Đi Tân Gia Ba chơi với Bà cụ và đồng chí gái thì rất cảm động khi nghe bà cụ kêu “đẹp quá con hỉ”, kêu gặp lại mình như trẻ hơn 10 tuổi. Trong chuyến đi mình có đọc được một câu chuyện về một người sở tại lớn tuổi, bà vợ qua đời, để lại ông một cuộc sống vắng vẻ, buồn chán. Xin tóm tắc như sau:
Người đàn ông goá vợ, mỗi ngày ra quán cơm ngồi ăn một mình trong nổi cô đơn khi người vợ đã qua đời. Khi chúng ta mất đi mới quý sự hiện diện của người bạn đờiTôi sống ở Bukit Ho Swee. Khu tập thể cũ. Loại HDB sơn màu pastel đã phai, hành lang hẹp đến mức hàng xóm nghe được cả tiếng bạn hắt xì. Ở đây yên tĩnh. Không phải kiểu yên bình. Mà là kiểu ai ở nhà nấy, đóng cổng sớm, không ai dây với ai. Nghe kể là 80% căn hộ ở Tân gia Ba thuộc của chính phủ nên mua hay thuê rẻ.
Dưới nhà có một quán cà phê. Chẳng có gì đặc biệt. Ghế nhựa, đèn huỳnh quang chói mắt. Một quán zi char, một quầy nước, một quán cơm bình dân, và một dì bán bánh mì kaya buổi sáng. Loại chỗ mà khách du lịch sẽ chẳng bao giờ tìm thấy, còn người Singapore thì đi ngang qua mỗi ngày mà không buồn nhìn.
Tôi bắt đầu để ý tới ông ấy khoảng một năm trước. Tối nào cũng vậy. 6 giờ 30. Cùng một bàn. Cùng một góc, quay mặt về phía cái TV chẳng ai xem. Ông ngồi xuống, gọi một ly kopi-o kosong và một dĩa cơm. Lúc nào cũng là cơm bình dân. Lúc nào cũng giống nhau: một món mặn, một món rau. Không thêm thắt. Ông ăn chậm. Không phải vì muốn thưởng thức, mà vì ăn xong rồi cũng chẳng biết đi đâu nữa.
Ăn xong, ông không về. Ông cứ ngồi đó, nhìn xuống mặt bàn. Thỉnh thoảng nhìn người qua lại. Thỉnh thoảng chỉ ngó hai bàn tay của mình. Ông chủ quầy nước sẽ tự động châm thêm kopi cho ông, không cần hỏi. Kiểu thỏa hiệp im lặng được xây bằng nhiều năm, dù chẳng biết tên nhau.
Một tối, tôi xuống mua đồ ăn mang về, quán gần như trống trơn. Chỉ có ông ấy, tôi, và ông chủ quầy nước đang lau quầy. Tôi ngồi cách hai bàn. Vừa ăn vừa lướt điện thoại. Như ai cũng vẫn làm. Rồi tôi nghe thấy gì đó. Rất nhỏ. Gần như không có. Nhưng trong một quán cà phê trống lúc 8 giờ tối, bất cứ âm thanh nào bạn cũng nghe được.
Ông đang nói chuyện. Với cái ghế trống phía đối diện. Không lớn tiếng. Không điên loạn. Chỉ là đang nói chuyện. Giọng điệu của người nói với một người từng ngồi đó. “Hôm nay nóng quá ha. Bà lúc nào cũng nói tôi uống nhiều nước. Tôi uống rồi mà.” Ông ngừng lại, như chờ ai trả lời. “Con cá hôm nay cũng được. Bà sẽ nói mặn quá. Cái gì trong mắt bà cũng mặn hết.” Tôi đặt điện thoại xuống.
Ông nói chuyện với cái ghế đó suốt mười phút. Về thời tiết. Về đồ ăn. Về một chương trình trên Channel 8 ông xem chiều nay. Những chuyện bình thường. Chuyện vụn vặt hằng ngày. Kiểu chuyện chỉ kể cho người đã cùng mình đi qua cả đời. Nói xong, ông gấp khăn giấy, đặt lên dĩa, rồi lại ngồi đó. Im lặng. Hai tay đặt trên bàn. Như thể cuộc trò chuyện đã kết thúc, và giờ họ chỉ ngồi cạnh nhau. Kiểu như những cặp vợ chồng già vẫn làm. Tôi không rời mắt được. Mà cũng không dám nhìn thẳng. Tôi cứ giả vờ ăn, nhưng trong ngực như có cái gì đó vừa rạn nứt ra.
Đêm nào ông cũng đến. Tôi bắt đầu để ý kỹ hơn. Thứ Hai. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Ghế trống. Thứ Ba. Vẫn vậy. Thứ Tư. Vẫn vậy. Thứ Năm…ông gọi hai ly kopi. Đặt một ly bên kia bàn. Không hề động tới. Để nó nguội lạnh. Đêm đó tôi chuyển bàn. Không có kế hoạch. Không chuẩn bị câu nào. Tôi chỉ bưng dĩa cơm sang ngồi ngay bàn bên cạnh. Đủ gần để mở lời. Đủ xa để nếu cần thì vẫn giả vờ như chẳng quen.
“Chú, cơm bình dân ở đây cũng được ha?” Ông ngẩng lên, ngạc nhiên. Như thể quên mất rằng vẫn có người nhìn thấy ông. “Cũng được. Nhưng hồi trước ngon hơn. Cô bán trước…wah, thịt kho tàu của cổ. Vợ tôi lúc nào cũng gọi gấp đôi phần.” Lần đầu tiên ông nhắc đến bà với một người lạ. Có lẽ cũng là lần đầu ông nói chuyện đàng hoàng với ai đó trong quán này sau rất lâu.
Ông tên là Tân. Bảy mươi tám tuổi. Sống tầng chín. Cùng block với tôi. Ở đó từ năm 1970, ngay sau khi kampung cũ bị dỡ sau vụ cháy. Nuôi ba đứa con trong một căn hộ ba phòng. Lái xe buýt cho SBS suốt ba mươi lăm năm. Nghỉ hưu năm 2003. Vợ ông mất hai năm trước. Đột quỵ. Nhanh. Bà đang ở chợ Beo Crescent một buổi sáng, mua ikan bilis thì ngã xuống ngay cạnh sạp rau. Xe cấp cứu tới SGH thì bà đã đi rồi.
“Bà đi chợ mỗi ngày đó. Ngày nào cũng đi. Mưa cũng đi. Tôi nói, ‘Aiyah, hôm nay đừng đi nữa.’ Bà nói, ‘Vậy tối nay ông ăn gì?’ Ông cười khi kể. Nụ cười như được giữ lại bằng những sợi chỉ mỏng manh.
“Bà đi rồi, tôi chẳng biết làm gì. Năm mươi hai năm bà nấu cho tôi. Giặt đồ. Nhắc tôi uống thuốc. Tôi còn không biết bật máy giặt sao nữa. Năm mươi hai năm mà tôi không tự giặt nổi quần áo mình.”Ông tự học. Bằng YouTube. Ở tuổi bảy mươi tám. Thằng cháu trai chỉ cho ông một lần, dịp Tết Âm lịch…lần cuối cùng có ai đến thăm. Giờ ông thức lúc 2 giờ sáng xem video nấu ăn vì không ngủ được, mà căn nhà thì quá yên tĩnh.
“Anh biết cái gì tệ nhất không? Không phải nấu ăn. Không phải dọn dẹp. Tệ nhất là giờ ăn tối. Mỗi tối, 6 giờ, bà ngồi ở bàn bếp. Hai đứa ăn với nhau. Nói chuyện tào lao. Than phiền hàng xóm. Cười những chuyện cũ rích. Giờ tôi ngồi đó, cái ghế trống. Nhà yên đến mức tôi nghe rõ tiếng kim đồng hồ.”
Đó là lý do ông xuống quán cà phê. Không phải vì đồ ăn. Mà là vì tiếng người. Vì âm thanh của những người khác đang sống. Bởi trên căn hộ phía trên, mọi thứ như một bảo tàng của người đã mất, và sự im lặng ở đó là kiểu im lặng khiến người ta quên rằng mình vẫn còn thở.
Tôi hỏi về con cái ông. Ông im lặng. Một khoảng im dài. “Con trai tôi ở KL. Đi làm. Thỉnh thoảng gọi. Chắc một tháng một lần. Rất nhanh. ‘Ba, ba khỏe không?’ ‘Khỏe.’ ‘Rồi, bye.’ Vậy đó. Con gái…ở Woodlands. Xa. Nó có gia đình riêng. Hai đứa nhỏ. Bận. Tôi hiểu. Ở Singapore mà. Lần cuối tôi gặp nó là dịp Thanh Minh. Đi nghĩa trang chung. Xong rồi thôi.”
“Còn cháu ngoại, cháu nội thì sao chú?” “Thằng cháu đó hả. Nó đang đi nghĩa vụ quân sự. Nó nhắn tin chúc mừng sinh nhật tôi vào tháng Chín. Nhầm tháng. Sinh nhật tôi là tháng Ba.” Ông cười. Nhưng không phải kiểu buồn cười.
“Tôi không trách tụi nó. Cuộc sống Singapore mà. Ai cũng bận. HDB mắc. Con cái thì học thêm. Công việc thì tăng ca. Làm xong hết mấy thứ đó, còn thời gian đâu nữa. Tôi hồi đó cũng vậy. Mẹ tôi…tôi gửi bà vô viện dưỡng lão ở Yishun. Nói cuối tuần ghé. Mà lâu lâu lại bận. Bà không nói gì. Nhưng giờ tôi hiểu cái mặt bà lúc đó muốn nói gì rồi.”
Ông nhìn sang cái ghế trống. “Giờ tôi là người ngồi chờ. Buồn cười ha. Đời đúng là vòng tròn.” Tôi bắt đầu ngồi với ông. Không phải tối nào. Nhưng đa phần tối. Tuần ba, bốn lần, tôi xuống lúc 6 giờ 30, mua đồ ăn rồi ngồi vào bàn của ông. Có lúc nói chuyện. Có lúc chỉ ăn trong im lặng. Cả hai cùng nhìn cái TV chẳng ai xem, ăn cơm bình dân, chỉ đơn giản là có mặt ở đó.
Ông kể tôi nghe chuyện đi lái xe buýt hai mươi năm. Cùng một tuyến: Bukit Merah tới Tampines. Ông thuộc mặt khách quen. Cô dì lúc nào cũng chuẩn từng đồng lẻ. Đám học sinh chạy hộc tốc bắt xe ở Queenstown. Một cô gái trẻ đi xe mỗi sáng suốt ba năm, rồi tự nhiên biến mất…tới giờ ông vẫn tự hỏi không biết đời cô ấy rẽ đi đâu.
Ông kể về vợ mình. Cách bà trả giá với ông bán cá ở chợ Beo Crescent mỗi sáng chỉ vì hai chục xu. Cách bà cất tất cả phong bao lì xì Tết trong một cái hộp thiếc dưới gầm giường…bốn mươi năm tiền lì xì không mở ra đếm. Cách bà ngân nga mấy bài hát tiếng Phúc Kiến khi nấu ăn mà không hề biết mình đang hát.
“Tôi nhớ nhất là tiếng bà ngân nga. Anh biết không, khi một người ở bên mình mỗi ngày, mình không còn nghe họ nữa. Rồi họ đi. Tự nhiên cái im lặng ồn ào kinh khủng.”
Một tối thứ Năm, ông không đến. 6 giờ 30. 7 giờ. 7 giờ 30. Bàn của ông trống trơn. Tôi lên nhà. Tầng chín. Gõ cửa. Không ai trả lời. Tôi gõ thêm lần nữa. Cửa mở. Ông mặc áo ba lỗ, quần đùi. Mắt đỏ. Trên tay cầm một khung ảnh.
“Chú khoẻ chứ? Hôm nay chú không xuống.”
“Hôm nay là sinh nhật bà.” Ông đưa tôi xem tấm hình. Một người phụ nữ trẻ, mặc sườn xám đỏ, cười rạng rỡ. “Năm 1971. Năm đầu tụi tôi cưới nhau.” Cả ngày ông ở trong nhà. Ngồi nhìn hình. Nói chuyện với bà. Nấu món bà thích nhất — cá hấp gừng với xì dầu — rồi bày lên bàn.
Hai cái dĩa. Hai chén cơm. Hai đôi đũa.
“Năm nào tới sinh nhật bà tôi cũng nấu cho bà. Tôi biết bà không còn ở đây. Nhưng tay tôi vẫn nhớ bà thích ăn thế nào. Gừng phải xắt thiệt mỏng. Xì dầu không được nhiều. Nếu tôi ngừng nấu, thì chẳng còn ai trên đời nhớ được bà thích ăn cá thế nào nữa. Vậy là bà mất luôn thiệt rồi.”
Tôi ngồi xuống. Hai chú cháu ăn với nhau. Cá rất ngon. Gừng mỏng. Xì dầu vừa miệng. Đêm đó về đến nhà, tôi gọi cho mẹ. Bình thường hai mẹ con nói chuyện khoảng tuần một lần. Ngắn gọn. “Má ăn cơm chưa?” “Ăn rồi.” “Vậy ha.” “Ừ.” Như kịch bản học thuộc lòng. Nhanh gọn, kiểu Singapore.
Nhưng tối đó tôi nói lâu hơn. Ba mươi phút. Tôi hỏi má về một ngày của má. Má nấu gì. Hàng xóm dưới nhà còn chơi mạt chược tới nửa đêm không. Lúc đầu má có vẻ ngạc nhiên. “Sao hôm nay con hỏi nhiều vậy? Con có chuyện gì không?” “Con không sao, má. Chỉ muốn nói chuyện thôi.”
Đầu dây bên kia im lặng một chút. Rồi má tôi nói một câu đã rất lâu tôi không nghe. “Má mừng vì con gọi. Nhà dạo này yên lắm.” Nhà dạo này yên lắm. Y chang câu ông Tân nói. Cùng những chữ đó. Cùng cái tông giọng đó. Chỉ khác người.
Ông Tân vẫn đến quán mỗi tối. 6 giờ 30. Bàn trong góc. Kopi-o kosong. Cơm bình dân. Tôi cũng ngồi với ông hầu hết các tối. Trở thành thói quen. Thỉnh thoảng ông chủ quầy nước rảnh tay cũng qua ngồi chừng mười phút. Có hôm dì bán zi char gửi sang thêm một đĩa đồ ăn.
“Cho chú Tân, nói là quán mời.”
Một cái bàn nhỏ ở quán cà phê Bukit Ho Swee. Đôi khi ba, bốn người. Đa phần là hai. Đó là cả thế giới của ông bây giờ.
Tuần trước, ông nói một câu mà tới giờ tôi vẫn không ngừng nghĩ tới.
“Anh biết không, hồi đó tôi lái xe buýt. Mỗi ngày tôi chạy ngang qua bao nhiêu người. Hàng ngàn. Tôi thấy họ nhưng chẳng biết họ là ai. Giờ tôi già. Tôi ngồi đây. Người ta đi ngang qua. Họ thấy tôi mà chẳng biết tôi là ai. Cũng vậy thôi. Chỉ là bây giờ tôi là người ngồi ở trạm xe buýt.”
Ông nhấp một ngụm kopi.
“Còn anh. Anh ngồi xuống. Anh ăn với tôi. Anh nghe một ông già nói tào lao về vợ, về xe buýt, về con cá. Không ai bắt anh làm vậy. Nhưng anh làm. Và tôi muốn nói với anh…đây là điều quan trọng nhất có người làm cho tôi từ ngày bà mất tới giờ.”
Tôi không biết trả lời sao. Chỉ nói: “Mai, giờ này nữa hả chú?”
“Giờ này chứ đâu. Tôi còn chỗ nào để đi đâu.”
Ông cười. Lần này là nụ cười thật sự.
Đó là câu chuyện của ông. Và từ khi đọc xong, tôi không còn như trước nữa.
Điều tôi rút ra là:
Ba mẹ bạn sẽ không nói với bạn là họ cô đơn. Họ sẽ không bảo, “Nhà im lắm.” Họ sẽ không thú thật là họ đang nói chuyện với một cái ghế trống trong bữa tối. Họ sẽ chỉ nói, “Má/ba khoẻ.” Họ sẽ nói, “Đừng lo.” Họ sẽ nói, “Con bận mà, không sao, để lần sau.”
Nhưng “lần sau” thành tháng sau.
Tháng sau thành Tết.
Tết thành Thanh Minh.
Rồi một ngày, chính bạn sẽ là người ngồi ở quán cà phê, nói chuyện với cái ghế trống, ước gì có ai ngồi xuống với mình. Bạn không cần phải bay về nhà. Không cần một cử chỉ hoành tráng. Không phải sửa hết mọi thứ. Chỉ cần gọi. Nói chuyện lâu hơn hai phút. Hỏi hôm nay họ ăn gì. Hỏi về hàng xóm. Hỏi những chuyện không đầu không đuôi. Để họ có người mà kể.
Hoặc tốt hơn nữa…nếu có thể, hãy bước xuống nhà. Đi tới quán cà phê. Ngồi với họ. Ăn dĩa cơm bình dân đó. Xem cái TV chẳng ai để ý. Không biết nói gì cũng không sao. Chỉ cần có mặt ở đó. Vì sẽ đến một ngày cái ghế đó trống thật sự. Và bạn sẽ ước gì được nghe họ than món cá mặn thêm một lần nữa. Đừng đợi tới khi cái ghế trống rồi mới nhận ra trước đó nó đầy ắp. Tối nay, hãy ngồi xuống cạnh ai đó.
Câu chuyện nói về người già như mình, từ từ con cháu dọn ra riêng, lủi thủi còn hai vợ chồng. Nhưng rồi một ngày sẽ đến, người chồn thay người vợ ra đi trước, để lại nổi trống vắng của cuộc đời. Chúng ta khi xưa bận con cái, công ăn việc làm nên không có thời gian để ý đến cha mẹ rồi khi có chút thời gian thì cha mẹ đã vắn số, để rồi có người kêu đổi thiên thu để thấy nụ cười của mẹ.
Như ông Tân, vợ chết sớm, chả biết làm gì ngoài sự trống vắng. Ông ta xuống quán ăn để khẳng định mình là có mặt trên cỏi đời vì thức ăn không ăn nhưng cũng phải ăn vì lo sợ cái im lặng trong căn hộ của mình. Mỗi tuần mình cố gắng nói chuyện với bà cụ ở Đà Lạt. Cố nhìn mụ vợ, ôm mụ mỗi ngày vì biết đâu một ngày nào đó, sẽ không còn thấy nhau. Câu chuyện hơi tiêu cực nhưng cũng khiến mình suy nghĩ về cuộc đời.
Nàng trao một nữa nỤ cười
Làm Ta mất một đời làm ô-sin
Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen
Nguyễn Hoàng Sơn







