Chuyện tưởng như thật trong Chiến tranh Đông Dương

 Chuyện tưởng như thật trong Chiến tranh Đông Dương


Chả biết ông tây bà đầm nào rủ mình gia nhập nhóm về chiến tranh Đông-Dương của Pháp trên mạng xã hội. Buồn đời mình mò đọc tin tức của họ trên trang của nhóm thì có một bài khiến mình thất kinh. Khiến mình nhớ đến cách đây mấy năm có một người tự xưng là lính mỹ ở Việt Nam, không nói được tiếng mỹ chắc sau mấy chục năm không ESL nên ngọng. Hoá ra trong chiến tranh Đông-Dương có nhiều người đi lính cho pháp, đào ngủ hay bị bắt rồi buồn đời tham gia đánh pháp với quân đội Việt mInh. Việt Minh là viết tắc của Việt Nam Đồng Minh Hội, gồm các lực lượng của các đảng phái người Việt tại Việt Nam, hợp tác đánh pháp, dành độc lập.

Ông Stefan Kubinka và vợ Việt Nam 


Có câu chuyện này kể về cuộc đời của ông Stefan Kubiak, một người Ba Lan đã phục vụ cùng Việt Minh trong Chiến tranh Đông Dương. Kubiak, một cựu binh của Quân đoàn Lê dương, đã đóng vai trò quan trọng trong cuộc xung đột nhất là tại Điện BIên Phủ. Ông ta sinh ngày 25 tháng 8 năm 1923 tại khu Widzew, thành phố Łódź, Ba Lan. Ông Stefan Kubiak lớn lên trong một gia đình thợ dệt nghèo. Dù tuổi thơ nhiều khó khăn, ông tìm thấy niềm an ủi trong các cuốn sách phiêu lưu, lịch sử và phim ảnh, những thứ đã khơi dậy trí tưởng tượng và niềm say mê với những vùng đất xa xôi. Nếu mình không lầm câu chuyện kể do con ông ta hiện sinh sống tại Ba Lan kể.


Trong Thế chiến II, do Ba Lan bị Đức chiếm đóng, Stefan mới 16 tuổi đã bị cưỡng bức đưa sang Đệ Tam Đế chế làm lao động. Ban đầu, ông làm việc tại một trang trại gần Memel (nay là Klaipėda, Litva), nơi chủ đất người Đức buộc ông làm việc như hai người. Sau đó, ông bị chuyển đến một nhà máy ở Westphalia, nơi ông phải chịu cảnh đói khát nghiêm trọng.


Khi nghe tin Hồng quân đang tiến về Ba Lan, Stefan đã trốn khỏi nơi làm việc và bắt đầu hành trình nguy hiểm băng qua nước Đức Quốc xã bằng cách lén đi tàu. Tuy nhiên, ông bị phát hiện và đưa trở lại vùng ngoại ô Memel, nơi ông bị buộc phải đào chiến hào. Không nản chí, ông lại trốn thoát, tiến về phía đông nam và gia nhập một đơn vị du kích Liên Xô.


Đầu tháng 1 năm 1945, Kubiak, khi đó 21 tuổi, trở về Łódź cùng Hồng quân. Theo lời khuyên của một người bạn có kinh nghiệm, ông đăng ký vào Trường Trung ương đào tạo sĩ quan chính trị. Mục tiêu của ông là trở thành chính ủy trong Quân đội Nhân dân Ba Lan, lực lượng vũ trang của Ba Lan thời Stalin, nhưng sau đó ông đào ngũ trong hoàn cảnh không rõ ràng. Chắc đói quá nên bỏ trốn cũng có thể tỏng thừoi gain đó Liên Xô đã sát hại 30,000 sĩ quan Ba Lan tại Karen thì phải để mình sẽ xét lại có đúng địa danh không. Chỉ nhứo


Cùng với những người Đức bị trục xuất, ông Kubiak có mặt tại nước Đức do phe Đồng minh chiếm đóng. Dù không có tiền bạc, đói khát và không có giấy tờ, ông bị cảnh sát Pháp bắt giữ. Đứng trước lựa chọn giữa tù giam và gia nhập Quân đoàn Lê dương, ông đã chọn con đường thứ hai. Ông được đưa đến Algeria qua cảng Marseille để huấn luyện khắc nghiệt. Mình có xem một phim tài liệu của pháp nói về sự huấn luyện của lính Lê Dương (légionnaire) ở Algerie. Sau khi hoàn thành huấn luyện, với tư cách là lính Lê dương, ông tham gia đàn áp các cuộc nổi dậy chống thực dân tại Maroc năm 1946.



Sau chiến tranh đệ nhị thế chiến, các thuộc địa thấy người Pháp chả là gì cả. Paris bị chiếm đóng trong vòng 7 ngày và bị Đức quốc xã đô hộ. Ở Việt Nam, quân đội Nhật giải giới người Pháp rất nhanh tỏng vòng mấy tiếng đồng hồ vì thật ra người Pháp ở Việt Nam rất ít so với số người Việt. Họ hết sợ thực dân nên đòi độc lập thêm khối liên Sô tìm cách kéo các nước anh em thế giới đại đồng càng nhiều càng tốt nên cũng cấp vũ khí đến đánh nhau với tây. Ở Paris có tổ chức MẶt Trận Giải Phóng Quốc Gia của Algérie (NFL) do ông Ben Bella cầm đầu, bỏ bom bú xua la mua ở pháp khiến Tây sợ lắm.


Tháng 12 cùng năm, ông lên tàu SS Pasteur và được điều sang Đông Dương. Đầu năm 1947, đơn vị của ông đóng tại Nam Định để chống lại lực lượng khởi nghĩa Việt Nam bằng các chiến dịch “tìm và diệt”. Tuy nhiên, sau khi chứng kiến các phương pháp tra tấn tàn bạo của quân Pháp đối với nông dân Việt Nam, thường dẫn đến cái chết và xâm hại dân thường, Kubiak quyết định rời bỏ vị trí của mình. Ông cùng hai người Đức và một người Áo trong Quân đoàn, những người có cùng suy nghĩ, lập kế hoạch đào ngũ và trốn vào rừng. Lính Lê dương đa số là người ngoại quốc, gia nhập để làm lại cuộc đời cho nên họ không trung thành với đế chế Pháp gì cả. Lính đức đào ngủ, sợ bị quy tội Nazi, phục vụ cho SS này nọ nên đăng lính Lê dương cho quên đời.


Với mục tiêu gia nhập cuộc đấu tranh giành độc lập của Việt Minh, những người châu Âu đào ngũ ban đầu gặp khó khăn trong việc tạo dựng niềm tin với người dân địa phương do ngoại hình và quân phục Pháp. Tình hình cải thiện khi một cậu bé Việt Nam dẫn họ đến gặp lực lượng kháng chiến. Phó của thủ lĩnh địa phương lại là một người Đức đào ngũ, điều này giúp họ dễ dàng hòa nhập. Chỉ trong hai tuần, họ đã được phân vào các đơn vị du kích.


Ông Kubiak bắt đầu nhiệm vụ với công việc táo bạo là phát tờ rơi tuyên truyền tại Nam Định, nơi trước đó ông từng đóng quân. Sau đó, ông tình nguyện vào lực lượng Vệ quốc đoàn và tham gia nhiều cuộc phục kích nhằm vào đoàn xe và đội tuần tra của quân Pháp. Ông cũng huấn luyện các chiến sĩ trẻ Việt Nam sử dụng vũ khí hiện đại. Với đóng góp tại Phủ Thông, ông nhận được huân chương Việt Nam đầu tiên. Tại miền Bắc, ông thể hiện kỹ năng sửa chữa nhiều loại vũ khí thu được như pháo, súng phóng lựu và súng cối. Sau trận Hòa Bình năm 1952, khi Việt Minh thu được nhiều khẩu pháo không sử dụng được, ông đã sửa chữa thành công, giúp lực lượng Việt Nam sử dụng chúng và được cấp trên ghi nhận.


Trong những năm tiếp theo, ông tham gia hầu hết các trận đánh lớn của cuộc chiến. Khi chiến đấu tại Phủ Thông, ông suýt chết do bị mảnh lựu đạn trúng mặt; dù bị thương nặng, ông vẫn dùng sức lực cuối cùng để ném trả quả lựu đạn vào hầm địch. Ông cũng suýt bị bắt khi yểm trợ đồng đội rút lui tại Sơn Tây. Trong Quân đội Việt Minh, ông được đặt biệt danh “Toán” nhờ khả năng chiến thuật xuất sắc, đặc biệt trong chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại tướng Võ Nguyên Giáp giao cho ông chỉ huy một đơn vị pháo binh. Ông được xem là một chiến sĩ tài năng, góp phần phá vỡ phòng tuyến khó khăn nhất của địch bằng cách cải trang thành sĩ quan Pháp, tạo điều kiện cho quân Việt Nam xung phong chiếm cứ điểm. Với chiến công này, ông được thăng cấp đại úy và nhận thêm huân chương. Chi tiết này cho thấy cũng là chiến thuật hay của Việt minh. Tưởng tượng lính tây và Việt Nam đang đánh nhau thì có tên da trắng xổ tiếng pháp, thế là họ ngừng bắn thì bị giết ngay. Lạ không thấy Hà Nội kể về nhân vật vật này.


Dù là người nước ngoài, Kubiak được Việt Minh rất kính trọng, thậm chí còn được Chủ tịch Hồ Chí Minh nhận làm con nuôi và ban cho tên đệm danh dự “Hồ Chí”, ghi nhận đóng góp của ông trong cuộc đấu tranh dành độc lập của dân tộc Việt Nam. Sau khi Chiến tranh Đông Dương kết thúc năm 1954, ông Kubiak được chuyển về Hà Nội và tiếp tục phục vụ trong quân đội, nhưng với vai trò phóng viên của Báo Quân đội Nhân dân.


Ông đôi khi sang Cộng hòa Nhân dân Ba Lan, được ân xá cho việc đào ngũ trước đây và làm phiên dịch cho các đoàn quân sự Việt Nam. Ông định cư tại Hà Nội và năm 1956 lập gia đình với một phụ nữ Việt Nam tên Nguyễn Thị Phượng, cũng theo Công giáo; họ quen nhau nhờ Franciszek Zwierzyński, một người Ba Lan làm việc tại Việt Nam trong Ủy ban Kiểm soát Quốc tế. Hai người có hai con trai: Hồ Chí Thắng (sinh năm 1956) và Hồ Chí Dũng (sinh năm 1958). Do vết thương tái phát và bệnh sốt rét nặng, ông Stefan Kubiak lâm bệnh nặng năm 1963 và qua đời tại Hà Nội ngày 28 tháng 11 năm đó, hưởng dương 40 tuổi.

Mộ phần của ông Stefan Kubiak, tên việt là Hồ Chí Toán.


Theo nguyện vọng cuối cùng của ông, vợ và các con tại Ba Lan được biết đến với tên Teresa Kubiak cùng hai con Stefan và Wiktor đã chuyển từ Việt Nam về Ba Lan năm 1964 và sống tại Łódź. Mộ của Stefan Kubiak nằm tại nghĩa trang Văn Điển, cách trung tâm Hà Nội 11 km; trên bia mộ, ngoài chữ tiếng Việt còn có dòng chữ Ba Lan: “Tu spoczywa Polak, bohater narodu wietnamskiego, uczestnik bitwy pod Dien Bien Phu” (Nơi đây yên nghỉ một người Ba Lan, anh hùng của dân tộc Việt Nam, người tham gia trận Điện Biên Phủ).


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 


Tái xuất giang hồ

 Tái xuất giang hồ

Tuần rồi mình đi theo thằng đến chỗ họp về buôn bán nhà cửa. Gặp lại vài người quen khi xưa, nay vẫn kiên trì mua nhà này nọ trong khi mình lên núi 12 năm qua trồng bơ. Khi không có nhiều tên chả biết là ai, ở đâu, thường được gọi là flipper, nhắn tin hỏi có còn mua nhà cửa hay không rồi gửi các địa chỉ mấy căn nhà họ mới thoả thuận với chủ nhà. Nếu mình thích thì vào escrow rồi khi xong chuyện thì họ bỏ túi bao nhiêu đó tuỳ trường hợp. 



Thứ 4 tuần này mình và thằng con chạy lên Los Angeles xem 6 chung cư mà mấy tên trẻ mới mua xong và đang chuẩn bị sửa chửa để cho thuê. Họ cần mượn tiền để mua nhà với tiền lời trả trong một năm nhưng mình muốn làm partner thay vì cho vay. Họ xây thêm ADU, ở vùng Los Angeles nếu chung cư là 4 căn thì có thể xây thêm 4 ADU. Họ nói là sửa chửa xong thì cho housing mướn. 1 phòng ngủ, 1 phòng tắm được chính phủ trả $2,300 và $2,800 cho 2 phòng ngủ và 1 phòng tắm. Nghiệm lại có lý vì khi xưa mình hay cho housing mướn khi thị trường địa ốc te tua. Mấy ông thần trẻ này có biết tòa mua từ nhà bank đấu giá,… nhà cửa ở Cali xuống thấy rõ. Vấn đề là chưa trầm trọng như trước đây vì Cali thiếu 5.5 triệu căn hộ cho dân số 40 triệu người, chưa kể người di dân lậu.


Họ cho biết là trung bình với thợ của họ là $150/ sq.ft để xây cất. Mình thấy tạm ổn. Dạo này thợ cần việc làm nên lấy rẻ lại không như trước đây, kêu họ, chả thèm trả lời hay phải cả tuần sau mới gọi lại. Điển hình, họ mau 4 căn hộ giá $950,000 rồi sửa sang một chút rồi tái tài trợ để trả cái nợ $950,000, đâu $1,500,000 rồi lấy tiền đó để xây 4 ADU. Xong xuôi, cho thuê 8 căn hộ giá $2,800/ căn xem như $20,000 tiền thuê mỗi tháng. Năm năm nữa nhà lên cao lại thì tái tài trợ rút vốn ra để mua thêm nhà khác.


Vấn đề là họ sửa chửa quá sang. Mình thì sơ sài đủ cho thuê, đây họ xây, sửa chửa đồ xịn như lót phiên đá cho nhà bếp mới, đủ trò như để dọn vô ở. Hồ hởi xây cất những căn nhà đẹp để cho housing mướn giá bèo. Nếu ở các khu vực sang trọng thì cho mướn trên $5,000/ tháng thì nên chớ đây thì không nên, nhất là trong các khu vực không an ninh lắm.


Đi xem xong mình mời 3 ông thần đi ăn. Họ gốc mễ nên kêu đi ăn Javier khiến mình thất kinh. Mình thấy họ chạy xe Anh quốc loại chiến đấu. Thêm ăn ở tiệm sang nên nói với thằng con, khi đi mượn tiền đừng bao giờ mời người cho mượn tiền ăn uống ở tiệm ăn sang trọng. Họ thấy vậy là không cho mượn tiền liền. Đi ăn ở MacDonalds hay gì đó, rẻ rẻ một tị. Không ngờ ăn xong họ đòi trả tiền nên mình miễn dành trả tiền.


Mình nói họ chịu khó nhưng cẩn thận. Lo làm xong hết các đồ án trước khi mua các chung cư mới. Vì đang làm 6 chung cư mà họ kêu đang vào escrow thêm 2 chung cư khác. Chớ cứ nhây các đồ án ra rồi chả căn nào cho mướn hết mà tiền lời phải trả mỗi tháng cho mốt chung cư là $10,000 vì chi $60,000/ tháng hay $720,000/ năm là hết lời.


Trên đường về mình nói thằng con tìm mấy chung cư để mua cho thuê rẻ Housing nhưng chắc ăn. Dân tình ở trung bình 20 năm. Kỳ này thì mình giúp mấy đứa con mua và sửa chửa cho chúng chớ già rồi, chả muốn mua thêm gì nữa. Mình không muốn hy sinh đời bố củng cố đời con nữa, giúp mấy đứa con tậu nàh cho thuê là khoẻ đời Út Trà Ôn. Năm nay chắc sẽ Không đi đâu chơi, ở nhà lo kiếm chung cư mua cho mấy đứa con. Chúng đi làm, để dành tiền thì mình giúp thương lượng để chúng mua đứng tên cho vui đời cô lựu.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Từ làng Kế mÔn đến Đà Lạt

 Từ Kế mÔn đến Đà Lạt


Mình sinh ra và ở Ấp Ánh Sáng đến khi vào học Petit Lyce’e mới dọn về đường Hai Bà Trưng. Hồi nhỏ học trường Ấu Việt, đi qua cầu Bá Hộ Chúc rồi rẽ đường Đoàn Thị Điểm dọc con suối Cam Ly, song song với đường Cường Để là đến trường. Chỉ nhớ ấp Ánh Sáng toàn là dân Huế ở xung quanh như gia đình Bác Cháu, bán mắm ngoài chợ, gia đình Dì Bơn,… có thể nói Ấp Ánh Sáng là ấp của người Huế di cư vào Đà Lạt mà đông nhất là dân làng Kế Môn. 


Đà Lạt có Ấp Hà Đông, gần Mả Thánh do người từ vùng Hà Đông di cư vào thành lập. Mình có anh bạn học có ông bố khi xưa ở Hà Nội làm cho một công ty người Pháp về cây cỏ. Ông bố được đưa vào Đà Lạt để xem thử có thể trồng trọt rau quả như ở pháp kiểu poireau, xà-lách, khoai tây,… sau này ông Hoàng Trọng Phu, tổng đốc Hà Đông, đem người vào Đà Lạt để trồng trọt rau quả của người Pháp. Lâu rồi, về Đà Lạt, có anh bạn chở mình đến một trung tâm hay viện bảo tàng của người di dân từ Hà Đông vào.


Ngoài ra khu Số 4, cũng toàn dân từ Huế vào. Có lẻ vì Vậy người ta gọi Đà Lạt là Huế Cao Nguyên. Dân gốc Quảng thì gọi Quảng Nam Cao Nguyên,… thường người Huế vào Đà Lạt làm ăn, rồi khấm khá thì về làng đem con cháu, bà con vào giúp họ. Như trườn thợ bà cụ mình, năm 15 tuổi, có người bà con về Huế, nói với mệ ngoại mình cho đem mẹ mình vào Đà Lạt giúp việc. Tiền lương thì gửi thẳng cho mệ ngoại.


Họ hàng thì tin tưởng hơn chớ người đâu khơi khơi mướn cũng ớn. Nhớ có lần có một chị người làm gốc Quảng giúp việc cho mẹ mình. Rồi một ngày đẹp trời, chị ta biến mất. Hỏi ra chị ta nằm vùng, cảnh sát đặc biệt theo dõi, suýt bắt. 

Tiệm vàng đầu tiên ở Đà Lạt do ông Bùi Duy Chước, làng Kế Môn, Thừa Thiên thành lập


Mấy tên học chung với mình khi xưa như Bùi Văn Đông, Hoàng Ngọc Ánh,…đều là dân gốc làng Kế Môn, một làng nổi tiếng về nghề kim hoàn. Có tiệm vàng Kim Thịnh thì không phải gốc Kế môn. Cách đây đâu 2 năm mình bay qua Boston để ăn cưới cô cháu thì có một bà hỏi mình: “biết ai đây không?” Khiến mình như bò đội nón, chắc chắn chưa bao giờ gặp trên đời. Hoá ra là con gái đầu của tiệm vàng Hoàng Ngọc Bửu, chỗ khu Hoà Bình, chị của Hoàng Ngọc Ánh. Năm ngoái có gặp lại Bùi Thị Hoa, em gái Bùi Văn Đông, con Bùi Vàng khi về Paris. Còn thì lâu lâu vẫn nghe tin tức của con tiệm vàng Kim Thịnh, cũng học chung khi xưa trên mạng.

Thấy dân Đà Lạt tải tấm ảnh này lên mạng nên tải lại để Michel Phong Văn Gừng, học chung khi xưa nhìn lại. Năm ngoái mình có gặp lại anh chàng ở Melbourne, Úc đại Lợi

Ngoài ra lâu lâu cũng có tin tức Lâm Quốc Dũng, con bà Bùi Thị Hiếu, mình quên tên ông bố, họ Lâm gốc hoa. Có lẻ ông chồng bà Bùi Thị Hiếu cũng là dân thợ bạc. Bà Bùi Thị Hiếu quen bà cụ lâu lắm rồi khi còn con gái. Mỗi lần bà ta bên pháp về Đà Lạt, đều ghé thăm bà cụ mình. Năm bà cụ sang Pháp thì đúng lúc bà ta lại về Đà Lạt. Sau này nghe nói bà Bùi Thị Hiếu bệnh rồi mất tại Đà Lạt.

Tiệm vàng và tiệm Cầm đồ Bùi Thị Hiếu, con gái đầu của ông Bùi Duy Chước. Hình phục chế
Thấy ai tải lên mạng, nói đây là chữ viết của mẹ khi làm việc cho bà Bùi Thị Hiếu. Chữ rất đẹp.

Nhưng nếu nói về những người đầu tiên làm nghề kim hoàn tại Đà Lạt, thì có thể chia thành 2 nhóm lớn: thợ bạc Huế, làng Kế Môn, là nhóm rất quan trọng. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều gia đình người Huế theo chân công chức triều đình, giáo chức, quân nhân, và giới trung lưu lên Đà Lạt sinh sống. Trong số đó có các thợ kim hoàn gốc Kế Môn, làng nghề bạc nổi tiếng của Thừa Thiên Huế. Họ mở tiệm vàng nhỏ, quầy sửa nữ trang, và xưởng thủ công gia đình. Các tiệm này thường không lớn nhưng có uy tín vì làm tay rất kỹ và giữ chữ tín. Tiệm đầu tiên được mở có lẻ là tiệm Hùng Thanh của ông Bùi Duy Chước, bố của bà Bùi Thị Hiếu, toạ lạc ngay góc đường Minh Mạng và Tăng Bạt Hổ.


Dân Đà Lạt xưa chắc ai cũng nhớ có chiếc xe bán sữa đậu nành ban đêm ở ngay mấy bậc thang chỗ tiệm vàng của ông Bùi Duy Chước. Trời tối Đà Lạt lạnh lạnh, phà khói, ghé lại đây ngồi trên bậc cấp, cầm ly sữa đậu nành nóng, xoa xoa uống từng ngụm là thấy đời đẹp như trăng 16. Hôm nào có tiền sang sang kêu thêm cái bánh chuối là vui đời cô lựu. Cuộc đời quá đơn giản, nhẹ nhàng không như ngày nay.

Tiệm vàng Thương chỗ Photo Hồng Châu nhìn qua


Có tiệm vàng Kim Thịnh và Bùi Vàng ngay góc đầu Minh Mạng bên cạnh tiệm Anh Võ


Mình nhớ cách tiệm vàng Hùng Thanh mấy căn phố, có một tiệm do người Hoa. Lâu lâu ra tiệm Hiệp Thạnh chơi thì dì Thương kêu đi đây với dì. Rồi dắt mình đến tiệm này, nói chi với bà tàu, thấy bà ta đưa dì một cọc tiền bỏ vào ví. Tò mò mình hỏi, dì kêu là tiền thuê nhà. Nhà của ông bà Phúng, mình đoán là khi xưa, ông bà Phúng khởi nghiệp tại đây trước khi dọn về đường Duy Tân. Nên cho bà tàu thuê, cũng gần Hiệp Tam Kỳ của gia đình thằng Hùng học chung khi xưa. Không ngờ sau này mình cũng làm nghề cho thuê nhà. Chán Mớ Đời. Ai buồn đời thì đọc bài báo Việt Nam kể về gia tộc của ông Bùi Duy Chước.


Ông Bùi Duy Chước nghe nói chết trẻ, đâu 50 tuổi. Thời đó ông ta đi quá Cao Miên để mua vàng về làm nữ trang. Ông Trần Văn Phước, thị trưởng Đà Lạt dưới thời Ngô Tổng Thống, cũng sinh ra tại Nam Vang.


Có lần con gái tiệm hủ tiếu Nam vang và Lữ Quán Sàigòn có liên lạc với mình kể chuyện đời xưa. Nay mình khám phá ra mấy địa điểm này đều do ông bà Bùi Duy Chước làm chủ và cho thuê. Tương tự dãy nhà cạnh tiệm vàng Bùi Thị hiếu đi xuống đường Tăng Bạt Hổ cũng thuộc về gia đình ông bà Bùi DUy CHước. Có khách sạn gì tên Hoà gì đó. Cứ để đây rồi khi nào nhớ mình sẽ bổ túc thêm. À khách sạn Phú Hoà. Có tấm không ảnh chụp khu Hoà Bình của ông Bill Robie, thấy dãy khách sạn này dài lắm. Nếu mình không lầm htif dãy khách sạn Hoà Bình đường Minh Mạng, đối diện rạp xi-nê Ngọc Hiệp là của ông Ấn Độ, tiệm Saigonnais.


https://thanhnien.vn/theo-dau-xua-chuyen-cu-tiem-vang-dau-tien-o-xu-suong-mu-185580869.htm#:~:text=Nh%E1%BB%9D%2520l%C3%A0m%2520%C4%83n%2520uy%2520t%C3%ADn,C%C3%B9ng%2520n%C4%83m%2520b%C3%A0%2520Hi%E1%BA%BFu%2520l%E1%BA%A5y


Ngoài ra khi xưa ở Đà Lạt có nghề bán alpha, lon cho sĩ quan cũng hái ra tiền nhiều. Đà Lạt khi xưa có trường quân đội như Võ Bị, Chiến Tranh Chính Trị, trường Tham Mưu,.. nên có vụ gắn Alpha nên sinh viên Võ Bị khi được gắn Alpha phải ra Đà Lạt mua. Mình không nhớ mấy tiệm nào nhưng chỉ nhớ 2 tiệm Long Hưng của ông Đàng và tiệm Hiệp Thạnh ở số 9 và 11 Duy tân có bán. Mỗi lần sinh viên được gắn Alpha là ra đầy tiệm. Thấy ông Đàng phải may mấy cái ALPHA vào áo này nọ thêm bán lon cho sĩ quan. Không biết có bán mấy loại nhẩn của khoá họ ra trường hay không. Nhỏ quá nên không nhớ nhiều.


Hoàng Ngọc Ánh kể là bố anh ta học nghề và làm cho ông Bùi Duy Chước rồi sau này lập gia đình ra làm riêng, có tiệm Hoàng Ngọc Bửu ở ngay khu Hoà Bình, chỗ đường luồng từ nhà hàng Mekông đi qua. Mình nhớ cạnh tiệm Vĩnh Hưng của ông bà Võ Quang Tiềm, có một tiệm vàng tên Huỳnh Ngọc của ông bà Huỳnh Ngọc Cửu thì phải. Sau này họ dọn về Sàigòn. Có lần con cháu của họ có liên lạc với mình. Mẹ mình thì quen với ông bà chủ tiệm này. Khi xưa, mình làm Shipper cho mẹ mình. Thiên hạ mua đồ xong thì kêu mình xách lên tiệm cho họ. Mình đi bộ nên gọi walking shipper. Chán Mớ Đời 




Tiệm Tiến Đạt bán đồng hồ nhưng có thể bán vàng lá này nọ  


Người Hoa ở Đà Lạt tuy ít hơn Chợ Lớn nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong thương mại. Khu Hoà Bình là do người Tàu ở Đà Lạt hùn nhau để tân trang lại sau khi chợ Đà Lạt được xây. Tiệm vàng và Cầm Đồ Bùi Thị Hiếu, có thể nói của người Việt cũng có thể là người Tàu. Vì ông chồng bà Hiếu họ Lâm. Người Hoa họ thường mua bán vàng, đổi tiền, cầm đồ, và kinh doanh đá quý. Nhiều tiệm vàng người Hoa xuất hiện gần chợ vì gắn với mạng lưới thương mại từ Sài Gòn lên cao nguyên. Không biết tiệm Huỳnh Ngọc là của người Tàu hay người Việt.


Ngoài ra tuy ít nhưng có mấy tiệm của người Ấn Độ khi xưa ở khu Hoà Bình nên chắc họ có bán vàng vì người Ấn Độ mê vàng như ăn cà ri nị. Dạo đó còn nhỏ nên không để ý mấy chuyện này.


Tiệm Long Hưng mà khi xưa sinh viên Võ Bị và Chiến Tranh CHính Trị ra đây mua alpha và lon

Sau 1954, Đà Lạt phát triển mạnh: có trường Võ Bị, nhiều trường nội trú, và tầng lớp trung lưu đông hơn. Khi đó các tiệm vàng phát triển nhanh vì nhu cầu: nhẫn cưới, đồng hồ, huy hiệu quân đội, và nữ trang. Nhiều thợ bạc Huế trở nên nổi tiếng trong giai đoạn này nhất là những người gốc gác làng Kế Môn khiến người Huế rất tin tưởng.


Làng Kế Môn thuộc vùng Phong Điền, nay là xã Điền Môn, Huế, được xem là cái nôi nghề kim hoàn của xứ Đàng Trong và của triều đình Huế sau này. Theo sử cũ, làng hình thành từ thế kỷ XIV dưới thời vua Trần Anh Tông. Ban đầu dân làng sống bằng nông nghiệp và đánh cá quanh phá Tam Giang.  


Nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử nghề là cụ Cao Đình Độ, người được tôn là Đệ Nhất Tổ sư ngành kim hoàn Việt Nam. Tương truyền ông quê ở Thanh Hóa, rất ham học nghề kim hoàn và từng theo người Hoa để học nghề Ngân tượng từ các thợ bạc Trung Hoa. Mình đoán chắc ông ta cũng gốc hoa. Vì khi xưa người ta không dạy nghề cho người ngoại tộc.


Khoảng cuối thế kỷ XVIII, trong thời loạn Trịnh – Nguyễn rồi Tây Sơn, ông mang gia đình vào Thuận Hóa tìm đường lập nghiệp. Khi đi ngang vùng Ô Lâu gần Kế Môn, gia đình gặp nạn trên sông và được dân làng cứu giúp. Có lần mình đọc tin tức trên trang nhà của làng Kế môn thì được kể là ông Cao Đình Độ chạy giặc vào Nam thì đi ngang qua làng Kế mÔn thì thuyền ghe bị đắm chi đó nên chọn làng Kế mÔn làm quê hương thứ 2. 


Rồi sau này mới được vua triều đình Nguyễn tuyển vào nội cung. Khi sinh sống ở làng Kế Môn thì ông ta truyền nghề cho một vài người nhưng làng nghèo quá nên chả làm ra tiền đến khi được triều đình kêu vào cung thì làm ăn khấm khá nên dân làng Kế môn mới bắt đầu bỏ nghề làm ruộng, học nghề thợ bạc mong sau này vào triệu nội để làm việc kiếm ăn. Sau đó có người vào Đà Lạt, có người đi Nam vang làm ăn,.. Từ đó, nghề kim hoàn lan khắp nơi nhờ người làng Kế Môn. Dân làng này học nghề thợ bạc để kiếm ăn ở xứ người.


Con trai ông là Cao Đình Hương tiếp tục phát triển nghề và được tôn là Đệ Nhị Tổ sư. Hai cha con trở thành biểu tượng của giới thợ bạc miền Trung. Điều đặc biệt là nghề kim hoàn Kế Môn không chỉ làm trang sức đơn thuần. Người thợ phải học: luyện kim, kéo chỉ vàng bạc, chạm trổ, hàn, tạo hoa văn rồng phụng, và kỹ thuật filigree (đan chỉ kim loại cực mảnh). Nghề được giữ rất kín. Nhiều bí quyết chỉ truyền trong họ tộc hoặc cho con rể được tin tưởng.


Dưới triều Nguyễn, nhiều thợ Kế Môn được tuyển vào “Cơ vệ Ngân Tượng” trong kinh thành Huế để chế tác: đồ dùng hoàng cung, ấn tín, vật phẩm tế lễ, nữ trang cung đình, và đồ bạc nghi lễ. Vì vậy người Huế xưa thường xem thợ bạc Kế Môn là giới nghệ nhân quý tộc thủ công.


Ở Kế Môn hiện nay vẫn còn nhà thờ tổ nghề kim hoàn, mộ tổ, và lễ giỗ tổ nghề hằng năm. Trong lễ tổ, thợ kim hoàn thường cúng: búa, kềm, đục, lò nung, và các dụng cụ nghề. Họ quan niệm làm nghề kim hoàn phải có “đức tay”  tức sự trung thực và tinh sạch trong nghề. Vì nghề liên quan vàng bạc nên chữ tín rất quan trọng. Một người thợ gian dối sẽ bị cộng đồng nghề tẩy chay.


“Cơ vệ Ngân Tượng” là một trong những đơn vị thủ công đặc biệt nhất của triều Nguyễn, vừa là xưởng chế tác kim hoàn hoàng gia, vừa là cơ quan phục vụ trực tiếp cho hoàng cung ở kinh đô Huế. Chữ “Ngân tượng” (銀象) thời xưa nghĩa là nghề bạc, thợ kim hoàn, và nghệ nhân chế tác vàng bạc cho triều đình. Còn “Cơ vệ” là đơn vị trực thuộc hoàng cung, có tổ chức gần giống một “xưởng kỹ nghệ hoàng gia” nhưng nằm trong hệ thống nội vụ của triều đình.


Những người được tuyển vào Cơ vệ Ngân Tượng thường đến từ làng Kế Môn, các dòng thợ bạc ở Huế, hoặc gia đình kim hoàn có tiếng trong Đàng Trong. Được vào làm trong Ngân tượng là niềm vinh dự lớn vì nghề được triều đình bảo trợ, lương ổn định, và có địa vị xã hội cao hơn thợ thủ công bình thường. Nhiều kỹ thuật của Cơ vệ Ngân Tượng về sau truyền ra dân gian qua các làng nghề như Kế Môn. Từ đó hình thành mạng lưới thợ kim hoàn đi khắp Huế, Đà Lạt, Sài Gòn, Phnom Penh, rồi sang Mỹ và Pháp sau 1975. Cho nên ra Phước Lộc Thọ mà thấy tiệm vàng là đoán có người làng Kế Môn. Nói cho ngay nay thì nghề thợ bạc cũng không thịnh lắm vì nữ trang họ mua từ Hương Cảng hay tàu làm bằng máy, rẻ nên khó mà đo sức lại. Ngoài Phước Lộc THọ thì cũng có người làm nghề Kim Hoàn, đánh bóng nhẫn, vòng vàng cho vui thôi chớ nay người ta mua nữ trang làm bằng máy hết.


Mình không biết khi xưa ở Đà Lạt có vụ cướp mấy tiệm vàng hay không nhưng nghe nói sau 75 các tiệm vàng hay bị cướp. Có người quen ở Đà Lạt, có tiệm vàng, nghe nói bị cướp 2 lần. Hôm trước, thấy hình ảnh công an niêm phong một tiệm vàng nghe nói nổi tiếng ở Sàigòn rồi họ vác vàng bạc đi. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tìm lại mối tình toả nắng Yersin Đà Lạt xưa

 Tìm lại mối tình toả nắng Yersin Đà Lạt xưa


Có anh bạn kêu mày là “trung tâm nghe nhìn” như Việt Cộng gọi khiến mình thất kinh. Lý do là lâu lâu có người hỏi mình tên này ả nọ khi xưa ở Đà Lạt, khiến mình đã ngu lại còn ngu lâu, ngu bền vững, ngu có căn bản, ngu chuyên chính như người trồng bơ già. Buồn đời về già thiên hạ nghĩ quẩn, hỏi mình chuyện cỏi trên, chuyện đời xưa. Thứ nhất mình không ở ngoài phố, trung tâm thị xã Đà Lạt, thứ hai họ hỏi toàn những tên rất xa lạ như thằng Tuần, con Thảo thì Đà Lạt hay ở trường trong lớp biết bao nhiêu tên như vậy. Nếu cho thêm cái họ và ở khu vực nào hay tên bố mẹ thì hoạ may, vâng hoạ may thì mình còn mò mò trí óc nông dân một đời để tìm ra như vạch lá tìm sâu.


Hôm nay mình chép còm của một cô khi xưa học Yersin, sau khi đọc bài mình kể gặp lại tên bạn học chung khi xưa ở Virginia, gần 45 năm mới gặp lại. Mình gửi cho tên bạn học một thời đi học rồi kêu có cô nào nhớ nụ cười của mày khi xưa. “Làm sao mà quên được ánh mắt với nụ cười..." Tên này hỏi tên và họ nên mình cho hắn địa chỉ của cô nàng khi xưa ở Đà Lạt thì tên bạn kêu “Vậy là tao nhớ ra rồi. Họ và tên là Nguyễn Thị …. Chất có học Lycee’ . Có 1 lần, em viết cho tao câu thơ: 

Người đi qua nhà tôi ngày 02 bận. Mắt xa đưa nên chẳng thấy tôi buồn. Hồn lưu lạc chưa hề 1 chúa . Yêu 1 người ta dâng cả tình thương. Nếu mày có gặp nói cho tao hỏi thăm. Thanks!”.


Mình tải mấy câu thơ cho cô nàng thì cô nàng nói không phải thơ của cô ta nhưng chép ở đâu để gửi tặng tên bạn. Cô này biết mấy bà dì bà con của mình ở số 9 Duy Tân. Kinh


Mình đoán khi xưa học sinh đọc thơ con cóc của ai rồi chép lại truyền cho nhau như tên bạn học khi xưa, Dương Quang Trí, con ông Marcel ở đường Phan đình Phùng hay sưu tầm. Có lần hắn sưu tầm được bài thơ Bastos Luxe nên chậm rãi bóc gói thuốc Bastos ra , châm điếu thuốc với cái hột quẹt zippo rồi hít một hơi thuốc lá, nhìn xa xa về một phương trời vô định dù hắn không thuộc loại học sinh tiên tiến trong lớp, không biết giải toán hàm số hay hình học được rồi thốt ra:


Buồn những lúc cô đơn gối chiếc

Ánh lửa tù đốt cháy cả tương lai

Rồi hắn một tụ rồi rít thêm một làn hơi sâu như giúp hồn thơ sâu đậm hơn rồi phà khói thuốc ra từng vòng tròn như Lucky Luke chậm chậm rồi đọc tiếp:


Song cửa sắt ngăn đôi đời du đảng

Tiếc làm gì khi mối tình ta tan vỡ

Đúng lúc đó thằng Đa xen vào, kêu du đảng gì, mày gặp lính 302 là trốn mất tiêu đòi làm đu đảng. Mình nói đúng nhưng để nó đọc tiếp. Đang hăng say tiếp thu những lời vần thơ tình yêu mà tên đa cứ xen vào. Thằng Trí như quê một cục nên ngưng đọc làm neo khiến cả đám xúm lại năn nỉ nó đọc tiếp. Tên trí này nhà có vườn trên Đa Thiện nên to con, hay vác máy cày của bố nó đi cày thuê cho mấy vườn hàng xóm, được tiền hay hú bạn bè đi ăn chè. Trong đám nhà tên này là khá nhất nên hay bao bạn bè đi ăn chè Mây Hồng ở đường Tăng Bạt Hổ của bác Tám, quen mẹ mình.


Cuối cùng nó cũng muốn làm thi sĩ nên buột miệng đọc tiếp:

Ôi dĩ vãng tương lại và hiện tại

Sống làm gì với số kiếp lang thang  


Cái này đúng là tư tưởng hiện sinh của Jean Paul Sartre, làm sao nó mò ra được câu thơ đầy triết lý hiện sinh . Kinh


Rồi Trí hít một hơi dài khiến điếu thuốc bập bùng đỏ rực như mặt trời cách mạng nức nở trào ra thêm mấy câu:


Lời hẹn ước năm xưa em còn nhớ

U sầu buồn hởi cố nhân

Xe hoa đón rước người em gái, 

Em đã sang ngang lỗi hẹn thề.


Hắn đọc tới đây bổng không gian bổng trùng xuống, cả đám như rơi vào một loại dung dịch đong đưa buồn ná thở. Chả thằng nào có đối tượng nhưng nghe em đã sang ngang lỗi hẹn thề. Thì buồn vào hồn không tên, nói như kép Út Trà Ôn, ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên kinh Ngã 7 nhưng cô gái năm xưa đi lấy chồng trớt quớt.


Tên bạn học khi xưa, học ban C nên có vẻ văn chương thơ thi khá nhiều chớ ban B, như mình chỉ học toán vật lý không thì chả biết thi phú gì cả để cưa gái. Chỉ biết Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen.


Mình nói là cô nàng có gọi cho mày nhưng chả thấy bắt điện thoại. Hắn kêu sợ bị Spam nên không dám bắt điện thoại số lạ. Mình xem lại tin nhắn thì hoá ra cô ta để lạc số điện thoại nên xin lại. Phụ nữ về già lạ thật. Nếu quên thì lần lên lại tin nhắn ở phía trên thì ra. Nói cô nàng nhắn tin cho tao rồi tao gọi lại liền. “Mày nên đưa cho em Trang Văn học để em nghe tiếng hát của tao”. https://van-hocdalat.smugmug.com/MORE-GALLERIES/Đinh-Anh-Quốc-73-74


Tên bạn học này khi xưa được xem là trai chuyên chính Đà Lạt vì má hồng như gái Đà Lạt chính hiệu con nai vàng. Mấy người da trắng thì nhờ ở trên núi nên hồng huyết cầu nhiều nên khi trời nóng là má đỏ lên như đánh phấn. Có chị bạn học Couvent des Oiseaux kể là hay bị mấy bà sơ la, kêu sao dám đánh phấn đi học vì má hồng tự nhiên. Sau này xuống Long Xuyên vượt biển, phải lấy bùn xoa mặt đủ trò vì má hồng thì bố thằng tây nào cũng nhận ra không phải dân làm ruộng. Trai gái Đà Lạt mà về Sàigòn là thiên hạ mê như ngày nay họ mê tài tử ăn kim chi. Chán Mớ Đời 


Mình cũng nhớ mấy cô hàng xóm hay mấy cô học chung khi xưa, trời ấm lên làm mấy cô má đỏ môi hồng chỉ có vấn đề là mình rất khù khờ không như mấy tên bạn học của mình. Anh bạn chép miệng bên kia đường dây, kêu ngày xưa biết gì, chỉ có có được to xác chớ khù khờ chả biết gì. Bọn con gái chúng già dặn, nữ thập nam thập lục. Hắn như tiếc nuối ngày xưa khờ khạo, được gái yêu mến mà chả biết làm gì để tăng tốc mối tình hữu nghị.


Từ ngày tìm lại nhau, nói chuyện với hắn mới khám phá ra khi xưa hắn có nhiều mối tình toả nắng. Lâu lâu buồn đời, lái xe xa nên mình gọi hắn nói chuyện cho quên đường dài. Hắn thì về già chả biết làm gì ngoài rửa chén nấu cơm nên vác đàn ra đánh đàn hát nhớ lại những mối tình tỏa nắng khi xưa ở Đà Lạt trong khi mình thì làm vườn chết bỏ con gà kê. Chán Mớ Đời 


Dạo này bẫy mấy con sóc cho coyote ăn nên chúng có vẻ thân thiện, đi gần mình xem có sóc cho chúng ăn hay không. Chớ khi xưa, thấy mình từ xa là chúng bỏ chạy như dân miền nam khi xưa gặp Việt Cộng. Khiến Việt Cộng tức giận vì không thực hiện được chiến tranh nhân dân vùng lên đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Dân tình nghe Việt Cộng đến đâu là bỏ chạy đến đó, cứ bỏ chạy khiến chúng điên lên nên pháo kích trên đại lộ mà thiên hạ gọi là “đại lộ kinh hoàng.” Năm 75, khi chạy di tản về Bình Tuy, gia đình mình suýt chết vì pháo kích của Việt Cộng. Có chiếc xe Lambretta chở một đám chạy bóp kèn in ỏi nên ông cụ để cho họ chạy qua mặt rồi 5 phút sau, thấy xe Lambretta banh ta lông, xác người lăn lóc bầy nhày. Nói như người xưa, ăn cổ đi trước chạy giặc đi sau.


Cuộc đời mình khi xưa lạ lắm, hình như có khiếu về đưa thư dùm thiên hạ. Có lần tên học chung là chủng sinh thừa sai, đi tu, chắc để trốn đi quân dịch vì lớn hơn mình đâu 4 tuổi chi đó nhưng còn vấn vương chuyện nợ tình đời nên lấy địa chỉ nhà mình rồi viết thư cho cô nào ở nHa Trang rồi cô ta gửi lại nên mình làm người đưa thư bất đắc dĩ cho những mối tình qua Tìm bạn bốn phương mà ngày xưa báo chí Việt Nam Cộng Hoà hay đăng. 


Qua Văn Học thì có hai tên: Huỳnh Kim Sang (11B) và Trần Văn Hiệp (11A), hai tên này đá banh ở sân vận động đường Cộng Hoà với mình mỗi chiều, nhờ đưa thư cho Nguyễn Thị … và Nguyễn Thị ... Rồi hai ả này lại đưa thư nhờ mình trao lại miễn phí. Rồi một ngày đẹp trời bổng nhiên mây giăng kín bầu trời Đà Lạt, Việt Nam Cộng Hoà ra lệnh đôn quân nên mấy ông thần sinh năm 1955, phải xếp bút nghiêng theo việc đao cung. Cũng chấm dứt luôn nghề đưa thư trai gái trong lớp của mình. Chán Mớ Đời 


Nhớ trong lớp có tên Tuấn, ở gần xóm, vào lớp hắn cứ hát kêu Nguyễn Thị …... Tên này cũng đá banh với mình nên hay hỏi mình vụ đưa thư dùm cho Trần Văn Hiệp vì hắn kết Nguyễn Thị … Sau này về Đà Lạt, nghe bạn bè nói hắn lấy Nguyễn Thị …. Nghe nói hai vợ chồng đối choại rất nhiều vì dành nhau lên thiên đàng. Lên thiên đàng thì kêu không muốn gặp nhau, phải lên trời hai đứa hai nơi, dù phải lên trên trời. Vấn đề là một người lên thiên đàng thì kẻ kia phải xuống địa ngục. Nên cả xóm phải nghe hai vợ chồng dành nhau lên thiên đàng. Mình thì chấp nhận xuống địa ngục để đồng chí gái lên thiên đàng nên không cải cựa gì nữa.


Hôm nay, vừa đi vườn về thì anh bạn gọi điện thoại kêu đã nói chuyện với Lá Diêu Bông ngày xưa rồi. Tao đang ngủ bổng nhiên điện thoại reo, 11 giờ đêm. Hoá ra cô nàng gọi nói chuyện mấy tiếng đồng hồ. Khiến tao hết ngủ. Chán Mớ Đời  (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn