Parc à buffles , nhà thổ quân đội pháp tại Sàigòn

 « Parc à buffles » nhà thổ quân đội pháp

Không ảnh Parc à Buffles tại Sàigòn, 

Hôm nay vào trang nhà chiến tranh Đông-Dương xưa, thấy có không ảnh của nhà thổ Tây ở Sàigòn khi xưa mà lính viễn chinh người Pháp gọi là Parc à buffles , tên chính thức là Bordels Militaires de Campagne (BMC). Nôm na là chuồng trâu vì theo họ kể lại thì như nhà máy hộ lý. Ngoài Đông-Dương ra người Pháp cũng có thành lập nhiều nhà thổ ở các thuộc địa khác của họ như ở Bắc Phi. 


Tò mò mình tìm tài liệu để đọc vì có mấy ông tây có nghiên cứu về vấn đề hộ lý cho lính pháp và lính thuộc địa của họ đem sang Việt Nam như lính Lê Dương (légionnaires) , mặt gạch (malgache),… hay lính Maroc. Mình có đọc một bài giải thích về lính Maroc đi lính cho tây rồi sao đó họ đào ngủ chạy về phiá Việt Minh, hay bị bắt làm tù binh nên dần dần họ lập gia đình với người Việt nên miền Bắc Việt Nam có cái làng gọi làng hữu nghị Maroc-Việt.

Cửa vào nhà thổ tại Sàigòn 


Mình hay đọc mấy chuyện này không phải để lên án người Pháp này nọ chỉ để hiểu thêm về lịch sử của Việt Nam thời bị người Pháp đô hộ để hiểu về xã hội, kinh tế thời xưa. Thời thực dân với hoàn cảnh chính trị, kinh tế địa chính khác của thế giới khác với tư duy của chúng ta ngày nay.  Cho nên không cần lên án này nọ chỉ để hiểu người xưa sống ra sao. Mấy người Pháp thuộc thế hệ của mình hay trẻ hơn cũng tò mò tìm hiểu về lịch sử cha ông của họ đã đi qua. Như tìm về phương diện tâm lý, để hiểu thêm về cha ông của mình. Họ đăng tải hình ảnh cha ông của họ hay thư từ gửi từ Đông-Dương về, hy vọng có ai đó đã kinh qua sự việc sẽ nói thêm sự việc giúp họ hiểu hơn về lịch sử gai đình và cha ông. Cũng có sự phiền hà là các chiến sĩ an ninh mạng nhảy vào chửi bới bú xua la mua không giúp đem lại sự hiểu biết rõ ràng thêm về lịch sử khi xưa.


Trong lịch sử loài người thì khi có can qua, phụ nữ là người chịu thiệt thòi nhất. Kẻ thắng cướp giật, hãm hiếp họ, bắt làm nô lệ,… xem phỏng vấn của mấy người đức kể khi quân đội hồng quân chiếm đóng vùng Đông đức, thì họ tha hồ hãm hiếp mấy phụ nữ người đức đêm ngày. Nhưng bên thắng cuộc không bao giờ nhắc đến sự việc này.

Bên trong chuồng trâu, thấy phụ nữ người Việt và lính tây đang dò hỏi nhau. Tỏng cuốn phim thấy rõ hơn


Phụ nữ Việt Nam đóng vai trò trung tâm nhưng cũng rất bi kịch trong hệ thống Bordels Militaires de Campagne (BMC), đặc biệt tại Parc à buffles ở Chợ Lớn (Sài Gòn). Dưới đây là nghiên cứu chi tiết dựa trên các nguồn lịch sử Pháp và các nghiên cứu liên quan.


Tại Parc à buffles – BMC lớn nhất Sài Gòn – có hàng trăm phụ nữ, chủ yếu là người Việt (Indochinoises) và một phần người Hoa. Một số nguồn ước tính BMC lớn nhất có tới gần 500 phụ nữ Việt. Hình như cũng có người Nhật vì mình có đọc tài liệu, nói người Nhật đói quá nên có di dân sang Đông NAm Á, các phụ người Nhật thường làm việc trong các chỗ bán thuốc phiện, và điếm. Mình có mấy tấm ảnh này. Người Nhật đi dân khá đông sang Hoa Kỳ, Nam Mỹ,…


Phần lớn là phụ nữ nghèo từ nông thôn (đặc biệt miền Bắc – Tonkin), thành thị, hoặc những người bị hoàn cảnh đẩy vào. Nhiều người bị buôn bán, dụ dỗ, hoặc ép buộc bởi mạng lưới môi giới (các “mères maquerelles” tú bà, chủ nhà thổ). Một số là “congaï” (từ chỉ phụ nữ Việt chung sống hoặc quan hệ với lính Pháp), chuyển sang làm trong BMC.


Điều kiện làm việc cực kỳ khắc nghiệt: cabin vải mỏng, giường gỗ, thiếu vệ sinh, làm việc liên tục với số lượng khách lớn.

  • Phục vụ nhu cầu tình dục: Đây là vai trò rõ ràng nhất, nhằm “giải khuây” cho binh lính Pháp và các lực lượng thuộc địa. Quân đội Pháp quản lý chặt chẽ để kiểm soát bệnh tật.
  • Kiểm soát y tế: Phụ nữ phải khám sức khỏe định kỳ bởi bác sĩ quân y. Nếu nhiễm bệnh, họ bị cách ly hoặc điều trị bắt buộc. Hệ thống này mang tính thực dụng thuộc địa, coi phụ nữ như một “công cụ” để duy trì sức chiến đấu của quân đội.

Khi tướng De Lattre ra quyết định đổ quân để xây dựng căn cứ Điện Biên Phủ, nhằm tiêu diệt quân Việt Minh. Quân Pháp đã đưa một số BMC (bao gồm phụ nữ Việt và Algeria) bằng máy bay đến Điện Biên Phủ. Giúp mấy ông lính thú đóng đồn ở vùng này xả xú-bắp. Nhưng khi trận đánh nổ ra, nhiều phụ nữ Việt trong BMC tình nguyện chuyển sang làm y tá, cứu thương. Chăm sóc thương binh dưới bom đạn và hỗ trợ bệnh xá, băng bó vết thương. Sau khi Pháp thất bại, họ bị Việt Minh bắt. Nhiều người bị xét xử, cải tạo, nhục mạ và tra tấn vì bị coi là “kẻ tiếp tay cho thực dân”. 


Sau này, người Pháp chỉ nói đến một phụ nữ duy nhất có mặt tại căn cứ Điện Biên Phủ là bà y tá tên Genevieve de Galard. Bà ta muốn nhắc đến các phụ nữ trong binh đoàn hộ lý cho lính pháp nhưng được nhà cầm quyền Pháp ngăn cản. Trong cuốn phim Putains de Guerre, có bà người Maroc kể là người ta đến làng của bà kêu gọi đi Việt Nam kiếm tiền nên đi theo, sau bị thương nên được chữa trị và hồi hương.


Các nguồn tài liệu như (Michel Bodin, hồi ký bác sĩ Grauwin, ông bác sĩ này mình có gặp ăn cơm vài lần ở Paris, rất dễ thương với tướng Bigeard và tướng Raoul Salan. Bà Geneviève de Galard…) gọi họ là “những anh hùng bị lãng quên” của Điện Biên Phủ, dù trước đó họ bị xã hội khinh miệt.


Hệ thống nhà thổ BMC là biểu tượng của chủ nghĩa thực dân Pháp, trong đó phụ nữ bản xứ bị coi là “tài nguyên” phục vụ quân đội. Nhiều nghiên cứu hiện đại nhấn mạnh yếu tố cưỡng bức, buôn người, và lạm dụng vị thành niên. Làm nghề hộ lý này cũng bị dính bệnh tật, bạo lực, thai nghén ngoài ý muốn, và bị kỳ thị khi trở về cộng đồng. Nhiều phụ nữ Việt trong BMC gặp khó khăn lớn trong việc hòa nhập xã hội sau 1954. Một số theo lính Pháp sang Pháp hoặc các thuộc địa khác (có cộng đồng nhỏ “Senegalese Vietnamese wives” hoặc tương tự). Bên Maroc có một cái làng Việt-Maroc vì mấy ông lính Maroc, sang Việt Nam lấy vợ Việt Nam đem về xứ. Lần sau đi Maroc, mình sẽ ráng ghé viếng ngôi làng này.


Ngày nay chúng ta có thể lên án này nọ nhân danh đạo đức ở thế kỷ 21 nhưng vào thời đó, tư duy rất khác như thời Hy Lạp, các nhà hiền triết như Aristotle, Plato, Socrates, đều chấp nhận vai trò các kẻ nô lệ. Đối với người Pháp, thì họ thường miêu tả mang tính thực dụng (duy trì moral des troupes) hoặc hoài niệm (exotisme). Ông Michel Bodin và các sử gia khác ghi nhận vai trò của họ nhưng vẫn trong khuôn khổ lịch sử quân sự. Có thể có mấy nhà thổ giúp lính pháp không đi hiếp dâm bậy bạ ngoài đường hay làng mạc. Trong cuốn phim kể trên, có ông kể có bà đầm than phiền là có mấy cô gái giang hồ, ông ta giải thích nhờ vậy mà các cô trong làng hay tành phố không bị chọc ghẹo khi lính ra trại.


Ngày nay, có biết bao nhiêu căn cứ quân đội Hoa Kỳ trên thế giới, mình chắc chắn sẽ cũng có các nhà thổ gần căn cứ mỹ để giúp binh lính mỹ xả sú-bắp nếu không có thể xảy ra nhiều phiền phức như có nghe nhiều lần lính mỹ hiếp dâm mấy cô gái người Nhật gần căn cứ mỹ.


Trong cuốn phim cũng nói đến khi lính Mỹ đóng ở vùng Evreux, Pháp quốc sau đệ nhị thế chiến thì có nhiều cô gái pháp bán sương vì có lính mỹ, gây thêm tang vỡ nhiều gia đình vì dính thai lai mỹ. Ở Pháp, mình có kể vụ trong suốt 4 năm lính Đức quốc xã chiếm đóng, người ta gọi là “collaboration horizontale”, nôm na là hợp tác trên giường của các cô gái pháp. Đói quá, nên phải ngủ với kẻ thù khiến sau này có đến trên 200,000 con lai Đức quốc, bị nguyền rủa, cũng như các cô gái hợp tác trên giường với lính đức, bị cạo đầu bêu xấu trước đám đông. Sau này, người ta nói trớ đi là các cô hy sinh cơ thể để kiếm tin tức cho quân đội kháng chiến pháp.


Còn người Việt thì ít được ghi chép công khai, thường gắn với tội ác thực dân, bóc lột phụ nữ, và bi kịch chiến tranh. Họ là nạn nhân của cả hai bên xung đột. Trong khi ngày nay,  các học giả như (Marie Robin, Christian Henriot…) nhấn mạnh khía cạnh giới, quyền lực thuộc địa và bạo lực tình dục trong chiến tranh. Mình nghe kể trên đường mòn Hồ Chí Minh, khi xưa cũng có rất nhiều cô gái hộ lý, giúp các bộ đội vào nam lên tinh thần.


Mình tìm được tài liệu của ông  Michel Bodin được viết qua vài cuốn sách nên ghi chú lại đây cho ai thích nghiên cứu lịch sử thay vì lên án:

« Parc à buffles » là một khu bordel quân sự khổng lồ ở Chợ Lớn (khu phố người Hoa của Sài Gòn), hoạt động chủ yếu từ cuối những năm 1940 đến giữa những năm 1950.

  • Nó nằm dọc theo đại lộ Gallieni, Sàigòn 
  • Đây là một phức hợp rộng lớn được tổ chức cho quân đội Pháp trong Chiến tranh Đông Dương, nhằm kiểm soát mại dâm và hạn chế bệnh lây truyền qua đường tình dục ở binh lính (các cô gái phải khám sức khỏe định kỳ).
  • Hàng trăm phụ nữ làm việc trong điều kiện sơ sài (các cabin vải, giường gỗ). Nó được gọi tên như vậy một cách mỉa mai hoặc so sánh với khu chuồng trại chăn nuôi gia súc, do quy mô công nghiệp (« trung tâm giết mổ lớn » theo một số lời kể).
  • Đây là một phần trong hệ thống các cơ sở giải trí (nhà thổ, tiệm hút thuốc phiện, v.v.) được quân đội Pháp dung túng hoặc quản lý thời bấy giờ. Sau năm 1955, khi quân Pháp rút đi, cơ sở này đã biến mất. Hình như chính phủ Ngô Đình Diệm dẹp vụ này.
  • Ngày nay không còn dấu vết gì; đây là một địa điểm lịch sử được nhắc đến trong các hồi ký về Chiến tranh Đông Dương, ký ức của binh lính và các tác phẩm về thời kỳ thuộc địa/cuối sự hiện diện của Pháp tại Việt Nam.


Có phim tài liệu về nhà thổ tại Việt Nam, Algérie, Bosnia của nó thực hiện. Ai biết tiếng pháp thì xem cho qua ngày. Putains de Guerre của đài Pháp.

https://youtu.be/WGQ_HAQUQxU?is=cE4HEajRB6vyOfmZ


Dưới đây là cái nhìn tổng quan về lời chứng của các binh sĩ Pháp (và các đơn vị khác thuộc CEFEO) trong Chiến tranh Đông Dương (1945-1954), tập trung vào bối cảnh « Parc à buffles » và đời sống hàng ngày (khoái lạc, BMC, tinh thần binh lính). Những câu chuyện này xuất phát từ hồi ký, lưu trữ quân sự, sách lịch sử và phỏng vấn. Chúng thường thô ráp, e dè hoặc mang tính hoài niệm, phản ánh không khí thời đại.

Về « Parc à buffles » (BMC khổng lồ ở Chợ Lớn/Sài Gòn)

  • Đây là một nhà thổ quân sự dã chiến (BMC) khổng lồ trên đại lộ Gallieni, là cơ sở dành cho quân đội. Một sĩ quan kể: « Chỉ riêng cảnh tượng đã đáng giá chuyến đi… » (mô tả quy mô và sự nhộn nhịp). Hàng trăm phụ nữ (chủ yếu người bản xứ Đông Dương) làm việc trong những cabin sơ sài với giường gỗ và một thùng nước để rửa ráy.
  • Michel Bodin (nhà sử học dựa trên nhiều lời chứng) mô tả nó như một « trung tâm giết mổ lớn » phục vụ « mọi sở thích và mọi túi tiền ». Binh lính đến đây để nghỉ ngơi sau chiến trận, với kiểm soát y tế định kỳ nhằm hạn chế bệnh lây truyền qua đường tình dục.
  • Một trung sĩ (tại ngũ 1948-1951) nhắc đến các thực hành thông thường trong BMC, trong đó có Parc, kết hợp giữa sự kỳ lạ và thói quen vệ sinh.
    người Pháp gửi bưu thiếp về cho người thân kể về nhà thổ.

Ví dụ cụ thể từ lời chứng (André Calves, nhập ngũ 1951-1952) Trong hồi ký viết tay của mình, ông kể lại một câu chuyện trực tiếp từ một người bạn đồng đội tái nhập ngũ tại Sài Gòn (tháng 7/1952):

« Tối qua tao đã quyết tâm đụ cho đã. […] Không phải ở Parc à buffles, mà ở nhà thổ trong trại. Cô ta bảo: “đã hơn mười một giờ rồi, đưa tao thêm 20 piastre.” […] Như thằng ngu tao lại đưa thêm hai mươi piastre. Chúng tao cọ qua cọ lại một chút, khi tao cương cứng tốt, tao lật cô ta lại một phát. Nhưng ngay khi cô ta cảm nhận đầu con cặc của tao cọ vào đít, cô ta nhảy dựng lên. […] Tao bị mất tiền oan. Xui xẻo thật! »

Điều này minh họa cho cuộc sống hàng ngày bình thường, những cuộc mặc cả và nỗi thất vọng trong các nhà thổ địa phương hoặc trong trại.


Lính Lê Dương của Pháp về nước dưỡng sức thì chắc chắn nhà thổ cũng đâu đó gần đây. Có ông tây kể ở Algerie có nơi, hai bên hai cái quán rượu và ở giữa là độn mãi dâm


Các lời chứng khác rộng hơn về cuộc chiến

  • Đời sống tình dục và tinh thần binh lính: Các báo cáo của Sở Y tế và lời chứng do Michel Bodin thu thập nhấn mạnh vai trò quan trọng của BMC và « con gái » (quan hệ với phụ nữ Việt) đối với tinh thần quân đội. Nhiều binh sĩ lý tưởng hóa phụ nữ Đông Dương (vẻ duyên dáng, dịu dàng) đồng thời nhắc đến rủi ro (bệnh tật, thất vọng). Quân Bắc Phi và Lính Lê dương đôi khi có BMC riêng.
  • Tại Điện Biên Phủ: Phụ nữ trong BMC đôi khi hỗ trợ như y tá tạm thời. Bác sĩ chỉ huy Grauwin và Geneviève de Galard đã chứng kiến sự tận tụy anh hùng của họ bên cạnh thương binh, trước khi bị bắt và chịu số phận bi thảm dưới tay Việt Minh.
  • Tổng quát: Nhiều cựu binh nhắc đến nỗi buồn chán, nỗi sợ hãi, sự kỳ lạ, thuốc phiện, rượu và nỗi nhớ « Mal jaune » (sự gắn bó với xứ sở dù trong chiến tranh). Các câu chuyện thường e dè về chuyện tình dục, nhưng rất phong phú trong lưu trữ (SHAT) về sức khỏe và tinh thần.

Những cuốn sách mà các bác có thể tìm đọc nếu muốn hiểu rõ hơn về một thừoi tỏn g lịch sử cận đại của Việt Nam.

  • Michel Bodin, Le plaisir du soldat en Indochine (1945-1954) (bài nghiên cứu chi tiết kèm lời chứng).
  • M.S. Hardy, De la morale au moral des troupes ou histoire des BMC.
  • Hồi ký như của André Calves hoặc P. Giudicelli (Médecins de bataillon en Indochine).
  • Phim tài liệu Putains de guerre (Stéphane Benhamou, 2013) với các đoạn phim và phỏng vấn về BMC ở Đông Dương. Mình có tải đường dẫn phía trên. Nói tiếng pháp.

Chán Mớ Đời 


Mình tìm được hai tấm ảnh của bà Nguyễn THị Minh Khai, không dính dáng gì đến bài viết. Để đây để nhớ khi nào cần thì mò ra để xoá trên máy vì quá nhiều hình ảnh.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Hoa Kỳ thua trên sân cỏ nhưng lại đắc nhân tâm thế giới

 Hoa Kỳ thua trên sân cỏ nhưng lại đắc nhân tâm thế giới 


Hoa Kỳ đặt nhiều hy vọng đi sâu hơn vào vòng trong giải túc cầu thế giới năm nay được tổ chức tại ba quốc gia Bắc Mỹ nhưng các trận chính thức đều được diễn ra tại các sân vận động Hoa Kỳ. Nhưng thực tế đã cho thấy trình độ đá banh của đội tuyển Mỹ vẫn còn kém khá xa các đội tuyển Âu châu. Tỷ số 4-1 do đội Bỉ quốc thân tặng giúp người Mỹ thức tỉnh sau cơn say mê giải túc cầu thế giới. Nghe nói cái vi-rút túc cầu đã thâm nhập thêm vào người Mỹ rất nhiều, lý do môn túc cầu chưa phải là môn thể thao chính được ưa chuộng tại Hoa Kỳ.

Các trận đấu trung bình đầy hết 99.7% dù vé đắt như tôm tươi.


Tuy thua trên sân cỏ nhưng Hoa Kỳ đã thắng đậm thế giới ở ngoài sân cỏ. Xem video trên mạng xã hội, đa số người âu châu vô cùng ngạc nhiên khi khám phá ra Hoa Kỳ không như họ được truyền thông báo chí mô tả. Vụ này thì mình có trải nghiệm khi đến Hoa Kỳ lần đầu. Khi xưa ở âu châu thì xem phim thấy New York toàn trộm cướp, Graffiti đầy đường nên tưởng Hoa Kỳ là nước của tội ác hàng ngày. 


Đến khi sang Hoa Kỳ lần đầu tiên thì ngạc nhiên. Nhất là người Mỹ rất thân thiện. Ở Pháp tuy có quốc tịch pháp nhưng ra đường mình vẫn được xem là ngoại nhân, người Tàu. Người Pháp nhìn mình qua màu da. Không được họ xem là người Pháp ngoại trừ người Pháp quen thân. Nhưng khi sang Hoa Kỳ lần đầu thì cảm nhận khác vì người Mỹ đều xem mình người Mỹ, họ chỉ hỏi đến từ tiểu bang nào chớ không đến từ quốc gia nào. Nói chung thì người Mỹ dạo ấy ít ai đi ngoại quốc nên phần địa lý thế giới ít người biết. Có lần mình tra lời là đến từ Paris, một người Mỹ kêu năm vừa rồi có người bạn đi Rome khiến mình chả hiểu gì cả. Sau này mới hiểu là người Mỹ ít biết rõ về địa lý của thế giới. Thêm ở mỹ có biết bao nhiêu tỉnh thị mang tên Paris. Ở Texas không đã óc đến 4 tỉnh mang tên Paris.


Đi xem xi-nê mà chiếu toàn cảnh Hoa Kỳ vui vẻ, yên bình thì đâu có bán vé nhiều, phải tội ác, bạo lực giết người cướp của như Serpico, Bố Già, Scarface,.. thì mới cháy vé. Từ từ người xem, người đọc bị định hướng sai lầm và có cái nhìn tiêu cực về Hoa Kỳ. 


Trong suốt vài tuần lễ, hàng triệu du khách từ khắp nơi trên thế giới đã đổ về Hoa Kỳ. Họ không chỉ trải nghiệm các sân vận động và giải đấu, mà còn cảm nhận được cuộc sống thường nhật tại Mỹ. Từ các thành phố, nhà hàng, doanh nghiệp, các tình nguyện viên cho đến những người dân bình thường. Nhiều du khách đã bắt gặp một nước Mỹ hiếu khách và hào phóng hơn nhiều so với hình ảnh thường thấy trên các bản tin quốc tế hay các tiêu đề chính trị. Xem video trên mạng xã hội thấy hơi ngạc nhiên khi ăn cơm tại Hoa Kỳ với khẩu phần to đùng như mình lần đầu tiên ăn tô phở xe lửa. Họ chiếu cảnh ăn thịt bò nướng ở Texas. Vụ này thì mình có nhớ đến tiểu bang này lần đầu đi ăn thịt bò ngon và to cả kí lô. 


Nhớ lần đầu tiên ghé Chicago, đọc Les Routards nói phải ăn một tiệm bán pizza. Mình mò đến, cô chiêu đãi viên hỏi size nào, mình kêu lớn, cô ta lắc đầu nói to lắm, nên lấy cái nhỏ. Mình nhất trí. Họ đem ra chọc ái pizza to như cái lòng bàn. Ăn không hết, phải đem về khách sạn, sáng mai nhai cứng như đá. Sau này sang Hoa Kỳ, thì ăn riết thành quen cũng hết và thân thể cũng theo đà tiến triển phát tướng hết tiền.


Trời nóng mà khi bước vào sân vận động thì mát rượi hay vào khách sạn, nhà nghỉ đâu cũng có máy lạnh. Trong khi ở âu châu thì đâu chỉ có 10% nơi công cộng có máy lạnh. Nhớ khi xưa, ở Paris, trời mùa hè nóng là phải kiếm mấy rạp xi-nê có máy lạnh để vào ngồi cho đỡ nóng. Trước rạp xi-nê để cái bảng to đùng “có máy lạnh”. Họ chiếu nhiều cảnh được gọi là trầm cảm hậu giải túc cầu thế giới, khi người âu châu trở về xứ họ, không có máy lạnh. Chửi thề bú xua la mua.


Với tư cách nước chủ nhà: Mỹ đã thành công rực rỡ về tài chánh. Về ngoại giao văn hóa: Mỹ đã cho thế giới thấy một diện mạo hoàn toàn khác biệt không như mô tả trong các phim đài truyền hình. Về tầm ảnh hưởng toàn cầu: giải đấu đã chứng minh rằng văn hóa, lòng hiếu khách, ngành giải trí và sức mạnh kinh tế của Mỹ vẫn có sức lan tỏa mạnh mẽ phi thường. Có nghe mấy người du khách ngoại quốc tải video lên mạng mới hiểu lý do tại sao người ta chửi mỹ nhưng ai cũng muốn sống tại Hoa Kỳ.


Hoa Kỳ cũng có nhưng phần tiêu cực nhưng chỉ có ở lâu mới để ý nhưng cái nhìn chung cho một du khách trong vài tuần thì rất tích cực. Có người nói sẽ trở lại năm sau để đi viếng nhiều nơi khác. Đi chơi, du khách ít ai bị móc túi như ở âu châu.


Về mặt an ninh, FBI cho hay có đến 5,000 nhân viên được sử dụng cho 11 địa điểm, điều tra 300,000 người, có đến 6.5 triệu khán giả xem 78 trận đấu và có đến trên 700 drones của khán giả được hạ xuống vì lý do an ninh. Họ thành lập một trường huấn luyện cách chống Drone cho nhân viên FBI trước giải túc cầu. Có thêm vụ khám phá âm mưu khủng bố khi toà bạch cung tổ chức trận đấu UFC trong 6 tiểu bang.


Nhìn chung thì có thể nói giải túc cầu thế giới năm nay rất thành công về tài chánh và cũng có thể nói được chính trị hoá quá nhiều. Giá vé quá cao cho khán giả hâm mộ tham dự nhưng sân đầy khán giả, 99.7%. Hà tiện như mình cũng phải móc túi đi xem một trận với thằng con. Có nhiều khán giả muốn tham dự nhưng không được vì không được cấp chiếu khán như trường hợp một trọng tài được FIFA chọn để làm trọng tài người Somali, Omar Artan không được cấp chiếu khán. Tương tự đội tuyển Ba Tư không được tiếp đãi đàng hoàng để thi đấu. Phải chạy về Mễ tây Cơ sau khi thi đấu. Mình thấy vụ này hơi phản cảm, không xứng đáng là một đế quốc. Cũng có thể vì an ninh, chính quyền Ba-Tư có thể cho gián điệp trà trộn tỏng đội tuyển như nhân viên chăm sóc gì đó rồi bò ra ngoài để đặt chất nổ hay gì đó mình không biết. Vì theo tin tức thì có nhiều khám phá khủng bố tước khi xảy ra. Đọc tin tức thì thấy tiêu cực nhưng hai xứ đang đánh nhau nên khó mà lường.


Nhưng việc mà đa số khán giả trên toàn cầu không đồng ý là tổng thống Hoa Kỳ can thiệp để cầu thủ Balogun, được đá thay vì bị thẻ đỏ. Chính trị đã xâm nhập vào thể thao từ khi Hoa Kỳ boyscott thế vận hội tại Mạc Tư Khoa, rồi Liên Sô boyscott lại thế vận hội tại Hoa Kỳ,… chúng ta thấy cầu thủ Á Căn Đình cầm biểu ngữ khi thi đấu cùng đội tiểu Anh quốc kêu hòn đảo Malvinas thuộc về Á Căn Đình.


Có điểm là để quảng cáo nên họ kêu ngưng trận đấu ở phút 22.5 phút, để uống nước. Thay vì 2 hiệp, nay có đến 4 hiệp. Trong những tuần tới, FIFA sẽ trả tiền cho các nước tham dự và mọi người sẽ im lặng, nhận tiền. Chán Mớ Đời 


Bây giờ FIFA thấy tổ chức ở Hoa Kỳ lời quá nên có thể trong tương lai, có người đã kêu là kỳ tới thay vì tổ chức chính ở Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha và Maroc, thêm 3 xứ ở Nam Mỹ, nơi khởi đầu giai túc cầu thế giới đầu tiên. Họ kêu nên chuyển đến Hoa Kỳ vì tổ chức ở âu châu hay phi châu tốn tiền cho chủ nhà mà sau đó không sử dụng. Cho thấy tiền bạc trong tương lai sẽ chiếm hoàn toàn thể thao. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen

Nguyễn Hoàng Sơn 




Kháng Insulin

 




Khi nhìn vào biểu đồ này khiến mình thất kinh vì trong 20 năm, 7 bệnh lý, các đường cong đều đang đi lên. Alzheimer tăng 260%. Parkinson tăng 150%. Gan nhiễm mỡ tăng 125%. Tiểu đường tăng gấp đôi. Béo phì tăng 42%. Ung thư tăng 16%. Bệnh tim giảm rồi lại tăng trở lại. Hàng nghìn tỷ đô la của người Mỹ đã trả để thấy kết quả thay đổi theo hướng tiêu cực. Hệ thống chăm sóc sức khỏe đắt tiền nhất trong lịch sử nhân loại và không một bệnh chuyển hóa nào đang cải thiện. Chán Mớ Đời 


Có thứ gì đó đang gây ra tất cả chúng. Cùng một thứ và không ai ngăn chặn nó. Thực phẩm chế biến sẵn, Đường, Dầu hạt giống, Siro ngô giàu fructose và Carbohydrate tinh chế. Các sản phẩm siêu chế biến không có cách đây 100 năm. Những sản phẩm được thiết kế để làm tăng đường huyết và insulin cùng lúc. Những sản phẩm chiếm tới 73% nguồn cung thực phẩm của Mỹ. Vụ này mình có kể rồi, chính phủ Hoa Kỳ giúp nông dân để giúp ngành canh nông Hoa Kỳ tiến bộ để bán cho thế giới nhưng từ từ, các công ty thực phẩm được bao trọn gói và họ làm các nhà nông bé nhỏ banh ta lông để họ mua lại đất đai và kiểm soát hết ngành canh nông và thực phẩm của Hoa Kỳ.

Kỹ nghệ dược phẩm gia tăng kinh hoàng, không phải để chữa trị mà bán thuốc cho bệnh nhân cả đời


Chúng ta không có khủng hoảng bệnh tim, tiểu đường, béo phì. Chúng ta đang có một bệnh do thực phẩm và chính nó đang thúc đẩy mọi bệnh lý trên biểu đồ đó. Có một thứ kết nối mọi bệnh trên biểu đồ 20 năm ấy. Một rối loạn chuyển hóa duy nhất đang dẫn dắt tất cả. Kháng insulin. Kháng insulin dẫn đến tiểu đường type 2, dẫn đến bệnh tim, dẫn đến béo phì, dẫn đến Alzheimer, dẫn đến gan nhiễm mỡ,  đến PCOS. Nó dẫn đến hội chứng chuyển hóa.


Năm 1988, Tiến sĩ Gerald Reaven tại Stanford đã chứng minh rằng kháng insulin làm tăng huyết áp, tăng triglyceride, giảm HDL, tích tụ mỡ bụng, và gây viêm mạn tính. Mỗi lần chúng ta ăn thực phẩm chế biến, đường huyết của chúng ta tăng vọt. Tụy tiết ra insulin. Lặp lại điều này 5–6 lần mỗi ngày trong 20 năm, các tế bào của chúng ta sẽ ngừng phản ứng. Chúng trở nên kháng insulin. Tụy phải sản xuất nhiều insulin hơn. Vòng xoáy càng lúc càng nhanh. Đó chính là kháng insulin. Và nó bắt đầu hàng thập niên trước khi bác sĩ phát hiện ra.



Năm 1975, Joseph Kraft đã kiểm tra 14.384 bệnh nhân và phát hiện ra điều mà hệ thống y tế vẫn chưa tiếp nhận. Kháng insulin có thể phát hiện được 10 đến 20 năm trước khi đường huyết thay đổi trên xét nghiệm thông thường. Nhìn vào biểu đồ. Đường đỏ là insulin. Đang tăng trong 20 năm. Đường xanh dương là glucose. Phẳng. “Bình thường.” Suốt thời gian đó.


Bác sĩ chỉ kiểm tra đường xanh dương. Đường đỏ mới là nơi bệnh tật thực sự đang trú ngụ. Do đó họ bắt uống thuốc để phòng ngừa hay để giảm. Xét nghiệm insulin lúc đói có thể phát hiện từ năm đầu tiên. Bác sĩ của chúng ta phát hiện ở năm thứ hai mươi. Đó là khoảng trống đang giết chết mọi người. Khám sức khỏe hàng năm chỉ kiểm tra glucose lúc đói.


Nó kiểm tra cholesterol LDL, yếu tố dự báo yếu nhất của bệnh tim (chỉ 1.4 lần theo Nghiên cứu Sức khỏe Phụ nữ). Nó không kiểm tra insulin lúc đói, dấu hiệu sớm nhất của rối loạn đang gây ra mọi bệnh ở đầu danh sách. Tại sao không? Vì không có loại thuốc nào để bán cho tình trạng kháng insulin. Phương pháp điều trị là thực phẩm. Tập luyện. Ngủ đủ giấc. Những thứ không ai có thể cấp bằng sáng chế. Chán Mớ Đời 


Hệ thống không được thiết kế để tìm nguyên nhân gốc rễ. Nó được thiết kế để chờ nguyên nhân gốc rễ trở thành bệnh, sau đó bán cho bạn một loại thuốc để chữa bệnh đó suốt đời. Bác sĩ nói insulin lúc đói “bình thường” ở mức dưới 25. Y học nói trên 5 là cảnh báo. Trên 8 là cao. Trên 12 là nguy cơ cao. Trên 20 là nguy hiểm.


Insulin lúc đói mức 15 vẫn được coi là “bình thường” trên giấy xét nghiệm. Nhưng tụy của chúng ta đang sản xuất gấp ba lần lượng insulin cần thiết. Tế bào của chúng ta đã kháng insulin. Động mạch của chúng ta đã chịu áp lực. Khoảng cách giữa cái bác sĩ gọi là “bình thường” và cái khoa học gọi là “tối ưu” chính là nơi bệnh tật ẩn náu trong 20 năm. Khoa học hiện đại đã tiến xa rất nhiều nhưng chương trình giảng dạy y khoa vẫn chưa thay đổi, cập nhập hoá các khám phá mới của khoa học hiện nay.


Khoa học chứng mình chúng ta có thể đảo ngược Kháng Insulin không cần thuốc, không cần tiêm GLP-1, không cần toa thuốc suốt đời.


Chỉ cần loại bỏ đường, loại bỏ dầu hạt giống, loại bỏ carbohydrate chế biến. Ăn thực phẩm thật: Thịt Cá, Trứng, Bơ, Rau củ, Dầu olive. Những thực phẩm mà con người đã ăn trong 2 triệu năm trước khi dịch bệnh bùng nổ.


Hãy vận động cơ thể. Tập tạ, Đi bộ, Cơ bắp là “bể chứa” glucose lớn nhất của chúng ta nên khi đi bộ, tập thể dục sẽ khiến glucose giảm rất nhiều. Ngủ 7–8 giờ mỗi đêm. Cortisol làm tăng kháng insulin độc lập với mọi yếu tố khác. Không có thuốc cho vấn đề này vì không cần. Chữa lành chính là loại bỏ nguyên nhân và đó chính là lý do không ai nói cho chúng ta biết. Lý do là chữa lành một bệnh nhân là mất một khách hàng.



Họ khuyên nên làm 5 xét nghiệm. Dưới 150 USD. Không cần toa thuốc.

  • Fasting Insulin: Dưới 30 USD. Mục tiêu: dưới 5.
  • HOMA-IR: Tính miễn phí. Mục tiêu: dưới 1.0.
  • hs-CRP: Dưới 25 USD. Mục tiêu: dưới 1.0.
  • HbA1c: Dưới 30 USD. Mục tiêu: dưới 5.4.
  • Lp(a): Dưới 40 USD. Xét nghiệm một lần trong đời.

(Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn