp con nít Nhật Bản được quảng cáo kẹo cà phê từ bé nên lớn lên nghiện cà phê.


Nghiên cứu văn hóa cung cấp thêm một lăng kính để hiểu cách quán cà phê thương hiệu tham gia vào quá trình sản phẩm hóa văn hóa và đời sống thường nhật. Khái niệm giá trị ký hiệu (sign-value) của Jean Baudrillard, mấy ông tây khá nổi tiếng về dạy cách tiếp thị, cho rằng hàng hóa ngày càng được định giá dựa trên ý nghĩa biểu tượng hơn là công năng sử dụng (Jean Baudrillard, 1998). Trong khung phân tích này, cà phê trở thành yếu tố thứ yếu so với hệ thống ký hiệu mà không gian thương hiệu truyền tải. Người tiêu dùng không chỉ mua một thức uống, mà đang tham gia vào một mạng lưới biểu tượng gắn với sự xa xỉ, sáng tạo và bản sắc toàn cầu. Vô trong mấy tiệm này, thấy chỗ họ bán cà phê thấy cực sang trọng, không dám kêu uống sợ chúng chửi nông dân mà bày đặt.


Quá trình này được tăng cường bởi truyền thông số. Khi người tiêu dùng ghi lại và chia sẻ trải nghiệm của mình trực tuyến, họ chuyển hóa khoảnh khắc cá nhân thành vốn văn hóa công khai, phù hợp với khái niệm “xã hội của trình diễn” của Guy Debord, trong đó các mối quan hệ xã hội được trung gian hóa thông qua hình ảnh và sự trình hiện (Debord, 1967). Do đó, quán cà phê thương hiệu vận hành như những sân khấu cho việc trình diễn bản thân, nơi tiêu dùng, bản sắc và khả năng được nhìn thấy hòa quyện vào nhau. Ngày nay, người tiêu dùng vào tiệm Louis Vuitton, không mua gì hết nhưng uống ly cà phê đắt tiền, rồi chụp hình hay livestream là có biết bao nhiêu Like.


Tuần rồi, có nhóm biết trên mạng trồng cây chi đó, mình mời họ đến vườn picnic, thì việc đầu tiên khi đến vườn thấy họ Livestream ngay. Không biết bao nhiêu người xem.


Tổng hợp các góc nhìn trên cho thấy việc tích hợp quán cà phê vào không gian bán lẻ không phải là một xu hướng bề mặt, mà là một phát triển có ý nghĩa cấu trúc trong văn hóa tiêu dùng đương đại. Quán cà phê mở rộng chiến lược marketing trải nghiệm, cho phép sự tham gia mang tính biểu tượng và sự phân biệt xã hội, đồng thời hàng hóa hóa những thực hành văn hóa vốn trước đây tương đối độc lập với thương mại. Chúng minh họa cho một sự chuyển dịch rộng lớn hơn, trong đó các thương hiệu không chỉ bán sản phẩm mà còn dàn dựng những môi trường nơi ý nghĩa, bản sắc và trải nghiệm được liên tục sản xuất và tiêu dùng. Mình nghe thằng con nói nay có trên là giới trẻ thích Macha trà xanh. Có thể trong tương lai họ sẽ làm các quán trà xanh thay vì cà phê.


Cái nguy hiểm là ngày nay chúng ta bị dẫn dắt bởi các fake news, hay tuyên truyền trên mạng nhằm giúp chúng ta trở thành đảng viên chửi, để mạt sát nhau. Chúng ta livestream khi đi ăn kem ở trong một tiệm sang trọng hay uống cà phê ở Louis Vuitton, tạo dựng một hình ảnh giả tạo về chính chúng ta vì không đủ tiền mua cái ví đắt tiền nhưng để diễn xuất cho các người theo dõi, fan cứng, fan mềm thậm chí những người mình ghét cay ghét đắng. Bác nào muốn tự tạo cho mình một hình ảnh yêu thiên nhiên, hữu cơ bú xua la mua thì vào vườn em mà livestream. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

17 tuổi thành tỷ phú = gia tài công ty In-N-Out

 Đế chế In-N-Out

Dạo này thống đốc tiểu bang Cali lo ngại là tỷ phú ở tiểu bang Cali bỏ chạy ra các tiểu bang khác vì tiểu bang mới ra dự luật đánh thuế người giàu. Hy vọng năm nay đi bầu, người dân Cali sẽ ủng hộ dự luật này. 72% cử tri Cali bầu cho đảng Dân Chủ nên chắc chắn sẽ được bỏ phiếu. Đa số người theo đảng dân chủ cứ nghĩ là đánh thuế bọn nhà giàu, phú ông vì chúng bốc lột nhân viên này nọ nên mấy tên này bỏ chạy. Đánh cho bọn nhà giàu cút người dân nghèo thêm. Ngân hàng Wells Fargo kêu sẽ dời sang tiểu bang khác trong năm nay. Họ quên một điều những người này là những người tạo ra công ăn việc làm cho xã hội. Không có họ thì không có nhà máy, văn phòng. Với lương tối thiểu $25/ giờ cho nhân viên khiến các công ty như 99 Cents đóng cửa vĩnh viễn. Hôm nào buồn đời mình kể các dãy tiệm lớn nhất Rite AID, Walgreens đóng cửa hết, mấy Sears, nay thậm chí Target cũng sẽ đóng cửa năm 2026,…. Kinh tế đang thay đổi nên mất việc là mệt vì khó tìm lại việc khác. Lại cứ đè đầu những thằng có khả năng tạo công ăn việc làm, đánh thuế thì chúng bỏ chạy hết. Về âu châu sẽ thấy xã hội chủ nghĩa ra sao. 

Tỷ phú Lynsi Snyder ở tuổi 17


Từ mấy năm nay, các công ty lớn của Cali bỏ của chạy lấy người qua Texas, rồi nay Tennessee vì điện nước ở Texas khá đắt nên mấy tiểu bang kia, kêu đến với em, tha hồ miễn phí, ít thuế. Còn em Cali thì cứ vênh váo lên trời, các công ty đi thì đa số nhân viên phải chạy theo nên trong tương lai đóng thuế để nuôi làm theo năng xuất hưởng theo nhu cầu. Họ mới truy tố ông thần nào ở Cali vớt 21 triệu dành cho người vô gia cư. Có người cho là tiểu bang Cali là nhân văn, trí thức cấp tiến bú xua la mua, còn mấy thằng giàu nhờ Cali ăn cơm Dân Chủ thờ ma Cộng Hoà bú xua la mua. Mình nghĩ người ta thương, quý cái túi tiền của họ hơn là ma vì ma nào cũng là ma. Đảng DâN Chủ hay Cộng Hoà đều đánh thuế dân hết và mượn tiền để tiêu xài.


Gần đây công ty bán hamburger In-N-Out danh tiếng của Cali cũng bỏ chạy qua tiểu bang Tennessee. Họ sẽ làm công ty mẹ ở Tennessee và sẽ rút tiền lời về công ty mẹ thì Cali húp cháo. Cali được cái là khí hậu tốt nên thiên hạ phải ở chớ còn khí hậu mà lạnh lẽo thì cha con đã bỏ chạy tứ xứ từ lâu. Có người kêu vì tinh thần cấp tiến tri thức của người dân Cali này nọ. Nếu họ chịu khó xem bản đồ Hoa Kỳ thì thấy các công ty xe hơi như Mercedes, Toyota,…đều chuyển hết về miền Nam, còn các tiểu bang cấp tiến như Detroit thì bỏ chạy mất dép.


Người ta giải thích là Cali khi xưa theo Cộng Hoà nhiều nhưng từ khi ông Reagan ân xá các người di dân lậu thì tiểu bang Cali, Oregon và Seattle được chuyển qua Dân Chủ và nay thì khó mà trở lại như xưa vì cử tri Dân Chủ ở mấy tiểu bang này là 70-80%. Cali thiếu 5.5 triệu căn hộ vì có nhiều cư dân là di dân lậu nhưng khó mà xây được chung cư cho người ít lợi tức. Lý do là luật lệ xây cất cao như núi như bên Âu Châu. Một tư nhân xây cất một căn nhà giá thành lên $400,000/ căn nhà trong khi chính phủ mà xây cất thì mỗi căn có giá thành lên đến 1.2 triệu đô la. Lý do là công đoàn, nếu xây cất dùng công đoàn lao động thì tiền xây cất lên gấp 3, vì phải trả tiền phụ trối gấp 2 lần thêm đủ thứ trò, mất thời gian nhiêu hơn. Mình bỏ nghề xây cất cả 20 năm qua vì chán không muốn luồn cúi với mấy ông thần ở thành phố.


Công ty In-N-Out được thành lập năm 1948, từ một quán nhỏ 10 anh bộ x 10 anh bộ tại Balwin Park và ngày nay có trên 418 tiệm khắp 9 tiểu bang, với lợi tức hàng năm trên 6.7 tỷ mỹ kim và chỉ có gia đình này làm chủ như dãy nhà hàng Panda Express. Đúng hơn là cô Lynsi Snyder làm chủ.


Mỗi tiệm ăn In-N-Out trung bình mỗi năm tiền thu nhập trung bình là $5,800,000 trong khi tiệm ăn MacDonalds trung bình chỉ có doanh thu độ $2,600,000. Phân nữa thu nhập mà muốn mở tiệm ăn này phải đóng tối thiểu 1 triệu.


Công ty này được thành lập bởi cặp vợ chồng Harry và Esther Snyder năm 1948, 1 năm sau khi họ cưới nhau. Năm 1976, ông chồng chết vì ung thư dù dã ngưng hút thuốc từ lâu. Người con trai Richard Snyder chết năm 1993 ở tuổi 41, rồi đến người con trưởng Guy chết năm 1999 ở tuổi 48, để lại một cô con gái tên Lynsi Snyder. Cái hay là dòng họ này làm Trust để các điều kiện là chồng cô Lynsi, không dính dáng gì đến tài sản của họ. Cô này cũng nghiện ngập như cha cô ta và có 3 đời chồng ở tuổi 30. Kinh. Nay thì hết nghiện rồi, chịu khó làm ăn.


Qua bao nhiêu sóng gió nhưng dòng họ chỉ còn lại hậu duệ là cô Lynsi Snyder thừa kế gia sản khi chưa đến tuổi vị thành niên. Khi bố cô ta qua đời thì cô Lynsi chỉ mới 17 tuổi, và khi bà nội qua đời thì mới 24 tuổi. Di chúc để lại là có chỉ nhận được 1/3 gia tài năm 25, rồi 1/2 còn lại khi lên 30 tuổi và số còn lại năm 35 tuổi. Các điều lệ này thường được viết trong di chúc như vậy để tránh, con cái chưa đủ tuổi trưởng thành rồi làm bay hết gia tài hay phối ngẫu ly dị này nọ. Trong trường hợp cô Lynsi qua đời sớm thì gia tài sẽ chuyển cho bên bà nội thay vì để chồng con của cô Lynsi vớt.


Câu chuyện bắt đầu khi ông Harry Snyder, người Gia-nã-đại và bà Esther Johnson gặp nhau tại tiệm ăn quân đội ở Seattle năm 1947 và làm đám cưới năm 1948. Họ mở một quán bán Hamburger nhỏ ở đường Francisco Skito Avenue tại thành phố Baldwin Park, gần Los Angeles. Ngày đầu tiên họ bán được 47 cái hamburger và tháng đầu tiên được 2,000 hamburger. Họ rất để ý đến thực phẩm bán rất tươi, như khoai tây chiên là làm tại tiệm mỗi ngày.


Họ có 2 thằng con trai, Guy và Richard. Đến năm 1976, họ có 18 nhà hàng ở Cali. Nhưng rồi ông chồng tuy ngưng hút thuốc nhưng có thể hít mùi khói nướng Hamburger nên chết sớm. Cậu con trai đầu thì nghiện ngập nên con trai thứ hai phải nối nghiệp ở tuổi 24. Ông này có vẻ giỏi nên khuếch trương mướn người làm rất giỏi, mở trường đại học In-N-Out để huấn luyện các nhân viên và quản lý. Ông mở thêm đến 93 cửa tiệm này hàng.


Ông con Rich mất 17 năm trời để khuếch trương công ty lớn và nổi tiếng ở Cali. Ông này theo đạo tin LÀnh giáo phái Born-Again Christian nên tạo dựng thương hiệu với mục đích đạo đức và cách ứng xử với khách hàng. Năm 1993, trên đường bay về Nam Cali, máy bay ông bị rơi, chết tại chỗ. Gia đình phải kêu ông anh đầu nghiện ngập thế. Ông ta mở thêm nhà hàng từ 93 nhà hàng lên đến 140 trong vòng 6 năm. Ông mở cửa hàng ở Arizona rồi qua đời vì overdose.


Bà Esther, 79 tuổi phải quay lại lãnh đạo công ty vì hai đứa con qua đời, còn cháu nội duy nhất thì mới 17 tuổi. Được cái là cô này đi làm ở tiệm ăn như người bình thường không ai biết cô ta là cháu nội của bà chủ. Vấn đề là các giám đốc công ty choảng nhau và thưa kiện nhau. Bà Esther qua đời khi cô Lynsi được 24 tuổi nhưng phải đợi đến s3 năm sau cô ta mới được lên chức tổng giám đốc công ty. Cô ta lập gia đình 3 lần và ly dị 3 lần trước khi đủ 35 tuổi để nhận lãnh hết gia tài của gia đình.


Cách nhìn của In-N-Out là không mở nhiều chi nhánh như kiểu Starbucks vì nay họ đóng cửa trên 800 tiệm. Họ tuyên bố năm 2025 là bỏ 125 triệu đô la để mở công ty ở Tennessee và năm 2029 sẽ chuyển công ty mẹ qua bên đó. Thế là Cali ngọng, ít được thuế của mấy tiệm ăn này. Hoan hô xã hội chủ nghĩa, làm theo năng suốt hưởng theo nhu cầu. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Saveurs d’exil, Hương vị của sự lưu đày

 Lưu vong qua ẩm thực 

Hôm nay mở mạng xã hội thấy Lâm Quốc Dũng, con bà Bùi Thị Hiếu, giới thiệu một phim tài liệu pháp sẽ được trình chiếu cho công chúng tại Pháp quốc vào ngày 18 tháng 2 nhân dịp tết Việt Nam với tựa đề “Saveurs d’exil” (Hương vị của sự lưu đày) của đạo diễn Anne Solenne Hatte. Mình có lần xem một cuốn phim tài liệu với tựa đề tương tự nhưng kể về một gia đình gốc phi châu. Bên âu châu, họ hay bỏ tiền ra làm những phim tương tự để giúp người âu châu hiểu thêm về bản sắc của người di dân và các thế hệ tiếp theo. Khi lịch sử được truyền tải qua hương vị. Hình như tuần qua họ có chiếu phim “Vua Rác”, nói về một người Việt thành công nhờ đi nhặt rác lúc mới qua mỹ rồi từ từ mở công ty nhặt rác ở Hoa Kỳ. Mình có nói đến ông vua rác này trong bài những người Việt thành công trên đất mỹ tuần rồi.


Anne Hatte là một đạo diễn phim tài liệu người Pháp, được biết đến với những tác phẩm mang đậm tính nhân văn và xã hội. Bà quan tâm đặc biệt đến các chủ đề như lưu vong, di cư, ký ức và bản sắc văn hóa. Thay vì khai thác các sự kiện lớn, Anne Hatte tập trung vào đời sống thường nhật và những câu chuyện cá nhân của những con người ít được lắng nghe. Phong cách làm phim của bà giản dị, tĩnh lặng và tôn trọng nhân vật, nhằm tạo không gian cho họ tự kể câu chuyện của mình. Saveurs d’exil là một trong những bộ phim tiêu biểu, thể hiện rõ cách tiếp cận tinh tế và nhân văn của bà. Người con trai của bà Bùi Thị Hiếu có tải luôn phim giới thiệu ngắn của cuốn phim. Xin tải lại đây.


https://youtu.be/yaqeucaE7QU


Ông thần này có liên lạc với mình, có gửi vài tấm ảnh của gia đình cho mình và kêu sẽ ủng hộ những gì mình kể về Đà Lạt. Hình như anh chàng ở Strasbourg thì phải. Năm nay về pháp, hy vọng ghé lại Strasbourg thăm anh chàng. Hình như anh chàng học dưới mình một lớp.


https://drive.google.com/file/d/1UpRFEaUpFKUDElWwxRzi3BXMvDdFra58/vie


Mình chỉ xem phim ngắn giới thiệu nên cũng không hiểu rõ lắm nhưng mò thêm tài liệu trên mạng thì xem như cuốn phim nói về người Pháp gốc Việt trong hành trình tìm kiếm bản sắc trên đất pháp. Mở đầu là một người tự giới thiệu lai tây, rồi thấy hình ảnh như xem các cuốn sổ tay của ông nội viết bằng tiếng việt nhưng không hiểu. Khi xưa mình khi làm Estate planning, mình bắt đầu viết bằng tiếng anh để sau con cháu có muốn đọc, tìm về cội nguồn. Viết về đời ông cụ bà cụ mình rồi ông bà nội ngoại. Nay trở thành bờ lốc luôn. Có lẻ cuốn Mực Tím Sơn Đen, do tiến sĩ Chử Nhị Anh thực hiện nói rõ về gia đình mình nhất. Mình đoán tương tự ở Hoa Kỳ hay một nước nào khác, những thế hệ thứ 2 của thuyền nhân, một ngày nào đó sẽ tìm về cội nguồn. Điển hình là cháu ngoại của ông Cunhac, người xây dựng hồ Xuân Hương Đà Lạt, cũng tìm về Đà Lạt đẻ Mường tượng đến ông ngoại của anh ta. Hay cô bạn đầm, có bà mẹ sinh tại Nam Định cũng lần mò về Việt Nam, đi lại Năm định, Đà Lạt nơi gia đình ông bà ngoại từng sinh sống và nghỉ hè. Xin tóm tắc những gì mình đọc vì không biết chừng nào mới có dịp xem cuốn phim này. Mình rất quan tâm đến vấn đề này để hiểu thêm con của mình vì chúng sinh ra tại Hoa Kỳ và lớn lên tại xứ người nên có thể chúng cũng tìm kiếm về bản thể của chúng.


Vấn đề này mình đã trải nghiệm qua vì khi xưa học chương trình pháp từ bé lên đại học, ngoại trừ hai năm cuối trung học. Rồi đi tây nên tiếng Việt không rành nên sau này có thời gian mình bị khủng hoảng về bản thể, không biết mình từ đâu đến. Gặp người Việt thì nói không rành tiếng Việt, gặp tây cũng ngọng ngọng tiếng Tây, văn hoá việt thì y tờ. Khi tây hỏi về văn hoá Việt Nam thì chỉ mại mại nhớ ở nhà khi xưa ra sao. Rồi tự học làm chả giò, nấu phở cho tây đầm ăn. Cho thấy đối người Pháp ẩm thực là văn hoá là cách chúng ta có thể giới thiệu với bạn bè ngoại quốc. Ngày nay thì thực phẩm Việt Nam được toả rộng hơn. Người Mỹ đều biết bánh mì, phở và cà phê cái nồi ngồi trên cái cốc.


Mình để ý đến con để xem chúng có bị khủng hoảng về bản thể như mình khi xưa. Con gái mình mỗi lần đi đâu về, là từ phi trường chạy ra Bolsa ngay để ăn tô phở. 4 năm đại học, nó học 2 năm ở Hương Cảng, 1 năm tại Ý Đại Lợi, và năm đầu tiên tại USC, đi 14 nước nhưng mỗi lần về nhà là việc đầu tiên ăn tô phở ở Bolsa. Có lẻ tác giả cuốn phim muốn nói đến phần này. Hy vọng có dịp sẽ được xem phim này. Bác nào bên tây mà biết cách xem phim này ở đâu trên mạng thì cho em xin. Cảm ơn trước.


Phim tài liệu Saveurs d’exil của Anne Hatte đề cập đến vấn đề lưu vong và bản sắc thông qua lăng kính ẩm thực. Bộ phim có thể được xem như một tiếng vọng rất rõ của trải nghiệm người Pháp gốc Việt, những người thường sống giữa hai nền văn hóa, hai ngôn ngữ và hai ký ức. Mình thì nhiều ký ức, pháp, Ý Đại Lợi, Thuỵ Sĩ, Anh quốc.

Đối với người Pháp gốc Việt, bản sắc thường được hình thành trong trạng thái ở giữa hai thế giới. Chúng ta ở giữa gạch nối của hai nền văn hoá Franco-Vietnamien, loại thịt ba chỉ, nữa nạc nữa mỡ. Văn hoá tây thì không rành mà văn hoá ta cũng mù luôn. Còn thế hệ con mình thì văn hoá mỹ thì rành nhưng khi đi làm chúng bắt đầu thấy sự khác biệt về cách đối xử trong sở, nơi làm việc. Nếu theo tây thì sợ phản bội nền văn hoá cha ông, cho nên khó tiến xa. Ông Phan Văn Trường, từng là tổng giám đốc một công ty pháp có trên 100,000 nhân viên khắp thế giới, có nói là từ khi ông ta tự xem là người Pháp thì công danh mới thăng tiến vì trước đó cứ nghĩ xem mình là Việt Nam. Sống ở xã hội tây mà sử xự như người Việt thì khó hội nhập và thăng tiến ở xứ người. Điển hình khi mình lấy vợ cúng giỗ ông bà hay ngày rằm đâu biết làm sao vì khi xưa ở Việt Nam đâu để ý. Nhiều người sinh ra hoặc lớn lên tại Pháp, trong khi lịch sử gia đình lại gắn liền với Việt Nam, chiến tranh, lưu vong hoặc di cư vì kinh tế. Trong bối cảnh đó, sự truyền thừa văn hóa đôi khi bị đứt đoạn: tiếng Việt có thể mai một, ký ức về quê hương dần mờ nhạt, nhưng ẩm thực thì vẫn còn.


Mình có anh bạn ở Sân Jose, tình cờ anh ta tìm thấy cuốn sổ tay của mẹ ghi công thức làm nước mắm của bà ngoại anh ta khi xưa ở Lăng Cô. Anh ta đột phá tư duy làm nước mắm theo công thức của mẹ ghi lại như để nối kết với ký ức của mẹ anh ta truyền thừa. Nay rất thành công, không kịp sản xuất để bán cho khách hàng. Chị vợ lúc đầu rên vì anh ta phơi mấy tỉnh trên mái nhà, lỡ động đất là tắm nước mắm.


Trong Saveurs d’exil, ẩm thực không chỉ là niềm vui hay một truyền thống, mà trở thành công cụ tìm kiếm bản sắc. Nấu một món ăn Việt Nam là cách quay về với lịch sử gia đình, với những cử chỉ được học từ cha mẹ hoặc ông bà. Ngay cả khi lời nói không đủ, hương vị vẫn có thể giữ gìn mối liên hệ với quá khứ. Với người Pháp gốc Việt, việc nấu phở, bún hay những món ăn quen thuộc hằng ngày có thể là một cách để trả lời câu hỏi: “Tôi đến từ đâu?” Mình về Ý Đại Lợi thăm mấy người bạn du học ngày xưa, họ cũng tiếp tục nấu phở cho ông linh mục gốc việt để tìm lại chút gì của quê hương bỏ lại.


Bộ phim cũng cho thấy hành trình tìm kiếm bản sắc này gắn liền với sự thích nghi. Công thức nấu ăn thay đổi theo nguyên liệu có sẵn tại Pháp, cũng giống như bản sắc cá nhân biến đổi khi tiếp xúc với xã hội Pháp. Là người Pháp gốc Việt không có nghĩa là phải lựa chọn giữa hai nền văn hóa, mà là học cách kết hợp chúng. Đây là một bản sắc sống động, luôn vận động và biến đổi. Mình nhớ khi đi làm ở Ý Đại Lợi, bạn bè người Việt nấu phở ăn với spaghéttí vì không có bánh phở. Lâu lâu mình về Paris, họ nhờ mình mua cho chai nước mắm ở tiệm Thanh Bình, mấy cái trứng vịt lộn rồi khi mình trở lại Torino thì cả đám xúm lại luộc trứng lộn ăn để tìm lài bản sản của một kẻ tỵ nạn.


Cuối cùng, Saveurs d’exil nhấn mạnh tầm quan trọng của sự truyền thừa cho các thế hệ sau. Trong nhiều gia đình Pháp–Việt, ẩm thực trở thành phương tiện truyền tải lịch sử và văn hóa khi ngôn ngữ hoặc các câu chuyện lịch sử không còn được truyền lại đầy đủ. Nhờ đó, con cháu vẫn có thể cảm nhận mình là người thừa hưởng một quá khứ, dù đang sống trọn vẹn trong hiện tại tại Pháp. Nhớ dạo mẹ mình ở Hoa Kỳ, thằng con và đứa con gái rất thích ăn cơm của bà nội nấu. Cơm bà nội nấu là sự kết nối của chúng với văn hoá Việt Nam.


Qua đó, bộ phim của Anne Hatte cho thấy hành trình tìm kiếm bản sắc của người Pháp gốc Việt không chỉ diễn ra trong lời nói hay nguồn gốc, mà còn trong những cử chỉ đời thường. Thông qua hương vị, lưu vong trở thành ký ức, sự tiếp nối và quá trình tái kiến tạo bản thân.


Ẩm thực như ký ức và câu chuyện đời người, trong Saveurs d’exil, mỗi món ăn đều kể một câu chuyện. Ví dụ, khi một nhân vật mô tả một công thức nấu ăn từ quê hương, quá trình chuẩn bị món ăn ngay lập tức gắn liền với một ký ức cụ thể: căn bếp của người mẹ, một buổi lễ cúng giỗ gia đình, hay một khoảng thời gian bình yên trước khi rời bỏ quê nhà.


Bộ phim thường quay rất chi tiết các công đoạn nấu nướng: rửa rau, giã gia vị, nếm món ăn. Những hình ảnh này đi kèm với những lời kể rời rạc, đôi khi bị ngắt quãng bởi cảm xúc. Điều đó cho thấy ký ức của người lưu vong không phải lúc nào cũng liền mạch; nó xuất hiện từng mảnh, giống như hương vị của một món ăn. Ký ức mình về Đà Lạt, tuổi thơ ngày xưa không có liền mạch, nó xuất hiện khi mình xem một tấm ảnh xưa của Đà Lạt, đưa mình về miền quá khứ của tuổi thơ, tuổi hồn nhiên không lo lắng về cuộc đời. Nay có nhiều người phục dựng AI các tấm ảnh xưa qua hình màu không đem lại cho mình cảm xúc như hình đen trắng.


Lưu vong được cảm nhận bằng cơ thể, Anne Hatte nhấn mạnh đến những cử động của cơ thể. Những người xuất hiện trong phim thường nấu ăn mà không cần công thức viết ra, họ nấu “theo cảm giác”. Điều này cho thấy tri thức ẩm thực được ghi nhớ trong cơ thể, được truyền lại qua sự quan sát và lặp lại.


Một ví dụ đáng chú ý là khi một nhân vật nói rằng họ không còn tìm được những nguyên liệu giống hệt ở quê nhà, nên phải thay thế bằng những thứ có sẵn tại nơi ở mới. Sự thích nghi này chính là hình ảnh ẩn dụ cho đời sống lưu vong: không thể tái tạo quá khứ một cách nguyên vẹn, nhưng có thể biến đổi nó để tiếp tục sống như trường hợp ăn phở với spaghetti ở Ý Đại Lợi khi xưa. Nay thì hàng quán á châu mọc đầy khắp nơi.


Sự truyền thừa cho các thế hệ sau. Bộ phim đặc biệt nhấn mạnh đến sự truyền thừa, nhất là cho con cái. Trong một số cảnh, các công thức nấu ăn được kể như thể dành cho một đứa trẻ vắng mặt hoặc cho thế hệ tương lai. Mình thấy con gái ở New York hay khoe làm bánh xèo vì thằng bồ ăn một lần ở nhà do đồng chí gái đổ đâm ra mê thức ăn Việt Nam.


Một chi tiết rất mạnh là khi một nhân vật cho biết con cái họ không còn nói được ngôn ngữ quê hương, nhưng vẫn nhớ và yêu thích các món ăn truyền thống. Khi đó, ẩm thực trở thành một ngôn ngữ thay thế, có khả năng truyền tải bản sắc ngay cả khi lời nói đã phai mờ.


Ẩm thực như một hình thức kháng cự thầm lặng. Dù bộ phim giữ giọng điệu nhẹ nhàng, nó vẫn mang một chiều kích chính trị. Việc tiếp tục nấu những món ăn quê hương trong hoàn cảnh lưu vong trở thành một hành động kháng cự, như thể không muốn bị đồng hoá hay đúng hơn muốn giữ văn hoá của cha ông. Đó là khởi điểm đầu tiên của chúng ta khi bắt đầu cuộc đời lưu vong. Chúng ta tìm kiếm nấu món ăn quê hương để tìm lại ký ức. Mình về Paris, việc đầu tiên là đi ăn couscous để tìm lại ký ức của thời sinh viên, ăn merguez vì rẻ như khi xưa Marcel Proust đi tìm lại những vết chân xưa thay vì khám phá các tiệm ăn nổi tiếng pháp để ăn thử như một du khách.


Chẳng hạn, việc duy trì ẩm thực truyền thống trong một xã hội tiếp nhận không thừa nhận hoặc không quan tâm đến chúng là một cách khẳng định bản thân:“Tôi sống ở đây, nhưng tôi không bị xóa bỏ.” Sự kháng cự này không ồn ào hay đối đầu, mà diễn ra hằng ngày, riêng tư và âm thầm, nhưng vô cùng mạnh mẽ. Dạo ở bên tây có quên một anh chàng người Việt, ở tây 20 năm nhưng không ăn đồ tây nhiều. Đi làm là anh chàng làm món hoành thánh đem vào sở để trưa ăn hay cơm Việt Nam.


 Saveurs d’exil cho thấy lưu vong không chỉ là mất mát. Thông qua ẩm thực, bộ phim hé lộ những hình thức tiếp nối, truyền thừa và kháng cự. Anne Hatte nhắc nhở chúng ta rằng, ngay cả khi xa quê hương, con người vẫn có thể gìn giữ bản sắc của mình, đôi khi chỉ bằng cách nấu một món ăn.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn