Chuyện bên lề giải túc cầu thế giới (2)

 Chuyện bên lề giải túc cầu thế giới (2)


Vậy là giải túc cầu thế giới đang bước vào vòng bán kết, khiến nhiều đội tuyển phải khăn gói ra về. Trong đó có nhiều đội tuyển từng là vô địch thế giới như Đức quốc… đưa đến tình trạng thiên hạ lên án tiêu cực các đội tuyển. Điển hình các bình luận viên lên án đội tuyển như không còn tinh thần đấu tranh dưới màu cờ quốc gia, mất hết phẩm chất của tinh thần Đức quốc, ý nói là đội tuyển ngày nay hằm bà lằn các màu da. Gióng lên tinh thần bài trừ di dân, hồi giáo. Có cựu thủ môn quốc gia Oliver Kahn kêu cầu thủ được đem theo vợ con nên đầu óc không tập trung vào tranh tài,….


Dạo này mình thấy trên mạng xã hội đăng nhiều clip về người hồi giáo, tấn công hay bắt cóc phụ nữ này nọ qua các video an ninh. Không biết có thật hay giả khiến mình nghĩ có một tổ chức hay chương trình nhằm giúp các đảng phái cực hữu lên thay thế chính quyền hiện tại.


Có bình luận viên kêu cầu thủ đội tuyển Maroc toàn là dân sinh ra tại hải ngoại, 6 cầu thủ của đội tuyển Capo Verde, một hòn đảo nhỏ bé ở Phi Châu sinh sống tại Âu châu, nhiều nhất ở Hoà Lan…. Họ giải mả lý do một đội tuyển mà trước đây chưa ai biết đến đá ngang ngửa với đội tuyển Á Căn Đình với Leo Messi. Có một cái clip của đội tuyển Nam Hàn, cho thấy một cầu thủ lai đại hàn, quên tên, không nói được nhiều tiếng Hàn Quốc, khiến thủ quân Minh Son, che mặt cười nức nở. Hình như có hai chị em người mỹ gốc việt, thi đấu cho đội tuyển Việt Nam môn bóng chuyền ở giải á châu vừa qua.


Có một bài bình luận của một người Ý Đại Lợi khiến mình nghĩ rất tích cực về người di dân. Ông ta nói mọi việc, cuộc sống đang thay đổi nhưng chúng ta vẫn sống với tinh thần của thế kỷ 20. Hãy lấy Cape Verde làm ví dụ, đội đã chơi ngang ngửa với Argentina, và tự hỏi lý do nào một quốc gia không ai nghe đến trước đây, bổng nhiên đá như Ba-Tây. Ông ta cho rằng túc cầu của đội tuyển quốc gia không còn trùng khớp với biên giới lãnh thổ nữa: nhiều đội tuyển phát triển nhờ cộng đồng di cư và song tịch, trong khi Ý Đại Lợi vẫn bám víu vào một mô hình truyền thống hơn.

Cầu thủ Balogun sinh ra tại Hoa Kỳ và lớn lên tại Anh quốc. Các quốc gia Anh quốc và Nigeria không cần anh ta nên đầu quân cho Hoa Kỳ 


Câu hỏi làm sao mà đội tuyển Cape Verde lại mạnh đến vậy? Một quần đảo nhỏ, dân số ít, cơ sở hạ tầng bóng đá thảm hại, thế mà lại có một đội tuyển có thể đứng ngang hàng với những đội giàu có, đông dân và được trang bị tốt hơn hẳn. Câu trả lời: Cape Verde không chỉ là Cape Verde, về mặt đá banh, đó là Cape Verde cộng với cộng đồng di cư của họ. Và đây là số phận của tất cả các đội tuyển quốc gia trên thế giới, sớm hay muộn. Đội tuyển Hoa Kỳ, Gia-nã-đại là hoàn toàn của người di dân hay hậu duệ của họ. Đội tuyển Pháp chỉ có một ông tây trắng, còn là hậu duệ của người di dân.


Nghĩa là nhiều cầu thủ Cape Verde không lớn lên trên đảo mà ở các lò đào tạo châu Âu, ở ngoại ô Rotterdam, Lisbon, Paris, Brussels, London. Họ là công dân Hà Lan, Bồ Đào Nha, Pháp, Anh; thường có hai sổ thông hành; đôi khi sinh ra và trưởng thành ở nơi khác: nhưng họ có quyền chọn khoác áo đội tuyển Cape Verde. Quy định của FIFA là như nhau cho tất cả: cần có quốc tịch và một mối liên hệ được công nhận như sinh ra, cha mẹ, ông bà hoặc cư trú. Tuy nhiên, sự khác biệt nằm ở luật quốc tịch của từng nước, cũng như khả năng của các liên đoàn trong việc đi tìm kiếm những cầu thủ đó. Nếu mình không lầm thì trên hiến pháp của Hà Nội ngày nay, cho rằng con cháu của những người sinh ra tại Việt Nam đều là người Việt.


Cape Verde chỉ là một ví dụ. Morocco, Algeria, Tunisia, Senegal, Ghana, Nigeria, Congo, Jamaica, Curaçao, Suriname, Albania, Kosovo: nhiều đội tuyển được xây dựng, củng cố hoặc thậm chí trở nên khả thi nhờ di cư. Với một số đội, cộng đồng di cư là phần bổ sung chất lượng; với những đội khác, đó là nền tảng chính. Không có con em của người di cư, một số đội tuyển chỉ là những đội địa phương tầm thường. Có họ, họ trở thành những đội tuyển chuyên nghiệp thực thụ, được đào tạo trong những giải đấu có tổ chức tốt nhất thế giới.


Điều này thay đổi khái niệm về đội tuyển quốc gia. Trong một thế kỷ, chúng ta nghĩ đội tuyển quốc gia là đại diện túc cầu của một lãnh thổ: những cầu thủ xuất sắc nhất sinh ra, lớn lên và được đào tạo trong biên giới đó. Ngày nay, ngày càng thường xuyên hơn, đó là đại diện của một dòng họ, của một ký ức gia đình, của một sự thuộc về được thừa hưởng. Không chỉ quan trọng nơi bạn sinh ra, mà còn nơi gia đình bạn xuất phát; không chỉ nơi bạn thi đấu, mà còn câu chuyện lịch sử nào bạn có quyền hợp pháp đòi hỏi. Điển hình họ lý của người Việt, chạy giặc, vượt biên sang đến xứ Triều Tiên. Nghe kể có ông tổng thống đại hàn có về lại quê cha đất tổ để viếng lại làng quê.



Các đội tuyển quốc gia đã ngừng hoặc sẽ ngừng là “quốc gia” theo định nghĩa thế kỷ 20: không còn là một đội gồm những công dân được sinh sản bởi một quốc gia, mà là một đội tuyển toàn cầu gồm những người đủ điều kiện: con trai, cháu trai, người nhập quốc tịch, thế hệ thứ hai và thứ ba, những bản sắc phân tán và tái hợp. Ông ta chỉ nói con trai, có lẻ vì mang tên họ. Chiếc áo thi đấu, quốc ca, dòng máu gia đình và sự cổ vũ vẫn cực kỳ mạnh mẽ, nhưng chắc chắn đây là sự kết thúc của đội tuyển quốc gia được hiểu như một bức ảnh thuần túy của một dân tộc đang cư trú.


Túc cầu hay đúng hơn là các môn thể thao đến trước chính trị: nó cho chúng ta thấy rằng các quốc gia không còn chỉ là những nơi chốn. Chúng là những mạng lưới, dòng dõi, sổ thông hành, ký ức. Và ngày càng thường xuyên hơn, là những cuộc di cư trở lại sân cỏ với một chiếc áo khác. Nếu không được quốc gia nơi mình sinh ra trọng dụng thì có thể tìm về quê cha đất tổ, điển hình cầu thủ của đội tuyển Hoa Kỳ, Folarin Balogun, gốc Nigeria, lớn lên tại Anh quốc nhưng các xứ nói trên, có nhiều cầu thủ giỏi hơn anh ta nên không được tuyển nên mới đầu quân cho Hoa Kỳ, nơi anh ta sinh ra khi bà mẹ đến New York để thăm gia đình. Điển hình các cầu thủ đánh bóng bàn của Hoa Kỳ, đa số là người Tàu di cư hay được Hoa Kỳ mời thi đấu cho đội tuyển của họ. Mình có thấy tuyển thủ bóng bàn của các nước âu châu gốc người Tàu. Trong một nước có trên 1 tỷ người mà chỉ tuyển có 2 người đi thi đấu thì số còn lại phải tìm đường ra đi kiếm cơm.


Mình quên tên nhưng có hai anh em ruột, thi đấu cho hai nước khác nhau. Họ sinh ra tại Đức quốc nhưng có người lại thích bận áo đội tuyển của que cha hơn là Đức quốc.


Còn Ý Đại Lợi thì sao? Từ 12 năm nay, đội tuyển Ý Đại Lợi không được tham dự giải túc cầu thế giới, mặc dù có một vài ông ý đen như Mario Balotelli. Người ý buồn ngồi nhà và hát bài “Italiano” được soạn ra năm họ đoạt giải vô địch thế giới 1982. Mình không có dịp chọc quê mấy anh bạn sống bên ý. Ông thần người ý đột phá tư duy, kêu sao mình không bắt chước các nước khác. Về mặt lý thuyết, Ý Đại Lợi có thể là một trong những đội tuyển có yếu tố di cư mạnh nhất thế giới, nhưng lại tiếp tục tự nghĩ mình theo kiểu truyền thống: nguồn gốc Ý (oriundi) là rất lớn (Argentina, Brazil, Uruguay, Venezuela, Mỹ, Canada, Australia, Thụy Sĩ, Đức) vì một thế kỷ di cư đã rải rác những họ tên Ý khắp nơi. Với nguyên tắc huyết thống (ius sanguinis), nhiều hậu duệ có thể xin hoặc đã có quốc tịch Ý; và nếu họ chưa bị ràng buộc với đội tuyển nào khác, họ có thể trở thành ứng viên cho Italy. Không phải khoa học viễn tưởng khi nghĩ đến một đội tuyển Azzurri với nhiều cầu thủ sinh ra ở nước ngoài. Hình như mình có đọc cách đây mấy tháng, chính phủ Ý Đại Lợi đã ra một đạo luật, cho phép con cháu hậu duệ của những người Ý Đại Lợi di cư sang các nước khác, có thể nhập tịch Ý Đại Lợi. Khi xưa Pháp quốc có một cầu thủ rất giỏi tên Michel Platini, gốc Ý Đại Lợi.


Viết tới đây mới nhớ đến cô người Mỹ lai, có mẹ gốc tàu, thi đấu thế vận hội mùa đông cho Trung Cộng khiến thiên hạ chửi bới này nọ. Người ta tập luyện biết bao nhiêu năm, tốn biết bao nhiêu tiền, thi đấu cho Trung Cộng thì có nhiều khách hàng để quảng cáo bán kiếm tiền. Thị trường á châu mạnh hơn còn thị trường mỹ thì nếu da trắng thì bán chạy hơn.


Một phần điều này đã xảy ra: từ những oriundi những năm 30 đến Sívori, Altafini, Camoranesi, cho đến Thiago Motta, Jorginho, Éder, Emerson Palmieri, Retegui. Tuy nhiên, Ý Đại Lợi luôn coi họ như những ngoại lệ, những miếng ghép tạm thời, gần như là điều đáng xấu hổ. Hình như có một số cầu thủ ngoại quốc, đá hay phải nhập tịch nước sở tại để được đá ở âu châu. Vì luật lệ chỉ cho phép 3 cầu thủ tối đa. Nay Liên Hiệp âu châu thì các cầu thủ của 28 quốc gia có thể đá cho các câu lạc bộ trong liên hiệp âu châu. Anh quốc rời Âu châu nên cầu thủ phải xin giấy tờ làm việc ở Anh quốc. Italy chưa bao giờ xây dựng một chính sách hệ thống với cộng đồng di cư bóng đá. Và có lẽ vì tự hào, vì quán tính, hoặc vì môn túc cầu Ý Đại Lợi đã sống quá lâu nhờ thành tích cũ, nên chưa bao giờ thực sự tìm kiếm người Ý ở nước ngoài như Morocco, Cape Verde hay Algeria làm với cộng đồng của họ.


Một mặt, Ý Đại Lợi có thể tuyển chọn trong hàng triệu hậu duệ của người di cư, mặt khác lại khó khăn trong việc hội nhập về mặt thể thao ngay cả với nhiều cậu bé sinh ra hoặc lớn lên ở đây từ gia đình di dân, những người có thể nói tiếng Ý, được đào tạo trong các lò của chúng ta, nhưng lại muộn màng trong việc có quốc tịch. Mario Balotelli là trường hợp đặc biệt.


Tương lai của đội tuyển Azzurri, các cầu thủ Ý Đại Lợi thường hay bận áo màu xanh, nên họ đội tuyển là Azzurri, có thể đi theo hai hướng. Hoặc Italy vẫn bám víu vào ý niệm đội tuyển tự sinh thế kỷ 20 (với hy vọng lò đào tạo nội địa sẽ lại sinh sản đủ tài năng), hoặc chấp nhận rằng bản sắc túc cầu hay các môn thể thao của mình, giống như bản sắc thực của đất nước, nay đã rộng lớn hơn, phức tạp hơn, ít lãnh thổ hơn.


Điều đó sẽ hơi giống một đội tuyển “lính đánh thuê”, không phải mười một sổ thông hành nhặt nhạnh vội vã, mà là một mạng lưới Ý toàn cầu: con em của người di cư, những cậu bé lớn lên ở đây, những sự thuộc về kép, những câu chuyện gia đình khác nhau. Gần đây chính phủ Ý Đại Lợi đã ra luật các người gốc Ý Đại Lợi ở xứ khác có thể xin nhập tịch Ý Đại Lợi.


Đọc bài của ông thần người ý giúp mình có cái nhìn rộng hơn về mang áo tuyển thủ quốc gia. Nhớ năm 1994, khi Hoa Kỳ tổ chức giải vô địch túc cầu thế giới lần đầu tiên. Họ phải gấp rút tìm các cầu thủ người Mỹ biết đá banh, gom lại thành một đội banh. Đa số người Mỹ chưa bao giờ nghe đến môn túc cầu. Nhưng từ đó, người Mỹ bắt đầu cho con em họ đá banh. Trình độ thì chưa bằng các đội tuyển phi châu, âu châu. Lúc đầu cũng đi kiếm càu thủ ở Đức quốc, để đá cho hội tuyển nhưng không khá hơn nhưng từ từ hệ thống đào tạo cầu thủ từ bé đến học đường đã giúp cho Hoa Kỳ có nhiều cầu thủ đá cho các câu lạc bộ âu châu và bắc mỹ.


Nói đến phi châu, nhớ dạo cựu cầu thủ Pháp quốc là ông Guillou, sau khi giải nghệ thì làm huấn luyện viên. Ông ta qua phi châu chơi và đột phá tư duy, tại sao không mở trường đào tạo cầu thủ ở phi châu, đem về pháp thi đấu để câu khán giả gốc phi châu. Từ đó mới có những cầu thủ như Roger Milla, đến từ phi châu,… (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

kỹ nghệ ung thư da

 Ung thư da


Hôm qua nhắn tin bà hàng xóm, hỏi thăm tin tức ông chồng nằm nhà thương, bà ta cho biết chắc đợi qua đời. Ông ta cũng lớn tuổi rồi, đâu 80 tuổi, bị lọc thận nên mỗi ngày chả đi đâu chỉ nằm giường và bên cạnh phòng vệ sinh để đi tiểu. Ăn uống thì truyền qua ống. Rồi ông ta bị ngã, gãy xương chậu, vào nhà thương giải phẫu rồi nằm luôn đến nay. Được biết là 75% người Mỹ trên 65 tuổi chết vì bị ngã. Lý do là khi bị ngã, xương mềm khi về già, nên dễ bị gãy và khó lành nên chỉ nằm một chỗ rồi về thiên quốc.

Bác sĩ biết hút thuốc là có hại nhưng vẫn quảng cáo cho Camel vậy có đáng tin cậy

Có lần một chị bạn, bác sĩ nói với mình là người Mỹ sinh sống ở các vùng phía bắc, quanh năm mùa đông nên ít có mặt trời nên họ bị bệnh loãng xương khi về già. Còn nam Cali thì có ánh nắng mặt trời quanh năm nhưng người ta lại sợ ăn nắng nên khi ra đường lại trét lên người kem chống nắng, đầy hoá chất nên cũng thiếu sinh tố D. Chán Mớ Đời khi quen biết, bác sĩ nói rõ thêm về nghề nghiệp của họ. Mình có anh bạn quen, bác sĩ kể là bệnh nhân xem quảng cáo nên vào kêu mình kê toa thuốc quảng cáo giảm đau. Không kê thì họ đi bác sĩ khác. Thôi kệ kê cho họ không lại mất khách hàng.


Nghiên cứu cho biết là ánh sáng mặt trời rất cần thiết cho sức khoẻ, và nếu tránh phơi nắng mỗi ngày sẽ khiến gia tăng gấp đôi tỷ lệ qua đời và bị ung thư. Ung thư da phổ biến nhất tại Hoa Kỳ, đưa đến tình trạng khuyên tránh nắng. Vấn đề là ung thư da liên kết với sự thiếu ánh nắng mặt trời. Trong khi đó kỹ nghệ da liễu, được hổ trợ với quảng cáo, trở thành ngành y khoa được trả lương cao nhất. Hàng tỷ mỹ kim chi tiêu cho hàng năm nhưng số người Mỹ chết vì ung thư da vẫn không thay đổi.  Chán Mớ Đời 




Vì trị liệu ung thư da rất hốt bạc, nên ngành da liễu tung hô rất nhiều về ánh nắng mặt trời làm cháy da và dấu các phương cách chữa trị ung thư da hữu hiệu ít tiền. Vợ mình cứ lo ngại bắt mình trét kem chống nắng nhưng không thích. Lý do là khi có ánh nắng mặt trời, mình cảm thấy vui vẻ khiến mạch máu giãn nở. Nói chung mỗi ngày không ra nắng là mình khó chịu. Phải cần 20 phút để ánh nắng mặt trời thấm qua da để được hormone sử dụng tạo thành sinh tố D. Vợ mình nghe ai nói là phải xoa kem tránh nắng vì sợ mình bị ung thư.


Có ông bác sĩ kể khi còn học trường y khoa, dù đã hiểu rõ những lợi ích của ánh nắng mặt trời, ông ta ngạc nhiên trước thái độ bài trừ gay gắt của các bác sĩ da liễu đối với ánh sáng mặt trời. Bệnh nhân liên tục được cảnh báo phải tránh nắng; thậm chí ở những vùng vĩ độ cao, nơi người dân thường mắc chứng rối loạn cảm xúc theo mùa. Các bác sĩ da liễu còn yêu cầu sinh viên phải bôi kem chống nắng và che chắn kín mít cơ thể ngay cả khi ở trong nhà. Khiến ông ta đã thay đổi quan điểm về ngành y khoa. Ở Việt Nam người che nắng vì muốn trắng như Ba Tây.


Ông bác sĩ kể tiếp suốt cuộc đời y-sĩ, ông ta nhận thấy kỹ nghệ y khoa, luôn luôn khuyến khích người ta thực hiện các hoạt động có lợi cho sức khoẻ mà thường không ai làm như ngưng hút thuốc, uống rượu hay tập thể dục. Khuyến khích các sinh hoạt có hại cho sức khoẻ giúp kỹ nghệ làm tiền như ăn thực phẩm chế biến hay uống bú xua la mua các thuốc gây hại. Hay chống các sinh hoạt lành mạnh mà thiên hạ dễ thực hiện như tắm nắng, ăn trứng, bơ và sữa tươi.



Phần lớn vấn đề này dường như bắt nguồn từ lịch sử của Hiệp hội Y khoa Hoa Kỳ (AMA). Vào năm 1899, tổ chức này đang gặp khó khăn tài chánh, đã vực dậy nhờ việc cấp con dấu chứng nhận AMA cho các nhà sản xuất chỉ cần công khai thành phần sản phẩm và quảng cáo trên các ấn phẩm của hiệp hội. Chiến lược này đã giúp lợi tức quảng cáo của AMA tăng gấp năm lần và số lượng bác sĩ là thành viên tăng gấp chín lần chỉ trong vòng một thập niên. Chẳng hạn, AMA từng tích cực khuyến khích việc hút thuốc lá, ngay cả khi đã biết rõ tác hại nguy hiểm của nó. Xem bản quảng cáo khi xưa trước khi công ty Philip Morris bị thưa kiện và bị phạt đền tiền cho nạn nhân. Ai buồn đời thì xem đường dẫn: https://www.huffpost.com/entry/how-the-ama-got-rich-powe_b_6103720


Sau đó, AMA đã thâu tóm quyền kiểm soát ngành y khoa bằng cách thành lập một hội đồng giáo dục y khoa chung; hội đồng này cho phép họ trở thành cơ quan kiểm định quốc gia đối với các trường y khoa, qua đó thực tế đã loại bỏ việc giảng dạy các phương pháp y học cạnh tranh như vi lượng đồng căn (homeopathy), nắn chỉnh xương khớp (chiropractic), liệu pháp thiên nhiên (naturopathy) và ở mức độ ít hơn các liệu pháp chỉnh xương (osteopathy), bởi các tiểu bang thường từ chối cấp giấy phép hành nghề cho sinh viên tốt nghiệp từ những trường bị xếp hạng "thấp".


Tiếp đó, AMA củng cố tư thế độc quyền này bằng cách vận động truyền thông quảng bá rộng rãi các chiến dịch chống lại "y học lang băm" (ví dụ: các phương pháp điều trị mà họ không thể mua được quyền sở hữu) và huy động FDA hoặc FTC hành động chống lại các đối thủ cạnh tranh. Hệ quả là nhiều đổi mới y học đáng chú ý đã bị xóa bỏ khỏi lịch sử. Ngày nay, có nhiều bác sĩ hay khoa học gia đi mò lại các nghiên cứu đã bị chôn vùi từ lâu bởi Hiệp Hội Y khoa Hoa Kỳ. Điển hình là có bác sĩ khi xưa đã chữa bệnh ung thư với liều lượng cao sinh tố C nhưng sinh tố C thì các công ty dược phẩm không có bằng sáng chế nên tìm cách dấu đi.



Hôm nay nói chuyện với một anh quen về thiếu ánh nắng khiến cơ thể bị loãng xương. Thì một anh quen kêu anh ta tìm trên Gemini thì đâu có vụ này. Đâu phải một cuốn sách có thể đúng. Mình chỉ biết trả lời là tự do ai muốn tin gì thì tin. Gemini, AI đều sử dụng rất nhiều tài liệu do kỹ nghệ y khoa và dược khoa phát hành, quảng cáo bán thuốc và thực phẩm của họ. AI chỉ nói sơ sơ vì sợ bị thưa kiện này nọ.


https://www.researchgate.net/profile/Pierre-Kory-2#:~:text=Background%20We%20have%20previously%20demonstrated,(COVID%2D19)%2C%20irrespective%20of%20the%20regularity%2C


Điển hình là bác sĩ Pierre Kory, điều trần trước thượng viện về sử dụng ivermectin để trị chữa Covid-19, ông ta bị truyền thông và đồng nghiệp lên án. Giáo sư William B. Grant, cho rằng sự việc đã bị đánh phủ đầu khi các nghiên cứu về sinh tố D mấy thập niên về trước. Ai buồn đời đọc các thông tin bị định hướng bởi các công ty dược phẩm. https://www.ucs.org/resources/disinformation-playbook


Khi đọc những tài liệu này thì mới hiểu lý do xã hội ngày nay bị chia rẽ vì các truyền thông, hay những công ty , đúng hơn kỹ nghệ làm tiền, cố gắng tung tin thất thiệt, định hướng dư luận. Để mọi người chửi bới nhau nhưng không biết chính mình bị xỏ mũi. Đây là cả hai bên.


Một trong những liệu pháp lâu đời và đã được kiểm chứng trong y học là tiếp xúc với ánh nắng mặt trời; phương pháp này từng điều trị hiệu quả bệnh cúm năm 1918, bệnh lao và nhiều căn bệnh khác. Thành công của việc tắm nắng thậm chí còn tạo tiền đề cho sự ra đời của liệu pháp chiếu tia cực tím vào máu.


Xét đến tính an toàn, hiệu quả, khả năng tiếp cận miễn phí và việc không có các nhóm vận động hành lang bảo vệ nó, hoàn toàn có lý do để tin rằng những thế lực muốn độc quyền ngành y khoa sẽ tìm cách hạn chế công chúng tiếp cận liệu pháp này. Chiến dịch bài trừ ánh nắng mặt trời của ngành y tế đã thành công đến mức nhiều người không còn nhận thức được những lợi ích của nó, bao gồm:


1. Sức khỏe tinh thần: Ánh nắng mặt trời đóng vai trò thiết yếu đối với sức khỏe tinh thần, đặc biệt là trong việc cải thiện các tình trạng như rối loạn cảm xúc theo mùa; tuy nhiên, lợi ích của nó còn rộng hơn thế, bởi việc tiếp xúc với ánh sáng nhân tạo (không tự nhiên) sẽ làm rối loạn nhịp sinh học của cơ thể. Nghe nói những người ở các vùng mưa nhiều như tiểu bang Maine, Washington,… mùa đông te tua, bị trầm cảm rất nhiều. Ai có tiền thì trốn đông, xuống miền năm khi mùa đông đến.

2. Phòng ngừa ung thư: Một nghiên cứu dịch tễ học quy mô lớn đã phát hiện ra rằng phụ nữ tiếp xúc nhiều với tia UVB từ ánh nắng mặt trời có tỷ lệ mắc ung thư vú thấp hơn một nửa, và nam giới cũng có tỷ lệ tử vong do ung thư tuyến tiền liệt thấp hơn một nửa so với nhóm ít tiếp xúc. Mức giảm 50% này vượt xa hiệu quả của các phương pháp phòng ngừa và điều trị hiện hành. Tương tự, người ta cũng nhiều lần ghi nhận rằng ánh sáng nhân tạo làm trầm trọng thêm tình trạng bệnh ung thư.

3. Tuổi thọ và sức khỏe tim mạch: Một nghiên cứu tiến cứu kéo dài 20 năm trên 29,518 phụ nữ Thụy Điển cho thấy những người tránh ánh nắng mặt trời có nguy cơ tử vong do mọi nguyên nhân cao hơn 60% (và cao hơn 130% so với nhóm tiếp xúc nhiều nhất với ánh nắng). Đáng chú ý là những người hút thuốc nhưng có tiếp xúc với ánh nắng mặt trời lại có nguy cơ tử vong tương đương với những người không hút thuốc nhưng lại tránh ánh nắng; điều này cho thấy lợi ích lớn nhất của việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời chính là giảm thiểu nguy cơ tử vong do các bệnh tim mạch.

Đọc tài liệu bên pháp cho thấy nghiên cứu nào về việc sử dụng kem chống nắng đưa đến bệnh ung thư da đưa đến ung thư. Nhớ khi xưa ra biển là mấy cô đầm đi chung trét kem chống nắng như ba tây

Viết đến đây nhớ dạo covid-19, các nước bắt dân chúng ở trong nhà, trong khi Thuỵ điển thì cho thiên hạ ra đường, phơi nắng mệt thở. Xứ họ ít người chết vì covid. Kinh tế không thất thoát.


Theo Viện Da liễu Hoa Kỳ (American Academy of Dermatology), ung thư da là loại ung thư phổ biến nhất tại Hoa Kỳ; các ước tính hiện tại cho thấy cứ năm người Mỹ thì có một người sẽ mắc ung thư da trong suốt cuộc đời. Mỗi ngày, có khoảng 9.500 người tại Hoa Kỳ được chẩn đoán mắc ung thư da.


Viện nhấn mạnh rằng tiếp xúc với tia cực tím (UV) là yếu tố nguy cơ gây ung thư da có thể phòng tránh được nhiều nhất. Họ khuyên mọi người nên tránh sử dụng giường tắm nắng nhân tạo và bảo vệ da khi ở ngoài trời bằng cách tìm bóng râm, mặc quần áo che chắn và thoa kem chống nắng phổ rộng có chỉ số SPF từ 30 trở lên. Tổ chức Skin Cancer Foundation cho biết cứ mỗi giờ lại có hơn hai người tử vong vì ung thư da tại Hoa Kỳ, một con số nghe có vẻ đáng lo ngại nhưng xét kỹ lại thì:


Ung thư biểu mô tế bào đáy (BCC) là loại ung thư da phổ biến nhất, chiếm 80% các ca bệnh, với khoảng 2,64 triệu người Mỹ được chẩn đoán mỗi năm. Các yếu tố nguy cơ bao gồm tiếp xúc quá nhiều với ánh nắng mặt trời, da sáng màu và tiền sử gia đình. BCC thường xuất hiện ở những vùng da tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng như vùng mặt.


BCC hiếm khi di căn và có tỷ lệ tử vong gần như bằng 0%, nhưng lại thường xuyên tái phát (tỷ lệ từ 65% đến 95%) sau khi được loại bỏ. Phương pháp phẫu thuật cắt bỏ thông thường thường không giải quyết được các nguyên nhân gốc rễ, dẫn đến việc phải phẫu thuật nhiều lần và nguy cơ gây biến dạng cơ thể. Mặc dù các khối u BCC có thể phát triển lớn nếu không được điều trị, chúng không gây nguy hiểm tức thì. Việc điều trị là cần thiết nhưng không mang tính cấp bách. Các liệu pháp thay thế có thể điều trị hiệu quả những khối u BCC lớn mà không cần đến phẫu thuật gây biến dạng.


Vào những năm 1980, da liễu là một trong những chuyên khoa ít được ưa chuộng nhất trong ngành y (ví dụ: bác sĩ da liễu thường bị gọi là "người nặn mụn"). Tuy nhiên, hiện nay, da liễu lại là một trong những chuyên khoa được khao khát nhất; bác sĩ da liễu có thu nhập gấp 2-4 lần so với bác sĩ thông thường nhưng lại có lối sống ít căng thẳng hơn nhiều. Không phải trực nhà thương.


Một bài viết trên blog của bác sĩ da liễu David J. Elpern, M.D. cuối cùng đã giải thích chuyện gì đã xảy ra: Trong suốt 40 năm qua, tôi đã chứng kiến ​​những thay đổi này trong chuyên ngành của mình và cảm thấy thất vọng trước sự miễn cưỡng của các đồng nghiệp trong việc nhìn nhận vấn đề. Xu hướng này bắt đầu vào đầu những năm 1980, khi Viện Da liễu (AAD) huy động hơn 2 triệu đô la từ các thành viên để thuê một công ty quảng cáo nổi tiếng tại New York nhằm nâng cao nhận thức và sự coi trọng của công chúng đối với chuyên ngành của chúng tôi. Các chuyên gia quảng cáo này đã đề xuất việc "giáo dục" công chúng rằng bác sĩ da liễu là những chuyên gia về ung thư da chứ không chỉ là "người nặn mụn"; và thế là Ngày hội Tầm soát Ung thư Da Quốc gia miễn phí đã ra đời thông qua một tuyên bố của Tổng thống vào năm 1985.


Các đợt tầm soát này đã làm gia tăng nỗi lo ngại của công chúng về ung thư da, dẫn đến việc thực hiện vô số các thủ thuật đắt đỏ nhưng mang lại giá trị thấp để điều trị ung thư da và dày sừng ánh sáng (AK). Đồng thời, các bác sĩ giải phẫu bệnh cũng mở rộng định nghĩa về u hắc tố (melanoma), dẫn đến hiện tượng "sai lệch chẩn đoán" (diagnostic drift) làm tăng tỷ lệ mắc u hắc tố một cách sai lệch, trong khi tỷ lệ tử vong vẫn giữ nguyên ở mức của những năm 1980. Song song đó, các loại ung thư da không phải u hắc tố đang bị điều trị quá mức bởi một đội ngũ đông đảo các bác sĩ phẫu thuật vi phẫu (micrographic surgeons); họ thường điều trị những tổn thương ung thư da vô hại bằng các ca phẫu thuật xâm lấn mạnh tay không cần thiết và mang lại lợi nhuận cao.


Một bài báo khoa học xuất bản năm 2021 đã cung cấp thêm bối cảnh cho những nhận định của Tiến sĩ Elpern: Các hoạt động tầm soát ung thư da ở cấp độ cộng đồng đã bắt đầu từ những năm 1970. Chương trình tầm soát ung thư da quy mô toàn quốc đầu tiên do Viện Da liễu Hoa Kỳ (American Academy of Dermatology) khởi xướng vào năm 1985, sau khi tỷ lệ mắc và tử vong do u hắc tố ác tính (melanoma) gia tăng và thu hút nhiều sự chú ý vào đầu thập niên 1980. Trong những năm đầu triển khai chương trình, Tổng thống Ronald Reagan đã ký các văn bản công bố "Tuần lễ Quốc gia về Phòng ngừa và Phát hiện Ung thư Da" cũng như "Tuần lễ Phát hiện và Phòng ngừa U hắc tố/Ung thư Da dành cho Người cao tuổi Hoa Kỳ"; đồng thời, quy trình khám toàn bộ bề mặt da đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong tầm soát ung thư da. Bài báo này cũng đề cập rằng chính phủ Hoa Kỳ từ lâu đã tỏ ra rất hoài nghi về giá trị của các đợt tầm soát này, và ngành da liễu đã phải liên tục nỗ lực vận động tìm giải pháp để vượt qua rào cản đó. Có thể họ đã cúng tiền cho quỹ ứng cử nên phải trả nợ đời.


Nhận thức ngày càng cao của công chúng vốn bị thúc đẩy bởi nỗi lo sợ về tác hại của việc tiếp xúc với ánh nắng mặt trời đã dẫn đến sự gia tăng mạnh mẽ về số lượng các ca tầm soát và chẩn đoán ung thư da. Song hành với quy trình thu hút bệnh nhân quy mô lớn này là sự mở rộng đáng kể của phương pháp phẫu thuật vi phẫu Mohs (Mohs micrographic surgery), một dịch vụ mang lại lợi nhuận khổng lồ và được quảng bá là tiêu chuẩn vàng trong điều trị ung thư da nhờ độ chính xác cũng như hiệu quả bảo tồn mô lành. Tuy nhiên, nhiều ý kiến ​​chỉ trích cho rằng phẫu thuật Mohs thường bị lạm dụng vì động cơ tài chính thay vì nhu cầu lâm sàng thực sự, qua đó góp phần làm gia tăng gánh nặng chi phí y tế (ví dụ: tỷ lệ sử dụng phẫu thuật Mohs ở nhóm đối tượng hưởng bảo hiểm Medicare tại Hoa Kỳ đã tăng 700% trong giai đoạn 1992–2009; riêng năm 2012, tổng chi phí chi trả cho các ca phẫu thuật Mohs đã vượt mốc 2 tỷ USD). Một anh bạn bác sĩ cho biết là bác sĩ lạm dụng việc scan với máy MRI, CT,..đủ trò để làm tiền dù không cần thiết. Lưu ý: các bệnh nhân gặp biến chứng sau khi thực hiện những ca phẫu thuật này.


Xu hướng thương mại hóa trong ngành da liễu càng trở nên mạnh mẽ hơn khi các công ty vốn cổ phần tư nhân (private equity firms) gia nhập lĩnh vực này. Các công ty này thâu tóm nhiều phòng khám da liễu và đôi khi sử dụng nhân sự không phải là bác sĩ để tối đa hóa lợi nhuận. Xu hướng này làm dấy lên lo ngại về chất lượng chăm sóc y tế, với các báo cáo về tình trạng chẩn đoán sai và điều trị quá mức, đặc biệt là đối với những nhóm đối tượng dễ bị tổn thương như người cao sống tại các viện dưỡng lãomđến mức tờ *New York Times* đã thực hiện một cuộc điều tra vào năm 2017 về ngành công nghiệp mang tính trục lợi này.


Hơn nữa, sự chuyển dịch sang các mô hình chú trọng lợi nhuận trong ngành da liễu đã khơi dậy những tranh luận về đạo đức trong cộng đồng y khoa. Một số bác sĩ da liễu đã bày tỏ lo ngại về việc biến các phương pháp điều trị ung thư da thành hàng hóa thương mại, cũng như sự mai một của mối quan hệ truyền thống giữa bác sĩ và bệnh nhân, thay vào đó là những tương tác mang nặng tính giao dịch mua bán. Bất chấp những thách thức này, da liễu vẫn là một lĩnh vực sinh lời cao, thu hút cả giới chuyên môn y tế lẫn các nhà đầu tư đang tìm kiếm lợi nhuận từ các dịch vụ chăm sóc da.


Kết quả là, nhiều người đã trở thành nạn nhân của những hành vi trục lợi này. Ví dụ, nam diễn viên hài nổi tiếng Jimmy Dore gần đây đã đề cập đến "Vụ lừa đảo lớn trong ngành da liễu" (Great Dermatology Scam) sau khi nhận ra chính mình cũng từng là nạn nhân của chiêu trò này: Sau khi Jimmy Dore đưa tin về vấn đề này, câu chuyện đã lan truyền mạnh mẽ, đã thu hút từ 5 đến 10 triệu lượt người xem. Vài tuần sau đó, hai cuộc khảo sát được công bố đã làm nổi bật tình trạng "đại dịch" lơ là việc chống nắng; tờ New York Times (như một thói quen cố hữu) đã ngay lập tức đưa tin về sự kiện này. Ai buồn đời xem video này.


https://lloydmillerus.substack.com/p/dermatologys-huge-skin-cancer-scam

Vì đây là một ví dụ điển hình của kiểu tuyên truyền y tế thường thấy. Xin đơn cử hai cuộc khảo sát mới cho thấy một xu hướng đáng lo ngại: Giới trẻ dường như đang lơ là các biện pháp bảo vệ da khỏi ánh nắng mặt trời. 14% người trưởng thành dưới 35 tuổi tin vào quan niệm sai lầm rằng việc thoa kem chống nắng hàng ngày có hại hơn so với việc để da tiếp xúc trực tiếp với ánh nắng. Giới trẻ thường không nhận biết được các dấu hiệu tổn thương do ánh nắng gây ra cũng như cách phòng ngừa hiệu quả nhất. Giới trẻ ngày nay, học cao hơn và có sự hiểu biết, tìm kiếm tài liệu đọc, không như bố mẹ chúng.


Tia cực tím (UV) dù từ giường tắm nắng hay ánh nắng trực tiếp đều có thể gây hại cho da và dẫn đến ung thư da, một căn bệnh có thể gây tử vong. Các chuyên gia cho rằng thế hệ Gen Z đặc biệt dễ bị ảnh hưởng bởi những thông tin sai lệch về kem chống nắng và ung thư da đang lan tràn trên các nền tảng mạng xã hội như TikTok. Hãy thoa kem chống nắng một cách hào phóng và thoa lại nhiều lần. Tia UV có thể gây hại cho da ngay cả khi trời nhiều mây hoặc se lạnh, vì vậy các chuyên gia khuyên nên sử dụng kem chống nắng hàng ngày.


Tương tự, do sự chú ý của công chúng gần đây đối với một nghiên cứu năm 2023 cho rằng kem chống nắng làm tăng nguy cơ tử vong vì ung thư da, một chiến dịch truyền thông tương tự đã xuất hiện; nhà báo điều tra Sharyl Attkisson đã tóm tắt rất xác đáng về chiến dịch này trong ngày hôm nay: Với số tiền khổng lồ đang được chi ra để chấm dứt ung thư da, người ta hẳn sẽ kỳ vọng vào một số kết quả. Nhưng giống như nhiều khía cạnh khác của ngành kỹ nghệ ung thư, điều đó đã không xảy ra. Thay vào đó, ngày càng nhiều trường hợp ung thư (trước đây được coi là lành tính) được chẩn đoán, nhưng nhìn chung, tỷ lệ tử vong không thay đổi đáng kể.


Bằng chứng rõ ràng nhất cho điều này đến từ một nghiên cứu cho thấy gần như toàn bộ sự gia tăng "ung thư da" là do u hắc tố giai đoạn 1 (loại hiếm khi gây ra vấn đề và các tác giả cho rằng đó là do sự sai lệch trong chẩn đoán chứ không phải là sự gia tăng thực sự): một nghiên cứu khác minh họa chính xác những gì mà cuộc chiến chống ung thư da của chúng ta đã đạt được


Ngành da liễu cần một "kẻ phản diện" để biện minh cho mô hình kinh doanh của mình, và họ đã chọn ánh mặt trời. Kết quả là họ thu về những khoản lợi nhuận khổng lồ, trong khi chúng ta phải gánh chịu hậu quả khi bị tước đi một trong những nguồn dưỡng chất thiết yếu nhất đối với sức khỏe. Tuy nhiên, dù những chiêu trò trục lợi này đã diễn ra trót lọt suốt nhiều thập kỷ, cục diện nay đã thay đổi.


Đại dịch COVID-19 đã phơi bày lòng tham của ngành y tế một cách rõ ràng đến mức không thể ngó lơ, khiến công chúng bắt đầu đặt dấu hỏi về những hành vi vốn dĩ chưa từng bị chất vấn suốt bao năm qua. Cuộc chiến phi lý của ngành da liễu chống lại ánh mặt trời đã trở thành chủ đề nóng, thường xuyên được thảo luận trong cộng đồng sức khỏe và bị báo chí chính thống lên án mạnh mẽ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyện chỉ xảy ra ở Hoa Kỳ

 Chuyện chỉ có ở Hoa Kỳ 


Hôm qua, đội tuyển túc cầu Hoa Kỳ thắng đội Bosnia, được vào vòng trong khiến người Mỹ bắt đầu hát lại bài “take me home Country Roads” của John Denver. Khán giả mỹ và các bình luận viên nói về trung phong của Hoa Kỳ, tên Folarin Balogun, sau ghi bàn đầu tiên cho Hoa Kỳ, bị thẻ đỏ, đuổi cổ ra sân. Người tiền đạo này chỉ có thể xuất hiện trong lịch sử Hoa Kỳ. Lịch sử của những người làm nên nước Mỹ đầy bất ngờ và ngạc nhiên. Có thể khởi đầu từ một thị trấn nhỏ cũng như tại một thành phố lớn và nhiều khi có những điều xảy ra rất bất ngờ.



Năm 2001, mẹ của tiền đạo Folarin Balogun, cư dân Anh quốc (gốc Nigeria) du lịch ở Hoa Kỳ. Trên đường về lại Luân Đôn, công ty hàng không, không cho phép bà ta lên máy bay. Lý do là bà ta có thai nhiều tháng cận ngày sinh nở. Vài ngày sau đó bà ta khai hoa nở nhuỵ ra một bé trai tại thành phố Brooklyn. Sau đó hai mẹ con về Anh quốc. Lớn lên Folarin trở thành cầu thủ túc cầu chuyên nghiệp tại Âu châu. Nghe nói anh ta hiện nay chơi cho câu lạc bộ Monaco.


Mình nghe anh ta trả lời phỏng vấn là hai nước: Anh quốc, nơi anh ta lớn lên và Nigeria, quê hương của bố mẹ anh ta, không muốn anh ta đá cho hội tuyển của họ nên khi Hoa Kỳ kêu gọi anh ta thì chấp nhận ngay. Nên nhớ có mặt tại giải túc cầu thế giới có thể thay đổi cuộc đời của một cầu thủ. Anh ta là công dân mỹ trên giấy tờ, theo tu chính án thứ 14 của Hoa Kỳ. Ai sinh ra tại Hoa Kỳ tự động được hưởng quyền công dân. Do đó mới có chương trình du lịch sinh đẻ ở Hoa Kỳ để sinh con tại Hoa Kỳ, được quốc tịch Hoa Kỳ. Dạo này chính phủ mỹ đang tìm cách huỷ bỏ tu chính án này, việc cớ là người ngoại quốc như người Tàu sang đây sinh sản con cái rồi, 18 năm sau có thể bầu phiếu, gây ảnh hưởng nền chính trị. Mình nghĩ vì dân số gốc da trắng càng ngày càng ít nên sẽ trở thành thiểu số trong tương lai nên họ tìm cách chuyển đổi luật lệ.


Lý do đó mà nhiều người di dân lậu lấy nhau sớm để có con. Con mình tự động có quốc tịch mỹ thì khó bị dẫn độ về nước. Chỉ vì không được lên máy bay trở về Anh quốc, 25 năm sau đứa bé bị bắt buộc sinh ra tại Hoa Kỳ đá tung lưới đội bạn, giúp Hoa Kỳ đi vào vòng trong. Câu chuyện về trung phong Hoa Kỳ rất bất ngờ ngoại trí tưởng tượng của mọi người.


Cuộc đời anh ta không chỉ duy nhất mà theo lịch sử của Hoa Kỳ, các người di dân và hậu duệ của họ đã giúp xây dựng đất nước này từ 250 năm qua. Họ khởi nghiệp các công ty thượng mại, khám phá các nghiên cứu khoa học, dạy con cháu của chúng ta, gia nhập quân đội hay cảnh sát để bảo vệ an ninh, hay lính cứu hoả mà nghe nói có 3 người chết tuần nay khi chửa cháy rừng ở Colorado. Hay tạo ra những áng nghệ thuật và đại diện Hoa Kỳ trên thế giới khi chơi thể thao.



Có vài người di dân nổi tiếng, đa số không ai biết đến nhưng họ đồng hành để viết lên lịch sử của Hoa Kỳ. Điển hình như ông Albert Einstein đến Hoa Kỳ như một người tỵ nạn diệt chủng của Nazi và đã thay đổi hoàn toàn khoa học hiện đại. Bà Madeleine Albright, trốn chạy cộng sản Tiệp Khắc khi con bé và trở thành ngoại trưởng Hoa Kỳ. Hay ông Zbigniew Zizniewski, làm cố vấn an ninh quốc gia cho tổng thống Jimmy Carter và giáo sư đại học tại Hoa Kỳ.


Ông Sergey Brin đến Hoa Kỳ sau khi gia đình chạy trốn nạn kỳ thị do thái của Liên Sô, xây dựng công ty Google. Ông José Andrés đến từ Tây Ban Nha và được nhập tục Hoa Kỳ, sau này thành đạt, ông ta đã cung cấp thực phẩm cho các người bị nạn tai ương, động đất, chiến tranh qua World Central Kitchen. Tương tự bố của ông Steve Jobs đã đến Hoa Kỳ để học rồi gặp mẹ ông ta hay bố của tổng thống Obama. 


Nói riêng về cộng đồng người Việt, bà Dương Ngọc Ánh, ông Eugène Trịnh đã đóng góp vào khoa học Hoa Kỳ. Về văn chương chúng ta có giáo sư NGuyễn Việt Thanh, đoạt giải Pulitzer, hay thi sĩ Ocean Vương, bác Huỳnh Sanh Thông đoạt giải MacArthur Foundation, gần đây có ông Hùng Cao, quyền bộ trưởng hải quân Hoa Kỳ, hay Đinh Đồng Phụng Việt, thứ trưởng bộ tư pháp dưới thời tổng thống Bush Con …. Đó là thế hệ đầu tiên của người Việt, biết đâu sau này hậu duệ của người Việt còn đóng góp nhiều hơn cho xứ sở này.


Có hàng triệu người nhập cư đã lặng lẽ góp phần làm nên nước Mỹ theo những cách mà sách sử hiếm khi nhắc đến. Họ không phải là những nhân vật lừng danh, cũng không phải là những cái tên được khắc trên bia tưởng niệm hay xuất hiện trong các chương lịch sử. Thế nhưng, dấu ấn của họ hiện diện ở khắp mọi nơi, mọi nẻo đường của Hoa Kỳ.


Họ là chủ những quán ăn nhỏ nơi góc phố, là những y tá và bác sĩ tận tụy chăm sóc bệnh nhân trong các bệnh viện, là những người thầy gieo tri thức cho thế hệ mai sau, là những doanh nhân bắt đầu từ hai bàn tay trắng, là những người thợ xây dựng nên những ngôi nhà, là những người làm nail, bán donuts, là những quân nhân sẵn sàng khoác quân phục để bảo vệ Tổ quốc, và là những tình nguyện viên âm thầm cống hiến cho cộng đồng. Có thể tên tuổi họ sẽ không bao giờ được nhiều người biết đến. Nhưng những đóng góp của họ thì không ai có thể phủ nhận. Mình thấy có một chị trên mạng, làm thức ăn rồi đi phát cho người vô gia cư, đã thể hiện lên tấm lòng của chị ta đối với đất nước này, đã cưu mang gia đình chị ta. Giúp thực hiện giấc mơ đời mình mà ở Việt Nam không bao giờ có thể làm được. Có nhiều người thấy cũng tặng tiền cho chị để mua thức ăn. Chị ta vẫn còn đi làm, chỉ ngày nghỉ thì đi phát thức ăn.


Điều đó không có nghĩa rằng một quốc gia không cần có luật nhập cư. Mọi quốc gia đều có quyền, và cũng có trách nhiệm, bảo vệ biên giới của mình và xây dựng một hệ thống nhập cư công bằng, trật tự và an toàn. Nhưng giữa những cuộc tranh luận về chính sách, có một chân lý mà chúng ta không nên đánh mất.


Nhập cư không chỉ là câu chuyện của luật pháp. Nhập cư còn là một trong những động lực đã giúp nước Mỹ không ngừng tự đổi mới, tự làm giàu và tự tái sinh qua từng thế hệ. Lịch sử đã nhiều lần chứng minh rằng, không ít con người đã góp phần làm nên sự vĩ đại của nước Mỹ chính là những con người mà nước Mỹ, trong một khoảnh khắc nào đó, suýt nữa đã không đón nhận.


Có người đến đây với một giọng nói còn đậm chất quê hương. Có người chỉ mang theo một chiếc va-li nhỏ và một niềm hy vọng lớn lao. Có người đến với nước Mỹ từ khi còn chưa cất tiếng khóc chào đời.


Rồi năm tháng trôi qua, chính họ hoặc con cháu của họ khoác lên mình chiếc áo mang dòng chữ USA, đại diện cho đất nước trên đấu trường quốc tế. Khoảnh khắc ấy nhắc nhở tất cả chúng ta rằng câu chuyện của nước Mỹ chưa bao giờ chỉ thuộc về một màu da, một dòng họ hay một nguồn gốc duy nhất.

AI


Nước Mỹ luôn là bản hòa ca của nhiều dân tộc, nhiều ngôn ngữ và nhiều ước mơ. Có lẽ đó chính là một trong những sức mạnh vĩ đại nhưng âm thầm nhất của quốc gia này.


Chúng ta không bao giờ biết câu chuyện vĩ đại tiếp theo của nước Mỹ sẽ bắt đầu từ đâu. Nó có thể khởi đầu trong một khu phố nghèo, trên một chuyến tàu vượt đại dương, trong một gia đình vừa đặt chân đến vùng đất mới, hay trong trái tim của một đứa trẻ lớn lên giữa hai nền văn hóa.


Nhưng có một điều lịch sử đã chứng minh hết lần này đến lần khác: nước Mỹ trở nên hùng mạnh hơn không phải vì khép lại cánh cửa trước những con người ấy, mà vì đã đủ rộng lòng để mở cánh cửa đón họ bước vào.



Và chính từ những con người bình dị ấy, hết thế hệ này đến thế hệ khác, giấc mơ Mỹ vẫn tiếp tục được viết nên. God Bless America!


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn