Nghe lời mẹ là ngu?

 Nghe lời mẹ là ngu?


Thường mấy cầu thủ thể thao về hưu là xem như gia tài sự nghiệp banh ta lông như cầu thủ Thierry Henri,.. rất nhiều kể ra không hết. Gần đây cầu thủ danh tiếng Ronaldinho nghe nói phải đi đá banh lại vì không tiền để sống. Có nhiều lý do để lý giải sự việc nhưng đa số là vì đàn bà và bạn bè. 


Thường mấy cầu thủ da đen khi nổi tiếng hay cặp bồ với mấy cô da trắng tóc vàng cũng như trong các phim quảng cáo, người ta thường quay cảnh một ông da màu thành đạt ở khu Mỹ trắng và có vợ hay bồ là Mỹ trắng hay đầm trắng như đã bước vào một đẳng cấp mới. Vấn đề là khi sự nghiệp thể thao của họ kết thúc thì ngồi buồn hát người bỏ ta đi vội vàng với bao nhiêu tài sản. Điển hình cầu thủ Thierry Henri phải khai phá sản và bị trầm cảm mấy năm liền. 


Có cầu thủ Hakimi của đội tuyển Ma-rốc, ly dị với bà vợ. Bà vợ hí hửng là được một số tiền nhưng khi ra tòa thì bà ta chới với vì tài sản đều đứng tên mẹ chồng, mẹ của cầu thủ Hakimi, thậm chí tiền lương hàng tháng cũng trả cho công ty của bà mẹ chồng. Ông cầu thủ này kể là khi mới bắt đầu đá bánh chuyên nghiệt thiệt còn trẻ tuổi nên bà mẹ lo hết giấy tờ, và ông ta chỉ lo đá banh. Sau này bà ta lo luôn việc đầu tư cho ông ta vì chỉ người mẹ là thương con dù giàu hay nghèo.

Bác nào muốn chài mấy cầu thủ giàu có thì nên hỏi trước, hỏi mẹ anh hay tôi quản lý tài sản của anh khi đặt bút ký giấy hôn thú. 


Như bà vợ cũ của nghệ sĩ Mick Jagger, khi ly dị thì chỉ được 1 triệu đô la thay vì gia tài của ông ta vì trước khi lấy nhau đã ký giấy tờ tiền hôn nhân, dù mai sau khi mình xa nhau cách nhau hoài thì em chỉ nhận 1 triệu đồng làm vợ anh. Ngược lại nghệ nhân Paul MacCarney khi ra tòa xin ly hôn để lấy bà vợ thứ ba thì bà vợ Linda kêu nữa gia tài. Chán Mớ Đời 


Do đó đàn ông phải nghe lời mẹ già vì đàn bà họ nhận ra ngay các cô mối chài từ khi gặp mặt lần đầu. Thấy trên mạng phỏng vấn vợ cũ của ông Hakimi, bà ta kêu ông chồng lọc lừa vì đã biến tiền bạc của ông ta trước khi làm đám cưới. Bà ta sẽ không bao giờ tin một người đàn ông nào khác. Qua vụ này thì mình nghĩ chắc chả có tên nào buồn đời lấy bà này nữa dù yêu thương thắm thiết như mối tình răng hở môi lạnh. Chán Mớ Đời 


Có câu chuyện về cầu thủ bóng rỗ Michael Jordan nghe lời mẹ như sau: Hợp đồng công ty sản xuất giày Nike của Michael Jordan trả ông ta 2,5 triệu đô la trong năm năm. Mẹ anh đòi thêm một điều khoản đặc biệt, và điều khoản đó từ đó đã mang về cho ông ta hơn 1,3 tỷ đô la. Nghe mẹ là giàu còn nghe vợ thì sạt nghiệp. 


Tưởng tượng khi ông Jordan nghe lời vợ thì chắc bà vợ kêu ký ngay để có tiền đi mua sắm. Lấy vợ phải xem tông nên phải cẩn thận vì gặp phải tín đồ thời trang hay tiêu phí là chắc chắn cả đời sẽ đói sau này. 


Năm 1984, ông Jordan không muốn ký hợp đồng với Nike. Ông ta muốn Adidas, thậm chí từ chối gặp mặt đại diện Nike nhưng mẹ ông, Deloris, bắt ông ta phải đi và đã thay đổi cuộc đời ông ta về tài chánh.


Nike đề nghị 500.000 đô la một năm, gấp hơn hai lần Adidas muốn trả.  Mọi người trong phòng hồ hởi phấn khởi, đều sẵn sàng ký nhưng bà mẹ, Deloris thì không. Bà gọi riêng cho Sonny Vaccaro của Nike và nói rằng con trai bà cần thêm một thứ khác: phần trăm trên mỗi đôi giày được bán có tên anh ta, Jordan.


Chưa từng ai đòi hỏi điều đó với công ty lớn này. Các cầu thủ chỉ nhận phí rồi về nhà, mua sắm xe xịn, kiếm gái chân dài. Nhà sản xuất ăn lời lổ chịu. Nike miễn cưỡng đồng ý với điều khoản này vì nghĩ không bao nhiêu.


Họ dự đoán doanh số Air Jordan năm đầu là 3 triệu đô la. Thực tế đạt 126 triệu. Chỉ trong sáu tuần đầu họ đã bán được 1,5 triệu đôi.

Jordan Brand hiện nay tạo ra khoảng 7 tỷ đô la mỗi năm. Bản thân ông Jordan thu khoảng 5% trên mỗi sản phẩm bán ra, hơn 350 triệu đô la chỉ riêng năm ngoái, hàng thập niên sau khi ông Michael Jordan đã ngừng chơi bóng.


Nike lúc đó quá không chắc về anh nên đã viết bốn điều khoản thoát vào hợp đồng. Anh đã vượt qua hết trong mùa giải năm mới.

Một đôi giày chỉ là một đôi giày cho đến khi con trai tôi bước vào nó.” – Deloris Jordan

Tiền lương đã làm anh giàu trong năm năm. Điều khoản mà mẹ anh kiên quyết đòi mới khiến anh trở thành tỷ phú mãi mãi.


Do đó chúng ta nên luôn luôn nghe lời mẹ khi lập gia đình và khi làm tiền cũng nên nghe lời mẹ về đầu tư vì chỉ có mẹ mới lo cho con hết trọn cuộc đời. Còn vợ thì hên xui vì người ta nói sau lưng một người đàn ông thất bại là một người đàn bà xúi dại còn sau lưng một người đàn ông thành đạt là một người đàn bà có thể lấy hết gia tài của mấy bác. Hãy nhìn xem gương các cầu thủ như Thierry Henri, Ronaldinho, Hakimi.,,, Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Đi ăn với 2 bà quả phụ

 Đi ăn với 2 bà quả phụ 

Hôm qua, 2 vợ chồng mời hai người bạn, goá chồng đi ăn tối. Bà hàng xóm mỹ và một chị bạn gốc việt. Cả hai vừa đưa tiễn ông chồng về thiên quốc. Đồng chí gái mời họ đi ăn để cho họ bớt lộn xộn đầu óc. Đi ăn với nhau mình mới thất kinh. Cho thấy những người mình quen biết nhưng ít tâm sự, không có dịp nói chuyện nhiều thì mình chả biết gì về họ. Khi chúng ta không biết rõ về họ thì hay mắc cái bệnh chụp mũ bú xua la mua.



Điển hình mình dọn về khu vực này ở được 14 năm. Bà hàng xóm mỹ chỉ chào hỏi khi gặp nhau đang ở trước cửa nhà. Chào hỏi 5 ba câu về trời nắng trời mưa rồi mạnh ai nấy vào nhà. Mình có mời hai vợ chồng họ ăn cơm tối ở nhà với một cặp láng giềng khác. Đến mùa bơ, mình đem bơ về tặng cho mấy người láng giềng để biểu dương tinh thần tương thân tương trợ, chủ vườn đùm láng giềng. Hàng xóm mỹ trồng cà chua hay gì đó, ăn không hết thì đem qua biếu lại mình. Đó là tình hàng xóm nghĩa người Mỹ.


Ngược lại bà hàng xóm mỹ, mỗi thứ 2, đều kéo thùng rác của nhà mình vào sau khi xe đổ rác đi qua. Bà ta đem dùm vào nhà sau, cũng như mấy người hàng xóm khác. Ông chồng làm cảnh sát khi xưa, về hưu ở tuổi 55, sau 35 năm trường kỳ kháng chiến chống băng đảng, tội ác ở Los Angeles.


Bà ta từng làm giáo viên thế cho trường tiểu học, nơi con gái mình đi học. Bà ta kể là suốt 50 năm qua, mỗi ngày bà ta đi bộ 4 dặm, sáng 2 dặm, chiều  thêm 2 dặm nên người bà ta gầy như con mắm nhưng rất khoẻ. Mình thấy bà ta nhổ cỏ, làm vườn hàng ngày trong khi ông chồng ngồi xem truyền hình. Bà ta có 2 đứa con nuôi vì khi xưa khoa học chưa tiến bộ như ngày nay, nên dù đã làm đủ kiểu, ăn chay niệm chúa nhưng chả dính bầu gì cả. Nên 2 vợ chồng quyết định nhận nuôi một đứa trai. Thời đó, họ không cho nuôi con người ta nếu bà vợ đi làm nên bà ta phải nghỉ làm, ở nhà để chăm nuôi đứa bé. Rồi vài năm sau, họ kêu ông bà muốn nuôi thêm một đứa con nuôi, vì họ chỉ cho ai đã có con rồi nên nhận thêm một đứa. 


Bà ta cho biết thời đó, rất khó xin con nuôi vì số trẻ em bị bỏ rơi xuống rất nhiều. Lý do là Hoa Kỳ cho phép ngừa thai và phá thai. Nếu thập niên 50, Hoa Kỳ cho phép ngừa thai và phá thai thì có lẻ chúng ta đã không có Steve Jobs và Bill Gates. 2 ông thần đã thay đổi lịch sử loài người, đều là con vô thừa nhận năm 1955.


Kể tới đây mình mới nhớ có vụ kiện đang xảy ra tại tiểu bang Wyoming. Có một nhà thương đang được xây để phục vụ những ai muốn phá thai thì có ai đó chống phá thai, chơi cha thiên hạ, đặt chất nổ nên kiện nhau ra toà. Luật sự của tên đặt chất nổ kêu là bệnh viện chưa được sử dụng nên chưa có thể gọi là bệnh viện phá thai. Còn bên luật sư của nhóm người xây bệnh viện thì cho biết ý đồ của họ là để sử dụng cho việc giúp các phụ nữ lầm đường lạc lối, giác ngộ cách mạng sau cơn say trên giường. Nên thiên hạ bênh chống đủ trò. 


Lý do là người đồng ý việc phá thai cho rằng, khi đứa bé chưa ra đời, thì chưa phải là con người nên có thể phá thai, kêu thiên chúa gọi về đợi ngày lành tháng tốt hay gặp người nào chấp nhận bảo lãnh nuôi sống mấy chục năm như bà hàng xóm thì mới cho phép đi đầu thai. Trong khi dân chống phá thai thì cho rằng cái nhau trong bụng mẹ là đã là đứa con do Thiên chúa toàn năng tạo ra nên cãi nhau mệt thở. Cứ đi ngang mấu bệnh viện phá thai là thấy ngoài đường có một đám đứng căng biểu ngữ chống đối này nọ. Để bào vệ, có nhóm người ủng hộ phá thai đem cờ đến hô hào đả đảo bọn cực hữu, tín đồ tôn giáo bú xua la mua. Có cuốn phim kể một tên ủng hộ phá thai và một cô chống phá thai đứng trước bệnh viện mỗi ngày, từ từ quen nên hỏi chuyện rồi lấy nhau. Chán Mớ Đời 


Bà ta cho biết là khi dọn về vùng này, thì mua một căn nhà nho nhỏ với 2 quả tim rất to to, giá $76,000. 13 năm sau họ bán với giá $395,000 (lên giá gấp 4 lần) và khu vực mình ở mới xây nhà nên bà ta buồn đời đòi mua với giá $575,000 lúc mới xây xong năm 1987. Nay chả biết giá bao nhiêu sau 40 năm. Kinh.


https://www.coastal.ca.gov/YourCoast/#/map


Mình biết bà ta sáng nào cũng đi bộ vì khi mình đi tập ở Đông Phương Hội về vào lúc 7:30 sáng là thấy xe bà ta cũng bắt đầu chạy về. Lúc đầu mới về đây ở, bà ta tưởng mình đi làm ca đêm về. Bà ta kể là có đi bộ xuyên bờ biển Cali từ biên giới với tiểu bang Oregon đến biên giới Mễ Tây Cơ, suốt 106 ngày, dài 1,230 dặm đường bộ khiến mình thất kinh. Bà ta thực hiện cách đây 20 năm với mấy người bạn. Họ mất 1.5 năm trời để chuẩn bị cho chuyến đi. Ban ngày sau khi ăn sáng, ông chồng lái chiếc xe Van, chở mọi người ra đến chỗ khởi hành, và chiều thì đón họ tại điểm đến của ngày, chở về chỗ cắm trại, có người nấu ăn cho. Nghe xong mình thất kinh, chắc sẽ nghiên cứu vụ này xem sao. Bác nào thích thì đi chung thì báo cho em hay, mất 3 tháng trời. Thật ra cũng không cần đi hết vì đọc tin tức thì có đến 25% đoạn đường chưa được sửa chửa hết.


Ngoài ra bà ta còn kể một chuyến du hành khác vòng quanh thế giới. Mình có đọc đâu đó, có một chiếc tàu chở thiên hạ có tiền đi chơi vòng quanh thế giới, có nhiều học giả giảng dạy họ về các môn và khi tàu cập bến nào đó thì họ chia ra từ lớp đi viếng trong ngày. Chồng bà ta là cựu cảnh sát viên, công ty cần 2 người làm bảo vệ để tránh nạn xô sát nhau, đúng hơn kiểm soát đám đông. Ông ta được mướn nên vợ được đi theo. Trước đây, mỗi năm vợ chồng bà ta hay lái xe chạy viếng các nơi, và nhờ mình trông nhà, thấy gì khả nghi thì báo cho biết. Tương tự khi mình và đồng chí gái đi chơi thì bà ta xem nhà dùm. Mình xem chương trình thì đa số các nơi này mình đã đến. Ai tò mò thì xem đường dẫn, giá tương đối không mắc lắm.


https://www.roadscholar.org/find-an-adventure/24691/World-Academy-on-Queen-Victoria-An-Epic-Global-Learning-Journey?utm_campaign=PEY363&utm_medium=cpc&utm_source=google&utm_id=PEY-I-G-PMAX-GENERIC&gad_source=1&gad_campaignid=23033164300&gbraid=0AAAAADvDB8i5s2hQ9GZZp88u612cdCK0q&gclid=CjwKCAjwvZHTBhAlEiwA1ug5P40BTwAx7rFH7xK9jQOvsyDsmXZmOoh2lJj6LG9CaLaVmgCX8KL5OBoCUrkQAvD_BwE


Mấy năm gần đây, ông chồng bị mỗ tim thì sau đó sức khoẻ xuống dốc, rồi bị lọc thận nữa. Bà chỉ cho mình xem mỗi ngày ông ta phải truyền 9 bịch nước gì đó, ăn uống thì cũng truyền ống. Chán Mớ Đời . Rồi ông ta ngã, bị gãy xương chậu nên vào nhà thương. Nhà thương đầu tiên không muốn giải phẫu nên bà ta chuyển qua nhà thương khác thì được giải phẫu nhưng sau đó thì nằm đơ luôn. Nên dù thương ông chồng sau 60 năm chinh chiến, nội chiến từng ngày, bà ta đành rút ống vì không muốn ông chồng sống như cỏi tạm. Mình nhắc lại là 75% người Mỹ già trên 65 tuổi chết vì ngã, gãy xương chậu nên phải giải phẫu, nhưng xương loãng khó lành nên nằm một chỗ rồi ra đi âm thầm. Do đó người ta khuyên về già đi bộ lên dốc, tốt hơn. Cho chắc xương và không bị ngã. Thêm nên đi nhảy đầm, múa kép rất tốt cho não bộ, định vị chân tay hay tập Thái Cực Quyền. Mình có kể vụ này rồi, ai buồn đời thì tìm trên bờ lốc.


Đồng chí gái có mời thêm một chị bạn, ông chồng cũng mới qua đời cách đây 2 tháng. Chị này thì sinh ra tại bắc việt trong thời chiến tranh, trẻ hơn đồng chí gái đâu 10 tuổi. Nên tuổi thơ là thấy cảnh trú mưa bom mỹ xuống Hà Nội. Năm 1979, ông bố người Việt nhưng gốc Hoa nên Hà Nội làm khó dễ khi Trung Cộng đánh miền bắc ở biên giới nên xuống tàu vượt biên, đến Hương Cảng. Hình như mình có kể vụ vượt biên của gia đình chị rồi, trên bờ lốc. Sau này mình có đọc bài vượt biển của ai từ miền bắc, thấy hao hao giống hoàn cảnh của gia đình chị ta nên đoán đi cũng chiếc tàu nên có gửi cho chị ta đọc.


Được bảo lãnh sang Hoa Kỳ, đi học ra bác sĩ. Con gái mình học chung với con của chị ta. Hai gia đình đi nghỉ hè chung khi xưa ở Cancun với bố mẹ chồng chị ta. Ông bố chồng, gốc Đài loan nhưng chống tàu, thích Nhật Bản. Lý do là khi xưa, trước năm 1949, đảo đài Loan thuộc địa của Nhật Bản. Tàn binh của ông Tưởng Giới Thạch vượt biển sang đây và thôn tín luôn. Sang Hoa Kỳ học ra tiến sĩ rồi ở lại, dạy đại học. Anh chồng thì tốt nghiệp MIT, sau đó lấy Master ở đại học Cal Tech. Sau bị thất nghiệp nên làm quản lý cho phòng mạch của vợ nên có lẻ Chán Mớ Đời nên bị ung thư dù rất trẻ. Khi đi leo núi, anh ta ở dưới, lấy xe đưa đón cả đám. Chiều về ăn uống rất vui. Khi nghe tin anh ta bị ung thư, có ghé lại nhà thăm thì thấy ăn cũng truyền ống là thấy thua rồi. Mình thà thăm họ trước khi qua đời còn hơn là đi đám tang.


Mình nói đồng chí gái nên tham gia các chuyến đi do đám bạn của chị này tổ chức. Cần phải “diversify” thân hữu vì nhóm bạn cùng tuổi với đồng chí gái thì nay, sức khoẻ yếu nên ai nấy rêm rêm hia, rêm rên dze. Nhìn thấy nản lắm. Trẻ hơn thì họ còn năng động, thích sinh hoạt ngoài trời. Họ đạp xe đạp, leo núi mỗi tuần, giúp mụ vợ tươi thêm. Chớ gặp bạn cùng tuổi đồng chí gái thì Chán Mớ Đời. Họ hết nói uống thuốc này, uống thuốc kia cho khỏi đau nhức này nọ, khiến tinh thần xuống theo họ. Chán Mớ Đời 


Mời hai bà quả phụ đi ăn giúp họ có cớ, chiểu tối ra khỏi nhà, thư giãn một tí. Một người tiễn ông chồng về thiên quốc sau 60 năm chung sống, nuôi hai đứa con của người khác. Một người thì sau 30 năm khói lửa nội chiến từng ngày. Chắc để lại cho họ nhiều trống vắng trong cuộc đời. Lâu lâu sẽ nhắc đồng chí gái mời họ đi ăn để họ cảm thấy vẫn có người lo cho họ. Lần sau thì không cần mình đi theo.


Đi ăn với họ, mới khám phá ra bà hàng xóm từ 14 năm qua, gặp nhau, nói chuyện, lâu lâu đi chơi về thì hai vợ chồng hú mình vào nhà để hỏi han về chuyến đi nhưng chỉ có đi ăn một buổi tối, mới hiểu thêm về cuộc đời bà. Ở tuổi 81, bà ta vẫn đi bộ mỗi ngày 2 dặm vào buổi sáng và 2 dặm vào buổi chiều từ 51 năm qua. Kinh. Còn chị bạn thì rất năng động, leo núi Mont Blanc bên tây năm kia. Hàng năm chị ta hay tổ chức đi leo núi với nhau. Vấn đề chị ta là bác sĩ, đi leo núi với chị ta thì mỗi sáng ra chị ta bắt mỗi người uống thuốc trị đau nhức bú xua la mua. Mình thì không uống. Chị ta xúi mình leo núi Kilimanjaro.  Thấy ý kiến hay nên mình cũng đăng ký đi. Chán Mớ Đời 


Chúc các bác một ngày vui.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Parc à buffles , nhà thổ quân đội pháp tại Sàigòn

 « Parc à buffles » nhà thổ quân đội pháp

Không ảnh Parc à Buffles tại Sàigòn, 

Hôm nay vào trang nhà chiến tranh Đông-Dương xưa, thấy có không ảnh của nhà thổ Tây ở Sàigòn khi xưa mà lính viễn chinh người Pháp gọi là Parc à buffles , tên chính thức là Bordels Militaires de Campagne (BMC). Nôm na là chuồng trâu vì theo họ kể lại thì như nhà máy hộ lý. Ngoài Đông-Dương ra người Pháp cũng có thành lập nhiều nhà thổ ở các thuộc địa khác của họ như ở Bắc Phi. 


Tò mò mình tìm tài liệu để đọc vì có mấy ông tây có nghiên cứu về vấn đề hộ lý cho lính pháp và lính thuộc địa của họ đem sang Việt Nam như lính Lê Dương (légionnaires) , mặt gạch (malgache),… hay lính Maroc. Mình có đọc một bài giải thích về lính Maroc đi lính cho tây rồi sao đó họ đào ngủ chạy về phiá Việt Minh, hay bị bắt làm tù binh nên dần dần họ lập gia đình với người Việt nên miền Bắc Việt Nam có cái làng gọi làng hữu nghị Maroc-Việt.

Cửa vào nhà thổ tại Sàigòn 


Mình hay đọc mấy chuyện này không phải để lên án người Pháp này nọ chỉ để hiểu thêm về lịch sử của Việt Nam thời bị người Pháp đô hộ để hiểu về xã hội, kinh tế thời xưa. Thời thực dân với hoàn cảnh chính trị, kinh tế địa chính khác của thế giới khác với tư duy của chúng ta ngày nay.  Cho nên không cần lên án này nọ chỉ để hiểu người xưa sống ra sao. Mấy người Pháp thuộc thế hệ của mình hay trẻ hơn cũng tò mò tìm hiểu về lịch sử cha ông của họ đã đi qua. Như tìm về phương diện tâm lý, để hiểu thêm về cha ông của mình. Họ đăng tải hình ảnh cha ông của họ hay thư từ gửi từ Đông-Dương về, hy vọng có ai đó đã kinh qua sự việc sẽ nói thêm sự việc giúp họ hiểu hơn về lịch sử gai đình và cha ông. Cũng có sự phiền hà là các chiến sĩ an ninh mạng nhảy vào chửi bới bú xua la mua không giúp đem lại sự hiểu biết rõ ràng thêm về lịch sử khi xưa.


Trong lịch sử loài người thì khi có can qua, phụ nữ là người chịu thiệt thòi nhất. Kẻ thắng cướp giật, hãm hiếp họ, bắt làm nô lệ,… xem phỏng vấn của mấy người đức kể khi quân đội hồng quân chiếm đóng vùng Đông đức, thì họ tha hồ hãm hiếp mấy phụ nữ người đức đêm ngày. Nhưng bên thắng cuộc không bao giờ nhắc đến sự việc này.

Bên trong chuồng trâu, thấy phụ nữ người Việt và lính tây đang dò hỏi nhau. Tỏng cuốn phim thấy rõ hơn


Phụ nữ Việt Nam đóng vai trò trung tâm nhưng cũng rất bi kịch trong hệ thống Bordels Militaires de Campagne (BMC), đặc biệt tại Parc à buffles ở Chợ Lớn (Sài Gòn). Dưới đây là nghiên cứu chi tiết dựa trên các nguồn lịch sử Pháp và các nghiên cứu liên quan.


Tại Parc à buffles – BMC lớn nhất Sài Gòn – có hàng trăm phụ nữ, chủ yếu là người Việt (Indochinoises) và một phần người Hoa. Một số nguồn ước tính BMC lớn nhất có tới gần 500 phụ nữ Việt. Hình như cũng có người Nhật vì mình có đọc tài liệu, nói người Nhật đói quá nên có di dân sang Đông NAm Á, các phụ người Nhật thường làm việc trong các chỗ bán thuốc phiện, và điếm. Mình có mấy tấm ảnh này. Người Nhật đi dân khá đông sang Hoa Kỳ, Nam Mỹ,…


Phần lớn là phụ nữ nghèo từ nông thôn (đặc biệt miền Bắc – Tonkin), thành thị, hoặc những người bị hoàn cảnh đẩy vào. Nhiều người bị buôn bán, dụ dỗ, hoặc ép buộc bởi mạng lưới môi giới (các “mères maquerelles” tú bà, chủ nhà thổ). Một số là “congaï” (từ chỉ phụ nữ Việt chung sống hoặc quan hệ với lính Pháp), chuyển sang làm trong BMC.


Điều kiện làm việc cực kỳ khắc nghiệt: cabin vải mỏng, giường gỗ, thiếu vệ sinh, làm việc liên tục với số lượng khách lớn.

  • Phục vụ nhu cầu tình dục: Đây là vai trò rõ ràng nhất, nhằm “giải khuây” cho binh lính Pháp và các lực lượng thuộc địa. Quân đội Pháp quản lý chặt chẽ để kiểm soát bệnh tật.
  • Kiểm soát y tế: Phụ nữ phải khám sức khỏe định kỳ bởi bác sĩ quân y. Nếu nhiễm bệnh, họ bị cách ly hoặc điều trị bắt buộc. Hệ thống này mang tính thực dụng thuộc địa, coi phụ nữ như một “công cụ” để duy trì sức chiến đấu của quân đội.

Khi tướng De Lattre ra quyết định đổ quân để xây dựng căn cứ Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt quân Việt Minh. Quân Pháp đã đưa một số BMC (bao gồm phụ nữ Việt và Algeria) bằng máy bay đến Điện Biên Phủ. Giúp mấy ông lính thú đóng đồn ở vùng này xả xú-bắp. Nhưng khi trận đánh nổ ra, nhiều phụ nữ Việt trong BMC tình nguyện chuyển sang làm y tá, cứu thương. Chăm sóc thương binh dưới bom đạn và hỗ trợ bệnh xá, băng bó vết thương. Sau khi Pháp thất bại, họ bị Việt Minh bắt. Nhiều người bị xét xử, cải tạo, nhục mạ và tra tấn vì bị coi là “kẻ tiếp tay cho thực dân”. 


Sau này, người Pháp chỉ nói đến một phụ nữ duy nhất có mặt tại căn cứ Điện Biên Phủ là bà y tá tên Genevieve de Galard. Bà ta muốn nhắc đến các phụ nữ trong binh đoàn hộ lý cho lính pháp nhưng được nhà cầm quyền Pháp ngăn cản. Trong cuốn phim Putains de Guerre, có bà người Maroc kể là người ta đến làng của bà kêu gọi đi Việt Nam kiếm tiền nên đi theo, sau bị thương nên được chữa trị và hồi hương.


Các nguồn tài liệu như (Michel Bodin, hồi ký bác sĩ Grauwin, ông bác sĩ này mình có gặp ăn cơm vài lần ở Paris, rất dễ thương với tướng Bigeard và tướng Raoul Salan. Bà Geneviève de Galard…) gọi họ là “những anh hùng bị lãng quên” của Điện Biên Phủ, dù trước đó họ bị xã hội khinh miệt.


Hệ thống nhà thổ BMC là biểu tượng của chủ nghĩa thực dân Pháp, trong đó phụ nữ bản xứ bị coi là “tài nguyên” phục vụ quân đội. Nhiều nghiên cứu hiện đại nhấn mạnh yếu tố cưỡng bức, buôn người, và lạm dụng vị thành niên. Làm nghề hộ lý này cũng bị dính bệnh tật, bạo lực, thai nghén ngoài ý muốn, và bị kỳ thị khi trở về cộng đồng. Nhiều phụ nữ Việt trong BMC gặp khó khăn lớn trong việc hòa nhập xã hội sau 1954. Một số theo lính Pháp sang Pháp hoặc các thuộc địa khác (có cộng đồng nhỏ “Senegalese Vietnamese wives” hoặc tương tự). Bên Maroc có một cái làng Việt-Maroc vì mấy ông lính Maroc, sang Việt Nam lấy vợ Việt Nam đem về xứ. Lần sau đi Maroc, mình sẽ ráng ghé viếng ngôi làng này.


Ngày nay chúng ta có thể lên án này nọ nhân danh đạo đức ở thế kỷ 21 nhưng vào thời đó, tư duy rất khác như thời Hy Lạp, các nhà hiền triết như Aristotle, Plato, Socrates, đều chấp nhận vai trò các kẻ nô lệ. Đối với người Pháp, thì họ thường miêu tả mang tính thực dụng (duy trì moral des troupes) hoặc hoài niệm (exotisme). Ông Michel Bodin và các sử gia khác ghi nhận vai trò của họ nhưng vẫn trong khuôn khổ lịch sử quân sự. Có thể có mấy nhà thổ giúp lính pháp không đi hiếp dâm bậy bạ ngoài đường hay làng mạc. Trong cuốn phim kể trên, có ông kể có bà đầm than phiền là có mấy cô gái giang hồ, ông ta giải thích nhờ vậy mà các cô trong làng hay tành phố không bị chọc ghẹo khi lính ra trại.


Ngày nay, có biết bao nhiêu căn cứ quân đội Hoa Kỳ trên thế giới, mình chắc chắn sẽ cũng có các nhà thổ gần căn cứ mỹ để giúp binh lính mỹ xả sú-bắp nếu không có thể xảy ra nhiều phiền phức như có nghe nhiều lần lính mỹ hiếp dâm mấy cô gái người Nhật gần căn cứ mỹ.


Trong cuốn phim cũng nói đến khi lính Mỹ đóng ở vùng Evreux, Pháp quốc sau đệ nhị thế chiến thì có nhiều cô gái pháp bán sương vì có lính mỹ, gây thêm tang vỡ nhiều gia đình vì dính thai lai mỹ. Ở Pháp, mình có kể vụ trong suốt 4 năm lính Đức quốc xã chiếm đóng, người ta gọi là “collaboration horizontale”, nôm na là hợp tác trên giường của các cô gái pháp. Đói quá, nên phải ngủ với kẻ thù khiến sau này có đến trên 200,000 con lai Đức quốc, bị nguyền rủa, cũng như các cô gái hợp tác trên giường với lính đức, bị cạo đầu bêu xấu trước đám đông. Sau này, người ta nói trớ đi là các cô hy sinh cơ thể để kiếm tin tức cho quân đội kháng chiến pháp.


Còn người Việt thì ít được ghi chép công khai, thường gắn với tội ác thực dân, bóc lột phụ nữ, và bi kịch chiến tranh. Họ là nạn nhân của cả hai bên xung đột. Trong khi ngày nay,  các học giả như (Marie Robin, Christian Henriot…) nhấn mạnh khía cạnh giới, quyền lực thuộc địa và bạo lực tình dục trong chiến tranh. Mình nghe kể trên đường mòn Hồ Chí Minh, khi xưa cũng có rất nhiều cô gái hộ lý, giúp các bộ đội vào nam lên tinh thần.


Mình tìm được tài liệu của ông  Michel Bodin được viết qua vài cuốn sách nên ghi chú lại đây cho ai thích nghiên cứu lịch sử thay vì lên án:

« Parc à buffles » là một khu bordel quân sự khổng lồ ở Chợ Lớn (khu phố người Hoa của Sài Gòn), hoạt động chủ yếu từ cuối những năm 1940 đến giữa những năm 1950.

  • Nó nằm dọc theo đại lộ Gallieni, Sàigòn 
  • Đây là một phức hợp rộng lớn được tổ chức cho quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương, nhằm kiểm soát mại dâm và hạn chế bệnh lây truyền qua đường tình dục ở binh lính (các cô gái phải khám sức khỏe định kỳ).
  • Hàng trăm phụ nữ làm việc trong điều kiện sơ sài (các cabin vải, giường gỗ). Nó được gọi tên như vậy một cách mỉa mai hoặc so sánh với khu chuồng trại chăn nuôi gia súc, do quy mô công nghiệp (« trung tâm giết mổ lớn » theo một số lời kể).
  • Đây là một phần trong hệ thống các cơ sở giải trí (nhà thổ, tiệm hút thuốc phiện, v.v.) được quân đội Pháp dung túng hoặc quản lý thời bấy giờ. Sau năm 1955, khi quân Pháp rút đi, cơ sở này đã biến mất. Hình như chính phủ Ngô Đình Diệm dẹp vụ này.
  • Ngày nay không còn dấu vết gì; đây là một địa điểm lịch sử được nhắc đến trong các hồi ký về Chiến tranh Đông Dương, ký ức của binh lính và các tác phẩm về thời kỳ thuộc địa/cuối sự hiện diện của Pháp tại Việt Nam.


Có phim tài liệu về nhà thổ tại Việt Nam, Algérie, Bosnia của nó thực hiện. Ai biết tiếng pháp thì xem cho qua ngày. Putains de Guerre của đài Pháp.

https://youtu.be/WGQ_HAQUQxU?is=cE4HEajRB6vyOfmZ


Dưới đây là cái nhìn tổng quan về lời chứng của các binh sĩ Pháp (và các đơn vị khác thuộc CEFEO) trong Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), tập trung vào bối cảnh « Parc à buffles » và đời sống hàng ngày (khoái lạc, BMC, tinh thần binh lính). Những câu chuyện này xuất phát từ hồi ký, lưu trữ quân sự, sách lịch sử và phỏng vấn. Chúng thường thô ráp, e dè hoặc mang tính hoài niệm, phản ánh không khí thời đại.

Về « Parc à buffles » (BMC khổng lồ ở Chợ Lớn/Sài Gòn)

  • Đây là một nhà thổ quân sự dã chiến (BMC) khổng lồ trên đại lộ Gallieni, là cơ sở dành cho quân đội. Một sĩ quan kể: « Chỉ riêng cảnh tượng đã đáng giá chuyến đi… » (mô tả quy mô và sự nhộn nhịp). Hàng trăm phụ nữ (chủ yếu người bản xứ Đông Dương) làm việc trong những cabin sơ sài với giường gỗ và một thùng nước để rửa ráy.
  • Michel Bodin (nhà sử học dựa trên nhiều lời chứng) mô tả nó như một « trung tâm giết mổ lớn » phục vụ « mọi sở thích và mọi túi tiền ». Binh lính đến đây để nghỉ ngơi sau chiến trận, với kiểm soát y tế định kỳ nhằm hạn chế bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  • Một trung sĩ (tại ngũ 1948-1951) nhắc đến các thực hành thông thường trong BMC, trong đó có Parc, kết hợp giữa sự kỳ lạ và thói quen vệ sinh.
    người Pháp gửi bưu thiếp về cho người thân kể về nhà thổ.

Ví dụ cụ thể từ lời chứng (André Calves, nhập ngũ 1951-1952) Trong hồi ký viết tay của mình, ông kể lại một câu chuyện trực tiếp từ một người bạn đồng đội tái nhập ngũ tại Sài Gòn (tháng 7/1952):

« Tối qua tao đã quyết tâm đụ cho đã. […] Không phải ở Parc à buffles, mà ở nhà thổ trong trại. Cô ta bảo: “đã hơn mười một giờ rồi, đưa tao thêm 20 piastre.” […] Như thằng ngu tao lại đưa thêm hai mươi piastre. Chúng tao cọ qua cọ lại một chút, khi tao cương cứng tốt, tao lật cô ta lại một phát. Nhưng ngay khi cô ta cảm nhận đầu con cặc của tao cọ vào đít, cô ta nhảy dựng lên. […] Tao bị mất tiền oan. Xui xẻo thật! »

Điều này minh họa cho cuộc sống hàng ngày bình thường, những cuộc mặc cả và nỗi thất vọng trong các nhà thổ địa phương hoặc trong trại.


Lính Lê Dương của Pháp về nước dưỡng sức thì chắc chắn nhà thổ cũng đâu đó gần đây. Có ông tây kể ở Algerie có nơi, hai bên hai cái quán rượu và ở giữa là độn mãi dâm


Các lời chứng khác rộng hơn về cuộc chiến

  • Đời sống tình dục và tinh thần binh lính: Các báo cáo của Sở Y tế và lời chứng do Michel Bodin thu thập nhấn mạnh vai trò quan trọng của BMC và « con gái » (quan hệ với phụ nữ Việt) đối với tinh thần quân đội. Nhiều binh sĩ lý tưởng hóa phụ nữ Đông Dương (vẻ duyên dáng, dịu dàng) đồng thời nhắc đến rủi ro (bệnh tật, thất vọng). Quân Bắc Phi và Lính Lê dương đôi khi có BMC riêng.
  • Tại Điện Biên Phủ: Phụ nữ trong BMC đôi khi hỗ trợ như y tá tạm thời. Bác sĩ chỉ huy Grauwin và Geneviève de Galard đã chứng kiến sự tận tụy anh hùng của họ bên cạnh thương binh, trước khi bị bắt và chịu số phận bi thảm dưới tay Việt Minh.
  • Tổng quát: Nhiều cựu binh nhắc đến nỗi buồn chán, nỗi sợ hãi, sự kỳ lạ, thuốc phiện, rượu và nỗi nhớ « Mal jaune » (sự gắn bó với xứ sở dù trong chiến tranh). Các câu chuyện thường e dè về chuyện tình dục, nhưng rất phong phú trong lưu trữ (SHAT) về sức khỏe và tinh thần.

Những cuốn sách mà các bác có thể tìm đọc nếu muốn hiểu rõ hơn về một thừoi tỏn g lịch sử cận đại của Việt Nam.

  • Michel Bodin, Le plaisir du soldat en Indochine (1945-1954) (bài nghiên cứu chi tiết kèm lời chứng).
  • M.S. Hardy, De la morale au moral des troupes ou histoire des BMC.
  • Hồi ký như của André Calves hoặc P. Giudicelli (Médecins de bataillon en Indochine).
  • Phim tài liệu Putains de guerre (Stéphane Benhamou, 2013) với các đoạn phim và phỏng vấn về BMC ở Đông Dương. Mình có tải đường dẫn phía trên. Nói tiếng pháp.

Chán Mớ Đời 


Mình tìm được hai tấm ảnh của bà Nguyễn THị Minh Khai, không dính dáng gì đến bài viết. Để đây để nhớ khi nào cần thì mò ra để xoá trên máy vì quá nhiều hình ảnh.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn