Ông Thích Minh Tuệ và nền kinh tế ngầm

 


Thích Minh Tuệ và nền kinh tế ngầm


Mấy năm trước, có lần mình coi trên du-tu-be có một ông thần đi lên núi, lần mò đâu vùng Đà Nẵng hay Nha Trang để phỏng vấn ông sư Thích Minh Tuệ khiến mình lấy làm lạ vì từ bé mình chỉ thấy mấy ông sư trong chùa. Lâu lâu có thấy mấy ông sư đi khất thực mà người lớn nói họ là sư phái tiểu thừa chi đó. 


Được cái ông Thích Minh Tuệ không tự nhận là sư sãi, ông ta chỉ tu theo con đường của Phật Thích Ca khi xưa và có mây mở CD để nghe kinh giảng Phật giáo. Thường người ta chỉ mong vào mấy ông sư ở chùa để nghe họ giải thích các kinh pháp theo tư duy hay suy diễn của họ. Nhiều khi mình nghe nhiều ông thầy giảng khiến mình đã ngủ lâu lại càng thấy mình ngủ bền vững nhất là khi vẽ chùa, cần đọc về Phật Giáo để thiết kế Bát ChínH đạo và Tứ Diệu Đế. 


Sau này các Du-tu-bơ chạy theo ông ta rần rần thì lại có một ông thần nào cũng đã phỏng vấn ông Thích Minh Tuệ trước khi trào lưu được các Tíc-tok -cơ bình loạn trên mạng xã hội thấy ông ta nói nhiều điều khá hay nhất là thấy ông ta ngồi ngủ này nọ. Sau này thì mình Chán Mớ Đời không theo dõi nữa vì chả học được gì thêm người mấy ông thần trên du-tu-be bình loạn cào cào để câu view. 


Gần đây có ông thần nào viết về hiện tượng ông Thích Minh Tuệ và kinh tế rất lạ nên mình tóm tắc ở đây:


Nghịch lý kinh tế của ông Thích Minh Tuệ là Ông ta chủ trương sống tối giản: đi bộ chân đất, khất thực, không sở hữu tài sản đáng kể, không vận động quyên góp và không xây dựng tổ chức kinh doanh nào. Tuy nhiên, chính hình ảnh đó lại tạo ra các tác động kinh tế đáng kể và lên ư mấy tỷ mỹ kim theo các kinh tế gia suy đoán. 


Những tác động kinh tế có thể quan sát được như Kinh tế truyền thông như Hàng nghìn video YouTube, TikTok, Facebook về hành trình của ông thu hút lượng xem rất lớn. Nhiều nhà sáng tạo nội dung kiếm doanh thu quảng cáo nhờ theo dõi và phát sóng hành trình này. Mình mua ngay lúc đầu cái áo 3 lỗ có hình ảnh của ông Thích Kinh Tuệ đi khất thực. 

Khi đoàn người đi theo ông qua các địa phương, các dịch vụ ăn uống, lưu trú, vận chuyển và buôn bán nhỏ thường có thêm khách. Một số nơi xuất hiện lượng người tập trung đông đột biến khiến công an phải ra tay. 


Hình ảnh của ông được sử dụng trên mạng xã hội, sản phẩm lưu niệm và các hoạt động thương mại trực tuyến. Nhiều người xem ông như biểu tượng của sự chân thật và tiết chế trong một xã hội ngày càng tiêu dùng mạnh. Khi xem hai phỏng vấn ông ta, một trong góc đá và bụi rậm và một ông thần chạy xe theo để mỗi chiều phỏng vấn ông Thích Minh Tuệ khiến mình suy nghĩ nhưng chỉ đi bộ 375km bên Ý Đại Lợi cho vui đời người bán bơ chớ không dám buông bỏ hết. 


Điều khiến nhiều quan sát viên quan tâm không phải là số tiền ông tạo ra cho bản thân (gần như không có), mà là việc một người từ chối vật chất lại có thể tạo ra ảnh hưởng kinh tế rộng lớn. Một số nghiên cứu gần đây thậm chí cố gắng ước tính giá trị kinh tế phát sinh từ hiện tượng này ở quy mô hàng trăm triệu USD, dù các con số đó vẫn còn gây tranh luận và chưa được giới học thuật kiểm chứng rộng rãi.  


Từ góc độ kinh tế học, hiện tượng Thích Minh Tuệ cho thấy: Niềm tin là một loại vốn xã hội rất mạnh. Sự khan hiếm và tính chân thật có thể tạo ra sức hút lớn hơn nhiều chiến dịch quảng bá tốn kém. Một cá nhân không sở hữu tài sản vẫn có thể tạo ra giá trị kinh tế gián tiếp cho xã hội.  


Nói ngắn gọn: ông Thích Minh Tuệ không phải là một hiện tượng kinh tế theo nghĩa thương gia hay nhà đầu tư, nhưng lại là một ví dụ đặc biệt về cách uy tín đạo đức và niềm tin xã hội có thể chuyển hóa thành ảnh hưởng kinh tế rộng lớn.


Vấn đề cho các chùa tại Việt Nam qua hình ảnh của ông Thích Minh Tuệ, khiến Phật tử có cơ hội nhìn lại niềm tin của mình nhất Đảng nhì Phật tam thầy sư với sự xa hoa. Nghe nói có ông sư nào có bằng tiến sĩ khiến thầy giáo khi xưa phải quỳ lạy rồi hỏi khám phá ra bằng tiến sĩ của ông ta là bằng mua. Chán Mớ Đời 


Qua hình ảnh của ông Thích Minh Tuệ khiến mình phải xem lại niềm tin của mình và sự chạy đua theo nhà cửa bơ quýt này nọ. (Còn tiếp)

Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Con cháu đông đầy

 Con cháu đông đầy


Hôm qua, đám cưới thằng cháu khiến mình rất vui. Lý do là con mình, con của mấy ông anh bà chị vợ đều bay từ xa về, New York, Boston,…để tham dự đám cưới con trai đầu của một ông anh vợ. Lúc ăn uống xong thấy chúng tụ tập nhau nhảy muá chọc nhau như khi đi nghỉ hè chung, thấy vui. Rồi thêm mấy đứa cháu nội, cháu ngoại của mấy anh chị vợ. Có đứa cháu gọi mình bằng ông sắp sửa tốt nghiệp đại học, lại có bồ, vài năm nữa có cháu gọi bằng cố ông. Nói chung là con cháu thế hệ thứ 2 là 18 đứa. Rồi chúng sinh đẻ đầy ra, mỗi cặp 2, 3 đứa thêm đâu 16 đứa cháu thế hệ thứ 3, và còn 11 đứa thế hệ 2 chưa lập gia đình. Nội 11 đứa kia lập gia đình thì chắc sẽ đông hơn. Nội nhớ tên mấy đứa này là thấy oải đời tình anh bán bơ.

Cháu gọi bằng Bà, cô cháu dâu là gốc Nhật Bản nên cho nó đi học trường Nhật Bản nên đến nhà mình là nó xếp giày dép hết. người Nhật huấn luyện thu dọn từ bé.


Hôm nay cả đám kéo lại nhà mình để một đứa cháu gái có bầu, báo tin giới tính của đứa con thứ 2. Tối hôm qua, chú rể đến bàn cảm ơn đồng chí gái đã tụ tập, giúp gia đình anh em trong gia đình vẫn giữ được tình yêu thương Huynh đệ từ mấy chục năm qua. Khi xưa, lúc tụi này mới cưới nhau, đi chơi, đồng chí gái hay tổ chức chở thêm mấy đứa cháu lên núi hay ra biển chơi hay qua Mễ Tây Cơ ít ngày vì bố mẹ chúng lo bận buôn bán. Ở Hoa Kỳ mà có 6 đứa con là hơi mệt. Phải cày ngày chưa đủ tranh thủ cày đêm.


Hôm đầu tuần, con gái mình được thằng bồ cầu hôn, mấy đứa cháu cũng kéo lại chật nhà dù không phải cuối tuần.


Được cái là vợ mình và bà chị vợ chịu khó chi tiền vì đa số mấy bà chị dâu không muốn chi gì cả. Hai chị em bỏ tiền hàng năm ra trả khách sạn hay nhà thuê AirBnB để cho cả đại gia đình tụ họp các kỳ nghỉ hè cho 36 mạng. Thật ra bỏ tiền thì cũng con cháu mình hưởng chớ có phải ai đâu nên không cần do dự. Như mẹ vợ mình và bà cụ mình đều nói “ở sởi lởi trời cho, ở so đo trời lấy lại”. Hay các lễ giáng sinh, tạ ơn và Tết đều họp mặt ở nhà mình. Mấy đứa cháu có bồ là cứ đem lại nhà mình vào các dịp lễ để thấy anh em cô cậu hay chú bác xum vầy, chơi trò chơi, đánh bài lắc bầu cua,… được cái là mấy đứa cháu dâu hay cháu rể cũng rất hoà đồng, có vài đứa mỹ trắng hay taut Nhật Bản nhưng cũng húp nước mắm mệt thở.


Vợ mình kể là học ở mấy bà dì, chị và em của mẹ khi xưa. Mỗi lần ra Đà Nẵng chơi, là dì cho ăn mệt thở. Ông anh vợ kể, tối đi ngủ, dì đi vòng vòng ngay cả giường mình để xem có ngủ chưa, cần mềm chiếu gì không dù dì có 14 người con. Có bà dì ở Sàigòn, cháu ở Đà NẴng hay hỘI AN vào Sàigòn học đại học thì đều ở lại nhà dì hết. Dì nuôi. Hy sinh đời dì củng cố đời cháu. Sau này, qua mỹ, cháu trả ơn, mời dì đi nghỉ hè hay vợ mình mỗi tuần ghé lại nhà chở dì đi chơi, ăn uống để dì bớt buồn. Dì hay nói “chú Sơn và PT chở dì đi chơi như ri là dì vui lắm.” Tình thương của mấy bà dì dành cho các cháu khiến đồng chí gái và bà chị vợ noi theo.


Chớ mình thấy nhiều gia đình quen hay họ hàng, kỵ giỗ không tham dự, đám cưới không mời nhau giữa anh chị em. Chưa kể có gia đình đem nhau ra toà vì ba chuyện tiền bạc vớ vẩn. Anh em không nhìn mặt nhau nên cháu chắc cũng lánh xa. Chán Mớ Đời 


Nhớ khi xưa ở Đà Lạt, mỗi lần gần tết là có chạp mộ mấy người ở làng vào Đà Lạt sinh sống rồi qua đời. Sau đó các gia đình tụ tập nhau ăn bún bò tại nhà chú Thành, lái xe Lam ở đường Hai Bà Trưng, gần số 4 để người cùng làng họp mặt để biết ai bà con ai con bà. Rồi mỗi lần giỗ bên ngoại thì vào nhà ông Dụ ở Xuân An hay ra nhà ông bà Phúng ở 11 Duy Tân.


Năm ngoái mình về Sàigòn thì mấy người em họ ở Sàigòn mời mình dùng cơm. Rất vui vì đa số mình không biết mặt, gặp nhau lần đầu nên cảm thấy rất gần gũi như người Việt hay nói giọt máy đào còn hơn thau nước lã. Con của mấy bà dì hay chú của mẹ mình ở Sàigòn. Nhưng tình cảm của mấy người em rất đậm đà như bánh bột lọc, bánh nậm của làng Dưỡng Mong. Mấy bà Dì và ông Cậu rất mến mẹ mình. Mẹ mình là cả về vai vế vì ông ngoại là anh đầu.


Cho thấy bên vợ cũng như bên nội của mẹ mình anh em rất hoà thuận, đó là cái phước của gia đình. Hy vọng những gì đồng chí gái và bà chị vợ làm cho mấy đứa cháu, sẽ được đám cháu sau này tiếp tục thực hiện tinh thần đùm bọc lẫn nhau để tình cảm anh em họ hàng vẫn luôn luôn bền vững. Đó là niềm hạnh phúc khi anh em và bà con hoà thuận nhau thay vì tì hiềm với những lùng bùng tiền bạc. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Cuộc chiến kinh tài trước 75

 Cuộc chiến kinh tài trước 75

Trong cuộc chiến Việt Nam vừa qua, người ta thường nói về quân sự, chiến thuật với những trận đánh nhưng có lẻ việc quan trọng để thắng một cuộc chiến là kinh tế. Chúng ta thấy ngày nay các cuộc chiến Ukraina hay vùng vịnh Ba tư, các nước cứ ra lệnh cấm vận để thắc chặt nền kinh tế của Nga hay Ba Tư, mong sao họ sẽ kinh tế họ kiệt quệ và đầu hàng.


Vấn đề là các cuộc cấm vận này thường không thành công. Lý do là có chợ đen. Ông thần Putin bán cho anh ba tàu dầu hoả rẻ. Thế là bác Putin cứ tha hồ đánh anh Ukraina. Tương tự Hoa Kỳ cấm vận anh Ba tư thì họ bán dầu rẻ cho anh ba tàu. Huề cả làng.


Tương tự khi người Pháp trở lại Đông-Dương năm 1945 với danh nghĩa tước vũ khí quân đội Nhật Bản thì đảng cộng sản có gây quỹ để chống pháp. Mệ ngoại mình kể là có tuần lễ vàng, khiến thiên hạ nô nức góp tiền bạc. Mệ ngoại tặng 1 sợi dây chuyền. Thời xưa có một sợi dây chuyền, nghèo là Qúy lắm. Pháp quốc sau thế chiến thứ 2 thì đói nên họ sử dụng thuốc phiện do người Thái trắng trồng để bán ở Hà Nội và toàn Việt Nam, nhằm gây quỹ chống lại Việt Minh.


Do đó khi Việt mInh đã làm chủ tình hình vùng Việt bẮc thì quay qua vùng tự trị của người Thái, để đánh phá nhằm cắt đường kinh tài cho người Pháp. Do đó người pháp đã biến thung lũng Điện Biên Phủ thành một căn cứ nhằm đánh tan các sư đoàn của việt minh như họ đã từ làm tại căn cứ Na-San. Điện biên Phủ thất thủ thì người Pháp chả còn tiền để tiếp tục cuộc chiến nên rời Việt Nam.


Trong cuộc chiến Việt Nam trước 75, ngoài các trận đánh, có một cuộc chiến âm thầm bí mật khác mà ít ai nhắc đến, rất quan trọng là cuộc chiến kinh tài. Việt Cộng đưa bộ đội qua ngõ Hạ Lào, Cam Bốt để đánh phá Việt Nam Cộng Hoà. Họ chuyên chở vũ khí từ Trường Sơn, hải cảng Sihanoukville,… cho các bộ chỉ huy của Hà Nội tại Cam Bốt và Hạ lào. Có cuốn hồi ký của ông Lê Văn Châu “Huyền thoại con đường tiền tệ trong kháng chiến chống Mỹ”, kể lại hoạt động bí mật của ngành ngân hàng trong việc bảo đảm tài chánh cho chiến trường miền Nam giai đoạn 1965–1975.  


Nếu đường Trường Sơn vận chuyển người và vũ khí, thì “con đường tiền tệ” vận chuyển tiền và ngoại tệ phục vụ chiến tranh. Hệ thống này do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tổ chức bí mật để đưa tiền từ nước ngoài về, sau đó phân phối cho các chiến trường miền Nam.  Mình nghe kể đại đội trinh sát 302 đi thám thính ở Núi Với, bắt được một cái sacoche, chứa đâu 5,000 mỹ kim của Việt Cộng. Các đại đội chia nhau số tiền khiến Việt Cộng căm thù. Sau 75, đi lùng lính 302 ở Đà Lạt.


Theo cuốn hồi ký, nhu cầu tài chính của chiến trường không chỉ là tiền Việt Nam mà còn cần:

  • Đồng đô la Mỹ.
  • Tiền Sài Gòn.
  • Đồng Riel của Campuchia.
  • Đồng Kip của Lào.
  • Đồng Baht của Thái Lan.  

Họ cần tiền để nuôi mấy ông tướng của vua Sihanouk để cho vũ khí được chuyển qua xứ họ. Cũng như phải bôi trơn các quan chức người Lào. Còn tiền Việt Nam Cộng Hoà để mua gạo muối, nước mắm cho bộ đội.


Đà Lạt xưa kia có mấy người ở Đà Lạt có môn bài bán gạo như cô Ba Chỉ, tiệm Bình Lợi ở dưới CHợ Mới, tiệm Sơn Hà ở đường Phan Đình Phùng, dì T ở Chi Lăng,… đó là những đại lý gạo ở Đà Lạt mà mình biết vì khi xưa đi lấy gạo đường từ họ. Mẹ mình kể là có lần cô Ba CHỉ kêu mẹ mình vào tiệm nói là có gạo mới về, ai hỏi thì bán kiếm lời nuôi con. Hình như 7,000 một bao. Độ 1 tiếng đồng hồ sau thì có bà vợ của ông T, làm đài phát thanh Đà Lạt ghé lại kêu muốn mua 100 bao gạo. Mẹ mình bán 8,000 một bao, bà ta không trả. Cứ lâu lâu bà ta đến mua mẹ mình gạo cứ 100 bao. Sau 75 mới khám phá ra bà ta nằm vùng, kinh tài cho Việt Cộng. Nằm trong nhóm của cô Ba Chỉ nên cô cứ kêu mẹ mình bán dùm. Mình đoán lý do là ông cụ mình là công chức nên ít ai để ít đến mẹ mình.


Một mạng lưới đặc biệt mang mật danh B29 được thành lập ở ngoài Việt Nam. Các cán bộ ngân hàng hoạt động dưới nhiều vỏ bọc khác nhau tại các trung tâm tài chính quốc tế như Hồng Kông và Bắc Kinh để tiếp nhận, chuyển đổi và vận chuyển ngoại tệ. Tiền bạc cho Việt kiều yêu nước đóng góp, ngoại quốc viện trợ,… mình có đọc tài liệu là Hà Nội đưa người qua Pháp để chuyển đổi tiền bạc nữa. Đọc bài đô la đỏ.



Khi tiền được đưa về nước: Tiền được chia nhỏ, niêm phong trong các hộp thiếc chống cháy. Vận chuyển bí mật qua nhiều tuyến đường và phân phát tới các đơn vị hoạt động ở miền Nam và các cơ sở nằm vùng ở Sài Gòn.  Như bà mua gạo của mẹ mình.


Hoạt động này cực kỳ nguy hiểm: khối lượng tiền có thể lên tới hàng triệu USD. Nguy cơ bị phát hiện, tịch thu hoặc cướp đoạt rất lớn. Tất cả đều được giữ bí mật tuyệt đối trong nhiều năm. Hàng trăm cán bộ ngân hàng đã tham gia nhiệm vụ đặc biệt này nhưng rất ít người được biết đến công khai.  


Ngoài ra, Hà Nội còn đưa vàng vào Nam để đổi tiền và mua thực phẩm. Hai đơn vị nổi tiếng nhất của con đường tiền tệ là: Quỹ ngoại tệ đặc biệt B29 và Ban Tài chính đặc biệt N.2683


Cuốn sách không chỉ kể về nghiệp vụ ngân hàng mà còn cho thấy vai trò của tài chính trong chiến tranh. Những chiến dịch bí mật ít được biết đến. Các cán bộ ngân hàng hoạt động như những chiến sĩ tình báo kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu xem “con đường tiền tệ” là một kỳ tích hậu cần tài chính, tương tự như vai trò của tuyến đường Hồ Chí Minh đối với vận tải quân sự.  


Ông Lê Văn Châu là một trong những nhân chứng quan trọng nhất của “con đường tiền tệ” trong cuộc chiến đánh chiếm miền Nam. Điều đặc biệt là ông không phải một cán bộ hậu cần thông thường mà hoạt động như một sĩ quan tài chính - tình báo trong mạng lưới B29.  Vào cuối thập niên 1960, ông là thành viên nòng cốt của B29 – quỹ ngoại tệ đặc biệt chuyên tiếp nhận và chuyển các nguồn ngoại tệ viện trợ vào chiến trường miền Nam.  


Năm 1967, Lê Văn Châu được cử sang Bắc Kinh dưới vỏ bọc Tùy viên Kinh tế của Bộ Ngoại thương Việt Nam. Công việc công khai là ngoại giao kinh tế, nhưng nhiệm vụ thực sự là điều phối dòng tiền viện trợ quốc tế. Theo các tài liệu hồi ký và lời kể của ông, Bắc Kinh trở thành một nút trung chuyển cực kỳ quan trọng: Tiền từ Hồng Kông được chuyển đến. Tiền viện trợ từ các nước xã hội chủ nghĩa được tập kết. Sau đó tiền được đưa về Hà Nội hoặc chuyển tiếp theo các tuyến bí mật vào miền Nam.  


Trong mạng lưới này, ông mang mật danh “Anh Bảo”. Một số tài liệu gọi ông là “trung tâm của ba trung tâm”, vì ông là đầu mối kết nối: B29 tại Hà Nội. Đầu mối tài chính tại Hồng Kông. Ngân hàng Trung Quốc tại Quảng Châu.  


Điều đáng chú ý là những đầu mối này thường không biết danh tính của nhau. Họ chỉ liên lạc bằng mật mã và hệ thống cơ yếu ngoại giao.  


Nhân vật được xem là kiến trúc sư của hệ thống B29 là Mai Hữu ÍchÔng là người trực tiếp phụ trách B29 ngay từ khi thành lập năm 1965. Dưới quyền ông chỉ có khoảng hơn mười cán bộ nhưng quản lý lượng ngoại tệ rất lớn phục vụ chiến trường. Các thành viên được tuyển chọn rất kỹ: Thành thạo ngoại ngữ, có nghiệp vụ ngân hàng quốc tế, khả năng hoạt động bí mật và chấp nhận làm việc theo nguyên tắc đơn tuyến như tình báo.  


Theo chính lời kể của Lê Văn Châu, B29 hoạt động giống một cơ quan tình báo hơn là một ngân hàng: Mỗi người chỉ biết phần việc của mình. Nhiều mệnh lệnh chỉ truyền miệng. Không có hồ sơ công khai. Các cán bộ hoạt động dưới nhiều vỏ bọc khác nhau ở ngoại quốc. Toàn bộ hệ thống báo cáo theo đường đơn tuyến lên lãnh đạo cấp cao vì vậy gọi B29 là “tổ chức tình báo kinh tế đầu tiên của Việt Nam”.  


Theo các tài liệu được công bố sau chiến tranh, trong khoảng 10 năm hoạt động, B29 và N2683 đã huy động và vận chuyển hàng trăm triệu USD cùng nhiều loại tiền tệ khác cho chiến trường miền Nam. Phần lớn các khoản tiền đều đến nơi an toàn dù phải đi qua những tuyến đường cực kỳ nguy hiểm. Điều khiến nhiều người ngạc nhiên là toàn bộ chiến dịch này được giữ bí mật trong nhiều thập niên. Chỉ đến khi các nhân chứng như Lê Văn Châu bắt đầu viết hồi ký, công chúng mới biết rõ hơn về những “người lính ngân hàng” đã vận hành một hệ thống tài chính bí mật xuyên quốc gia giữa thời chiến.  


Hồng Kông là mắt xích quan trọng nhất và cũng táo bạo nhất của toàn bộ mạng lưới B29. Nếu Hà Nội là nơi chỉ huy, Bắc Kinh là nơi điều phối, thì Hồng Kông chính là “sàn giao dịch ngoại tệ bí mật” của con đường tiền tệ.  


Trong những năm 1960–1970, Hong Kong là thuộc địa của Anh và là một trong những trung tâm tài chính tự do lớn nhất châu Á. Mình có quen một cặp vợ chồng, khi xưa là đại gia tại Việt Nam, sau 75 họ có kể cho mình là có mua nhà ở Tây Ban Nha, căn hộ tại Hương Cảng, nay thấy lớn tuổi nên tính bán. Tại Hương Cảng Đồng USD được lưu thông rộng rãi. Các ngân hàng quốc tế hoạt động mạnh. Việc mua bán ngoại tệ dễ dàng hơn nhiều so với các nước xã hội chủ nghĩa. Có mạng lưới của Bank of China hỗ trợ các giao dịch tài chính của Trung Cộng. Chính vì vậy, B29 chọn Hồng Kông làm nơi chuyển đổi các khoản viện trợ quốc tế thành loại tiền cần thiết cho chiến trường.


Theo các cán bộ B29 kể lại, hệ thống làm việc gồm nhiều bước:

  1. Tiền viện trợ từ Liên Xô, Trung Quốc và các nước khác được tập trung về Quỹ B29 tại Hà Nội.
  2. Tiền được gửi vào hệ thống tài khoản của Ngân hàng Ngoại thương.
  3. Từ đó chuyển sang các ngân hàng ở Hồng Kông.
  4. Tại Hồng Kông, các loại tiền như franc Pháp, bảng Anh, đô la Hồng Kông được đổi sang USD hoặc các đồng tiền phù hợp với từng chiến trường.
  5. Sau đó mới tiếp tục được đưa về Hà Nội hoặc chuyển tới các đầu mối bí mật khác.  


Nghe có vẻ giống một nghiệp vụ ngân hàng bình thường, nhưng điều đặc biệt là tất cả đều diễn ra dưới sự giám sát của các cơ quan tình báo và trong điều kiện chiến tranh. Một trong những chi tiết thú vị nhất được công bố gần đây là hệ thống được vận hành bởi ba trung tâm đặc trách cùng mang bí danh “Anh Bảo”:

  • BOC Hồng Kông.
  • BOC Quảng Châu.
  • B29 Hà Nội.

Các đầu mối này gần như không liên hệ trực tiếp với nhau. Họ sử dụng mật mã và hệ thống cơ yếu để trao đổi thông tin. Người điều phối ở giữa là ông Lê Văn Châu tại Bắc Kinh. Ông Lê Văn Châu từng được các đồng đội gọi là “trung tâm của ba trung tâm”, vì mọi luồng thông tin về tiền tệ cuối cùng đều phải qua ông để điều phối. Một phần tiền được chuyển bằng nghiệp vụ ngân hàng (FM), nhưng có thời kỳ phải vận chuyển tiền mặt trực tiếp (AM).


Các cán bộ chuyển ngân mang sổ thông hành ngoại giao, di chuyển bằng máy bay quốc tế hoặc tàu hỏa liên vận. Mang theo va-li chứa lượng tiền rất lớn. Hành trình được giữ bí mật tuyệt đối. Theo lời kể của các cựu cán bộ B29, có những chuyến mang theo số tiền trị giá hàng triệu USD nhưng người vận chuyển gần như đi một mình, không có lực lượng bảo vệ công khai.  


Theo các tài liệu được giải mật và hồi ức của những người tham gia, nhiều cán bộ B29 làm việc ở Hồng Kông nhiều năm nhưng không biết đầy đủ nhiệm vụ của những người cùng mạng lưới. Họ chỉ nhận các chỉ thị rất ngắn gọn, thực hiện giao dịch được giao rồi chuyển kết quả cho đầu mối tiếp theo. Mô hình này giống hệt nguyên tắc “cell system” của các tổ chức tình báo chuyên nghiệp.  


Vì vậy, khi nghiên cứu về B29, nhiều sử gia cho rằng điều đáng kinh ngạc nhất không phải là số tiền đã được chuyển, mà là việc một nhóm chỉ khoảng 14 cán bộ đã vận hành thành công một mạng lưới tài chính xuyên quốc gia giữa lúc chiến tranh đang diễn ra ác liệt, kéo dài suốt gần một thập niên mà vẫn giữ được bí mật.  


Điều đặc biệt của B29 và N2683 là họ không chỉ đưa tiền từ miền Bắc vào miền Nam, mà còn tìm ra cách lấy được tiền ngay trong hệ thống tài chính của chính quyền Sài Gòn mà không phải vận chuyển qua Trường Sơn. Đây chính là phương thức nổi tiếng mang mật danh FM (chuyển khoản), được nhiều nhà nghiên cứu xem là một sáng tạo tài chính-tình báo rất độc đáo.  


Từ 1965 đến khoảng đầu thập niên 1970, phương thức chủ yếu là AM. Đưa tiền trực tiếp. B29 thu gom ngoại tệ, chủ yếu là USD, rồi: Đóng trong hòm kẽm chống cháy. Ngụy trang trong thùng gỗ. Giao cho các đơn vị vận tải quân sự. Chuyển theo đường Trường Sơn, đường biển hoặc các tuyến bí mật khác vào Nam.  


Nhược điểm của hệ thống này rất lớn:

  • Đi hàng tuần hoặc hàng tháng.
  • Dễ bị bom đạn phá hủy. Như tường hợp đại đội trinh sát 302 đi thám thính bắt được một sacoche có đến 5000 mỹ kim.
  • Tốn chi phí đổi tiền.
  • Khó đáp ứng nhu cầu ngày càng lớn của chiến trường.  

Các cán bộ N2683 nhận ra một điều: tại sao phải chở USD từ Hà Nội vào Sài Gòn, trong khi tiền Sài Gòn đã có sẵn trong các ngân hàng ở Sài Gòn? Từ đó họ xây dựng mạng lưới gồm:

  • Các thương gia yêu nước.
  • Chủ doanh nghiệp lớn. Như ông người Tàu chú của Vương Vũ ở Sàigòn. Mấy ngừoi này có tiền là họ làm chớ chả yêu bác Hồ hay bác Mao gì cả.
  • Một số đầu mối tài chính bí mật trong nội đô.

Những người này có:

  • Tài khoản ngân hàng ở Sài Gòn.
  • Tài khoản ngoại tệ ở Hồng Kông hoặc nước ngoài.
  • Khả năng rút lượng lớn tiền mặt mà không gây chú ý. 

Cách chuyển tiền qua ngân hàng tuần tự theo 4 bước:

Bước 1: Thương gia rút tiền tại Sài Gòn

Một doanh nhân hợp tác với N2683 đến ngân hàng ở Sài Gòn.

Ông ta rút một khoản lớn tiền mặt với lý do:

  • Mua hàng.
  • Trả lương.
  • Đầu tư kinh doanh.

Đối với ngân hàng Sài Gòn, đây là giao dịch hoàn toàn bình thường.  Mình đoán là ông thần này bán xuất cảng cái gì đó giá gấp 10 lần cho Việt Cộng rồi họ chuyển tiền qua ngân hàng. Khi tiền về thì họ rút tiền mặt đẻ giao cho N2383. Tiền sau đó được cất giữ tại các kho bí mật, phân phối cho lực lượng hoạt động nằm vùng, và chuyển tới các căn cứ của bộ đội tại miền Nam như Núi Với gần Đà Lạt.

Bước 3: N2683 gửi điện mật ra Hà Nội

Sau khi nhận đủ tiền, N2683 báo bằng điện mật:

“Đã nhận đủ.”

Đây là tín hiệu để kích hoạt khâu thanh toán quốc tế.  

Bước 4: B29 trả tiền ở nước ngoài

B29 không trả tiền tại Việt Nam. Thay vào đó:

  • Chuyển USD vào tài khoản nước ngoài của thương gia.
  • Thường thông qua các đầu mối tại Hồng Kông.
  • Hoặc các ngân hàng quốc tế khác.

Kết quả là:

Tại Sài Gòn

Tại Hồng Kông/Nước ngoài

N2683 nhận tiền mặt

Thương gia nhận USD

Không có giao dịch đáng ngờ

Thanh toán hợp pháp qua ngân hàng

Đây thực chất là một dạng thanh toán bù trừ xuyên biên giới bí mật. Bởi vì không có dòng tiền nào chảy trực tiếp từ Hà Nội vào Sài Gòn.

Những gì hệ thống ngân hàng nhìn thấy chỉ là:

  • Một doanh nhân rút tiền cho hoạt động kinh doanh.
  • Một tài khoản ở nước ngoài được ghi có USD.

Hai giao dịch này diễn ra ở hai nơi khác nhau và không dễ liên hệ với nhau. 

 

Theo lời kể của các cựu cán bộ N2683, nhiều giao dịch FM chỉ mất vài giờ hoặc vài ngày, trong khi vận chuyển AM có thể mất hàng tháng. Sau này thời gian chi viện được rút ngắn đáng kể, có tài liệu cho biết từ khoảng 30 ngày xuống còn vài ngày, thậm chí nhanh hơn khi hệ thống đã vận hành thuần thục.  


Một nhân vật ít được nhắc tới là đầu mối mang mật danh C130 của N2683 tại Sài Gòn.

C130 là trung gian:

  • Tiếp xúc với giới thương gia
  • Nhận tiền mặt.
  • Tổ chức giao nhận bí mật.
  • Báo xác nhận để B29 thanh toán ở nước ngoài. Họ chuyển ngân ra hải ngoại bằng kiểu này, tương tự như ngày nay, sinh viên du học, gia đình đưa tiền ở ở Việt Nam rồi ở ngoại quốc họ đưa lại.

Trong nhiều tài liệu hồi ký, C130 được mô tả như “ngân hàng ngầm” của cách mạng ngay giữa trung tâm tài chính Sài Gòn. Theo các tổng kết được công bố sau chiến tranh, FM đã chuyển được hơn 161 triệu USD giá trị tương đương cho chiến trường miền Nam, bên cạnh hơn 315 triệu USD đi bằng phương thức AM. Điều khiến các nhà nghiên cứu tài chính quan tâm là FM không chỉ là một tuyến hậu cần tiền tệ. Nó kết hợp:

  • Nghiệp vụ ngân hàng quốc tế.
  • Hối đoái ngoại tệ.
  • Mạng lưới thương gia.
  • Liên lạc mật mã.
  • Nguyên tắc tổ chức kiểu tình báo.  

Vì vậy nhiều người xem FM của B29–N2683 là một trong những chiến dịch tài chính bí mật quy mô lớn và độc đáo nhất trong lịch sử chiến tranh Việt Nam. Ngày nay dân Việt Nam chuyển tiền ra hải ngoại còn tinh vi hơn nữa. (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen