Hiển thị các bài đăng có nhãn Những mảnhnhớ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Những mảnhnhớ. Hiển thị tất cả bài đăng

ngạc nhiên lớn về chất béo

 Mấy hôm nay đồng chí gái sai dọn garage vì nhà có bố mẹ thằng hôn phu của con gái đến thăm nhân dịp đám hỏi thì tình cờ thấy cuốn sách của bà Nina Teicholz mang tựa đề “The Big Fat Surprise” nên nhớ lại đoạn đường vừa đi qua về sức khoẻ từ khi đọc cuốn sách này khiến mình thay đổi lối nhìn về truyền thông, chả tin thằng tây bà đầm nào nữa vì tất cả chỉ là họ được mua để nói lên những gì các công ty muốn tiếp thị.

Kim tự tháp về dinh dưỡng đã được thay đổi để tránh nạn béo phì nên theo chế độ mới.

Mình giác ngộ cách mạng như con cừu bị truyền thông định hướng với tuyên truyền quảng cáo về chính trị, xã hội và y tế. Từ đó mình chả thích bàn tán vì không muốn bị vào tròng của đám lợi ích.

Bà Nina Teicholz là một nữ nhà báo ở New York, theo đuổi chế độ ăn chay ít chất béo rất nghiêm ngặt, nhưng nó không thực sự mang lại hiệu quả như mong đợi như các quảng cáo. Tốn tiền mà thêm bực tức. Có tấm ảnh khi xưa của bà rất béo như người Mỹ trung bình.


Rồi một ngày, một tạp chí giao cho bà nhiệm vụ đi ăn và đánh giá các nhà hàng cao cấp ở Manhattan, New York, kiểu các tu-bơ ngày này cứ đi ăn rồi nhai nhai rồi nói ngon hay dỡ bú xua la mua được nhiều người xem thì càng được tiền. Bolsa bây giờ có nhiều người cứ quảng cáo vớ vẩn lấy tiền chủ quán khiến thiên hạ cứ bò đến ăn rồi chửi thề. 


Lần đầu tiên trong cuộc đời, bà bắt đầu ăn thịt nguyên chất béo, bơ và kem, tất cả các món có trên thực đơn trong tiệm. Kiểu phương pháp dinh dưỡng Keto ngày nay. Cái mất dạy là càng ăn các thức ăn được truyền thông cho là tạo ra chất béo, cholesterol, tiểu đường bú xua la mua thì bà cảm thấy khỏe hơn, đầu óc minh mẫn hơn, cơ thể ổn định hơn. Và số cân nặng mà bà đã vật lộn và tốn tiền với các chế độ ăn kiêng để giảm suốt nhiều năm bắt đầu giảm xuống. Thế lày nà thế lào?


Bà đột phá tư duy bắt đầu đặt câu hỏi về nguồn gốc thực sự của cuộc chiến chống chất béo của xã hội mỹ từ bao nhiêu năm qua được định hướng bởi truyền thông. Thế là bà ta bắt đầu hỏi vòng vòng, phỏng vấn các chuyên gia ngoài lề về sức khoẻ và dinh dưỡng. Bà ta như bị người bị tình phụ vì tin tưởng những điều trước đây là đúng nhưng khám phá ra thằng tình nhân nói láo nên bà tìm cách trả thù.


Sau 9 năm nghiên cứu với hàng trăm cuộc phỏng vấn và tất cả các nghiên cứu lớn về mối liên hệ giữa chế độ ăn và bệnh tim đều được bà đọc lại từ đầu và ghi lại những gì đã hiểu về cách tiếp thị có tổ chức của các công ty thực phẩm và dược phẩm với sự bắt tay của nhà thương và bác sĩ.


Năm 2014, bà xuất bản cuốn sách The Big Fat Surprise. Kết luận của bà rất đơn giản: bằng chứng buộc tội chất béo bão hòa chưa bao giờ thực sự được thiết lập một cách thuyết phục. Nó được mặc nhiên chấp nhận như một giả định, rồi sau đó được bảo vệ như một chân lý. Mình có kể vụ này rồi, ai buồn đời thì tìm trên bờ lốc.


Tháng 9 năm 2015, tạp chí y khoa The BMJ (British Medical Journal) đăng bài điều tra của bà về Ủy ban Tư vấn Hướng dẫn Dinh dưỡng Hoa Kỳ. Bà cáo buộc rằng nhiều nghiên cứu đã bị lựa chọn có chủ đích để phù hợp với kết luận mong muốn, các thử nghiệm ngẫu nhiên đối chứng bị bỏ qua, và một số thành viên ủy ban có nhận tài trợ từ ngành thực phẩm và dược phẩm. Theo bà, ủy ban này đã khuyến nghị một chế độ ăn mà chưa có thử nghiệm nào chứng minh được tính an toàn hoặc hiệu quả lâu dài.


Cuộc phản công của kỹ nghệ dược phẩm và thực phẩm về cuốn sách của bà xuất hiện chỉ sau sáu tuần khi cuốn sách ra đời. Tổ chức Center for Science in the Public Interest đã vận động một lá thư có chữ ký của hơn 180 nhà khoa học, yêu cầu BMJ rút lại bài báo của bà. Bức thư cáo buộc bài viết có 11 sai sót về mặt thực tế. Nhưng BMJ không rút bài.


Tạp chí đã tiến hành một năm đánh giá độc lập bởi các chuyên gia ngoài lề. Họ chỉnh sửa bảy điểm kỹ thuật nhỏ nhưng vẫn giữ nguyên luận điểm trung tâm của bài báo. Tháng 12 năm 2016, BMJ xác nhận bài viết vẫn được duy trì.


Trong phản hồi, bà Teicholz còn chỉ ra một điều khác: nhiều người trong số 180 người ký tên phản đối đã từng nhận tài trợ từ chính các ngành công nghiệp thực phẩm và dược phẩm mà bà đang chỉ trích. Mình nghe nói các thành viên của FDA Hoa Kỳ đa số là các cựu nhân viên của các công ty dược phẩm và thực phẩm. Họ được các công ty này làm áp lực để được vào các ghế này để giúp thuốc cũng như thực phẩm của họ được chấp nhận và phê chuẩn nhanh.


Kể từ khi cuốn sách được xuất bản, nhiều nghiên cứu tiếp theo đã được những người ủng hộ bà viện dẫn như sự xác nhận cho luận điểm của bà, bao gồm nghiên cứu PURE Study, nghiên cứu FASTER Study, và việc phân tích lại Minnesota Coronary Experiment. Đồng thời, các hướng dẫn dinh dưỡng chính thức cũng dần giảm bớt các cảnh báo mạnh mẽ về chất béo, dù hiếm khi công khai thừa nhận lý do.


Một nữ phóng viên đã buộc một tạp chí khoa học được bình duyệt phải công khai lựa chọn giữa dữ liệu mà bà đưa ra và hệ thống học thuật đã góp phần hình thành sự đồng thuận hiện hành. Cho thấy các học giả, chuyên gia chưa chắc đã đúng đắn vì miếng cơm manh áo, họ phải nói dối với công luận hay được trả tiền. Mình có xem một cuộc phỏng vấn một chuyên gia về dược phẩm và thực phẩm. Ông ta giải thích là khi công ty dược phẩm hay thực phẩm được tin một ai sẽ nói chuyện về đề tài nào đó không có lợi cho công ty nên sai ông ta hay người khác đến ngồi hàng ghế đầu. Sau phần diễn thuyết thì có phần đặt câu hỏi, ông ta chỉ cần đứng lên hỏi vài câu định hướng dư luận khiến các người đến dự hoang mang, bắt đầu dè dặt, không tin các dữ liệu được đưa ra bởi diễn thuyết gia. Xong om


Khi một hệ thống không thể bác bỏ lập luận của bà, họ có thể tìm cách khiến bà im lặng. Nhưng lần này, điều đó đã không thành công. Cuốn sách đã thay đổi sự suy nghĩ về dinh dưỡng cũng như bệnh tật tại Hoa Kỳ khiến ai đọc phải tự hỏi xem nhưng gì nghe thấy hay bác sĩ nói có nên tin hay không. Chúng ta không nên tin mù quáng vào vị bác sĩ mà có thể tìm hiểu thêm các thông tin ngoài luồng. Tiền bạc của chúng ta không nên gửi gấm vào các tay cố vấn tài chánh, phải tìm học hỏi thêm để có một cái nhìn đứng đắn thì về sức khoẻ tương tự chúng ta không nên bán cái cho bác sĩ vì chưa chắc vị bác sĩ này có một lương tâm như từ mẫu. Lâu lâu lại nghe một ông bác sĩ nào đó bị bắt vì ăn gian lậu Medicare hay chặt tiền bệnh nhân giả để lấy tiền chính phủ.


Cuốn sách bà hình như sau khi đọc cuốn này mình có kể rồi. Tiện đây xin tóm tắc như sau;

  • Con người đã ăn các loại chất béo động vật như bơ, mỡ bò, phô mai và thịt đỏ trong hàng ngàn năm. Ta xem hình ảnh người Mỹ trước thập niên 70 thì đa số là gầy, không to béo như ngày nay sau khi ông thượng nghị sĩ MacGovern đã ra thông cáo khuyến khích người Mỹ chế độ dinh dưỡng cho người Mỹ. Mình đã có kể, tìm trên bờ lốc.
  • Nỗi lo sợ về chất béo bão hòa xuất phát chủ yếu từ các giả thuyết khoa học chưa được chứng minh đầy đủ vào giữa thế kỷ 20. Người ta hay đúng hơn chính phủ tin tưởng hoàn toàn vào ông Ancel Keys, người có công sáng lập thức ăn khô trong thế chiến thứ 2. Ông này được chỉ định nghiên cứu về thực phẩm dinh dưỡng để khuyến khích người Mỹ nêu theo và được sự ủng hộ tiền bạc của các công ty thực phẩm và dược phẩm.
  • Các chính sách dinh dưỡng của chính phủ Hoa Kỳ đã được đưa ra quá nhanh so với bằng chứng khoa học có sẵn.
  • Khi người dân được khuyến khích giảm chất béo, họ thường thay thế bằng tinh bột tinh chế và đường, có thể góp phần làm gia tăng béo phì và đái tháo đường. Các công ty thực phẩm đã thay đổi chất béo để bỏ thêm đường giúp thực khách phấn chấn sau khi ăn thức ăn của họ và ghiền.

Một nhân vật trung tâm trong cuốn sách là Ancel Keys, nhà khoa học nổi tiếng với giả thuyết cho rằng chất béo bão hòa làm tăng cholesterol và gây bệnh tim. Bà Teicholz cho rằng ảnh hưởng của ông Keys đối với chính sách dinh dưỡng lớn hơn nhiều so với sức mạnh của các bằng chứng thời đó. Mình có kể vụ này rồi.


Một phần lớn cuốn sách không nói về thực đơn hay cách giảm cân, mà giống một cuộc điều tra lịch sử về nguyên nhân người Mỹ bị bệnh béo phì như ngày nay. Bà Teicholz truy tìm:

  • Nguồn gốc của “thuyết chất béo gây bệnh tim”.
  • Các cuộc tranh luận khoa học từ những năm 1950–1980.
  • Vai trò của các trường đại học, hiệp hội tim mạch và cơ quan chính phủ. Bà cho biết các hiệp hội tim mạch đều nhận tiền cúng dưỡng từ các công ty thực phẩm ăn nhanh và dược phẩm. Nếu mở trang nhà của họ sẽ thấy quảng cáo của các công ty này trên trang nhà của họ. Những công ty dược phẩm và thực phẩm mà bác sĩ khuyến cáo có thể mang lại ung thư và bệnh tật.
  • Cách các hướng dẫn dinh dưỡng quốc gia được hình thành với kim tự tháp dinh dưỡng.

Bà lập luận rằng sau khi một giả thuyết được chấp nhận ở cấp chính sách, rất khó để đảo ngược ngay cả khi xuất hiện dữ liệu trái chiều. Nhiều chuyên gia dinh dưỡng đánh giá cao công trình nghiên cứu lịch sử đồ sộ của bà Teicholz, nhưng cũng có nhiều người phản đối.


Những người chỉ trích cho rằng:

  • Bà đôi khi diễn giải dữ liệu theo hướng có lợi cho luận điểm của mình.
  • Bà đánh giá thấp vai trò của cholesterol LDL trong bệnh tim mạch. Ngày nay chúng ta biết là cholesterol có loại tốt và loại xấu nhất là cơ thể cần cholesterol hàng ngày để tạo ra hormone hay sinh tố điển hình là chúng ta phơi nắng để cholesterol tạo ra sinh tố D.
  • Một số kết luận của bà vượt quá những gì dữ liệu thực sự chứng minh. Nói cách khác nhiều người kêu bà ta không phải khoa học gia, không có bằng cấp tiến sĩ về sinh vật học bú xua la mua nên không thể tin được.

Trong khi đó, những người ủng hộ cho rằng bà đã chỉ ra những điểm yếu thật sự trong nền tảng khoa học của các khuyến nghị “ít chất béo” trước đây. Điều đáng chú ý là sau khi cuốn sách ra đời, nhiều tổ chức dinh dưỡng lớn đã điều chỉnh lập trường của mình:

  • Không còn giới hạn nghiêm ngặt cholesterol trong thực phẩm như trước.
  • Thừa nhận rằng đường bổ sung và thực phẩm siêu chế biến là những vấn đề lớn đối với sức khỏe.
  • Chuyển trọng tâm từ “ăn ít chất béo” sang chất lượng tổng thể của chế độ ăn.

Tuy nhiên, đa số tổ chức y khoa hiện nay vẫn không khuyến nghị ăn nhiều chất béo bão hòa không giới hạn. Họ thường khuyến nghị ưu tiên các chất béo không bão hòa từ cá, dầu ô liu, các loại hạt và quả bơ. Bơ thì hết mùa rồi, phải đợi đến giáng sinh, xem như 6 tháng nữa mới bắt đầu ăn được. Ai buồn đời thì em nghĩ nên mua cuốn sách của bà ta để đọc để hiểu thêm lịch sử và lý do bị bệnh béo phì dù có tìm cách giảm cân này nọ.


Từ ngày ông Trump lên và bổ nhiệm ông Robert Kennedy Jr., làm bộ trưởng y tế thì kim tự tháp Hoa Kỳ về dinh dưỡng đã thay đổi. Mình có kể trong bài trước đây.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Cuộc chiến kinh tài trước 75

 Cuộc chiến kinh tài trước 75

Trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua, người ta thường nói về quân sự, chiến thuật với những trận đánh nhưng có lẻ việc quan trọng để thắng một cuộc chiến là kinh tế. Chúng ta thấy ngày nay các cuộc chiến Ukraina hay vùng vịnh Ba tư, các nước cứ ra lệnh cấm vận để thắc chặt nền kinh tế của Nga hay Ba Tư, mong sao họ sẽ kinh tế họ kiệt quệ và đầu hàng.


Vấn đề là các cuộc cấm vận này thường không thành công. Lý do là có chợ đen. Ông thần Putin bán cho anh ba tàu dầu hoả rẻ. Thế là bác Putin cứ tha hồ đánh anh Ukraina. Tương tự Hoa Kỳ cấm vận anh Ba tư thì họ bán dầu rẻ cho anh ba tàu. Huề cả làng.


Tương tự khi người Pháp trở lại Đông-Dương năm 1945 với danh nghĩa tước vũ khí quân đội Nhật Bản thì đảng cộng sản có gây quỹ để chống pháp. Mệ ngoại mình kể là có tuần lễ vàng, khiến thiên hạ nô nức góp tiền bạc. Mệ ngoại tặng 1 sợi dây chuyền. Thời xưa có một sợi dây chuyền, nghèo là Qúy lắm. Pháp quốc sau thế chiến thứ 2 thì đói nên họ sử dụng thuốc phiện do người Thái trắng trồng để bán ở Hà Nội và toàn Việt Nam, nhằm gây quỹ chống lại Việt Minh.


Do đó khi Việt mInh đã làm chủ tình hình vùng Việt bẮc thì quay qua vùng tự trị của người Thái, để đánh phá nhằm cắt đường kinh tài cho người Pháp. Do đó người pháp đã biến thung lũng Điện Biên Phủ thành một căn cứ nhằm đánh tan các sư đoàn của việt minh như họ đã từ làm tại căn cứ Na-San. Điện biên Phủ thất thủ thì người Pháp chả còn tiền để tiếp tục cuộc chiến nên rời Việt Nam.


Trong cuộc chiến Việt Nam trước 75, ngoài các trận đánh, có một cuộc chiến âm thầm bí mật khác mà ít ai nhắc đến, rất quan trọng là cuộc chiến kinh tài. Việt Cộng đưa bộ đội qua ngõ Hạ Lào, Cam Bốt để đánh phá Việt Nam Cộng Hoà. Họ chuyên chở vũ khí từ Trường Sơn, hải cảng Sihanoukville,… cho các bộ chỉ huy của Hà Nội tại Cam Bốt và Hạ lào. Có cuốn hồi ký của ông Lê Văn Châu “Huyền thoại con đường tiền tệ trong kháng chiến chống Mỹ”, kể lại hoạt động bí mật của ngành ngân hàng trong việc bảo đảm tài chánh cho chiến trường miền Nam giai đoạn 1965–1975.  


Nếu đường Trường Sơn vận chuyển người và vũ khí, thì “con đường tiền tệ” vận chuyển tiền và ngoại tệ phục vụ chiến tranh. Hệ thống này do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức bí mật để đưa tiền từ nước ngoài về, sau đó phân phối cho các chiến trường miền Nam.  Mình nghe kể đại đội trinh sát 302 đi thám thính ở Núi Với, bắt được một cái sacoche, chứa đâu 5,000 mỹ kim của Việt Cộng. Các đại đội chia nhau số tiền khiến Việt Cộng căm thù. Sau 75, đi lùng lính 302 ở Đà Lạt.


Theo cuốn hồi ký, nhu cầu tài chính của chiến trường không chỉ là tiền Việt Nam mà còn cần:

  • Đồng đô la Mỹ.
  • Tiền Sài Gòn.
  • Đồng Riel của Campuchia.
  • Đồng Kip của Lào.
  • Đồng Baht của Thái Lan.  

Họ cần tiền để nuôi mấy ông tướng của vua Sihanouk để cho vũ khí được chuyển qua xứ họ. Cũng như phải bôi trơn các quan chức người Lào. Còn tiền Việt Nam Cộng Hoà để mua gạo muối, nước mắm cho bộ đội.


Đà Lạt xưa kia có mấy người ở Đà Lạt có môn bài bán gạo như cô Ba Chỉ, tiệm Bình Lợi ở dưới CHợ Mới, tiệm Sơn Hà ở đường Phan Đình Phùng, dì T ở Chi Lăng,… đó là những đại lý gạo ở Đà Lạt mà mình biết vì khi xưa đi lấy gạo đường từ họ. Mẹ mình kể là có lần cô Ba CHỉ kêu mẹ mình vào tiệm nói là có gạo mới về, ai hỏi thì bán kiếm lời nuôi con. Hình như 7,000 một bao. Độ 1 tiếng đồng hồ sau thì có bà vợ của ông T, làm đài phát thanh Đà Lạt ghé lại kêu muốn mua 100 bao gạo. Mẹ mình bán 8,000 một bao, bà ta không trả. Cứ lâu lâu bà ta đến mua mẹ mình gạo cứ 100 bao. Sau 75 mới khám phá ra bà ta nằm vùng, kinh tài cho Việt Cộng. Nằm trong nhóm của cô Ba Chỉ nên cô cứ kêu mẹ mình bán dùm. Mình đoán lý do là ông cụ mình là công chức nên ít ai để ít đến mẹ mình.


Một mạng lưới đặc biệt mang mật danh B29 được thành lập ở ngoài Việt Nam. Các cán bộ ngân hàng hoạt động dưới nhiều vỏ bọc khác nhau tại các trung tâm tài chính quốc tế như Hồng Kông và Bắc Kinh để tiếp nhận, chuyển đổi và vận chuyển ngoại tệ. Tiền bạc cho Việt kiều yêu nước đóng góp, ngoại quốc viện trợ,… mình có đọc tài liệu là Hà Nội đưa người qua Pháp để chuyển đổi tiền bạc nữa. Đọc bài đô la đỏ.



Khi tiền được đưa về nước: Tiền được chia nhỏ, niêm phong trong các hộp thiếc chống cháy. Vận chuyển bí mật qua nhiều tuyến đường và phân phát tới các đơn vị hoạt động ở miền Nam và các cơ sở nằm vùng ở Sài Gòn.  Như bà mua gạo của mẹ mình.


Hoạt động này cực kỳ nguy hiểm: khối lượng tiền có thể lên tới hàng triệu USD. Nguy cơ bị phát hiện, tịch thu hoặc cướp đoạt rất lớn. Tất cả đều được giữ bí mật tuyệt đối trong nhiều năm. Hàng trăm cán bộ ngân hàng đã tham gia nhiệm vụ đặc biệt này nhưng rất ít người được biết đến công khai.  


Ngoài ra, Hà Nội còn đưa vàng vào Nam để đổi tiền và mua thực phẩm. Hai đơn vị nổi tiếng nhất của con đường tiền tệ là: Quỹ ngoại tệ đặc biệt B29 và Ban Tài chính đặc biệt N.2683


Cuốn sách không chỉ kể về nghiệp vụ ngân hàng mà còn cho thấy vai trò của tài chính trong chiến tranh. Những chiến dịch bí mật ít được biết đến. Các cán bộ ngân hàng hoạt động như những chiến sĩ tình báo kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu xem “con đường tiền tệ” là một kỳ tích hậu cần tài chính, tương tự như vai trò của tuyến đường Hồ Chí Minh đối với vận tải quân sự.  


Ông Lê Văn Châu là một trong những nhân chứng quan trọng nhất của “con đường tiền tệ” trong cuộc chiến đánh chiếm miền Nam. Điều đặc biệt là ông không phải một cán bộ hậu cần thông thường mà hoạt động như một sĩ quan tài chính - tình báo trong mạng lưới B29.  Vào cuối thập niên 1960, ông là thành viên nòng cốt của B29 – quỹ ngoại tệ đặc biệt chuyên tiếp nhận và chuyển các nguồn ngoại tệ viện trợ vào chiến trường miền Nam.  


Năm 1967, Lê Văn Châu được cử sang Bắc Kinh dưới vỏ bọc Tùy viên Kinh tế của Bộ Ngoại thương Việt Nam. Công việc công khai là ngoại giao kinh tế, nhưng nhiệm vụ thực sự là điều phối dòng tiền viện trợ quốc tế. Theo các tài liệu hồi ký và lời kể của ông, Bắc Kinh trở thành một nút trung chuyển cực kỳ quan trọng: Tiền từ Hồng Kông được chuyển đến. Tiền viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa được tập kết. Sau đó tiền được đưa về Hà Nội hoặc chuyển tiếp theo các tuyến bí mật vào miền Nam.  


Trong mạng lưới này, ông mang mật danh “Anh Bảo”. Một số tài liệu gọi ông là “trung tâm của ba trung tâm”, vì ông là đầu mối kết nối: B29 tại Hà Nội. Đầu mối tài chính tại Hồng Kông. Ngân hàng Trung Quốc tại Quảng Châu.  


Điều đáng chú ý là những đầu mối này thường không biết danh tính của nhau. Họ chỉ liên lạc bằng mật mã và hệ thống cơ yếu ngoại giao.  


Nhân vật được xem là kiến trúc sư của hệ thống B29 là Mai Hữu ÍchÔng là người trực tiếp phụ trách B29 ngay từ khi thành lập năm 1965. Dưới quyền ông chỉ có khoảng hơn mười cán bộ nhưng quản lý lượng ngoại tệ rất lớn phục vụ chiến trường. Các thành viên được tuyển chọn rất kỹ: Thành thạo ngoại ngữ, có nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, khả năng hoạt động bí mật và chấp nhận làm việc theo nguyên tắc đơn tuyến như tình báo.  


Theo chính lời kể của Lê Văn Châu, B29 hoạt động giống một cơ quan tình báo hơn là một ngân hàng: Mỗi người chỉ biết phần việc của mình. Nhiều mệnh lệnh chỉ truyền miệng. Không có hồ sơ công khai. Các cán bộ hoạt động dưới nhiều vỏ bọc khác nhau ở ngoại quốc. Toàn bộ hệ thống báo cáo theo đường đơn tuyến lên lãnh đạo cấp cao vì vậy gọi B29 là “tổ chức tình báo kinh tế đầu tiên của Việt Nam”.  


Theo các tài liệu được công bố sau chiến tranh, trong khoảng 10 năm hoạt động, B29 và N2683 đã huy động và vận chuyển hàng trăm triệu USD cùng nhiều loại tiền tệ khác cho chiến trường miền Nam. Phần lớn các khoản tiền đều đến nơi an toàn dù phải đi qua những tuyến đường cực kỳ nguy hiểm. Điều khiến nhiều người ngạc nhiên là toàn bộ chiến dịch này được giữ bí mật trong nhiều thập niên. Chỉ đến khi các nhân chứng như Lê Văn Châu bắt đầu viết hồi ký, công chúng mới biết rõ hơn về những “người lính ngân hàng” đã vận hành một hệ thống tài chính bí mật xuyên quốc gia giữa thời chiến.  


Hồng Kông là mắt xích quan trọng nhất và cũng táo bạo nhất của toàn bộ mạng lưới B29. Nếu Hà Nội là nơi chỉ huy, Bắc Kinh là nơi điều phối, thì Hồng Kông chính là “sàn giao dịch ngoại tệ bí mật” của con đường tiền tệ.  


Trong những năm 1960–1970, Hong Kong là thuộc địa của Anh và là một trong những trung tâm tài chính tự do lớn nhất châu Á. Mình có quen một cặp vợ chồng, khi xưa là đại gia tại Việt Nam, sau 75 họ có kể cho mình là có mua nhà ở Tây Ban Nha, căn hộ tại Hương Cảng, nay thấy lớn tuổi nên tính bán. Tại Hương Cảng Đồng USD được lưu thông rộng rãi. Các ngân hàng quốc tế hoạt động mạnh. Việc mua bán ngoại tệ dễ dàng hơn nhiều so với các nước xã hội chủ nghĩa. Có mạng lưới của Bank of China hỗ trợ các giao dịch tài chính của Trung Cộng. Chính vì vậy, B29 chọn Hồng Kông làm nơi chuyển đổi các khoản viện trợ quốc tế thành loại tiền cần thiết cho chiến trường.


Theo các cán bộ B29 kể lại, hệ thống làm việc gồm nhiều bước:

  1. Tiền viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác được tập trung về Quỹ B29 tại Hà Nội.
  2. Tiền được gửi vào hệ thống tài khoản của Ngân hàng Ngoại thương.
  3. Từ đó chuyển sang các ngân hàng ở Hồng Kông.
  4. Tại Hồng Kông, các loại tiền như franc Pháp, bảng Anh, đô la Hồng Kông được đổi sang USD hoặc các đồng tiền phù hợp với từng chiến trường.
  5. Sau đó mới tiếp tục được đưa về Hà Nội hoặc chuyển tới các đầu mối bí mật khác.  


Nghe có vẻ giống một nghiệp vụ ngân hàng bình thường, nhưng điều đặc biệt là tất cả đều diễn ra dưới sự giám sát của các cơ quan tình báo và trong điều kiện chiến tranh. Một trong những chi tiết thú vị nhất được công bố gần đây là hệ thống được vận hành bởi ba trung tâm đặc trách cùng mang bí danh “Anh Bảo”:

  • BOC Hồng Kông.
  • BOC Quảng Châu.
  • B29 Hà Nội.

Các đầu mối này gần như không liên hệ trực tiếp với nhau. Họ sử dụng mật mã và hệ thống cơ yếu để trao đổi thông tin. Người điều phối ở giữa là ông Lê Văn Châu tại Bắc Kinh. Ông Lê Văn Châu từng được các đồng đội gọi là “trung tâm của ba trung tâm”, vì mọi luồng thông tin về tiền tệ cuối cùng đều phải qua ông để điều phối. Một phần tiền được chuyển bằng nghiệp vụ ngân hàng (FM), nhưng có thời kỳ phải vận chuyển tiền mặt trực tiếp (AM).


Các cán bộ chuyển ngân mang sổ thông hành ngoại giao, di chuyển bằng máy bay quốc tế hoặc tàu hỏa liên vận. Mang theo va-li chứa lượng tiền rất lớn. Hành trình được giữ bí mật tuyệt đối. Theo lời kể của các cựu cán bộ B29, có những chuyến mang theo số tiền trị giá hàng triệu USD nhưng người vận chuyển gần như đi một mình, không có lực lượng bảo vệ công khai.  


Theo các tài liệu được giải mật và hồi ức của những người tham gia, nhiều cán bộ B29 làm việc ở Hồng Kông nhiều năm nhưng không biết đầy đủ nhiệm vụ của những người cùng mạng lưới. Họ chỉ nhận các chỉ thị rất ngắn gọn, thực hiện giao dịch được giao rồi chuyển kết quả cho đầu mối tiếp theo. Mô hình này giống hệt nguyên tắc “cell system” của các tổ chức tình báo chuyên nghiệp.  


Vì vậy, khi nghiên cứu về B29, nhiều sử gia cho rằng điều đáng kinh ngạc nhất không phải là số tiền đã được chuyển, mà là việc một nhóm chỉ khoảng 14 cán bộ đã vận hành thành công một mạng lưới tài chính xuyên quốc gia giữa lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt, kéo dài suốt gần một thập niên mà vẫn giữ được bí mật.  


Điều đặc biệt của B29 và N2683 là họ không chỉ đưa tiền từ miền Bắc vào miền Nam, mà còn tìm ra cách lấy được tiền ngay trong hệ thống tài chính của chính quyền Sài Gòn mà không phải vận chuyển qua Trường Sơn. Đây chính là phương thức nổi tiếng mang mật danh FM (chuyển khoản), được nhiều nhà nghiên cứu xem là một sáng tạo tài chính-tình báo rất độc đáo.  


Từ 1965 đến khoảng đầu thập niên 1970, phương thức chủ yếu là AM. Đưa tiền trực tiếp. B29 thu gom ngoại tệ, chủ yếu là USD, rồi: Đóng trong hòm kẽm chống cháy. Ngụy trang trong thùng gỗ. Giao cho các đơn vị vận tải quân sự. Chuyển theo đường Trường Sơn, đường biển hoặc các tuyến bí mật khác vào Nam.  


Nhược điểm của hệ thống này rất lớn:

  • Đi hàng tuần hoặc hàng tháng.
  • Dễ bị bom đạn phá hủy. Như tường hợp đại đội trinh sát 302 đi thám thính bắt được một sacoche có đến 5000 mỹ kim.
  • Tốn chi phí đổi tiền.
  • Khó đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của chiến trường.  

Các cán bộ N2683 nhận ra một điều: tại sao phải chở USD từ Hà Nội vào Sài Gòn, trong khi tiền Sài Gòn đã có sẵn trong các ngân hàng ở Sài Gòn? Từ đó họ xây dựng mạng lưới gồm:

  • Các thương gia yêu nước.
  • Chủ doanh nghiệp lớn. Như ông người Tàu chú của Vương Vũ ở Sàigòn. Mấy ngừoi này có tiền là họ làm chớ chả yêu bác Hồ hay bác Mao gì cả.
  • Một số đầu mối tài chính bí mật trong nội đô.

Những người này có:

  • Tài khoản ngân hàng ở Sài Gòn.
  • Tài khoản ngoại tệ ở Hồng Kông hoặc nước ngoài.
  • Khả năng rút lượng lớn tiền mặt mà không gây chú ý. 

Cách chuyển tiền qua ngân hàng tuần tự theo 4 bước:

Bước 1: Thương gia rút tiền tại Sài Gòn

Một doanh nhân hợp tác với N2683 đến ngân hàng ở Sài Gòn.

Ông ta rút một khoản lớn tiền mặt với lý do:

  • Mua hàng.
  • Trả lương.
  • Đầu tư kinh doanh.

Đối với ngân hàng Sài Gòn, đây là giao dịch hoàn toàn bình thường.  Mình đoán là ông thần này bán xuất cảng cái gì đó giá gấp 10 lần cho Việt Cộng rồi họ chuyển tiền qua ngân hàng. Khi tiền về thì họ rút tiền mặt đẻ giao cho N2383. Tiền sau đó được cất giữ tại các kho bí mật, phân phối cho lực lượng hoạt động nằm vùng, và chuyển tới các căn cứ của bộ đội tại miền Nam như Núi Với gần Đà Lạt.

Bước 3: N2683 gửi điện mật ra Hà Nội

Sau khi nhận đủ tiền, N2683 báo bằng điện mật:

“Đã nhận đủ.”

Đây là tín hiệu để kích hoạt khâu thanh toán quốc tế.  

Bước 4: B29 trả tiền ở nước ngoài

B29 không trả tiền tại Việt Nam. Thay vào đó:

  • Chuyển USD vào tài khoản nước ngoài của thương gia.
  • Thường thông qua các đầu mối tại Hồng Kông.
  • Hoặc các ngân hàng quốc tế khác.

Kết quả là:

Tại Sài Gòn

Tại Hồng Kông/Nước ngoài

N2683 nhận tiền mặt

Thương gia nhận USD

Không có giao dịch đáng ngờ

Thanh toán hợp pháp qua ngân hàng

Đây thực chất là một dạng thanh toán bù trừ xuyên biên giới bí mật. Bởi vì không có dòng tiền nào chảy trực tiếp từ Hà Nội vào Sài Gòn.

Những gì hệ thống ngân hàng nhìn thấy chỉ là:

  • Một doanh nhân rút tiền cho hoạt động kinh doanh.
  • Một tài khoản ở nước ngoài được ghi có USD.

Hai giao dịch này diễn ra ở hai nơi khác nhau và không dễ liên hệ với nhau. 

 

Theo lời kể của các cựu cán bộ N2683, nhiều giao dịch FM chỉ mất vài giờ hoặc vài ngày, trong khi vận chuyển AM có thể mất hàng tháng. Sau này thời gian chi viện được rút ngắn đáng kể, có tài liệu cho biết từ khoảng 30 ngày xuống còn vài ngày, thậm chí nhanh hơn khi hệ thống đã vận hành thuần thục.  


Một nhân vật ít được nhắc tới là đầu mối mang mật danh C130 của N2683 tại Sài Gòn.

C130 là trung gian:

  • Tiếp xúc với giới thương gia
  • Nhận tiền mặt.
  • Tổ chức giao nhận bí mật.
  • Báo xác nhận để B29 thanh toán ở nước ngoài. Họ chuyển ngân ra hải ngoại bằng kiểu này, tương tự như ngày nay, sinh viên du học, gia đình đưa tiền ở ở Việt Nam rồi ở ngoại quốc họ đưa lại.

Trong nhiều tài liệu hồi ký, C130 được mô tả như “ngân hàng ngầm” của cách mạng ngay giữa trung tâm tài chính Sài Gòn. Theo các tổng kết được công bố sau chiến tranh, FM đã chuyển được hơn 161 triệu USD giá trị tương đương cho chiến trường miền Nam, bên cạnh hơn 315 triệu USD đi bằng phương thức AM. Điều khiến các nhà nghiên cứu tài chính quan tâm là FM không chỉ là một tuyến hậu cần tiền tệ. Nó kết hợp:

  • Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
  • Hối đoái ngoại tệ.
  • Mạng lưới thương gia.
  • Liên lạc mật mã.
  • Nguyên tắc tổ chức kiểu tình báo.  

Vì vậy nhiều người xem FM của B29–N2683 là một trong những chiến dịch tài chính bí mật quy mô lớn và độc đáo nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ngày nay dân Việt Nam chuyển tiền ra hải ngoại còn tinh vi hơn nữa. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen