cholesterol xấu và tốt

 Tình cờ đọc bài viết của bác sĩ tim mạch người Đức Stefan Vogt, đang làm việc tại Hoa Kỳ, tôi thấy ông khá ngạc nhiên khi khám cho các bệnh nhân trong độ tuổi 60 và 70 đến tái khám định kỳ. Ông nhận thấy phác đồ điều trị Cholesterol LDL của họ được kiểm soát hoàn hảo, với các xét nghiệm mỡ máu sạch sẽ. Tất cả đều đang dùng statin, chẳng hạn như Atorvastatin, Rosuvastatin và Simvastatin, có người đã dùng trên 10 năm, có người 15 năm, và một người thậm chí đã dùng 19 năm.

Động mạch với LDL oxy hoá bám vào

Tuy nhiên, vấn đề là mặc dù chỉ số của họ tốt, nhưng điều này không phản ánh đúng tình trạng sức khỏe của họ. Ví dụ, một người đàn ông 64 tuổi phải nhờ vợ lái xe đưa đi khám vì tay ông run quá không thể cầm vô lăng. Mặc dù chỉ số LDL của ông là 98, được coi là “hoàn hảo”, nhưng tình trạng sức khỏe của ông lại không như vậy.


Một bệnh nhân khác, 71 tuổi, từng là thợ cơ khí sửa chữa động cơ diesel, giờ đây không thể mở nổi lọ thuốc lẽ ra đang cứu mạng mình. Mức LDL của ông là 104, một con số mà bác sĩ gọi là “xuất sắc”. Một bệnh nhân khác, 66 tuổi, nhìn tôi bốn giây khi tôi hỏi tên vợ ông. Không phải vì ông không biết, mà vì ông gặp khó khăn trong việc tìm từ ngữ. Mức LDL của ông là 91, một con số mà bác sĩ gọi là “đúng như chúng ta, đúng hơn là bác sĩ mong muốn”.


Ở Đức, bác sĩ Vogt đã nhận ra điều đang xảy ra với những bệnh nhân này ngay từ lần khám đầu tiên. Lý do là vì ở Đức, họ đã ngừng chỉ đo LDL từ mười lăm năm trước. Thay vào đó, họ đo LDL bị oxy hóa, một xét nghiệm mà tim mạch Mỹ không thực hiện. Sự khác biệt giữa một con số trên biểu đồ và những gì thực sự xảy ra trong động mạch của bệnh nhân là rất quan trọng, và việc đọc tiếp bài viết này có thể khiến bạn sốc.


Cholesterol LDL, thường bị hiểu lầm là có hại, thực chất lại đóng vai trò thiết yếu trong cơ thể. Nó được sản xuất có chủ đích để vận chuyển lipid quan trọng đến tế bào, đặc biệt là não, nơi nó chiếm khoảng 25% trọng lượng khô. Hormone cũng phụ thuộc vào LDL, và màng tế bào được cấu tạo từ nó. Do đó, LDL không phải là kẻ thù cần bị tiêu diệt.


Tuy nhiên, LDL bị oxy hóa mới là mối nguy hiểm thực sự. Gần đây, chúng ta mới hiểu rõ hơn về sự tồn tại của hai loại LDL: loại cần thiết cho cơ thể và loại được coi là có hại. Cơ thể chúng ta liên tục sản sinh ra các gốc tự do do căng thẳng, thực phẩm chế biến, ô nhiễm và cả quá trình lão hóa. Trong số đó, gốc hydroxyl là nguy hiểm nhất. Khi gốc hydroxyl tấn công LDL, cấu trúc phân tử của nó bị thay đổi, dẫn đến quá trình oxy hóa. LDL bị oxy hóa này hoàn toàn khác biệt và gây ra những rủi ro sức khỏe tiềm ẩn.


Nó không trôi nổi vô hại trong máu. Thay vào đó, nó bám vào thành động mạch, kích hoạt phản ứng viêm. Hệ miễn dịch coi nó là kẻ xâm nhập và gửi bạch cầu đến tiêu diệt. Những bạch cầu này ăn các hạt LDL oxy hóa cho đến khi biến thành các tế bào bọt, mắc kẹt trong thành động mạch. Đây là khởi đầu của mảng bám, là cách cơn đau tim xảy ra. Không phải từ cholesterol, mà từ cholesterol bị oxy hóa.


Ở Munich, đây đã là kiến thức tiêu chuẩn từ năm 2010. Mọi bác sĩ tim mạch ông ta từng làm việc đều hiểu điều này. Chúng tôi xét nghiệm LDL oxy hóa như người Mỹ xét nghiệm LDL thường. Nó là một phần của quy trình và cuộc trò chuyện với bệnh nhân.


Tuy nhiên, tại Mỹ, trong hai năm hành nghề, tôi chưa thấy một xét nghiệm mỡ máu nào gồm LDL oxy hóa. Điều này có nghĩa là bệnh nhân có thể có chỉ số “hoàn hảo”, khiến bác sĩ mỉm cười nói “tốt lắm, tiếp tục uống Lipitor”, trong khi động mạch âm thầm tắc nghẽn vì cholesterol oxy hóa mà không ai đo lường.


Ông ta đã thấy mẫu hình này ở hơn ba trăm bệnh nhân Mỹ trong phòng khám của mình. Chỉ số kiểm soát tốt, nhưng tổn thương vẫn tiến triển. Không ai kết nối hai điều này vì xét nghiệm duy nhất sẽ kết nối chúng là xét nghiệm mà không ai đặt.


Có bác nào ở Đức quốc có thể nói về vụ này hay không. Mình đoán ở Pháp chẳng cũng vậy. Nếu bác nào ở âu châu thì cho em xin ý kiến. Tại vì nếu đúng như vậy thì chúng ta cần làm gì để giảm thiểu các LDL bị oxy hoá. Và nguyên nhân đưa đến LDL bị oxy hoá. Để kiểm soát vấn đề này.


Mình mò thêm tài liệu thì được biết như sau: LDL oxy hóa (ox-LDL) là cholesterol LDL "xấu" bị biến đổi bởi các gốc tự do trong máu. Khi bị oxy hóa, các phân tử này trở nên độc hại, kích hoạt phản ứng viêm và đẩy nhanh quá trình tích tụ mảng bám trong thành động mạch, dẫn đến xơ vữa động mạch và nguy cơ đột quỵ. Hiểu rõ bản chất, cách phát hiện và biện pháp hạn chế loại cholesterol có hại này sẽ giúp bảo vệ sức khỏe tim mạch của bạn một cách chủ động.



Khi LDL bình thường đi vào thành mạch, chúng vô hại. Tuy nhiên, nếu bị oxy hóa, hệ miễn dịch sẽ nhận diện nhầm đây là "vật thể lạ" và huy động các tế bào bạch cầu đến tiêu thụ chúng. Các bạch cầu ăn quá nhiều LDL oxy hóa sẽ biến thành "tế bào bọt" (foam cells), tích tụ lại tạo thành các mảng xơ vữa khiến lòng mạch máu bị thu hẹp và xơ cứng. 


Tình trạng này chủ yếu bắt nguồn từ căng thẳng oxy hóa (oxidative stress). Sự mất cân bằng giữa các gốc tự do dư thừa và chất chống oxy hóa trong cơ thể. Các yếu tố thúc đẩy bao gồm: chế độ ăn nhiều chất béo bão hòa, thực phẩm chế biến sẵn và đường. Hút thuốc lá và tiếp xúc với khói thuốc. Căng thẳng kéo dài (stress). Lối sống ít vận động hoặc mắc các bệnh lý chuyển hóa (tiểu đường, kháng insulin). 


Xét nghiệm ox-LDL đo lường trực tiếp mức độ tổn thương do chất béo bị oxy hóa trong máu. Xét nghiệm này thường được thực hiện thông qua các dịch vụ xét nghiệm máu chuyên sâu (như xét nghiệm Cardio/Foundation Zoomer) để đánh giá rủi ro tim mạch tổng thể. Mức ox-LDL cao cho thấy nguy cơ viêm mạch máu và xơ vữa tăng cao, ngay cả khi mức cholesterol LDL tổng thể của bạn nằm trong giới hạn bình thường. 


Hạn chế tác hại và giảm lượng LDL oxy hóa bằng các phương pháp thay đổi lối sống cốt lõi:

Tăng cường chất chống oxy hóa: Ăn nhiều rau xanh, trái cây, các loại hạt và quả mọng (chứa nhiều vitamin C, E và polyphenol).

Sử dụng chất béo lành mạnh: Thay thế các loại mỡ động vật và dầu kém chất lượng bằng dầu ô liu, dầu quả bơ.

Duy trì hoạt động thể chất: Tập thể dục thường xuyên giúp cải thiện chuyển hóa chất béo và tăng cường hệ thống phòng thủ chống oxy hóa tự nhiên của cơ thể.

Bỏ thuốc lá và kiểm soát căng thẳng: Hạn chế rượu bia và duy trì cân nặng hợp lý.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen Nguyễn Hoàng Sơn 


từ Na-San đến Điện Biên Phủ


Hồi xưa, thầy dạy kể về các trận đánh chống pháp này nọ, có nghe đến trận Na-San và tướng Raul Salan mà mấy ông tây đi lính khi xưa khen ông tướng này. Sau này ông ta chống lại việc tổng thống Để Gaulle nên tính làm đảo chính nhưng chỉ có một số binh sĩ theo ông ta nên sau này bị tổng thống De Gaulle bắt bỏ tù. Hồi ở Paris, mình có gặp ong tướng này mấy lần ở hội cựu chiến binh Đông-Dương mỗi lần ông ta lên Paris thăm gia đình, và ông tướng Bigeard, người đầu hàng Việt mInh tại Điện Biên Phủ cũng như bác sĩ Paul Grovin, người đã trải qua bao nhiêu trận pháo của việt minh tại lò chảo Điện Biên này. Ông này có viết cuốn sách “ j’étais médecin à Điện Biên Phủ”. Mình có đọc cuốn này khi ở Pháp. Có dịp mình kể về ông bác sĩ này.

Căn cứ Na-San là nơi đụng độ mạnh nhất giữa Việt minh và quân đội Pháp. Các vùng miền cao như Cao Bằng, Lạng Sơn đều được việt mình chiếm đóng các khu vực này. Lý do là gần biên giới Trung Cộng. Dễ nhận tiếp tế.

Có lần về quê, ngủ lại nhà lần đầu tiên, thì sáng sớm nghe cái loa phường tuyên dương các người dân làng mình đã hy sinh trong trận đánh Điện Biên Phủ. Cái loa đọc tên rồi kêu đã chết rất lâu khiến mình rùng mình. Nếu ông cụ mình theo việt mInh ở làng chắc cũng đã nằm xuống ở Điện Biên Phủ. Ông cụ lại không theo nên việt minh tìm cách giết vào ban đêm. May sao ông cụ đã chuẩn bị nên nhảy qua tường nhà hàng xóm rồi trốn ra Hà Nội rồi đăng lính vào nam.


Mình có đọc đâu đó, ông tướng Võ Nguyên Giáp có kể là khi Trung Cộng đồng ý giúp đỡ vũ trang và cán bộ thì Việt mInh mới khởi đầu đánh pháp. Cậu ruột của đồng chí gái đi theo việt minh và làm sĩ quan tuỳ viên cho võ đại tướng. Sau này lên hàm tướng.

Không ảnh của Na-San, thấy phi trường 

Hôm nay tình cờ đọc một bài của ông tây nào kể về trận đánh Na-San, khiến quân đội pháo ỷ y nên chơi lớn hơn ở Điện Biên Phủ cùng chiến thuật nhưng rồi sau khi thất bại tại Na-San, Việt mInh học được bài học đau đớn nên đã tương kế tựa kế, bao vây Điện Biên Phủ và người Pháp không ngờ kỳ này quân đội Việt Minh có thể kéo đại bác lên trên đỉnh núi và trực chỉ bắn xuống các nơi phòng ngự của lính pháp. Cuối cùng không được tiếp tế nên đầu hàng. Ông tướng Bigeard có nói với mình tướng Phú của Việt Nam Cộng Hoà cũng có mặt tại trận này và bị bắt làm tù binh. Hình như dạo đó tướng Phạm Văn Phú là trung uý trong quân đội viễn chinh pháp.


Pháp có 2 trận đánh nổi tiếng ở Việt Nam là Na-San và Điện Biên Phủ trong khi quân đội mỹ có trận Khe sanh, cũng do tướng Giáp tấn công. Chỉ có Điện Biên PHủ là thắng còn hai trận kia thì phải rút lui vì tổn thất quá nhiều. Mình đọc đâu đó ông Giáp có kể vụ bộ chính trị ra lệnh ông ta phải chiếm loại Quảng Trị cho bằng được khiến mỗi đêm 100 bộ đội chèo ghe sang sống đều bị bắn chết hết.


 Vào tháng 12 năm 1946, tại Đông Dương thuộc Pháp lúc bấy giờ, Chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất đã bùng nổ giữa Pháp và Việt Minh. Một phong trào độc lập cánh tả của Việt Nam do Hồ Chí Minh lãnh đạo và Tướng Võ Nguyên Giáp chỉ huy quân sự.

Phi đạo của Na-San
Họ đào hầm phòng ngự, hình như đa số  người đào là gốc việt hay Thái

Nhận thấy không thể thắng được bằng sức mạnh ở những cánh đồng lúa phẳng, ông Võ Nguyên Giáp, chả bao giờ đi lính cả nhưng lại cầm quân kháng chiến chống pháp. Mình nghe ông Vũ Quốc Thúc, học chung với ông Giáp. Ông Giáp mê lịch sử nhất là các trận đánh của Napoleon, ông ta kể rõ từng chi tiết. Sau này ông ta không được đi pháp học thêm như ông Vũ Quốc Thúc vì ông thầy giáo tây ghét cái tính của ông Giáp không chịu luồng cúi người Pháp nên đánh rớt. Chứ nếu tây cho ông Hồ và ông Giáp đi du học thì ngày nay có thể Việt Nam vẫn là thuộc địa cảu pháp cũng có thể không phải cộng sản. Hay chả có chiến tranh chết chóc 3 miền.


Bộ chỉ huy Việt Minh mới quyết định năm 1952 chuyển hướng nỗ lực của Việt Minh sang vùng núi phía Bắc (Tonkin, nay là miền Bắc Việt Nam). Ở đó, ông tin chắc sẽ tận dụng được sự linh hoạt của quân đội và sự quen thuộc với rừng núi, cũng như hậu cần trở nên linh hoạt hơn nhờ sự hỗ trợ ngày càng gia tăng từ Trung Quốc cộng sản láng giềng.


Do đó, đầu tháng 10 năm 1952, ba sư đoàn bộ binh Việt Minh đã vượt sông Hồng và mở cuộc tấn công vào tỉnh Thái ( tây gọi Tai) ở tây bắc Tonkin, nơi sinh sống của các dân tộc Thái thân Pháp. Hình như thực dân pháp để cho các dân tộc này tự trị nên họ ủng hộ và giúp đỡ người Pháp. Mục tiêu của Việt Minh là đẩy lui quân Pháp và thiết lập đường nối trực tiếp với Lào, sau đó xâm lược phần này của Đông Dương thuộc Pháp và mở thêm một mặt trận mới.


Chỉ trong vòng chưa đầy hai tuần, các sư đoàn Việt Minh đã tiến được khoảng 60 km và tiến đến sông Đen, Hắc Giang (Black River) ở phần trung tâm tỉnh Thái. Sự tiến quân này buộc các lực lượng Pháp-Việt phải rút khỏi các cứ điểm chính tại Nghĩa Lộ và Sơn La, cũng như các tiền đồn nhỏ lân cận. Không lâu sau, các cứ điểm Điện Biên Phủ và Lai Châu nằm phía bên kia sông Hắc giang  cũng phải di tản.

Tướng Raoul Salan, sau này bị tổng thống De Gaulle ra lệnh bắt bỏ tù vì muốn giữ Algeria cho đế quốc Pháp. Mình có ăn cơm với ông ta mấy lần tại hội cựu chiến binh Đông-Dương 

Đáp lại, Tướng Raoul Salan, khi đó là Tổng Tư lệnh lực lượng Pháp tại Đông Dương, quyết định chặn bước tiến của Việt Minh sang Lào bằng cách xây dựng một căn cứ kiên cố tại Na San, một thung lũng nằm bên kia sông hắc giang. Na San có một sân bay quan trọng, là điểm đến của viện binh và tiếp tế cho tỉnh Thái.


Thung lũng Na San dài khoảng 5 km, rộng 2,5 km, được bao quanh bởi hai dãy đồi. Nó nằm trên đường tỉnh lộ 41 (RP 41) tuyến giao thông chính của tỉnh Thái. Một sân bay quân sự đã được xây dựng trong thung lũng, được một tiền đồn nhỏ canh giữ nhằm tăng khả năng tiếp tế cho khu vực. Nhờ điều kiện tự nhiên thuận lợi, Tướng Salan chọn Na San làm nơi tập trung quân, bao gồm cả các đơn vị đang rút lui. Ông hy vọng sẽ thu hút các sư đoàn Việt Minh đang tiến tới tấn công cứ điểm trên đường sang Lào, đồng thời chặn đứng và tiêu hao chúng bằng cách biến thung lũng thành một pháo đài bất khả xâm phạm.


Vì vậy, ngày 16 tháng 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn Bộ binh Lê dương 3 (3e REI) dưới quyền Thiếu tá Favreau đã đổ bộ xuống Na San và bắt đầu công việc củng cố. Ngày 26 tháng 10, Tiểu đoàn 3, Trung đoàn 5e REI (vẫn dưới quyền Thiếu tá Dufour, sau chuyển sang Đại úy Reppelin từ giữa tháng 11) cũng được chuyển đến thung lũng. Các đại đội của họ chiếm giữ nhiều ngọn đồi bao quanh thung lũng và ngay lập tức biến chúng thành các vị trí phòng thủ.


Trong quá trình xây dựng quy mô lớn, hai tiểu đoàn được hỗ trợ bởi các đơn vị công binh Pháp và lính công binh Lê dương từ Tiểu đoàn Công binh hỗn hợp 73 (73e BG). Trong nhiều tuần, máy bay liên tục chở đến lương thực, vật liệu xây dựng, đạn dược, gạo, dây thép gai, pháo, và thậm chí cả máy ủi. Bên cạnh vận tải bằng máy bay dân sự, không quân còn cung cấp giám sát từ xa và gần để theo dõi kẻ thù.

Tiểu đoàn nhảy dù Lê Dương 

Ngày 19 tháng 11, Tiểu đoàn Nhảy dù Lê dương 2 (2e BEP) của Thiếu tá Bloch đến Na San, tiếp theo ngày hôm sau là Tiểu đoàn 1er BEP của Thiếu tá Brothier. Cả hai đơn vị ngay lập tức được đưa đến cách thung lũng khoảng 20 km về phía đông nam để đón các đơn vị đồng minh đang rút lui tại Chiên Đông và Cò Nòi, rồi hộ tống họ về Na San. Trong chiến dịch hai ngày này, đã xảy ra những cuộc đụng độ đầu tiên với Sư đoàn 316 Việt Minh đang tiến tới.


Lúc này, căn cứ Na San gồm hai tuyến phòng thủ. Tuyến ngoài được xây trên các ngọn đồi bao quanh thung lũng, cách sân bay bán kính lên đến 2 km, gồm bảy cứ điểm lớn (points d’appui, đánh số từ 21 đến 27). Sáu cứ điểm trong số đó gồm thêm nhiều vị trí phòng thủ kiên cố, mỗi vị trí do một đại đội canh giữ. Tuyến trong nằm ngay đáy thung lũng, gồm mười cứ điểm kiên cố (số 1 đến 10) cùng các vị trí phòng thủ bổ sung, bảo vệ Bộ chỉ huy, sân bay, pháo binh và kho tàng.


Cách tổ chức này cho phép chỉ huy sử dụng chiến thuật “phòng thủ nhím” (hedgehog defense) chống lại các cuộc tấn công của quân địch đông hơn về số lượng. Căn cứ kiên cố được bảo vệ bởi 11 tiểu đoàn, bao gồm hai tiểu đoàn bộ binh Lê dương, ba tiểu đoàn nhảy dù (hai BEP và Tiểu đoàn Nhảy dù Thuộc địa 3 – 3e BPC), một tiểu đoàn bộ binh nhẹ Maroc, một tiểu đoàn bộ binh nhẹ Algeria, ba tiểu đoàn phụ lực Thái, và một tiểu đoàn phụ lực Việt Nam.


Ban đầu, các lực lượng này chỉ được hỗ trợ bởi một đại đội súng cối Lê dương (CMLE) được thành lập đặc biệt cho sứ mệnh này. Đơn vị đóng tại tiền đồn nhỏ ban đầu của Na San, trang bị súng cối 120 mm và 81 mm. Đến cuối tháng 11, ba khẩu đội pháo 105 mm đã tăng cường cho căn cứ. Ngoài lực lượng mặt đất, căn cứ Na San còn được bảo vệ bởi nhiều máy bay chiến đấu, bao gồm Privateer, SB2C Helldiver, F6F Hellcat và Douglas A-26 Invader, luôn sẵn sàng xuất kích từ Hà Nội cách đó 45 phút.


Chỉ huy toàn bộ căn cứ là Đại tá Jean Gilles, sau này trở thành Tổng Tư lệnh các đơn vị nhảy dù Pháp tại Đông Dương. Ngày 22 tháng 11, Việt Minh dưới quyền Tướng Giáp tiến đến Na San và bao vây nó: Sư đoàn 308 từ phía bắc, Sư đoàn 312 từ phía đông, Sư đoàn 316 từ tây nam. Mỗi sư đoàn gồm ba trung đoàn, mỗi trung đoàn có 2-3 tiểu đoàn. Nghĩa là quân Pháp tại Na San phải đối mặt ít nhất 18 tiểu đoàn Việt Minh, được hỗ trợ bởi pháo binh.


Tối ngày 23 tháng 11, Việt Minh mở cuộc tấn công đầu tiên vào Na San bằng mưu kế. Ở phía bắc căn cứ, trên tuyến phòng thủ trong, có Cứ điểm 8 (PA 8). Nơi đây do Đại đội 11, Trung đoàn 5e REI dưới quyền Đại úy Letestu trấn giữ (ông là nhà vô địch bắn súng nhỏ của quân đội Pháp và sau này trở thành lãnh đạo Quân đoàn Lê dương). Cứ điểm gồm nhiều hầm ngầm kiên cố, nối với nhau bằng hệ thống hào và hố cá nhân dày đặc, được bao quanh bởi dây thép gai và bãi mìn.


Khoảng 20 giờ, lính gác tại một cổng vào cứ điểm báo động cho toàn PA 8. Một đơn vị phụ lực Thái rút lui đã đến cứ điểm, thông báo Việt Minh đang tới và xin lánh nạn. Nhưng có lẽ vì vội vã, họ quên đi tuyến đường quy định và lao thẳng vào lưới thép gai và bãi mìn. Trung úy Durand, chỉ huy một trung đội Đại đội 11, người đã sống sót kỳ diệu qua vụ thảm sát nhóm Kháng chiến của ông bởi quân Đức trong Thế chiến II, bước ra ngoài cổng để dẫn dắt đoàn quân nhỏ đang rút lui.


Sĩ quan chỉ huy đơn vị Thái nói được tiếng Pháp. Trung úy tiếp cận và bắt đầu trò chuyện. Nhưng ông lập tức nhận ra sai lầm: đây không phải phụ lực địa phương. Ông đang đối mặt với Việt Minh! Trung úy Durand, bất ngờ trước kẻ thù và bị ra lệnh im lặng, quay về phía lính trong cứ điểm và hét lớn: “Cẩn thận, chúng là Việt Minh, bắn!” Đồng thời ông bị bắn nhiều phát và trở thành nạn nhân đầu tiên của trận Na San.


Mưu kế này khởi đầu cuộc tấn công của các đơn vị Trung đoàn 88, Sư đoàn 308 (hoặc 312 theo một số nguồn). Quân Việt Minh giả dạng Thái đã xâm nhập qua cổng mở vào hệ thống hào. Tuy nhiên, họ gặp phải sự kháng cự quyết liệt. Đại úy Letestu và binh lính chiến đấu sáp lá cà. Đại đội CMLE nhanh chóng can thiệp và bắn đạn cối vào lực lượng Việt Minh tiến công từ ba hướng. Cuộc tấn công đầu tiên nhanh chóng bị chặn đứng. Vài giờ sau, một đại đội của 3e BPC đến tăng viện. Lực lượng liên hợp còn đẩy lùi được đợt tấn công thứ hai. Sau nửa đêm, quân Việt Minh rút lui. Cứ điểm được giữ vững.

Tù binh Việt Minh

Sáng hôm sau, người ta tìm thấy 64 thi thể Việt Minh xung quanh cứ điểm. Bên phía Pháp, ngoài Trung úy Durand, có 5 lính Lê dương hy sinh, 13 người bị thương và 6 người mất tích. Sau thất bại bất ngờ này, ông Giáp hủy cuộc tấn công ban đầu. Phần còn lại của tháng 11, Na San trở nên hơi yên tĩnh, chỉ bị pháo kích lẻ tẻ. Việt Minh tập hợp lại lực lượng và sửa đổi kế hoạch. Tuy nhiên, tình báo cho thấy Việt Minh chưa từ bỏ ý định chiếm thung lũng và đánh bại quân Pháp. Uy tín của Việt Minh đang bị đặt cược.


Đêm 30 tháng 11 đến 1 tháng 12, Việt Minh mở cuộc tấn công mới. Lần này nhằm vào hai cứ điểm ở rìa tây và đông thung lũng: PA 22 bis và PA 24, do phụ lực Thái và bộ binh Maroc trấn giữ. Chắc họ đoán lính Maroc đáng giặc dỡ. Khoảng 2 giờ 30 sáng, một tiểu đoàn Trung đoàn 141, Sư đoàn 312 mở cuộc tấn công quy mô lớn kèm oanh kích mạnh. Cứ điểm 22 bis (cách sân bay khoảng 1 km về phía tây) nhanh chóng bị chiếm; lực lượng Thái phòng thủ rút lui mau chóng. Đồng thời, ở phía đối diện, Cứ điểm 24 bị Trung đoàn 102, Sư đoàn 308 tấn công. Dù có pháo binh và cối yểm trợ, cứ điểm vẫn thất thủ sau ba giờ chiến đấu.


Tuy nhiên, Đại tá Gilles đã có kế hoạch dự phòng. Đó là phản công lúc bình minh bằng một tiểu đoàn nhảy dù đang chờ trong lực lượng dự bị gần sân bay. Gilles ra lệnh bắn chuẩn bị bằng cối 120 mm trong ba giờ vào Cứ điểm 22 bis đã mất, sau đó 2e BEP phản công lúc khoảng 7 giờ sáng. Ngọn đồi nhanh chóng được chiếm lại.

Mấy ông ta này chắc về nhà vợ la chắc không nghe

Tình hình tại Cứ điểm 24 phức tạp hơn. Khoảng 7 giờ sáng, sau pháo kích mạnh, quân của Tiểu đoàn Nhảy dù Thuộc địa 3 phản công. Họ phải cận chiến bằng lưỡi lê, được hỗ trợ bởi cối và máy bay. Đến trưa, hai đại đội 2e BEP và một đại đội Maroc đến tăng viện. Cuối cùng khoảng 14 giờ, ngọn đồi được giành lại. Những cuộc phản công này đã ngăn không cho Việt Minh đặt súng phòng không trên các ngọn đồi và bắn hạ máy bay Pháp, vốn cực kỳ quan trọng đối với lực lượng mặt đất.


Mặc dù đã đánh giá thấp sức mạnh phòng thủ của Na San dẫn đến hai thất bại và tổn thất lớn, ông Giáp vẫn kiên quyết chiếm thung lũng. Cuộc tổng tấn công được dự định ngay đêm hôm sau (1-2 tháng 12), lại nhắm vào hai vị trí phòng thủ khác nhau.


Khoảng 0 giờ 45, ở phần đông của dãy đồi trên, Trung đoàn 88 (Sư đoàn 312) và Trung đoàn 174 (Sư đoàn 316) mở cuộc tấn công quy mô lớn vào Cứ điểm 26, cứ điểm lớn nhất Na San. Một dãy núi dài khoảng 800 m với sườn dốc đứng đã được biến thành pháo đài với hầm ngầm, hố chiến đấu, hào và dây thép gai dày đặc. Cứ điểm do Tiểu đoàn 3, 3e REI của Thiếu tá Favreau (cựu chiến binh Lê dương nổi tiếng, mất một mắt trong Thế chiến II) trấn giữ.


Pháo binh Việt Minh bắn không ngừng, trong khi quân tấn công dùng ngư lôi Bangalore (ống tre chứa thuốc nổ) phá dây thép gai. Lính Lê dương để địch tiến sát hào rồi mới bắn. Pháo binh Pháp, bao gồm CMLE, can thiệp chính xác. Máy bay Pháp thả dù sáng và ném bom vào các khe núi gần đó.

Đến khoảng 2 giờ sáng, đợt tấn công thứ hai bị đẩy lui. 4 giờ 30 sáng, đợt cuối cùng bị chặn đứng. Đến 5 giờ sáng, địch kiệt sức rút lui, để lại gần 240 thi thể. Bốn đại đội của Tiểu đoàn 3e REI chỉ tổn thất 7 chết và 22 bị thương. Đánh cả đêm tì mệt, phải rút lui.

Đồi núi phòng ngự, ở dưới bò lên là hơi mệt

Khoảng 1 giờ 30 sáng, ở phía tây dãy đồi dưới, Trung đoàn 209 (Sư đoàn 312) pháo kích Cứ điểm 21 bis do Đại đội 10, 5e REI dưới quyền Trung úy Bonnet trấn giữ. Sau khi phá dây thép gai, địch tiến sát đến chỉ còn khoảng 20 mét từ Bộ chỉ huy đại đội. Trong hầm, Trung úy Bonnet chỉ huy hỏa lực. Bỗng một quả lựu đạn địch rơi vào hộp chất nổ. Ông nhanh tay vứt ra ngoài nhưng nó nổ ngay, khiến ông hy sinh. Trung úy Blanquefort thay thế chỉ huy. Tại trung đội 4 của Trung úy Bachelier, dù bị thương, ông vẫn bình tĩnh di chuyển chỉ huy và khích lệ binh sĩ cho đến khi bị bắn vào cổ và hy sinh.


Cuối cùng, máy bay A-26 đến ném bom và napalm. Khoảng 4 giờ sáng, Việt Minh giảm cường độ tấn công. Đến 7 giờ sáng, im lặng. Khoảng 350 thi thể Việt Minh và 50 người bị thương nằm trước cứ điểm cùng nhiều vũ khí. Bên Pháp: hai sĩ quan và hai lính Lê dương hy sinh, 11 người bị thương.


Sáng cùng ngày, Đại tá Gilles báo về Hà Nội qua radio: “Chúng tôi không bị chọc thủng! Tất cả vị trí vẫn giữ vững! Đó là một trận mưa lửa không thể tả.” Lúc đó ông chưa biết Trận Na San đã thực sự kết thúc.


Nỗ lực chiếm Na San của Giáp bị thất bại. Chỉ trong ba đêm, các sư đoàn của ông tổn thất ít nhất 1.000 người chết và nhiều người bị thương, bị bắt. Bốn ngày sau, quân Việt Minh mệt mỏi và đói rút lui, chỉ để lại một số đơn vị nhỏ quan sát và quấy rối.


Ngày 10 tháng 12, tại Na San, Tướng Salan trao Huân chương Chiến công Nhà hát Chiến tranh Ngoại bang cho hai tiểu đoàn bộ binh Lê dương. Các đơn vị được khen thưởng ở cấp Quân đội (cao nhất).


Nhờ tổn thất lớn về nhân lực, lương thực và đạn dược, ông Giáp phải hủy kế hoạch xâm lược Bắc Lào. Chiến thuật của Salan đã thành công, mang lại thắng lợi rõ ràng cho Pháp.


Tuy nhiên, sau khi Tướng Salan rời đi năm 1953, Bộ chỉ huy Pháp mới tại Đông Dương quyết định bỏ hoàn toàn căn cứ kiên cố Na San để chiếm một thung lũng lớn hơn, khó phòng thủ hơn: Điện Biên Phủ. Quyết định này cuối cùng dẫn đến thất bại lớn của Pháp và mất Đông Dương.

người Pháp bỏ căn cứ này dọn đến Điện Biên Phủ và đưa đến thất trận

Mình đọc trên Facebook của ông Việt Lê, thì được biết lý do thực dân pháp cho phép các bộ tộc người Thái tự trị ở Đông-Dương là vì họ trồng thuốc phiện bán cho người Pháp. Quân đội pháp dùng tiền này để trang trải kinh phí chiến tranh Đông-Dương. Thấy cũng có lý vì Pháp quốc mới banh ta lông sau đệ nhị thế chiến nên không có tiền để tái thiết Pháp quốc. Nên đoán lý do Việt Minh muốn đánh vùng này để phá hoại kinh tài của người Pháp.


Thực tế, khác với Bộ chỉ huy Pháp mới, ông Giáp đã rút được kinh nghiệm quý báu từ Na San và áp dụng thành công trong Trận Điện Biên Phủ nổi tiếng năm 1954. Và được các sĩ quan do Trung Cộng đưa sang hỗ trợ. Nên khi quân đội pháp, bỏ căn cứ Na-San và muốn dàn trận ở chiến địa lớn hơn là Điện Biên Phủ. Việt mInh nhờ lòng dũng cảm đã cố đưa lên các đỉnh núi các dàn pháo do Trung Cộng viện trợ và từ trên núi tha hồ nả pháo xuống các căn cứ, phòng ngự của lính pháp. Cuối cùng đưa đến sự đầu hàng, và sau hiệp định Geneva, pháp rút khỏi Việt Nam vào năm 1956.


Việt Minh được sự ủng hộ của bộ tộc người Mèo, Thái Đen vùng này nếu không thì khó áp đảo được lính pháp trấn thủ nơi đây. người Pháp cho ngừoi Thái Trắng nhiều đặc quyền tỏng khi người thái đen và người Mèo ở vùng này trơ mỏ nên họ giúp Việt mInh. Xin trích từ Facebook Viet Le:


“Cần biết Điện Biên Phủ nằm trên đất của Liên bang Thái tự trị gồm 3 tỉnh Tây Bắc do Pháp cắt cho gia tộc họ Đèo do Đèo Văn Long, một người Thái trắng đứng đầu vào sau Thế chiến thứ 2. Khu vực này từ lâu đã được gọi là Xứ Thái, do Pháp phong cho Đèo Văn Trị, cha của Đèo Văn Long cai quản từ cuối thế kỷ 19.


Theo Alfred McCoy, một nhà nghiên cứu táo bạo, Đèo Văn Long là đồng minh lâu năm của Pháp. Không những thế, ông này còn đóng vai đầu nậu thu mua hoa anh túc để bán lại cho Pháp. Số hoa anh túc thô này sẽ được chở về Vũng Tàu để bào chế thành á phiện, rồi sau đó bỏ cho thủy tặc Bình Xuyên phân phối ở khu Chợ Lớn. Đây là một nhánh trong đường dây sản xuất và tiêu thụ thuốc phiện do chính phủ Pháp duy trì từ trước Thế chiến thứ 2. 


Sau Thế chiến, chính phủ Pháp phát động phong trào bài trừ thuốc phiện và cắt đứt đường dây này. Nhưng tình báo Pháp thuộc quân đội, cụ thể là cơ quan SDECE, thông qua lực lượng gọi là Liên đoàn biệt kích dù hỗn hợp đã ngay lập tức tiếp quản đường dây thuốc phiện này. Chiến phí của 9 năm chiến tranh Đông Dương lần thứ nhất của Pháp được trang trải từ nguồn thu thuốc phiện trên.


Bên cạnh vùng Cánh đồng Chum ở Lào và vùng Tam giác Vàng (lúc này quy mô vẫn còn yếu) thì khu xứ Thái là nơi có sản lượng hoa anh túc rất cao, đem lại nguồn lợi lớn cho quân đội Pháp. Do đó, có thể hiểu được khi Pháp quyết định đặt tập đoàn cứ điểm ngay tại Điện Biên Phủ, thung lũng lớn nhất của Liên bang Thái tự trị, nơi chiếm 13% sản lượng hoa anh túc và 30% sản lượng lúa của toàn liên bang. Bên cạnh đó, Điện Biên Phủ có thể xem như một tấm khiên để bảo vệ đồng minh Đèo Văn Long.


Tuy nhiên, sai lầm chính của Pháp dẫn đến thất bại chung cuộc tại Điện Biên Phủ là họ đã không nắm rõ tình hình ở đây. Đèo Văn Long và nhóm Thái trắng tuy nắm quyền nhưng chỉ chiếm thiểu số trong khu liên bang, bên cạnh nhóm Thái đen đông hơn, và 50 ngàn người Mèo. Những người Mèo, sắc dân được biết đến rộng rãi hơn ngày nay như người H’Mong, sống ở triền núi, có lối canh tác thích hợp cho việc trồng hoa anh túc ở vùng Tây Bắc. Chính những người Mèo trồng hoa anh túc và cung cấp phần lớn sản lượng của khu Xứ Thái. Đèo Văn Long từ khi được giao quyền quản lý Liên bang Thái tự trị đã dùng quân đội địa phương người Thái đàn áp và ép giá hoa anh túc từ người Mèo. Người Mèo ở vùng Tây Bắc nhận giá thấp hơn mười lần so với giá thị trường, mà không có lựa chọn khác. Do đó, trong hơn mười năm sống dưới sự quản lý của Đèo Văn Long, người Mèo đã quá bất mãn và dần bỏ sang cảm tình Việt Minh.” (Hết trích)


Mình nghe kể thủ tướng Pierre Mendes France kêu nếu hoà đàm không thành công sẽ đem bom nguyên tử. Cuối cùng thì hiệp định Geneva được ký kết và các cường quốc chia đôi Việt Nam thành hai phần khiến Việt mINh điên tiết và chuẩn bị đánh tiếp với lính mỹ.


Vấn đề là đánh cho mỹ cút nguỵ nhào cho cố rồi kêu gọi người Mỹ trở lại Việt Nam đầu tư này nọ. Như một cựu sĩ quan bộ đội ở Hạ Long kể với mình là ông ta vào nam đánh cho mỹ cút nguỵ nhào rồi bây giờ mỹ hay nguỵ nó vào ăn, phải phục vụ chúng nếu thì không được tiền boa. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn