Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn love. Hiển thị tất cả bài đăng

Phục Hưng Ý Đại Lợi và hải quân Anh quốc


Ý Đại Lợi, không giống như phần còn lại của châu Âu thời Trung cổ, đã nổi lên như một tập hợp các nước được xây dựng với nền cộng hòa như Venice, Florence và Genoa trong khi phần còn lại của lục địa bị cai trị bởi các vị vua. Lý do đằng sau sự khác biệt này không phải là triết lý như mình được học như trước đây; mà là chất lượng của đất đai như vùng Toscana.

Cháu kêu bằng Bà, mẹ là gốc Nhật Bản nên đi học trường Nhật Bản. Họ dạy nó xếp giày dép nên tới nhà mình là nó xếp giày dép hết. Bác nào có cháu nội cháu ngoại nên cho đi học trường Nhật Bản 


Khi Đế quốc La Mã sụp đổ, mọi thị trấn ở Châu Âu bổng nhiên không còn sự bảo vệ của binh sĩ đế quốc. Sự vắng mặt của lực lượng đi tuần tra trên những con đường đế quốc, chống cướp bóc, tàu chở ngũ cốc và quyền lực trung ương đã khiến các thị trấn phải tự xoay sở để tự nuôi sống, tự bảo vệ và tự quản lý bản thân chỉ trong một đêm. Nói như Việt Nam Cộng Hoà trước 75 là tự túc tự cường sau khi mỹ rút lui với hiệp định Paris.


Một thị trấn được bao quanh bởi đất nông nghiệp màu mỡ có thể thích nghi với thực tế mới này. Các gia đình lãnh đạo của nó tập hợp trong một hội trường, thành lập một hội đồng, và gọi nó là “thượng viện” (senate) như thời kỳ dưới sự cai trị của người La Mã, đồng thời nắm quyền kiểm soát thị trấn. Đây chính là mô hình được các thành phố như Venice, Florence và hàng chục thành bang Ý khác noi theo.


Ngược lại, các thị trấn có đất nghèo không thể thích nghi tốt. Khi nguồn cung thực phẩm cạn kiệt và bọn cướp đe dọa sự an toàn của họ, người dân ở những thị trấn yếu thế đã chọn một chiến lược giản dị quen thuộc: họ tìm đến trú ẩn trong những ngôi nhà kiên cố với các tường thành cao vời vợi của các gia đình giàu có. Khi mình đi du lịch nước Georgia cạnh Nga thì có đến một vùng ở Caucase, thấy người dân xây mấy tháp cao bằng đá rất kiên cố, họ dự trữ lương thực cho cả năm ở trong tháp. Khi quân cướp hay các làng bên cạnh đói quá kéo lại cướp lương thực thì họ đóng cửa phía trong và chống chọi. Đói quá giặc bỏ đi. Vui lòng giặc đến đói quá giặc đi. 


Năm ngoái đi bộ 375 km ở vùng Toscana thì thấy rõ vấn đề, các làng hay thành phố đều được xây dựng trên đồi cao. Trong ngày mình đi bộ ở vùng ruộng nên thấp, cứ tung tăng vô tư như người Hà Nội, khi chiều đến thì phải leo đồi núi để vào các thành phố như San Gimignano, xung quanh là bức tường thành, chỉ có cổng đi vào. Đi cả ngày đã oải rồi tối phải bò lên đồi để vào thành phố ngủ đêm và ăn uống. Chán Mớ Đời 


Những ngôi nhà kiên cố này thường là các biệt thự (villas), nằm ở các trang trại kiên cố ngoài đồng quê. Dân tình đem gia đình đến tá túc như khi xưa Việt Cộng vào là bỏ chạy. Hãy bảo vệ chúng tôi, và chúng tôi sẽ làm việc đồng áng trên đất của ngài,” dân thị trấn đề nghị tự làm nô lệ biến các địa chủ có tường thành che chở, trở thành bọn cường hào ác bá, có nợ máu với nhân dân. Các thị trấn trở nên trống rỗng, còn các biệt thự thì chật kín người. Đó là chế độ phong kiến khởi đầu, người nông dân bỏ đất của mình để xin làm tá điền cho các đại địa chủ để được bảo vệ với bọn cướp. Bình dân học vụ là xin vào ở trong ấp chiến lược để tránh Việt Cộng xâm nhập cướp đất cướp nhà và lương thực. Ngày ra làm ruộng tối rút vào làng.


Trước Mậu thân mấy người ở các vùng xôi đậu miền trung bỏ chạy vào Đà Lạt rồi đi làm thuê như chú Hai và chú Nhị làm vườn cho nhà mình vì vườn tược ở Quảng Ngãi bị Việt Cộng chiếm hết khiến mất an ninh. 


Nếu ai có dịp đi viếng Ý Đại Lợi về phía nam có nhiều thành phố, người dân xây nhà trong mấy hang đá như Matera,…rất lạ nhưng để hiểu khi xưa người ta phải sống còn ra sao. Chui vào các hang đá để khi giặc cướp đến, chỉ lăn cục đá to đùng ở trong thì ngoại bất khả nhập. Ở Capodoccia ở Thổ Nhĩ Kỳ mình có viếng một địa đạo từ 2000 năm trước, cho mấy ngàn người theo công giáo sống ở trong để tránh bị quân la-mã, bắt giết. 


Cư dân định cư xung quanh những biệt thự này được gọi là villaggio, hay làng (village). Không giống như các thị trấn nhỏ, các ngôi làng là những chế độ quân chủ thu nhỏ. Chúng được cai trị bởi một lãnh chúa duy nhất, được những người theo phe ủng hộ, và được duy trì bởi tầng lớp nông dân cung cấp lương thực cho ông ta. Kết quả là, bản đồ châu Âu sau thời La Mã được định hình bởi năng suất nông nghiệp. Đất tốt màu mỡ tạo ra các nước được xây dựng chính trị trên nền cộng hòa, trong khi đất nghèo tạo ra các ngôi làng, từ đó dẫn đến sự xuất hiện của các lãnh chúa, và cuối cùng là các vị vua. Ý Đại Lợi thì phía nam đất không màu mỡ lắm như miền trung Việt Nam nên người dân Ý Đại Lợi từ từ bỏ quê ra đi lên miền bắc kiếm cơm hay di dân qua các Châu Mỹ. 


Thế kỷ này, chúng ta đang đứng trước một tình trạng là những người ở các xứ nghèo đói, theo bản năng sinh tồn họ sẽ vượt đường xa để đến các nước tây phương như trước đây tổ tiên loài người đã làm. Cuộc di dân lớn nhất lịch sử loài người đã và đang được thành hình từ cuối thế kỷ 20 đến nay và chắc chắn sẽ không thể ngăn ngừa được dù có xây tường cao. Như khi xưa, tổ tiên chúng ta đói, bỏ nước , bỏ làng ra đi kiếm ăn.


Trong lịch sử loài người khi quê mình nghèo thì thiên hạ bỏ xứ đi lập nghiệp nơi khác như bên ngoại mình bỏ xứ Huế lên Đà Lạt. Rồi mấy ông Việt Cộng vào cướp hết. Chán Mớ Đời 


Bắc Ý Đại Lợi sở hữu vùng đất nông nghiệp màu mỡ nhất châu Âu, đó là lý do tại sao Thời kỳ Phục hưng, một giai đoạn phát triển văn hóa và trí tuệ vĩ đại lại nở rộ ở đây. Không phải vì người Ý bẩm sinh thông minh hơn. Thay vào đó, đất đai màu mỡ của Italy đã duy trì một giai cấp thương nhân thịnh vượng trong thời gian dài. Những thương nhân này, khi đã có ảnh hưởng lớn, cuối cùng tiếp cận được văn học cổ điển HY-La, xây dựng những mái vòm tráng lệ, và thay đổi cả thế giới về tư tưởng và nghệ thuật đến ngày nay. Người ta gọi đó là thời kỳ Phục Hưng của âu châu. Quatrocento như người Ý Đại Lợi gọi.


Tương tự người Việt tỵ nạn khi mới sang Hoa Kỳ thì chỉ muốn kiếm cơm nhưng dần dần tích tụ được chút tiền thì bắt đầu mua tranh, nghệ thuật, xây nhà đủ kiểu theo văn hoá “biết bố mày là ai không.” Hay phong thủy và phong hỏa. 


Chỉ khi ai đó cung cấp cho chúng ta, chúng ta mới có thể thưởng thức được những tác phẩm kinh điển. Florence đặc biệt được hưởng lợi từ sự hỗ trợ này. Khi đế chế Ottoman chiếm đóng nước Hy-Lạp thì các nhóm trí thức, giàu có của xứ này mới lên thuyền vượt biển qua Ý Đại Lợi. Họ đem theo các sách cổ điển và triết học của họ khiến người Florence tò mò, khai hoá họ thêm tạo ra một văn hoá hoành tráng đưa nghệ thuật lên cao vút. Tương tự khi các giống dân trên thế giới di dân qua Hoa Kỳ, các nghệ sĩ, trí thức, kỹ sư,… đã giúp Hoa Kỳ trở thành một cường quốc dù mới được thành lập 250 năm nay.


Hay về mặt thực phẩm, nay đi khắp nước Mỹ đều có tiệm ăn bán pizza đeen từ người Ý Đại Lợi, hay taco của người Mễ hoặc phở hay bánh mì của người Việt. người Tàu thì khỏi nói chỗ nào trên thế giới đều có tiệm ăn tàu. 


Tương tự sau 1954, các văn nghệ sĩ di cư từ miền Bắc đã tạo nên một nền văn hoá mà đến ngày nay, người Việt vẫn còn tự hào. Ngay cả dân miền bắc vẫn tìm đọc các cuốn sách miền nam xưa, điển hình nhất là dân Hà Nội nghe nhạc Bolero trong khi nhạc sĩ Trần Tiến, trên đài truyền hình Việt Nam, kêu gọi loại bỏ Nhạc Đỏ, chỉ hát Nhạc Vàng đồi trụy của Nguỵ Quân Nguỵ Quyền. Như nhà phê bình Văn Học Hoài Thanh, khi viếng miền Nam, ông ta nói, về cơ bản bọn nGuỵ là xấu mà sao chúng làm thơ hay nhạc thậm chí văn của chúng quá hay. Không hiểu nổi.


Mình hay tò mò lý do Anh quốc một đảo nhỏ ở âu châu mà có thể chiếm đóng khắp nới trên thế giới và tuyên bố mặt trời không bao giờ lặn tại Anh quốc. Trở thành một cường quốc bậc nhất ở thế kỷ 19. Lý do là họ đã tìm ra cách giảm thiểu thủy thủ chết trên tàu khi ra khơi mấy tháng hay năm liền.


Năm 1768, Thuyền trưởng Cook đã chất lên tàu HMS Endeavour 7.860 pound (khoảng 3.565 kg) dưa cải bắp muối (sauerkraut). Thủy thủ đoàn ban đầu từ chối ăn, nên ông chỉ phục vụ riêng cho các sĩ quan và bảo họ ăn một cách công khai trước mặt thủy thủ mỗi ngày, cho đến khi các thủy thủ cũng muốn ăn theo. Đáng chú ý là, không một ai trên tàu tử vong vì bệnh scurvy trong suốt chuyến đi kéo dài ba năm. Một bệnh thiếu sinh tố khi đi biển vì ăn toàn là đồ khô. 


Chuyến đi vòng quanh thế giới đầu tiên của thuyền trưởng Thomas Cook là một thành tựu phi thường, khi ông đã hoàn thành việc đi vòng quanh quả đất mà không mất một thủy thủ nào vì scurvy. Để ghi nhận phương pháp bảo vệ sức khỏe phi thường cho thủy thủ đoàn, Hội Hoàng gia London đã trao cho ông Huy chương Copley, một trong những vinh dự khoa học danh giá nhất nước Anh.


Giải pháp của thuyền trưởng Cook cho bệnh scurvy, vì đây từng là tai họa chết người đối với thủy thủ trên những chuyến đi dài trong nhiều thế kỷ. Một số ước tính cho rằng scurvy gây ra nhiều cái chết hơn cả giao tranh với kẻ thù, bão tố và tất cả các nguyên nhân khác cộng lại. Ai đi vượt biển chắc hiểu sự việc này. Thiếu vitamin C.


Phương pháp sáng tạo của thuyền trưởng Cook bao gồm bắp cải lên men và sự thấu hiểu sâu sắc về tâm lý con người. Thực đơn hàng ngày điển hình trên tàu Endeavour gồm:

  • Bữa sáng: lúa mì luộc với đường
  • Bữa trưa: thịt bò muối hầm với rau củ
  • Bữa tối: súp kèm bánh quy tàu cứng đến mức phải dùng que sắt mới đập vỡ được.

Tàu chở một lượng lương thực khoảng 5.500 lít bia, 7.300 lít rượu mạnh, 16 tấn bánh mì, 2 tấn thịt bò muối, và hơn 3 tấn dưa cải bắp muối. Nên nhớ trong bia có chất dinh dưỡng nên khi người âu châu đi tàu di dân sang Mỹ, họ đem theo bia rất nhiều, vừa giải khát vừa có chất dinh dưỡng.


Thủy thủ tiêu thụ khoảng 5.000 calo mỗi ngày để đáp ứng nhu cầu thể lực khi vận hành một con tàu buồm thế kỷ 18. Thuyền trưởng Cook còn mang theo nước dùng di động từ nội tạng bò, 40 thùng malt, giấm, mù tạt và nước chanh cô đặc như các biện pháp bổ sung chống scurvy. Ông đang tiến hành một thí nghiệm dinh dưỡng có kiểm soát đầu tiên trong lịch sử hải quân, kéo dài ba năm và vượt qua 40.000 dặm đại dương.


Một chi tiết nổi bật trong câu chuyện này là “tâm lý dưa cải bắp”. Thuyền trưởng Cook nhận thấy thủy thủ Hà Lan ít bị scurvy hơn nhiều so với thủy thủ Anh, và ông chú ý họ mang theo thùng dưa cải bắp. Ông ra lệnh cho tàu mình làm theo, nhưng thủy thủ Anh hoàn toàn từ chối món ăn lạ ngoại quốc này. Thuyền trưởng Cook quyết định chỉ phục vụ cho sĩ quan và để họ ăn công khai trước mặt thủy thủ. Chỉ sau vài tuần, các thủy thủ bắt đầu đòi phần của mình. Thuyền trưởng Cook nhận ra rằng: những thủy thủ nghi ngờ món ăn lạ sẽ ăn ngay khi họ tin rằng người có địa vị cao hơn đang được hưởng thứ mà họ không có. Đó là cách đánh lừa thuỷ thủ để cứu mạng của họ. Tương tự người Việt khi xưa có chức tiền bạc, bắt chước tây đầm nhảy đầm, ăn cơm tây với dao nĩa đủ trò vì nghĩ mình sẽ đạt ngôi vị của kẻ cai trị mình. Lâu lâu chửi thể tiếng tây cho sang.


Ngày nay khoa học chứng minh là thuyền trưởng Thomas Cook, đã sai khi nói ăn mấy đồ như sauerkraut này nọ. Học cho biết là nhờ mỗi lần cập bến, ông ta đã tiếp tế thức ăn tươi, trái cây cho thủy thủ vì bệnh scurvy xảy là vì thiếu sinh tố C. Do đó hải quân Anh quốc đều trang bị rất nhiều nước chanh để thuỷ thủ uống. Nhờ đó mà họ không còn thuỷ thủ chết nhiều khi đi biển. Ngày nay người ta cho biết sinh tố C là rất quan trọng như ở Đức quốc họ sử dụng truyền sinh tố C để trị bệnh ung thư mà mình có kể rồi. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 



Đế chế “Nail” của người Việt hải ngoại

 Đế chế “Nail” của người Việt tỵ nạn


Mình có kể về các motel tại Hoa Kỳ đa số do người di dân gốc Ấn Độ sở hữu, các tiệm Donuts thì thuộc về người Cao Miên, các tiệm giặt ủi thì người Đại Hàn. Hôm nay đến cộng đồng người Việt tỵ nạn đã xây dựng một đế chế làm móng tay tại Hoa Kỳ. Cho thấy tuỳ theo đặc tính và văn hoá của mỗi cộng đồng di dân đã xây dựng một ngành nghề đặc biệt trong xã hội Hoa Kỳ.

Được biết người Mỹ gốc việt chiếm 1.7% dân số Hoa Kỳ nhưng họ có trên 51% thợ làm nail trên đất Mỹ, 80% người làm nail tại tiểu bang Cali. Xem ra mình quen nhiều người Việt làm nail ở Cali. Chưa đến 2% dân số mà đã thay đổi kỹ nghệ Nail trên 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm.


Đế chế Nail tại Hoa Kỳ khởi đầu từ ngày 30/4/1975. Hoa Kỳ di tản 125,000 người Việt ra khỏi Sàigòn. Đa số đến Hoa Kỳ với anh ngữ giới hạn, không tiền bạc, nhưng vài thập kỷ sau khi rời bỏ quê hương trong bối cảnh vội vả, họ đã xây dựng và thay đổi ngành làm nail tại Hoa Kỳ. Trong số người di tản 50,000 người đó đã được đưa đến trại thủy quân lục chiến Pendleton, California tạm trú, đợi người Mỹ bảo lãnh ra trại. Tại đây, có một bà tài tử người Mỹ tên Tippy Hedrin, nổi tiếng trong phim của Alfredo Hitcock “The Birds”, mẹ của nữ tài tử Melanie Griffith đến trại tỵ nạn làm thiện nguyện. Điều bà ta ngạc nhiên là các bà tỵ nạn, thay vì nhìn khuôn mặt Diễm kiều của bà, cứ nhìn chăm chăm vào móng tay của bà. Lý do là ở Việt Nam ít phụ nữ nào sơn móng tay đẹp như móng tay bà này.

Bà tổ ngành nail của người Việt tại Hoa Kỳ 

Bà ta đột phá tư duy, sao không dạy mấy bà người Việt này làm móng tay để kiếm cơm nuôi con cái. Thế là bà ta kêu người làm nail cho bà dạy mấy bà tỵ nạn người Việt. Chỉ 20 phụ nữ người Việt theo học lớp này và từ đó dạy lại 100 người rồi hàng ngàn người Việt theo nghề Nail. Từ tỵ nạn đến chiếm hoàn toàn kỹ nghệ làm móng tay với tổng số 8.5 tỷ mỹ kim hàng năm cho người Mỹ tại Hoa Kỳ.


Đây là câu chuyện của những người mẹ, người cha, mất hết những gì ở Việt Nam, tỵ nạn ở xứ có nhiều cơ hội đổi đời, hy sinh đời mình để củng cố đời con. Ngoài ra còn để dành tiền gửi về giúp đại gia đình ở Việt Nam. Họ làm việc từ 10 đến 12 tiếng mỗi ngày. Đi chung xe với nhau trên xa lộ để đi làm. Sự giao thoa văn hoá người Việt và người gốc phi châu hay Mễ tây cƠ. Từ 1975 đến đầu 1990, có trên 1 triệu người Việt định cư tại Hoa Kỳ. Họ đến từng đợt, đa số không biết nhiều anh ngữ, không tín dụng cá nhân nhưng lịch sử nhiều khi rất lạ.

Trở lại 20 người Việt đầu tiên học làm nail. Sau đó thì họ đi làm cho chủ người Mỹ rồi họ đột phá tư duy, tại sao làm công cho thiên hạ nên rủ nhau mở tiệm riêng tuy nhỏ nhưng làm nhiều ăn nhiều làm ít ăn ít. Nói như người Việt bỏ công làm lời. Các người Việt đi làm cho tiệm nail rồi khi hiểu cách thức quản lý tiệm thì họ ra riêng, mở tiệm cho mình. Mình nghe kể là thợ làm xong, học đủ nghề thì xù chủ chạy ra mở tiệm riêng rồi kéo khách hàng về tiệm mình. Nên họ kêu nghề nail rất bạc bẽo. Vào đọc tin tức của nhóm làm nail ở Hoa Kỳ thấy thương họ.


Trước khi có sự hiện diện người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ, đi tới tiệm nail chỉ dành riêng cho tầng lớp người giàu có với thời gian nhiều, chả biết làm gì ra ngồi Salon để cho ai đó dũa móng tay hay móng chân và tán dóc. Đối với phụ nữ mỹ bình dân đi vào salon nail là một loại xa xỉ vì quá đắt đối với túi tiền của họ nhưng người Việt đã thay đổi sự việc. Người Việt mở tiệm nail, không có tiền nhiều nên lúc đầu thường mở trong các khu vực bình dân như những khu vực của người da đen hay Mễ tây cơ.



Kết quả người Việt đã thay đổi khuôn mẫu làm nail tại Hoa Kỳ. Họ đã dân chủ hoá việc làm nail, thay vì làm nail riêng cho tầng lớp người giàu có, họ lấy giá rẻ khiến người dân bình thường, với giá hữu nghị có thể tự thưởng cho mình khi đi ăn tiệc vì mỗi set rẻ. Tương tự người cao miên mở tiệm bán Donuts có cả gia đình chung vào làm thì người Việt cũng có con cái giúp sau khi đi học về. Mình có người thân vượt biển sang Hoa Kỳ đi làm nail, mở tiệm rồi con cái đi học về ra giúp phụ cai quản trong tiệm. Ai buồn đời xem đường dẫn 

https://www.bbc.com/news/magazine-32544343


Ngoài ra các tiệm của người Mỹ thì đến 5 giờ là đóng cửa, còn tiệm người Việt thì mở đến khi nào hết khách thì về. Họ lấy giá hữu nghị nên có đông khách và mở thêm các chi nhánh. Có người đi xuyên bang thực hiện giấc mơ Hoa Kỳ của họ. Từ từ các tiệm nail do người Việt mở khắp Hoa Kỳ. Đi đâu mà thèm ăn cơm Việt Nam thì chỉ ghé lại tiệm nail để hỏi địa chỉ tiệm ăn Việt Nam. Đa số người Việt tìm thấy cơ hội làm tiền trong các khu vực đông người da đen và người mễ. Mấy sắc dân này ưa thích màu mè,…nên làm móng tay rất nhiều kiểu, vẽ đủ hình thức, các tài tử hay đội banh này nọ. Cho thấy đế chế Nail của người Việt  không chỉ xây dựng trong cộng đồng người Việt mà toàn nước mỹ với các cộng đồng bạn.


Mình có anh bạn, mẹ là 1 trong người 20 đầu tiên học nghề làm móng tay. Sau này mở trường dạy làm nail, nay anh bạn bỏ nghề bác sĩ để tiếp tục trường của bố mẹ để lại với cô em. Nay họ có chương trình dạy trên mạng, cho người Việt, người Mễ, và người ấn độ. Hoạt động theo phương cách làm ăn của mỹ, không còn tiểu thương như bố mẹ.


Giá rẻ và sự bành trướng của ngành nail của người Việt vô hình trung tạo ra những mặt trái của ngành nghề. Các thợ đều làm nhiều giờ, vui lòng khách đến vừa lòng khách đi. Khi khách đi ra thì các thợ nail ho, không có thời gian nghỉ ngơi để ăn trưa. Cả ngày 10-12 tiếng hít các chất hoá học như Acetone, cổ tay đau vì sau bao nhiêu năm cứ dũa nail, ngồi mỏi mệt, đau lưng. Thêm tiệm thường không được thoáng không khí lắm. Chúng ta chỉ thấy móng tay đẹp nhưng ít ai để ý đến hậu quả phía sau của những người hy sinh đời mẹ củng cố đời con. Mình thấy có nhiều đàn ông cũng làm nail cho mấy bà mỹ. Giá rẻ mà tiền thuê tiệm càng ngày càng gia tăng nên khiến họ bị stress, thuế càng cao trong khi khách hàng thì muốn làm nhanh, để có nhiều khách hàng.

20 người việt đầu tiên hoc làm móng tay tại Cali.

Các người làm nail hít Acetone, acrylic, bột, keo suốt bao nhiêu năm sẽ gây hại cho sức khoẻ. Có chị bạn có người chị làm nail rồi bệnh quá nghỉ làm. Lâu lâu xe cứu thương đến chở vào nhà thương vì lộn xộn của sức khoẻ. Mình có người thân làm nail rồi về hưu vì bệnh hoạn và qua đời khá sớm. Nói chung vì kém anh ngữ nên khó tìm công việc khác, thêm gia đình ở Việt Nam xin tiền rồi cố gắng nuôi con ăn học trở thành bác sĩ kỹ sư. Mình có quen một chị gốc Đà Lạt, làm nail, nay con gái tốt nghiệp nha sĩ. Đó là sự hy sinh cho con cái được một tương lai khá hơn mình.


Đó là thế hệ đầu tiên của người Việt tỵ nạn nhưng thế hệ thứ 2 sẽ không tiếp nối con đường làm nail vì nay thế hệ này là kỹ sư, bác sĩ. Các tiệm nail này già úa theo thời cũng như chủ nhân. Ngày nay với luật pháp thay đổi nên có thể hệ thống làm nail kiểu người Việt từ 75 đến nay chắc sẽ gặp khó khăn vì con cháu không tiếp tục thêm và có thể đế chế Nail của người Việt sẽ biến mất trong tương lai.


Có dạo, một tổ hợp luật sư cứ cho người đi kiện các tiệm nail vi phạm vệ sinh y tế. Làm việc mỗi ngày 12 tiếng đồng hồ, chưa kể phải lái xe xa từ Bolsa đến Los Angeles hay xa hơn thì đâu có thì giờ lau chùi vệ sinh hoàn toàn như mỹ. Cuối cùng họ họp nhau mướn luật sư để kiện lại, khiến đám luật sư này bị mất bằng tại Cali.


Có điểm lạ là ngành nail tại Hoa Kỳ sẽ đi theo một lối mới. Có nhiều người Việt trẻ sáng lập tiệm nail qua Instagram, mạng xã hội với khách hàng là những người nổi tiếng, có ảnh hưởng trển các mạng xã hội. Như vậy họ có thể lấy giá tiền cao hơn. Các tiệm nail ngày nay nghe kể sang trọng lắm, giúp khách hàng đến để trải nghiệm chớ không phải lẹ lẹ có bộ móng tay đi ăn tiệc hay hẹn hò với bạn trai.


Có câu chuyện một cô tên Jenny, 27 tuổi mở tiệm nail lợi tức lên $600,000/ năm. Cô ta kể là khi dịch covid 19 không biết làm gì nên tự học làm nail qua mạng rồi muốn thực hành nghề nên làm miễn phí để có followers trên Instagram. Thế hệ đầu tiên học từ các bà hay dì, khi mới sang Hoa Kỳ, có trường dạy qua mạng còn thế hệ hôm nay thì học qua kỹ thuật số. Khách hàng của cô Jenny không chỉ muốn làm nail mà muốn các móng tay trở thành những tác phẩm nghệ thuật, những design chụp hình được để tải lên mạng xã hội. Khách hàng phải hẹn từ mấy tháng. Mình có cô cháu làm lông mày, xâm xiết gì đó. Nghe nói khách hàng Mỹ hẹn tối thiểu 6 tháng. Cô cháu chỉ hẹn giờ giấc chớ không như thế hệ trước làm cả ngày, không có thời gian cho gia đình.


Cô Jenny này không giới hạn ở làm nail mà còn bán các sản phẩm khác. Khách đến tiệm sẽ được mời mọc mua đủ thứ khác. Ngành nail hiện nay có hai cách. Một cách cổ điển là một set độ $20, hy vọng khách hàng boa hậu hĩnh, làm nhiều khách hạng, tích tiểu thành đại và thế hệ mới thì lấy giá cao hơn và có thể làm rất được nhiều tiền và ít giờ. Có lẻ quen được boa hậu hĩnh, mình để ý mấy người làm nail đến vườn mình mua trái cây, trả mình rất sang cả $100/ thùng còn bác sĩ đến thì chỉ muốn miễn phí, xin thêm cho đại gia đình, chuyên viên ở phòng mạch. Chán Mớ Đời 


Nếu nhìn xa hơn, người Việt bớt sang Hoa Kỳ như các thập niên trước. Các chủ tiệm càng ngày càng già mà con cháu sẽ không tiếp nối sự nghiệp. Nhưng ngành nail có thể nói đã giúp cộng động người Việt tỵ nạn nhanh chóng, có công ăn việc làm, không cần anh ngữ giỏi. Không cần đi học đại học, vẫn kiếm cơm nhanh chóng để nuôi gia đình và Việt Nam. Theo census thì người Việt tỵ nạn có lợi tức ($89,000) cao hơn người Mỹ trắng ($69,000). Chán Mớ Đời 

Pew Research Center +2

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Bài diễn văn ngắn gọn 7-9 phút lại tại hội Toastmasters 

 



The Nail Empire of Vietnamese Refugees


Good Morning Toastmasters and honored guests,



Pause


Let me start with a simple question:


When you walk into a nail salon in California…

what language do you expect to hear?


For many of us, the answer is clear: Vietnamese.


Vietnamese Americans make up less than 2% of the U.S. population—yet they represent over half of all nail technicians nationwide… and about 80% in California.


That’s not just participation.

That’s transformation.


This morning, I want to tell you the story of how a group of refugees—  arriving with nothing—built an empire.



——Pause  make eyes contacts



A Beginning Born from Loss


This story begins on April 30, 1975—the fall of Saigon. Exactly 51 years ago. 


Over 125,000 Vietnamese fled their homeland.

They arrived in America with little English, no money, and no clear future.


Many were temporarily housed at Camp Pendleton near San Diego


And here’s where something unexpected happened.


A Hollywood actress named Tippi Hedren—famous for The Birds directed by Alfred Hitchcock—visited the camp as a volunteer.


She expected admiration for her fame.


Instead… the women stared at her nails.


Not her face.

Not her celebrity.


Her nails.


Why?


Because in Vietnam, few had ever seen such perfectly manicured hands.


And in that small moment, Tippi Hedren saw something others missed—

an opportunity.


She asked a simple question:

“What if I teach them this skill?”


She brought in her personal manicurist.

Twenty Vietnamese women signed up.


Just twenty.



From 20 Women to an Industry


Those twenty women learned fast.


Then they taught others.

Those others taught more.


And step by step, salon by salon, city by city…

a network formed.


At first, they worked for American salon owners.


But then came a turning point.


They asked:

“Why not open our own?”


So they did.


Small shops.

Long hours.

Family-run.


They worked 10… 12 hours a day.

Shared rides.

Saved every dollar.


And slowly, something powerful happened:


They didn’t just join the industry.


They changed it.


⸻ pause  make eyes’ contacts



Democratizing Beauty


Before Vietnamese salons, nail care in America was a luxury.


Expensive.

Exclusive.

Reserved for the wealthy.


But Vietnamese entrepreneurs had a different model.


Lower prices.

Faster service.

Accessible locations.


They opened in working-class neighborhoods—serving Black, Latino, and immigrant communities.


They stayed open late—long after others closed.


And they welcomed everyone.


They turned nail care from a luxury…

into something everyday people could afford.


In business terms, they expanded the market.


In human terms, they gave people a small piece of dignity—

the ability to treat themselves.


⸻ pause, make eyes’ contacts


The Hidden Cost of Success


But every success story has a hidden side.


Behind those polished nails… are worn hands.


Many technicians inhale chemicals daily—acetone, acrylics, glue.


They sit for hours, bending over, straining their backs and wrists.


Some skip meals.

Some sacrifice their health.


I’ve known people who had to quit due to illness.

Others who didn’t get that chance.


And yet—they kept going.


Why?


Because they weren’t just building a business.


They were building a future for their children.


⸻ pause make eyes’ contacts


The Real Dream


This is not just a story about nails.


It’s a story about parents.


Parents who lost everything…

so their children could gain everything.


You’ll hear stories like this:


A mother works in a nail salon for 20 years.

Her daughter becomes a dentist.


A father works double shifts.

His son becomes an engineer.


That was the dream.


Not for themselves.


But for the next generation.


⸻ pause make eyes contacts



A New Generation, A New Direction


Today, things are changing.


The second generation is stepping away from traditional salons.


They’re becoming doctors, engineers, entrepreneurs.


And the nail industry itself is evolving.


Young Vietnamese artists are now using platforms like Instagram.


They create nail art—not just services.


Clients don’t just want polished nails anymore.


They want designs.

Stories.

Something worth posting.


Some charge hundreds per session.

Appointments booked months in advance.


From survival…

to artistry.



Will the Empire Last?


So here’s the question:


What happens next?


Many salon owners are aging.

Fewer new Vietnamese immigrants are arriving.

And fewer children want to continue the business.


The empire that began in 1975…

may one day fade.


But even if it does—


its impact will not.



Closing


Because this story is not really about nails.


It’s about resilience.


It’s about adaptation.


It’s about seeing opportunity… where others see nothing.


From 20 women in a refugee camp—

to a multi-billion-dollar industry.


That is not luck.


That is vision, sacrifice, and relentless effort.


So the next time you walk into a nail salon…


Take a moment.


Look beyond the colors.

Beyond the designs.


And remember—


you are witnessing a piece of history

built by hands that refused to give up.


Thank you.