cháu bà nội tội bà ngoại

 Bà Ngoại ô sin


Đọc câu chuyện trên mạng xã hội của một bà Mỹ kêu hy sinh đời mẹ củng cố đời con rồi cuối cùng bà ta Chán Mớ Đời bỏ nghề làm ô sin cho con và kể lại câu chuyện thấy hơi quen quen. Như người Việt hay kêu “sống không cho ăn, chết làm văn tế ruồi “Bà Alice kể hôm qua bà ta tự ý thôi việc, không báo trước cho chủ hai tuần như luật lệ quy định, bà ta không thu dọn bàn làm việc mà chỉ để xuống bàn miếng bánh gâteau, lấy cái ví của mình và bước ra khỏi nhà của cô con gái. Không ngoáy đầu lại. 

Bà ta cho biết chủ của bà là chính cô con gái tên Jessica. Từ 6 năm qua bà tưởng tiền lương là tình yêu của con cháu dành cho bà nhưng từ hôm qua bà ta giác ngộ cách mạng là nền kinh tế hiện đại của gia đình bà ta, tình thương không giá trị bằng cái iPad. 


Bà Alice cho biết trên giấy tờ của chính phủ, bà là y tá về hưu với số tiền hưu trí ít ỏi nhưng trên thực tế bà làm việc toàn thời gian như lái xe đưa cháu đi học, nấu ăn rồi dạy hai đứa cháu làm bài tập. Như bà Clinton nói về câu ngạn ngữ phi châu “cần một làng để nuôi nấng và dạy một đứa bé nên người”, bà ta tự xem là ngôi làng tại Hoa Kỳ với một bà già chăm sóc hai đứa cháu và nấu ăn cho cả hai dùm con gái, được bồi dưỡng bởi cà phê và thuốc chống đau nhức. 


Con gái bà làm trong ngành tiếp thị, con rể làm trong ngành tài chánh. Cả hai đều theo đuổi giấc mơ Hoa Kỳ nên bị stress khi tiền chăm trẻ lên đến $2,500/ tháng. Khi đứa con thứ hai được sinh ra, con gái và con rể nhìn bà ta như van lơn cầu cứu như thầm nói thương con thì phụ giúp con. Tụi con không có khả năng trả một người bảo mẫu” nhất là tụi con không tin người lạ, chỉ tin mẹ thôi. Với tình mẫu tử bao la như biển trời lai láng, bà ta hy sinh đời mẹ củng cố đời con thế là chấp nhận làm ô sin không lương. 


Mỗi ngày bà ta thức giấc vào 5:45 sáng, lái xe 20 phút đến nhà con gái, làm điểm tâm cho cháu, thay quần áo rồi chở cháu đến trường. Trở về nhà bà ta giặt áo quần lau chùi nhà cửa rồi đi đón cháu, chở chúng đi đá banh, học đàn piano, giúp chúng làm bài tập. Đến chiều tối mới lái xe về nhà, uống thuốc đau nhức rồi đi ngủ để mai dậy sớm tiếp tục hy sinh đời mẹ củng cố đời con. Bà ta không cho cháu xem truyền hình trước khi làm xong bài tập, ăn uống đàng hoàng không có pizza hay đồ ăn biến chế và đối xử tốt với nhau. Đúng là một bà ngoại gương mẩu của thế kỷ 21.

Ngoài ra còn có bà nội của mấy đứa, bà sui gia ở Florida. Bà ta sống ở Florida gặp chúng mỗi năm hai lần. Bà ta thuộc dạng giai cấp thượng lưu, đi căng da mặt hàng năm, chơi pickleball, đi du thuyền hàng năm với bạn bè. Kiểu cháu bà nội tội bà ngoại. Bà sui không biết là cháu bà bị dị ứng với thuốc nhuộm tóc của bà và không bao giờ chùi dọn khi cháu bà ta ói trên xe. 


Hôm qua là sinh nhật của đứa cháu ngoại đầu Noah. Bà Alice đã dự trù từ lâu, tiền hưu ít, lạm phát nhất bà ta muốn tặng cháu cái gì có ý nghĩa. Sau một ngày làm việc không công ở nhà con gái, bà ta về nhà thức khuya đan cái mềm cho cháu. Và làm cái bánh tây sô cô la mà thằng cháu ưa thích. 


Lễ sinh nhật dự định vào lúc 4 giờ chiều nhưng bà Alice đã bắt đầu chùi dọn từ 7 giờ sáng và trang trí căn nhà để đợi khách đến. 4:15 chiều chuông reo, bà ra mở cửa, bà sui bay vào nhà như cơn lốc kèm theo mùi nước hoa đắt tiền. Bà ta rống lên kêu mấy hoàng tử của bà nội đâu, hai đứa cháu trong phòng chạy ra la hét bà nội bà nội.


Bà ta đưa cho chúng hai gói quà, chúng xé toạc giấy bao trong khi con gái và con rể kêu mẹ cho chúng nhiều quá. Mỗi đứa được một cái iPad để chơi game. Bà sui kêu không biết mua gì cho chúng nên hỏi ông chủ tiệm và được biết đây là món quà con nít thích nhất đương thời. Hai đứa bé như điên dại reo la mừng nức nở trong khi hai vợ chồng kêu mẹ làm hư chúng này nọ một cách xã giao thì bà sui kêu đó là bổn phận của bà nội. Sông có thể cạn núi có thể mòn song chân lý ấy không bao giờ thay đôi. 


Bà Alice đứng ở nhà bếp, cầm cái mền mà bà ta bỏ nhiều tháng để đan xong. Bà cảm thấy vô hình, không có trong cặp mắt của mọi người. Bà ta bước đến thằng cháu Noah, kêu cũng có quà cho cháu. Bà đan cho cháu cái mền và làm cho cháu cái bánh tây, chúng ta hát chúc mừng sinh nhật cháu nhé. Thằng bé không nhìn lên, chăm chú chơi game trong cái IPad và nói khoan đã bà ngoại, để con chơi xong đã. Bà Alice kêu bà mất cả ba tháng để đan cho con, thằng bé kêu đâu có ai thích cái mền đâu bà ngoại, tiếp tục chăm chú chơi game. Bà nội cho tụi con IPad, chán bà quá.


Bà Alice đứng lặng thinh, nhìn cô con gái, hy vọng cô ta nói điều gì để thằng cháu cảm ơn bà ngoại. Ngược lại cô con gái kêu thằng bé chỉ mới 9 tuổi, nó thích cái IPad hơn là cái mền của mẹ đan. Liam, thằng bé bảy tuổi, chen vào, miệng đầy kẹo bà nội cho:Con ước bà nội sống ở đây. Bà không bắt tụi con làm bài tập. Bà dễ thương.” Bổng nhiên có gì nghẹn nghẹn trong lòng, cay cay trong mắt bà Alice, như tiếng đứt của sợi dây căng suốt 6 năm nay. Bà ta nhìn đôi bàn tay gầy guộc, đã rửa chén, giặt áo quần, làm ô sin cho con, hai bàn tay đã ôm hai đứa cháu vào lòng khi chúng bị ốm. Bà ta nhìn bà sui với bộ đồ hàng hiệu mà bà ta có ước bao nhiêu cũng không bao giờ mua sắm được. Bà nhìn cô con gái đang nhâm nhi ly rượu, thong thả vì biết bà ta sẽ rửa chén sau khi tiệc tan.


Bà ta gấp cẩn thận cái mền do chính mình đan, đặt nó lên bàn và kêu con gái. Cô con gái quay lại hỏi: “gì vậy mẹ? Mẹ cắt bánh đi, tụi nhỏ đói rồi.” “Không.” Đó là lời bà Alice khiến cô con gái cau mày “Gì cơ?” Bà nói không, thật ra mẹ đã xong rồi. Cô con gái hỏi “Xong cái gì? Xong cái bánh à?”. Bà Alice nổi điên kêu “Xong hết.” Rồi cởi tablier để cạnh cái mền. Rồi với giọng lạnh lùng, bà ta nói mấy đứa cháu nói rất đúng, mẹ chán mới đời. Mẹ là người ô sin. Mẹ mệt lắm rồi làm đầy tới nhân dân cho mọi người. Ngay lúc đó bà Sui gia kêu Alice đừng làm thế, chắc bà bị hậu mãn kinh, chán đời sau khi nghỉ hưu.


Bà Alice nói chúc bà vui vẻ, tôi nghĩ bà là người nhà nên chắc chút nữa giúp con dâu bà thanh toán đống chén dĩa và đống đồ giặt trên lầu. Rồi bà ta bước ra cửa. Lúc đó cô con gái bắt đầu nhận thấy sự việc nên hét lên “Mẹ đi đâu vậy? Con có buổi thuyết trình ngày mai! Ai đưa tụi nhỏ đi học? Ai trông chúng?” Bà Alice kêu mẹ không biết, hay con bán 1 cái IPad để mướn người ô sin chuyên nghiệp hơn hay kêu bà nội ở lại giúp.


Lúc này thằng bé ngước lên khỏi màn hình, cảm nhận được có sự khác biệt trong cách ăn nói của người lớn. Rồi hỏi “Bà ơi? Mai bà có đến không?” Bà Alice nhìn cháu nhẹ nhàng nói: “Không cháu. Ngày mai con sẽ được tự do khỏi luật lệ của bà. Chúc may mắn.” Bà bước ra chiếc xe, ngồi vào ghế lái. Và chỉ hít thở.


Điện thoại reo không ngừng suốt hai mươi bốn giờ. Cô con gái nhắn tin từ giận dữ đến van xin “Mẹ phá hỏng sinh nhật Noah rồi.”“Con xin lỗi, con không cố ý.”“chồng có cuộc họp, tụi con không xoay xở được, làm ơn mẹ.” Bà Alice không trả lời. Sáng dậy lúc 9 giờ sáng sau 6 năm trời làm ô sin không công để được lãnh sự lạnh lùng của con gái cũng như cháu ngoại. Bà ta pha cà phê, ngồi nơi hiên nhà, ngắm nhìn trời đất. Bà ta chợt nhận ra không còn đau vai nữa vì không phải đeo ba lô nặng của hai đứa cháu ngoại.


Bà ta nhận ra một điều tuy hơi muộn, nhưng hy vọng chưa quá muộn. Ở nước Mỹ, chúng ta đã nhầm lẫn “gia đình” với “lao động miễn phí”. Chúng ta tự thuyết phục mình rằng yêu thương nghĩa là để bản thân bị vắt kiệt cho đến khi chỉ còn lại cái xác rỗng. Bà Alice yêu các cháu, sẵn sàng chết vì chúng nhưng bà không thể tiếp tục sống như một người ô sin cho chúng nữa. Bà tự nghĩ có thể sẽ tham gia nhóm chơi Pickleball như bà nội của hai đứa cháu làm.


Đọc câu chuyện này khiến mình thất kinh nhớ lại câu chuyện giữa đồng chí gái với con gái. Con gái và thằng bồ tính làm đám hỏi, đám cưới gì sang năm. Nó hỏi đồng chí gái có babysit nếu nó sinh con. Mụ vợ nổi hứng gật đầu. Kiểu này cho mụ sang New York làm ô sin, mình thì bay qua âu châu, đi bộ rong chơi một đời nông dân.


Còn mấy bác làm ô sin cho con, hy sinh đời ông bà củng cố đời cháu nội cháu ngoại có ý kiến gì?


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 









Hotel California

 “Hotel California”: Kiệt tác đưa Eagles lên đỉnh cao và kéo họ đến bờ tan rã


Nhớ thời sinh viên đi nhảy đầm là nghe bản nhạc Hotel California, xem như bản chính của buổi họp mặt thân hữu, khiến mình mơ một ngày nào đó, viếng cái khách sạn danh tiếng này. Sau này qua California lần đầu tiên, hỏi bạn bè khách sạn này nằm ở đâu thì họ cười quá cỡ thợ mộc, kêu chỉ là tưởng tượng trong trí của nhạc sĩ. Chán Mớ Đời 

Song đấu guitar giữa Don Felder và Joe Walsh

Cách đây mấy năm mình có xem cuốn phim tài liệu trên Netflix thì phải về sự hình thành và tan rã của ban nhạc The Eagles. Có lẻ khúc phim đầy ấn tượng là hai tay đàn Guitar Solo song đấu, tưởng như mày ngon hả, xem đây rồi kéo éo éo, phê không thể tả. Rồi hồi vuốt cây đàn cái vèo. 


Vào những thập niên 60, Los Angeles là vùng thánh địa cho những ai muốn nổi tiếng về âm nhạc. Có 4 ông thần từ xa đến để chơi nhạc kiểu (back up) cho ca sĩ Linda Ronstad. Họ hợp rơ với nhau khi lưu diễn với ca sĩ Linda Ronstad. Sau chuyến lưu diễn họ hợp nhau thành lập một ban nhạc. Họ thâu đĩa đầu tiên mang tên Eagles và đứng đầu suốt 5 tuần lễ.


Năm 1974, Don Felder được mời gia nhập ban nhạc dù không phải là một trong những người sáng lập. Ông Felder được khuyên là muốn làm nhạc cho ban nhạc thì chỉ làm nhạc thôi còn lời thì để hai ông thần chánh làm nên ông ta chỉ làm đâu 15, 16 bài, gọi là Demo, chỉ có 2 bản được thâu sau này là Nạn nhân của tình yêu (victim of Love) và Hotel California.

Trong lịch sử nhạc rock Mỹ, hiếm có ca khúc nào vừa là biểu tượng vinh quang, vừa là dấu mốc cho sự sụp đổ nội bộ như “Hotel California” của ban nhạc Eagles. Phát hành năm 1976, bài hát không chỉ đưa Eagles lên hàng ngũ huyền thoại, mà còn phơi bày và khuếch đại những mâu thuẫn đã âm ỉ từ lâu trong lòng ban nhạc. Thành công của Hotel California chính là con dao hai lưỡi: một mặt mở ra kỷ nguyên vàng son, mặt khác đẩy Eagles vào vòng xoáy quyền lực, cái tôi và sự chia rẽ không thể hàn gắn. Dù sau này vì tiền bạc họ có đoàn tụ để đi lưu diễn nhưng các thế lực thù địch vẫn không thể hoà hợp hoà giải được, dẫn đến tan rã hoàn toàn sau khi kiếm được một mớ tiền về hưu.


Đến ngày nay, thiên hạ cũng đặt câu hỏi về lời ca của bài hát này. Họ phỏng vấn hai người đặt lời ca thì hai ông nói mỗi khác, một cách triều tượng. Nghe kể hai ông này phải cách ly với ban nhạc mất mấy ngày để viết lời cho nhạc do ông Felder đã soạn. Có thể sau khi phê cocaine, họ tư duy đột phá viết ra những lời ca trên rồi chả nhớ lý do xuất khẩu thành thơ. Nay tìm cách nói bú xua la mua để nghe vì nghe càng chới với. Nhạc sĩ Việt Nam lấy thơ của ai rồi soạn nhạc trong khi đây họ làm nhạc trước rồi tìm cách soạn lời. Tương tự bài “The Sound of Silence” mà mình đã kể.


Trước Hotel California, Eagles vận hành tương đối dân chủ. Các thành viên cùng tham gia sáng tác, quyết định và chia sẻ ánh hào quang. Làm theo năn suất hưởng theo nhu cầu. Nhưng khi ca khúc trở thành hiện tượng toàn cầu, cán cân quyền lực trong ban nhạc lập tức thay đổi. Họ bắt đầu thấy tiền, trở thành tư bản nên không muốn chia đồng đều mà làm theo nhu cầu, hưởng theo năng suất. Don Henley và Glenn Frey, hai gương mặt nổi bật nhất, sáng lập viên, dần dần nắm quyền kiểm soát sáng tạo và định hướng nghệ thuật. Nghe phỏng vấn tay guitar solo Joe Walsh, ông ta kêu chống chọi nhẹ lại, thậm chí đòi không cho ông ta tham dự ban nhạc. Nếu không chúng ta sẽ không thấy màn song đấu đàn guitar giữa ông ta và Don Felder. Những thành viên khác, đặc biệt là tay guitar Don Felder, bắt đầu cảm thấy mình bị đẩy ra rìa dù nhạc do chính ông ta sáng tác. Quyền quyết định không còn thuộc về tập thể, mà tập trung vào một số ít cá nhân, gieo mầm cho sự bất mãn kéo dài.


Năm 1994 khi ban nhạc được kết hợp lại để đi tour thì hai ông thần Don Henley và Glendale Frey kêu tiền bạc tụi tao lấy nhiều hơn vì có công nhiều hơn khiến ông Don Felder không chịu và bị cho ra rìa nên kiện tụng, phần ông Joe Walsh thì nghiện rượu và cocaine nhưng được ông Don Henley giúp cho vào trung tâm cai nghiện nên vẫn nhớ ơn, kêu không có Don thì đời tôi đã tiêu tùng.


Mâu thuẫn ấy càng trở nên sâu sắc quanh đoạn solo guitar đôi huyền thoại của Hotel California. Don Felder là người viết phần nhạc nền ban đầu, bộ khung tạo nên linh hồn bài hát. Thật ra khi mới được thành lập ban nhạc Eagles hát nhạc miền quê (country music) nhiều hơn như album “take it easy” nhưng thời cuộc đã thay đổi, ông bầu ban nhạc kêu phải thêm rock vào nên mời Don Felder và Joe Walsh tham gia hoàn thiện và cùng Felder trình diễn đoạn solo được ca ngợi là hay nhất lịch sử nhạc rock. Tuy nhiên, theo thời gian, Felder cảm thấy đóng góp của mình không được ghi nhận xứng đáng, đặc biệt trong các phát biểu công khai và câu chuyện được kể lại với truyền thông xem như bị cướp công cách mạng. Một đoạn nhạc từng là biểu tượng của sự hòa hợp nghệ thuật, nay trở thành biểu trưng cho cạnh tranh và oán giận. Ai buồn đời nghe “Take ít Easy” sau đây:


https://youtu.be/9KQKJLELs9w?si=bcrovXkH17VXB94_


Danh vọng và tiền bạc tiếp tục đổ thêm dầu vào lửa. Hotel California bán hàng chục triệu bản, hình như 30 triệu khắp toàn cầu, đưa Eagles vào các tour diễn sân vận động và mang lại nguồn lợi khổng lồ. Nhưng thành công không được phân bổ công bằng. Henley và Frey có nhiều quyền lực hơn, nhiều tiếng nói hơn, và trở thành gương mặt đại diện của ban nhạc. Trong bối cảnh đó, những mâu thuẫn vốn nhỏ bị phóng đại, biến thành xung đột cá nhân và đấu đá quyền lợi.


Trớ trêu thay, chính nội dung của Hotel California,  lời cảnh báo về cái bẫy của danh vọng, sự hưởng lạc và ảo tưởng tự do, lại phản chiếu đời sống thực của ban nhạc. Lưu diễn triền miên, lạm dụng chất kích thích, kiệt sức tinh thần và cái tôi nghệ sĩ va chạm liên tục khiến The Eagles dần trở thành hình ảnh mà họ từng phê phán trong ca khúc. “Bạn có thể làm thủ tục trả phòng bất cứ lúc nào, nhưng không bao giờ có thể rời đi”, (you can Check-out anytime but you never leave) câu hát ấy như một lời tiên tri cho số phận của chính họ. Ngày nay khi nói đến ban nhạc này, chúng ta đều nghĩ đến Hotel California. Coi cuốn phim tài liệu mới biết ban nhạc có nhiều nhạc phẩm khác nổi tiếng mà mình từng nghe trên đài phát thanh nhưng không biết là của họ.


Đỉnh điểm của sự rạn nứt đến vào năm 1980, trong chuyến lưu diễn The Long Run. Tại một buổi diễn ở Long Beach, Glenn Frey và Don Felder cãi nhau ngay trên sân khấu, thậm chí đe dọa nhau trong lúc biểu diễn. Không khí thù địch ấy khiến việc tiếp tục tồn tại như một ban nhạc trở nên bất khả thi. Không lâu sau, Eagles chính thức tan rã. Don Henley mỉa mai rằng ban nhạc sẽ không bao giờ tái hợp “cho đến khi địa ngục đóng băng”. Xem đường dẫn năm 1976, lúc bản nhạc Hotel California mới được ra đời.


https://youtu.be/pcGYDuw0YbY?si=pWwuQAeeiFHw9WXr


Mặc dù Eagles sau này tái hợp vào năm 1994 với tour Hell Freezes Over, vết nứt do Hotel California tạo ra chưa bao giờ thực sự lành lại. Don Felder cuối cùng bị sa thải năm 2001 và kiện lại ban nhạc, khép lại chương bi kịch kéo dài nhiều thập kỷ.


Ngày nay, Hotel California vẫn được tôn vinh là kiệt tác bất tử của rock cổ điển. Nhưng đằng sau giai điệu mê hoặc và đoạn solo huyền thoại là một câu chuyện cay đắng: bài hát đưa Eagles lên đỉnh cao cũng chính là khoảnh khắc họ đánh mất sự đoàn kết. Hotel California không chỉ kể về cái bẫy của giấc mơ Mỹ, nó còn là tấm gương phản chiếu bi kịch của chính những người đã tạo ra nó.


Mình xem đi xem lại không biết bao nhiêu lần đoạn song đấu guitar Solo của hai ông thần này. Ông Don Felder nói là ông ta viết cho hai người, nếu để ý thì cách ông ta đánh và Joe Walsh khác nhau nhưng mình có nghe nhưng chả thấy khác biệt lắm. Ai rành nhạc lý chắc sẽ thấy sự khá sức biệt. Mình theo dõi tay của họ đánh thì thấy khác biệt. Mình mới coi lại phần năm 1976 khi họ chơi đàn thùng thì có thấy sự khác biệt một chút còn khi họ chơi guitar điện thì eo éo luôn. 


Theo mình hiểu thì ông Don Felder viết nhạc cho bản Hotel California nhưng chưa có tên, chỉ đánh vòng vòng rồi thâu lại khi đang được cocaine phê. Sau đó hai ông thần chính mới bắt đầu viết lời. Từ đó họ sửa từng chữ một vì quá nổi tiếng qua các album trước nên nhà sản xuất cần cái gì độc đáo hơn.


Hình như ông Don Felder mới qua đời năm nay hay năm vừa rồi. Người làm lịch sử âm nhạc thời mình học đại học, mê nức nở rồi cũng qua đi. Tấm hình đăng trên bìa của đĩa hát là Hotel Beverly Hills ở Los Angeles. Lúc đầu khách sạn này tính thưa kiện nhưng sau thấy khách đến ở nhiều quá nhờ bản nhạc nên thôi.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

in sách bán hay tặng

 In sách bán hay tặng


Đi chơi về, thấy một phong bì dầy cộm, của người không quen gửi từ tiểu bang khỉ ho cò gáy nên chả hiểu là gì. Mở ra thì thấy cuốn sách của một ông thần lớn tuổi hơn mình, sinh sống đâu ở Úc Đại Lợi mà mình hay đọc bài của anh ta. Ông thần này bay bướm lắm, sinh sống tại nhiều quốc gia. Mình thích anh ta kể chuyện đời xưa, tán gái ra sao ở Sàigòn,… sau này có dạo, anh ta viết về ông Trump mà anh ta kêu Dượng khiến mình ngạc nhiên vì sống ngoài nước Mỹ mà lại chú ý đến chính trị tại Hoa Kỳ. Một fan cứng của ông Trump. Dân thích ông Trump thì hoan hô còn dân ghét ông Trump thì chửi banh ta lông. Hay đọc nhiều còm chửi của thiên hạ khiến nay mình ớn hết dám đọc bài vỡ về ông Trump nữa. Hình như báo chí ít đưa tin về ông Trump vì không câu khách nữa. Mình lo năm 2026 có thể kinh tế banh ta lông vì mấy ông thần về tài chánh mà mình theo dõi từ 30 năm nay đều xác quyết như vậy. Mình mong họ sai vì trước đây họ đã từng sai nhưng như cũng từng đúng. Mình nhắn tin tác giả cảm ơn đã gửi sách.

Bận áo này làm sao đi đứng

Đâu tháng trước, thấy anh ta kêu là đã in sách, và bay về Việt Nam để ra mắt và ký tặng này nọ. Thấy anh ta kêu cho địa chỉ gửi sách nên mình ghi danh. Ai ngờ đi chơi mấy tuần về lại nhận được từ fan cứng của anh ta tại Hoa Kỳ khiến mình ngạc nhiên. Mình tưởng anh ta bán nên tính gửi mua, ai ngờ lại cho không còn tốn tiền tem. Thấy lạ. Lý do là nông dân như mình, cái gì làm không ra tiền thì mình không thích làm. Viết bờ lốc để đầu óc bớt lộn xộn với những thứ nhảy múa chạy vòng vòng trong đầu.


Ngạc nhiên mình hỏi vòng vòng thì khám phá ra người Việt in sách đa số là bỏ tiền túi, rồi tặng thân hữu khiến mình thất kinh. Tặng họ, có chắc họ đọc không. Cái gì miễn phí, người ta không trân trọng. Hiệu Lá Bồ Đề thì thường ít ai trân quý lắm. Ngoại trừ bố mẹ mình.


Có người xúi mình gom lại mấy bài viết về Đà Lạt ngày xưa, in thành sách. Thấy cũng hay. Mình nghĩ nhờ ai đó biên tập lại những phần nhạy cảm, sửa chửa lỗi chính tả này nọ rồi in ra. Nếu lời thì giúp quỹ học bổng cho học sinh hay sinh viên nghèo. Hỏi lòng vòng thì thấy toàn thiên hạ in ra để tặng. Tốn tiền vô ích. Mình đã từng thấy nhiều người quen in sách bán không được để đầy nhà, khi dọn nhà nhờ mình chở đi quăng hay tặng cho thân hữu. Hay mỗi lần gặp mình, họ quên đã tặng trước đây nên ký tặng một lần nữa.


Có chuyện khác lạ nữa là ở Đà Lạt có ông thần hay viết bài về Đà Lạt. Rồi ông thần in sách, mình định lần sau về Đà Lạt, liên lạc mua một cuốn làm kỷ niệm thì gần đây, ông thần kêu có ông thần nào, lấy bài của ông thần rồi in ra sách về Đà Lạt. Ông thần kêu tên này mất dạy này lấy in 50% bài vỡ trong cuốn sách là của ông thần khiến mình thất kinh. Mình chỉ đọc những gì ông thần công bố trên mạng thì thấy ông thần viết sai chính tả “Lac Des Soupirs” thì ông thần in sách cũng không biên tập lại vẫn để y chang cái lỗi chính ta tiếng pháp. Nếu để bán thì có lý, đây bỏ tiền in bài người khác không nói tên tác giả để người ta lầm tưởng mình viết. Lại thấy con ông thần in sách viết trình bày tự gọi tôi là con ông thần đạo văn chi đó. Có kể là ông bố có viết trong thư ngõ, lời phi lộ nói là sưu tầm các bài viết về Đà Lạt này nọ. Nếu in để làm tiền thì nên trách vì không chia tiền còn in để chia sẻ thì không còn vấn đề.


Anh bạn học cũ, tiến sĩ Chử Nhị Anh, buồn đời biên tập 100 bài viết tiêu biểu của mình rồi bỏ lên Amazon. Anh ta mua đâu 10 cuốn để gửi về Việt Nam tặng mấy thầy dạy học khi xưa. 5 cuốn gửi cho một bạn học cũ đảng viên ở Đà Lạt thì trót lọt, còn 5 cuốn gửi cho anh bạn ở Sàigòn, không phải đảng viên thì bị công an văn hoá kêu lên thẩm vấn mấy ngày luôn nên sợ hết dám gửi cho thầy cô. Anh bạn bỏ công đọc bao nhiêu bài mình viết rồi biên tập sửa lỗi chính tả bú xua la mua, rồi in vài quyển gửi tặng thầy cô ở Việt Nam, chả được nhuận bút gì cả. Anh ta chỉ muốn chia sẻ những gì mình kể về Đà Lạt xưa, không gian dung dịch mà anh ta đã một thời thở trong vùng ký ức đó. Mình cảm ơn anh ta đã bỏ thời gian, biên tập, sửa lỗi chính tả rồi đăng lên Amazon. Đó là chuyện hiếm của một người bạn học xưa tuy không thân lắm.


Tương tự sau này, có người đề nghị làm bờ lốc cho mình thì mình cũng cảm ơn họ. Thứ nhất không ngờ đã có người đọc thứ hai lại có Fan cứng như chị hàng xóm khi xưa, hay cho mình mượn sách việt ngữ để đọc. Nhờ vậy mà ngày nay mình mới đọc được sách báo việt ngữ.



Đà Lạt lại có vụ này lấy bài của thiên hạ rồi in lại, không biết có bán hay không. Gần đây, có người hỏi mình là có dính dáng chi đến một khách sạn nào ở Đà Lạt, họ hay lấy bài của mình để đăng lại nhưng không để tên mình. Mình không để ý vụ ghi tên người viết, có thấy họ đăng lại nhưng thấy không có gì quan trọng lắm. Kiểu như họ thấy tin tức quan trọng đáng được phổ biến thì tốt thôi, chớ quyền tác giả đề tên tác giả này nọ, không có vấn đề. Ngày nay, người ta đóng góp cho Wikipedia này nọ, không ai nghĩ đến tên tuổi của họ, tương tự Linux được thành lập để người dân khắp thế giới sử dùng miễn phí. Nếu ai đó đăng tải lại bài của mình thì cảm ơn vì nếu không có họ thì ít người được cơ hội đọc. Còn đề tên tác  giả hay không không thành vấn đề lắm vì càng ít người biết đến mình càng tốt.


Nhưng nhiều người hỏi nên mình phải xác minh là không biết chủ khách sạn chia sẻ bài mình viết về Đà Lạt  là ai. Thì thấy dạo này khách sạn này hết đăng lại cũng có thể họ Block mình nên không thấy. Có dạo, một khách sạn ở Đà Lạt, đăng hình hồ Xuân Hương do ông Bill Robbie chụp khi tham chiến tại Đà Lạt. Bị ông ta kêu ai lấy hình tao thế. Ông Robbie có gửi cho mình mấy tấm ảnh do ông ta chụp khi tham chiến tại Đà Lạt. Qua ông ta mới hiểu chính ông ta gây quỹ giúp 4 học sinh của trường Trần Hưng Đạo và Bùi Thị Xuân. Giải mã được cái thắc mắc của mình khi thấy trực thăng mỹ đậu tước trường Trần Hưng Đạo và Bùi Thị Xuân. Ông ta có kể cho mình sự việc, lý do, mình có kể rồi.


Có lần mình gặp và ăn cơm với hai vợ chồng chủ nhà in Phương Nam Việt Nam tại nhà thân hữu. Nếu muốn có tiền thì phải qua mấy nhà in như vậy chớ còn tự in thì chỉ có lỗ. Vì in ra bán không được thì thà dùng tiền in sách, tặng học bổng sinh viên nghèo có lý hơn. Cuốn Mực Tím Sơn Đen của Chử Nhị Anh thực hiện, mình cũng chả có ở nhà. Mình có mua một cuốn gửi về cho bà cụ ở Đà Lạt. Xong om


Lần sau, có duyên gặp lại hai vợ chồng nhà in Phương Nam ở Sàigòn, hỏi thử thị trường đề tài Đà Lạt xưa có bán được không. Cách đây 20 năm mình về Sàigòn, thân hữu xúi đồng chí gái kéo gia đình chụp hình studio thì gặp nhiếp ảnh gia Tam Thái, người Quảng Nam. Trong khi vợ anh ta lo trang điểm cho vợ con mình, Ông này cho biết, đang chuẩn bị in cuốn sách về các biệt thự Đà Lạt thời tây. Sau này mình thấy thiên hạ tải hình ảnh của cuốn sách của anh ta nhưng chả thấy ai ghi chú là được trích trong sách của anh ta. Mình đoán chắc anh ta cũng chả bán được bao nhiêu. Chỉ làm vì đam mê. Cái gì đam mê là không đẻ ra tiền. Không ra tiền thì không nên làm. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

bán bệnh tật là nghề của bác sĩ

 Bán Bệnh Tật: Phơi bày cách ngành dược phẩm khổng lồ biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân

Sống tại âu châu hơn 12 năm nhưng mình chả bao giờ đi khám bác sĩ dù có bảo hiểm y tế nhưng khi sang Hoa Kỳ, sau khi lấy vợ thì đồng chí gái kêu đi khám bác sĩ mỗi năm theo định kỳ thì phác giác ra mình có bệnh đủ thứ trò. Vợ bảo thì phải phục tùng vì trai thuyền quyên. Đến khi mình bị gãy chân khi leo núi, nằm trên giường, buồn đời đọc 5 cuốn sách về ung thư thì thất kinh nên từ đó tìm hiểu thêm về y tế vì không thể nào tin hoàn toàn vào bác sĩ của mình vì theo châm ngôn của y sĩ ngày nay là “giúp một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng”. Nên mình định nghĩa lại ngày nay lương y như kế mẫu. Một bệnh nhân là một con bò để bác sĩ vắt sữa 3 tháng một lần. Bò nhiều bệnh càng nhiều càng tốt.

Tìm tài liệu đọc thì khám phá ra có nhiều người lương y như từ mẫu, bị hội đồng y khoa rút bằng vì dám nói lên sự thật nên mình càng chới với. Có ông bác sĩ nào ở Úc Đại Lợi bị cấm hành nghề, phải kiện tụng đủ trò mới lấy lại được bằng hành nghề. Lý do là ông ta khuyên bệnh nhân ăn uống cẩn thận thì bị tố là không có bằng dinh dưỡng nên không được khuyên bệnh nhân. Từ đó hay kiếm phim tài liệu và sách đọc về y tế. Rất khó nuốt vì quá khô khan, không như tiểu thuyết, tình yêu vớ vẩn nhưng phải cố gắng vì sự nghiệp cách mạng để tự cứu lấy mình. Hôm nay mình kể về cuốn sách do một người úc đại lợi và một người Gia-nã-đại, viết cách đây 20 năm. Trên Prime của Amazon có khá nhiều tài liệu còn trên YouTube thì hay bị chận.


Năm 2005, nhà báo y tế Ray Moynihan và nhà nghiên cứu chính sách dược phẩm Alan Cassels đã xuất bản cuốn sách mang tính đột phá khiến các công ty dược phẩm không yêu thích lắm “Selling Sickness: How the World’s Biggest Pharmaceutical Companies Are Turning Us All Into Patients (tạm dịch: Bán Bệnh Tật: Các công ty dược phẩm lớn nhất thế giới đang biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân như thế nào). Cuốn sách phê phán gay gắt cách kỹ nghệ dược phẩm mở rộng thị trường bằng việc quảng bá những trải nghiệm bình thường của con người thành các tình trạng bệnh lý cần điều trị bằng thuốc.


Luận điểm trung tâm của cuốn sách bắt đầu bằng một câu trích dẫn thẳng thắn từ một cựu giám đốc điều hành của công ty dược phẩm Hoa Kỳ Merck vào những năm 1970. Ông ấy buồn đời bị vợ la nên kêu rất thất vọng vì thuốc chỉ được bán cho người bệnh và mơ ước được sản xuất thuốc bán cho cả người khỏe mạnh, “bán cho mọi người”, giống như cách công ty Wrigley’s bán kẹo cao su. Chưa đau làm cho chúng bị đau, uống thuốc chúng càng đau thêm. 2 ông Moynihan và Cassels cho rằng tầm nhìn này đã trở thành hiện thực nhờ các chiến lược tiếp thị tinh vi: mở rộng ranh giới của bệnh tật, hạ thấp ngưỡng chẩn đoán và tạo ra nhu cầu ở những nơi trước đây không tồn tại, một quá trình mà họ và nhiều người khác gọi là bệnh hóa (disease mongering).

Các ý tưởng cốt lõi: Cách “bệnh tật” được sản xuất và bán ra


Các tác giả cấu trúc cuốn sách dưới dạng một loạt nghiên cứu trường hợp, mỗi chương phân tích một tình trạng bệnh cụ thể và thuốc liên quan để minh họa các chiến thuật mà “Big Pharma” sử dụng:

1.  Mở rộng định nghĩa bệnh: Các công ty dược tài trợ cho các hướng dẫn y khoa và hội nghị đồng thuận nhằm tái định nghĩa những biến thể bình thường (như lão hóa, nhút nhát hay buồn bã) thành các rối loạn. Như Cholesterol khi xưa là chỉ số 356 là được xem là cao ngày nay thì chỉ số xuống còn 200 khiến ai cũng bị dính cả, phải uống thuốc. Các chuyên gia tham gia những hội nghị này thường có mối quan hệ tài chính với ngành công nghiệp, tạo ra xung đột lợi ích.

2.  Hợp tác với bác sĩ và các nhóm bệnh nhân: Các hãng dược tài trợ giáo dục y khoa, hội nghị và các tổ chức vận động bệnh nhân, biến họ thành những người quảng bá (có thể vô tình hoặc cố ý). Các chiến dịch “nâng cao nhận thức” cho bệnh nhân, do các công ty dược phẩm tài trợ, giáo dục công chúng về những tình trạng “chưa được chẩn đoán đúng mức”.

3.  Quảng cáo trực tiếp tới người tiêu dùng: Ở các quốc gia cho phép (như Mỹ), quảng cáo miêu tả những khó khăn đời thường thành các bệnh có thể điều trị, thúc đẩy bệnh nhân yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc cụ thể. Ở âu châu họ cấm được quảng cáo thuốc trên đài truyền hình còn ở Hoa Kỳ thì đủ loại nhưng 35% thời gian nói đến hệ ứng phụ, kêu nếu như này như nọ thì báo cáo ngay cho bác sĩ. Nếu họ nói đến hệ ứng phụ nghĩa là thuốc chưa đúng nhưng cứ bán ra đã.

4.  Tạo ra các rối loạn mới: Một số tình trạng gần như được “phát minh” hoặc phóng đại để phù hợp với thuốc mới, chẳng hạn biến sự cáu kỉnh nhẹ thành một rối loạn nghiêm trọng. Những chiến lược này biến những người khỏe mạnh hoặc chỉ gặp vấn đề nhẹ thành bệnh nhân suốt đời, tạo ra hàng tỷ đô la lợi nhuận đồng thời gây nguy cơ điều trị quá mức, tác dụng phụ và làm quá tải hệ thống y tế.


Các nghiên cứu trường hợp chính trong sách, xin tóm tắc:

•  Cholesterol cao: Việc hạ thấp ngưỡng đã biến hàng triệu người thành “bệnh nhân” cần dùng statin, dù nhiều người có nguy cơ thực sự thấp. Chỉ số từ 240mg/dl còn 200mg/dl như ngày nay thì bố ai cũng bị cao mỡ, cái mất dạy là chúng ta cần mỡ để cơ thể hoạt động. Lá gan sản xuất 80% số lượng mỡ mà cơ thể cần hàng ngày.

•  Trầm cảm và thuốc SSRI: Tiêu chí mở rộng đã bệnh hóa nỗi buồn bình thường, thúc đẩy thuốc chống trầm cảm.

•  Mãn kinh và liệu pháp thay thế hormone (HRT): Được miêu tả như một bệnh thiếu hụt cần hormone dài hạn (sau này được phát hiện làm tăng nguy cơ sức khỏe).

•  Rối loạn lo âu xã hội: Sự nhút nhát được tái định khung thành tình trạng suy nhược có thể điều trị bằng thuốc như Paxil.

•  Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD): Mở rộng sang người lớn, mở rộng thị trường thuốc kích thích.

•  Hội chứng ruột kích thích, loãng xương và rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt: Những vấn đề nhẹ hoặc phổ biến được nâng lên thành cần dùng thuốc.


Các tác giả dựa trên phỏng vấn người trong ngành, bác sĩ, nhân viên tiếp thị và các nguồn học thuật để cho thấy cách những nỗ lực này làm mờ ranh giới giữa bệnh thực sự và các “yếu tố nguy cơ” mang lại lợi nhuận. ông Ray Moynihan, cây bút thường xuyên của BMJ và Lancet, cùng ông Alan Cassels, chuyên gia Canada về chính sách dược phẩm, kết hợp báo chí điều tra với phân tích dựa trên bằng chứng. Tác phẩm của họ đã phổ biến khái niệm “bệnh hóa” và ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận toàn cầu về quá trình y tế hóa quá mức.


Hai thập kỷ sau, cuốn Selling Sickness vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh lo ngại liên tục về ảnh hưởng của ngành dược từ tiếp thị opioid đến các mở rộng hiện đại như ADHD ở người lớn hay thuốc điều trị béo phì. Cuốn sách kêu gọi sự hoài nghi đối với tin tức y tế, hướng dẫn độc lập và việc đánh giá lại điều gì thực sự cấu thành “bệnh tật” trong thời đại y học bị chi phối bởi lợi nhuận.


Một điểm khác như bệnh loảng xương. Đầu thập 1990, một công ty dược phẩm chế tạo ra một loại thuốc trị bệnh loảng xương, mà dạo ấy chưa được hiểu rõ lắm. Các đại diện các công ty dược phẩm và bác sĩ  họp nhau tại cơ quan WHO để hội thảo, và quyết định thế nào là xương chắt là bình thường. Họ xếp loại ra sao mà 50% phụ nữ trên 70 tuổi bị bệnh loảng xương. Xem như trong vòng một đêm , 50% phụ nữ trên 70 tuổi thức dậy là có bệnh loảng xuống phải uống thuốc.


Các công ty này tặng miễn phí các y cụ cho các phòng mạch bác sĩ hay nhà thương để khám mật độ xương. Cái mất dạy là sau khi uống thuốc này sau nhiều năm khiến xương của bệnh nhân dòn và dễ gãy hơn. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn