ân nhân Ẩn Danh

 Người Quyên Tặng Ẩn Danh


Dạo này mình hay đọc tiểu sử những người mỹ đã quyên tặng tài sản của họ mà theo mình đó là tinh thần của những người tiên phong đặt chân lên xứ này và đã tạo dựng một đất nước chỉ riêng cho người di dân. Mọi người từ khắp nơi trên thế giới, bất kỳ chủng tộc nào, nếu họ chịu khó thì sẽ thành công và điểm hay nhất là họ chia sẻ với cộng đồng hay người xa lạ.


Có những tấm ngân phiếu đến với Hội Sierra, con số dài đến mức người ta phải đếm lại nhiều lần những con số không phía sau. Không tên người gửi. Không lời nhắn. Chỉ có sự tin tưởng lặng lẽ.


ACLU cũng nhận được những khoản tài trợ như thế đều đặn, bền bỉ, vô danh. Những cựu chiến binh trở về từ Iraq, Afghanistan được chữa lành, được học nghề, được giúp đứng dậy… mà không bao giờ biết ai đã dang tay ra với họ trong lúc đen tối nhất.


Người đàn ông đứng sau tất cả điều đó lái một chiếc Honda Civic cũ, dán sticker Obama đã bạc màu. Khi người ta đến nhà ông, họ thường hỏi: “Chủ nhà có ở đây không?” Vì họ tưởng ông là người làm vườn. Ông ta chỉ mỉm cười thay vì hỏi: “Biết bố mày là ai không”


Ông tên là David Gelbaum.


Ông nội của David là một người Do Thái chạy trốn khỏi Ukraine trước Thế chiến thứ nhất. Ông đến Mỹ với hai bàn tay trắng, mang theo nỗi sợ hãi của chiến tranh và một niềm tin mong manh rằng ở mảnh đất mới này, con cháu mình sẽ có một cuộc sống khác. Giấc mơ của người tị nạn ấy, âm thầm và bền bỉ, đã nảy mầm qua nhiều thế hệ.


David lớn lên yêu toán học và thiên nhiên. Tuổi thơ của ông gắn với những chuyến cắm trại, những đêm nằm ngửa lưng nhìn sao trời, những khu rừng yên tĩnh nơi con người trở nên nhỏ bé. Sau này, ông tốt nghiệp Đại học Berkeley và gia nhập thế giới tài chính, sử dụng năng khiếu toán học để đầu tư trong các quỹ phòng hộ.


Rồi năm 1989, công ty tan vỡ. Tất cả sụp đổ. David không bỏ cuộc. Ông cùng hai đồng nghiệp lập nên TGS Management nhỏ, kín, và thận trọng. Họ thành công đến mức… xin lỗi các nhà đầu tư khác vì không cần thêm tiền. Họ chỉ muốn quản lý tiền của chính mình. Không tham vọng. Không phô trương. Không lặp lại sai lầm cũ.


Và rồi họ bắt đầu làm một điều không ai ngờ tới. Họ bắt đầu cho đi. Mìn thấy người Mỹ có cái hay là ngoài nhà thờ ra, họ cho các tổ chức từ thiện rất nhiều. Cho nhà thờ có thể bắt buộc hay như mua cái may cái tốt cái lành nhưng đem tiền của để cho người khác ngoài nhà thờ thì mình thấy xứ này khác với với âu châu.


Đến năm 2014, người ta phát hiện rằng David và các cộng sự viên đã âm thầm quyên góp hơn 13 tỷ đô la Mỹ thông qua những pháp nhân bí ẩn. Nhiều hơn cả Ford Foundation. Và gần như tất cả đều… vô danh.


Tại một chi hội Lions địa phương, có lần một hội viên, chuyên gia địa ốc,  kể về một khu rừng trên núi, gần Mount Baldy. Có một hội viên nói muốn mua lại khu đất đó và hiến tặng cho hội, để trẻ em nghèo có nơi đi nghỉ hè, trượt tuyết mùa đông. Nơi ấy có vài bungalow cũ, một trung tâm sinh hoạt, một quán ăn nhỏ. Hai hội viên rảnh rỗi bắt đầu đóng giường tầng cho các em.


Qua các sinh hoạt với hội Lions Quốc Tế, mình thấy người Mỹ họ quyên góp làm từ thiện rất hay, không nhất thiết phải cúng chùa hay nhà thờ như đa số người Việt tỵ nạn của mình. Cúng dường như mua từ Cúa hay Phật được sự may mắn, hạnh phúc.


Và rồi buồn đời mình cũng tham gia mua tặng một chiếc xe van, để hội viên chở những đứa trẻ chưa từng rời khỏi khu phố nghèo lên núi, lần đầu chạm vào tuyết, lần đầu thấy rừng. Khi nhìn những đứa bé được đi chơi mùa hè hay trượt tuyết, mình rất cảm động. Có nhiều hội viên không đóng góp hiện kim thì đóng góp công sức. Họ in vé để bán cho xổ số. Có nhiều cách để đóng góp cho cộng đồng. Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh, họ gây quỹ để đi mua quà cho trẻ em con nhà nghèo, tặng gà, thức ăn cho các gia đình nghèo trong thành phố.


Những ký ức hạnh phúc nhất của tôi là khi còn nhỏ được cắm trại và đi bộ trong rừng,” ông David nói, để giải thích vì sao ông quyên góp cho Hội Sierra  để trẻ em có cơ hội hít thở thiên nhiên như ông từng được. Năm 1992, David gọi cho tổng giám đốc Hội Sierra và trao tặng khoản quyên góp lớn nhất trong lịch sử của họ: hơn 200 triệu đô la.


Ba năm sau, ông cùng nhà bảo tồn thiên nhiên David Myers thành lập tổ chức Wildlands Conservancy. Sứ mệnh của họ rất đơn giản mà lớn lao: cứu những vùng đất hoang dã của California trước khi chúng biến mất. Điểm đến là sa mạc Mojave.


Một công ty đường sắt sở hữu nửa triệu mẫu Anh sa mạc nguyên sơ. Các nhà phát triển vây quanh như kền kền, chuẩn bị biến nơi đó thành trung tâm thương mại, khu dân cư. David và Myers không phản đối ồn ào. Họ chỉ… mua lại. Âm thầm. Từng mảnh. Trong nhiều năm.


Sa mạc trải dài đến tận chân trời. Nơi những con cừu sừng lớn vẫn đi theo lối mòn cổ xưa. Nơi những con rùa sa mạc sống chậm rãi, kiên nhẫn, như chính vùng đất này.


Cuối cùng, họ sở hữu 1.200 dặm vuông tương đương diện tích Vườn quốc gia Yosemite. Và rồi họ hiến tặng toàn bộ cho chính phủ liên bang. Không bán. Không điều kiện. Đây là khoản hiến tặng đất tư nhân lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Điểm son của xứ này là tư nhân mua đất rồi cống hiến cho quốc gia để mọi người Mỹ có thể sử dụng trong khi nhiều quốc gia khác thì cán bộ tìm cách lấy đất quốc gia để tư hữu hay bán kiếm tiền.


Năm 2016, Tổng thống Obama đứng giữa sa mạc đó và tuyên bố thành lập Đài tưởng niệm Quốc gia Mojave Trails. Hầu hết mọi người không biết rằng nơi ấy tồn tại nhờ một người đàn ông trầm lặng lái chiếc Honda cũ.


Nhưng David không chỉ quan tâm đến đất đai. Cha ông từng tham chiến trong Thế chiến II và qua đời khi còn trẻ. Khi những người lính trở về từ Iraq và Afghanistan tan vỡ, mất phương hướng, bị lãng quên, David nhìn thấy hình ảnh của cha mình trong họ. Ông thành lập Quỹ Tác động Triển khai Iraq–Afghanistan. Từ năm 2006 đến 2010, ông quyên góp 246 triệu đô la để giúp cựu chiến binh học nghề, viết sơ yếu lý lịch, chữa lành chấn thương tâm lý, và giúp gia đình họ vượt qua những ngày dài sợ hãi. Tất cả đều ẩn danh.


Ông cũng quyên góp 93 triệu đô la cho ACLU để bảo vệ các quyền hiến pháp, những quyền khiến nước Mỹ đáng để chiến đấu và hy sinh. Gặp David là một trải nghiệm gây ngỡ ngàng. Một người từng kể rằng khi mở cửa phòng họp, ông thấy một người đàn ông thấp, hói đầu, râu muối tiêu, mặc áo thun và quần jean, nói chuyện nhỏ nhẹ. Sau khi xem video về tổ chức, David chỉ nói:

Tôi sẽ cho các anh thêm 10 triệu đô la nữa. Giờ hãy kể tôi nghe các anh đang làm gì tiếp theo”. Không hợp đồng. Không đàm phán. Chỉ có niềm tin.


Hầu hết người giàu dành cả đời để kiếm thêm tiền thay vì cho đi,” David từng nói. “Họ chờ quá lâu. Họ bỏ lỡ rất nhiều niềm vui.” Rồi khủng hoảng tài chính 2008 ập đến. Những khoản đầu tư xanh của ông bị đóng băng. Lần đầu tiên, ông buộc phải cho phép công khai tên mình không phải để được ca ngợi, mà để các tổ chức ông giúp đỡ có thể kêu gọi thêm sự hỗ trợ.


Ông qua đời lặng lẽ vào năm 2018. Không tượng đài. Không tòa nhà mang tên ông. Không cáo phó lớn.


Chỉ có sa mạc được bảo vệ.

Những người lính được cứu.

Những quyền tự do được giữ gìn.

Và một tỷ đô la đã được cho đi mà không đòi hỏi điều gì.


Làm từ thiện là một công việc,” ông từng nói. “Tôi chỉ đang làm công việc của mình.”


Nhưng có lẽ, đó là cách khiêm nhường nhất để nói về một đời người đã sống đúng với câu hỏi của ông nội mình:“Nếu ta đã được chào đón, làm sao ta có thể quay lưng với người khác?”


Mình là di dân, vợ mình là thuyền nhân, nhờ nước này cho mình một cơ hội để làm lại cuộc đời vì sống với Việt Cộng không nổi. Thà chết trên biển đông để tìm tự do, cuộc sống.


Mình đoán ông nội của ông David khi chạy thoát khỏi Ukraine để tránh chiến tranh. Với tinh thần đó, đã để lại di sản cho con cháu để họ tiếp tục cống hiến cho xứ sở này. Mình hy vọng sau này con cháu sẽ không quên sự ra đi của bố mẹ ông bà của chúng, đến định cư xứ này với một tiềm hy vọng làm lại cuộc đời sau cuộc đổi đời, Việt Cộng cướp hết tài sản và cho đi tù hay kinh tế mới. Chán Mớ Đời 


Có lần mình nhờ cô em chuyển tiền cho một sinh viên nghèo tại Việt Nam. Cô em hỏi tại soa mình không giúp cháu mình mà lại đi giúp người ngoài. Mình giải thích nếu với tinh thần đó thì người Mỹ hay người Pháp chắc chắn sẽ không giúp mình khi mới chân ướt chân ráo sang pháp hay vợ mình khi mới vượt biển sang Hoa Kỳ. Nếu không có các nhà thờ, hội đoàn tại Hoa Kỳ đứng ra bảo trợ người Việt tỵ nạn thì sẽ không có một cộng đồng người Việt rộng lớn như ngày nay.


Cháu mình thì có bố mẹ chúng lo, hy sinh đời bố củng cố đời con. Nếu bố mẹ chúng không lo cho chúng thì sẽ không có sự liên hệ nào với nhau sau này. Khi có con mình mới thấm thía sự hy sinh của ông bà cụ mình nhất là bà cụ nên ngày nay mới thương bà cụ. Chớ sinh ra mà có bác và đảng nuôi lo hết thì sau này chỉ nhớ ơn Bác và đảng.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng

 Vivien Thomas: Thiên Tài Trên Chiếc Ghế Đứng


Cách đây mấy năm có một phim kể về cuộc đời ông Vivien Thomas, người da đen vì kỳ thì nên không được đi học trường y khoa. Cũng như câu truyện về cuộc đời bác sĩ Ben Carson, nổi tiếng về phẫu thuật tim, sau trở thành bộ trưởng gia cư của Hoa Kỳ. Mình xin tóm tắc lại đây:


Tại Nashville, tiểu bang Tennessee, năm 1930, Vivien Thomas sinh ra trong một nước Mỹ bị chia rẽ bởi chủng tộc, luật pháp và những giới hạn vô hình. Miền Nam thời Jim Crow không chỉ hạn chế cơ hội, nó áp đặt số phận. Là một người da đen, Thomas được dạy từ khi sinh ra rằng ông không được phép trở thành điều gì. Nhưng ông vẫn nuôi một ước mơ: trở thành bác sĩ. Tương tự con cháu nguỵ quân nguỵ quyền sau 40/4/1975, đi kinh tế, không được đi học, cách mạng đã đặt số phận, thậm chí ngày này vẫn lơ lững.

Với quyết tâm mạnh mẽ, ông làm thợ mộc và dành dụm từng đồng để theo học tại Trường Đại học Nông nghiệp và Công nghiệp Tennessee, với mục tiêu cuối cùng là vào trường y. Kế hoạch của ông cẩn thận và rất kỷ luật cho đến khi lịch sử can thiệp. Khi cuộc Đại Suy Thoái xảy ra, ngân hàng nơi ông gửi tiền bị phá sản. Chỉ trong chốc lát, toàn bộ số tiền tiết kiệm biến mất, và con đường chính thức dẫn đến ngành y cũng tan biến theo cánh chim về trời tha ma.


Mới mười chín tuổi, Thomas nhận công việc phụ tá phòng thí nghiệm tại Bệnh viện Đại học Vanderbilt, với mức lương mười hai đô la một tuần. Nhiệm vụ của ông rất đơn giản và bị giới hạn rõ ràng: dọn dẹp phòng thí nghiệm, chăm sóc động vật, và im lặng. Ông không được kỳ vọng sẽ suy nghĩ, đặt câu hỏi hay đóng góp ý kiến. Tương tự mình có anh bạn học khi xưa, đậu tú tài thì vào đại học y khoa Huế. Sau 75, đang ngồi tỏng lớp, Việt Cộng chạy vào kéo đầu đi ra, không cho học nữa. Lý do bố anh ta là sĩ quan Việt Nam Cộng Hoà. Việt Nam sau 75 có rất nhiều vụ này, em mình đậu đủ điểm hay dư vào đại học cũng không được cách mạng cho đi học. Ở nahh đi đang len, hay làm thợ may.


Ông quan sát từng thí nghiệm. Ông lắng nghe những cuộc thảo luận vốn không dành cho mình. Ông đặt ra những câu hỏi chính xác và thông minh, nhanh chóng hiểu được mục tiêu của từng quy trình. Sự tò mò và khả năng hiểu sâu sắc của ông không qua được mắt của bác sĩ Alfred Blalock, người phụ trách phòng thí nghiệm. Blalock bắt đầu dạy Thomas các kỹ năng phẫu thuật, dù Thomas không có bằng y khoa hay đào tạo chính thức.


Thứ Thomas có là đôi tay vững vàng, trí nhớ xuất sắc và hiểu biết sâu về giải phẫu học. Chẳng bao lâu, ông đã thực hiện các ca phẫu thuật phức tạp trên động vật thí nghiệm với sự chính xác và tự tin. Đến năm 1933, trên thực tế Thomas không còn chỉ là một trợ lý, ông đã trở thành cộng sự nghiên cứu của bác sĩ Blalock. Nhưng trên giấy tờ, mọi thứ vẫn không thay đổi. Chức danh, tiền lương và cách đối xử với ông vẫn thấp hơn rất nhiều so với vai trò thật sự của ông.


Năm 1941, bác sĩ Blalock nhận chức Trưởng khoa Phẫu thuật tại Bệnh viện Johns Hopkins, nhưng chỉ với điều kiện Thomas phải đi cùng. Bệnh viện đồng ý, song một lần nữa chỉ trao cho Thomas một chức danh kỹ thuật thấp, phản ánh trật tự chủng tộc cứng nhắc của thời đại.


Tại Johns Hopkins, họ đối mặt với một thảm kịch y học. Trẻ sơ sinh đang chết vì một dị tật tim bẩm sinh gọi là tứ chứng Fallot, thường được gọi là “Hội chứng Trẻ Xanh.” Dị tật này khiến máu không đến được phổi đầy đủ, khiến cơ thể thiếu oxy. Phần lớn trẻ em không sống quá tuổi thơ. Mình có biết một ông kêu khi sinh ra bị hội chứng này, may nhờ được giải phẫu được nên sống đến ngày nay.


Bác sĩ Helen Taussig đặt ra một câu hỏi táo bạo: liệu phẫu thuật có thể làm tăng lưu lượng máu đến phổi hay không? Bác sĩ Blalock quay sang ông Vivien Thomas và hỏi liệu ông có thể tìm ra cách thực hiện điều đó.


Ông Thomas lao vào công việc. Trong nhiều tháng, ông phẫu thuật trên chó, thực hiện những ca chưa từng có tiền lệ. Ông thiết kế dụng cụ mới, sáng tạo kỹ thuật mới, và thất bại hết lần này đến lần khác trước khi thành công. Cuối cùng, ông phát triển một phương pháp nối động mạch dưới đòn với động mạch phổi, tạo ra một con đường mới cho máu đến phổi. Đó là một bước đi táo bạo và đầy rủi ro.


Ngày 29 tháng 11 năm 1944, họ tiến hành phẫu thuật cho một bé gái mười lăm tháng tuổi tên là Eileen Saxon. Bé chỉ nặng chín pound và đang hấp hối. Trong suốt ca mổ kéo dài bốn tiếng rưỡi, Blalock cầm dụng cụ, còn Thomas đứng phía sau trên một chiếc ghế đứng, lặng lẽ chỉ dẫn từng thao tác. Mình đoán là thời đó có sự kỳ thị chủng tộc nên có lẻ người da đen không được đụng đến cơ thể người da trắng.


“Vào sâu hơn.”(“Deeper.”)

“Lệch sang trái một chút.”(“A little to the left.”)

“Dùng chỉ khâu nhỏ hơn ở chỗ đó.”(“Use smaller sutures there.”)


Khi ca phẫu thuật kết thúc, đôi môi xanh tái của Eileen chuyển sang hồng. Các đầu ngón tay cũng hồng trở lại. Oxy cuối cùng đã đến được cơ thể bé. Ca mổ đã thành công. Thủ thuật này được biết đến với tên gọi shunt Blalock–Taussig. Nó đã làm thay đổi y học, cứu sống hàng nghìn trẻ em và đặt nền móng cho ngành phẫu thuật tim nhi khoa. Bác sĩ Blalock trở nên nổi tiếng toàn cầu trong khi Vivien Thomas thì không.


Trong hai mươi hai năm, Thomas đào tạo các bác sĩ nội trú phẫu thuật tại Johns Hopkins,  nhiều người sau này trở thành những tên tuổi hàng đầu trong lĩnh vực phẫu thuật tim. Ông là người thầy, người hướng dẫn, và thường là người có tay nghề cao hơn họ. Thế nhưng, ông chưa bao giờ được gọi là “Bác sĩ,” không được liệt kê là giảng viên, và không xuất hiện tên trên các công trình khoa học. Ông ăn cùng nhân viên bảo trì, trong khi những người ông đào tạo thì thăng tiến về địa vị và danh tiếng.


Mãi đến năm 1971, sau hơn bốn thập kỷ cống hiến, Johns Hopkins mới phong cho ông chức danh Giảng viên Phẫu thuật, không phải Giáo sư, mà chỉ là Giảng viên. Đến lúc đó, những người hiểu rõ nhất đều đã biết sự thật.


Năm 1976, bệnh viện vinh danh ông bằng một bức chân dung đặt cạnh bác sĩ Blalock. Trong buổi lễ, các học trò cũ đứng lên vỗ tay. Một số người đã rơi nước mắt. Cũng trong năm đó, Thomas được trao bằng tiến sĩ danh dự. Ở tuổi sáu mươi sáu, cuối cùng ông được gọi là Bác sĩ Vivien Thomas — sau bốn mươi sáu năm làm công việc của một bác sĩ phẫu thuật.


Vivien Thomas qua đời năm 1985, hưởng thọ bảy mươi lăm tuổi. Năm 2004, câu chuyện cuộc đời ông được giới thiệu rộng rãi qua bộ phim của HBO Something the Lord Made. Ngày nay, di sản của ông vẫn sống mãi qua các chương trình học, học bổng mang tên ông, và một phương pháp phẫu thuật đã cứu sống con người hơn tám mươi năm qua. Ai buồn đời như mình muốn xem cuốn phim tích cực thay vì nghe dân chửi và ma gà chửi nhau. Miễn phí trên YouTube 

 https://youtu.be/VZfjxShZd6Q?si=59qmJeo_qyQPNRZO


Trong phần lớn sự nghiệp, Vivien Thomas bị trả lương và đối xử thấp hơn rất nhiều so với năng lực thật sự của mình. Ông đứng trên một chiếc ghế nhỏ để người khác đứng trong ánh hào quang. Ông tiếp tục làm việc. Ông tiếp tục giảng dạy. Ông tiếp tục cứu người.


Họ gọi ông là người lao công. (They called him a janitor.)

Lịch sử gọi ông là người anh hùng. (History calls him a hero.)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyện tình Romeo và Juliette Đà Lạt

 Romeo và Juliette Đà Lạt 


Đầu năm buồn đời vì ăn bánh tét chiên khá nhiều nên nhớ về thời học sinh, kể chuyện mấy người bạn học cũ khi xưa với những mối tình toả nắng. Nay gặp nhau chỉ biết cười nhăn hàm răng giả cho nhau xem nhưng có mấy mối tình học sinh, tiên đồng ngọc nữ cũng tạo ra nhiều đau thương cho gia đình. Cho thấy Đà Lạt tuy nhỏ bé nhưng người Đà Lạt yêu rất dữ dội, không thua gì mùa hè đỏ lửa.

Hôm kia tết bổng nhiên thấy một cuộc gọi nhỡ của một cô học Petit Yersin, sau qua Văn Học. Nhưng không thấy để lại tin nhắn nên mình không gọi lại. Lý do không quen lắm. Có lần mình gặp lại anh của cô ta thì có nhắc đến chuyện tình của cô ta và một anh chàng học chung lớp ở đường Hai Bà Trưng, khi xưa học Trần Hưng Đạo. Buồn đời anh chàng vác súng rouleau của ông bố, làm cảnh sát lên trường đòi bắn tên nào nên bị đuổi, chạy qua Văn Học. Tại đây lại phát hiện ra mối tình học trò với cô này. Có cái kết bi thảm, như cuộc tình đã được Shakespeare viết lên bi kịch Romeo và Juliette, tưởng Đà Lạt sẽ có thêm 1 đồi thông hai mộ nhưng may mắn là cô kia mất tích. 


Tại Văn Học mình có gặp Romeo khi ra về vì lớp học cạnh nhau, có vài lần đi chung về nhà, chào hỏi, nói chuyện vài lần, khi gặp nhau, học dưới mình một lớp. Khi xưa mình hay vào nhà anh ta với đám trong xóm dưới đường Hai BÀ Trưng, như con ông Duy, thằng Đôn con ông Tân gầy,… bắn bi, chỉ nhớ nhà có mấy cây tre lớn và con suối từ Mả Thánh chảy về. Một hôm, ra về thấy ông thần nhìn cô nàng cười rất là đắm đuối Juliette cũng trả lời bằng một nụ cười tươi như hoa hồng Đà Lạt. 


Đùng một cái, nghe trong trường xôn xao, kêu hai anh chị bỏ học chạy xuống Nha Trang chơi mấy ngày khiến gia đình đi kiếm mệt thở, kiểu đi phược ngày nay. Mình thấy ông thần quá giỏi, mình gặp gái là ngọng, cà lăm không ra được một chữ trong khi anh chàng lại dám dắt gái đi chơi ở Nha Trang. Ngày nay, nghĩ lại nhát gái thời đó cũng là cái may cho cuộc đời, chớ dạn đi tán gái tùm lum thì chắc không học hành. Mình nhớ có ông thần kia hay đi tập Nhu Đạo với mình ở Adran. Hắn đai xanh còn mình đai vàng rồi bổng nhiên một ngày đẹp trời không thấy hắn đi tập nữa mà lại ôm con trước cửa nhà.


Sau vụ này, các giáo sư của trường Võ Bị Quốc Gia không được giảng dạy tại trường Văn Học. Như thầy HÙng, dạy Quang Học vào lớp tuyên bố không cho dạy trường Văn Học thì cũng không dạy trường Việt Anh luôn. Mấy ông thầy khác của trường Võ BỊ Quốc Gia, giờ rảnh phải chạy qua trường Việt Anh dạy. Thế là thầy dạy trường Văn Học thiếu nên phải cầu cứu các giáo sư của trường Trần Hưng Đạo. Năm cuối ở trường Văn Học thì toàn là thầy từ trường Trần Hưng Đạo như thầy Tính, Đức, Hàn, Thắng, Hoàn,…


Đùng một cái lại thấy nhà anh chàng làm đám ma, nghe nói tự tử với súng rouleau khiến mình thất kinh. Cái chết vì gái là cái chết liêu xiêu. Nghe nói anh chàng thất tình vì bố mẹ cô nàng, và bố mẹ ông thần cấm không cho gặp nhau nên giận đời vì thấy mình quê, không còn tình yêu thì không có lý do để sống như Shakespeare từng tuyên bố. Mình phục anh chàng này, tuổi trẻ hơn mình mà đã giác ngộ cách mạng, hy sinh cho tình yêu này nọ. Lập nên chuyện tình Romeo và Juliette của Đà Lạt một thời. Vụ này phải hỏi ông hàng xóm, Thụ Nhân ở 49C Hai Bà Trưng trước nhà hắn, nay làm ca sĩ nghiệp dư ở Gia-nã-đại. Khúc đường Hai Bà Trưng này, dạo ấy có hai cái chết chới với cho cả xóm: anh Thống, thủ khoa trường Võ Bị Quốc Gia ra trận đầu tiên tử trận và tên Romeo này.


Sau này, nói chuyện với Huỳnh Kim Sang mới biết là em gái hắn và cô này thân nhau ngày xưa, học chung lớp nên mình cho số điện thoại. Hai bà này sau 50 năm gặp nhau lại mừng như gặp lại mối tình đầu. Vì vậy thiên hạ hay réo tên mình nhờ mình mà họ gặp lại bạn cũ khi xưa. Hay xin điện thoại.


Một hôm, mình nhận được cuộc gọi của Juliette, người yêu cũ của tên hàng xóm đã anh dũng hy sinh vì mối tình hữu nghị đồi thông một mộ. Cô nàng nói chuyện kể về tình sử của hai người khiến mình thất kinh. Cô nàng nói mỗi lần mình đến nhà hắn là cô nàng trốn vì sợ mình biết về mách lại bố mẹ cô nàng, dám đến nhà Romeo. Vấn đề là mình chỉ đến nhà tên này hồi còn học tiểu học, lớn lên thì không bắn bi nữa nên chỉ gặp nhau ngoài đường, chào hỏi vớ vẩn. Mình được cái là ít khi chận họng thiên hạ dù biết họ sai hay lầm người, nhất là từ khi được đồng chí gái cải tạo. Lý do là mình bị ngu lâu dốt bền nên có nói thiên hạ cũng không nghe. Cô nàng chắc nhớ đến tên nào tên Sơn, học chung lớp với tên Romeo này nhưng mình cứ câm họng để nghe cô nàng nói suốt 3 tiếng đồng hồ, giải bầu tâm sự sau 50 năm. Kinh


Sau đó đồng chí gái kêu đi ăn cơm nên mình phải xin lỗi, cô nàng xin phép lâu lâu được gọi điện thoại nói chuyện. Mình nhất trí nhưng chả bao giờ thấy cô ta gọi lại, ngoại trừ tuần trước, biết đâu là giỗ ông thần Romeo Đà Lạt hay muốn tìm cô bạn nào khác nên cô nàng gọi mình. Mối tình đầu khó quên nhất là tên bồ, nhân danh tình yêu, thà chết không để bố mẹ cấm cản yêu đương. Cô nàng cho biết sau vụ đi phược, được xem là cặp đi phược đầu tiên, được nghe danh ở Đà Lạt. Bố mẹ cô nàng cạo đầu, rồi đưa ra Quy Nhơn sống với bà cô hay dì chi đó. Do đó không liên lạc cũng như biết Romeo đã tưởng Juliette qua đời nên đã dùng rouleau tự ru mình giấc ngủ thiên thu. Sau này di tản ra hải ngoại mới nghe đến vụ hy sinh đời Romeo củng cố đời Juliette nên cô nàng rất bị lộn xộn về tâm cảm. Lâu lắm mới nguôi, lấy ông mỹ già nào. Nên khi nghe ông anh nói về mình thì cô nàng gọi điện thoại để trút bầu tâm sự lên mình, dù chả dính dáng gì đến mình. Ông thần nào tên Sơn, bạn của Romeo Đà Lạt thì liên lạc với mình ngay. Để mình cho điện thoại mà đính chính dùm.


Cô nàng kể là sang mỹ cũng Chán Mớ Đời nhất là khi nghe bạn học xưa kể vụ người tình Romeo, nên về già mới lấy một ông mỹ già ở San Francisco. Hôm mình ghé San Francisco thì anh của Juliette gọi điện thoại thì cô nàng đi chơi xa nên không có dịp gặp lại. Mình nhớ cô này khi xưa học Yersin dưới mình một lớp.


Một hôm mình đi ăn tiệc nhà ai đó không nhớ thì có một bà đến chào mình. Rồi tự xưng là người yêu xưa của ông anh của cô nàng Juliette. Kinh. Mình kêu rất hân hạnh thì mới giác ngộ cách mạng là ông anh của Juliette là thuộc dòng Minh Mạng nên có máu dê rất cao. Chắc nhờ uống thuốc của vua Minh Mạng hay máu của vị vua này chảy trong huyết quản nên rất yêu phụ nữ. Không nhớ hắn cùng tuổi hay hơn tuổi mình. Mình nhớ khi xưa có học chung ở Yersin sau đó hắn sang trường việt, dạo còn tiểu học. Bố hắn là họ hàng chi với vua Bảo Đại, hồi nhỏ chơi với nhau đến khi ông Bảo Đại đi tây. Quân thần về phe Bảo Đại đông hơn nhóm về phe bố hắn nên bầu Bảo Đại làm thái tử của Khải Định. Bố hắn thuộc hàng Ưng trong khi ông Bảo Đại là Vĩnh, dưới mấy lớp. Ông vua này thì không có con, nghe nói thích các công công hơn.


Hôm trước, có đi ăn phở với một ông thần khi xưa học Lasan Adran, nghe nói ông thần nay là được bầu làm họ trưởng nhưng ông thần thuộc vần Bảo. Thua ông thần anh của Juliette vì hắn hàng Bửu, bố hắn là hàng “Ưng”. Sang Hoa Kỳ, mấy người họ vua nhà NGuyễn thì hơi lộn xộn. Có ông thần quen họ Bảo, con gái lại Công Huyền Tôn Nữ nên giấy tờ đi học khá phức tạp. Xem bài thơ của ông vua có con nhiều triều Nguyễn. Đọc từ phải xuống qua trái.


Ngồi nói chuyện với người yêu cũ của anh của Juliette thì thất kinh. Mình biết khi học trung học, hắn dê cô nào bị dính cái bầu mà bố cô bồ là con bộ trưởng bộ sắc tộc chi đó nên làm đám cưới. Có cô bạn kể là hồi đó đi học, cô con gái bộ trưởng phải bận áo mưa để che cái trống chầu. Này như vụ này, xảy ra khi mình đi tây rồi. Rồi 75 di tản chạy qua mỹ. Anh chàng có mấy con với con gái sắc tộc, gốc người Tày vì cháu thầy An. Gặp thầy có kể vụ này, thằng cháu rể gốc Minh Mạng. Đùng một cái, đi dự tiệc, có một cô tự xưng là bồ nhí, kêu lại có con riêng với anh chàng này. Lại sinh con trai vì bà vợ Tày chỉ đẻ con gái cho hợp với chế độ Mẫu Hệ. Anh chàng không nhìn đứa con nên hai mẹ con dọn xuống nam Cali, lập gia đình với một bác sĩ ở Bolsa. Cô ta nhờ mình nói lại với ông bồ cũ là nên nhận đứa con. Về hưu hai cha con ở với nhau tại Mobilehome park nào đó. Để nối lại tình phụ tử một lần dang dỡ.


Mình khi không dính vào chuyện gỡ rối tơ lòng của thiên hạ của những người mình chỉ biết sơ sơ, chớ không quen khi xưa ở Đà Lạt nên chới với. Mình nói sẽ nói lại với ông bồ mà mình mới gặp lại một hai lần. Ông bồ xuống thăm con gái đi làm hay học dưới này nên hú mình đi uống cà phê. Mình nói có người tự xưng như vậy kể mình chuyện này. Anh chàng kêu “ah đứa con tội lỗi” rồi lơ qua chuyện khác. Anh ta kể đang mê một cô nào trẻ, làm thiện nguyện bú xua la mua. Mình hỏi bà vợ người Tày, anh chàng kêu Chán Mớ Đời. Thôi thì mình không nên xía vào chuyện tình Lan và Điệp. Lâu nay cũng không liên lạc với ông thần. Lần trước ông thần kêu bị ung thư nhưng đã chữa lành.


Đó là mối tình yêu cuồng sống vội của học sinh Đà Lạt mà mình biết nhưng ra hải ngoại bổng nhiên lại dính vô chuyện lộn xộn của họ. Chuyện gia đạo của mỗi người một hướng, không nên xen vô. Ngoài ra có vụ ông lính tự tử ở cột điện đường Hai Bà Trưng ở khu cư xá Công Chánh khiến mình bị ám ảnh từ bé đến khi đi tây. Dạo ấy mình học Petit Lycee, một buổi sáng nghe cái ầm dưới đường Hai BÀ Trưng rồi lúc đi học thì khám phá ra thiên hạ bu xung quanh một ông lính bị bay mất nữa cái đầu. Nằm chết giữa đường dưới cột điện, nơi mà mình mỗi ngày phải đi ngang qua khi đi học. Cứ sợ sợ. Nghe kể ông lính này mê cô nào ở trong xóm mình rồi cô ta không chịu, nói chỉ thích uý trở lên nên buồn đời anh ta đến gần nhà đối tượng cho nổ trái lựu đạn banh cái đầu. Kinh


Từ đó mình tự hứa lớn lên không thích cô hàng xóm nào cả, sợ bị cái huông ông lính đa tình này. Thôi em phải lên vườn, hôm nào rảnh kể tiếp.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Đất Xanh hay Mỏ Xanh.

 Đất Xanh hay Mỏ Xanh.


Nhớ lần đầu tiên mình sang Hoa Kỳ chơi, có anh bạn xưa ở Đà Lạt tặng cho cuốn sách có tựa đề “you can negotiate anything” của luật sư Herbert Cohen. Ngồi máy bay đọc thấy mê vì ông ta chỉ những chiêu thương lượng, kiểu nhẹ nhàng mà đa số ưa thích, kiểu Liên Sô la hét om sòm, mình thích nhất là cách giả ngu, người ta đã tìm cách close cái deal rồi tự nhiên chỉ cần bỏ nhỏ, hỏi một câu cực ngu, không dính dáng gì hết khiến đối tác ngớ, nghĩ mình ngu hay thiểu năng nên mất phương hướng, phải lập lại từ đầu. 


Sau này mình sang Hoa Kỳ làm việc, có đọc cuốn sách của ông Trump “Art of the deal” rồi sau đó 2 cuốn sách của cộng sự viên của ông ta nói rõ cách thương lượng của công ty về các Deal ở New York mà ông Trump thực hiện được nhờ cái tài, hay lối bỏ nhỏ khiến đối tác đều nghĩ ông ta có vấn đề nói chuyện cõi trên. Nay ông ta làm tổng thống khiến mình buồn cười khi nghe thiên hạ chửi ông ta ngu ngốc này nọ. Mình ngu lâu dốt bền đâu có làm gì được trong đời đâu, cuối đời vẫn phải đi làm nông dân, bán bơ sống qua ngày trong khi ông ta trở thành tỷ phú, này nọ. 


Mình đọc thêm về Greenland vì thời ông Trump lên lần đầu đã nói đến vấn đề này, mình có kể rồi. Nay tài liệu nói rõ hơn lý do. Khi thương lượng, người ta lúc nào cũng đưa ra một ý chính để thiên hạ dựa vào đó để thương lượng nhưng nếu ai hiểu thương lượng thì phải hiểu nguyên do chính. Báo chí chỉ đưa tin tức để bán cho thiên hạ nghe có lý nưhng không bao giờ nói lên sự thật.


Điển hình đi xem nhà bán, hỏi chủ nhà lý do bán thì họ đều nói là muốn mua nhà lớn bú xua la mua. Trong khi đó mình đã có tin tức họ thiếu nợ ngân hàng trả không nổi. Nên phải bán. Nên ngoài mặt vẫn làm như người đang mơ.


Sai lầm nguy hiểm nhất khi nói về “Greenland” là tin rằng câu chuyện này thực sự nói về Greenland. Chúng ta được bảo rằng đây là một cuộc khẩu chiến ngoại giao, một ám ảnh bất động sản, một sự quay ngược hỗn loạn về chủ nghĩa đế quốc thế kỷ 19. Báo chí xem nó như một màn trình diễn. Các nhà bình luận tranh cãi liệu chính quyền có nghiêm túc hay chỉ đang trêu ngươi. Người châu Âu bày tỏ phẫn nộ trước sự xúc phạm chủ quyền. Toàn bộ sự việc được đóng khung như tiếng ồn: kỳ quặc, đáng xấu hổ và rốt cuộc là không đáng kể. Cách đóng khung này thì dễ chịu. Và gần như chắc chắn là sai.


Cách đọc thông thường về “vở kịch Greenland” là sự bất tài ngoại giao diễn ra theo thời gian thực. Chính quyền đe dọa dùng vũ lực, bị bác bỏ, leo thang, lại bị bác bỏ, rồi rút lui sang ngôn ngữ mua bán. Các nhà bình luận lắc đầu. Người châu Âu tỏ ra bối rối. Những gì trông như loạng choạng thực ra là một chuỗi đàm phán kiểu Trump cổ điển. Mở đầu bằng một yêu sách gây sốc để yêu sách thực sự của Đan Mạch trở nên “hợp lý” hơn khi so sánh.


Trình tự như sau: Phát tín hiệu thâu tóm. Đan Mạch cười nhạo. Nhắc đến vũ lực. Đan Mạch giật mình. Khăng khăng nói đến vũ lực, to tiếng, lặp đi lặp lại. Đan Mạch đạt đỉnh phẫn nộ. Những quốc gia âu châu khác đứng về phía họ. Rồi xoay trục. Một đề nghị mua lại xóa sạch toàn bộ nợ quốc gia của Đan Mạch (142 tỷ USD) và gần như gấp đôi GDP của Greenland (~450 tỷ USD)… Và đột nhiên câu hỏi không còn là “các ông dám sao” mà là “khoan đã, bao nhiêu cơ?” Ngôn từ về vũ lực chưa bao giờ là kế hoạch. Nó là cái mỏ neo. Đan Mạch không còn bảo vệ chủ quyền trước một kẻ xâm lược đế quốc; Đan Mạch đang đánh giá một đề xuất tài chính. Khung câu chuyện đã dịch chuyển.


Phép toán không hề phi lý. Thương vụ có lẽ tự hoàn vốn trong vòng một thế hệ. Riêng khoáng sản đã đáng giá gấp nhiều lần giá mua. 57.000 cư dân Greenland trở thành triệu phú trên giấy. Đan Mạch trút bỏ một gánh nặng ngân sách và xóa nợ. Hoa Kỳ bảo đảm chuỗi cung ứng đất hiếm cho quân đội của thập niên 2030.


Điều đang diễn ra thực chất là một cuộc thôn tính chuỗi cung ứng khoác lên trang phục của tham vọng lãnh thổ. Mục tiêu không phải một hòn đảo; mà là hai cấu trúc địa chất ở Nam Greenland, Kvanefjeld và Tanbreez, nơi chứa các nguyên tố đất hiếm nặng mà không có chúng thì không thể chế tạo bất kỳ hệ thống vũ khí tiên tiến nào.


Dysprosium. Terbium. Những cái tên chẳng có ý nghĩa gì với công chúng nhưng lại có ý nghĩa sống còn với Lầu Năm Góc. Các nguyên tố này là không thể thay thế trong bộ truyền động của tiêm kích F-35, cánh lái dẫn đường của đạn chính xác, mảng sonar của tàu ngầm lớp Virginia, và nam châm vĩnh cửu của mọi động cơ xe điện. Trung Quốc kiểm soát hơn 90% khâu chế biến toàn cầu. Hoa Kỳ hầu như không kiểm soát gì. “Việc mua” Greenland không phải là một thương vụ đất đai. Đó là nỗ lực phá vỡ một thế kìm cổ.


Năm 2026, các thị trường dự đoán đã trở thành thứ gần nhất với tín hiệu giá trung thực về rủi ro địa chính trị. Và lúc này, chúng đang kể hai câu chuyện khác nhau. Kalshi, sàn giao dịch được Mỹ quản lý, định giá xác suất Hoa Kỳ thâu tóm Greenland ở khoảng 42%. Polymarket, nền tảng phi tập trung với cộng đồng tiền mã hóa toàn cầu và các nhà đầu cơ ngoài khơi, định giá ở mức 15–23%.


Đây không phải là kém hiệu quả thị trường mà là sự bất đồng về bản chất của quyền lực. Những người đặt cược trên Kalshi, các định chế, có trụ sở tại Mỹ, gắn chặt với hệ thống tài chính Mỹ tin rằng chính quyền sẽ ép thương vụ đi đến cùng. Họ đang định giá sự cưỡng bức. Những người đặt cược trên Polymarket quốc tế, hoài nghi về tính toàn năng của Mỹ, thường hoạt động ngoài phạm vi pháp lý của Mỹ—tin rằng sự kháng cự của châu Âu sẽ trụ vững. Họ đang định giá các chuẩn mực.


Khoảng chênh 20 điểm giữa hai thị trường này là tín hiệu quan trọng nhất thế giới lúc này. Nếu Polymarket tăng để gặp Kalshi, điều đó có nghĩa là “tiền thông minh” toàn cầu đã chấp nhận rằng Hoa Kỳ sẽ phá vỡ luật pháp quốc tế để bảo đảm sườn Bắc Cực.


Tương tự Venezuela, có mõ dầu nhiều nhất thế giới mà mấy ông tàu lại bò lại mua dầu thô rẻ nên phải thương lượng với vợ chồng bà chủ tịch quốc hội, bà lên làm tổng thống, không chơi với anh tàu nữa. Có tiền lệ cho sự chấp nhận như vậy. Vài tuần trước, một nhà giao dịch đặt cược 32.000 USD vào việc lật đổ Tổng thống Venezuela Nicolás Maduro và thu về hơn 400.000 USD khi lực lượng Mỹ bắt giữ ông ta. “Hiệu ứng Maduro” đã hiệu chỉnh lại khẩu vị rủi ro trên mọi thị trường địa chính trị. Các nhà giao dịch không còn định giá đàm phán ngoại giao. Họ đang định giá các cuộc thâu tóm thù địch.


Người quan sát trung bình thấy ba mẩu tin riêng rẽ: tranh chấp thương mại với châu Âu, một sự ám ảnh kỳ lạ với Greenland, và vài sự cố mất kết nối internet cục bộ ở vùng Baltic. Chúng không hề tách rời. Đó là ba mặt trận của một xung đột duy nhất.


Mặt trận tài nguyên: Chính quyền mỹ đang bảo đảm đầu vào khoáng sản cho quân đội thập niên 2030. Mỏ Tanbreez, giàu đất hiếm nặng, không vướng phức tạp uranium, do lợi ích phương Tây sở hữu là viên ngọc vương miện. Mỏ Kvanefjeld lân cận, có phần vốn của Trung Quốc thông qua Shenghe Resources, là vấn đề cần vô hiệu hóa. Kiểm soát Greenland giải quyết cả hai.


Mặt trận kinh tế: Các mức thuế công bố đối với Đan Mạch, Pháp, Đức, Anh và bốn quốc gia châu Âu khác không phải biện pháp bảo hộ. Chúng là các đòn đánh kinh tế dẫn đường chính xác nhằm vào những kẻ bất đồng chính trị. Thỏa thuận Thịnh vượng Công nghệ Mỹ–Anh trị giá 31 tỷ bảng, trung tâm dữ liệu của Microsoft, đầu tư R&D của Google đã bị đình chỉ vô thời hạn. Thông điệp rất rõ ràng: sự đồng thuận với mục tiêu địa chính trị của Mỹ là cái giá của vốn Mỹ.


Mặt trận động năng: Trong khi các nhà ngoại giao tranh cãi về thuế quan, tàu Nga kéo neo cào qua các tuyến cáp viễn thông ở Baltic. Tàu chở hàng Fitburg, bị Phần Lan và Estonia tịch thu, là một phần của “Hạm đội Bóng tối”, những con tàu có quyền sở hữu mờ ám hoạt động dưới ngưỡng chiến tranh công khai. Đây không phải tai nạn. Đó là các hoạt động tạo hình thế, dò tìm điểm yếu, phô diễn khả năng cắt đứt hạ tầng số gắn kết liên minh phương Tây.


Người quan sát trung bình thấy hỗn loạn. Thực tế tình báo thấy sự nhất quán: thâu tóm tài nguyên, cưỡng bức kinh tế và chuẩn bị động năng, phối hợp đồng thời. Phản ứng của châu Âu trước tất cả những điều này là viện dẫn luật pháp quốc tế, chủ quyền và trật tự dựa trên luật lệ. Những lời viện dẫn ấy thỏa mãn cảm xúc. Chúng cũng vô nghĩa về mặt chiến lược.

Luật pháp quốc tế chỉ vận hành giữa các tác nhân đồng ý bị ràng buộc bởi nó. Nó giả định sự thừa nhận lẫn nhau về tính chính danh, một khung quy tắc chung và một cơ chế thực thi đủ sức cưỡng chế tuân thủ. Không điều kiện nào trong số này tồn tại. Không có chủ quyền toàn cầu. Không có độc quyền bạo lực. Các thỏa thuận chỉ bền cho đến khi lợi ích phân kỳ.


Hoa Kỳ đã quyết định rằng việc bảo đảm chuỗi cung ứng đất hiếm quan trọng hơn việc duy trì dàn xếp hậu chiến với châu Âu. Các thị trường dự đoán đã định giá điều này. Các hoạt động phá hoại cáp đã chứng minh điều đó. Các thông báo thuế quan đã nói thẳng ra.


Các nhà lãnh đạo châu Âu có thể viện dẫn chuẩn mực. Họ không thể cưỡng chế thực thi. Và những tác nhân công khai bác bỏ khung khổ dù là kéo neo qua cáp ngầm hay đòi nhượng bộ lãnh thổ dưới áp lực kinh tế đều giành lợi thế trước những bên tự trói mình bằng các ràng buộc mà đối phương không công nhận.


Đây là sự bất đối xứng của thời khắc hiện tại. Nó không mới. Thucydides đã chỉ ra từ hai mươi lăm thế kỷ trước: kẻ mạnh làm những gì họ có thể, kẻ yếu chịu những gì họ phải chịu. Điểm mới của năm 2026 là tốc độ chiếc mặt nạ rơi xuống. Có lẻ vì vậy mà các tên tài phiệt ủng hộ ông Trump đắc cử vì ông ta tỉnh bơ khi nói chuyện khi thương lượng. Không mắc cỡ này nọ. Thiên hạ theo tiêu chuẩn được giáo huấn từ bé không chấp nhận nên chửi ông ta nhưng ai có học về thương lượng thì hiểu rõ lý do này.


Câu chuyện công chúng mang lại sự an ủi: đây là hỗn loạn, bất tài, một sự xấu hổ ngoại giao rồi sẽ tự tan biến. Thực tế vận hành thì không hề an ủi. Hoa Kỳ đang thôn tính một chuỗi cung ứng. Châu Âu đang bị ép buộc phải căn chỉnh. Nga đang thăm dò hạ tầng gắn kết liên minh. Công chúng bị phân mảnh trong các silo thông tin khiến phản ứng tập thể bất khả. Các thị trường dự đoán đang định giá những kết cục mà diễn ngôn chính thức vẫn coi là không tưởng.


Những tuyên bố trên báo chí không phải vô nghĩa. Nhưng hiếm khi mang tính quyết định. Các lực quyết định vận hành âm thầm, được dẫn dắt không phải bởi chuẩn mực mà bởi đòn bẩy, không phải bởi luật pháp mà bởi địa chất, không phải bởi nguyên tắc mà bởi logic không thể giản lược của việc ai kiểm soát các đầu vào cho thế hệ vũ khí tiếp theo (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn