Những người bị quên lãng sau chiến tranh

 Những người bị quên lãng sau chiến tranh

Có lần về Việt Nam để đi viếng Sơn Đoòng , có anh bạn đón mình ở phi trường rồi chở ra Biên Hoà, viếng nghĩa trang quân đội Việt Nam Cộng Hoà. Thấy thương vì mộ bia ghi khắc tên người chết toàn là chết trẻ 19, 20 tuổi. Khiến mình nghĩ nếu không đi Tây thì chắc nay có thể nằm dưới một trong những cái mộ được hậu duệ Việt Nam Cộng Hoà trùng tu lại với sự giúp đỡ của dân biểu Hoa Kỳ nếu không thì Việt Cộng đã cày nát khu vực này để xây nhà cửa. Sau đó mình bay về Đồng Hới.


Hình này mình đoán trước 75 giữa Sàigòn hoa lệ


Binh sĩ Mỹ từ mặt trận về đa số vướng phải hậu chứng của chiến tranh nên nhiều người không hội nhập được vào đời sống dân sự được nên có nhiều người tự tử hay ra đường ở. Mình có gặp một ông ở bờ ở bụi với cái lều. Ông ta kể mỗi tháng chính phủ cho $1,000. Ông ta vào motel ở để tắm rữa, ăn uống rồi khi hết tiền lại khăn gói ra bờ ở. Năm 2022 có đến 6,407 cựu quân nhân Mỹ tự tử chết hay trung bình mỗi ngày là 17.6 người. Đây là số lượng khá cao. Truyền thông và cấp chỉ huy kêu khi đến xứ mấy nước mà Hoa Kỳ muốn xây dựng một nền dân chủ, nhân dân sẽ tặng hoa này nọ, xem lính mỹ như quân đội giải phóng họ ra khỏi chế độ độc tài nhưng trên thực tế nhìn họ như những tên cướp đất. Và chiến tranh du kích khởi đầu. Cứ thấy Iraq, Á Phủ Hãn, Yemen,….hay Việt Nam khi xưa. Chỉ có Nam Hàn, Nhật Bản và Đài Loan là thành công.


Có lẻ vì vậy, chính phủ Trump dẹp vụ dân chủ hoá các nước, cứ kệ xác họ, để dân chúng tự quyết định, cứ vào làm ăn, chả kêu nhân quyền cẩu quyền, mèo quyền gì cả khiến mấy ông vua ả rập hoan hỉ đầu tư vào Hoa Kỳ hay tặng chiếc máy bay sang chảnh.


Mình nói chuyện với ông chú họ ở quê, bị thương tại chiến trường miền Nam. Kêu khổ lắm, dễ sợ, cứ ám ảnh đến khi chú qua đời năm ngoái. Cho nên mình không hiểu tinh thần các thương phê bình Việt Nam Cộng Hoà ra sao sau 1975. Trước 75 đã te tua rồi, sau 75 thì chắc số phận của họ còn te tua hơn nhiều so với các gia đình đi cải tạo. 


Hôm trước, thấy tấm ảnh xưa khu vực Kim Khuê, mới nhớ đến vụ các thương phế binh, lính Việt Nam Cộng Hoà hy sinh một phần thân thể của họ trong chiến tranh. Họ là những người đã hy sinh nhiều cho cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của Việt Nam Cộng Hoà. Có chương trình trước 75, giúp đỡ họ trở về đời sống dân sự với khẩu hiệu: “người cày có ruộng, phế binh có nhà”

Sau này ra hải ngoại mình đọc tài liệu của người Mỹ thì khám phá ra Việt Cộng trước 75, chiếm đóng rất nhiều lãnh thổ miền nam mà họ gọi vùng giải phóng. Khi xưa, chả bao giờ thấy bản đồ của quân đội nên cứ nghĩ là Việt Cộng đóng quân bên Lào, Cam Bốt rồi chạy qua Việt Nam đánh rồi rút về. Hóa ra tình hình khác với những gì mình nghe khi xưa.


Như Quảng Trị nghe nói Thuỷ Quân Lục Chiến đã chiếm lại nhưng thực tế thì chỉ chiếm có một phần, cổ thành còn một phần vẫn bị Việt Cộng đánh chiếm. Trong khi đó đài phát thanh quân đội cứ cho hát Cờ bay cờ bay trên thành phố thân yêu vừa chiếm lại đêm qua bằng máu,… sau này đọc tài liệu thì mới biết là hai bên chết như rạ. Ngay Võ đại tướng còn rên là mỗi đêm cho thuyền đưa bộ đội qua sông để tái chiếm cho bằng được, chết hằng trăm người mỗi đêm. Mình đọc tài liệu Võ đại tướng kể chớ không phải bựa ra nhé. Thêm mấy người từng có mặt tại Quảng Trị như nhạc sĩ Tô Hải,…


Do đó chính phủ Việt Nam Cộng Hoà, ra luật “người cày có ruộng”, mua đất của các địa chủ rồi phân phát cho tá điền để giúp họ trung thành với chính phủ Việt Nam Cộng Hoà thay vì chạy theo mấy ông giải phóng. Chính phủ trả cho địa chủ 10% tiền mặt và 90% trái phiếu. Ông thầy dạy toán mình năm 11B kêu đằng nào cũng mất thôi cho nông dân họ trung thành với chế độ. Vấn đề là ban đêm Việt Cộng mò về kêu mẹ nuôi chiến sĩ nấu cơm. Có một bác kể là khi xưa, nữa đêm nó gõ cửa kêu nấu cho nó ăn, đói quá, nay nó làm bí thư gì đó trên xã, lên xin nó cái giấy đi Sàigòn, nó kêu để đó. Nay mà quốc gia có trở lại, nó núp ở trong quần tui, tui cũng đứng dậy rũ cho nó lòi ra để quốc gia bắt nó.


Theo tài liệu thì chương trình Người Cày Có Ruộng thành công hơn chương trình Cải Cách Điền Địa của đệ nhất Việt Nam Cộng Hoà. Trên Luatkhoa.com có viết về chương tình này, mình xin tải một phần như sau:


Theo các số liệu thống kê được đăng tải trên Far Eastern Survey, thuộc Viện nghiên cứu Hoa Kỳ về Thái Bình Dương, miền Nam Việt Nam vào thời điểm đó có dân số 4,5 triệu, nhưng chỉ có 255.000 người (5,6%) thật sự sở hữu đất đai. Tệ hơn nữa, có đến 184.000 người trong số đó chỉ có dưới 5 ha đất, dẫn đến thực tế là 71,7% số người có đất chỉ sở hữu khoảng 12,5% tổng diện tích đất canh tác. Phần lớn đất còn lại nằm trong tay một nhóm nhỏ.

Một nửa số người có đất không trực tiếp canh tác đất mà cho thuê lại để nhận tô, nghĩa là làm địa chủ. Số lượng đại địa chủ (những người sở hữu lên đến hơn 10 ha đất) và phần đất màu mỡ mà họ nắm giữ có thể khác nhau ở từng địa phương, song đều nằm ở mức đa số đáng quan ngại. Ví dụ, tại Chợ Lớn, đại địa chủ nắm 50,6% diện tích đất. Tại Bạc Liêu, đại địa chủ nắm đến trên 89,5% diện tích đất

Hình như chương trình cải cách điền địa này của đệ nhất cộng hoà nhằm để thu phục người di cư từ miền Bắc, sau khi trải nghiệm vụ đấu tố Cải Cách Ruộng Đất tại miền Bắc. Ông Trẻ, bố mình gọi là Bác Trẻ vì hơn bố mình đâu mấy tuổi, di cư vào Nam, được kêu gọi trở về đạo thì được phát nhà cửa, đất đai nhưng ông ta cương quyết không trở về đạo. Trong khi đó ông bà nội mình là nạn nhân của chương trình Cải Cách Ruộng Đất ở ngoài Bắc, được đốc lên thành Phú Nông, cường hào ác bá suýt bị giết. Họ cấp phát đất cho người Bắc di cư như vùng hố Nai,… có chị bạn gốc Đà Lạt, Bắc kỳ di cư, không hiểu sao ông bố có cơ sở làm ăn tại Đà Lạt, lại có vườn ở miền Tây. Nên mình đoán là khi di cư vào Nam, được chính phủ Ngô Đình Diệm cấp đất. Sau đó nghe bạn bè rủ rê lên Đà Lạt làm ăn. Trước tháng 3, 75, có người em họ từ bắc vào nhà ban đêm kêu đừng đi, quân đội nhân dân sắp tiếp quản Đà Lạt. Mình đoán là ông bố khi xưa có đóng góp cho Việt Cộng nên nằm vùng mới biết để đưa em họ đến chào. Sau 75, Việt Cộng đánh tư sản nên bỏ chạy, đưa cả gia đình xuống Nhà Trang vượt biển, một sống một còn.


Ngược lại chương trình Người Cày Có Ruộng dưới thời đệ nhị Việt Nam Cộng Hoà thì theo thống kê ngoại quốc thì được xem là rất thành công. Xin trích dẫn bài của Luatkhoa.com nói về chính sách Người Cày CÓ Ruộng của nền đệ nhị Việt Nam Cộng Hoà. 


Chương trình “Người cày có ruộng” do Nguyễn Văn Thiệu và các nhà kinh tế dưới quyền thiết kế được các nhà khoa học quốc tế thừa nhận một thành công lớn. Mục tiêu chính của nó là (1) xóa bỏ hoàn toàn chế độ sản xuất nông nghiệp tá điền, (2) bảo vệ quyền tư hữu đất đai, (3) xây dựng kinh tế quốc gia dựa trên mô hình sở hữu của các nông trang vừa và nhỏ.

Có hai lý do chủ yếu dẫn đến thành công của chương trình. Một là, chương trình thật sự mong muốn cải tổ hệ thống quyền sở hữu đất đai tại miền Nam Việt Nam. Sau khi đặt ra hạn mức sở hữu của các “cựu” địa chủ, lượng đất thu hồi (có bồi thường thông qua tiền mặt hoặc trái phiếu chính phủ) sẽ được giao lại cho nông dân hoàn toàn miễn phí, thay vì phải mua lại theo thời hạn như chương trình của Ngô Đình Diệm. Trong đó, tá điền đang lĩnh canh sẽ nhận được ưu đãi về thủ tục và ưu tiên chờ so với những người khác.

Những thay đổi này khiến cho lượng đất được giao và được canh tác trên thực tế tăng theo cấp số nhân, theo nghiên cứu của giáo sư Roy L. Prosterman thuộc Đại học Washington. Giáo sư Prosterman cũng là người sáng lập của Viện Nghiên cứu Phát triển Nông thôn rất nổi tiếng.

Thống kê về kết quả tái phân bổ đất đai từ năm 1968-1969 tại miền Nam Việt Nam. Nguồn: nghiên cứu “Land-to-the-Tiller in South Vietnam: The Tables Turn” của Roy L. Prosterman.

Theo bảng thống kê, chỉ trong vòng hai năm ngắn ngủi ngay sau Mậu Thân, có đến 240.000 mẫu đất (tức lên đến gần 100.000 ha đất) được phân phối lại cho người cày, tá điền và các nông dân ít ruộng đất.

Lý do thành công thứ hai là năng lực, sự quyết đoán và bền bỉ của bản thân ông Nguyễn Văn Thiệu đối với chương trình. Cũng trong nghiên cứu của Giáo sư Prosterman ở trên, Thiệu được ghi nhận là phải đối mặt với hàng loạt các áp lực liên quan đến các nhóm lợi ích thuộc phe điền chủ và đại điền chủ, đồng thời áp lực từ nhóm đối lập vốn không muốn ông này nhận được quá nhiều sự ủng hộ từ quần chúng.

Ông là người đầu tiên can thiệp vào quá trình “tái thu tô” của giới địa chủ chạy trốn trước và trong năm 1968 đối với những vùng vừa bình ổn (những khu vực vừa đánh bật Việt Cộng, hay Mặt trận Giải phóng Dân tộc miền Nam Việt Nam). Từ đó, chính quyền Thiệu chấp nhận tạm thời quyền sinh sống và làm ăn của rất nhiều nông dân đang canh tác, chuẩn bị cho một cuộc cải cách sâu rộng.

Chương trình Người cày có ruộng cũng chính thức giới hạn hạn mức điền địa cho những người “trực tiếp canh tác” là 15 ha tại Nam phần và 5 ha tại Trung phần. Ông cũng loại trừ khái niệm và quyền giữ “đất hương quả”, vốn là một lỗ hổng pháp lý trong luật pháp thời Ngô Đình Diệm, để bảo đảm quá trình tái phân phối ruộng đất không bị ảnh hưởng. Hàng loạt các lãnh đạo và bộ trưởng liên quan đến việc soạn thảo dự thảo Luật Người cày có ruộng cũng bị sa thải khi phát hiện ra rằng họ cố tình cài cắm nhiều điều khoản để bảo vệ quyền lợi của các nhóm lợi ích.

Cho đến năm 1973, cùng lúc với thời điểm Hoa Kỳ rút quân lực chính quy khỏi Việt Nam, 2,7 triệu mẫu đất đã được phân phối cho hơn 800.000 hộ tá điền. Chế độ sản xuất nông nghiệp tá điền hoàn toàn được loại bỏ.

Cho đến thời điểm năm 1975, chỉ tính tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, 70% dân số nông thôn đã thuộc nhóm thu nhập trung bình, sở hữu hơn 80% đất và hơn 60% nông cụ (bao gồm cả các loại nông cụ hiện đại như máy cày, máy tuốt lúa). Đây chính là cái gai “tư hữu – tư bản” mà chính quyền tiếp quản và chính quyền của nhà nước cộng sản thống nhất không thể nhổ tận gốc, dẫn đến sự thất bại nghiêm trọng của mô hình sản xuất tập thể được áp đặt ngay sau đó.

Người cày có ruộng, vì vậy, không thể được xem là một thất bại chính sách. Một trong những luận điểm phổ biến nhất để phản bác tính chính danh của chính quyền VNCH là vai trò và sự thất bại của nó trong việc cải thiện bất bình đẳng xã hội, mà quan trọng nhất là bất bình đẳng về đất đai.

Luận điểm này được chính truyền thông phương Tây đề xuất, khẳng định và tuyên truyền một cách mạnh mẽ. Theo đó, cả Hoa Kỳ lẫn chính quyền Sài Gòn đều thiếu hiểu biết và cố chấp trong việc kiểm soát và giải quyết triệt để nhu cầu cùng quyền lợi chính đáng của nông dân và người lao động. Đó là lý do chủ yếu khiến các nhóm dân cư, mà đặc biệt là dân sống tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, xem trọng vai trò của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam (hay gọi ngắn là Việt Cộng).

Lập luận này được phân tích chi tiết trong quyển “The Economics of Insurgency in the Mekong Delta of Vietnam” của tác giả Robert L. Sansom. Nó đi xa đến mức khẳng định rằng Việt Cộng là một trong những lực lượng giúp mang đến và duy trì những thay đổi kinh tế, xã hội tích cực cho vùng đồng bằng này, đặc biệt tại những vùng mà chính quyền VNCH không thể kiểm soát.

Tờ bướm của chính phủ Việt Nam Cộng hòa quảng bá chương trình “Người cày có ruộng”. Ảnh: Viet Stamp.

Tuy nhiên, cho dù chấp nhận những quan điểm và luận cứ trên, rằng sự ủng hộ của giới nông dân, tá điền, những người cùng khổ dành cho phe Cộng sản là căn nguyên cho sự sụp đổ của VNCH, ta cũng cần thẳng thắn thừa nhận rằng có điều bất thường về thành quả nông nghiệp và đất đai của vùng đất trù phú này ngay sau 1975.

Sống trong môi trường chính trị cộng sản mà nhiều người cho rằng nông dân miền Nam luôn hy vọng và ủng hộ, vì sao năng suất sản xuất lúa nước giảm lần lượt 13,2% và đến 19,7% trong các năm 1977 và 1978?

Theo thống kê chính thức từ nghiên cứu do Giáo sư Võ Tòng Xuân, một trong những cây đa của ngành nông nghiệp Việt Nam đương đại, kết hợp với Prabhu L. Pingali từ Viện Nghiên cứu lúa gạo Quốc tế thực hiện, ngay sau khi thống nhất đất nước, tổng sản lượng lúa giảm đến 7 triệu tấn, và giảm dần đều mỗi năm 6 triệu tấn trong một thời gian đáng báo động.

Không chỉ vậy, những cải cách về đất đai và kinh tế lao động tập thể mà Hà Nội áp dụng tại khu vực này được ghi nhận là chỉ làm căng thẳng hơn tình trạng bất bình đẳng về quyền và lợi ích, làm bùng nổ tranh cãi và bất ổn chính trị.

Điểm thú vị ở đây là, nếu chúng ta cáo buộc chính quyền miền Nam Việt Nam đã không bảo đảm được đời sống, quyền tiếp cận đất đai và bảo vệ bình đẳng xã hội dành cho nông dân, tá điền; vì sao những người này trong giai đoạn sau 1975 lại phản đối một cơ chế đất tập thể rõ ràng bình đẳng hơn và đại đồng hơn?

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa phát hành vé số đặc biệt, xổ ngày 30/4/1970, nhân chương trình “Người cày có ruộng”. Ảnh: Viet Stamp.

Cụ thể, từ năm 1970 cho đến năm 1973, cùng giai đoạn Hoa Kỳ rút quân lực chính quy khỏi Việt Nam, 2,7 triệu mẫu đất đã được phân phối cho hơn 800.000 hộ tá điền. Chế độ sản xuất nông nghiệp tá điền hoàn toàn được loại bỏ. Thiệu được khen ngợi là chính thức xây dựng thành công nền nông nghiệp trung lưu đồng thời bảo vệ sở hữu tư nhân.

Ở Đồng bằng sông Cửu Long, cứ điểm của các đại điền chủ và trùm đất đai toàn Việt Nam suốt hơn mấy thế kỷ, 70% dân số nông thôn đã thuộc nhóm thu nhập trung bình, sở hữu hơn 80% đất và hơn 60% nông cụ.

Không chỉ vậy, tiêu chuẩn về cái gọi là tá điền, trung nông, phú nông cũng hoàn toàn vượt trội so với cái mà chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ở miền Bắc xây dựng.

Ví dụ, theo phân tích của Minh‐Tam T. Bui và Arayah Preechametta, nếu chương trình “Người cày có ruộng” xác định người sở hữu từ 1 đến 3 ha đất là “bần cố nông”, cũng những người này sẽ bị cáo buộc là “địa chủ trung lưu” trong hệ thống chính trị sau 1975.

Bảng so sánh sự khác biệt trong cách thức phân loại các chủ đất giữa hai hệ thống, “Người cày có ruộng” của Việt Nam Cộng hòa và hệ thống chính trị sau 1975. Nguồn: Nghiên cứu “Land Inequality or Productivity: What Mattered in Southern Vietnam after 1975?”.

Như vậy, có thể khẳng định rằng trước 1975, chế độ tá điền đã bị bãi bỏ, công bình đất đai đã được thiết lập tại miền Nam Việt Nam, và người nông dân cũng đã trải nghiệm niềm hạnh phúc của “Người cày có ruộng” trong ít nhất 5 năm.

Nghiên cứu chi tiết của Charles Stuart Callison, một trong số ít các tác giả phương Tây gắn bó với chính sách cải cách đất đai của VNCH, khẳng định rằng sự ủng hộ của các nhóm dân cư như nông dân, tá điền và người sinh sống tại vùng nông thôn miền Nam Việt Nam dành cho phe nổi dậy Việt Cộng đã giảm rõ rệt.

Ông chỉ ra sức mạnh quân sự cũng như nền tảng ủng hộ quần chúng của Việt Cộng đã không còn như xưa, đặc biệt sau trận Tết Mậu Thân 1968. Nguyễn Văn Thiệu ở một mức độ nào đó đã chiến thắng cuộc chiến du kích và nổi dậy với Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.

Sự kiện Sài Gòn thất thủ, vì vậy, có nhiều cơ sở để được xem là một thất bại quân sự thuần túy của một đội quân bị tiêu giảm nhiều nguồn tài lực hỗ trợ so với trước đó, cùng với những sai lầm chiến thuật khác; thay vì là một thất bại về dân vận và nền tảng ủng hộ đại chúng như nhiều tài liệu và nhà quan sát phân tích.

Tương tự cũng giúp các thương phế binh trở về dân sự qua các chương trình dạy nghề, cũng như cấp dưỡng lương bổng để tránh nổi loạn, cũng như không làm xiêu lòng các quân nhân tại ngủ nếu thấy chính phủ không đối xử tốt với đồng đội của mình bị tàn phế. Khó mà hăng say chiến đấu.

Có dạo mình thấy thương phế binh cắm dùi, chiếm đất của thiên hạ để xây nhà cho họ tại Đà Lạt. Sau này mới hiểu là chính phủ Việt Nam Cộng Hoà có chương trình chuyển các thương phế bình lên Đà Lạt và nhiều nơi khác để giúp họ trở về đời sống dân sự. Đà Lạt có làng thương phế binh nếu mình không lầm nằm gần viện đại học Đà Lạt. Hình như bố của ông Thi Đà Lạt, khi xưa làm giám đốc làng thương phế binh thì phải. Đà Lạt ít người nên thương phế binh dạo đó gốc Đà Lạt chắc ít nhưng chính phủ chuyển về Đà Lạt nhiều nên bắt đầu có nạn xây nhà cửa không giấy phép. Cũng như không theo bản vẽ thiết lập của người Pháp để lại.


Người ta nói lính trinh sát 302 khi xưa là kiêu binh nhưng mình nghĩ mấy ông thương phế binh mới chính là kiêu binh, thí mạng cùi thì có ai dám lộn xộn. Cò Giao, cò Mạnh hay cò Đào cũng bỏ chạy tá lả khi gặp mấy ông này. Nay đọc tài liệu xưa mới hiểu có chương trình đưa thương phế binh lên Đà Lạt, tương đối an ninh chớ đưa về vùng xôi đậu thì tối Việt Cộng ra thịt mấy ông này vì có nợ máu với quân đội nhân dân.


Các vụ thương phế binh xuống đường ở Sàigòn, mình đoán là do Việt Cộng giật dây. Một phần do hoàn cảnh khi trở về đời sống dân sự, thấy tham nhũng này nọ trong quân đội, trong hành chánh nên nổi điên, một phần nằm vùng châm mồi lửa thêm. Ngoài Bắc thì nghe kể, chả có ai cụt tay cụt chân hát bài ngày trở về anh bước lê trên quảng đường đê cả.

Chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) coi việc chăm sóc thương phế binh (TPB), những cựu quân nhân bị thương tật do chiến tranh là một phần quan trọng của chính sách xã hội và quân sự, nhằm tri ân sự hy sinh, ổn định xã hội và khuyến khích tinh thần binh sĩ. Mình có anh bạn học khi xưa, hơn mình một tuổi bị đôn quân kể, vào chỗ nhập ngủ, đi khám sức khoẻ, tình cờ thấy một bạn học khi xưa đi Thuỷ Quân Lục Chiến bị thương nên đầu óc bị dao động, không đi tác chiến, ở ngay phi trường Tân Sơn Nhất để mỗi ngày đi rà mìn Việt Cộng chôn cho lính mình bị thương chơi. Đứt tay đứt chân lại khiến dân quân miền Nam chới với.


Các chương trình này được xây dựng dựa trên Hiến pháp của đệ nhất cộng hoà năm 1956 và các luật sau đó, như Luật Thương Binh năm 1964, với ngân sách riêng từ Bộ Quốc phòng và Bộ Xã hội Lao động. Ước tính, đến tháng 4 năm 1975, có khoảng 20.000–30.000 TPB VNCH, và chính phủ hỗ trợ họ qua bốn trụ cột chính: trợ cấp tài chính, y tế, tái định cư và việc làm. Những nỗ lực này được đánh giá cao bởi các tổ chức quốc tế như USAID và Liên Hiệp Quốc lúc bấy giờ, giúp giảm gánh nặng xã hội và ngăn chặn bất ổn.


Đậu tú tài về Sàigòn, ở nhà bà Dì ngay cây xăng 113A đường Bà Huyện Thanh Quan, đối diện có trung tâm chỉnh hình cho các thương binh nên thấy họ ra vào nhiều, thấy thương nên mình chả muốn dính dáng vào chiến tranh nên xin du học cho khoẻ đời nông dân.

Sau Hiệp định Genève 1954, VNCH đối mặt với chiến tranh du kích do Hà Nội chủ trương cài đặt lại cán bộ của họ để tiếp tục cuộc chiến và leo thang từ 1965 khi quân đội Mỹ, nghĩ là chỉ vài tháng sẽ dẹp xong mặt trận giải phóng miền Nam như ông thần Puchin nghĩ là trong vòng vài ngày là dứt điểm Ukraina. Chính phủ Ngô Đình Diệm (1955–1963) khởi xướng các chương trình cải cách điền địa ban đầu, mở rộng dưới thời chính phủ Nguyễn Văn Thiệu (1967–1975) với sự hỗ trợ Mỹ. 


Mục tiêu là “người cày có ruộng, phế binh có nhà”, khẩu hiệu nhấn mạnh công bằng xã hội. Xem phim thời sự khi đi xem xi-nê ở rạp Hoà Bình hay Ngọc lan hay chiếu mấy vụ này. Thấy ông Thiệu chụp hình với nông dân có đất và thương phế binh có nhà này nọ. Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng VNCH, đến 1974, hơn 80% TPB được hỗ trợ, với quỹ hàng năm khoảng 10–15% ngân sách xã hội (tương đương hàng triệu USD thời đó, nhờ viện trợ Mỹ).

Mình nhớ anh Ngữ, con đầu của ông bà Ấm Thảo xóm trên đường Thi Sách, kể trận chiếm lại HẢi LĂng, anh ta bị Việt Cộng bắn bay mất một con mắt nên được giải ngủ. Nghe kể lúc tái chiếm lại Quảng Trị, lính Việt Nam Cộng Hoà và bộ đội bác hồ chết như rạ. Hai bên đánh thuê cho các chủ nghĩa tư bản và cộng sản. Mình có ông cậu ruột, quan sát viên trên máy bay bà già để xem Việt Cộng đóng quân ở đâu rồi bắn đạn khói để khu trực cơ bay lại thả bom. Có lần, Việt Cộng ở dưới bắn lên, bị hư con mắt, giải ngủ. Sau 75, Việt Cộng vào kêu anh là thành phần ác ôn, chỉ điểm cho giặc lái dội bom bộ đội bác hồ thế là đi tù mất 6 năm. Năm Mậu Thân, mình có chứng kiến vụ máy bay Bà Già cất cánh từ phi trường Cam Ly, bay vòng vòng Số 4, rồi khi đến vùng Mả Thánh, nghe cái tạch một cái thì sau đó thấy khói bốc lên ở Số 4, vài phút sau khu trục cơ 2 chiếc bay lại thả bom Nâpalm, thấy khói lửa bốc lên rồi nghe cái uỳnh. Kinh


Chính phủ VNCH thành lập hệ thống toàn diện, phân loại TPB theo mức độ tàn tật (nhẹ: 10–30%, nặng: trên 50%, đặc biệt: mất chi hoặc mù). Các chương trình được Nha Thương Binh quản lý (sau là Cục Thương Binh) thuộc Bộ Quốc phòng, phối hợp với Hội Hồng Thập Tự và các tổ chức tôn giáo.


•  Trợ cấp hàng tháng: TPB nhận tiền mặt dựa trên mức độ thương tật, từ 5.000–20.000 piastres/tháng (khoảng 10–40 USD thời giá), cộng thêm phụ cấp gia đình (vợ/con). TPB nặng được miễn thuế và ưu tiên giáo dục con cái.

•  Quỹ Hưu Trí Đặc Biệt: TPB trên 50% tàn tật được hưu trí sớm, với mức 70–100% lương quân sự cuối cùng. Năm 1972, hơn 15.000 TPB nhận trợ cấp định kỳ, giúp họ tránh nghèo đói.


•  Bệnh viện chuyên ngành: Xây dựng các trung tâm như Bệnh viện Grall (Sài Gòn) và các chi nhánh ở Đà Nẵng, Huế, Cần Thơ, chuyên phục hồi chi giả, chỉnh hình và tâm lý. Hợp tác với Mỹ cung cấp thiết bị (chân tay nhân tạo).

•  Chương trình phục hồi: Miễn phí khám chữa, thuốc men và liệu pháp (vật lý trị liệu). Đến 1970, hơn 5.000 TPB được lắp chi giả.

•  Hỗ trợ tâm thần: Các chương trình chống trầm cảm sau chấn thương, kết hợp với cố vấn Mỹ. Vụ này ở Hoa Kỳ, đa số các cựu chiến binh đều dính phải nên mình không hiểu ở Việt Nam có bị hay không. Bộ đội bác hồ chắc không ít thì nhiều chắc vẫn bị. Mình có ông chú họ, ở quê bị thương ở chiến trườn ghiền nam, kể là sợ lắm cháu ơi. Sống sót về quê được là may rồi.


•  Chương trình “Phế Binh Có Nhà”: Phân phối đất đai và nhà ở tại các khu tái định cư như Vùng 4 Chiến Thuật (miền Tây), Đà Lạt và ngoại ô Sài Gòn. Mình đoán lý do Đà Lạt là vì đa số các vùng khác đều bị Việt Cộng chiếm đóng, vùng xôi đậu, nên họ chỉ cho TPB về những nơi an toàn, gần thành phố.


Mỗi TPB nặng nhận 1–2 hecta đất canh tác, hỗ trợ giống cây và vốn vay. Liên kết với luật“Người Cày Có Ruộng”: TPB được ưu tiên trong cải cách ruộng đất (Luật 1970), nhận ruộng từ địa chủ, giúp hàng nghìn gia đình ổn định.

•  Kết quả: Đến 1974, khoảng 10.000 TPB có nhà riêng, giảm tình trạng vô gia cư.


TPB còn nhúc nhích, sử dụng chân tay được thì phải dạy họ nghề để làm ăn, tự nuôi thân và vợ con. Các trung tâm dạy nghề miễn phí (nông nghiệp, cơ khí, may mặc) tại Sài Gòn và các tỉnh. Hợp tác với ILO (Tổ chức Lao động Quốc tế) cung cấp học bổng.


Ở xóm Cò Đào, có hai ông thần Sơn và Tánh , thợ may, không thấy đi lính. Không biết họ là thương phế bình, hay lính kiểng, để đại đội trưởng lãnh lương của họ, rồi ở nhà may áo quần cho dân choai choai Đà Lạt. Mình có may một bộ đồ vía khi đi Tây bận được một lần là dẹp luôn vì quê hơn nông dân Tây.

•  Ưu tiên tuyển dụng: TPB được quota 10–20% trong công chức nhà nước và công ty, cộng thêm ưu đãi thuế cho chủ sử dụng lao động. Đa số thanh niên đi lính hết nên thiếu nhân công, thợ thuyền.

•  Hỗ trợ kinh doanh: Vay vốn lãi suất thấp qua Ngân hàng Phát triển Nông thôn. Dạo ấy cứ nghe đài phát thanh nói về ngân hàng phát triển nông thôn mà mấy ông kẹ về ban đêm thì bù trớt.


Các chương trình này không chỉ cứu trợ mà còn củng cố lòng trung thành của quân đội, góp phần vào sự ổn định xã hội miền Nam. Theo đánh giá của USAID (1973), VNCH dẫn đầu Đông Nam Á về chăm sóc TPB, với tỷ lệ tái hòa nhập xã hội lên 70%. Tuy nhiên, chiến tranh leo thang làm ngân sách eo hẹp, và sau 1975, nhiều TPB rơi vào hoàn cảnh khó khăn do thiếu hỗ trợ từ chính quyền mới. Có người bị đưa đi cải tạo như ông cậu mình mất 6 năm. Hy sinh đời bố củng cố đời con nên sau này được đi Hoa Kỳ theo diện H.O.


Lần đầu tiên về quê, ngủ lại đêm nhà thờ ông bà, sáng 5 giờ sáng thì nghe cái loa phường đọc tên các người trong làng đã hy sinh tại mặt trận Điện Biên Phủ, được chính phủ cấp tiền cho gia đình của liệt sĩ. Có ông chú bị thương tại chiến trường Nam Bộ, nghe nói được nhà nước hổ trợ khi về quê. Nhưng mình đoán các thương binh của Việt Nam Cộng Hoà thì chắc chả được gì trong tinh thần hoà giải hoà hợp dân tộc. Chú ruột mình hy sinh tại chiến trường miền Nam nên được liệt kê là liệt sĩ nên vợ chú được nhà nước cấp đất đai, xây nhà tình nghĩa. Mẹ mình có cho tiền thím, xây nhà. Nghe nói đã đi lấy chồng khác.


Hàng năm ở quận Cam hay trên San Jose, mình thấy cộng đồng người Việt tổ chức đại nhạc hội để gây quỹ cho thương phế binh tại Việt Nam. Nghe nói sau 75, thành phần này te tua, không được hổ trợ gì cả thêm có nợ máu với bộ đội nên nghe nói cuộc đời họ te tua lắm. Ăn mày, bán nhang, bán vé số,…


Có anh kia quen trên mạng, sinh sống tại Việt Nam, thương phế binh, kêu là anh ta có nhận được tiền của người Mỹ gốc Việt tại Hoa Kỳ gửi về nhưng mình đoán chỉ tượng trưng thôi. Giúp đỡ tinh thần của họ lên cao một tí để sống còn vì họ mới chính là người thua cuộc hoàn toàn trong cuộc chiến. Người nào may mắn, được đi theo diện H.O. Hay đoàn tụ thì có thể hy sinh đời bố củng cố đời con còn ở lại Việt Nam thì đời con đời cháu cũng khó ngóc đầu lên. 


Những chương trình giúp thương phế binh tại Việt Nam là minh chứng cho tinh thần nhân đạo, nhắc nhở rằng hy sinh vì đất nước xứng đáng được tri ân muôn đời dù bên thua cuộc hay thắng cuộc. Họ chỉ vì sinh ra tại miền nam hay trên vỹ tuyến 17 rồi được đào tạo và gia nhập quân đội hay bộ đội rồi bắn nhau như trường hợp của cuốn phim “Ngày Giỗ”. Hai anh em sinh ra tại Sàigòn. Ông bố đấu tranh chống chính quyền Sàigòn, rồi bị cảnh sát dí nên trốn vào bưng, đem theo người em. Người anh thì bị bệnh nên bà mẹ không cho đi theo. Lớn lên, người anh đi lính Cộng Hoà, còn người em vào bưng thì đi lính cách mạng.


Một hôm trên chiến trường, người anh bắn chết một cán binh Việt Cộng thì khám phá ra là em mình. Sau 75, người anh đi tu để sám hối một đời oan nghiệt. Ai buồn đời thì xem đường dẫn phim ngắn “Ngày Giỗ” của đạo diễn Hàm Trần.


https://youtu.be/0CJE1p7eS9c?si=48fO4lyk04uugiUr


Mình có 2 ông chú ruột, 1 bị Tây bắn chết, 1 bị B52 của Mỹ dập chết trên đường vào Nam còn ông cụ mình vào nam trước 1954 vì không muốn tiếp tục làm nông dân nên du kích ban đêm bao vây nhà để giết nhưng may mắn, nhảy qua hàng rào nhà hàng xóm chạy ra Hà Nội rồi vào Nam. 40 năm sau mới trở về quê gặp lại bà nội. Sau 75, bị cải tạo 15 năm. Còn chú họ hy sinh hay bị thương tại chiến trường miền nam thì đếm không hết. Bên ngoại thì đi lính miền nam, bị thương, chết cũng nhiều. Có ông cậu ruột đi tập kết, làm sĩ quan tuỳ viên cho Võ Đại Tướng, sau 75 vào nam, kêu các gia  đình họ hàng đi vượt biển hết đi, sống không nổi đâu. Nay con của ông cậu cũng ở Hoa Kỳ hết. Cho thấy chiến tranh chỉ toàn là chết chóc, chả giúp được gì. Nên chả có gì đáng tự hào. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Thương phế binh cắm dùi

 Thương phế binh cắm dùi


Hôm nay đổi giờ mùa đông nên dư một 1 tiếng, mình mò mò mấy tấm ảnh Việt Nam cũ, đúng hơn Đà Lạt xưa. Có một tấm ảnh khiến mình thấy quen quen nhưng không biết là đâu nên hỏi thiên hạ trên mạng. Mấy người quen gốc Đà Lạt cho hay là khu vực Kim Khuê, do mấy thương phế binh khi xưa cắm dùi. Chỗ này là ngay nhà thờ Con Gà đi xuống cầu Ông Đạo. Giáp với đường Phạm Ngũ Lão.

Khu Kim KHuê, để mình tìm xem có hình ảnh khi xưa hơn để định vị cho rõ vì hình này khiến mình chới với.

Có người báo cho mình biết:

Ngay gốc ngo này có cái bảng quảng cáo nhỏ rượu bổ kim khuê ,khi người cày có ruộng ,phế binh có nhà thì lính và cảnh sát chiếm khu này nên gọi là thung lũng kim khuê .

Theo lời giải thích, từ bùng binh nhà thờ Con Gà chạy xuống đường Lê đại Hành, rẽ trái qua cầu Ông Đạo, thì khu vực xây lổn ngổn bên tay phải là khu vực họ gọi Kim KHuê.
Tấm này thì cây che hơi nhiều hay khi chưa chặt hết cây.
Mình tìm ra được tấm ảnh khi xưa chỗ thung lũng Kim Khuê. Con đường đất khi xưa sau này là đường Lê Đại HÀnh, chạy từ bùng binh nhà thờ Con Gà, qua cầu Ông đạo lên đến khu Hoà BÌnh

Theo mình hiểu khi quân đội đồng minh sang Việt Nam, tham chiến thì chiến tranh leo thang khiến hàng nghìn binh sĩ miền Nam bị thương nặng và tàn tật, được giải ngủ. Chính quyền VNCH có chương trình hỗ trợ tái định cư, như “Người cày có ruộng” mở rộng cho TPB, giúp họ có nhà ở các vùng như Đà Lạt, Sài Gòn hay miền Tây.


Nếu mình không lầm thì Đà Lạt có một làng thương phế binh, gần viện đại học Đà Lạt. Từ từ thiên hạ bỏ làng quê chạy vào Đà Lạt nhiều nhất là sau Mậu Thân vì chiến lược của quân đội Mỹ, lùa dân quê vào tỉnh thành để họ không nuôi bộ đội. Tạo ra những hình ảnh đau thương, sau này ra hải ngoại mới xem mấy hình ảnh lính Mỹ đốt nhà tranh của dân quê rồi đưa họ lên xe nhà binh chở ra các thành phố. Cho vào các trại tạm cư…. Dạo đó đọc báo, nghe nói thương phế binh ở Sàigòn cũng xuống đường biểu tình đủ trò.


Tại Đà Lạt, sau 1965, khi chiến sự tăng cao, dân tị nạn và TPB đổ về, họ chiếm đất ở khu Cường Để, Am Sohier, đường Thi Sách, biến những khu rừng thông thơ mộng thành “làng lụp xụp” với tiếng búa cóc cóc vang vọng. Mình nhớ đi học Grand Lycee có chạy ngang khu vực Cường Để, Phạm Ngũ Lão, cầu Ông Đạo thì thấy nhà cửa cũng mọc lên khắp nơi nhưng lần đầu tiên mới nghe tên Kim KHuê, thuốc bổ . Chỗ am Sohier cũng mọc lên đầy, ông Phác cũng ra đây làm nhà luôn tiện trù trì am Cô Bảy luôn. Hình như có lần cháu ngoại hay cháu nội cua rông Phác có liên lạc với mình.


Nhớ thời thượng phế binh cắm dùi, nghe báo chí nói đủ trò, tại Đà Lạt thì mình nhớ đường Hai Bà Trưng, có miếng đất trống của ai, họ cho máy cày đến ủi để làm nhà nên đám trẻ trong xóm địa dư cũng như mình bò lại đây đá banh. Rồi một ngày đẹp trời, có mấy người tự xưng là thương phế binh đến làm nhà, khắp nơi cứ nghe tiếng búa Đinh đánh lọc cọc. Họ tranh thủ làm nhà cho nhanh sợ chủ đất đem xe máy cày lại. Trên đường Ngô Quyền, cũng có mấy vạch đất mà khi xưa, dân số 4 chơi bài CHòi, cũng bị thiên hạ cắm dùi xây nhà bú xua la mua. Phải công nhận thời đó là thời địa ốc Đà Lạt phát triển, nhà cửa mọc lên búa xua la mua, vô trật tự, không theo bản thiết kế thành phố của người Pháp nên từ đó Đà Lạt được phát triển theo kiểu 100 nhà đua tiếng búa nên ngày nay, chả có trật tự gì cả khiến dân tình đúng hơn là người thế hệ mình trở về sau muốn trở lại Đà Lạt trước Mậu Thân.

Hình này thì phía cầu Ông đạo, có thấy hàng cây thông sau họ chặt để làm nhà.
Nếu xem tấm không ảnh này sẽ thấy đường Cường để, lúc đầu chỉ có nhà dựa vào đồi sườn đồi Trương Vĩnh Ký và Thủ khoa Huân, còn phía cạnh suối Cam Ly thì chỉ có hoa Quỳ dại, đến khi mấy ông thần thương phế binh và bạn bè, nhảy vào xây nhà cửa rồi mở quán buôn bán khiến tấp nập. Nếu để ý đầu đường Cường Để, có mấy căn nhà mới xây sau thời ông Diệm, góc Lê Quý Đôn có phòng mạch bác sĩ Thọ, bên cạnh có căn nhà, chuyên bán bánh croissant bơ, nhớ một cô bắc kỳ hay đứng bán. Tới đây thơm lựng mùi croissant.

Mình đi đóng thùng gỗ đựng rau bán cho lính Mỹ ở nhà ông Lào dưới xóm Địa dư, cứ nghe tiếng búa, rồi cách đó độ 1 trăm thước thì mấy ông thương phê bình, mua tôn, mua ván xây dựng cái nhà cho vợ con ở. Lúc đầu cảnh sát tới kêu dẹp này nọ nhưng thương phế binh liều mạng rồi. Có người dám cầm lựu đạn kêu bước qua xác tao.


Hình này cho thấy một phần của Suối Cam Ly chảy dọc theo đường Phạm Ngũ LÃo, quẹo trái vòng đến ngã 3, Lê Đại HÀnh chạy lên nhà thờ Con Gà, bên phải có một phần của khu vực Kim Khuê, bên phải trên ảnh. khu vực Kim KHuê. Bên tay phải có đường Phạm Ngũ Lão, từ đường Bà Triệu, khởi đầu từ ấp Ánh Sáng, chạy qua cầu Bá Hộ CHúc.

Ảnh này rất xưa, thấy hồ nhỏ của khu vực người bản địa ở. Con đường mòn sau này trở thành Lê Đại Hành, xem như khu vực Kim Khuê nằm ở đây

Mấy ông thương phế binh khởi đầu rồi dân tình bắt chước, chả có nợ máu gì với nhân dân, cũng lao đầu vào chiếm đất công hay tư, cắm dùi xây nhà cho họ. Lúc đầu làm bằng tôn, tường bằng cây thông cưa, còn cả vỏ cây thông. Sau đó thấy êm, chính quyền không đá động gì thì vài năm sau xây gạch như nhà anh Bình, hàng xóm của mình. Mình nhớ Lê Nam Sơn, học chung khi xưa, nhà ở đâu xóm cây xăng Ngọc Hiệp, bố hắn làm thợ may, cũng chạy đến khu đất này, cắm dùi xây căn nhà gỗ. Nghe nói hắn về Bảo Lộc mở tiệm mì nổi tiếng. Hình như trên đường Calmette, gần nhà thương thiên hạ cũng cắm dùi nhiều lắm. Xóm mình có anh Bình, cũng phác cây quỳ xây nhà gỗ, rồi trên đường Thi Sách thì bà Hành, bà Phúc, bà Thới cũng kêu người phát mấy bụi Quỳ, rồi dựng căn nhà gỗ, lợp tôn ở. Khu giếng ông Ba Tây thì nhà ông Rị từ đâu đến cũng xây nhà với cả mấy gia đình từ đâu xuất hiện. Khiến cả xóm náo nhiệt, cãi nhau, chửi nhau mất không khí cư xá công chức. Bây giờ về thì nhà tôn khi xưa thành nhà gạch mấy tầng to đùng.


Khu đất trống bổng nhiên toàn là nhà gỗ. Thời đó chắc các hãng cưa như Xu Tiếng, Xu HUệ giàu vì bán gỗ. Từ đó mọc ra nhiều đại gia lâm tặc tại Đà Lạt, vì họ cho xe be vào rừng chặt cây làm gỗ bán cho thiên hạ làm nhà. Vô rừng thì phải đóng thuế cho Việt Cộng. Nghe kể có một đại gia đã đóng thuế cho Việt Cộng để chặt gỗ đem về nhưng không hiểu sao đó, Việt Cộng đốt xe be, xe của ông ta nên căm thù, trả cho lính trinh sát 302 tiền thưởng nếu hạ sát được Việt Cộng. Phải đem lỗ tai về cho ông ta xem mới đưa tiền. Không biết có thiệt hay không nhưng khi nhỏ nghe kể.

Nghe kể khi xưa, bộ đội bị thương thì có Việt Nam Cộng Hoà nuôi, chữa trị, còn bộ đội rút lui nên hay hạ sát đồng đội. Chỉ nghe kể nhưng không biết hư thật ra sao. Mình có ông chú họ ở quê bị thương nhẹ tại chiến trường miền Nam, mới qua đời cách đây mấy năm. Còn hình Bảy Lớp hạ sát cả gia đình ông tá nào rồi bị ông Sáu Lèo hành quyết khi bị bắt. tấm ảnh khiến ông Sáu Lèo nổi tiếng đến mấy chục năm sau mới được ông chụp hình lên tiếng xin lỗi. Có một người con sống sót sau này qua Mỹ làm chức đến tướng quân đội Hoa Kỳ.


Thiếu tá Phong, đại đội trinh sát 302 khi xưa kể, là có lần đi trinh sát, lính của anh ta bắt gặp một xe jeep có một thiếu tá tuỳ viên của tướng Toàn, tư lệnh vùng II, đang thương lượng với Việt Cộng để cho xe be vào chở cây ra. Bị động nên lính 302 bắn chết Việt Cộng và thiếu tá của tướng Toàn. Khám phá một cái sacoche có cả ngàn đô la chia cho cả đại đội. Khiến ông tướng Toàn lùng anh ta nhưng anh đi hành quân. Mình có đọc bài của sĩ quan tuỳ viên của ông ta kể ông tướng này tham nhũng và gái gú rất nhiều. Sau vụ đó, được đổi về vùng 4 thì phải. Ông Thiệu cần tướng trung thành vì sợ bị lật đỗ thì phải.


Ngoài ra, đường Cường Để, phía suối Cam Ly khi xưa là bụi hoa Quỳ mọc hoang, thương phế binh chiếm cắm dùi, đầy nơi, khiến khu này bổng nhiên đông người lên. quán thịt cầy mọc lên.

Nghe nói sau 75 thì mấy gia đình thương phê bình này bị giải toả, cho đi kinh tế mới. Hay bị kỳ thị, không được quyền lợi gì cả trong chế độ mới. Ở Bolsa hàng năm, họ có tổ chức gây quỹ cho thương phê bình tại Việt Nam. Có người cho mình biết là anh ta là thương phế binh, có nhận được tiền từ hải ngoại gửi về. Ít thôi nhưng cũng làm ấm lòng người thương phế binh của bên thua cuộc.

Nếu nhìn kỹ tấm ảnh trên có đường Cường Để và Lê Quý Đôn, cận cảnh sẽ thấy dãy nhà đang được xây cất, nằm trên đường Yersin, khúc petit Lycee nhìn qua, gần khách sạn Duy Tân. Hôm trước thấy trên mạng có một ông thần lấy hình này rồi cắt đầu cắt đuôi để đố thiên hạ. Khó mà ai nhớ nổi vì phải nhìn chung tấm ảnh mới có thể mường tượng được chỗ nào khi xưa.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

tốt như xe Tây

 Xe Tây tốt thiệt không

Hồi nhỏ, cứ nghe người lớn nói đồ này của Pháp là tốt như đồ Tây. Còn thì chê đồ Lô-can (local) như đồ sản xuất tại Việt Nam hay Chợ Lớn. Ai còn nhớ mấy bóng đèn chợ lớn, xài được vài ngày là cháy bóng. Hồi nhỏ chỉ thấy toàn xe hơi của Tây như Peugeot, Renault, Citroen như chiếc DS. Đà Lạt xưa có vài chiếc, hình như chủ rạp xi-nê Ngọc Lan và Ngọc Hiệp có chiếc này. Nhớ có cô bạn học, nhà có chiếc xe Peugeot 504, trước 75 Đà Lạt chỉ có vài chiếc. Thấy sang cực. Qua Tây thấy thiên hạ chạy Taxi với loại xe này.


Mình chỉ thấy thức ăn của Tây là cực đỉnh còn thì máy móc, đồ gì của Tây làm thì chán như con gián. Về Paris, cô em cho ăn foie gras ngon nức nở.


Sau Mậu Thân, bắt đầu thấy xe LaDalat, máy của Citroen, nhập cảng vào Việt Nam, rồi Việt Nam đóng thùng, ghế, này nọ như kiểu xe hàng và xe đò, họ nhập cảng máy móc De Soto và chassis rồi chế độ theo nhu cầu khách hàng. Còn xe Nhật Bản khi xưa mình nhớ có xe Datsun, nhà ông Hiển, hàng xóm có mua một chiếc. Nhà ông Quán hàng xóm có mua chiếc xe Peugeot 203, làm garage xôm tụ rồi đánh bài thua bán luôn. Nhà ông Duy, hàng xóm cũng xe Peugeot 203, còn ông Ngự thì xe Renault thì phải, loại có số xe, kéo cái cần. Còn nhà ông Địch thì chạy xe Traction đen.

Xe Ladalat của Citroen, ráp tại Việt Nam trước 1975

Đến khi sang Tây thì nghe Tây đầm kêu xe Tây “c’est de la merde “ khiến mình thuộc loại ngu lâu dốt bền lại càng ngu cực đỉnh. Cứ thấy xe taxi của Tây toàn là xe Mercedes của Đức quốc. Nói vậy chớ thời đó dân Tây vẫn chạy xe Tây, chỉ có vài tên mả ờ mới chạy xe Ý Đại Lợi, còn xe đức thì phải giàu. Mình có đi Saint Severs với bố tên bạn để săn pheasant vùng Normandie nên có đi ké xe Citroen DS, loại to mà khi chạy đường xa, cái nhíp hạ xuống, êm như xe Tây.


Năm ngoái đi Ý Đại Lợi, thì ngạc nhiên vì hai người bạn của mình chạy xe Tây, kêu xe ý te tua. Còn em mình và cháu mình thì chạy xe Nhật Bản và xe đại hàn. Chuyến đi vừa qua, mình thấy có nhiều xe BYD của Trung Cộng. Còn xe Mỹ thì chỉ nhớ khi xưa đi học, có một ông thầy, chạy xe Huê kỳ, Cadillac, không dám chạy vào Paris vì to không có chỗ đậu xe.


Nói cho ngay xe Mỹ khó bán cho Âu châu vì bị đánh thuế nghe đâu 100%, cho nên chả có thằng Tây con đầm nào mua cả, thêm tốn xăng, to kềnh càng. Nghe nói năm vừa rồi Chrysler bán được 187 chiếc xe Van , năm tới chắc đóng cửa tiệm. Mình chả thấy một chiếc xe bán tải Mỹ ở Âu châu. Âu châu đường hẹp, khó có chỗ đậu xe nên chả thằng Tây nào mua xe của Mỹ nay lại thêm trò bỏ xe hơi đạp xe đạp trở lại thời ông cố của Napoleon. Cho nên ông Trump có thương lượng xe mỹ không bị đánh thuế 100% thì cũng chả ai mua. Xăng bên Tây giá gấp hai lần Cali. Mình nói Cali vì giá mấy tiểu bang khác gần phân nữa Cali.


Qua Mỹ gần 40 năm nay mình thấy xe pháp đâu hai ba lần. người Mỹ kêu Tây làm rượu ngon nhưng xe hơi của họ thì Chán Mớ Đời.


Lý do không thấy xe pháp tại Hoa Kỳ. Thật ra các công ty xe hơi của pháp như Renault, Peugeot, và Citroen (ngày nay thuộc tập đoàn Stellantis), có tìm cách xâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ nhiều lần nhưng thất bại. Những thập niên 50-60 của thế kỷ trước, xe Renault 4CV và Dauphine nhưng không được người Mỹ ưa chuộng. Lý do là bị rét rỉ và không được tin cậy như người Pháp kêu “c’eét de la merde”.


Năm 1979, Renault chơi lớn mua AMC nên bán được xe nhờ liên kết với Jeep nhưng rồi Chrysler mua lại vài năm sau vì lỗ thêm Ngũ Giác Đài ngại một công ty ngoại quốc có cổ phần kiểm soát một công ty làm về quốc phòng AM General. Citroën đã rút lui khỏi thị trường Hoa Kỳ vào năm 1974 do các quy định về thiết kế cấm các tính năng như hệ thống treo thủy lực, và Peugeot cũng đã rút lui vào năm 1991 sau khi doanh số bán các mẫu xe như 405 thấp. Ngày nay, không có thương hiệu xe hơi Pháp chính thống nào bán xe mới tại Hoa Kỳ, ngoại trừ Bugatti siêu sang. Có dạo người Pháp liên kết với Nissan qua vụ ông Tây làm tổng giám đốc hai công ty xe hơi, rồi ông Tây sinh ra ở Li-băng buồn đời sao đó bỏ trốn khỏi xứ Nhật Bản. Mình có kể vụ này rồi. Ai buồn đời thì tìm trên bờ lốc.


Theo tài liệu cho biết lý do xe Pháp không được thông dụng tại Hoa Kỳ như xe đức hay Thuỵ điển. Xe pháp được thiết kế cho các đường phố nhỏ bé ở Âu châu. Mình có bằng lái xe Tây nhưng chỉ lái xe trong làng ở Normandie, một vài lần, và có mướn xe chạy một tháng trời ở Hy LẠp, Crete thì thấy lái xe ở xứ pháp rất khó vì kiếm chỗ đậu xe là một cực hình. Cách tốt nhất là mướn xe gắn máy chạy khi đi nghỉ hè còn mùa đông thì không nên đi Âu châu.


Mình mới đi Âu châu về, thấy xe bên đó nhỏ xíu, chạy tiết kiệm xăng nên chạy yếu, chạy trong thành phố nên xe được thiết kế, gọn gàng, nhỏ bé như Renault Clio hay Peugeot 208 còn bên Ý Đại Lợi thì Fiat 500. Được biết là xe LAncia, Alfa romeo, và Maserati của Ý Đại Lợi sẽ dẹp tiệm sang năm. Nisan thì cũng đóng cửa. Ngày nay xe điện của Trung Cộng chiếm 11% thị trường. Mấy ông tây bà đầm ở Âu châu rất thông minh, tuyên bố cái rụp là chơi xe điện mà chưa chuẩn bị gì cả nên ngày nay ngọng, xe tàu vào như điên. Nói chung dân Âu châu ngày nay, không muốn đi xe hơi nhiều, cứ thích đạp xe cho chắc ăn. Mình có thấy xe điện nhưng mà vui lắm, phải đem theo đồ cắm điện chớ không như ở Hoa Kỳ là cứ đậu xong cắm vào.


 Trong khi ở Hoa Kỳ thiên hạ chạy xe lớn SUV, xe bán tải. Nhất là về các tiểu bang khỉ ho cò gáy hay Texas, xa lộ to thiên hạ chạy toàn xe bán tải mà loại to 8 máy không. Tháng 6 vừa qua mình qua San Antonio, Texas mấy ngày thì thất kinh. Thấy thiên hạ to béo kinh hoàng, mấy bà đi khệng khạng chạy toàn xe bán tải GMC không. Có lẻ vì vậy mà người Mỹ không cảm thấy thoải mái chạy xe con của pháp trên đường liên tỉnh. Tưởng tượng một ông my hay bà Mỹ nặng 300 cân anh, ngồi vào chiếc xe Fiat 500.


Ngoài ra các tiêu chuẩn về an toàn từ National Highland Traffic Safety Administration (NHTSA) rất cao về an toàn, khí thải và đèn đuốc rất đắt cho xe nhập cảng. Xe Âu châu khó đáp ứng với tiêu chuẩn Hoa Kỳ nếu không phải thiết kế lại. Ngày nay, xe pháp bình thường phải trùng tu, theo luật Hoa Kỳ mới chạy được.


Ngoài ra cần một thệ thống hạ tầng cơ sở khắp Hoa Kỳ, để sửa chửa cũng như bán đồ phụ tùng và các trung tâm dịch vụ. Vụ này phải bỏ cả hàng trăm triệu đô mà các công ty xe hơi của pháp chưa bao giờ dám đầu tư để cạnh tranh lại với các xe Ford, GM, hay Toyota thậm chí xe đại hàn ngày nay. Nghe kể là trước đây họ dùng các người bán hàng không kinh nghiệm rồi xe chạy hư nằm đường không có Dealer để kéo xe về sửa chửa nên lời đồn nhanh, chả thằng Mỹ nào mua đồ Tây ngoại trừ rượu.


Các xe của pháp được nhập cảng vào Hoa Kỳ như Renault Dauphine và LE Car, được nổi tiếng về nằm đường, máy yếu, dàn xe bị rỉ sét, không có dealer để sửa chửa khiến khách hàng người Mỹ sợ không dám đụng dù cái Mark Tây rất hấp dẫn.


Do đó vụ xe điện Việt Nam madze in China, gắn hiệu Việt Nam đem sang Hoa Kỳ 999 chiếc bán không được nên cho thuê rồi cũng toang luôn là vì vậy. Xe điện với mazde Việt Nam mình có leo lên xem ở chỗ triển lãm. Mình sang Mễ Tây cơ thì cũng thấy xe điện liên kết với Trung Cộng, lên xe ngồi thì y chang xe điện Việt Nam đem qua Mỹ bán. Chỉ gắn cái tên khác thôi còn nội thất hay bên ngoài đều như nhau.


Ngoài ra thị trường xe hơi Hoa Kỳ cạnh tranh khốc liệt, với quảng cáo tiếp thị rất tốn, ngay các công ty xe hơi Hoa Kỳ còn chới với phải năn nỉ chính phủ Hoa Kỳ bơm tiền, không đánh thuế mới ngáp ngáp được. Các công ty xe hơi đại hàn, Nhật Bản phải đầu tư vào Hoa Kỳ dài hạn mới bán xe được.


Mình chỉ mê đồ ăn Tây, về Tây có 1 tuần lễ mà ăn mệt thở để bù lại 15 ngày đi bộ.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vét hồ Xuân Hương

 Hồ Xuân Hương


Hôm trước mình có kể nguyên nhân Đà Lạt bị lụt khi xưa, còn ngày nay thì mình không biết nguyên nhân vì xa Đà Lạt từ năm 1974. Lâu lâu thấy thiên hạ tải video nước ngập đường chỗ am Sohier khi xưa. Về Đà Lạt mình có đi ngang chỗ này thì mùi hôi thối xông lên khá đặc biệt.

Bản đồ do người Pháp thiết kế. Ta thấy suối Cam Ly chảy từ phía vườn Bích Câu Kỳ Ngộ đến, có hai hồ nhỏ ; Tống Lệ ngay sân Cù và hồ Đội Có chỗ nhà máy nước để hứng nước mưa chảy xuống, tránh chảy vào hồ Xuân Hương. Nay hồ Tống Lệ chắc không còn trong khi hồ Đội Có thì biến nhỏ lại, thiên hạ xây nhà đầy chỗ này nên không có chỗ thoát nước. Chỗ am Sohier, nay thấy họ làm cái hồ chận nước lại, khiến ứ đọng rác rưỡi từ phía Chi Lăng chảy về nên hôi thối.

Mình đoán là phù sa, rác rưỡi của suối Cam Ly từ phía Chi Lăng chảy về đây rồi đọng lại tạo ra mùi hôi để dân xung quanh hát karaoke, đêm đêm ngửi mùi hôi mùi hôi thối nhà nàng,.. khúc này là thung lũng thấp nên khi mưa, nước phía trên đồi, chỗ ga xe lửa hay phía trên nữa, thêm Khu vực cư xá Địa dư khi xưa, nước sẽ chảy xuống khu vực thấp này.


Xem hình này chúng ta biết là phù sa kéo theo suối Cam Ly về bồi đắp hồ Xuân Hương nên phía vườn Bích Câu Kỳ ngộ bị ứ đọng nhiều khiến hồ đầy phù sa, ít nước dự trữ.

Hồ Xuân Hương là một hồ nhân tạo do người Pháp thành lập, bằng cách xây cái đập chận suối Cam Ly lại để lấy nước cho dân thị xã dùng. Bên cạnh hồ Đội Có, có nhà máy nước lọc nước hồ cho dân thị xã dùng. Ông cụ mình làm tại đây nên khi xưa có vào đây mấy lần, thấy máy lọc nước to đùng kêu ò ò.


Sau 1975, chính quyền mới họ xây cái đập chận nước suối Tía lại để lập cái hồ TUyền Lâm để lấy nước cho dân Đà Lạt, sạch hơn nước hồ Xuân Hương quá ô nhiễm. Mình có thấy ghe tàu chạy trên hồ này nên hơi lo vì dầu Diesel, hay dầu máy, thiên hạ  như du khách đến quăng rác này nọ như đã thấy tại hồ DanKia.


Mình có mấy tấm ảnh khi họ vét bùn sau 1975, xin tải lại đây.

Không ảnh của hồ Xuân Hương khi họ xả nước hồ để vớt bùn. Suối hay dòng sông thì khi mưa nước trên đồi sẽ chảy xuống chỗ thấp và kéo theo phù sa. Kiểu sông Cửu Long, có phù sa khi xưa, mình nói khi xưa, học Địa Lý thì thầy kể phù sa kéo về đắp bồi bên dòng sông và kéo ra mũi Cà Mau khiến đất bồi ở khu vực này , hàng năm thêm mấy thước.


Ngày nay thì ông ba tàu chơi cha thiên hạ, xây mấy cái đập bên tàu rồi mấy ông Lào bắt chước đến ông Thái rồi ông Cao mIên, xây đập thuỷ điện nên chận phù sa lại, thêm ít nước chảy về nên nước biển chảy vô lại khiến mùa màng chỗ này te tua, có nhiều nơi thiếu nước nên hết trồng trọt.


Nếu nhìn kỷ không ảnh chúng ta sẽ thấy dòng suối Cam Ly nhỏ nhắn. Đặc biệt là bên cạnh Thuỷ Tạ, bên trái vẫn còn dấu vết cái đập đầu tiên của người Pháp xây dựng để chận nước lại thành hồ mà họ gọi là Grand Lac (hồ lớn) phía bên trái của đập có một hồ nhỏ gọi là Petit Lac, dành cho người sở tại dùng. Cái đập đầu tiên chạy từ đường Trần Quốc Toản qua bên kia hồ chỗ hội quán hướng đạo Lâm Viên. Bên cạnh đường Đinh Tiên Hoàng là hồ Đội Có, đi sâu vào bên phải hồ Đội Có là nhà máy nước Đà Lạt xưa, nơi ông cụ mình làm việc dưới ông trưởng ty Tùng, có người con học Yersin trên mình một lớp tên Huân thì phải. Nghe nói qua đời rồi.


Để mình ghi cho đúng để giải thích rõ hơn.


Xem tấm không ảnh có ghi chú thích bên cạnh Thuỷ Tạ có dấu tích cái đập đầu tiên bị lũ tháng 5 năm 1932 làm vỡ nên người Pháp mới cho xây cái đập bằng xi măng mà dân Đà Lạt hay gọi Cầu Ông Đạo vì do ông quản đạo xây dựng, tương tự hồ Đội Có do ông Đội Có thực hiện hay cầu Bá Hộ CHúc do ông bá hộ Chúc, thầu khoán xây dựng. Để mình bỏ lên đây tấm ảnh xưa khi cái đập đầu tiên chưa bị vỡ.

Không ảnh khu nhà máy nước Đà Lạt xưa và hồ Đội Có, nếu nhìn kỷ sẽ thấy cái ống nước bơm nước từ hồ Xuân Hương vào nhà máy nước gần ngã ba Đinh Tiên Hoàng và Bà Huyện Thanh Quan
Tấm không ảnh này cho thấy đập đầu tiên, lúc đó Thuỷ Tạ chưa được xây cất

Đập đầu tiên nhìn từ chỗ khu vực trực thăng đậu khi xưa, xa xa phía bên trái là nhà thương cho hải quân pháp, sau này họ làm nhà tù, dân Đà Lạt khi xưa gọi nhà Lao hay trung tâm cải huấn. Mẹ mình đi theo Việt Mình, bị mật thám Tây bắt nhốt ở đây đâu 6-9 tháng. Sau nhờ ông Võ Quang Tiềm bảo lãnh mới được thả.
Hình chụp đập đầu tiên nhưng phía bên kia thấp hơn


Hình này chụp khi cái đập đầu tiên chưa bị vỡ nghĩa là trước tháng 5 năm 1932. Ta thấy cái đập chạy qua bên kia hồ, xa xa trên đồi hình như dinh tỉnh trưởng chưa được xây cất. Bên trái là còn đường có chiếc xe bò, sau này được tráng nhựa mang tên Trần Quốc Toản.

Khu vực người Việt và người Tàu bị lụt, làm chết 15 người nên người Pháp dời lên khu Hoà Bình


Hình ảnh trên nói đến vụ lũ tháng 5 năm 1932.
Suối Cam ly khi họ vét hồ Xuân Hương
Hồ cạn để vét bùn thấy đá khá nhiều


Hồ cạn thấy đất sét không, cho thấy đáy hồ không sâu lắm

Mình có nhiều tấm ảnh nhưng thôi để hôm nào rảnh, tải lên tiếp. 

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 
Nguyễn Hoàng Sơn