Đi tìm một nữa của mình

 Đi tìm một nữa của mình

Khi xưa, đọc truyện tiểu thuyết bà Tùng Long, thấy bà này hay nói đến đi tìm một nữa của mình nên chả hiểu gì cả. Đến khi qua pháp thì mới đọc thêm về các huyền thoại hy-lạp thì mới thất kinh. Đa số các huyền thoại hy-lạp đều là đề tài của nền văn mình tây phương như người Việt mình hay nhắc đến sự tích 100 cái trứng.


Tò mò mình kiếm sách như Illiad, Ulyssus qua lời kể của Homer, hay Symposium (Bữa tiệc) của Plato (Platon) qua lời kể của nhà hài kịch Aristophanes… đọc để khi nói chuyện với người Pháp thì còn hiểu được, chớ khi họ nói mà đực ra như ngỗng ị thì mất mặt người Việt. Có lần trong khi nói chuyện với đầm, chả hiểu sao mình nhớ đến cuốn “ Horace” của Pierre Corneille mà khi xưa ông tây bắt học như học sinh trường Việt học Kim Vân Kiều khiến mình Chán Mớ Đời. Buồn đời mình kêu “mon coeur est romain, hélas! Je suis Sabin” cho nó vần”ain” và “in”. Thật ra trong cuốn Horace thì bà vợ người Sabine, kêu “Je suis romaine, hélas ! puisque mon époux l'est” nhưng mình chế thêm khiến tây đầm kêu hay hay hay.


Theo huyền thoại của hy-lạp thì thời xa xưa, con người vốn không phải như hiện nay. Ban đầu có ba loại người:

  • Nam – Nam (sinh từ Mặt Trời) không biết có phải khi xưa đã có đồng tính, vì khi ở Pháp, người Pháp hay nói đến người huy-lạp có rất nhiều người đồng tính 
  • Nữ – Nữ (sinh từ Đất), lesbian? Phụ nữ yêu phụ nữ
  • Nam – Nữ (sinh từ Mặt Trăng) tức là người lưỡng tính

Mỗi người có hình dạng tròn, có 4 tay, 4 chân, 1 đầu với 2 mặt, Có 2 bộ phận sinh dục và di chuyển bằng cách lăn. Họ rất mạnh mẽ, kiêu ngạo và dám tấn công, chí lên cả các vị thần trên đỉnh Olympus. Vì quá mạnh và kiêu ngạo, loài người dám tấn công cả các vị thần trên đỉnh Olympus. Thần Zeus lo sợ, bèn họp hội đồng thần linh để bàn cách xử lý. Cuối cùng Zeus quyết định:“Ta sẽ chẻ chúng ra làm đôi. Như vậy chúng sẽ yếu đi một nửa, mà số lượng lại tăng gấp đôi, nên sẽ có nhiều lễ vật dâng lên ta hơn.” Zeus dùng sét chẻ đôi từng người. Sau đó ông bảo thần Apollo:

  • Xoay mặt của mỗi nửa về phía trước (về phía vết cắt)
  • Kéo da lại và khâu ở giữa bụng (tạo thành cái rốn)
  • Nếu chúng vẫn còn ngang ngược, Zeus sẽ chẻ tiếp lần nữa, để chúng phải nhảy lò cò bằng một chân.

Từ đó, mỗi nửa con người luôn khao khát tìm lại nửa còn lại của mình. Khi tìm được, họ ôm lấy nhau rất chặt, muốn hòa làm một như thuở ban đầu, thậm chí sẵn sàng chết vì nhau nếu không được ở bên.


Aristophanes giải thích: người thuộc giống Nam ban đầu sẽ tìm đàn ông (tình yêu đồng giới nam), người thuộc giống Nữ ban đầu sẽ tìm phụ nữ (tình yêu đồng giới nữ), người thuộc giống lưỡng tính sẽ tìm người khác giới (tình yêu dị tính). Đó chính là nguồn gốc sâu xa của tình yêu và khát vọng “một nửa của mình”. Mình thấy nhiều người quen, trên 7 bó, lỡ lần đò mà ngày nay vẫn đi kiếm một nữa của mình. Nghe họ kể là lái xe đường quốc lộ số 1, dọc bờ biển đến 1, 2 giờ sáng, nghe nhạc tây. Mình tưởng là về già thì chắc chả muốn đi tìm ai nữa. Hoá ra người ta vẫn cô đơn, cần sự hiện diện của một người bạn để đối ẩm, trò chuyện hay nhiều khi chả cần nói năng gì cả, chỉ cần sự hiện diện của một người tâm giao.


Aristophanes không chỉ kể chuyện để giải trí. Ông muốn nói rằng: Tình yêu thực chất là nỗi nhớ về sự hoàn chỉnh đã mất. Mình chưa thấy phụ nữ nào, không bắt ông chồng làm theo ý mình. Con người vốn dĩ không phải là cá thể độc lập hoàn toàn, mà luôn mang trong mình khát vọng trở về trạng thái “một thể”. Nếu không sẽ bắt chước Tuấn Vũ hát “người yêu cô đơn”, đời tôi cô đơn nên yêu ai cũng có thai, yêu ai cũng có bầu,..


Từ đó, mỗi nửa con người luôn khao khát tìm lại nửa còn lại của mình. Khi tìm được, họ ôm lấy nhau không rời, muốn hòa làm một như thuở ban đầu. Đó chính là nguồn gốc của tình yêu và khát vọng “đi tìm một nửa của mình”. Huyền thoại này giải thích tại sao con người luôn cảm thấy thiếu vắng và muốn tìm kiếm người “định mệnh”. Nó cũng là nguồn gốc của khái niệm soulmate (bạn tâm giao / một nửa linh hồn) trong văn hóa phương Tây.


Nếu có thể viết lại huyền thoại của hy-lạp, mình sẽ nói con người khi xưa, không nhất quán với chính mình vì hai nữa của mình cứ chống chọi với nhau suốt 24 tiếng mỗi ngày nên phải bò đến thần Zeus nhờ chẻ làm đôi, tách ra. Họ sẽ đi tìm người bạn tâm giao sau này nhưng một khi không hợp nhau nữa thì sẽ ly dị.


Đi tìm một nữa, có thể là một người con trai, đồng tính, hay một người con gái (lesbian) hay người khác giới tính như khi xưa người lưỡng tính. Thời đó, Plato chưa nghĩ đến chuyện ly dị, có lẻ khi xưa, lấy nhau là họ ăn đời ở kiếp còn ngày nay thì vui thì ở, buồn thì đi.


Họ đã tìm thấy đúng nửa còn lại của mình. Họ yêu nhau sâu sắc và không muốn rời xa nhưng dù có ở bên nhau cả đời, họ vẫn mãi mãi là hai cơ thể riêng biệt. Họ không bao giờ có thể thực sự “hòa làm một” như thuở nguyên thủy nữa. 


Chính vì vậy, tình yêu vừa là niềm hạnh phúc lớn nhất, vừa là nỗi day dứt không bao giờ nguôi. Nó là khát vọng về sự toàn vẹn đã mất, một khát vọng mà con người sẽ mang theo đến hơi thở cuối cùng. Đây chính là lý do Aristophanes cho rằng tình yêu không chỉ là chuyện cảm xúc hay dục vọng, mà là nỗi nhớ về chính bản thân mình đã bị chia cắt.


Lấy vợ được 35 năm thì mình thấy đi tìm phần nữa của mình thì hơi ba-láp, ba-sàm. Phải định nghĩa lại là đàn ông ngu, đi tìm người để mình xung phong làm ô-sin, làm người chồng nhân-dân. Chán Mớ Đời


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Nhà thơ Ocean Vương

Nhà thơ gốc Việt Ocean Vương


Có lần em họ của đồng chí gái từ San Jose xuống thăm con học đại học UCLA, tối hai cha con ngủ lại nhà mình. Sáng ra, mình đi tập Đông Phương Hội về thì gặp thằng cháu ngồi đọc sách trong thư viện của mình. Nó nói không ngờ đọc được cuốn sách anh ngữ về chiến tranh Việt Nam rất thú vị, khám phá nhiều điều khá hay, xa lạ chưa bao giờ biết. Sau đó mình ngồi nói chuyện với nó, thằng con và người em họ.


Mình giải thích thêm về chiến tranh Việt Nam, mình phải đọc sách báo Hà Nội, Hoa Kỳ, Việt Nam Cộng Hoà, pháp ngữ,…. Để có một nhận định rõ hơn một tí thay vì chủ quan theo một chiều. Rồi câu chuyện xoay qua giới trẻ người Mỹ gốc việt. Mình nói đến thế hệ sau này có nhiều người đã vào dòng chính Hoa Kỳ, đã can đảm nói lên sự hội nhập của người Việt tỵ nạn. Có nhiều người đã không đi theo con đường mà đa số phụ huynh mong muốn là con học y khoa, nha khoa, hay tối thiểu là kỹ sư mà đi theo con đường về khoa học nhân văn như Nguyễn Thanh Việt, Ocean Vương khiến thằng cháu ngạc nhiên, không ngờ mình biết đến những người này.


Bố nó thì ngọng, kêu không biết gì về chiến tranh, lịch sử Việt Nam hay văn chương mỹ hiện đại. Trẻ hơn mình, vượt biển khi còn bé. Sang đây đi học ra kỹ sư làm cho IBM đến giờ. Không biết gì về lịch sử Việt Nam cận đại. Nên khi con hỏi thì người em họ ngọng thôi. Mình nói thằng cháu là mình không thích hát karaoke nên khi rảnh thì đọc sách báo cho qua ngày tháng.


Tuần này mình mới mua đọc cuốn sách mới ra của nhà thơ Ocean Vương có tựa đề “The Emperor of Gladness” (hoàng đế của niềm vui). Rất hay thường ông này ra sách về thơ của ông ta như cuốn sách bán chạy On Earth We’re Briefly Gorgeous và The Emperor of Gladness. Ông ta là người Việt thứ 2, nhận được MacArthur “Genius Grant” và giáo sư dạy sáng tác văn chương tại New York University. Người đầu tiên là bác Huỳnh Sanh Thông, chống đối chính sách mỹ tại Việt Nam nên bị trù dập không tìm được việc tại Hoa Kỳ, sau được đại học Yale, mướn và bác dịch Kim Vân Kiều, và CHinh Phụ Ngâm ra anh ngữ.


Mình đọc cuốn sách của ông ta xoay quanh việc làm thế nào để tìm thấy ý nghĩa, mục đích sống, phẩm giá và giá trị bản thân khi ta cảm thấy lạc lối, bế tắc hoặc bị đè nặng bởi mặc cảm, đặc biệt là những mặc cảm xuất phát từ nghèo khó, thân phận của người ngoài cuộc, mất mát hay áp lực xã hội. Được biết ông ta tên việt là Vương Quang Minh, chắc gốc người Tàu tại Việt Nam. Sau này, khi vào quốc tịch, mẹ ông ta đổi tên là “Ocean”, có nghĩa đại dương nối hai bờ biển Việt Nam và Hoa Kỳ. Lý do là khi làm việc ở tiệm nail, một hôm khách hàng hỏi mẹ ông ta là trời nắng, sau làm việc, bà làm gì, mẹ ông ta kêu go to the beach, đi biển nhưng với giọng nước mắm của bà ta nên nghe “go to the bitch”, bitch tiếng lóng có nghĩa là một cô điếm khiến bà khách hàng chới với. 


Ông ta cho biết là bà ngoại khi xưa có lấy một người lính mỹ tham chiến tại Việt Nam, ông ta có chân trong đội kèn đồng, ban quân nhạc. Có 3 người con, sau ông ta về Hoa Kỳ thăm gia đình thì bị kẹt luôn trước 75. Mẹ ông ta lai nên chế độ mới đì, nên cả nhà phải vượt biển và đến Hoa Kỳ, định cư tại Hartford, tiểu bang Connecticut.


Bố mẹ ông ta ly dị, sau này bà mẹ đi thêm bước nữa, có một người em trai cùng mẹ khác cha. Cách đây 7 năm thì mẹ ông ta qua đời vì ung thư. Có lẻ hít hoá chất khi làm nail nên ông ta viết cuốn “time is a Mother”. Ông ta hiện nay, là giáo sư về môn văn chương tại đại học danh tiếng New York, NYU.


Nghe ông ta kể là ông dượng, chồng sau của mẹ ông ta, vượt biển sau 7 ngày trên biển, đến Hoa Kỳ. Đi làm công nhân cho hãng xưởng, từ 3 giờ chiều đến 12 giờ sáng. Đi làm về, ông trân trọng cởi cái áo của hãng có tên của ông ta là Ngọc, lên tường. Ông ta rất hãnh diện và nói là làm ở đây, ông ta có bảo hiểm y tế. Ông Ocean Vương cho biết, trẻ nhìn cuộc đời của bố dượng thì Chán Mớ Đời, đây là giấc mơ Hoa Kỳ hay sao. Nhưng đối với ông dượng thì quá tốt, khá hơn nhiều cuộc sống tại Việt Nam. Cho thấy giá trị cuộc đời được định nghĩa tuỳ theo hoàn cảnh của mỗi người. Có thể một người khác sẽ chê cuộc đời cua rông bố dượng nhưng đối với ông ta là một hạnh phúc, được đi làm, chủ cho bảo hiểm y tế. Những ý thức như vậy khi sống với người binh dân, nghèo khí giúp ông ta có chất liệu để suy gẫm và viết về những người bình thường.


Ông ta kể sống lên từ bé trong hoàn cảnh nghèo khó với bà mẹ đơn thân. Ăn housing, section 8, ông ta đi làm khi còn bé cho nhà nông trồng thuốc lá, được trả lương cao này nọ nhưng một hôm bà mẹ nói phải đi làm cho MacDonalds vì nếu không thì hai mẹ con sẽ mất trợ cấp Housing. Lúc đó, ông ta mới nhận thức cái vòng lẩn quẩn của xã hội Hoa Kỳ. Khi ăn housing trợ cấp thì con người khó thoát ra khỏi cái vòng ấy để vươn lên trong xã hội, thực hiện giác mơ Hoa Kỳ. Ông ta kể trong khu vực ông ta ở, có nhiều người trẻ muốn giúp gia đình nhưng không muốn gia đình mất trợ cấp nên làm chui hay buôn sì-ke, ma tuý và đưa đến bắn chết nhau hay vào tù.


Ông ta kể khi bà mẹ bị ung thư, ông ta có hỏi bà mẹ là kỷ niệm đáng nhớ nhất của hai mẹ con. Bà mẹ trả lời là khi hai mẹ con ngồi trong xe trên bãi đậu xe và ăn chicken Nuggets của MacDonalds. Cho thấy cuộc đời chúng ta cứ nghĩ đến chuyện cao sang nhưng kỷ niệm rất đơn sơ. Nhắc đến vụ này thì đối với mình kỷ niệm đáng nhớ với mẹ mình là khi hai mẹ con đi chơi ở Nhật Bản. Chỉ có hai mẹ con, lần đầu tiên mình được mẹ kể chuyện ngày xưa, thời còn bé ở Huế. Tương tự ngày nay, cô em mình nghỉ hưu ở nhà chăm sóc mẹ mình. Cô em cho rằng đó là quyết định đúng đắn nhất, vì chăm sóc mẹ, vì tước đây bận công ăn việc làm.


 Nói đến ăn gà khiến mình nhớ thời mới phát hiện ra mối tình hữu nghị của đồng chí gái, cuối tuần mình chạy xe xuống Quận Cam, đưa đồng chí gái đi chơi. Mình đưa cô nàng vào tiệm ăn Pollo Loco , (gà điên), mình đem theo mấy cuốn mua 2 tặng 1. Cả hai ăn ngấu nghiến. Ngày nay thì có đi ăn tiệm sang nhưng có lẻ kỷ niệm đẹp nhất vẫn là ăn gà điên. Chán Mớ Đời 


Ocean Vuong chia sẻ nhận thức, kỷ niệm từ chính cuộc đời mình, một người Mỹ gốc Việt đồng tính, lớn lên trong cảnh nghèo khó tại Hartford, Connecticut, được nuôi dưỡng chủ yếu bởi những người phụ nữ mù chữ anh văn làm nghề làm móng tay. Vùng này có nhiều người Việt tỵ nạn sinh sống khi xưa. Mình có vẽ một ngôi chùa cho gia đình phật tử ở vùng này. Anh nhìn nhận nghịch cảnh không chỉ là đau khổ, mà còn là mảnh đất nuôi dưỡng sự sáng tạo, sức bền và khả năng đổi mới của con người.


Người ta hỏi ông ta một cuộc đời có ý nghĩa thì theo Ocean Vuong, một cuộc đời ý nghĩa không phải là liên tục chứng minh giá trị của mình với bản thân hay người khác, không phải leo lên đỉnh núi của thành tích, cũng không phải tìm mọi cách để thoát khỏi hoàn cảnh hiện tại. Điều quan trọng là “Hãy tìm thấy sức mạnh và giá trị ngay tại nơi chúng ta đang đứng.” Nơi chúng ta đang sống lúc này đã đủ để trở thành một con người có giá trị. Không ai cần phải “thoát ra” mới xứng đáng được yêu thương hay tôn trọng. Phải công nhận từ ngữ ông ta dùng để diễn đạt trong cuốn sách rất hay dù trẻ tuổi. Ông ta tập thiền phật giáo nên có lẻ ảnh hưởng chánh niệm phật giáo.


Ông Ocean nói rằng sự xấu hổ (shame) hiện diện khắp nơi, đặc biệt đối với người lao động nghèo và những người luôn cảm thấy mình là kẻ ngoài cuộc. Ông ta kể lại ký ức thời thơ ấu khi mẹ mình phải trả lại những quả cà chua tại siêu thị vì không đủ tiền mua. Đó là một ký ức nhỏ nhưng chứa đựng nỗi nhục nhằn mà người nghèo thường phải chịu đựng.


Theo ông ta: Phẩm giá (dignity) là khả năng sống mà không bị xấu hổ về chính con người mình. Điều đó có nghĩa là chấp nhận mọi phần của bản thân, kể cả những điều xã hội gọi là thất bại, và biết trân trọng chính hành trình đã tạo nên con người mình. Ông ta cũng phân biệt: Xấu hổ về bản thân (shame of being) với cảm giác mình vốn dĩ là người tồi tệ. Đây là loại xấu hổ phá hủy con người và xấu hổ về hành động (shame of actions), nhận ra mình đã làm điều sai. Loại xấu hổ này có thể thúc đẩy sự trưởng thành và thay đổi tích cực.


Ông ta cho rằng ngôn ngữ là sức mạnh, cho rằng ngôn ngữ hằng ngày từ quảng cáo, chính trị đến những khẩu hiệu doanh nghiệp, thường được sử dụng để thao túng, hạ thấp hoặc kiểm soát con người. Trong khi đó, thi ca và ngôn ngữ được lựa chọn một cách có ý thức có thể:

  • khơi dậy vẻ đẹp,
  • đánh thức sự kỳ diệu,
  • trả lại phẩm giá cho con người.


Toàn bộ văn chương của ông ta là nỗ lực sử dụng ngôn ngữ để khẳng định giá trị của bản thân và của cộng đồng. Người ta thường hỏi ông ta định nghĩa lại thành công và ý nghĩa của “sống không uổng”. Ông Ocean phản bác quan niệm phổ biến tại Hoa Kỳ, rằng thành công đồng nghĩa với việc vươn lên địa vị cao hơn hoặc thoát khỏi tầng lớp lao động. Ông ta nhắc rằng rất nhiều người lao động cả đời vẫn sống trong hoàn cảnh bình thường nhưng cuộc sống của họ lại vô cùng giàu có bởi:

  • tình yêu,
  • sự chăm sóc,
  • trách nhiệm với gia đình,
  • sự hy sinh cho nhau. Ông ta kể có nhiều đại học ở âu châu mời ông ta dạy, lương cao hơn nhưng ông ta từ chối vì ở Hoa Kỳ, ông ta có thể chở bà ngoại đi bác sĩ, giúp người dì, hay chơi bóng rổ với người em, tiểu gia đình của ông ta. Lý do ông ta là người đầu tiên tốt nghiệp đại học trong đại gia đình.


Với họ, thành công không phải là giàu có hay nổi tiếng, mà là hoàn thành trách nhiệm và sống đúng với những giá trị của mình như trường hợp ông bố dượng. Một câu trong tiểu thuyết của ông ta gây nhiều suy ngẫm: “Điều khó khăn nhất trên đời là chỉ được sống một lần.” (The hardest thing is we live only once). Câu nói này không cổ vũ lối sống You Only Live Once “YOLO” bất chấp tất cả, mà nhắc nhở chúng ta hãy sống cẩn trọng, có ý thức và trân trọng từng ngày.


Ocean Vương đưa ra một cách nhìn rất khác mà ông ta gọi nó là: “Hệ miễn dịch của kẻ mạo danh.” (Imposter Syndrome). Thay vì xem đó là một khiếm khuyết cần loại bỏ, ông ta coi nó là: cơ chế bảo vệ, sự tỉnh táo, động lực để sáng tạo, lời nhắc phải luôn khiêm tốn và có trách nhiệm. Việc cảm thấy mình là người ngoài cuộc trong những môi trường ưu tú đôi khi phản ánh một sự căng thẳng đạo đức đáng được gìn giữ, chứ không phải điều cần xóa bỏ. Nếu mình nghèo rồi muốn lật đỗ bọn nhà giàu, là sai.


Ông Vương có nhắc đến “Văn hóa sợ bị quê” (Cringe Culture) và nỗi sợ thất bại trong xã hội ngày nay với các mạng xã hội lan tràn. Ông ta cho rằng mạng xã hội khiến nhiều người, đặc biệt là giới trẻ, luôn sợ mình sẽ bị chế giễu hoặc bẽ mặt trước công chúng. Nỗi sợ ấy khiến họ như bị tê liệt, nhất là chủ nghĩa thức tĩnh, khiến họ không dám thử điều mới, không dám sáng tạo, không dám thất bại. Cũng như nói lên những gì mình ấp ủ, muốn lên tiếng vì sợ gán cho cái phù hiệu kỳ thị chủng tộc.


Trong lớp học sáng tác của mình, ông ta luôn xem thất bại là một phần không thể thiếu của quá trình học hỏi. Theo ông ta, sáng tạo giống như làm thí nghiệm trong phòng lab. Không có thất bại thì sẽ không có đổi mới hay chữa lành. Chúng ta nợ nhau điều gì? Ông Ocean cho rằng điều con người thật sự cần dành cho nhau không chỉ là sự đồng cảm thụ động. Chúng ta cần:

  • lòng tử tế, trong cuốn phum chuyện tử tế, đạo diễn Trần Văn Thuỷ có nhắc đến lòng tử tế của người xưa mà xã hội ngày nay đã đánh mất.
  • sự bao dung, sự đồng cảm khác với lòng tử tế, vì sự đồng cảm, compassion chỉ nhận thức thôi trong khi lòng tử tế đưa đến hành động. Tôi thấy anh nghèo đói khổ nên đồng cảm nhưng lòng tử tế đưa đến hành động như chị Thuỳ Giang nào trên mạng, mỗi tuần thấy chị ta nấu ăn rồi đi phân phát cho người vô gia cư.
  • sự hiện diện, khi người thân cần đến mình.
  • khả năng thật sự lắng nghe và chăm sóc nhau. Hàng ngày chúng ta cứ gặp nhau, hỏi dăm câu trời nắng trời mưa, rồi đường ai nấy đi nhưng nếu chúng ta bỏ thêm thời gian, đứng lại hỏi thêm về cuộc sống của họ, nghe họ thật sự kể về cuộc sống của họ.


Chính những khoảnh khắc rất nhỏ, một cuộc trò chuyện chân thành, một người chịu lắng nghe, hay việc hướng sự chú ý khỏi nỗi đau của bản thân để quan tâm tới người khác, mới là điều tạo nên ý nghĩa cuộc sống. Ông ta dùng hình ảnh:“Viên sỏi và những gợn sóng.” Hãy quay trở lại với đứa trẻ bên trong mình, nhớ lại hy vọng và ý định ban đầu của nó. Đó là nguồn sức mạnh có thể lan tỏa thành những vòng sóng tích cực đến người khác.


Ông Ocean Vương chia sẻ thêm nhiều quan điểm đáng nhớ:

  • Xây dựng và chữa lành luôn chậm chạp hơn rất nhiều so với phá hủy.
  • Cuộc sống luôn chứa đựng cả vẻ đẹp lẫn nỗi đau; hai điều ấy có thể cùng tồn tại.
  • Đừng mãi cố leo lên “đỉnh núi” của thành tựu. Hãy bước xuống để sống trọn vẹn trong đời thường, trong gia đình và các mối quan hệ. Nhiều người chạy theo công danh để rồi một ngày nhận ra sự vô thường thì đã quá muộn.
  • Hãy chấp nhận nỗi sợ như dấu hiệu của sự trưởng thành.
  • Nhưng đừng bao giờ sợ chính con người mình.
  • Hãy dám chấp nhận rủi ro, kể cả khả năng bị xấu hổ hay thất bại.


Cuốn sách khuyên chúng ta:

  • ngừng phán xét vị trí hiện tại của mình; ôgn ta có nói đến một đêm, tuóc khi đi ngủ, bà mẹ nói với ông ta, mẹ xin lỗi, mẹ đã cố gắng hết sức nhưng không thoát khỏi cảnh nghèo khổ, cuộc sống mẹ đơn thân tại Hoa Kỳ.
  • buông bỏ áp lực phải trở thành một con người khác;
  • học cách đối diện với mất mát mà không khép kín trái tim; ông ta mất bà mẹ qua bệnh ung thư nhưng không khép kín trái tim, viết cuốn sách về thời gian là mẹ.
  • tìm lại phẩm giá và giá trị vốn có của bản thân. Chúng ta hay so sánh bản thân với những người khác. Không cần, vì trên thế gian có người giàu có người nghèo. Nếu họ giàu thì chúc phúc cho họ. Người ta giàu ăn cơm với cá, còn mình nghèo thì bắt võng ở đầu vườn bơ để ăn bơ.


Khi xưa, mình cũng trải nghiệm về người ta đánh giá mình về cái tội nghèo từ bé ở Đà Lạt. Đứng nhà mấy tên học chung thường ít được mời vào nhà. Lớn lên, quen mấy cô bạn gái thì bị gia đình họ khinh vì không phải là bác sĩ, nha sĩ. Khi mình bắt đầu đi học đầu tư địa ốc, bạn bè, gia đình bên vợ cười nhát là mấy ông bác sĩ. Nhưng đó làm nguồn lửa, động lực giúp mình vượt qua. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nah  

Chuyện ngày xưa xa

 Chuyện ngày xưa xa


Mình hay vào trang của nhóm Đông-Dương cũ, để đọc bài hay xem tài liệu về chiến tranh Tây-Việt, và những gì xảy ra vào thời đó, để có thể hiểu thêm về cuộc đời của song thân. Ông cụ thì chống Việt Minh, còn bà cụ thì theo Việt Minh, bị tây bắt bỏ tù còn ông cụ thì Việt Cộng bỏ tù 15 năm tình cũ. Mấy người tham gia nhóm này đa số là người Pháp, có người gốc Việt. Họ không muốn tranh cãi ai thua hay ai thắng, thực dân hay bốc lột. Họ chỉ muốn tìm hiểu về cha ông của họ, vì tuổi thanh xuân đã sang Việt Nam, đi lính hay làm công chức, rồi có người gục ngã trên chiến trường. Tương tự người Việt đi bộ đội vào Nam với danh nghĩa giải phóng miền Nam, còn người miền Nam thì đi quân dịch với danh nghĩa bảo vệ thế giới tự do. Họ có mấy tấm ảnh của bố, ông nội, ông cố khi xưa ở Việt Nam, đăng lên để hy vọng có ai đó khi xưa, cũng ở chung đại đội, có chút gì tin tức về tổ tiên của họ.

Cha nằm trên giường bệnh, không nhớ sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà nào đã đến thăm

Vì lý do đó mà mình phải làm gia phả của gia đình bên nội rồi bên ngoại để sau này con cháu có thể tìm lại để đọc. Hôm trước có cô cháu bên bên vợ đưa cho một bản sao gia phả bên ngoại, mới khám phá ra, đồng chí gái thuộc hệ thứ 7 của vua Gia Long. Kinh. Mình sẽ nhờ người ở Việt Nam chuyên viết lại gia phả để ông ta biên tập lại, rồi gom vào gia phả bên ông cụ mình.


Những ai quan tâm đến lịch sử Đông Dương đều biết vai trò của các giáo sĩ thừa sai, đến Đông-Dương để truyền đạo. Do đó có nhiều người lên án nhà thờ thiên chúa giáo đã làm nền tảng cho cuộc xâm chiếm Đông-Dương của đế quốc Pháp. Hồi nhỏ học lịch sử cận đại của Việt Nam rồi các phong trào Cần Vương, sau đó đến của kháng chiến chống Pháp đưa đến người Pháp thất trận tại Điện Biên Phủ. Người Việt thắng Pháp, dàng lại độc lập nhưng tại sao lại đất nước bị chia đôi.


Đó là câu hỏi mình đặt ra khi học sử Việt Nam cận đại khi xưa. Sau này ra hải ngoại đọc sách báo ngoại quốc thì mới hiểu Việt Nam chỉ là một nước nhỏ, các đảng phái đều bị chi phối bởi ngoại quốc. Như ngoại trưởng Trần Văn Đổ kể là khi hiệp định Geneve sau chiến thắng Điện Biên Phủ, người Việt chết như rạ nhưng các cường quốc tự động chia ra làm 2. người Việt chết cho cuộc kháng chiến chống pháp, là công cụ cho cường quốc. Tóm lại là cuộc chiến uỷ nhiệm và người Việt hăng hái nhân danh chi đó để đánh nhau, bỏ tù nhau rồi lại đi xin viện trợ, xin bỏ lệnh cấm vận này nọ. Và khi Hoa Kỳ bỏ lệnh cấm vận thì Việt Nam mới khá như ngày nay.


Trong các giáo sĩ tây phương phải nói đến một người, đã mang tính quyết định của Đức cha Pierre Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) trong sự hình thành của đất nước Việt Nam hiện đại. Nhớ ngày xưa, học sử Việt Nam cận đại, đều nhắc đến ông cha này. Tuy nhiên, dù ảnh hưởng của vị Giám mục Adran là vô cùng to lớn, vẫn còn nhiều nhà truyền giáo khác, ít được biết đến hơn, nhưng cũng để lại dấu ấn sâu sắc đối với đời sống của người dân bản địa. Một trong số đó là Đức cha Jean Cassaigne, nhà truyền giáo thuộc Hội Thừa sai Paris (Missions Étrangères de Paris).

Làng người phong tại Di-Linh do cha thành lập để cứu chữa họ rồi sau đó cha cũng bị lây bệnh.

Cha Jean Cassaigne sinh ngày 30 tháng 1 năm 1895 tại thị trấn Grenade-sur-l’Adour, thuộc vùng Landes của nước Pháp. Ông mồ côi mẹ từ khi còn rất nhỏ. Cha ông gửi ông sang Tây Ban Nha tiếp tục việc học tại một trường của Dòng Sư huynh các Trường Kitô giáo, gần thành phố Saint-Sébastien, vùng Basque, phía bắc của Tây Ban Nha, gần dãy núi Pyrénées ngăn hai nước pháp và Tây Ban Nha. Điểm vui là phiá bên pháp cũng có một vùng được gọi là Basques. Cũng đòi tự trị này nọ như bên Tây Ban Nha, do Liên Sô giật dây khi xưa. Sau này Liên Sô tan rã thì cũng mất luôn phong trào này cũng như ở đảo Corse.


Sau khi trở về Pháp năm 1912, cha Jean Cassaigne bày tỏ nguyện vọng trở thành một nhà truyền giáo. Nhưng đến năm 1914, chiến tranh thế giới thứ nhất bùng nổ. Ông được động viên vào trung đoàn Bộ binh số 6, phục vụ với vai trò y tá quân đội và liên lạc viên. Trung đoàn của ông tham gia nhiều trận đánh khốc liệt nhất của cuộc chiến, từ trận sông Marne, trận Verdun, đặc biệt là tại Đồi 304 (Côte 304), cho đến các chiến dịch tại vùng Ailette. Cuộc chiến này tàn khốc, giết không biết bao nhiêu người từ hai bên.


Có lẽ chỉ khi hình dung được mức độ khốc liệt của chiến trường Verdun, người ta mới hiểu hết lòng dũng cảm cần có để làm nhiệm vụ liên lạc hay cáng thương trên Đồi 304. Ngọn đồi này khống chế toàn bộ thung lũng Esnes ở phía nam cùng các làng Malancourt và Haucourt ở phía bắc. Quan trọng hơn, đây là vị trí chiến lược nhằm yểm trợ cho các trận đánh tại Mort-Homme.




Quân Đức liên tục tìm mọi cách chiếm lấy ngọn đồi, nã pháo không ngừng nghỉ rồi mở hết đợt tấn công này đến đợt tấn công khác. Quân Pháp vẫn giữ được vị trí ấy, nhưng phải trả giá bằng khoảng 10,000 sinh mạng chỉ trong 300 ngày giao tranh liên tiếp. Ở vùng Triéste, Ý Đại Lợi, vào thời gian này có đến trên 500,000 người trẻ chết trận. Năm kia mình có ghé sang thành phố này nhưng trời tối nên không đi viếng nghiã trang này. Kinh hoàng.


Sau khi xuất ngũ năm 1919, ông Jean Cassaigne gia nhập Chủng viện Hội Thừa sai Paris vào năm sau. Ngày 19 tháng 12 năm 1925, ông được thụ phong chức linh mục. Ngày 6 tháng 4 năm 1926, ông xuống tàu lên đường sang Đông Dương. Điểm đến đầu tiên của ông là Cái Mơn, một cộng đồng Công giáo lớn thuộc tỉnh Bến Tre, nơi ông dành một năm để học tiếng Việt.


Sau một năm sống tại đồng bằng sông Cửu Long, Đức cha Dumortier cử ông lên Di Linh để thành lập một giáo điểm giữa đồng bào dân tộc Ko Ho. Khi ấy, vùng đất này hầu như chưa có người Việt sinh sống, nên ông lại phải học thêm tiếng của người bản địa. Ông đã biên soạn nhiều công trình ngôn ngữ học có giá trị, trong đó có:

  • Cẩm nang và hội thoại thông dụng bằng tiếng Mọi (Koho và Phau Sore) dành cho các chủ đồn điền, thợ săn và người nghỉ dưỡng (khu vực Djiring – Đà Lạt). Mấy từ Đà Lạt, Blao, Djiring,…đều do các giáo sĩ phiên âm từ người sở tại.
  • Từ điển tiếng Koho của tỉnh Thượng Đồng Nai, cho đến ngày nay vẫn được xem là một tài liệu tham khảo quan trọng.

Có anh bạn kể khi xưa, đi dạy ở vùng kinh tế mới cạnh Đà Lạt, phải học tiếng của người CHu-Ru, may là người Mỹ khi xưa, đến vùng này giảng đạo Tin lành nên họ có nghiên cứu ngôn ngữ chu-ru giúp anh ta học nhanh. Mình có ghé lại một giáo xứ gần Đà Lạt, có gặp mấy em người Chủ-Ru, nói tiếng Việt bằng giọng bắc vì thầy cô đều từ ngoài bắc vào dạy.


Tại vùng cao nguyên Di Linh, cha Jean Cassaigne sớm chứng kiến cảnh nghèo đói cùng cực của đồng bào các dân tộc thiểu số, bị đẩy ra khỏi môi trường sinh sống truyền thống, mất đi nguồn sống từ rừng núi, nhiều người rơi vào cảnh suy dinh dưỡng lâu dài và vì thế rất dễ mắc bệnh tật. Trong số họ, đáng thương nhất là những người mắc bệnh phong (cùi, hủi). Họ bị chính gia đình ruồng bỏ, bị cộng đồng xa lánh và bị bỏ mặc trong rừng sâu, sống cô độc chờ cái chết. Cảnh tượng ấy khiến cha Jean Cassaigne vô cùng xúc động.


Cha quyết định hiến trọn cuộc đời mình để chăm sóc những con người bất hạnh nhất ấy. Cùng với một số cộng sự, ông thành lập làng Kala, gần Djiring (Di Linh). Ngôi làng gồm những căn nhà sàn được xây dựng theo đúng kiến trúc truyền thống của người bản địa. Cha đặt tên cho nơi ấy là “Thành phố Niềm Vui” (Cité de la Joie). Từng bước một, cha đưa những người phong từ trong rừng về sinh sống tại Kala, coi họ như chính con cái của mình. Cha cho họ ăn, chữa bệnh cho họ, chăm sóc từng vết thương và quan trọng hơn cả là trả lại cho họ phẩm giá của những con người vốn đã bị cả xã hội lãng quên.


Ngay từ năm 1929, trại phong đã chăm sóc khoảng một trăm bệnh nhân, một con số rất lớn vào thời điểm ấy. Với sự trợ giúp của Các Nữ tử Bác ái Thánh Vinh Sơn Phaolô (Filles de la Charité de Saint-Vincent-de-Paul), cha Jean Cassaigne tiếp tục công việc đầy nhân ái này suốt hơn mười năm.


Đến năm 1941, cuộc đời cha bước sang một chương mới. Đức Giáo hoàng Piô XII bổ nhiệm ông làm Giám mục và Đại diện Tông tòa Sài Gòn. Ngày 24 tháng 6 năm 1941, đúng lễ kính Thánh Gioan Tẩy Giả, ông được tấn phong giám mục.v Hơn ba nghìn người đã đến tham dự thánh lễ tấn phong tại Nhà thờ Đức Bà Sài Gòn. Đặc biệt xúc động là sự hiện diện của một đoàn đông đảo người Ko Ho từ Djiring.


Trong trang phục truyền thống của dân tộc mình, họ vượt hàng trăm kilômét để về Sài Gòn tham dự buổi lễ, đại diện cho cộng đoàn Kitô hữu mà chính cha Jean Cassaigne đã gây dựng giữa núi rừng Tây Nguyên. Đó không chỉ là một nghi lễ tôn giáo, mà còn là lời tri ân của những con người từng bị lãng quên dành cho vị mục tử đã đem lại cho họ niềm hy vọng và một cuộc sống mới.


Ngày 10 tháng 3 năm 1945, ngay sau cuộc đảo chính của Nhật lật đổ chính quyền thực dân Pháp tại Đông Dương, quân đội Nhật nhanh chóng nắm quyền kiểm soát toàn bộ bộ máy hành chính của Liên bang Đông Dương và bắt giữ hầu hết các viên chức dân sự cũng như các sĩ quan quân đội Pháp.


Một nhân chứng của thời kỳ ấy là ông Jean Orsini, khi đó còn là một sĩ quan trẻ, sau này trở thành trung tá, đã để lại những ghi chép đặc biệt quý giá. Ông kể lại: “Đức cha Cassaigne cho tôi biết rằng hôm trước ngài vừa tiếp Đại tá Amano…” Qua lời chứng này, có thể thấy chính quyền quân sự Nhật đã muốn giao cho Đức cha Jean Cassaigne đứng ra điều hành Nam Kỳ (Cochinchine) sau khi toàn bộ giới chức Pháp bị bắt giữ.


Đó là một đề nghị đầy quyền lực nhưng Đức cha Cassaigne đã từ chối. Ngài không chấp nhận đảm nhận bất kỳ vai trò chính trị nào. Đối với ngài, sứ mạng của một giám mục là phục vụ con người, chứ không phải cai trị họ. Tuy nhiên, ông Jean Orsini đã thuyết phục ngài nhận lời thành lập một tổ chức hoàn toàn mang tính nhân đạo, với mục đích duy nhất là cứu trợ cộng đồng người Pháp đang lâm vào hoàn cảnh vô cùng khó khăn tại Sài Gòn.


Từ đó ra đời Ủy ban tương trợ Pháp tại Sài Gòn (Comité français d’entraide de Saïgon). Trên thực tế, tổ chức này nhanh chóng trở thành cơ quan duy nhất của người Pháp vẫn còn được chính quyền Nhật cho phép hoạt động. Ủy ban đảm nhận rất nhiều công việc: phân phát lương thực và hàng cứu trợ; hỗ trợ các gia đình gặp khó khăn; giải quyết nhiều thủ tục hành chính và trong một số trường hợp, còn đảm nhiệm cả công tác hộ tịch.


Vì vậy, mặc dù chưa bao giờ mong muốn, Đức cha Jean Cassaigne trên thực tế đã trở thành người đứng đầu cộng đồng người Pháp tại Sài Gòn trong những tháng cuối của thời kỳ Nhật chiếm đóng. Sau khi Thế chiến thứ hai kết thúc và nước Pháp được giải phóng, hoàn cảnh ấy lại khiến ngài rơi vào vòng điều tra vì mang tội pháp gian, tiếp tay với kẻ thù. Ngài bị đưa ra trước các cơ quan thanh tra trong phong trào “thanh lọc sau chiến tranh” (épuration) với cáo buộc cấu kết với kẻ thù. Tỏng thời gian đệ nhị thế chiến, Đông-Dương được chính quyền Vichy, do thống chế Pétain điều hành, bổ nhiệm ông Jean Decoux làm toàn quyền Đông-Dương.


Nhưng cuộc điều tra nhanh chóng chứng minh một sự thật hoàn toàn khác. Mọi hành động của Đức cha Cassaigne đều chỉ nhằm bảo vệ thường dân Pháp, cứu giúp những người đang lâm cảnh khốn cùng trong thời kỳ hỗn loạn. Ngài chưa bao giờ cộng tác với quân đội Nhật vì mục đích chính trị hay quân sự. Do đó, tất cả các cáo buộc đều bị bác bỏ.


Không những được tuyên bố vô tội, công lao của ngài còn được chính thức ghi nhận. Chính phủ Pháp đã trao tặng ngài Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) để tôn vinh những đóng góp đặc biệt ấy. Điều đáng chú ý là, trong suốt biến cố lịch sử đầy sóng gió đó, cha Jean Cassaigne vẫn giữ nguyên một lập trường: cha không đứng về phía một chính quyền nào, chỉ đứng về phía những con người đang cần được cứu giúp.


Vài năm sau khi được minh oan và tiếp tục sứ vụ Giám mục Sài Gòn, một biến cố lớn xảy đến với chính cuộc đời Đức cha Jean Cassaigne. Ngài mắc bệnh phong. Chính căn bệnh mà suốt mấy chục năm ngài đã tận tụy chữa trị cho biết bao người, nay lại đến với bản thân mình. Đối với nhiều người, đó có thể là một bi kịch. Nhưng đối với cha Jean Cassaigne, đó dường như chỉ là một phần tự nhiên của con đường mà Thiên Chúa đã dành cho ngài.


Ý thức rằng bệnh tật sẽ khiến mình không còn đủ khả năng điều hành giáo phận, ngài đã trình đơn xin từ nhiệm lên Tòa Thánh. Đơn xin ấy được chấp thuận.


Năm 1955, thay vì ở lại Sài Gòn để hưởng sự chăm sóc và những điều kiện thuận lợi dành cho một vị giám mục, ngài lại đưa ra một quyết định khiến nhiều người xúc động. Ngài tự nguyện trở về Djiring (Di Linh), không phải để nghỉ hưu, không phải để dưỡng bệnh mà để sống những năm cuối đời giữa những người phong và đồng bào dân tộc mà ngài vẫn luôn coi là gia đình thực sự của mình.


Ngài trở lại Kala. Vẫn căn làng nhỏ năm xưa. Vẫn những căn nhà sàn đơn sơ. Vẫn những con người mà xã hội từng ruồng bỏ. Ở đó, ngài tiếp tục chăm sóc bệnh nhân, động viên người đau yếu, cầu nguyện với họ và chia sẻ với họ từng ngày của cuộc sống. Lần này, ngài không còn chỉ là vị linh mục hay vị giám mục đến giúp người phong. Ngài đã trở thành một người phong sống giữa những người phong. Không còn khoảng cách. Không còn sự khác biệt. Chỉ còn tình yêu thương và sự đồng cảm.


Đức cha Jean Cassaigne qua đời ngày 31 tháng 10 năm 1973, sau gần nửa thế kỷ gắn bó với vùng đất Tây Nguyên và con người Việt Nam. Theo đúng di nguyện của mình, ngài không được an táng trong một nhà thờ lớn hay một nghĩa trang dành cho các giám mục.


Ngài được chôn cất tại nghĩa trang nhỏ của trại phong Kala, giữa những con người mà ngài đã dành trọn cuộc đời để phục vụ. Điều cảm động hơn nữa là ngôi mộ ấy chính do ngài tự chuẩn bị từ trước. Nó nằm ngay cạnh mộ của người đầu tiên được ngài cải đạo, như một dấu chỉ rằng, ngay cả sau khi qua đời, ngài vẫn muốn được ở lại với những người mình yêu thương.


Trong suốt cuộc đời, Đức cha Jean Cassaigne đã được trao nhiều phần thưởng cao quý. Ngài là:

  • Sĩ quan Huân chương Bắc Đẩu Bội tinh (Légion d’honneur) của Pháp;
  • Huân chương Chiến tranh 1914–1918 (Croix de Guerre) vì lòng dũng cảm trong Thế chiến thứ nhất;
  • Huy chương Danh dự của nền Cộng hòa Việt Nam.

Nhưng có lẽ, phần thưởng lớn nhất của ngài không phải là những tấm huân chương. Đó là tình yêu và lòng biết ơn của hàng ngàn người phong, của đồng bào Ko Ho và của biết bao người Việt Nam đã được ngài cứu giúp.


Cuộc đời của Đức cha Jean Cassaigne là minh chứng rằng lòng bác ái chân chính không phân biệt dân tộc, màu da hay địa vị. Từ chiến hào Verdun đến núi rừng Di Linh, từ Tòa Giám mục Sài Gòn đến trại phong Kala, ngài luôn chọn đứng về phía những người yếu thế nhất.


Bởi vậy, trong lịch sử Việt Nam, cha Jean Cassaigne không chỉ được nhớ đến như một vị Giám mục của Giáo hội Công giáo, mà còn như một nhà nhân đạo vĩ đại, người đã hiến trọn cuộc đời mình để mang lại hy vọng, phẩm giá và tình thương cho những con người bị lãng quên nhất.


Mình thích tìm đọc tiểu sử những người như vậy để cố gắng noi theo trên con đường hướng thiện, giúp mình bớt gian ác, không cần phải lên mạng xã hội, chửi thiên hạ này nọ, chỉ cần đóng góp một tí gì cho cộng đồng xung quanh mình là đủ. Mình gặp nhiều sơ ở các vùng núi ở gần Đà Lạt, hy sinh cuộc đời để giúp đỡ các người dân tộc thiểu số, giúp họ thuốc men….khiến mình khâm phục.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn