Ông Ba Mươi Lào

 Con cọp Lào



 Có một nhân vật rất nổi tiếng trong chiến tranh Đông-Dương ngay cả người Pháp cũng nói đến ông ta. Một người chống cộng tuyệt đối, đã theo chân quân đội pháp rồi đến quân đội mỹ và cuối cùng bị phản bội. Ông đã chỉ huy ba mươi nghìn binh sĩ. Ông đã chiến đấu, cho Cơ quan Tình báo Trung ương Hoa Kỳ (CIA), một cuộc chiến mà chính phủ Hoa Kỳ từ chối công khai thừa nhận. Trong mười lăm năm, lực lượng của ông đã giữ vững phòng tuyến trên dãy núi Lào để lính Mỹ không phải làm điều đó. Khi chiếc máy bay vận tải Mỹ cuối cùng cất cánh khỏi đường băng đất tại Long Tieng vào tháng 5 năm 1975, binh sĩ của ông được lệnh phải chờ đợi. Hầu hết họ không bao giờ gặp lại người Mỹ nào nữa. Tên ông là Tướng Vang Pao. Ba mươi lăm năm tiếp theo trong cuộc đời ông được dành để đấu tranh với chính chính phủ mà ông từng phục vụ, thay mặt cho những người lính ông đã phải bỏ lại phía sau.


Check out this video, "vang pao general"
https://share.google/RNWzlw5EWLlp0QewJ

Nghe kể có lần ông ta mổ bụng một cán binh bộ đội đã chết. Lý do là để xem bộ đội có được nuôi ăn uống đầy đủ để hiểu thêm về đối phương.


Cuộc chiến mà ông đã tham gia không chính thức tồn tại. CIA đã chiêu mộ người Hmong, một dân tộc thiểu số sống trên núi ở miền Bắc Lào, vào đầu những năm 1960. Nhiệm vụ là chặn đứng Đường mòn Hồ Chí Minh, cứu phi công Mỹ bị bắn rơi, và kìm chân lực lượng cộng sản ở Lào để chúng không thể di chuyển xuống miền Nam Việt Nam. Suốt toàn bộ chiến dịch, chính phủ Mỹ liên tục phủ nhận rằng có bất kỳ cuộc chiến nào đang diễn ra. Trên giấy tờ, Lào là quốc gia trung lập. Nhân sự Mỹ có mặt tại đó, trên giấy tờ, cũng không tồn tại. Như các biệt kích mỹ đóng tại các tiền đồn, giúp thám thính và B52 dội bom bắc Việt. Mình có kể vụ này rồi.


Người chỉ huy chiến dịch về phía người Hmong là một thiếu tá trẻ tên Vang Pao. Qua những năm tháng chiến tranh, ông được thăng chức lên tướng. Ở đỉnh cao chỉ huy, ông lãnh đạo khoảng ba mươi nghìn chiến binh. Họ được CIA tài trợ, được vũ trang bằng vũ khí Mỹ, và được huấn luyện bởi các cố vấn Mỹ. Họ giữ vững phòng tuyến trên núi để lính Mỹ không phải làm điều đó. Họ đã phải trả giá. Hàng chục nghìn binh sĩ Hmong thiệt mạng trong mười lăm năm chiến đấu mà Ngủ Giác Đài không bao giờ phải ghi nhận trong các báo cáo thương vong công khai.


Vào tháng 4 và tháng 5 năm 1975, các cấu trúc quân sự khắp Đông Nam Á sụp đổ. Sài Gòn thất thủ. Phnom Penh thất thủ. Quân Pathet Lao cộng sản tiến vào vùng núi. Thiếu tá Lê Xuân Phong có kể sau khi vượt trốn được trại Ba Khe thì đi bộ sang Lào, đói quá vào đến một ngôi làng người Lào, họ đi bộ ra biên giới vào báo cáo cho biên phòng, bộ đội cho người vào làng còng đầu hai người trốn trại về lại Việt Nam còn người thứ 3 bị thương nặng nên để ở lại. Chắc chết.


Các nhân viên Mỹ tại Long Tieng bắt đầu lên máy bay vận tải để di tản. Tướng Vang Pao được lệnh rời đi cùng họ. Những người lính dưới quyền ông được lệnh phải chờ. Máy bay không thể chở hết mọi người. Người Mỹ, theo mọi lời kể trung thực về những ngày ấy, biết rõ những gì họ đang bỏ lại phía sau.


Chiếc trực thăng Mỹ cuối cùng cất cánh khỏi phi đạo bằng đất. Chiến dịch bí mật chính thức kết thúc.

Những người lính bị bỏ lại bắt đầu đi bộ. Hàng chục nghìn người Hmong, một số là binh sĩ và một số là gia đình của họ, men theo rừng rậm tiến về sông Mekong. Họ vượt sang Thái Lan bằng những chiếc bè tre do chính tay họ đóng. Nhiều người không đến được nơi. Pathet Lao săn lùng người Hmong một cách đặc biệt, vì họ đã xác định đây là đồng minh của CIA. Các trại tị nạn dọc biên giới Thái Lan chật kín những người sống sót.


Tướng Vang Pao không lặng lẽ nghỉ hưu. Ông đến Bộ Ngoại giao. Họ đề nghị cho ông một khoản lương hưu thoải mái của Mỹ. Ông đến các ủy ban tình báo. Họ đề nghị cho ông một cuộc sống yên bình. Ông đến các văn phòng di trú để xin giấy tờ cần thiết đưa người của mình ra khỏi trại. Họ đưa cho ông những thủ tục giấy tờ không có thời hạn.


Vấn đề pháp lý rất đơn giản. Năm 1975, Hoa Kỳ có hạn ngạch di trú nghiêm ngặt đối với Đông Nam Á. Bộ Ngoại giao không chính thức công nhận người Hmong là đồng minh quân sự của Mỹ. Chiến dịch ở Lào vẫn được phân loại là không tồn tại về mặt pháp lý. Đất nước này không thể cấp visa cựu chiến binh cho một cuộc chiến mà họ phủ nhận đã tham gia.


Hợp đồng bất thành văn rất đơn giản: Người Hmong đánh trận trên mặt đất. Người Mỹ sẽ lo cho họ sau đó. Hợp đồng đã bị phá vỡ ngay khoảnh khắc chiếc trực thăng cuối cùng bay qua tán cây tại Long Tieng.


Tương tự các người lính Lôi Hổ người Việt được thả ra bắc bị bắt, được CIA trả lương. Sau này, được Việt Cộng tha, có người vượt biển, có người được đi theo diện H.O. Hình như ông Sơn Beatles Đà Lạt xưa nằm trong nhóm này. Nghe đâu ông ta thay mặt đòi hỏi chính phủ mỹ chi đó, được trả lương khi ở tù Việt Cộng. Mình xem video của một anh chàng gốc Việt ở Úc Đại Lợi, qua mỹ đến nhà ông Hùng, biệt danh là Đặng Chí Bình, được Việt Nam Cộng Hoà huấn luyện và đột nhập vào Bắc Việt và bị bắt kể, sau này Hoa Kỳ trả cho ông ta một số lương, ông ta dùng số tiền đó, mua một chung cư cũ và sửa chửa để cho thuê nên sống cũng ổn.


Tướng Vang Pao từ chối biến mất. Ông định cư đầu tiên ở Montana, sau đó chuyển đến Fresno, California. Ông không xây dựng một cuộc sống yên bình. Ông xây dựng một mạng lưới định cư lại. Ông biến những gì còn lại của bộ chỉ huy quân sự cũ thành một cỗ máy hành chính. Ông giao cho các sĩ quan cũ nhiệm vụ theo dõi các gia đình Hmong trong các trại tị nạn Thái Lan và nộp đơn bảo trợ tại Hoa Kỳ. Ông chi tiền riêng của mình. Ông quát tháo các nhân viên di trú làm sai hồ sơ. Ông đòi gặp các thượng nghị sĩ vốn không chịu nghe điện thoại ông. Ông từ chối, cho đến cuối đời, học cách ngoại giao lịch sự.

Theo mọi lời kể, ông cứng đầu, gây khó chịu và khó làm việc cùng. Nhưng ông cũng là, theo một nghĩa đúng chất, nhà lãnh đạo cấp cao duy nhất còn lại của cộng đồng Hmong trên thế giới.


Từ năm 1975 đến 1990, ông đã tổ chức việc tái định cư hơn một trăm nghìn người Hmong vào Hoa Kỳ. Ông biến những gia đình nông dân từ vùng núi Lào thành cư dân của Thung lũng Trung tâm California, ngoại ô Minneapolis, và các thị trấn công nghiệp nhỏ ở Wisconsin. Ông làm chứng trước các tiểu ủy ban quốc hội để mở rộng hạn ngạch, đôi khi thành công. Ông tham dự các cuộc họp bảo trợ địa phương trong hầm nhà thờ. Ông trả lời điện thoại mọi giờ trong ngày.


Ông qua đời vào tháng 1 năm 2011, tại California, ở tuổi tám mươi mốt. Ông chưa bao giờ nhìn thấy dãy núi Lào lần nữa. Hình như ông Yves Gignac, cựu chủ tịch hội cựu quân nhân Đông-Dương pháp, có kể khi sang Hoa Kỳ, có gặp ông Vang Pao. Ngoài ra ông ta kể có gặp ông Kỳ ở Nhật Bản, có mấy ông cận vệ cũ đi theo. Tổng thống pháp Charles De Gaulle có câu bất hủ khi người ta nói về ông Kỳ, ông tây này hỏi: “Qui est Ky?” Khiến ông Kỳ tức giận, chấm dứt chương trình pháp tại Việt Nam, không cho du học ở Pháp đến khi ông ta hết còn làm phó tổng thống.


Chính phủ Hoa Kỳ đã tranh luận trong vài tuần về việc có cho phép chôn cất ông tại Nghĩa trang Quốc gia Arlington hay không, nơi truyền thống chôn cất các chỉ huy quân sự Mỹ. Quân đội xem xét hồ sơ. Quyết định cuối cùng là không. Cuộc chiến ông chỉ huy chưa từng chính thức tồn tại. Cấp bậc quân sự ông nắm giữ không do Hoa Kỳ cấp. Đất nước này sẽ không, ngay cả trong cái chết, chính thức thừa nhận những gì họ chưa từng thừa nhận khi ông còn sống. Ông được chôn cất tại California. Mình có kể về lính biệt kích mỹ hy sinh tại Lào và Cao Miên, đều không có danh tính. Có nhiều gia đình phải tranh đấu nhiều lắm mới được toại nguyện. Theo tài liệu mình đọc tài liệu của người Mỹ được giải mả sau 30 năm thì có trên 587 người biệt kích mỹ mất tích tại Lào.


Dân số người Mỹ gốc Hmong ngày nay vượt quá ba trăm nghìn người. Tại Fresno, con cháu của những người đã đi bộ ra khỏi núi Lào năm 1975 đang nộp đơn vào đại học và viết bài luận về ông bà mình, những người đã vượt sông Mekong bằng bè tre do chính tay họ đóng. CIA đã giải mật hồ sơ về các chiến dịch bí mật vào cuối những năm 1990. Các tài liệu ngày nay được lưu trữ tại Văn khố Quốc gia. Bất kỳ ai cũng có thể yêu cầu đọc chúng. Nhiều trang vẫn còn bị tẩy đen.


Ông đã nhận lệnh phải biến mất vào tháng 5 năm 1975, và để dân tộc mình chịu số phận mà chính quyền tiếp theo của Lào đã dự định. Ông đã dành ba mươi lăm năm tiếp theo để bảo đảm rằng dân tộc của mình không biến mất cùng ông.


Vấn đề này thì mình thấy người Pháp có trách nhiệm hơn. Khi đi học ở Pháp mình đến hội cựu chiến binh pháp ở Đông-Dương ăn cơm mỗi tháng. Lý do là cho mình học bổng suốt thời kỳ đi học, tuy không nhiều. Tại đây, mình có dịp gặp tướng Salan, tướng Bigeard, vị chỉ huy quân đội Pháp tại Điện Biên phủ. Có lần mình hỏi ông ta về tướng Võ Nguyên Giáp thì ông ta nói ông Giáp rất giỏi, khiến mình nể ông ta vì ông ta đầu hàng quân đội Việt Minh để cứu lính pháp khỏi chết vì không được tiếp tế và chấp nhận đói phương giỏi. Dạo này có mấy ông tây già rủ mình tham gia các nhóm bính sĩ pháp ở Đông-Dương. Hôm tước thấy hình ảnh bác sĩ Grovin, vị y sĩ đang mổ cứu binh sĩ pháp bị thương tại trận Điện Biên Phủ.

Eurovision 2026

 Eurovision 2026


Cuối tuần này, mở eurovision cho đồng chí gái xem lần đầu. Có thể nói là cuộc đấu nhạc âu châu được xem là show nhạc nổi tiếng và được nhiều khán giả xem trực tiếp đông nhất thế giới. Khi xưa ở âu châu, năm nào cũng xem show này nhưng từ khi sang Hoa Kỳ thì hết. Năm nay tình cờ thấy nên mở xem. Bảo Gia Lợi thắng giải với bài hát “Bangaranga” do DARA.


Năm nay được tổ chức tại Áo Quốc, lý do là năm 2025, JJ đại diện Áo quốc đã thắng giải với bài “Wasted Love”. Chung kết được tổ chức tại hí viện Wiener Stadthalle vào ngày 16 tháng 5 năm 2026. Cũng đánh dấu 40 năm trước mình sang Hoa Kỳ lần đầu.


Eurovision bắt đầu vào năm 1956 như một dự án văn hóa thời hậu chiến nhằm gắn kết các quốc gia châu Âu thông qua truyền hình trực tiếp và âm nhạc. Đúng 70 năm. Kinh. Cuộc thi được tổ chức bởi European Broadcasting Union (EBU), phần nào lấy cảm hứng từ lễ hội âm nhạc San Remo của Ý. Đó là một ý tưởng rất táo bạo vào thời điểm ấy: nhiều quốc gia cùng phát sóng trực tiếp một cuộc thi âm nhạc quốc tế trên toàn châu Âu. Ở Ý Đại Lợi có hội nhật câm nhạc hàng năm được tổ chức tại thành phố San Remo, khá nổi tiếng. Giới trẻ hàng năm hè là chạy đến đây nghe nhạc như ở Nam Cali có hội âm nhạc Coechella mà ai có nhà ở vùng này, cho thuê mỗi ngày trên $2,000. Khi xưa mình thấy xa nên không chạy ra đây mua nếu không giờ này giàu rồi, đâu phải trồng bơ làm nông dân phơi nắng. Chán Mớ Đời 

France Gall thắng giải năm 1965


Cuộc thi đầu tiên năm 1956 được tổ chức tại Lugano, Thuỵ Sĩ vùng nói tiếng Ý Đại Lợi vào năm 1956.

Chỉ có 7 quốc gia tham dự:

  • Thụy Sĩ
  • Pháp
  • Tây Đức
  • Ý
  • Luxembourg
  • Bỉ
  • Hà Lan

Ban đầu, mỗi quốc gia trình diễn hai bài hát. Thụy Sĩ chiến thắng cuộc Eurovision đầu tiên với ca khúc “Refrain” của Lys Assia.

Eurovision thời kỳ đầu mang phong cách: trang trọng, sử dụng dàn nhạc giao hưởng, chịu ảnh hưởng mạnh của nhạc chanson và ballad truyền thống, gần như hoàn toàn hát bằng ngôn ngữ quốc gia.


Chiến tranh Lạnh cũng gián tiếp ảnh hưởng đến cuộc thi: các nước Tây Âu thống trị giai đoạn đầu. Tây Ban Nha tham gia dưới chế độ Franco. Nam Tư sau đó trở thành quốc gia cộng sản duy nhất thường xuyên tham dự. Mình nghe đến Eurovision khi nghe France Gall, năm lên 17 tuổi hát bài hát mà cô ta thắng giải Eurovision năm 1965, đại diện cho Lục Xâm Bảo. Bản nhạc này sau thời nhạc trẻ tại Việt Nam được dịch và hát rất nhiều qua ca sĩ Thanh Lan “Poupée de cire, poupée de son” do nhạc sĩ Serge Gainsbourg phổ nhạc


Thập niên 1970 đã biến Eurovision thành một hiện tượng văn hóa đại chúng. Thời này mình sang pháp nên bắt đầu thích xem chương trình này hàng năm. Khoảnh khắc nổi tiếng nhất diễn ra vào năm 1974 khi nhóm nhạc Thụy Điển ABBA chiến thắng với ca khúc Waterloo. Màn trình diễn đó đã thay đổi Eurovision mãi mãi: sân khấu rực rỡ hơn, âm nhạc thiên về pop, trang phục flamboyant/cầu kỳ, sức hút thương mại quốc tế mạnh hơn. Ai buồn đời thì xem YouTube 


https://youtu.be/4XJBNJ2wq0Y?si=iSoOL4i5t_6xI9Hd


Eurovision trở thành bệ phóng cho nhiều sự nghiệp âm nhạc toàn cầu. Một siêu sao tương lai khác xuất hiện vào năm 1988: Celine Dion chiến thắng đại diện cho Thụy Sĩ với bài “Ne Partez Pas Sans Moi”. https://youtu.be/VXLWfXmlXPc?si=DdYwHmRsLLFT5p3V 


Nước Ireland trở thành thế lực thống trị cuối thập niên 1980 và đầu 1990, đặc biệt nhờ: Johnny Logan,
người duy nhất từng hai lần vô địch Eurovision với tư cách ca sĩ.


Sau sự sụp đổ của Liên Xô và Nam Tư, Eurovision mở rộng mạnh mẽ. Các quốc gia mới tham gia gồm:

  • Nga
  • Ukraine
  • các nước Baltic
  • các nước Balkan
  • khu vực Kavkaz

Cuộc thi trở nên lớn hơn nhiều và mang màu sắc địa chính trị rõ rệt hơn. Chiến thắng của Israel với bài “Diva” trở thành cột mốc lịch sử vì Dana International là người chuyển giới, khiến Eurovision ngày càng gắn liền với văn hóa LGBTQ và tư tưởng tự do xã hội.


Phần Lan gây sốc khi chiến thắng với một ban nhạc hard-rock hóa trang quái vật, chứng minh Eurovision không còn chỉ là những bản pop ballad truyền thống.


Hình thức khán giả gọi điện bình chọn dần thay thế một phần hệ thống ban giám khảo, làm gia tăng:

  • bỏ phiếu theo khu vực,
  • ảnh hưởng của cộng đồng kiều dân,
  • tranh cãi chính trị,
  • mức độ tham gia của người hâm mộ.

Các quốc gia thường trao điểm cho láng giềng hay phe ta: kiểu Hà Nội vẫn luôn ủng hộ Liên Xô.

  • Hy Lạp/ Chypre
  • các nước Bắc Âu,
  • Balkan,
  • các nước thuộc Liên Xô cũ.

Eurovision phát triển thành một trong những chương trình giải trí trực tiếp lớn nhất thế giới:

  • hơn 150 triệu người xem mỗi năm,
  • cộng đồng fan trực tuyến khổng lồ,
  • các màn trình diễn viral,
  • công nghệ sân khấu cực kỳ hiện đại.

Chiến thắng của Áo trở thành một sự kiện văn hóa quốc tế và biểu tượng của sự đa dạng. Ukraine chiến thắng giữa lúc Nga xâm lược Ukraine, cho thấy chính trị và sự đồng cảm công chúng có thể ảnh hưởng mạnh đến kết quả bình chọn. Có điều mình không hiểu lý do Úc Đại Lợi lại được tham dự, chắc vì hát tiếng anh.


Năm nay, có mấy nước từ chối tham dự vì chống đối Do Thái qua vụ đánh phá vùng Gaza. Điểm đặc biệt là ngày nay các mạng xã hội đã thay đổi ảnh hưởng cho vụ bầu cử bản nhạc hây nhất âu châu. Trước cuộc thi đã thấy mấy bản nhạc được TikTok, YouTube và meme tải lên mãng xã hội và đã thay đổi Eurovision:

  • bài hát có thể viral trước cả cuộc thi,
  • cộng đồng fan phân tích từng buổi tập dượt,
  • các màn trình diễn được thiết kế để lan truyền trên mạng xã hội chứ không chỉ cho truyền hình.

Eurovision không chỉ là một cuộc thi thuần tuý âm nhạc như xưa mà ngày nay là: tấm gương phản chiếu chính trị châu Âu, như họ không tham dự để chống đối Do Thái năm nay. Nơi thể hiện bản sắc quốc gia, để nghe nhạc và lời ca như tiếng Armenia, Hy Lạp,… đấu trường “soft power”, phòng thí nghiệm công nghệ truyền hình, thấy họ sử dụng AI rất nhiều, và một nghi lễ văn hóa chung của hàng chục quốc gia.


Cuộc thi phản ánh: căng thẳng Chiến tranh Lạnh, tiến trình hội nhập châu Âu, sự hiện diện của cộng đồng LGBTQ, chủ nghĩa dân tộc, toàn cầu hóa, di cư, và xu hướng âm nhạc đại chúng thay đổi theo thời gian.


Nhiều nghệ sĩ đã trở thành siêu sao quốc tế sau Eurovision:

  • ABBA
  • Celine Dion
  • Julio Iglesias
  • Olivia Newton-John
  • Måneskin, Chiến thắng năm 2021 của Måneskin đã giúp họ trở thành hiện tượng rock toàn cầu.

Xem Eurovision sau mấy chục năm thì thất vọng vì nhạc các quốc gia âu châu nay đều hao hao như nhau, có rất nhiều bản nhạc được viết bằng anh ngữ. Thấy vũ công cũng múa ào ào như ca sĩ mỹ nên thấy không có gì đặc biệt. Cho thấy dù muốn dù không chúng ta đang sống trong một nền văn hoá đang được toàn cầu hoá, coca cola hoá. Vài chục năm nữa, đi du lịch trên thế giới thấy thiên hạ ăn toàn hamburger và uống coca cola. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Thẩm Quyền về Thiên Quốc

 Thiếu tá Lê Xuân Phong Đà Lạt Tuyên Đức

Hồi đầu tuần nhận tin từ một anh lính trinh sát 302 xưa của Đà Lạt Tuyên Đức, cho biết thiếu tá Lê Xuân Phong vừa được Chúa gọi về. Mình đăng lại mấy bài viết về lính trinh sát 302 xưa ở Đà Lạt thì rất ngạc nhiên là có nhiều người chia buồn với tang quyến nên mình viết đây để kèm theo đường dẫn nhà quàn và tổ chức hỏa thiêu trong gia đình. Thậm chí có mấy ông Mỹ từng tham chiến tại Đà Lạt cũng chia buồn và kêu he was a good man. Nghe nói đám tang chỉ trong gia đình thôi.


https://segalfuneralhome.com/obituaries/david-le?fbclid=IwZnRzaARy-qZleHRuA2FlbQIxMQBzcnRjBmFwcF9pZA8xNzM4NDc2NDI2NzAzNzAAAR4YyuKW6FBngBbx_NDvq4YzlVijj24NZ7TXwWEuA33TmQuBBDEz5nIMG5kNew_aem_ALb_ZcZdin1v3C7O4JkTXA


Khi xưa ở Đà Lạt mình còn bé nên không thông hiểu nhiều về đời sống dân tình Đà Lạt. Chỉ nhớ là có lính 302, mỗi lần đi hành quân về thì hay lộn xộn. Có người kêu kiêu binh có người nói này nói kia. Khi nhưng người lính thấy cái chết cận kề hay chiến hữu chết thì đầu óc không như người dân ở Đà Lạt. Thêm dạo ấy có thanh niên để tóc dài, theo phong trào hippie nên khi về phép thấy gai mắt là đánh lộn. Sẵn súng ống là đem ra bắn này nọ. 


Mình nhớ sau Mậu Thân, mình vừa từ hàng bà cụ ở Chợ dưới đi lên cầu thang chợ thì nghe tiếng súng bắn ào ào phía trên Rạp Hoà Bình rồi thấy 2 ông lính cảnh sát dã chiến chạy thụt mạng từ trên cầu thang xuống chợ. Rồi thấy mấy ông lính lực lượng đặc biệt gốc tàu hay nùng ôm súng chạy xuống chợ nên chả hiểu chuyện gì. 


Nên mình lên thang cấp qua đường luồng khúc Thành Thái và cạnh phòng mạch nha sĩ Nguyễn Trình đến Trương Vĩnh Ký rồi theo dốc nhà Làng ở đường Duy Tân đi về. Hôm sau mới nghe thiên hạ giải thích thêm mắm thêm Muối vào là có ông lính lực lượng đặc biệt gốc tàu đang đứng nói chuyện với anh soát vé vào cửa rạp đi nê Hoà Bình thì có năm ông cảnh sát dã chiến, được huấn luyện dưới Trại Mát, muốn vào xem xi nê nhưng không trả tiền. Lời quá tiếng lại, mấy ông cảnh sát dã chiến úynh ông lực lượng đặc biệt. Thế là ông thần chạy về trại kêu chiến hữu lên đi lùng đánh cảnh sát dã chiến. Sau ông tỉnh trưởng Nguyễn Hợp đoàn mới làm hòa sao đó không nhớ.  


Đại đội TS 302 của TT Phong đánh giặc giỏi được dân ĐL nể phục,tuy nhiên có nạn kiêu binh rất trầm trọng khiến tình cảm quân dân bị sứt mẻ nhiều,nghe nói sau này ĐĐ bị giải tán vì chuyện này,không biết có đúng không?


Rồi mình đi Tây thì có lần tình cờ thấy trên mạng có bài viết về Đà Lạt trong thời kỳ chiến tranh. Nói đến cuốn “Gone Native” của ông Al Cornett nên gửi mua về đọc thì thất kinh. Vì ông ta kể khi xưa làm cố vấn cho đại đội trinh sát 302 và kể các chuyện khi xưa về Đà Lạt nhất là thiếu tá Phong. Mình chỉ nhớ khi đi Tây thì nghe nói đại úy Phong không ngờ đã lên thiếu tá mà nếu không ba gai thì có lẻ lên lâu rồi vì vụ bắn và đánh quân cảnh gác ở trường võ bị quốc gia khi tổng thống Nguyễn Văn Thiệu lên dự lễ ra trường. 

Phù hiệu đại đội trình sát 302

Có chú Phấn tiệm thuốc tây Minh Tâm ở đường Duy Tân cho mình số điện thoại của anh Phong. Chú với anh Phong khi xưa ở Đà Lạt hay đi nhảy đầm chung nên sau này có gặp nhau lại tại San Jose. Mình dự định gọi hôm sau thì anh ta đã gọi trước và từ đó mình hay gọi anh Phong để hỏi thêm chi tiết về Đà Lạt khi xưa rồi cách đây 2 năm mình và đồng chí gái đi du thuyền ở Florida nên có ghé thăm và mời vợ chồng anh ta đi ăn cơm Việt Nam. Sau đó thì lâu lâu gọi nhau nói chuyện về Đà Lạt. 


Mình nghĩ anh Phong nhớ Đà Lạt lắm vì sinh ra tại Đà Lạt rồi đi lính cũng ở Đà Lạt ngoại trừ vài năm đầu quân ngủ ở vùng Tam Biên nên lâu lâu cứ gửi cho mình nghe nhạc nói về nổi nhớ Đà Lạt một thời. Nhớ về một thời trai trẻ, đào hoa ở Đà Lạt. 

Phù hiệu tiểu đoàn 204, hậu thân của đại đội trinh sát 302


Mình thích anh Phong vì không ăn đặc sản Quảng Trị, không nổ, chớ nhiều người kể mình khi xưa đánh trận này trận nọ đủ trò. Anh ta nể tướng Đổ Cao Trí lắm, vùng Lâm Hà ngày nay là nơi em tướng Trí bị Việt Cộng giết nhưng ghét tướng Nguyễn Văn Toàn từng được ông Thiệu bổ nhiệm tư lệnh quân khu 2. Mình tình cờ đọc bài của cựu tùy viên của ông Tướng Toàn thì thất kinh vì ông ta tham nhũng, không biết có đem được vào nhiều khi di tản vì hôm trước thấy hình ông ta chụp ở chiến hạm Mỹ khi đáp máy bay xuống.  Có người còm như sau:


Sony NguyenUsa tôi rời ĐL năm 73,năm 77 về lại,tình cờ một hôm nghe lóm hai cán bộ quân sự cao cấp của CS thời chiến tranh ở Tuyên Đức nói chuyện,họ nói rằng sau khi chiếm ĐL,họ đi đến các trại giam tìm TT Phong và nếu gặp họ sẽ “xử tại chỗ “

chắc ông Phong sau 4/75 không có mặt tại ĐL?


Có lần anh Phong nói là về Đà Lạt để chăm sóc mồ mả ông bà cụ ở Đơn Dương thì cũng ngại. Anh ta kể lính anh ta có kể sau 75, sau khi đi tù về thì làm ăn thì lâu lâu mấy ông thần Việt Cộng hay nói về quá khứ của tội ác, nợ máu với cách mạng của lính trinh sát 302 đối với quân cách mạng. Anh ta kể có lần đi viếng nghĩa trang liệt sĩ của Việt Cộng ở Cam Ly vì bố anh ta theo việt minh và bị tây sát hại nên được có cái mộ không xác ở đây. Thì lính cũ của anh chỉ mấy cái mộ, rồi kêu a thằng này bị 302 sát hại. Mình đoán là có ghi chỗ hy sinh cho cách mạng nên mấy ông lính 302 mới nhớ. Mình có thấy ảnh ông Al Cornett về thăm Đà Lạt đi lại các nơi ông ta cùng lính trinh sát 302 đi hành quân, có tấm ảnh chụp trên đường Duy Tân, góc tiệm thuốc tây Minh Tân. Mình không đăng vì có nhiều người còn ở Đà Lạt.


Sau hai lần vượt ngục không thành bị bắt lại thì anh ta được thả và vượt biển, được tàu Cap Anamur của tây đức vớt. Trước khi tàu cập bến tây đức thì đài truyền hình tây đức có lên tàu quay phỏng vấn thì mấy ông lính mỹ khi xưa đi hành quân với lính 302 nhận ra anh Phong nên khi tàu cập bến là họ bay lên tàu, rất cảm động khi đồng ngủ gặp lại nhau. Đài truyền hình tây đức có quay cảnh này nên có nhiều người Đà Lạt không biết nên tưởng anh Phong đi H.O. Anh ta xuống Bến Tre quê hương đồng khởi của Cò Giao ngày xưa. Gặp cò Giao, nói đừng có đi vùng này. Tụi nó bắt được anh em trong gia đình chúng còn đánh đập. Nên anh ta tìm đường khác, may quá ra hải phận quốc tế thì gặp tàu Tây Đức.

Mình đoán chụp chung với ông Al Cornett. Anh Phong tướng người không cao lắm

Ở Bolsa có ông luật sư tên Andre Lam, khi xưa từng đi trinh sát 302. Mình có gặp lại vài người lính cũ 302 thì họ rất nể phục Thẩm Quyền, chớ không như ông sĩ quan tuỳ viên của tướng Nguyễn Văn Toàn, viết bài kể xấu thượng cấp này nọ. Mấy sĩ quan biết Thiếu tá Phong khi xưa đều rất nể thậm chí mấy người lính mỹ khi xưa về tình báo cũng còm kêu “he was a good man”. Trong cuốn Gone Native, tác giả kể thay vì cho trực thăng thả ngay khu vực đi tuần, anh Phong kêu làm như vậy Việt Cộng sẽ biết nên thả cả toán xuống rất xa và mất cả tuần đi bộ với đến mục tiêu.


Anh Phong rất tiếc không tìm được tin tức của chuẩn uý Phúc. Người vào trường Võ Bị chỗ cửa hàng PX của lực lượng đặc biệt Mỹ để mua rượu. Họ vào nhà hàng ở Chi Lăng thì bà chủ quán tàu thấy buồn đời nên khịa hết rượu nên chuẩn uý Phúc nói để em đi mua rượu. Ai ngờ ông thần bận đồ tác phong không được chuẩn lắm vì mới đi hàng quân về. Đúng hơn, là lính 302 bị cấm không cho vào Đà Lạt vì có ông Thiệu lên dự lễ mãn khoá Võ Bị. Đang đóng ở Đơn Dương thì tình cờ có anh bạn về phép bắt gặp kêu đi nhậu huynh đệ chí binh sau bao nhiêu năm tháng không thấy mặt nhau. Thế là kêu đi tới Chi Lăng là ngoại thành của Đà Lạt nên chắc không bị lộn xộn.

Hình này chắc thời còn ở lực lượng đặc biệt, chưa về tiểu khu Tuyên Đức

Chuẩn uý Phúc bận đồ lốc xốc nên quân cảnh kêu lại, thêm có tính ngang tàn nên bị đánh bỏ chạy ra đến tiệm ăn, vừa chạy vừa kêu tụi nó đánh em. Thế là anh Phong chạy vào thì gặp quân cảnh nên hỏi lý do đánh lính tui. Trời ơi tụi quân cảnh mà em biết, cao to, tụi nó tính cầm dùi cui khệnh anh thì lính 302 leo lên xe, cầm đại liên ria trên đầu nên quân cảnh hay anh gì bò dưới đất hết. Tụi lính sợ quân cảnh đánh anh nên chúng bắn doạ thì nghe M113 trong trường võ bị chạy ào ào ra. Tụi anh nhảy lên xe dọt luôn. Vừa về tới trại là nghe ông trung tá Xuân ở trường Võ bị gọi hỏi chuẩn uý Phúc. Sau đó chuẩn uý Phúc nhận tội hết, bị tù 6 năm đến 75 thì tan hàng không biết sống chết ra sao. Còn anh thì không được lên lon 1 năm. May chớ được lên chức nữa thì ở tù lâu hơn. Đó là người lính thuộc cấp mà anh tìm kiếm sau 75 không được.


Ngoài ra anh cũng kể về ông thần nào tên Phẩm. Mình đoán là cận vệ của anh ta mà nghe nói ông thần cũng thuộc dạng không vừa, hình như dân ấp Xuân An. Có lần đi hành quân về, ghé chỗ đường Trương Vĩnh Ký có mấy quán bán mì và miến gà nổi tiếng Đà Lạt. Đang ngồi ăn thì ông thần Phẩm thấy võ sư Nguyễn Bình, dạy mình Thái Cực Đạo ở hãng cưa Xu Huệ, ngã ba chùa. Mình đoán là lính 302 ghét ông ta vì thấy chạy xe moto chở gái đẹp nghe, ngồi uống ăn gì ở tiệm Mekông. Đang ngồi ông thần chạy ra nói gì với võ sư Nguyễn Bình, đấm đá gì thì võ sư cũng lách người qua né tránh như võ sư thì ông Phẩm nổi điên lên móc súng bắn ào ào xuống đường, đạn bay qua bên kia đường Duy Tân, chỗ nhà tên Thạch học Yersin chung với mình. Võ sư Bình đi với một đại tá ở Nha Trang lên, ông này đứng ra giải hoà thì ông thần Phẩm kêu đại tá hả, cũng lên chức nhờ máu của binh sĩ. Anh Phong phải ra can mọi chuyện mới êm.

Đà Lạt năm 1974 trước khi tan hàng

Ngoài ra, anh ta còn kể một ông thần quên tên ở trong đường Hoàng Diệu. Ông thần này ba gai lắm, lên đồi cù thấy cô con gái của gia đình tướng Lâm Quang Thơ hay ai đó chọc ghẹo nên báo cáo lại với ông bố. Ông bố kêu tiểu khu Tuyên Đức. Có ông trung tá kêu anh Phong tập họp lính 302 lại. Rồi xe quân cảnh và xe Jeep chạy ào ào lại căn cứ. Đòi bắt ông thần này, kêu phải trình diện ở Nha Trang hay Phan Rang gì ngày mai. Anh Phong đang trả lời ông trung tá tiểu khu phó thì nghe súng bắn ào ào trong lều. Chạy vào thì ông thần bắn vào chân, và kêu em phải tự bắn nếu không chắc gặp tên trung tá là em bắn chết. Anh Phong nói lại thì trung tá cũng ớn ớn nên kêu quân cảnh rút về. Ông thần này đào ngủ luôn và bắt đầu quậy Đà Lạt cho nên có lẻ vì vậy mà 302 bị hàm oan. Mình đoán ông thần và đàn em trong Hoàng Diệu có lần đến cướp sòng bài ở nhà ông Ngần, hàng xóm ở xóm mình, chuyên chứa sòng bài. Mình rất vui vì sau đó ông cụ mình hết dám đi đánh bài. Tên này và đàn em vào nhà vớt hết tiền. Ông cụ đổi qua đi nhảy đầm. 


Sau này, tỉnh trưởng NGuyễn Hợp Đoàn mới nhờ anh Phong lo vụ này. Anh ta khuyên ông thần muốn trở lại đơn vị 302 thì làm giấy tờ giả rồi đi quân trường mấy tháng rồi anh sẽ xin về đơn vị 302. Có nhiều người kêu lính 302 là kiêu binh nhưng cũng có thể là mấy ông thần đào ngủ làm loạn, canh sóng bài, vũ trường hay xóm chị em ta. Mình hồi đó còn bé nên chưa bao giờ đụng độ 302 nên chỉ nghe vòng vòng.


Mình nhớ ở dốc Hai Bà Trưng, ngay bên cạnh trường Nữ Công Gia Chánh có đường hẻm đi vào xóm trong này. Hẻm có nhà của hai ông thần Lai và Thái, nổi tiếng một thời ở Đà Lạt,  có một ông thần tên Hoà, đào binh, hay lận khúc ống nước bằng gan đi đập lộn cho học sinh Việt Anh. Sau này bị tuần cảnh bắt đi lao công chiến trường không biết sống chết ra sao . (Còn tiếp)


Dân Dalat ai cũng ái mộ Phong 302. Ổng thật tài giỏi và oai hùng


Tôi gặp ông Phong trong 1 tiệc sinh nhật. Ngồi 1 bàn có 7 người ko biết ai là Phong thì chị bạn đi kế bên nói ( ông kia mặt đúng là 1 vị tướng. Dù ông ko cao lớn nhưng mặt rất lạnh và ngầu) đúng như vậy. Từ nhỏ tôi đã thần tượng Thiếu tá Phong. Mỗi khi ra đường thấy mấy ông lính 302 là tôi chạy sang bên kia đường, dù rất ái mộ. . 


Vô cùng thương tiếc Thiếu tá Lê Xuân Phong

Ngày 4/4 /75 tôi và A Phong  ở biên hòa sau đó chia tay ,sau 30 /4 Anh chạy về cao lãnh tìm đường đi nhưng không được sau đó Anh trình diện tại sài gòn . Ở đà lạt nó truy lùng tất cả 204 bằng hình thức tất cả các đứa bị bắt biết nhà những đứa 204 chỉ điểm cho chúng thì được tha .


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn