Từ Kế mÔn đến Đà Lạt

 Từ Kế mÔn đến Đà Lạt


Mình sinh ra và ở Ấp Ánh Sáng đến khi vào học Petit Lyce’e mới dọn về đường hai Bà Trưng. Hồi nhỏ học trường Ấu Việt, đi qua cầu Bá Hộ Chúc rồi rẽ đường Đoàn Thị Điểm dọc con suối Cam Ly là đến trường. Chỉ nhớ ấp Ánh Sáng toàn là dân Huế ở xung quanh như gia đình Bác Cháu, bán mắm ngoài chợ, gia đình Dì Bơn,… có thể nói Ấp Ánh Sáng là ấp của người Huế di cư vào Đà Lạt mà đông nhất là dân làng Kế Môn. Đà Lạt có Ấp Hà Đông, gần Mả Thánh do người làng Hà Đông di cư vào thành lập. Ngoài ra khu Số 4, cũng toàn dân từ Huế vào. Có lẻ vì Vậy người ta gọi Đà Lạt là Huế Cao Nguyên. Dân gốc Quảng thì gọi Quảng Nam Cao Nguyên,…

Tiệm vàng đầu tiên ở Đà Lạt do ông Bùi Duy Chước, làng Kế Môn, Thừa Thiên thành lập


Mấy tên học chung với mình khi xưa như Bùi Văn Đông, Hoàng Ngọc Ánh,…đều là dân gốc Kế Môn, một làng nổi tiếng về kim hoàn. Có tiệm vàng Kim Thịnh thì không phải gốc Kế môn. Cách đây đâu 2 năm mình bay qua Boston để ăn cưới cô cháu thì có gặp con gái đầu của tiệm vàng Hoàng Ngọc Bửu, chỗ khu Hoà Bình, chị của Hoàng Ngọc Ánh. Năm ngoái có gặp lại Bùi Thị Hoa, em gái Bùi Văn Đông, con Bùi Vàng. Còn thì lâu lâu vẫn nghe tin tức của con tiệm vàng Kim Thịnh, cũng học chung khi xưa.

Thấy dân Đà Lạt tải tấm ảnh này lên mạng nên tải lại để Michel Phong Văn Gừng, học chung khi xưa nhìn lại. Năm ngoái mình có gặp lại Melbourne, Úc đại Lợi


Ngoài ra lâu lâu cũng có tin tức Lâm Quốc Dũng, con bà Bùi Thị Hiếu, mình quên tên ông bố, họ Lâm gốc hoa. Có lẻ ông chồng bà Bùi Thị Hiếu cũng là dân thợ bạc. Bà Bùi Thị Hiếu quen bà cụ lâu lắm rồi khi còn con gái. Mỗi lần bà ta bên pháp về Đà Lạt, đều ghé thăm bà cụ mình. Năm bà cụ sang Pháp thì đúng lúc bà ta lại về Đà Lạt. Sau này nghe nói bà Bùi Thị Hiếu bệnh rồi mất tại Đà Lạt.

Tiệm vàng và tiệm Cầm đồ Bùi Thị Hiếu, con gái đầu của ông Bùi Duy Chước
Thấy ai tải lên mạng, nói đây là chữ viết của mẹ khi làm việc cho bà Bùi Thị Hiếu. Chữ rất đẹp.


Nhưng nếu nói về những người đầu tiên làm nghề kim hoàn tại Đà Lạt, thì có thể chia thành 2 nhóm lớn: thợ bạc Huế, làng Kế Môn, là nhóm rất quan trọng. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều gia đình người Huế theo chân công chức triều đình, giáo chức, quân nhân, và giới trung lưu lên Đà Lạt sinh sống. Trong số đó có các thợ kim hoàn gốc Kế Môn, làng nghề bạc nổi tiếng của Thừa Thiên Huế. Họ mở tiệm vàng nhỏ, quầy sửa nữ trang, và xưởng thủ công gia đình. Các tiệm này thường không lớn nhưng có uy tín vì làm tay rất kỹ và giữ chữ tín. Tiệm đầu tiên được mở có lẻ là tiệm Hưng Thanh của ông Bùi Duy Chước, bố của bà Bùi Thị Hiếu, toạ lạc ngay góc đường Minh Mạng và Nguyễn Biểu.


Dân Đà Lạt xưa chắc ai cũng nhớ có chiếc xe bán sữa đậu nành ban đêm ở ngay mấy bậc thang chỗ tiệm vàng của ông Bùi Duy Chước. Trời tối Đà Lạt lạnh lạnh, phà khói, ghé lại đây ngồi trên bậc cấp, cầm ly sữa đậu nành nóng, xoa xoa uống từng ngụm là thấy đời đẹp như trăng 16. Hôm nào có tiền sang sang kêu thêm cái bánh chuối là vui đời cô lựu.

Tiệm vàng Thương chỗ Photo Hồng Châu nhìn qua


Có tiệm vàng Kim Thịnh và Bùi Vàng ngay góc đầu Minh Mạng bên cạnh tiệm Anh Võ


Mình nhớ cách tiệm vàng Hùng Thanh mấy căn phố, có một tiệm do người Hoa. Lâu lâu ra tiệm Hiệp Thạnh chơi thì dì Thương kêu đi đây với dì. Rồi dắt mình đến tiệm này, nói chi với bà tàu, thấy bà ta đưa dì một cọc tiền bỏ vào ví. Tò mò mình hỏi, dì kêu là tiền thuê nhà. Nhà của ông bà Phúng, mình đoán là khi xưa, ông bà Phúng khởi nghiệp tại đây trước khi dọn về đường Duy Tân. Nên cho bà tàu thuê, cũng gần Hiệp Tam Kỳ của gia đình thằng Hùng học chung khi xưa. Không ngờ sau này mình cũng làm nghề cho thuê nhà. Chán Mớ Đời. Ai buồn đời thì đọc bài báo Việt Nam kể về gia tộc của ông Bùi Duy Chước.


https://thanhnien.vn/theo-dau-xua-chuyen-cu-tiem-vang-dau-tien-o-xu-suong-mu-185580869.htm#:~:text=Nh%E1%BB%9D%2520l%C3%A0m%2520%C4%83n%2520uy%2520t%C3%ADn,C%C3%B9ng%2520n%C4%83m%2520b%C3%A0%2520Hi%E1%BA%BFu%2520l%E1%BA%A5y


Ngoài ra khi xưa ở Đà Lạt có nghề bán alpha, lon cho sĩ quan cũng hái ra tiền nhiều. Đà Lạt khi xưa có trường quân đội như Võ Bị, Chiến Tranh Chính Trị, trường Tham Mưu,.. nên có vụ gắn Alpha nên sinh viên Võ Bị khi được gắn Alpha phải ra Đà Lạt mua. Mình không nhớ mấy tiệm nào nhưng chỉ nhớ 2 tiệm Long Hưng của ông Đàng và tiệm Hiệp Thạnh ở số 9 và 11 Duy tân có bán. Mỗi lần sinh viên được gắn Alpha là ra đầy tiệm. Thấy ông Đàng phải may mấy cái ALPHA vào áo này nọ thêm bán lon cho sĩ quan. Không biết có bán mấy loại nhẩn của khoá họ ra trường hay không. Nhỏ quá nên không nhớ nhiều.


Hoàng Ngọc Ánh kể là bố anh ta học nghề và làm cho ông Bùi Duy Chước rồi sau này lập gia đình ra làm riêng, có tiệm Hoàng Ngọc Bửu ở ngay khu Hoà Bình, chỗ đường luồng từ nhà hàng Mekông đi qua. Mình nhớ cạnh tiệm Vĩnh Hưng của ông bà Võ Quang Tiềm, có một tiệm vàng tên Huỳnh Ngọc của ông bà Huỳnh Ngọc Cửu thì phải. Sau này họ dọn về Sàigòn. Có lần con cháu của họ có liên lạc với mình. Mẹ mình thì quen với ông bà chủ tiệm này.




Tiệm Tiến Đạt bán đồng hồ nhưng có thể bán vàng lá này nọ  


Người Hoa ở Đà Lạt tuy ít hơn Chợ Lớn nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong thương mại. Khu Hoà Bình là do người Tàu ở Đà Lạt hùn nhau để tân trang lại sau khi chợ Đà Lạt được xây. Tiệm vàng và Cầm Đồ Bùi Thị Hiếu, có thể nói của người Việt cũng có thể là người Tàu. Vì ông chồng bà Hiếu họ Lâm. Người Hoa họ thường mua bán vàng, đổi tiền, cầm đồ, và kinh doanh đá quý. Nhiều tiệm vàng người Hoa xuất hiện gần chợ vì gắn với mạng lưới thương mại từ Sài Gòn lên cao nguyên. Không biết tiệm Huỳnh Ngọc là của người Tàu  hay người Việt.


Ngoài ra tuy ít nhưng có mấy tiệm của người Ấn Độ khi xưa ở khu Hoà Bình nên chắc họ có bán vàng vì người Ấn Độ mê vàng như ăn cà ri nị. Dạo đó còn nhỏ nên không để ý mấy chuyện này.


Tiệm Long Hưng mà khi xưa sinh viên Võ Bị và Chiến Tranh CHính Trị ra đây mua alpha và lon

Sau 1954, Đà Lạt phát triển mạnh: có trường Võ Bị, nhiều trường nội trú, và tầng lớp trung lưu đông hơn. Khi đó các tiệm vàng phát triển nhanh vì nhu cầu: nhẫn cưới, đồng hồ, huy hiệu quân đội, và nữ trang. Nhiều thợ bạc Huế trở nên nổi tiếng trong giai đoạn này nhất là những người gốc gác làng Kế Môn khiến người Huế rất tin tưởng.


Làng Kế Môn thuộc vùng Phong Điền, nay là xã Điền Môn, Huế, được xem là cái nôi nghề kim hoàn của xứ Đàng Trong và của triều đình Huế sau này. Theo sử cũ, làng hình thành từ thế kỷ XIV dưới thời vua Trần Anh Tông. Ban đầu dân làng sống bằng nông nghiệp và đánh cá quanh phá Tam Giang.  


Nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử nghề là cụ Cao Đình Độ, người được tôn là Đệ Nhất Tổ sư ngành kim hoàn Việt Nam. Tương truyền ông quê ở Thanh Hóa, rất ham học nghề kim hoàn và từng theo người Hoa để học nghề Ngân tượng từ các thợ bạc Trung Hoa. Mình đoán chắc ông ta cũng gốc hoa. Vì khi xưa người ta không dạy nghề cho người ngoại tộc.


Khoảng cuối thế kỷ XVIII, trong thời loạn Trịnh – Nguyễn rồi Tây Sơn, ông mang gia đình vào Thuận Hóa tìm đường lập nghiệp. Khi đi ngang vùng Ô Lâu gần Kế Môn, gia đình gặp nạn trên sông và được dân làng cứu giúp. Có lần mình đọc tin tức trên trang nhà của làng Kế môn thì được kể là ông Cao Đình Độ chạy giặc vào Nam thì đi ngang qua làng Kế mÔn thì thuyền ghe bị đắm chi đó nên chọn làng Kế mÔn làm quê hương thứ 2. 


Rồi sau này mới được vua triều đình Nguyễn tuyển vào nội cung. Khi sinh sống ở làng Kế Môn thì ông ta truyền nghề cho một vài người nhưng làng nghèo quá nên chả làm ra tiền đến khi được triều đình kêu vào cung thì làm ăn khấm khá nên dân làng Kế môn mới bắt đầu bỏ nghề làm ruộng, học nghề thợ bạc mong sau này vào triệu nội để làm việc kiếm ăn. Sau đó có người vào Đà Lạt, có người đi Nam vang làm ăn,.. Từ đó, nghề kim hoàn lan khắp nơi nhờ người làng Kế Môn. Dân làng này học nghề thợ bạc để kiếm ăn ở xứ người.


Con trai ông là Cao Đình Hương tiếp tục phát triển nghề và được tôn là Đệ Nhị Tổ sư. Hai cha con trở thành biểu tượng của giới thợ bạc miền Trung. Điều đặc biệt là nghề kim hoàn Kế Môn không chỉ làm trang sức đơn thuần. Người thợ phải học: luyện kim, kéo chỉ vàng bạc, chạm trổ, hàn, tạo hoa văn rồng phụng, và kỹ thuật filigree (đan chỉ kim loại cực mảnh). Nghề được giữ rất kín. Nhiều bí quyết chỉ truyền trong họ tộc hoặc cho con rể được tin tưởng.


Dưới triều Nguyễn, nhiều thợ Kế Môn được tuyển vào “Cơ vệ Ngân Tượng” trong kinh thành Huế để chế tác: đồ dùng hoàng cung, ấn tín, vật phẩm tế lễ, nữ trang cung đình, và đồ bạc nghi lễ. Vì vậy người Huế xưa thường xem thợ bạc Kế Môn là giới nghệ nhân quý tộc thủ công.


Ở Kế Môn hiện nay vẫn còn nhà thờ tổ nghề kim hoàn, mộ tổ, và lễ giỗ tổ nghề hằng năm. Trong lễ tổ, thợ kim hoàn thường cúng: búa, kềm, đục, lò nung, và các dụng cụ nghề. Họ quan niệm làm nghề kim hoàn phải có “đức tay”  tức sự trung thực và tinh sạch trong nghề. Vì nghề liên quan vàng bạc nên chữ tín rất quan trọng. Một người thợ gian dối sẽ bị cộng đồng nghề tẩy chay.


“Cơ vệ Ngân Tượng” là một trong những đơn vị thủ công đặc biệt nhất của triều Nguyễn, vừa là xưởng chế tác kim hoàn hoàng gia, vừa là cơ quan phục vụ trực tiếp cho hoàng cung ở kinh đô Huế. Chữ “Ngân tượng” (銀象) thời xưa nghĩa là nghề bạc, thợ kim hoàn, và nghệ nhân chế tác vàng bạc cho triều đình. Còn “Cơ vệ” là đơn vị trực thuộc hoàng cung, có tổ chức gần giống một “xưởng kỹ nghệ hoàng gia” nhưng nằm trong hệ thống nội vụ của triều đình.


Những người được tuyển vào Cơ vệ Ngân Tượng thường đến từ làng Kế Môn, các dòng thợ bạc ở Huế, hoặc gia đình kim hoàn có tiếng trong Đàng Trong. Được vào làm trong Ngân tượng là niềm vinh dự lớn vì nghề được triều đình bảo trợ, lương ổn định, và có địa vị xã hội cao hơn thợ thủ công bình thường. Nhiều kỹ thuật của Cơ vệ Ngân Tượng về sau truyền ra dân gian qua các làng nghề như Kế Môn. Từ đó hình thành mạng lưới thợ kim hoàn đi khắp Huế, Đà Lạt, Sài Gòn, Phnom Penh, rồi sang Mỹ và Pháp sau 1975. Cho nên ra Phước Lộc Thọ mà thấy tiệm vàng là đoán có người làng Kế Môn. Nói cho ngay nay thì nghề thợ bạc cũng không thịnh lắm vì nữ trang họ mua từ Hương cảng hay tàu làm bằng máy, rẻ nên khó mà đo sức lại.


Mình không biết khi xưa ở Đà Lạt có vụ cướp mấy tiệm vàng hay không nhưng nghe nói sau 75 các tiệm vàng hay bị cướp. Có người quen ở Đà Lạt, có tiệm vàng, nghe nói bị cướp 2 lần. Hôm trước, thấy hình ảnh công an niêm phong một tiệm vàng nghe nói nổi tiếng ở Sàigòn rồi họ vác vàng bạc đi. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Tìm lại mối tình toả nắng Yersin Đà Lạt xưa

 Tìm lại mối tình toả nắng Yersin Đà Lạt xưa


Có anh bạn kêu mày là “trung tâm nghe nhìn” như Việt Cộng gọi khiến mình thất kinh. Lý do là lâu lâu có người hỏi mình tên này ả nọ khi xưa ở Đà Lạt, khiến mình đã ngu lại còn ngu lâu, ngu bền vững, ngu có căn bản, ngu chuyên chính như người trồng bơ già. Buồn đời về già thiên hạ nghĩ quẩn, hỏi mình chuyện cỏi trên, chuyện đời xưa. Thứ nhất mình không ở ngoài phố, trung tâm thị xã Đà Lạt, thứ hai họ hỏi toàn những tên rất xa lạ như thằng Tuần, con Thảo thì Đà Lạt hay ở trường trong lớp biết bao nhiêu tên như vậy. Nếu cho thêm cái họ và ở khu vực nào hay tên bố mẹ thì hoạ may, vâng hoạ may thì mình còn mò mò trí óc nông dân một đời để tìm ra như vạch lá tìm sâu.


Hôm nay mình chép còm của một cô khi xưa học Yersin, sau khi đọc bài mình kể gặp lại tên bạn học chung khi xưa ở Virginia, gần 45 năm mới gặp lại. Mình gửi cho tên bạn học một thời đi học rồi kêu có cô nào nhớ nụ cười của mày khi xưa. “Làm sao mà quên được ánh mắt với nụ cười..." Tên này hỏi tên và họ nên mình cho hắn địa chỉ của cô nàng khi xưa ở Đà Lạt thì tên bạn kêu “Vậy là tao nhớ ra rồi. Họ và tên là Nguyễn Thị …. Chất có học Lycee’ . Có 1 lần, em viết cho tao câu thơ: 

Người đi qua nhà tôi ngày 02 bận. Mắt xa đưa nên chẳng thấy tôi buồn. Hồn lưu lạc chưa hề 1 chúa . Yêu 1 người ta dâng cả tình thương. Nếu mày có gặp nói cho tao hỏi thăm. Thanks!”.


Mình tải mấy câu thơ cho cô nàng thì cô nàng nói không phải thơ của cô ta nhưng chép ở đâu để gửi tặng tên bạn. Cô này biết mấy bà dì bà con của mình ở số 9 Duy Tân. Kinh


Mình đoán khi xưa học sinh đọc thơ con cóc của ai rồi chép lại truyền cho nhau như tên bạn học khi xưa, Dương Quang Trí, con ông Marcel ở đường Phan đình Phùng hay sưu tầm. Có lần hắn sưu tầm được bài thơ Bastos Luxe nên chậm rãi bóc gói thuốc Bastos ra , châm điếu thuốc với cái hột quẹt zippo rồi hít một hơi thuốc lá, nhìn xa xa về một phương trời vô định dù hắn không thuộc loại học sinh tiên tiến trong lớp, không biết giải toán hàm số hay hình học được rồi thốt ra:


Buồn những lúc cô đơn gối chiếc

Ánh lửa tù đốt cháy cả tương lai

Rồi hắn một tụ rồi rít thêm một làn hơi sâu như giúp hồn thơ sâu đậm hơn rồi phà khói thuốc ra từng vòng tròn như Lucky Luke chậm chậm rồi đọc tiếp:


Song cửa sắt ngăn đôi đời du đảng

Tiếc làm gì khi mối tình ta tan vỡ

Đúng lúc đó thằng Đa xen vào, kêu du đảng gì, mày gặp lính 302 là trốn mất tiêu đòi làm đu đảng. Mình nói đúng nhưng để nó đọc tiếp. Đang hăng say tiếp thu những lời vần thơ tình yêu mà tên đa cứ xen vào. Thằng Trí như quê một cục nên ngưng đọc làm neo khiến cả đám xúm lại năn nỉ nó đọc tiếp. Tên trí này nhà có vườn trên Đa Thiện nên to con, hay vác máy cày của bố nó đi cày thuê cho mấy vườn hàng xóm, được tiền hay hú bạn bè đi ăn chè. Trong đám nhà tên này là khá nhất nên hay bao bạn bè đi ăn chè Mây Hồng ở đường Tăng Bạt Hổ của bác Tám, quen mẹ mình.


Cuối cùng nó cũng muốn làm thi sĩ nên buột miệng đọc tiếp:

Ôi dĩ vãng tương lại và hiện tại

Sống làm gì với số kiếp lang thang  


Cái này đúng là tư tưởng hiện sinh của Jean Paul Sartre, làm sao nó mò ra được câu thơ đầy triết lý hiện sinh . Kinh


Rồi Trí hít một hơi dài khiến điếu thuốc bập bùng đỏ rực như mặt trời cách mạng nức nở trào ra thêm mấy câu:


Lời hẹn ước năm xưa em còn nhớ

U sầu buồn hởi cố nhân

Xe hoa đón rước người em gái, 

Em đã sang ngang lỗi hẹn thề.


Hắn đọc tới đây bổng không gian bổng trùng xuống, cả đám như rơi vào một loại dung dịch đong đưa buồn ná thở. Chả thằng nào có đối tượng nhưng nghe em đã sang ngang lỗi hẹn thề. Thì buồn vào hồn không tên, nói như kép Út Trà Ôn, ghe chiếu Cà Mau đã cắm sào trên kinh Ngã 7 nhưng cô gái năm xưa đi lấy chồng trớt quớt.


Tên bạn học khi xưa, học ban C nên có vẻ văn chương thơ thi khá nhiều chớ ban B, như mình chỉ học toán vật lý không thì chả biết thi phú gì cả để cưa gái. Chỉ biết Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen.


Mình nói là cô nàng có gọi cho mày nhưng chả thấy bắt điện thoại. Hắn kêu sợ bị Spam nên không dám bắt điện thoại số lạ. Mình xem lại tin nhắn thì hoá ra cô ta để lạc số điện thoại nên xin lại. Phụ nữ về già lạ thật. Nếu quên thì lần lên lại tin nhắn ở phía trên thì ra. Nói cô nàng nhắn tin cho tao rồi tao gọi lại liền. “Mày nên đưa cho em Trang Văn học để em nghe tiếng hát của tao”. https://van-hocdalat.smugmug.com/MORE-GALLERIES/Đinh-Anh-Quốc-73-74


Tên bạn học này khi xưa được xem là trai chuyên chính Đà Lạt vì má hồng như gái Đà Lạt chính hiệu con nai vàng. Mấy người da trắng thì nhờ ở trên núi nên hồng huyết cầu nhiều nên khi trời nóng là má đỏ lên như đánh phấn. Có chị bạn học Couvent des Oiseaux kể là hay bị mấy bà sơ la, kêu sao dám đánh phấn đi học vì má hồng tự nhiên. Sau này xuống Long Xuyên vượt biển, phải lấy bùn xoa mặt đủ trò vì má hồng thì bố thằng tây nào cũng nhận ra không phải dân làm ruộng. Trai gái Đà Lạt mà về Sàigòn là thiên hạ mê như ngày nay họ mê tài tử ăn kim chi. Chán Mớ Đời 


Mình cũng nhớ mấy cô hàng xóm hay mấy cô học chung khi xưa, trời ấm lên làm mấy cô má đỏ môi hồng chỉ có vấn đề là mình rất khù khờ không như mấy tên bạn học của mình. Anh bạn chép miệng bên kia đường dây, kêu ngày xưa biết gì, chỉ có có được to xác chớ khù khờ chả biết gì. Bọn con gái chúng già dặn, nữ thập nam thập lục. Hắn như tiếc nuối ngày xưa khờ khạo, được gái yêu mến mà chả biết làm gì để tăng tốc mối tình hữu nghị.


Từ ngày tìm lại nhau, nói chuyện với hắn mới khám phá ra khi xưa hắn có nhiều mối tình toả nắng. Lâu lâu buồn đời, lái xe xa nên mình gọi hắn nói chuyện cho quên đường dài. Hắn thì về già chả biết làm gì ngoài rửa chén nấu cơm nên vác đàn ra đánh đàn hát nhớ lại những mối tình tỏa nắng khi xưa ở Đà Lạt trong khi mình thì làm vườn chết bỏ con gà kê. Chán Mớ Đời 


Dạo này bẫy mấy con sóc cho coyote ăn nên chúng có vẻ thân thiện, đi gần mình xem có sóc cho chúng ăn hay không. Chớ khi xưa, thấy mình từ xa là chúng bỏ chạy như dân miền nam khi xưa gặp Việt Cộng. Khiến Việt Cộng tức giận vì không thực hiện được chiến tranh nhân dân vùng lên đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Dân tình nghe Việt Cộng đến đâu là bỏ chạy đến đó, cứ bỏ chạy khiến chúng điên lên nên pháo kích trên đại lộ mà thiên hạ gọi là “đại lộ kinh hoàng.” Năm 75, khi chạy di tản về Bình Tuy, gia đình mình suýt chết vì pháo kích của Việt Cộng. Có chiếc xe Lambretta chở một đám chạy bóp kèn in ỏi nên ông cụ để cho họ chạy qua mặt rồi 5 phút sau, thấy xe Lambretta banh ta lông, xác người lăn lóc bầy nhày. Nói như người xưa, ăn cổ đi trước chạy giặc đi sau.


Cuộc đời mình khi xưa lạ lắm, hình như có khiếu về đưa thư dùm thiên hạ. Có lần tên học chung là chủng sinh thừa sai, đi tu, chắc để trốn đi quân dịch vì lớn hơn mình đâu 4 tuổi chi đó nhưng còn vấn vương chuyện nợ tình đời nên lấy địa chỉ nhà mình rồi viết thư cho cô nào ở nHa Trang rồi cô ta gửi lại nên mình làm người đưa thư bất đắc dĩ cho những mối tình qua Tìm bạn bốn phương mà ngày xưa báo chí Việt Nam Cộng Hoà hay đăng. 


Qua Văn Học thì có hai tên: Huỳnh Kim Sang (11B) và Trần Văn Hiệp (11A), hai tên này đá banh ở sân vận động đường Cộng Hoà với mình mỗi chiều, nhờ đưa thư cho Nguyễn Thị … và Nguyễn Thị ... Rồi hai ả này lại đưa thư nhờ mình trao lại miễn phí. Rồi một ngày đẹp trời bổng nhiên mây giăng kín bầu trời Đà Lạt, Việt Nam Cộng Hoà ra lệnh đôn quân nên mấy ông thần sinh năm 1955, phải xếp bút nghiêng theo việc đao cung. Cũng chấm dứt luôn nghề đưa thư trai gái trong lớp của mình. Chán Mớ Đời 


Nhớ trong lớp có tên Tuấn, ở gần xóm, vào lớp hắn cứ hát kêu Nguyễn Thị …... Tên này cũng đá banh với mình nên hay hỏi mình vụ đưa thư dùm cho Trần Văn Hiệp vì hắn kết Nguyễn Thị … Sau này về Đà Lạt, nghe bạn bè nói hắn lấy Nguyễn Thị …. Nghe nói hai vợ chồng đối choại rất nhiều vì dành nhau lên thiên đàng. Lên thiên đàng thì kêu không muốn gặp nhau, phải lên trời hai đứa hai nơi, dù phải lên trên trời. Vấn đề là một người lên thiên đàng thì kẻ kia phải xuống địa ngục. Nên cả xóm phải nghe hai vợ chồng dành nhau lên thiên đàng. Mình thì chấp nhận xuống địa ngục để đồng chí gái lên thiên đàng nên không cải cựa gì nữa.


Hôm nay, vừa đi vườn về thì anh bạn gọi điện thoại kêu đã nói chuyện với Lá Diêu Bông ngày xưa rồi. Tao đang ngủ bổng nhiên điện thoại reo, 11 giờ đêm. Hoá ra cô nàng gọi nói chuyện mấy tiếng đồng hồ. Khiến tao hết ngủ. Chán Mớ Đời  (Còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Việt kiều thắng 55 triệu đô ở sòng bài tại Việt Nam

 Việt kiều thắng trên 55 triệu đô ở sòng bài tại Việt Nam 


Hôm nay buồn đời mình đọc báo Việt Nam thì có một vụ kiện tụng khá đặc biệt vì một Việt kiều thắng kiện được 55 triệu đô la khi kiện sòng bài Palazzo Club mà ông ta là hội viên. 


Báo kể ông Lý Sam, Việt kiều chắc gốc tàu, làm chủ nhà hàng ở Việt Nam, hội viên của câu lạc bộ Palazzo, hình như đóng đô tại khách sạn Sheraton. Ông ta mê đánh bài, hôm đó ông ta chơi kéo máy. Ông ta ngồi đúng máy số 13 xui xẻo ra sao mà khi không hiện ra $55 triệu đô la. Ông ta từng thắng đâu $95,000. Nên khi máy kéo reo như điên, để chắc ăn ông ta đánh tiếp thì thua $5 nên máy trừ 5 đô nên tin là mình trúng. 


Vấn đề là số trúng quá cao nên quản lý phải gọi ông chủ đang ở ngoại quốc xử lý. Ông Lý chụp hình và nhờ các người chơi bài làm chứng nhưng chả có thằng Tây nào ký tên. 


Ngày 25/10/2009, ông Lý Sam đang chơi máy slot machine số 13, trò “The Landlord”, tại Palazzo Club trong khách sạn Sheraton Sài Gòn. Máy hiện lên jackpot khoảng 55,5 triệu USD.  


Ông lập tức: chụp hình màn hình máy, yêu cầu casino xác nhận, nhờ nhiều người chơi khác ký làm chứng. Nhưng phía casino sau đó từ chối trả tiền, nói rằng máy bị “technical malfunction” (lỗi kỹ thuật). 


Đọc vụ này khiến mình nhớ đến Đà Lạt khi xưa. Ở dốc Minh Mạng, cạnh tiệm Công Đồng bán truyền hình sửa chửa radio, có một căn phố để hai cái bàn bóng bàn mà anh Tín, đi học ở Nhật Bản về đánh kiểu cầm thìa và anh Vinh đánh kiểu Trung Cộng và chú Nô hay ghé đánh ở đây. Trên lầu thì có để cái máy kéo. Có lần mình đang đánh bóng bàn ở đây thì có ông thần nào kéo nghe riêng riêng khiến bà chủ nhà muốn xỉu vì phải chung mấy ngàn. Cuối cùng bà ta thương lượng trả có 500 đồng.


Mình ngạc nhiên là ông thần Việt kiều này lại thắng kiện, chắc đút lót khá nhiều. Điểm gây tranh cãi là:

  • máy slot hiển thị số tiền thắng thật,
  • nhưng các biểu tượng trên reels lại không khớp với jackpot,
  • và mức thưởng tối đa của máy theo cấu hình chỉ khoảng vài chục ngàn USD.  

Sòng bài viện dẫn quy định phổ biến: “Malfunction voids all pays and plays” (tức là nếu máy lỗi thì mọi kết quả thắng đều vô hiệu).  Chán Mớ Đời 


Tuy nhiên, tòa án Việt Nam lại cho rằng:

  • casino không chứng minh được lỗi một cách minh bạch,
  • bo mạch máy đã bị tháo và gửi đi giám định mà không có giám sát độc lập,
  • nên bằng chứng kỹ thuật của casino không đủ tin cậy.  

Kết quả cuối cùng năm 2013, Tòa án Quận 1 TP.HCM xử ông Lý Sam thắng kiện, buộc Palazzo Club phải trả hơn 55 triệu USD.( $55,542,256.7) Sau đó casino kháng cáo. Cuối cùng hai bên dàn xếp ngoài tòa vào năm 2014. Số tiền thực tế ông Lý Sam nhận được không bao giờ được công bố công khai.  Chán Mớ Đời 


Ngoài ra có bài kể là ông thần Việt kiều thắng kiện lại bị luật sư chơi kiểu lấy 25% tiền thưởng nên ông ta xù nên bị luật sư kiện cáo. Nghe nói đâu cuối cùng chỉ trả luật sư phí có $50,000 và ngày tập đoàn Ocean Đại Dương trả. Chán Mớ Đời 


https://vietnamnet.vn/en/vietnam-casino-refuses-to-pay-55-million-prize-E4746.html


https://vnexpress.net/cham-dut-vu-kien-doi-hon-55-trieu-usd-tien-thang-bac-2931919.html


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn