Kinh tế đăng ký (subscription economy)

 Kinh tế đăng ký (subscription economy)



Hôm nay đọc một bài trên mạng xã hội thấy đặc biệt nên gửi cho mấy đứa con. Con mình thì thuộc dòng keo kiệt nhưng nhiều khi đi chơi với mình thấy chúng tiêu tiền như nước vì mình trả nên nhắc chúng thôi. Câu chuyện như sau:


Tôi 24 tuổi, thu nhập 52.000 USD/năm, và gần đây tôi dọn vào ở trong phòng dành cho khách của nhà ông nội tôi, năm nay 80 tuổi, vì tiền thuê nhà 1.900 USD mỗi tháng đang bào mòn tôi đến kiệt quệ.


Thứ Bảy tuần trước, tôi đặt một khay sushi 32 USD qua ứng dụng giao đồ ăn vì cảm thấy “quá mệt” để vào bếp. Ông nội đứng nhìn người giao hàng rời khỏi hiên nhà, như thể vừa chứng kiến một tội ác. Tối hôm đó, ông ngồi ăn một bát “dọn tủ lạnh” bắp cải xào, chút thịt nguội còn sót lại và một củ khoai tây. Trông thật thảm. Có lẽ chưa đến một đô la để nấu. “Chắc là xa xỉ lắm,” ông lẩm bẩm. “Ăn uống như vua mỗi đêm.”


Tôi bùng nổ “Thời thế bây giờ khác rồi, ông nội! Thế hệ ông sống đơn giản. Ông mua được cả mảnh đất này chỉ với một nguồn thu nhập, lại còn nuôi cả gia đình!” Ông đặt thìa xuống. Tôi chưa từng thấy ánh mắt ông lạnh đến vậy. “Đơn giản ư?” Giọng ông gần như thì thầm. “Ông làm 2 ca ở nhà máy suốt ba mươi năm. Khi khủng hoảng xảy ra cuối thập niên 70, dưới thời tổng thống Carter, lãi suất gần 18%. Ông không ‘đặt đồ ăn’. Ông ăn bánh quy với bơ đậu phộng. Hàng tháng trời liền.”


Ông chỉ vào chiếc bàn cạnh giường tôi. “Cái đồng hồ cháu đeo còn đắt hơn ba tháng lương đầu tiên của ông. Đôi giày ‘thiết kế’ của cháu còn đắt hơn lần sửa bếp đầu tiên của ông. Còn sở thích của ông?” Ông chỉ vào chiếc găng tay bóng chày cũ, được để cẩn thận trên kệ. “Đó là sở thích của ông. Giá năm đô, dùng được bốn mươi năm.”


“Vậy sao? Cháu phải sống trong hang à?” tôi gắt lại. “Cháu không sống trong hang,” ông nói. “Cháu chỉ là thiếu kỷ luật. Cháu muốn cuộc sống của một chủ nhà nhưng không chịu hy sinh ly cà phê starbucks’ 8 đô. Cháu muốn bình yên tài chính nhưng sẵn sàng trả 30 đô cho cá sushi chỉ vì quá ‘kiệt sức’ để đun nước.”


Ông bước đến một chiếc tủ gỗ có khóa, lấy ra một cuốn sổ tiết kiệm bọc da đã sờn, rồi đặt lên đùi tôi. Tôi mở ra. 315.000 USD. Người đàn ông ăn ngũ cốc nhãn hiệu rẻ tiền và tự vá tất cho mình, đã tích lũy hơn ba trăm nghìn đô la từ một khoản lương hưu khiêm tốn và lối sống kỷ luật.


Tôi nhìn số dư. Rồi nhìn vào điện thoại, nơi thông báo “hộp quần áo cao cấp hàng tháng” vừa hiện lên. Tôi nhìn khay sushi mới ăn được nửa. Ông Arthur cầm bát bắp cải lên. “Cháu nói đúng, Leo. Ông đã mua được căn nhà này chỉ với một mức lương.” Ông dừng lại ở cửa. “Nhưng ông không có năm nền tảng như Netflix, Hulu,… xem phim trực tuyến, không lái xe trả góp vượt khả năng, cũng không trả phí ‘tiện lợi’ cho từng bữa ăn.” Ông nhìn thẳng vào mắt tôi. “Cháu không có vấn đề kiếm tiền. Cháu có vấn đề về lối sống. Cháu không nghèo, cháu chỉ đang trả một khoản phí lãi suất cao để giả vờ mình thành công.” 


Tối hôm đó tôi hủy các gói dịch vụ cao cấp. Sáng hôm sau tôi tự làm cơm mang đi làm. Nó có vị như một cú tát của thực tế. Đôi khi, những người ta nghĩ là lạc hậu lại chính là những người thực sự biết con đường đúng. Cảm ơn ông nội 


Câu chuyện này nói đến giới trẻ ngày nay sống trong nên văn hóa “subscription economy” (nền kinh tế đăng ký) là một hiện tượng kinh tế, văn hóa đặc trưng của xã hội tiêu dùng đương đại, nơi con người không còn mua sản phẩm hay dịch vụ một lần, mà trả tiền định kỳ để được tiếp cận liên tục. Điều quan trọng là: đây không chỉ là mô hình kinh doanh, mà đã trở thành một lối sống và một hệ tư tưởng tiêu dùng. 


Thế hệ mình không hiểu nguyên cơ nên hay chê trách, kêu tụi con bây giờ này nọ, không chịu khó như thế hệ mình. Cái nguy hiểm nhất là thẻ tín dụng, chúng ta cứ cà xài thoải mái rồi cuối tháng lo trắng đầu trả nợ. Đến đời con mình chủ nghĩa tư bản ra đủ chiêu để khiến chúng trở thành nô lệ suốt đời. Tín đồ thời trang, tín đồ Netflix,…


Cách đây hai năm mình trả tiền cho mấy đứa con và cả thằng bồ con gái đi học khóa tài chính căn bản. Từ đó chúng chi tiêu cẩn thận lại và có mua được một căn nhà cho thuê chung cho chúng. Mình thương lượng mua cho chúng, chúng bỏ tiền ra để mua và quản lý. Nay chúng cuối tuần, thay vì đi ăn chơi, cứ đi tìm nhà để mua cho thuê khiến mình mừng hết già. 


Vấn đề bây giờ là chuyển giao công nghệ, kinh nghiệm của mình cho chúng. Hôm qua thằng con nói chuyện với bà chùi nhà, để chùi dọn một căn nhà mới sơn lại để cho thuê. Có mình nhưng mình không trả lời để xem nó thương lượng ra sao. Ngập ngừng như đứng trước một cô gái đẹp nó nói lí nhí trong họng “that’s the best you can do?”. Đó là câu kinh mình tụng mỗi khi thương lượng. Bà dọn nhà kêu $270 thay vì lúc đầu là $280. Nó nói để nó suy nghĩ vì đang nói chuyện với khách hàng. 30 phút sau khi nói chuyện với người mướn nhà, nó xem lại nhắn tin thì bà dọn nhà kêu $250.  Từ $280 xuống$250 là hơn 10%. Chỉ cần hỏi một câu. Nếu nó hỏi thêm câu kinh thứ nhì của mình thì xuống 20%. Nhưng xem như nó cũng mới học nghề như vậy là khá rồi. Mình bây giờ tìm cách upload vào não bộ mấy đứa con kinh nghiệm của mình. 


Về mặt kinh tế, subscription economy là mô hình: Trả tiền hàng tháng / hàng năm, Đổi lấy quyền truy cập (access), không phải quyền sở hữu (ownership) Ví dụ: Netflix, Spotify, Apple Music, Premium clothing box, ứng dụng giao đồ ăn, cà phê hội viên, Xe trả góp, điện thoại trả góp, như mua mỗi năm đổi IPhone cho sang trọng. Phần mềm, cloud, AI tools. Người dùng không cảm thấy “mua nhiều”, nhưng tiền bị rút đều đặn và âm thầm.


Theo thống kê thì nền kinh tế đăng ký này tăng trưởng đến 400% so với thập niên trước và họ đến năm 2033, sẽ lên đến 1.5 ức. Từ kinh tế sang văn hóa: subscription như một “chuẩn mực sống. Subscription economy không chỉ bán tiện ích, mà bán cảm giác: “Tôi đang sống hiện đại”, Tôi xứng đáng được tiện lợi”, “Tôi không nghèo, tôi chỉ đang tiêu tiền thông minh”. Trong câu chuyện: “You’re not broke; you’re just paying a high-interest subscription to pretend you’re successful.” Câu này chạm đúng bản chất văn hóa: Subscription trở thành một cách “diễn vai thành công” (performing success)


Sự đối lập thế hệ: sở hữu vs truy cập. Thế hệ ông nội của tác giả: sở hữu nhà, sửa đồ thay vì thay mới, tiêu dùng chậm, hữu hình, Ít dịch vụ trung gian. Thế hệ trẻ: thuê nhà, thuê cả… phong cách sống, trả tiền cho “tiện nghi, tiện lợi”, “trải nghiệm”, “đỡ mệt”, Phụ thuộc vào nền tảng. Đây không chỉ là khác biệt thu nhập, mà là khác biệt triết lý sống.


Subscription economy và “nghèo hóa vô hình”; một điểm nguy hiểm của subscription economy là nó: Không gây sốc như một khoản chi lớn, không đau như mua nhà hay xe, nhưng ăn mòn thu nhập dài hạn.

Ví dụ: $8 latte mỗi ngày → $240/tháng, 5–7 subscription → $200–400/tháng, Delivery + fees → $300–600/tháng. Kết quả: Không đủ tiền tích lũy để mua nhà, nhưng cũng không cảm thấy mình tiêu xài hoang phí. Mình khuyên mấy đứa con là có ông thầy dạy mình khi xưa, là mỗi tháng tìm cách nào để giảm chi tiêu, cứ $50 là vui rồi. Cho công ty cũng như cho cá nhân vì overhead là cái sẽ khiến chúng ta nghèo.


Đây là trạng thái “nghèo mà không nhận ra”. Mình thường nói với 2 đứa con là mẹ tụi con chạy xe BMW (hai chiếc), mất của bố 8 căn nhà. Chúng hỏi tại sao. Mỗi chiếc xe phải trả $500/ tháng hay $6,000/ năm, bố mua căn nhà Encanto đặt cọc có $3,600, nay cho thuê $5,300/ tháng còn nhà đặt cọc nhiều nhất là $8,000 nay cho thuê $3,800/tháng. Mua hai chiếc xe chạy vừa hết nợ lại mua xe mới. Bù lại Happy wife happy life Chán Mớ Đời 


Khía cạnh văn hóa – xã hội. Subscription economy gắn với: Chủ nghĩa tư bản muộn (late capitalism), xã hội mệt mỏi (burnout society – Byung-Chul Han), tư duy tiện lợi hóa mọi thứ (convenience culture). Con người: Quá mệt để nấu ăn, Quá bận để sửa đồ, Quá áp lực để sống “tối giản”. Thị trường bước vào khoảng trống đó và bán giải pháp dưới dạng subscription.


Câu chuyện không nói: “Người trẻ lười” mà nói: Subscription economy đã bình thường hóa sự thiếu kỷ luật tài chính. Ông nội đại diện cho: kỷ luật, trì hoãn hưởng thụ, sự tự chủ. Người cháu đại diện cho: tiêu dùng để xoa dịu mệt mỏi, thành công mang tính trình diễn, phụ thuộc vào hệ sinh thái subscription.


Văn hóa subscription economy không làm con người nghèo ngay lập tức. Nó khiến con người không bao giờ đủ giàu để thoát ra. Mấy đứa con tưởng ra đời là muốn làm gì thì làm lại vẫn bị mình lâu lâu nhắc nhở chúng phải tiếp tục con đường sự nghiệp cách mạng keo kiệt của bố mẹ chúng. Chúng không mua một cuộc sống tốt hơn, chúng bỏ đăng ký trả tiền hàng tháng cho ảo tưởng rằng mình đã có nó. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

chuyện mẹ con qua Podcast

Hôm trước buồn đời, mở podcast của Lex Fridman để nghe trên đường lên vườn, phỏng vấn một ông luật sư nổi tiếng về ly dị, chuyên có thân chủ là những người nổi tiếng nên tiền vào như nước. Mình có kể về ông này, tác giả “khi gặp tôi thì đã quá muộn”, ý nói là mấy thân chủ khi gặp ông ta thì đã trễ không thể hàn gắn lại với chồng hay vợ.


Nói chuyện đời xưa bổng ông ta nói về mẹ ông ta. “Một bài học tôi học được khi mẹ tôi qua đời. Bà đã trải qua hai năm chiến đấu kinh khủng với bệnh ung thư, nằm ở chế độ chăm sóc giảm nhẹ (hospice), và rất, rất yếu. Đó là một kết thúc chậm rãi và khủng khiếp. Tôi nhớ một trong những nỗi sợ lớn nhất của mình là đây sẽ là cách tôi nhớ về mẹ suốt đời còn lại, rằng tôi sẽ không bao giờ có thể nghĩ về bà mà không nghĩ đến những gì bà đã trở thành trong những tháng cuối đời, khi bà teo tóp đi đến chẳng còn gì trên chiếc giường đó. Và theo thời gian, tôi nhận ra rằng ký ức rất tử tế. Nó dần phai mờ đi một cách nào đó. Và giờ đây, khi tôi nhớ về bà, tôi nhớ bà khỏe mạnh, tràn đầy sức sống. Tôi nhớ tiếng cười của bà. Tôi nhớ những điều tích cực. Một phần là vì tôi thích xem lại ảnh cũ. Nhưng một phần cũng là cách mà ký ức hoạt động. Và tôi không hiểu tại sao chúng ta không áp dụng điều đó cho các mối quan hệ.”


Bổng nhiên nhớ đến bà cụ mình dù đã gặp cách đây 1 tháng ở Nam Dương, Tân Gia Ba. Mỗi năm mình tìm cách gặp thăm mẹ mình hai lần. Mẹ mình không muốn ở Hoa Kỳ nên về lại Việt Nam dù có giấy tờ cư trú ở Hoa Kỳ. Những hình ảnh đẹp về mẹ mình đều là những lúc hai mẹ con đi chơi ở Nhật Bản. Mình đưa mẹ về lại Việt Nam, có ghé Nhật Bản mấy ngày. Hai mẹ con đi chơi vui vẻ, leo núi, 9 cây số mỗi ngày. Thấy mẹ mình bận đồ Nhật Bản đi phố cứ như bà đầm Nhật Bản. Chụp hình như người mẹ xứ hoa anh đào. Chuyến đi vừa rồi, cô em không báo trước nên khi gặp lại mình và đồng chí gái ở phi trường thì kêu mừng như trẻ lại 10 tuổi khiến mình cảm động. Để xem độ tháng 11 mình về thăm bà cụ lại. Qua tết phi trường Đà Lạt đóng cửa để trùng tu.

Hình bà cụ được bạn học cũ đi ngang nhà mình gặp bà cụ nên chào hỏi rồi chụp ảnh gửi cho mình khá cảm động không ngờ 50 năm sau, bạn học xưa vẫn nhớ.

Mình có kể về chuyện xe màu đỏ, não bộ của mình có thể định hướng về tích cực hay tiêu cực và cuộc đời mình mình sẽ đi theo chiều hướng đó. Truyền thông bán quảng cáo nên lúc nào cũng giật tít toàn chuyện tiêu cực. Ông Sexton nói về sự hữu hạn của cuộc sống khi mẹ ông ta bị bệnh ung thư, cho thấy người giàu có rồi cũng phải quên vụ làm tiền để nhìn lại cuộc đời khi thấy sự kết thúc của cuộc sống cuả người thân.


Ông ta kể khi bà mẹ được lên bàn mỗ lần cuối cùng (khoảng 20 phút sau khi bắt đầu), các bác sĩ phát hiện ung thư đã di căn khắp nơi, họ đóng vết mổ lại và nói rằng không còn gì có thể làm được nữa, chỉ chuyển sang chăm sóc giảm nhẹ. Ngay khoảnh khắc đó, “mọi lo lắng khác trong cuộc đời ông ta đều bị vặn nhỏ xuống mức zero”. Chỉ còn lại điều quan trọng duy nhất: thời gian còn lại để yêu thương bà mẹ, để bà mẹ cảm nhận được tình yêu, để hiện diện bên bà, sau hơn một năm ở hospice, được bao quanh bởi gia đình. Thật ra ông ta may mắn là còn nhìn thấy mẹ vài tháng trước khi bà ta qua đời, nhiều người không có được cái may mắn đó. Như ai đó kêu đổi thiên thu để nhìn thấy nụ cười của mẹ.


Ông ấy thường dùng câu chuyện này để nhấn mạnh sự hữu hạn của cuộc sống: Số lần ôm, hôn, gọi điện hay nói “I love you” với những người thân yêu là hữu hạn (và không ai biết còn bao nhiêu). Xã hội cố tình đánh lạc hướng chúng ta khỏi cái chết để duy trì “cỗ máy tiêu dùng”, nhưng khi đối mặt với nó, mọi thứ trở nên rõ ràng: Hãy ưu tiên con người, kết nối ý nghĩa, trải nghiệm thay vì đồ vật. Ông còn gợi ý rằng việc tình nguyện ở hospice (chăm sóc người sắp qua đời) nên là bắt buộc với người trẻ để loại bỏ ảo tưởng và nhận ra điều thực sự quan trọng khi nằm trên giường chết: tình yêu, mối quan hệ và những khoảnh khắc đã chia sẻ. Đồng chí gái mỗi thứ 6 hàng tuần, đi với bạn vào các viện dưỡng lão để hát những bài hát cũ cho những người không may mắn, ở cùng với con cháu.


Nhớ có lần con gái gọi điện thoại có vẻ xúc động hỏi bố vẫn khoẻ. Hoá ra bố của cô bạn nó, mình quen biết khi chúng bơi chung đội ở trung học, mới qua đời. Ông này trẻ hơn mình, nói ráng làm thêm vài năm dù đã tuổi hưu trí, bán nhà rồi dọn về xứ nào đó ở, hai vợ chồng chạy xe khắp Hoa Kỳ để thăm viếng nhưng chưa thực hiện đã hoá ra người thiên cổ.


Ông Sexton kê khai nhiều điều ông ta học được về cuộc sống như: 

•  Ký ức tử tế giúp chúng ta giữ lại hình ảnh đẹp đẽ thay vì đau đớn cuối cùng, áp dụng điều này cho cả các mối quan hệ tan vỡ. Mình nhớ những hình ảnh đi chơi với vợ con khi xưa hay nay, còn mụ vợ thì chỉ nhớ những gì mình làm sai, cho thấy phụ nữ họ rất định hướng về tiêu cực. Hay những giây phút đi trên biển hay ở Luân đôn với đối tượng một thời. Đi chơi với em út, cháu tại Dubai.

•  Từ kinh nghiệm tình nguyện hospice sau đại học, ông học cách phân biệt giữa nỗi buồn bi kịch và sự suy tàn tự nhiên của cuộc sống. Tất cả đều kết thúc (vẻ ngoài, tiền bạc, đồ đạc, thậm chí tình yêu theo một cách nào đó), nên hãy dùng thời gian còn lại để đầu tư vào kết nối thật sự, lòng trắc ẩn và phục vụ. Cho nên mình phục mụ vợ mình tập hát, tập đàn để thứ 6 đi hát trong các viện dưỡng lão. Tạo chút niềm vui cho những ngừoi già

•  Đau đớn và mất mát dạy chúng ta về giá trị của tình yêu, sự dễ tổn thương và cách xây dựng lại sau những kết thúc (ly hôn hay cái chết).


Đến vườn phải lo làm vườn, trên đường về, mình nghĩ liên mang đâu đâu. Mình có làm tròn bổn phận người cha, người chồng, người con, người anh,… như ông Steven Covey dạy khi xưa. Tự hứa sẽ ráng làm tốt các bổn phận trên từ nay về sau. Kể chuyện tếu lâm nhiều hơn thay vì nói về kinh tế đang xuống bú xua la mua. Hôm trước, đi ăn cơm với anh bạn, anh ta kêu bài mình viết về tiên sư thằng mở hàng tếu thật. Có người lại tưởng trường cao đẳng quốc gia mỹ thuật Paris có môn dạy thờ cúng tế. Kinh


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

văn hóa tẩy chay cancel culture

 văn hóa tẩy chay cancel culture

Khi các cuốn phim Harry Potter từ Anh quốc phỏng theo mấy cuốn truyện viết bởi JK Rowling, được trình chiếu và ưa chuộng khắp thế giới khiến bà ta, một tác giả vô danh bổng nhiên trở thành tỷ phú khiến thiên hạ nhất là cánh tả tuyên dương, kêu đàn bà giỏi bú xua la mua. Rồi sau này bà ta buồn đời Cô Lựu, tuyên bố là phụ nữ cần có thêm kiến thức ngoài môi son, này nọ, nữ quyền làm phụ nữ mất giá trị bú xua la mua. Thế là truyền thông cánh tả, các trí thức lên án tẩy chay bà ta. Càng lên án bà ta càng hốt bạc vì có đến 6, 7 cuốn phim ra đời. Có thể đó là chiêu tiếp thị của các nhà sản xuất mà công chúng cánh tả bị sụp bẩy. Chán Mớ Đời 

Cô lên đồng

Rồi đến vụ siêu thị Trader Joe’s, bao nhiêu buôn bán mặt hàng tốt, rẻ hợp với thời nay nhưng bổng nhiên có tên nào ngồi buồn gãi háng kêu “kỳ thị chủng tộc” vì có sản phẩm bia mang tên Trader’s Jose. Bao nhiêu năm qua thiên hạ cứ mua, không ai nói gì cả. Thế là đám đông xuống đường, chạy lại biểu tình kêu gọi tẩy chay đóng cửa các cửa hàng của công ty này. Họ làm trời 2 ngày nhưng thiên hạ vẫn tiếp tục mua đồ ở tiệm này nên Chán Mớ Đời họ bỏ đi. Nghe nói tiệm Taco Bell có món ăn được gọi là MexMelt, nay phải dẹp bỏ vì bị chống đối, kêu kỳ thị bú xua la mau.

Bà JK Rowling, tác giả Harry Potter

Khi ông độc hài Dave Chappelle, người da đen được Netflix quay trực tiếp thì có một số nhân viên Netflix, bỏ làm, yêu cầu ông chủ Netflix, không được thâu. Mình có coi một hai show của ông da đen này, chỉ trích phong trào thức tĩnh. Được cái là ông chủ Netflix viết thư cho nhân viên kêu là cuộc đời cần có hài kịch, nếu các bác không ưa thì công ty này không đúng nơi các bác làm việc. Muốn nghỉ thì từ chức.

Ông Chappelle, hài độc thoại

Điểm vui là sinh viên đại học Connell. New YOrk, trường danh tiếng, kêu hiệu trưởng phải thông báo cho họ trước giờ giáo sư giảng bài về những hình ảnh hay tư tưởng độc hại. Được là bà hiệu trưởng của trường kêu đây không phải nhà trẻ, nếu các bạn không muốn bị các tư tưởng độc hại thâm nhập thì không nên học tại đây.


Mấy ông thần bà thánh ở Hồ Ly Vọng tuyên bố nếu ông Trump đắc cử thì họ sẽ rời xứ mỹ. Nay ông ta ở nhiệm kỳ thứ 2 mà chả có ông thần bà thánh nào rời khỏi Hoa Kỳ. Ra khỏi mỹ, đi xứ au châu, họ đánh thuế là cạp đát mà ăn. Lý do là sợ sau này khi ông Trump xuống sẽ phải trả 5 triệu đô để nhập cư lại xứ Hoa Kỳ. Chán Mớ Đời 


Văn hóa tẩy chay (hay còn gọi là cancel culture, call-out culture) là hiện tượng xã hội trong đó cá nhân, nhóm hoặc tổ chức bị chỉ trích công khai rộng rãi, thường được khuếch đại trên mạng xã hội vì hành động, phát ngôn hoặc quan điểm bị coi là không thể chấp nhận được hoặc gây xúc phạm. Điều này thường dẫn đến lời kêu gọi tẩy chaycô lập, mất việc làm hoặc các hình thức hậu quả xã hội và nghề nghiệp khác. Từ “canceled” được dùng để chỉ người bị rút lại sự ủng hộ hàng loạt.


Khái niệm bắt nguồn từ cách dùng tiếng lóng slang cũ của từ “cancel” (ví dụ trong âm nhạc và phim thập niên 1980, nghĩa là cắt đứt quan hệ hoặc gạt bỏ ai đó), nhưng chỉ thực sự phổ biến từ giữa thập niên 2010, đặc biệt qua cộng đồng Black Twitter, gắn liền với các phong trào như #MeToo và #BlackLivesMatter. Nó bùng nổ trong dư luận khoảng 2018–2020, thường mang nghĩa tiêu cực. Biết đâu Covid được dựng lên để dập tắt ngọn lửa văn háo tẩy chay này không chừng.


Đến năm 2026, thuật ngữ này vẫn gây tranh cãi và mang tính chính trị mạnh. Các cuộc thảo luận tiếp tục xoay quanh vai trò của nó: là công cụ trách nhiệm giải trình hay là hình thức kiểm duyệt. Có ví dụ từ cả hai phía, kể cả các nỗ lực do phe bảo thủ dẫn dắt nhằm hạn chế một số chương trình học thuật (ví dụ thay đổi gần đây tại Đại học Texas A&M chấm dứt các khóa học về nghiên cứu phụ nữ và giới tính).


Người ủng hộ coi đây là công cụ trách nhiệm giải trình, đặc biệt khi hệ thống truyền thống (tòa án, cơ quan) không bảo vệ được các nhóm yếu thế. Nó trao quyền cho người dân đòi hỏi hậu quả đối với hành vi có hại như phân biệt giới tính, phân biệt chủng tộc hay lạm dụng, những thứ mà người quyền lực thường thoát tội.


Người phản đối cho rằng nó tạo hiệu ứng làm lạnh đối với tự do ngôn luận, khuyến khích tâm lý đám đông, trừng phạt quá mức (kể cả với lỗi nhỏ hoặc lỗi cũ), và bắt nạt qua mạng. Nó có thể bóp nghẹt tranh luận công khai, trừng phạt mà không có quy trình công bằng, và ảnh hưởng nặng nề hơn đến người bình thường so với người nổi tiếng (những người thường phục hồi được). Ý kiến công chúng bị chia rẽ, nhiều khảo sát cho thấy một nửa xem đây là trách nhiệm cần thiết, nửa còn lại coi là kiểm duyệt hoặc trừng phạt không công bằng. Như vụ Trader’s Jose, bia này được bán từ lâu, không ai nói bổn nghiên có tên nào hô là kỳ thị chủng tộc là cả đám xuống đường hô hào tẩy chay. Tương tự phong trào #MeToo, có bà nào buồn đời, kêu ai đó sò mó bà ta khi xưa lúc còn chưa giàu có. Thiên hạ chưa biết át giáp gì cũng phải nhày vào chửi bới, thay vì đưa ra toà kiện như vụ ông giám đốc Miramax, rờ mó hay dứt điểm mấy cô muốn trở thành minh tinh nổi tiếng. Khi ra toà rồi toà kết án thì mới bắt đầu chửi bới chớ nhiều khi có người bị oan ức. Như trường hợp ông toà nào được ông Trump tiến cử thành hội viên của tối cao pháp viện của Hoa Kỳ. Có bà nào khơi khơi kêu mấy chục năm về trước bà ta bị ông này vớt khi đi boum, mà bà ta chả nhứo gì nhiều. Chỉ nhớ ông này. Kinh 


Hiện tượng chưa biến mất, nhưng cường độ và cách nhìn đã thay đổi. Một số người cho rằng “cancel culture” đang bị “tẩy chay” hoặc giảm nhiệt ở một số nhóm, trong khi vẫn có nhiều ví dụ tiếp diễn (từ drama người nổi tiếng đến thay đổi ở các tổ chức). Nó giờ xuất hiện hai chiều, cả cánh tả lẫn cánh hữu đều dùng để nhắm vào đối thủ. Trên X (Twitter cũ), người ta thường dùng từ này một cách thoải mái hoặc châm biếm (về crypto, thể thao, văn hóa đại chúng…), cho thấy nó đã ăn sâu vào ngôn ngữ mạng.

Tóm lại, cancel culture là tích cực (thúc đẩy thay đổi xã hội) hay tiêu cực (kìm hãm thảo luận) phụ thuộc rất nhiều vào góc nhìn cá nhân. Tẩy chay và chỉ trích công khai không phải mới, nhưng tốc độ và quy mô của mạng xã hội khiến phiên bản hiện đại trở nên đặc biệt mạnh mẽ và gây chia rẽ sâu sắc.


Trên mạng xã hội, có câu chuyện của một giáo sư dạy trung học ở trường cho các học sinh có vấn đề. Ông ta tải lên YouTube câu chuyện một học sinh hỏi ông ta về JK Rowling. Cha mẹ cũng như học sinh đã ký giấy cho phép. Ông ta hỏi và nói chuyện với học sinh như Socrates, khi xưa hỏi học sinh. Học sinh thắc mắc là trên mạng, kêu JK Rowling là người chống chuyển đổi giới tính. Cần phải tẩy chay bà ta này nọ. Ông ta hỏi học sinh là nghĩ gì, và từ từ học sinh cảm nhận là mình nghe tin đồn sai. Mình thấy rất hay khi xem video, học sinh dưới 18 tuổi nên chỉ quay ông ta và thu âm học sinh.


https://youtu.be/ye52j4Fw21Q?si=V_662lBfr4OViiiH


Lúc đầu, có vài người xem video, đến khi ông Elon Musk tải lên X thì trong vài ngày có trên 13,000 người xem. Rồi ông Piers Morgan mời phỏng vấn thế là cả thế giới biết đến. Và ông ta mất việc dạy ở trường mà có nhiều giáo viên đến buổi sáng, buổi chiều bỏ chạy vì toàn là học sinh có vấn đề. Ông ta là giáo viên lâu nhất vì đã ở đó hơn 4 năm trời. Mình đang đọc tài liệu phong trào chuyển giới tính và lý do người Mỹ bầu cho ông Trump vì đội bầu cử của ông ta bỏ trên 300 triệu mỹ kim để quảng cáo ảnh hưởng phong trào này khiến người Mỹ dù không ưa ông Trump vẫn bỏ phiếu cho ông ta. Chính những người ghét và chửi ông Trump đã giúp ông ta vào Bạch Cung lần thứ 2 và nếu tiếp tục thì nam 2028, cũng người nào của đảng Cộng Hoà sẽ tiếp tục. Hôm nào rảnh sẽ kể ở đây.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Private equity mua các công ty rồi phá sản

 Tư bản dã man ở thế kỷ 21


Hồi đi học, thầy giáo kêu đọc Victor Hugo, Emile Zola, Balzac,…để hiểu sự bốc lột của chủ nghĩa tư bản. Sang Hoa Kỳ mình chứng kiến chủ nghĩa tư bản khác với những gì mình đọc trong sách truyện. Lâu lâu mình đọc báo thấy công ty này vừa được công ty nào có nhiều tiền mua nên nghĩ nên mua cổ phiếu của công ty mới được mua như Toy’R’US,… minh hồ hởi đến mấy tháng sau thì thấy cổ phiếu như diều dính mưa nên Chán Mớ Đời.  Một hôm mình hỏi một ông mỹ, trader thì ông ta cười và giải thích. Mình xin tóm tắc như sau:

Chắc ai thuộc thế hệ mình đều nhớ đến phim Pretty Woman do Julia Roberts và Richard Gere đóng vai tên đại diện công ty Private Equity đi mua mấy công ty đang te tua rồi tân trang tài chánh lại rồi bán kiếm tiền hay đuổi hết dân làm việc, bỏ túi tiền hưu trí của họ rồi bán bất động sản của công ty rồi chạy.


Trong hơn hai thập niên qua, một làn sóng các chuỗi bán lẻ từng được người Mỹ yêu mến đã biến mất khỏi các trung tâm thương mại và các con phố chính trên khắp cả nước. Toys “R” Us là thiên đường tuổi thơ của nhiều thế hệ trẻ em như con mình khi nhỏ, hay kêu bố dẫn đi mua đồ chơi hay tả con nít. Hay tiệm Payless ShoeSource nơi cung cấp giày dép giá rẻ cho các gia đình lao động mà khi lấy nhau đồng chí gái hay ghé lại đây mua. Tiệm Sports Authority ở đường Beach mà mình hay dắt hai đứa con vào đây mua đồ bơi và cắm trại, tiệm Gymboree cho mấy đứa con đến chơi khi còn nhỏ, và hàng chục thương hiệu khác mà ngày nay thấy mất tiêu.


Vật đổi sao dời, ngày nay người ta mua đồ trên mạng nhiều hơn nên mấy chỗ này bị banh ta lông nhưng mấy tiệm này banh ta lông trước khi Amazon ra đời và sống mạnh. Dù có nhiều yếu tố góp phần vào “ngày tận thế của bán lẻ” từ sự trỗi dậy của thương mại điện tử đến thay đổi trong thói quen tiêu dùng. Một số lượng đáng kể các “nạn nhân” này có chung một đặc điểm: họ thuộc sở hữu của các quỹ đầu tư tư nhân (private equity) khi sụp đổ.


Nên nhắc một tí là các tiệm thuộc khu thương mại mượn tiền của ngân hàng nhưng mỗi 7 hay 10 năm phải tái tài trợ lại khác với các nhà ở. Ngân hàng chỉ cho mượn 7-10 năm vì họ không muốn chôn vốn của họ lâu dài, sẽ mất giá vì lạm phát. 10 năm về trước, khi tiền lời xuống như tây đi đái thì các chung cư cũng như các khu thượng mại đều tái tài trợ lại hết với tiền lời đâu 3, 4% nay đến mùa tái tài trợ lại thì tiền lời lên gấp 2 nên ngọng. Đưa đến đóng cửa rất nhiều tiệm buôn bán. Tỷ lệ bị xiết nhà lên rất cao so với mấy năm trước. Với đà này hai năm nữa thì khủng hoảng 2008 sẽ trở lại.


Trở lại câu chuyện về vai trò của private equity trong các vụ phá sản bán lẻ gắn chặt với một trong những kiến trúc sư tiên phong của mô hình này: Mitt Romney, đồng sáng lập Bain Capital, sau này là Thượng nghị sĩ Hoa Kỳ và ứng cử viên tổng thống. Giới đầu tư chửi ông này rất thậm tệ, ông ta muốn trở thành tổng thống nên họ khui ra các mánh mà các nhà đầu tư sử dụng như ông Romney. Dù Romney rời vai trò điều hành trực tiếp tại Bain Capital vào năm 1999, công ty do ông xây dựng đã trở thành một trong những thế lực hàng đầu trong các thương vụ mua lại bằng đòn bẩy (leveraged buyouts – LBO), và những chiến lược ông góp phần khai sinh đã trở thành thông lệ của toàn ngành. Richard Gere đóng trong phim Pretty Woman như mấy ông thần đi mua các công ty bị khó khăn như Mitt Romney. Nhờ tình yêu với một cô điếm khiến tên đi ăn cướp nhà máy, công ty của kẻ khác giác ngộ cách mạng nên tha mạng cho gai đình của công ty đang tính mua.


Về bản chất, private equity là việc các quỹ huy động vốn từ các nhà đầu tư tổ chức, quỹ hưu trí, quỹ hiến tặng đại học, cá nhân giàu có, để mua các công ty, tái cấu trúc chúng, rồi bán lại nhằm thu lợi nhuận. Mục tiêu thông thường là đạt lợi suất 20–30% mỗi năm cho nhà đầu tư. Khác với đầu tư mạo hiểm (venture capital), private equity thường nhắm tới các doanh nghiệp đã trưởng thành, có dòng tiền ổn định. Các nhóm này được mệnh danh là Vulture Capitalists, những con kênh kênh tư bản.


Đặc điểm then chốt của phần lớn các thương vụ private equity là mua lại bằng đòn bẩy (LBO). Trong LBO, quỹ chỉ bỏ ra 20–30% vốn tự có, phần còn lại là tiền vay. Quan trọng hơn, khoản nợ này không nằm trên sổ sách của quỹ, mà được đặt lên vai công ty bị mua. Nói cách khác, doanh nghiệp bán lẻ bị mua tự vay tiền để mua chính mình. Hậu quả tức thì là một công ty từng có lãi và ổn định bỗng phải gánh núi nợ khổng lồ. Thay vì chỉ cần tạo ra dòng tiền để vận hành, doanh nghiệp giờ đây phải đủ tiền để trả lãi và gốc các khoản nợ có thể lên đến hàng tỷ đô la.


Các quỹ private equity đã phát triển những chiến lược rất tinh vi để kiếm lợi từ các thương vụ bán lẻ. Điều gây tranh cãi nhất là: nhiều cơ chế sinh lời hoạt động độc lập với việc doanh nghiệp thành công hay thất bại. Chính sự bất đối xứng này, quỹ thắng ngay cả khi công ty thua nằm ở trung tâm của mọi tranh luận.


Phí quản lý: ngay khi thương vụ hoàn tất, quỹ thường thu phí quản lý hàng năm 1,5–2% giá trị giao dịch. Với một thương vụ 2 tỷ USD, điều này tương đương 30–40 triệu USD mỗi năm, bất kể kết quả kinh doanh. Trong 5–10 năm, khoản phí này có thể vượt quá số vốn ban đầu mà quỹ bỏ ra.


Phí giao dịch: quỹ thu phí cho việc sắp xếp thương vụ, thu xếp tài chính, mua lại bổ sung, và bán công ty. Mỗi giao dịch lớn tạo ra hàng triệu USD phí tư vấn, do chính công ty trả cho chủ sở hữu của mình.


Tái cấp vốn chia cổ tức (Dividend Recapitalization): trong thực tế gây tranh cãi, quỹ thường buộc công ty vay thêm nợ chỉ để trả cổ tức đặc biệt cho quỹ. Nhờ vậy, quỹ có thể thu hồi vốn ban đầu trong khi vẫn giữ quyền sở hữu. Nếu công ty sau đó sụp đổ, quỹ đã kịp “rút ruột” xong.


Tước đoạt tài sản (Asset Stripping): nhiều nhà bán lẻ sở hữu bất động sản giá trị. Quỹ bán tài sản này rồi thuê lại (sale-leaseback), tạo ra tiền mặt tức thì để trả cổ tức cho quỹ, nhưng khiến công ty gánh nghĩa vụ thuê dài hạn và mất đi tài sản cốt lõi.


Cải thiện vận hành: thật ra công bằng mà nói, các quỹ cũng thực sự cố gắng cải thiện hoạt động của công ty: tinh gọn chuỗi cung ứng, đóng cửa cửa hàng kém hiệu quả, đàm phán lại hợp đồng, đầu tư công nghệ. Khi thành công, những biện pháp này làm tăng giá trị doanh nghiệp. Nhưng khi doanh nghiệp đồng thời bị đè nặng bởi nợ khổng lồ, cải thiện vận hành thường không đủ.


Các trường hợp điển hình: 


Toys “R” Us: Năm 2005, Bain Capital, KKR và Vornado mua Toys “R” Us với giá 6,6 tỷ USD. Chỉ 1,3 tỷ là vốn chủ, còn lại 5,3 tỷ USD là nợ đặt lên công ty. Công ty phải trả hơn 400 triệu USD mỗi năm tiền lãi và gốc, số tiền lẽ ra có thể dùng để cải tạo cửa hàng, phát triển thương mại điện tử, hay cạnh tranh với Amazon và Walmart. Trong 12 năm, các quỹ thu khoảng 470 triệu USD phí. Khi Toys “R” Us phá sản năm 2017 và biến mất dấu tích năm 2018, 33.000 lao động mất việc, còn các quỹ gần như không thiệt hại tài chính. Khi phá sản thì ngân hàng chỉ biết cười, kêu ông Mitt Romney dẫn đi ăn hay bay qua đảo Epstein một weekend. Đa số là các số nợ ngân hàng cho vay thường sau 1 năm là bán cho chính phủ. Và khi các số nợ này không được trả bị xù thì các bác và em nai lưng ra trả thuế cho chính phủ. Thường họ không nhắc đến vụ này. Bác nào cứ để ý là sau khi tái tài trợ, công ty hay ngân hàng cho bác vay tiền, sẽ gửi một lá thư nói từ đây trả tiền cho công ty nào đó, thường là do chính phủ nhờ.


Payless ShoeSource: Payless bị mua năm 2012, phá sản năm 2017, tái cấu trúc, rồi phá sản lần nữa năm 2019, đóng toàn bộ cửa hàng Bắc Mỹ. Quỹ đã rút lợi nhuận sớm; người lao động và chủ nợ gánh hậu quả.


Gymboree: Bain Capital mua Gymboree năm 2010. Công ty phá sản năm 2017, rồi thanh lý hoàn toàn năm 2019. Bain đã thu hồi vốn từ lâu. Mitt Romney không phát minh LBO, nhưng chuẩn hóa và hợp thức hóa mô hình này. Dưới thời ông, Bain có nhiều thành công (Staples, Domino’s). Ông rời Bain năm 1999 nhưng vẫn hưởng lợi tài chính. Mình không biết tiền hưu trí của các cựu nhân viên là bao nhiêu nhưng đa số họ mất gần hết và lọt tay vào công ty của ông Romney.


Trong chiến dịch 2012, lý lịch Bain trở thành tâm điểm tranh cãi, phơi bày mâu thuẫn căn bản của chủ nghĩa tư bản Mỹ: có chấp nhận làm giàu từ việc phá hủy doanh nghiệp và việc làm, nếu một số thương vụ khác tạo giá trị hay không?


Câu hỏi điều tiết và câu hỏi nền tảng: chính phủ nên giới hạn hay đánh thuế lợi ích carried interest?  Vấn đề là các công ty này cúng tiền tranh cử cho các thượng nghị sĩ và dân biểu. Có nên buộc quỹ chịu trách nhiệm nợ? Rốt cuộc, mục đích của doanh nghiệp là gì: tối đa hóa lợi nhuận cho nhà đầu tư, hay còn trách nhiệm với người lao động và cộng đồng? Private equity không đơn thuần là ác quỷ, nhưng cấu trúc hiện tại của nó tạo ra động cơ lệch lạc: khuyến khích rút ruột thay vì xây dựng, tập trung lợi ích cho thiểu số, và đẩy rủi ro sang xã hội.


Mình thấy nên cần giải thích các vấn đề này hơn là hùa theo định hướng dư luận của chính phủ và truyền thông, chửi bới nhau. Bò đỏ bò vàng dân chửi hay ma-gà này nọ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn