Giáo dục trai gái khác nhau tại học đường
Hôm trước, đọc một bài về lý do giáo dục con nít trẻ trai gái cần phân chia vì chúng lớn lên không như nhau. Khi xưa, trường con trai và trường con gái riêng, sau này nhân danh bình đẳng bú xua la mua nên họ nhập chung trai gái và tạo ra sự lộn xộn cho nhiều đứa trẻ nhất là con trai. Nghĩ lại thì đúng vì khi xưa, lúc tiểu học thì đa số con gái trong lớp học rất giỏi nhưng đến khi lên trung học đệ nhị cấp là xem con trai giỏi toán hơn. Con gái có lẻ bắt đầu có kinh nguyệt hay mơ tưởng đến những tấm chồng nên đâm ra u mê?
Họ cho biết cải cách giáo dục đã quá hạn, đặc biệt là ở những năm đầu đời (từ mẫu giáo đến tiểu học), nơi mô hình "một kích cỡ phù hợp cho tất cả" hiện nay thường không phù hợp với thực tế phát triển của trẻ. Tiến sĩ Erica Komisar, chuyên về giáo dục nêu bật một vấn đề thực tế: nhiều bé trai gặp khó khăn vì lớp học ưu tiên việc ngồi yên, các nhiệm vụ về ngôn ngữ/cảm xúc và khả năng tự điều chỉnh nhanh chóng, những kỹ năng thường xuất hiện sớm hơn và tự nhiên hơn ở bé gái do sự khác biệt về sinh học và nội tiết tố (ví dụ: sự gia tăng testosterone ở bé trai từ 3-6 tuổi thúc đẩy sự năng động và hoạt động thể chất cao). Nhớ hồi nhỏ ngồi trong lớp hay bị ông tây bà đầm béo tai vì ngồi không yên lại thêm nói chuyện với thằng ngồi cạnh.
Vụ chuyển giới tính của trẻ em ngày nay, có phải lý do sự phát triển về cơ thể khiến chúng lộn xộn rồi mấy bà thầy ông giáo lại nghi chuyển đổi giới tính là ngọng. Hồi nhỏ mình hay chơi với con gái, nấu ăn vớ vẩn sau này lên trung học thì ngưng, cứ thấy gái là cứ nhìn nhìn ở ngực người ta, tưởng tượng coi có bự hay không. Chỉ đến khi vào Trường Cao Đẳng Quốc Gia Mỹ Thuật Paris, học vẽ khoả thân 2 lần một tuần suốt 6 năm trời nên hết tò mò. Chán Mớ Đời
Dữ liệu phần nào chứng minh điều này. Tỷ lệ chẩn đoán ADHD ở bé trai cao hơn nhiều so với bé gái (ví dụ: khoảng 15% bé trai so với 8% bé gái theo thống kê gần đây của Mỹ), thường là do các hành vi như bồn chồn hoặc bốc đồng, những hành vi trông có vẻ "gây rối" trong môi trường có cấu trúc nhưng lại phù hợp với sự phát triển bình thường của bé trai. Bé trai cũng phải đối mặt với tỷ lệ kỷ luật cao hơn từ nhỏ, chậm phát triển khả năng sẵn sàng đến trường (kỹ năng ngôn ngữ/xã hội ở độ tuổi mẫu giáo), và góp phần vào các xu hướng như tỷ lệ tốt nghiệp trung học và nhập học đại học thấp hơn ở nam giới. Hèn gì khi xưa thiên hạ kêu mình ngu lâu dốt bền.
Điều này không phải là phổ biến, vẫn có rất nhiều bé trai phát triển tốt nhưng các mô hình này đủ nhất quán để việc bỏ qua sự khác biệt giới tính có nguy cơ biến sự phát triển bình thường của bé trai thành bệnh lý. Không biết mấy tên khi xưa trong lớp nhạy đánh lộn có phải dính trường hợp này hay không. Như Từ Lê Bình, Tuấn Trung, Nguyễn Văn KHoa…. Mấy ông thần này khi xưa hay đánh lộn khi ra chơi nhất là trước khi vào lớp, ngoài cổng trường.
Ý tưởng về giáo dục mầm non đơn giới tính (các lớp học hoặc trường học riêng biệt cho nam và nữ trong những năm đầu đời) của bà ấy có sức hấp dẫn về mặt lý thuyết như:
Đối với các bé trai: nhiều giờ ra chơi hơn, các giờ nghỉ vận động, những khoảng thời gian tập trung ngắn, học tập dựa trên trò chơi hướng năng lượng một cách hiệu quả thay vì kìm nén, có khả năng giảm căng thẳng, chẩn đoán sai và sự thiếu gắn kết. Nhớ hồi về Paris, đến nhà anh bạn chơi, có hai thằng con bị tù túng trong căn hộ nên la hét om xòm sau đem ra công viên gần nhà thì chúng vui vẻ chạy chơi,… tây gọi là défouler.
Đối với các bé gái: Môi trường yên tĩnh hơn, nuôi dưỡng sự tự tin trong các môn STEM/toán học (ít tự ti hơn khi ở cạnh các bạn nam), khuyến khích sự mạo hiểm mà không gây sợ hãi. Một số bằng chứng ủng hộ lợi ích trong các bối cảnh cụ thể như các bé gái thể hiện khả năng toán học tốt hơn hoặc tự tin hơn trong môi trường học tập chỉ dành cho một giới, hoặc các bé trai tham gia tự do hơn vào nghệ thuật/âm nhạc mà không bị trêu chọc. Các báo cáo không chính thức từ các trường học chỉ dành cho một giới thường ghi nhận hành vi tốt hơn, sự tham gia tích cực hơn và giảm sự xao nhãng. Ở những nơi phục vụ học sinh có nguy cơ hoặc học sinh thuộc nhóm thiểu số, đã có những nhận định tích cực về việc giảm các vấn đề kỷ luật.
Đà Lạt khi xưa có trường Trần Hưng Đạo cho nam, Bùi Thị Xuân cho nữ, Adran cho nam sinh, sau này ít học trò nên mấy sư huynh mới nhận thêm mấy cô vào. Couvent des oiseaux cũng chỉ có nữ sinh. Nghe kể sau 75 thì cách mạng bình đẳng, trai gái như nhau nên đi học chung với nhau hết.
Tuy nhiên, các nghiên cứu lại cho kết quả trái chiều và thường yếu. Các đánh giá chất lượng cao (ví dụ: phân tích tổng hợp và báo cáo từ các nhóm như Hiệp hội Tâm lý học Hoa Kỳ hoặc các nghiên cứu gần đây có tính đến sai lệch chọn mẫu) cho thấy rất ít hoặc không có lợi ích học tập nhất quán nào từ giáo dục đơn giới tính nói chung, hiệu quả nhỏ hoặc không đáng kể khi được kiểm soát đúng cách. Lợi ích, khi xuất hiện, có thể đến từ nguồn lực của trường học, chương trình giảng dạy khắt khe hoặc chất lượng giáo viên hơn là chỉ riêng việc tách giới tính. Một số nghiên cứu thậm chí còn chỉ ra những nhược điểm, như củng cố định kiến, hạn chế sự chuẩn bị xã hội trong thế giới thực (học cách tương tác giữa các giới tính) hoặc không có lợi thế nào trong các kết quả rộng hơn. Đặc biệt đối với trẻ nhỏ, bằng chứng nghiêng về lợi ích tối thiểu hoặc phụ thuộc vào bối cảnh, trong khi học sinh lớn tuổi hơn (thanh thiếu niên) đôi khi cho thấy nhiều lợi ích tiềm năng hơn.
Việc chuyển đổi hoàn toàn trên toàn quốc sang giáo dục mầm non đơn giới tính sẽ rất tốn kém về mặt hậu cần, và gây chia rẽ chính trị, thêm vào đó, nó có nguy cơ thay thế một loạt vấn đề (ví dụ: nữ tính hóa quá mức đối với bé trai) bằng những vấn đề khác (ví dụ: xã hội hóa kém đa dạng hơn). Các nhà phê bình cũng đúng khi lưu ý rằng điều đó không chuẩn bị cho trẻ em một thế giới hỗn hợp giới tính. Nếu chúng ta thực sự muoosn về cải cách mà không muốn chuyển hoàn toàn sang trường học riêng biệt cho nam sinh, những thay đổi thiết thực và dựa trên bằng chứng có thể giúp ích cho các nam sinh (và cũng mang lại lợi ích cho nhiều nữ sinh):
1. Tăng cường hoạt động thể chất và giờ giải lao. Nhiều giờ giải lao mỗi ngày, thời gian chơi tự do dài hơn để giải thoát năng lượng và xây dựng khả năng tự điều chỉnh thông qua vận động. Các nghiên cứu cho thấy điều này giúp giảm các vấn đề về hành vi và cải thiện khả năng tập trung cho trẻ năng động. Theo mình hiểu học sinh tập Hoa Kỳ chơi thể thao mệt thở.
2. Các bài học ngắn hơn, tích hợp vận động. Thay đổi thời gian ngồi bằng các hoạt động vận động, các dự án thực hành thay vì thời gian sinh hoạt nhóm kéo dài. Hình như ở Nhật Bản, ở tiểu học, không có vụ bài tập ở nhà, cứ tha hồ chơi chớ học bài thuộc lòng ở nhà, khiến lú hết.
3. Học tập sớm dựa trên trò chơi và trải nghiệm. Ưu tiên chơi ngoài trời/khám phá hơn là học tập cứng nhắc ở bậc mầm non/lớp đầu cấp, phù hợp hơn với thế mạnh của bé trai trong khi vẫn hỗ trợ bé gái. Nhớ hồi tụi con học trường GATE thì ít bài tập hơn các ớ thường, được đi chơi, viện bảo tàng, dã ngoại nhiều các lớp thường. Nhất là ít bài tập. Cô giáo kêu nếu mất hơn 1 tiếng làm bài tập thì báo cho cô biết.
4. Hoãn bắt đầu đi học cho bé trai (tùy chọn/năm học bù). Một số người ủng hộ việc cho bé trai bắt đầu đi học muộn hơn một năm để phù hợp với mức độ trưởng thành, giảm sự thất vọng ban đầu.
5. Đào tạo giáo viên về sự khác biệt giới tính. Không nên có định kiến, chỉ cần nâng cao nhận thức về sự khác biệt trong phát triển để tránh việc dán nhãn vội vàng như ADHD cho hành vi hiếu động.
Những điều chỉnh này có thể giải quyết sự không phù hợp mà không cần thay đổi cấu trúc. Bé gái cũng phải đối mặt với áp lực (chủ nghĩa hoàn hảo, lo lắng trong môi trường cạnh tranh), vì vậy các cải cách nên hướng đến sự linh hoạt phục vụ cả hai giới. Nhìn chung, cần cải cách vì hiện trạng khiến các bé trai tụt hậu và gây căng thẳng không cần thiết cho cả hai giới. Nhưng trường học riêng biệt không phải là giải pháp thần kỳ đã được chứng minh; đó chỉ là một công cụ trong số nhiều công cụ, tốt nhất nên được thử nghiệm ở những nơi phù hợp (ví dụ: các lựa chọn dựa trên sự lựa chọn). Mục tiêu nên là tạo ra môi trường cho phép trẻ em học tập theo cách riêng của chúng, chứ không phải ép buộc chúng vào những khuôn mẫu.
Đại học Hoa Kỳ thì nổi tiếng nhưng giáo dục ở trung học thì bết càng khôn. Muốn dạy học, thầy cô cần phải có bằng thạc sĩ đàng hoàng nhưng không hiểu tại sao lại bết. Có thể đại học thì đã lớn nên trình độ ít khác biệt. Còn con nít thì tuỳ đứa bé, lớn nhanh, não bộ phát triển nhanh hay chậm mà dạy chung thì rất khó. Dạy chậm cho mấy đứa nhỏ chậm theo cho kịp thì lại làm những đứa giỏi nhanh nhẹn chán nản.
Ở Cali, ở tiểu học, thường họ cho học sinh làm test, để xem có thể cho vào học chương trình G.A.T.E. Chương trình này dạy nhanh hơn và ít làm bài tập ở nhà.
Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen
Nguyễn Hoàng Sơn


Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét