Ây Ai đọc Mực Tím Sơn Đen

 Ây Ai đọc Mực Tím Sơn Đen


Cách đây 10 năm, một hôm tiến sĩ Chử Nhị Anh, bạn học khi xưa ở Việt Nam, gọi điện thoại, kêu gửi cho vài tấm ảnh của ông bà cụ mình. Mình tưởng để bỏ lên trang nhà của cựu học sinh trường Văn Học Đà Lạt khi xưa. Anh chàng và một chị cựu nữ sinh Văn Học đang thực hiện trang nhà của trường Văn Học Đà Lạt xưa. Ai ngờ đâu vài tuần sau, anh ta trình làng kỷ yếu Văn Học Đà Lạt II. Cách đó một năm hay hai năm, anh ta có cho ra lò Kỷ Yếu Văn Học Đà Lạt nhân kỳ họp mặt đầu tiên của cựu học sinh Văn Học Đà Lạt lần đầu tiên tại San Jose. Cuốn đầu tiên thì có nhiều người viết kể về những kỷ niệm Đà Lạt, hay khi di tản khỏi Đà Lạt năm 1975,… mình có tham gia vài bài viết kể về mấy anh bạn học cũ khi xưa.

Cuốn kỷ yếu Văn Học Đà Lạt số 2 thì chỉ có bài của mình, mấy người kia tịt ngòi vì cơm áo gạo châu. Anh ta lấy tựa đề cho kỷ yếu là “Mực Tím Sơn Đen”, bỏ lên Amazon. Mình có mua vài cuốn gửi cho ông bà cụ ở Việt Nam. 1 cuốn giữ ở nhà cho vui, làm kỷ niệm. Có người quen mua, lại bắt mình ký tên. Mình thắc mắc, không hiểu lý do, bận công ăn việc làm vì anh ta đi công tác rất nhiều, lại bỏ thời gian biên soạn lại 100 bài mình viết về Đà Lạt trước 75, và sau 75. Ai tò mò hay cựu học sinh Văn Học Đà Lạt xưa thì theo đường dẫn này, để tìm lại bạn học xưa.


https://van-hocdalat.smugmug.com/

Sau này trong một i-meo cho thân hữu, anh ta giải thích là học chung lớp, sống cùng những năm tháng, lớn lên tại Đà Lạt, nhưng sao mình lại nhớ những chuyện ruồi không bu mà anh ta không biết dù Đà Lạt rất nhỏ bé. Thậm chí khi mình kể trong lớp tổ chức Hát Cho Nhau Nghe, mấy cô nữ sinh ban C, nấu chè bán khi ra chơi, tổ chức văn nghệ bán chè bú xua la mua. Anh ta và người em đánh đàn cho ban nhạc hôm ấy khiến anh ta như bò đội nón, hỏi hôm ấy tui có tham dự. Chán Mớ Đời. 


Nếu anh ta không tham dự thì làm sao có đàn điện, ampli bú xua la mua. Cả đám tập dợt cả tháng trời ở nhà thầy cô Chử Bá Anh, đường Nguyễn Du vào buổi chiều. Mình kể hai anh em họ Chử đánh đàn với Trần Thiện Tân và Hùng Con Cua đánh trống. Trong lớp chỉ có Vy Hoàng Đông Phương và Hùng Con Cua có trống ở nhà. Đến nhà hai ông thần này để tập đánh trống còn đàn guitar điện thì chỉ có nhà thầy Chử Bá Anh là có. Khiến anh ta như người nằm Coma mấy chục năm tĩnh dậy kêu ú ớ. Ông thần Vy Hoàng Đông Phương nhà ở đâu trong khu Huỳnh Thúc Kháng, không biết hắn có bà con chi với Vy Nhật Tảo. Về Đà Lạt, không thấy ai nhắc đến ông thần này.


Ai có tin tức ông thần họ Vy này không. Sau khi thi tú tài thì mình hết gặp lại. Chỉ nhớ trưa hay ghé nhà ông thần để tập đánh trống. Anh chàng chỉ mình điệu Valse nên cứ chắc chắc Đùng mệt thở. Sau lo học thi nên chả để ý tới làm Ringo Star nữa.


Muc Tim Son Den: Van Hoc Dalat 2 https://a.co/d/016qHcf4


Anh ta chọn 100 bài tiêu biểu mình viết dạo ấy, và cho vào tiết mục như Ngày Xưa Thân Ái, kiểu về thời học sinh ở Đà Lạt, rồi phần Du Ký, khi mình ở Tây, đi giang hồ ra sao, những khắc khoải của mình về Việt Nam. Hoá ra những gì mình viết, cũng là những tâm tư ấp ủ của anh ta về Việt Nam và Đà Lạt hay cộng đồng Việt Nam tại hải ngoại. Đó là lý do mà anh ta bỏ công sức biên soạn 100 bài tiêu biểu và đặt tên “Mực Tím Sơn Đen”. Sau 10 năm mình có viết trên 2,644 bài và trên 1,651,698 lượt đọc. Mấy chị em ông thần này, năm nào cũng tổ chức dạy hè các học sinh gốc việt.


https://van-hocdalat.smugmug.com/MTSD


Đối tượng một thời của mình ở Đà Lạt có lần i-meo thắc mắc, hỏi khi xưa bạn giỏi toán, học ban B, tại sao ngày nay lại viết kể chuyện đời xưa khiến mình như bò đội nón. Mình chỉ là người kể chuyện đời xưa thôi chớ có phải nhà văn nhà véo gì. Có lần Chử Nhất Anh i-meo kêu mới liên lạc được với Fi Liên Sô, và cô nàng xin i-meo của mình. Cô nàng kể là đọc tin tức được biết Chử Tam Anh qua đời nên tính liên lạc nhưng ngại tang gia bối rồi nên đợi cả năm sau ngày giỗ mới liên lạc với Nhất Anh. Từ đó mới có tin tức của mình này nọ.


Liên lạc được với Fi Liên Sô, đối tượng một thời của Hùng Con Cua, cả đám hay rủ nhau đi chơi chung. Đám mình hay chơi là đám dân từ Yersin sang nên có vẻ hợp rơ hơn. Phát hiện mấy mối tình hữu nghị học trò, mơ đến du học bên tây Gia-nã-đại,… trong đám mình hay đi chơi chung khi xưa, 7 tên thì có 3 tên đi du học năm đó; Mình là người đi du học trước nhất của trường Văn Học rồi 1 tuần lễ sau đến Hùng con Cua sau đến thằng Nguyên, hai tên này đi Gia-nã-đại. 2 tên rớt tú tài nhưng không đi lính vì giấy tờ sinh năm 1959. Hai tên học đại học Đà Lạt. Buồn đời nhớ đến chuyện ngày xưa, học chung, đi quyên tiền cho bão lụt miền trung, đi picnic ở Thung Lũng Tình Yêu,…nên mình kể lại chuyện vui trong lớp, đủ trò khiến mấy cô này như giác ngộ cách mạng, người về từ quá khứ, đóng phim Back to the future nên hỏi mình nhớ gì thêm kể tiếp. Rồi từ từ mình kể chuyện này chuyện nọ, hết chuyện trong trường khi xưa, ai mê ai ai thù ai,… đến các chuyện Đà Lạt xưa cho đến bây giờ. 11 năm qua. Như đưa họ về chuyến xe Back To Đà Lạt. Kinh


Nhiều khi nói thôi không viết về Đà Lạt nữa thì lại thấy hình ảnh mới của Đà Lạt, rồi nhiều người còm bú xua la mua không đúng nên mình phải viết để giải thích. Chắc mình còn nợ người Đà Lạt xưa nên phải làm con tằm ăn lá dâu Đà Lạt rồi nhả ra chuyện ngày xưa. Cái vui là ngày nay thế hệ sau này ở Đà Lạt lại hỏi mình đủ trò, vì họ muốn biết đến kỷ niệm của ông bà của họ được mình nhắc tên hay chuyện gì đó khiến mình thất kinh. Có người buồn đời hỏi tại sao người Đà Lạt xưa gọi ông ngoại cháu là Xu? Cháu ông Phác ở am Sohier cũng liên lạc hỏi đủ trò. Nhiều lắm.


Rồi có hai ông thần đọc bài mình tải trên mạng xã hội, buồn đời hỏi mình cho phép họ làm bờ lốc Mực Tím Sơn Đen để tải về các bài mình viết để dễ tìm lại bài viết. Mình kêu tự nhiên như người Hà Nội. Thế là Bờ Lốc Mực Tím Sơn Đen ra đời. Đến nay thì có trên 1,651,698 lượt đọc. Đâu 2,645 bài được tải lên trên bờ lốc. Kinh. Mình có hỏi anh chàng lo thiết kế Bờ Lốc là có thể ghép thêm YouTube Ây Ai đọc cuốn Mực Tím Sơn Đen không. Anh ta kêu để ăn tết xong rồi tính. Cho thấy cuộc đời rất lạ. Mình chả bao giờ nghĩ đến chuyện kể chuyện đời xưa, ngoài kể cho mấy đứa con khi còn bé. Nay thiên hạ có thắc mắc gì về Đà Lạt là hỏi mình.

Lâu lâu mình gặp một vài người, họ kêu là ngày nào cũng vô bờ lốc, đọc cho vui đời. Vui nhất là chị hàng xóm khi xưa, thường cho mình mượn sách để đọc, kêu ngày nào cũng đợi xem mình có viết gì không như đợi báo chiều khi xưa để đọc truyện Kim Dung. Kêu chị là fan cứng của em. Có nhiều người mình để ý, vừa tải lên là đã thấy họ vào đọc rồi. Kinh. Có vài người bạn học xưa thì rất trung thành vì ngày nào cũng thấy họ đọc. Độc giả thì Hoa Kỳ đông nhất, sau đó đến Việt Nam nhưng mình thấy lạ là ngay bên xứ Ấn Độ cũng có người đọc bờ lốc. Thậm chí phi châu, Trung Cộng thì nhiều.


Cách đây mấy tuần, anh chàng Nhị Anh gửi cho mình một video do anh ta làm. Hình chụp lấy từ trang nhà của Văn Học Đà Lạt rồi anh ta trích chuyện gì đó về cá ngoài lờ lúc lắc muốn vào trong khi cá trong lờ lại muốn bơi ra. Anh ta cho biết đang đang sử dụng trí tuệ nhân tạo để đọc 100 bài viết của cuốn Mực Tím sơn Đen do anh ta biên soạn 10 năm tình cũ. Anh ta cần mình thâu giọng nói mình đang đọc độ 45 phút. Mình nói dùng giọng người khác được không. Anh ta kêu giọng SƠn Đen mới đích thực chớ dùng giọng người khác thì quá dễ nhưng đọc giọng Đà Lạt cho có chất bắp sú Đà Lạt. Hôm Cali mưa mình nằm nhà rồi đọc thâu gửi cho anh ta.

Mình không hiểu lý do ở Tân Gia Ba được xem là số người đọc nhiều thứ 3 sau Hoa Kỳ và Việt Nam. Số bên Trung Cộng thì chắc là của an ninh mạng.

Sau đó anh ta gửi cho đường dẫn kêu vào trang này đọc cho máy thâu để biết mình là chủ nhân của giọng nói thêm xác nhận là cho phép sử dụng giọng nói của mình. Sau đó thì hôm sau, anh ta gửi cho nghe bản nháp bài đầu tiên. Kêu là chưa chuẩn lắm. Anh ta nói sẽ bỏ thêm vài tấm ảnh Đà Lạt cho vui. Mình nói gửi luôn mấy ngàn tấm ảnh do anh chàng cựu học sinh Adran gửi cho mình, để anh ta bỏ lên video. Hôm qua anh ta gửi cho biết là có thể chia sẻ được rồi. Mình xem thấy vui.


Anh ta kêu phải bỏ giọng nữ Bội Quỳnh Hoa và kèm theo giọng của mình cho có vẻ âm dương bớt chán như con gián. Khi xưa, mình và mấy người bạn như Nhị Anh, Nhất Anh,..tính sau này làm một cuốn phim nói về thời học sinh ở Đà Lạt. Nay có Ây Ai mình thấy chỉ gom lại các hình ảnh Đà Lạt xưa rồi dùng Ây Ai làm vì mình thấy thiên hạ có thể làm cho người đi, xe chạy. Hôm trước có anh chàng nào dùng mấy tấm ảnh của mình trên bờ lốc rồi làm video kèm theo bài hát khá hay. Để xem từ từ AI phát triển thêm sẽ tính đến chuyện này còn nay thì lo cái vườn bơ. Hôm nay phải lên hái quýt cho xong, cả chim ăn hết. Mình thấy người vui nhất là bà cụ mình, vì ở nhà buồn, mở YouTube nghe thằng con ở trời mỹ đọc chuyện đời xưa cho đỡ buồn.


Ai thích thì nhấn đường dẫn. Thích thì cho một Like để ông thần Chử Nhị Anh phấn khởi mà làm tiếp.


https://www.youtube.com/playlist?list=PLa-jHHzi_0wp-7R_lTHJy-v7oocrAbKFy


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tại sao di dân lậu quan trọng cho năm 2030

 Di dân lậu và năm 2030


Ngày ngày thấy tin tức về tội phạm do các người di dân lậu khiến mình thất kinh. Lý do theo mình nghĩ một người ở lậu tại Hoa Kỳ, đa số là họ không muốn ai biết đến, chỉ lo làm lậu, kiếm tiền gửi về cho gia đình ở xứ họ. Chắc chắn sẽ có một số nhỏ phạm pháp này nọ nhưng tin tức được đưa lên báo chí, truyền hình khiến người xem có thể có một hiểu biết sai lệch về người di dân. Lý do là họ đề “Non-citizen” khiến thiên hạ hiểu lầm. Vì “Non-citizen” có thể là những người có thẻ xanh, cư trú hợp pháp nhưng không phải công dân Hoa Kỳ. Buồn đời mình mò tài liệu để xem hư thật ra sao vì chính trị xen vào khiến người Mỹ có một hiểu biết sai lệch nhất là họ chỉ tin vào những gì đảng của họ nói.


Câu hỏi mình muốn tìm sự thật về di dân lậu gây tội ác nhiều hơn những người di dân hợp pháp hay người Mỹ sinh trưởng tại Hoa Kỳ. Câu trả lời là tuỳ theo các nguồn tin đọc hay xem và ủng hộ. Một bên thì cho thấy các người di dân đến Hoa Kỳ, chịu khó làm việc, tạo dựng một tương lai trên đất Mỹ. Bên kia thì đưa ra toàn tin tức về các tội ác của người di dân chính thức cũng như lậu. Tin tức của hai bên đều thật nhưng phải tìm các thống kê để hiểu sự thật vì hai bên đều dùng thống kê và thay đổi tuỳ theo lập trường của họ và đảng của họ đưa ra.


Theo thống kê thì người di dân lậu gây tội ác thấp hơn người Mỹ. Nếu đánh máy hỏi các trí tuệ nhân tạo thì đều nói như nhau. Vấn đề là các tin tức thống kê của các AI đều sử dụng một nghiên cứu độc nhất một tiểu bang dù Hoa Kỳ có đến 50 tiểu bang. Đó là tiểu bang Texas. Lý do là ngân sách của mỗi tiểu bang, trong khi tiểu bang Texas nằm ngay biên giới Mễ-Hoa Kỳ.


Vấn đề là các chính trị gia, giới hàn lâm, ký giả, các hội bất vụ lợi,…đều tuyên bố là họ nói sự thật. Thật ra họ đều bựa, phản đạo đức cách mạng hết. Chúng ta có thể tìm các dữ liệu mong muốn từ số người á châu, phụ nữ bị chết đuối 10 năm trước hay hôm qua, tỷ lệ phụ nữ á đông không có bằng đại học. Nhưng Hoa Kỳ không truy tìm số di dân lậu phạm pháp, bị bắt hay ở tù. Lấy thí dụ, cơ quan FBI có trên 3,500 nhân viên mà ông Trump đòi dẹp hay dọn chỗ khác, có thể cho chúng ta biết chút dữ liệu về các di dân hợp pháp bị giam trong tù liên bang nhưng không ai biết số người di dân lậu bị giam giữ. Nhưng mỗi ngày chúng ta thấy tin tức ào ào về các di dân lậu hiếp dâm rồi giết người này nọ,…


Cái mất dạy là họ không biết gì cả trong các trại tù tiểu bang, các nơi chứa 90% tù nhân khắp nước mỹ. FBI có hỏi các cơ quan nhà tù ở tiểu bang nhưng không được trả lời. Sẽ kể lý do sau này. Khi một người bị bắt, cảnh sát viên địa phương sẽ kiểm soát tên tuổi. Vợ mình khi xưa làm phần mềm cho các cơ quan cảnh sát khắp nước mỹ. Để kết nối các người có tiền án nên khi cảnh sát bắt được ai là trong vài giây đồng hồ là có thể phát hiện ra tiểu sử người bị chận xe hay bắt. Nhưng không có tin tức gì về diện cư trú, đã từng bị dẫn độ hay dấu lăn tay…


Cho nên khi các chính trị gia, giáo sư hàm lâm, ký giả cho rằng họ biết tỷ lệ, con số về tội phạm này nọ, là họ bựa hết vì không ai có thể xét lại được. Vì các dữ liệu về vấn nạn này không có.


Thử xem hai nghiên cứu, một do Libertarian Kato Institute, một tổ chức thiên di dân và một nghiên cứu thứ hai do các giáo sư nghiên cứu. Cả hai đều dùng các dữ liệu của nhà tù của Texas. Kato thì cho rằng từ 2012 đến 2018, các di dân lậu ở Texas phạm tội thấp hơn các người Mỹ sinh trưởng tại Hoa Kỳ đến 42%. Về tội ác giết người thì 25% thấp hơn người Mỹ địa phương. Nói chung cả hai nghiên cứu này đều đồng ý thì theo hàng năm, người di dân lậu ít phạm tội, bị bỏ tù.


Vấn đề là các đài truyền hình, sách báo đều tung tin khác với hai nghiên cứu của hai bên. Lý do là khi cảnh sát địa phương bắt một người thì không biết tình trạng di trú của người đó để có thể gọi là di dân lậu hay chính thức, có thẻ xanh. Họ chỉ dựa vào các tin tức của những người đã từng bị dẫn độ, mới có tên trong sổ phong thần. Có ông mỹ gốc mễ, kể là bố ông ta vượt biên giới năm 1965 mất 9 lần. Cứ qua biên giới bị bắt, biên phòng chở đến biên giới MỸ-Mễ thả về, ông ta lại tiếp tục. Mấy người như vậy thì có tên tỏng sổ phong thần. Còn những người vượt qua an toàn rồi trốn luôn thì không ai biết đến. Người ta khám phá ra có 11,000 người được xem là di dân lậu khi họ bị nhốt trong các nhà tù của tiểu bang Texas. Trong khi đó cả triệu người di dân lậu chưa bao giờ bị bắt hay dẫn độ thì đâu biết con số chính thức.


Thường thì người ta dùng số người di dân lậu phạm pháp chia với tổng số người di dân lậu nhưng đây chúng ta không biết bao nhiêu người di dân lậu thì làm sao có thể làm thống kê. Người ta chỉ ướt lượng thôi từ 11-22 triệu người, xem như độ 3.2% đến 6.4% dân số Hoa Kỳ. Riêng Cali thì nghe nói có đến 5 triệu người thì xem như 12-15% dân số Cali. Do đó khó mà có con số chính xác về tỷ lệ tội phạm di dân lậu. Ngoài ra tuỳ khu vực nữa. Thí dụ vùng San Francisco thì ít tội phạm trong khi ở vùng Oakland gần đó thì lại cao. Hình như tuần này, có tin một người Mỹ gốc Việt giết bà mẹ vì cãi nhau này nọ tại thành phố này. 


Cho thấy các nghiên cứu về tội ác của người di dân lậu hoàn toàn sai. Goverment Accountability Office cho biết 1/3 các tù nhân liên bang là “non-citizen”, không phải công dân Hoa Kỳ nhưng “non-citizen” có nghĩa là những người có thẻ xanh, ngoài ra những người này được xem là vi phạm luật di trú của Hoa Kỳ, một tội liên bang nhưng không phải tội của tiểu bang. Chỉ có độ 10% các tù nhân này bị giam trong các trại giam liên bang.


Có vấn đề thêm là States Criminal Allien Assistance Program (SCAP), một chương trình của liên bang, được thành lập vào năm 1994 nhằm trả tiền cho các tiểu bang giam các người di dân lậu. Nghĩa là càng có di dân lậu bị giam thì các tiểu bang này nhận được thêm tiền từ liên bang. Có những nhóm nghiên cứu các dữ liệu của SCAP, họ khám phá ra các di dân lậu bị giam tại các tiểu bang như Cali, New York, gấp 4 lần các tiểu bang gần đó như Arizona và New Jersey. Mình có mua cổ phiếu của công ty lo các trại giam tư nhân vì nhà tù tiểu bang đã quá tải.


Vụ di dân này tốn tiền cho Hoa Kỳ rất nhiều nên mình hiểu lý do chính phủ Hoa Kỳ muốn giảm vụ này. Chúng ta nên nhớ thế hệ BabyBoom về hưu mà chính phủ không có tiền trả tiên hưu trí và y tế cho họ. Khi an sinh xã hội được thành lập, người Mỹ trung bình chết vào lứa tuổi 63.5 tuổi nghĩa là 18 tháng trước khi nhận được tấm ngân phiếu đầu tiên khi về hưu. Ngày nay người Mỹ sống đến 75 tuổi còn phụ nữ thì 82 tuổi nghĩa là sống thêm 10-17 năm. Do đó không có tiền. Vì dạo ấy 25 người Mỹ đi làm để nuôi một người Mỹ về hưu trong khi ngày nay thì 10 người đi làm để nuôi một người về hưu và họ tính đến năm 2035 thì 5 người đi làm nuôi một người.


Vấn đề là người di dân lậu không đóng thuế, khi đau ốm họ cứ chạy vào nhà thương phòng cấp cứu thì bắt buộc bác sĩ nhà thương chữa bệnh nhưng không có tiền trả hay an sinh xã hội để đòi.


Mình xem dữ liệu dẫn độ di dân lậu của tổng thống Obama thì thấy rất cao. Nhưng nhìn kỹ cách thức dẫn độ dạo ấy như sau: chinh phủ của ông Obama thay đổi từ ngữ dẫn độ. Thường đuổi về (return) là khi một người vượt biên giới bị bắt thì biên phòng kêu trở về bên kia biên giới. Những người này không được liệt kê vào danh sách của những người bị dẫn độ chính thức (formal deportation). Chính phủ Obama gom cả hai dữ liệu này khiến tổng số dẫn độ lên cao ngất mây xanh, tạo dựng một chính phủ chống di dân lậu để đạo luật ACA, con em của những người di dân lậu, được mang theo.


Đến thời ông BIden thì còn cao hơn. Có ứng dụng Borrower Patrol One được người di dân lậu tải về khi qua biên giới cứ kêu là tỵ nạn, nộp đơn qua ứng dụng rồi hẹn ngày ra toà, 4-6 năm chờ đợi để được duyệt xét tỵ nạn chính trị. Người tàu chạy qua biên giới kêu là không được thờ phụng chúa ở Trung Cộng thế là được nạp đơn tỵ nạn, đợi ngày ra toà 4-6 năm sau rồi kêu người nhà đến đón. Mình có xem một phim tài liệu 2 tiếng của đài truyền hình Tân Gia Ba đi theo hai cặp người Tàu từ Trung Cộng qua Equador, rồi đi xe buýt đến biên giới Mỹ Mễ. Rồi bà phóng viên đứng đợi bên kia biên giới Mỹ để quay mấy cặp người Tàu vượt biên giới. Sau đó thì có người quen họ hàng đến đón chở đi đâu trên Los Angeles ở.


Theo dữ liệu thì thời bác Biden, có đến hơn 800,000 nộp đơn cứu xét tỵ nạn ở biên giới. Trước đó, họ được xem là di dân lậu. Đến năm 2025, thì ông Trump bỏ vụ này. Để mình giải thích lý do người Mỹ đa số không thích ông Trump nhưng lại bầu cho ông ta. Nhớ dưới thời bác BIden, cho dân di dân lậu qua biên giới như đi chợ. Thống đốc tiều bang Texas, buồn đời, ông ta mướn xe buýt chở mấy người di dân lậu lên các tiểu bang, thành phố rêu rao là di dân là tự do bú xua la mua. Khi xe buýt chở mấy người này lên New York, Boston,…khiến dân tình mấy chỗ này kêu không muốn di dân lậu ở vùng này, họ cho cảnh vệ quốc gia hốt hết chở đi đâu mình không theo dõi. Nhờ các hình ảnh này mà ông Trump cứ rao rảo và được người Mỹ lưng chừng bầu nhiều.


 Họ cho biết thời bác Biden trong một năm có đến 2.4 triệu người di dân. Mà từ khi ông Trump lên nắm chính quyền thì số người vượt biên xuống thấp nhất từ 50 năm nay. Vấn đề là chính phủ Trump muốn thay đổi hạ tầng cơ sở về di dân. Họ gọi là 287(g). Đó là chương trình liên bang mà ICE phụ giúp các chính quyền địa phương có thể kết nối với dữ liệu liên bang. Nhớ là khi một người di dân bị bắt trong tiểu bang hợp tác với chính phủ liên bang thì họ có thể kiểm điểm qua hệ thống an ninh DHS. Nếu được biết là di dân lậu thì cơ quan ICE sẽ được thông báo và sẽ gửi người đến nhà bắt. Chúng ta thấy cách đây mấy tuần có một ông nào bị bắt khi bận quần áo không được ấm khiến phía dân chủ lên tiếng kêu lã dã man. Nếu hiểu chương trình này thì mới hiểu làm sao ICE có thể biết người di dân lậu ở đâu để đến bắt. Và người báo động cho di dân lậu, mình đoán là họ làm trong các cơ quan cảnh sát,…


The 287(g) program is a partnership between U.S. Immigration and Customs Enforcement (ICE) and state/local law enforcement, allowing trained local officers to perform designated immigration enforcement functions, such as identifying, detaining, and processing noncitizens booked into local jails


Thật ra chương trình này đã có từ thời bác Obama, có đến 35 trường hợp  287(g) nhưng đến thời ông Trump nhiệm kỳ thứ nhất thì gia tăng lên 150 và kỳ này thì 255 đồng thuận với cơ quan địa phương. Tiểu bang Florida ngày nay bắt buộc các cơ quan giam tù phải tham gia. Tiểu bang Texas cũng bắt buộc các ty cảnh sát trong thành phố tham gia chương trình này.


Các tiểu bang do đảng Dân Chủ nắm chính quyền như Cali thì không tham gia chưởng trình này. Năm vừa qua 52% số người bị bắt bởi ICE đều do dữ liệu từ các trại giam hợp tác trong các tiểu bang theo đảng Cộng Hoà. Như tiểu bang Texas ICE bắt được 27,000 vụ từ tháng 2 đến tháng 7 năm 2025. Di dân lậu ở Florida và Texas nguy cơ bị bắt nhiều hơn tại CAli. Mình nhớ có anh bạn làm việc tại tiểu bang Arizona kể là lúc ông Trump lên lần trước, tiểu bang Arizona ICE kiếm lùng bắt di dân lậu nên dân đây bỏ chạy qua Cali hết.


Vấn đề di dân lậu rất quan trọng. Mình mới khám phá ra vụ này. Di dân lậu sẽ chọn tiểu bang để sinh sống. Các tiểu bang Cộng hoà sẽ thấy di dân lậu suy giảm trong khi các tiểu bang theo Dân Chủ sẽ có di dân lậu gia tăng để chuẩn bị cho Census 2030.


Hiện nay, các tiểu bang có ghế quốc hội, Hạ Viện dựa trên tổng số dân số của tiểu bang, dân số chớ không tính công dân Hoa Kỳ. Nhiều dân số thì có nhiều ghế quốc hội và electoral college votes bất kể là công dân hay không. Do đó đảng Cộng Hoà muốn đi bầu phải cần có quốc tịch Hoa Kỳ trong khi đảng dân Chủ thì chống. Nếu các tiểu bang Đỏ dẫn độ đuổi di dân thì sẽ mất vài ghế ở Quốc hỘi trong khi các tiểu bang Xanh có thêm vài ghế thì bầu phiếu về luật mới sẽ có lợi cho đảng Dân CHủ.


Khi mình mới sang Hoa Kỳ, tiểu bang là một tiểu bang đa số là cử tri của đảng Cộng Hoà. Tổng thống Reagan từng là thống đốc của tiểu bang này nhưng rồi ông ta đồng ý cho ân xá các người di dân lậu. Ông Gignac mà mình quen ở pháp có một người con trai ở lậu tại Cali. Có vợ có con nhưng không về thăm gia đình được. Sau được ân xá của tổng thống Reagan thì về Pháp với vợ con gặp lại gia đình sau cả 20 năm. Và từ từ tiểu bang này trở thành quê hương đồng khởi thành trì chống đảng Cộng Hoà. Xem như ngày nay 70% cử tri bỏ phiếu cho đảng Dân Chủ, thêm Census cho thấy có thêm nhiều dân số với người di dân lậu mà họ ước tính là trên 5 triệu người hay độ 15% dân số.


Nay đảng Cộng Hoà tìm cách ra luật đi bầu phải có quốc tịch Hoa Kỳ trong khi đảng Dân Chủ thì chống.


Đó là cuộc chiến sinh tử chính trị của Hoa Kỳ cho năm 2030 sắp tới. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Câu chuyện tình già 3 giờ sáng

Đi Tân Gia Ba chơi với Bà cụ và đồng chí gái thì rất cảm động khi nghe bà cụ kêu “đẹp quá con hỉ”, kêu gặp lại mình như trẻ hơn 10 tuổi. Trong chuyến đi mình có đọc được một câu chuyện về một người sở tại lớn tuổi, bà vợ qua đời, để lại ông một cuộc sống vắng vẻ, buồn chán. Xin tóm tắc như sau:

Người đàn ông goá vợ, mỗi ngày ra quán cơm ngồi ăn một mình trong nổi cô đơn khi người vợ đã qua đời. Khi chúng ta mất đi mới quý sự hiện diện của người bạn đời

 Tôi sống ở Bukit Ho Swee. Khu tập thể cũ. Loại HDB sơn màu pastel đã phai, hành lang hẹp đến mức hàng xóm nghe được cả tiếng bạn hắt xì. Ở đây yên tĩnh. Không phải kiểu yên bình. Mà là kiểu ai ở nhà nấy, đóng cổng sớm, không ai dây với ai. Nghe kể là 80% căn hộ ở Tân gia Ba thuộc của chính phủ nên mua hay thuê rẻ.

Dưới nhà có một quán cà phê. Chẳng có gì đặc biệt. Ghế nhựa, đèn huỳnh quang chói mắt. Một quán zi char, một quầy nước, một quán cơm bình dân, và một dì bán bánh mì kaya buổi sáng. Loại chỗ mà khách du lịch sẽ chẳng bao giờ tìm thấy, còn người Singapore thì đi ngang qua mỗi ngày mà không buồn nhìn.

Tôi bắt đầu để ý tới ông ấy khoảng một năm trước. Tối nào cũng vậy. 6 giờ 30. Cùng một bàn. Cùng một góc, quay mặt về phía cái TV chẳng ai xem. Ông ngồi xuống, gọi một ly kopi-o kosong và một dĩa cơm. Lúc nào cũng là cơm bình dân. Lúc nào cũng giống nhau: một món mặn, một món rau. Không thêm thắt. Ông ăn chậm. Không phải vì muốn thưởng thức, mà vì ăn xong rồi cũng chẳng biết đi đâu nữa.

Ăn xong, ông không về. Ông cứ ngồi đó, nhìn xuống mặt bàn. Thỉnh thoảng nhìn người qua lại. Thỉnh thoảng chỉ ngó hai bàn tay của mình. Ông chủ quầy nước sẽ tự động châm thêm kopi cho ông, không cần hỏi. Kiểu thỏa hiệp im lặng được xây bằng nhiều năm, dù chẳng biết tên nhau.

Một tối, tôi xuống mua đồ ăn mang về, quán gần như trống trơn. Chỉ có ông ấy, tôi, và ông chủ quầy nước đang lau quầy. Tôi ngồi cách hai bàn. Vừa ăn vừa lướt điện thoại. Như ai cũng vẫn làm. Rồi tôi nghe thấy gì đó. Rất nhỏ. Gần như không có. Nhưng trong một quán cà phê trống lúc 8 giờ tối, bất cứ âm thanh nào bạn cũng nghe được.

Ông đang nói chuyện. Với cái ghế trống phía đối diện. Không lớn tiếng. Không điên loạn. Chỉ là đang nói chuyện. Giọng điệu của người nói với một người từng ngồi đó. “Hôm nay nóng quá ha. Bà lúc nào cũng nói tôi uống nhiều nước. Tôi uống rồi mà.”  Ông ngừng lại, như chờ ai trả lời. “Con cá hôm nay cũng được. Bà sẽ nói mặn quá. Cái gì trong mắt bà cũng mặn hết.” Tôi đặt điện thoại xuống.

Ông nói chuyện với cái ghế đó suốt mười phút. Về thời tiết. Về đồ ăn. Về một chương trình trên Channel 8 ông xem chiều nay. Những chuyện bình thường. Chuyện vụn vặt hằng ngày. Kiểu chuyện chỉ kể cho người đã cùng mình đi qua cả đời. Nói xong, ông gấp khăn giấy, đặt lên dĩa, rồi lại ngồi đó. Im lặng. Hai tay đặt trên bàn. Như thể cuộc trò chuyện đã kết thúc, và giờ họ chỉ ngồi cạnh nhau. Kiểu như những cặp vợ chồng già vẫn làm. Tôi không rời mắt được. Mà cũng không dám nhìn thẳng. Tôi cứ giả vờ ăn, nhưng trong ngực như có cái gì đó vừa rạn nứt ra.

Đêm nào ông cũng đến. Tôi bắt đầu để ý kỹ hơn. Thứ Hai. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Ghế trống. Thứ Ba. Vẫn vậy. Thứ Tư. Vẫn vậy. Thứ Năm…ông gọi hai ly kopi. Đặt một ly bên kia bàn. Không hề động tới. Để nó nguội lạnh. Đêm đó tôi chuyển bàn. Không có kế hoạch. Không chuẩn bị câu nào. Tôi chỉ bưng dĩa cơm sang ngồi ngay bàn bên cạnh. Đủ gần để mở lời. Đủ xa để nếu cần thì vẫn giả vờ như chẳng quen.

Chú, cơm bình dân ở đây cũng được ha?” Ông ngẩng lên, ngạc nhiên. Như thể quên mất rằng vẫn có người nhìn thấy ông. “Cũng được. Nhưng hồi trước ngon hơn. Cô bán trước…wah, thịt kho tàu của cổ. Vợ tôi lúc nào cũng gọi gấp đôi phần.” Lần đầu tiên ông nhắc đến bà với một người lạ. Có lẽ cũng là lần đầu ông nói chuyện đàng hoàng với ai đó trong quán này sau rất lâu.

Ông tên là Tân. Bảy mươi tám tuổi. Sống tầng chín. Cùng block với tôi. Ở đó từ năm 1970, ngay sau khi kampung cũ bị dỡ sau vụ cháy. Nuôi ba đứa con trong một căn hộ ba phòng. Lái xe buýt cho SBS suốt ba mươi lăm năm. Nghỉ hưu năm 2003. Vợ ông mất hai năm trước. Đột quỵ. Nhanh. Bà đang ở chợ Beo Crescent một buổi sáng, mua ikan bilis thì ngã xuống ngay cạnh sạp rau. Xe cấp cứu tới SGH thì bà đã đi rồi.

“Bà đi chợ mỗi ngày đó. Ngày nào cũng đi. Mưa cũng đi. Tôi nói, ‘Aiyah, hôm nay đừng đi nữa.’ Bà nói, ‘Vậy tối nay ông ăn gì?’ Ông cười khi kể. Nụ cười như được giữ lại bằng những sợi chỉ mỏng manh.

Bà đi rồi, tôi chẳng biết làm gì. Năm mươi hai năm bà nấu cho tôi. Giặt đồ. Nhắc tôi uống thuốc. Tôi còn không biết bật máy giặt sao nữa. Năm mươi hai năm mà tôi không tự giặt nổi quần áo mình.”Ông tự học. Bằng YouTube. Ở tuổi bảy mươi tám. Thằng cháu trai chỉ cho ông một lần, dịp Tết Âm lịch…lần cuối cùng có ai đến thăm. Giờ ông thức lúc 2 giờ sáng xem video nấu ăn vì không ngủ được, mà căn nhà thì quá yên tĩnh.

Anh biết cái gì tệ nhất không? Không phải nấu ăn. Không phải dọn dẹp. Tệ nhất là giờ ăn tối. Mỗi tối, 6 giờ, bà ngồi ở bàn bếp. Hai đứa ăn với nhau. Nói chuyện tào lao. Than phiền hàng xóm. Cười những chuyện cũ rích. Giờ tôi ngồi đó, cái ghế trống. Nhà yên đến mức tôi nghe rõ tiếng kim đồng hồ.

Đó là lý do ông xuống quán cà phê. Không phải vì đồ ăn. Mà là vì tiếng người. Vì âm thanh của những người khác đang sống. Bởi trên căn hộ phía trên, mọi thứ như một bảo tàng của người đã mất, và sự im lặng ở đó là kiểu im lặng khiến người ta quên rằng mình vẫn còn thở.

Tôi hỏi về con cái ông. Ông im lặng. Một khoảng im dài. “Con trai tôi ở KL. Đi làm. Thỉnh thoảng gọi. Chắc một tháng một lần. Rất nhanh. ‘Ba, ba khỏe không?’ ‘Khỏe.’ ‘Rồi, bye.’ Vậy đó. Con gái…ở Woodlands. Xa. Nó có gia đình riêng. Hai đứa nhỏ. Bận. Tôi hiểu. Ở Singapore mà. Lần cuối tôi gặp nó là dịp Thanh Minh. Đi nghĩa trang chung. Xong rồi thôi.”

Còn cháu ngoại, cháu nội thì sao chú?” “Thằng cháu đó hả. Nó đang đi nghĩa vụ quân sự. Nó nhắn tin chúc mừng sinh nhật tôi vào tháng Chín. Nhầm tháng. Sinh nhật tôi là tháng Ba.” Ông cười. Nhưng không phải kiểu buồn cười.

Tôi không trách tụi nó. Cuộc sống Singapore mà. Ai cũng bận. HDB mắc. Con cái thì học thêm. Công việc thì tăng ca. Làm xong hết mấy thứ đó, còn thời gian đâu nữa. Tôi hồi đó cũng vậy. Mẹ tôi…tôi gửi bà vô viện dưỡng lão ở Yishun. Nói cuối tuần ghé. Mà lâu lâu lại bận. Bà không nói gì. Nhưng giờ tôi hiểu cái mặt bà lúc đó muốn nói gì rồi.”

Ông nhìn sang cái ghế trống. “Giờ tôi là người ngồi chờ. Buồn cười ha. Đời đúng là vòng tròn.” Tôi bắt đầu ngồi với ông. Không phải tối nào. Nhưng đa phần tối. Tuần ba, bốn lần, tôi xuống lúc 6 giờ 30, mua đồ ăn rồi ngồi vào bàn của ông. Có lúc nói chuyện. Có lúc chỉ ăn trong im lặng. Cả hai cùng nhìn cái TV chẳng ai xem, ăn cơm bình dân, chỉ đơn giản là có mặt ở đó.

Ông kể tôi nghe chuyện đi lái xe buýt hai mươi năm. Cùng một tuyến: Bukit Merah tới Tampines. Ông thuộc mặt khách quen. Cô dì lúc nào cũng chuẩn từng đồng lẻ. Đám học sinh chạy hộc tốc bắt xe ở Queenstown. Một cô gái trẻ đi xe mỗi sáng suốt ba năm, rồi tự nhiên biến mất…tới giờ ông vẫn tự hỏi không biết đời cô ấy rẽ đi đâu.

Ông kể về vợ mình. Cách bà trả giá với ông bán cá ở chợ Beo Crescent mỗi sáng chỉ vì hai chục xu. Cách bà cất tất cả phong bao lì xì Tết trong một cái hộp thiếc dưới gầm giường…bốn mươi năm tiền lì xì không mở ra đếm. Cách bà ngân nga mấy bài hát tiếng Phúc Kiến khi nấu ăn mà không hề biết mình đang hát.

Tôi nhớ nhất là tiếng bà ngân nga. Anh biết không, khi một người ở bên mình mỗi ngày, mình không còn nghe họ nữa. Rồi họ đi. Tự nhiên cái im lặng ồn ào kinh khủng.”

Một tối thứ Năm, ông không đến. 6 giờ 30. 7 giờ. 7 giờ 30. Bàn của ông trống trơn. Tôi lên nhà. Tầng chín. Gõ cửa. Không ai trả lời. Tôi gõ thêm lần nữa. Cửa mở. Ông mặc áo ba lỗ, quần đùi. Mắt đỏ. Trên tay cầm một khung ảnh.

Chú khoẻ chứ? Hôm nay chú không xuống.”

“Hôm nay là sinh nhật bà.” Ông đưa tôi xem tấm hình. Một người phụ nữ trẻ, mặc sườn xám đỏ, cười rạng rỡ. “Năm 1971. Năm đầu tụi tôi cưới nhau.” Cả ngày ông ở trong nhà. Ngồi nhìn hình. Nói chuyện với bà. Nấu món bà thích nhất — cá hấp gừng với xì dầu — rồi bày lên bàn.

Hai cái dĩa. Hai chén cơm. Hai đôi đũa.

Năm nào tới sinh nhật bà tôi cũng nấu cho bà. Tôi biết bà không còn ở đây. Nhưng tay tôi vẫn nhớ bà thích ăn thế nào. Gừng phải xắt thiệt mỏng. Xì dầu không được nhiều. Nếu tôi ngừng nấu, thì chẳng còn ai trên đời nhớ được bà thích ăn cá thế nào nữa. Vậy là bà mất luôn thiệt rồi.”

Tôi ngồi xuống. Hai chú cháu ăn với nhau. Cá rất ngon. Gừng mỏng. Xì dầu vừa miệng. Đêm đó về đến nhà, tôi gọi cho mẹ. Bình thường hai mẹ con nói chuyện khoảng tuần một lần. Ngắn gọn. “Má ăn cơm chưa?” “Ăn rồi.” “Vậy ha.” “Ừ.” Như kịch bản học thuộc lòng. Nhanh gọn, kiểu Singapore.

Nhưng tối đó tôi nói lâu hơn. Ba mươi phút. Tôi hỏi má về một ngày của má. Má nấu gì. Hàng xóm dưới nhà còn chơi mạt chược tới nửa đêm không. Lúc đầu má có vẻ ngạc nhiên. “Sao hôm nay con hỏi nhiều vậy? Con có chuyện gì không?” “Con không sao, má. Chỉ muốn nói chuyện thôi.”

Đầu dây bên kia im lặng một chút. Rồi má tôi nói một câu đã rất lâu tôi không nghe. “Má mừng vì con gọi. Nhà dạo này yên lắm.” Nhà dạo này yên lắm. Y chang câu ông Tân nói. Cùng những chữ đó. Cùng cái tông giọng đó. Chỉ khác người.

Ông Tân vẫn đến quán mỗi tối. 6 giờ 30. Bàn trong góc. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Tôi cũng ngồi với ông hầu hết các tối. Trở thành thói quen. Thỉnh thoảng ông chủ quầy nước rảnh tay cũng qua ngồi chừng mười phút. Có hôm dì bán zi char gửi sang thêm một đĩa đồ ăn.

Cho chú Tân, nói là quán mời.”

Một cái bàn nhỏ ở quán cà phê Bukit Ho Swee. Đôi khi ba, bốn người. Đa phần là hai. Đó là cả thế giới của ông bây giờ.

Tuần trước, ông nói một câu mà tới giờ tôi vẫn không ngừng nghĩ tới.

Anh biết không, hồi đó tôi lái xe buýt. Mỗi ngày tôi chạy ngang qua bao nhiêu người. Hàng ngàn. Tôi thấy họ nhưng chẳng biết họ là ai. Giờ tôi già. Tôi ngồi đây. Người ta đi ngang qua. Họ thấy tôi mà chẳng biết tôi là ai. Cũng vậy thôi. Chỉ là bây giờ tôi là người ngồi ở trạm xe buýt.”

Ông nhấp một ngụm kopi.

Còn anh. Anh ngồi xuống. Anh ăn với tôi. Anh nghe một ông già nói tào lao về vợ, về xe buýt, về con cá. Không ai bắt anh làm vậy. Nhưng anh làm. Và tôi muốn nói với anh…đây là điều quan trọng nhất có người làm cho tôi từ ngày bà mất tới giờ.”

Tôi không biết trả lời sao. Chỉ nói: “Mai, giờ này nữa hả chú?

Giờ này chứ đâu. Tôi còn chỗ nào để đi đâu.”

Ông cười. Lần này là nụ cười thật sự.

Đó là câu chuyện của ông. Và từ khi đọc xong, tôi không còn như trước nữa.

Điều tôi rút ra là:

Ba mẹ bạn sẽ không nói với bạn là họ cô đơn. Họ sẽ không bảo, “Nhà im lắm.” Họ sẽ không thú thật là họ đang nói chuyện với một cái ghế trống trong bữa tối. Họ sẽ chỉ nói, “Má/ba khoẻ.” Họ sẽ nói, “Đừng lo.” Họ sẽ nói, “Con bận mà, không sao, để lần sau.

Nhưng “lần sau” thành tháng sau.  

Tháng sau thành Tết.  

Tết thành Thanh Minh.

Rồi một ngày, chính bạn sẽ là người ngồi ở quán cà phê, nói chuyện với cái ghế trống, ước gì có ai ngồi xuống với mình. Bạn không cần phải bay về nhà. Không cần một cử chỉ hoành tráng. Không phải sửa hết mọi thứ. Chỉ cần gọi. Nói chuyện lâu hơn hai phút. Hỏi hôm nay họ ăn gì. Hỏi về hàng xóm. Hỏi những chuyện không đầu không đuôi. Để họ có người mà kể.

Hoặc tốt hơn nữa…nếu có thể, hãy bước xuống nhà.  Đi tới quán cà phê.  Ngồi với họ. Ăn dĩa cơm bình dân đó. Xem cái TV chẳng ai để ý. Không biết nói gì cũng không sao. Chỉ cần có mặt ở đó. Vì sẽ đến một ngày cái ghế đó trống thật sự. Và bạn sẽ ước gì được nghe họ than món cá mặn thêm một lần nữa. Đừng đợi tới khi cái ghế trống rồi mới nhận ra trước đó nó đầy ắp. Tối nay, hãy ngồi xuống cạnh ai đó.

Câu chuyện nói về người già như mình, từ từ con cháu dọn ra riêng, lủi thủi còn hai vợ chồng. Nhưng rồi một ngày sẽ đến, người chồn thay người vợ ra đi trước, để lại nổi trống vắng của cuộc đời. Chúng ta khi xưa bận con cái, công ăn việc làm nên không có thời gian để ý đến cha mẹ rồi khi có chút thời gian thì cha mẹ đã vắn số, để rồi có người kêu đổi thiên thu để thấy nụ cười của mẹ.

Như ông Tân, vợ chết sớm, chả biết làm gì ngoài sự trống vắng. Ông ta xuống quán ăn để khẳng định mình là có mặt trên cỏi đời vì thức ăn không ăn nhưng cũng phải ăn vì lo sợ cái im lặng trong căn hộ của mình. Mỗi tuần mình cố gắng nói chuyện với bà cụ ở Đà Lạt. Cố nhìn mụ vợ, ôm mụ mỗi ngày vì biết đâu một ngày nào đó, sẽ không còn thấy nhau. Câu chuyện hơi tiêu cực nhưng cũng khiến mình suy nghĩ về cuộc đời.

Nàng trao một nữa nỤ cười

Làm Ta mất một đời làm ô-sin


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

ân nhân Ẩn Danh

 Người Quyên Tặng Ẩn Danh

Tuần rồi mình có kể hai anh em ông Nhữ Huy Hoàng đã tặng tiền mấy triệu đô cho đại học tiểu bang Cali Irvine và được đại học này đặt tên một tòa nhà trong khuôn viên Đại học này mang tên gia đình này. Ai buồn đời thì vào trang Facebook của mình để đọc thêm chi tiết. 


Dạo này mình hay đọc tiểu sử những người mỹ đã quyên tặng tài sản của họ mà theo mình đó là tinh thần của những người tiên phong đặt chân lên xứ này và đã tạo dựng một đất nước chỉ riêng cho người di dân. Mọi người từ khắp nơi trên thế giới, bất kỳ chủng tộc nào, nếu họ chịu khó thì sẽ thành công và điểm hay nhất là họ chia sẻ với cộng đồng hay người xa lạ.


Tuần tới mình làm Toastamaster nên sẽ dùng chủ đề là người di dân và hậu duệ tặng tiền, đóng góp chi cộng đồng.


Có những tấm ngân phiếu đến với Hội Sierra, con số dài đến mức người ta phải đếm lại nhiều lần những con số không phía sau. Không tên người gửi. Không lời nhắn. Chỉ có sự tin tưởng lặng lẽ.

ACLU cũng nhận được những khoản tài trợ như thế đều đặn, bền bỉ, vô danh. Những cựu chiến binh trở về từ Iraq, Afghanistan được chữa lành, được học nghề, được giúp đứng dậy… mà không bao giờ biết ai đã dang tay ra với họ trong lúc đen tối nhất.


Người đàn ông đứng sau tất cả điều đó lái một chiếc Honda Civic cũ, dán sticker Obama đã bạc màu. Khi người ta đến nhà ông, họ thường hỏi: “Chủ nhà có ở đây không?” Vì họ tưởng ông là người làm vườn. Ông ta chỉ mỉm cười thay vì hỏi: “Biết bố mày là ai không”


Ông tên là David Gelbaum.


Ông nội của David là một người Do Thái chạy trốn khỏi Ukraine trước Thế chiến thứ nhất. Ông đến Mỹ với hai bàn tay trắng, mang theo nỗi sợ hãi của chiến tranh và một niềm tin mong manh rằng ở mảnh đất mới này, con cháu mình sẽ có một cuộc sống khác. Giấc mơ của người tị nạn ấy, âm thầm và bền bỉ, đã nảy mầm qua nhiều thế hệ.


David lớn lên yêu toán học và thiên nhiên. Tuổi thơ của ông gắn với những chuyến cắm trại, những đêm nằm ngửa lưng nhìn sao trời, những khu rừng yên tĩnh nơi con người trở nên nhỏ bé. Sau này, ông tốt nghiệp Đại học Berkeley và gia nhập thế giới tài chính, sử dụng năng khiếu toán học để đầu tư trong các quỹ phòng hộ.


Rồi năm 1989, công ty tan vỡ. Tất cả sụp đổ. David không bỏ cuộc. Ông cùng hai đồng nghiệp lập nên TGS Management nhỏ, kín, và thận trọng. Họ thành công đến mức… xin lỗi các nhà đầu tư khác vì không cần thêm tiền. Họ chỉ muốn quản lý tiền của chính mình. Không tham vọng. Không phô trương. Không lặp lại sai lầm cũ.


Và rồi họ bắt đầu làm một điều không ai ngờ tới. Họ bắt đầu cho đi. Mìn thấy người Mỹ có cái hay là ngoài nhà thờ ra, họ cho các tổ chức từ thiện rất nhiều. Cho nhà thờ có thể bắt buộc hay như mua cái may cái tốt cái lành nhưng đem tiền của để cho người khác ngoài nhà thờ thì mình thấy xứ này khác với với âu châu.


Đến năm 2014, người ta phát hiện rằng David và các cộng sự viên đã âm thầm quyên góp hơn 13 tỷ đô la Mỹ thông qua những pháp nhân bí ẩn. Nhiều hơn cả Ford Foundation. Và gần như tất cả đều… vô danh.


Tại một chi hội Lions địa phương, có lần một hội viên, chuyên gia địa ốc,  kể về một khu rừng trên núi, gần Mount Baldy. Có một hội viên nói muốn mua lại khu đất đó và hiến tặng cho hội, để trẻ em nghèo có nơi đi nghỉ hè, trượt tuyết mùa đông. Nơi ấy có vài bungalow cũ, một trung tâm sinh hoạt, một quán ăn nhỏ. Hai hội viên rảnh rỗi bắt đầu đóng giường tầng cho các em.


Qua các sinh hoạt với hội Lions Quốc Tế, mình thấy người Mỹ họ quyên góp làm từ thiện rất hay, không nhất thiết phải cúng chùa hay nhà thờ như đa số người Việt tỵ nạn của mình. Cúng dường như mua từ Cúa hay Phật được sự may mắn, hạnh phúc.


Và rồi buồn đời mình cũng tham gia mua tặng một chiếc xe van, để hội viên chở những đứa trẻ chưa từng rời khỏi khu phố nghèo lên núi, lần đầu chạm vào tuyết, lần đầu thấy rừng. Khi nhìn những đứa bé được đi chơi mùa hè hay trượt tuyết, mình rất cảm động. Có nhiều hội viên không đóng góp hiện kim thì đóng góp công sức. Họ in vé để bán cho xổ số. Có nhiều cách để đóng góp cho cộng đồng. Lễ Tạ Ơn và Giáng Sinh, họ gây quỹ để đi mua quà cho trẻ em con nhà nghèo, tặng gà, thức ăn cho các gia đình nghèo trong thành phố.


Những ký ức hạnh phúc nhất của tôi là khi còn nhỏ được cắm trại và đi bộ trong rừng,” ông David nói, để giải thích vì sao ông quyên góp cho Hội Sierra  để trẻ em có cơ hội hít thở thiên nhiên như ông từng được. Năm 1992, David gọi cho tổng giám đốc Hội Sierra và trao tặng khoản quyên góp lớn nhất trong lịch sử của họ: hơn 200 triệu đô la.


Ba năm sau, ông cùng nhà bảo tồn thiên nhiên David Myers thành lập tổ chức Wildlands Conservancy. Sứ mệnh của họ rất đơn giản mà lớn lao: cứu những vùng đất hoang dã của California trước khi chúng biến mất. Điểm đến là sa mạc Mojave.


Một công ty đường sắt sở hữu nửa triệu mẫu Anh sa mạc nguyên sơ. Các nhà phát triển vây quanh như kền kền, chuẩn bị biến nơi đó thành trung tâm thương mại, khu dân cư. David và Myers không phản đối ồn ào. Họ chỉ… mua lại. Âm thầm. Từng mảnh. Trong nhiều năm.


Sa mạc trải dài đến tận chân trời. Nơi những con cừu sừng lớn vẫn đi theo lối mòn cổ xưa. Nơi những con rùa sa mạc sống chậm rãi, kiên nhẫn, như chính vùng đất này.


Cuối cùng, họ sở hữu 1.200 dặm vuông tương đương diện tích Vườn quốc gia Yosemite. Và rồi họ hiến tặng toàn bộ cho chính phủ liên bang. Không bán. Không điều kiện. Đây là khoản hiến tặng đất tư nhân lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ. Điểm son của xứ này là tư nhân mua đất rồi cống hiến cho quốc gia để mọi người Mỹ có thể sử dụng trong khi nhiều quốc gia khác thì cán bộ tìm cách lấy đất quốc gia để tư hữu hay bán kiếm tiền.


Năm 2016, Tổng thống Obama đứng giữa sa mạc đó và tuyên bố thành lập Đài tưởng niệm Quốc gia Mojave Trails. Hầu hết mọi người không biết rằng nơi ấy tồn tại nhờ một người đàn ông trầm lặng lái chiếc Honda cũ.


Nhưng David không chỉ quan tâm đến đất đai. Cha ông từng tham chiến trong Thế chiến II và qua đời khi còn trẻ. Khi những người lính trở về từ Iraq và Afghanistan tan vỡ, mất phương hướng, bị lãng quên, David nhìn thấy hình ảnh của cha mình trong họ. Ông thành lập Quỹ Tác động Triển khai Iraq–Afghanistan. Từ năm 2006 đến 2010, ông quyên góp 246 triệu đô la để giúp cựu chiến binh học nghề, viết sơ yếu lý lịch, chữa lành chấn thương tâm lý, và giúp gia đình họ vượt qua những ngày dài sợ hãi. Tất cả đều ẩn danh.


Ông cũng quyên góp 93 triệu đô la cho ACLU để bảo vệ các quyền hiến pháp, những quyền khiến nước Mỹ đáng để chiến đấu và hy sinh. Gặp David là một trải nghiệm gây ngỡ ngàng. Một người từng kể rằng khi mở cửa phòng họp, ông thấy một người đàn ông thấp, hói đầu, râu muối tiêu, mặc áo thun và quần jean, nói chuyện nhỏ nhẹ. Sau khi xem video về tổ chức, David chỉ nói:

Tôi sẽ cho các anh thêm 10 triệu đô la nữa. Giờ hãy kể tôi nghe các anh đang làm gì tiếp theo”. Không hợp đồng. Không đàm phán. Chỉ có niềm tin.


Hầu hết người giàu dành cả đời để kiếm thêm tiền thay vì cho đi,” David từng nói. “Họ chờ quá lâu. Họ bỏ lỡ rất nhiều niềm vui.” Rồi khủng hoảng tài chính 2008 ập đến. Những khoản đầu tư xanh của ông bị đóng băng. Lần đầu tiên, ông buộc phải cho phép công khai tên mình không phải để được ca ngợi, mà để các tổ chức ông giúp đỡ có thể kêu gọi thêm sự hỗ trợ.


Ông qua đời lặng lẽ vào năm 2018. Không tượng đài. Không tòa nhà mang tên ông. Không cáo phó lớn.


Chỉ có sa mạc được bảo vệ.

Những người lính được cứu.

Những quyền tự do được giữ gìn.

Và một tỷ đô la đã được cho đi mà không đòi hỏi điều gì.


Làm từ thiện là một công việc,” ông từng nói. “Tôi chỉ đang làm công việc của mình.”


Nhưng có lẽ, đó là cách khiêm nhường nhất để nói về một đời người đã sống đúng với câu hỏi của ông nội mình:“Nếu ta đã được chào đón, làm sao ta có thể quay lưng với người khác?”


Mình là di dân, vợ mình là thuyền nhân, nhờ nước này cho mình một cơ hội để làm lại cuộc đời vì sống với Việt Cộng không nổi. Thà chết trên biển đông để tìm tự do, cuộc sống.


Mình đoán ông nội của ông David khi chạy thoát khỏi Ukraine để tránh chiến tranh. Với tinh thần đó, đã để lại di sản cho con cháu để họ tiếp tục cống hiến cho xứ sở này. Mình hy vọng sau này con cháu sẽ không quên sự ra đi của bố mẹ ông bà của chúng, đến định cư xứ này với một tiềm hy vọng làm lại cuộc đời sau cuộc đổi đời, Việt Cộng cướp hết tài sản và cho đi tù hay kinh tế mới. Chán Mớ Đời 

Tuần tới một số thân hữu và các linh mục sẽ tổ chức buổi gây quỹ cho chương trình “Người nghèo không thể đợi”. Có Linh Mục Ca và ca sĩ đóng góp phần văn nghệ. Xin mời các anh chị tham gia.

Có lần mình nhờ cô em chuyển tiền cho một sinh viên nghèo tại Việt Nam. Cô em hỏi tại soa mình không giúp cháu mình mà lại đi giúp người ngoài. Mình giải thích nếu với tinh thần đó thì người Mỹ hay người Pháp chắc chắn sẽ không giúp mình khi mới chân ướt chân ráo sang pháp hay vợ mình khi mới vượt biển sang Hoa Kỳ. Nếu không có các nhà thờ, hội đoàn tại Hoa Kỳ đứng ra bảo trợ người Việt tỵ nạn thì sẽ không có một cộng đồng người Việt rộng lớn như ngày nay.


Cháu mình thì có bố mẹ chúng lo, hy sinh đời bố củng cố đời con. Nếu bố mẹ chúng không lo cho chúng thì sẽ không có sự liên hệ nào với nhau sau này. Khi có con mình mới thấm thía sự hy sinh của ông bà cụ mình nhất là bà cụ nên ngày nay mới thương bà cụ. Chớ sinh ra mà có bác và đảng nuôi lo hết thì sau này chỉ nhớ ơn Bác và đảng.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn