Từ Kế mÔn đến Đà Lạt
Mình sinh ra và ở Ấp Ánh Sáng đến khi vào học Petit Lyce’e mới dọn về đường hai Bà Trưng. Hồi nhỏ học trường Ấu Việt, đi qua cầu Bá Hộ Chúc rồi rẽ đường Đoàn Thị Điểm dọc con suối Cam Ly là đến trường. Chỉ nhớ ấp Ánh Sáng toàn là dân Huế ở xung quanh như gia đình Bác Cháu, bán mắm ngoài chợ, gia đình Dì Bơn,… có thể nói Ấp Ánh Sáng là ấp của người Huế di cư vào Đà Lạt mà đông nhất là dân làng Kế Môn. Đà Lạt có Ấp Hà Đông, gần Mả Thánh do người làng Hà Đông di cư vào thành lập. Ngoài ra khu Số 4, cũng toàn dân từ Huế vào. Có lẻ vì Vậy người ta gọi Đà Lạt là Huế Cao Nguyên. Dân gốc Quảng thì gọi Quảng Nam Cao Nguyên,…
Tiệm vàng đầu tiên ở Đà Lạt do ông Bùi Duy Chước, làng Kế Môn, Thừa Thiên thành lậpMấy tên học chung với mình khi xưa như Bùi Văn Đông, Hoàng Ngọc Ánh,…đều là dân gốc Kế Môn, một làng nổi tiếng về kim hoàn. Có tiệm vàng Kim Thịnh thì không phải gốc Kế môn. Cách đây đâu 2 năm mình bay qua Boston để ăn cưới cô cháu thì có gặp con gái đầu của tiệm vàng Hoàng Ngọc Bửu, chỗ khu Hoà Bình, chị của Hoàng Ngọc Ánh. Năm ngoái có gặp lại Bùi Thị Hoa, em gái Bùi Văn Đông, con Bùi Vàng. Còn thì lâu lâu vẫn nghe tin tức của con tiệm vàng Kim Thịnh, cũng học chung khi xưa.
Thấy dân Đà Lạt tải tấm ảnh này lên mạng nên tải lại để Michel Phong Văn Gừng, học chung khi xưa nhìn lại. Năm ngoái mình có gặp lại Melbourne, Úc đại LợiNgoài ra lâu lâu cũng có tin tức Lâm Quốc Dũng, con bà Bùi Thị Hiếu, mình quên tên ông bố, họ Lâm gốc hoa. Có lẻ ông chồng bà Bùi Thị Hiếu cũng là dân thợ bạc. Bà Bùi Thị Hiếu quen bà cụ lâu lắm rồi khi còn con gái. Mỗi lần bà ta bên pháp về Đà Lạt, đều ghé thăm bà cụ mình. Năm bà cụ sang Pháp thì đúng lúc bà ta lại về Đà Lạt. Sau này nghe nói bà Bùi Thị Hiếu bệnh rồi mất tại Đà Lạt.
Tiệm vàng và tiệm Cầm đồ Bùi Thị Hiếu, con gái đầu của ông Bùi Duy ChướcThấy ai tải lên mạng, nói đây là chữ viết của mẹ khi làm việc cho bà Bùi Thị Hiếu. Chữ rất đẹp.
Nhưng nếu nói về những người đầu tiên làm nghề kim hoàn tại Đà Lạt, thì có thể chia thành 2 nhóm lớn: thợ bạc Huế, làng Kế Môn, là nhóm rất quan trọng. Từ đầu thế kỷ XX, nhiều gia đình người Huế theo chân công chức triều đình, giáo chức, quân nhân, và giới trung lưu lên Đà Lạt sinh sống. Trong số đó có các thợ kim hoàn gốc Kế Môn, làng nghề bạc nổi tiếng của Thừa Thiên Huế. Họ mở tiệm vàng nhỏ, quầy sửa nữ trang, và xưởng thủ công gia đình. Các tiệm này thường không lớn nhưng có uy tín vì làm tay rất kỹ và giữ chữ tín. Tiệm đầu tiên được mở có lẻ là tiệm Hưng Thanh của ông Bùi Duy Chước, bố của bà Bùi Thị Hiếu, toạ lạc ngay góc đường Minh Mạng và Nguyễn Biểu.
Dân Đà Lạt xưa chắc ai cũng nhớ có chiếc xe bán sữa đậu nành ban đêm ở ngay mấy bậc thang chỗ tiệm vàng của ông Bùi Duy Chước. Trời tối Đà Lạt lạnh lạnh, phà khói, ghé lại đây ngồi trên bậc cấp, cầm ly sữa đậu nành nóng, xoa xoa uống từng ngụm là thấy đời đẹp như trăng 16. Hôm nào có tiền sang sang kêu thêm cái bánh chuối là vui đời cô lựu.
Tiệm vàng Thương chỗ Photo Hồng Châu nhìn quaCó tiệm vàng Kim Thịnh và Bùi Vàng ngay góc đầu Minh Mạng bên cạnh tiệm Anh Võ
Mình nhớ cách tiệm vàng Hùng Thanh mấy căn phố, có một tiệm do người Hoa. Lâu lâu ra tiệm Hiệp Thạnh chơi thì dì Thương kêu đi đây với dì. Rồi dắt mình đến tiệm này, nói chi với bà tàu, thấy bà ta đưa dì một cọc tiền bỏ vào ví. Tò mò mình hỏi, dì kêu là tiền thuê nhà. Nhà của ông bà Phúng, mình đoán là khi xưa, ông bà Phúng khởi nghiệp tại đây trước khi dọn về đường Duy Tân. Nên cho bà tàu thuê, cũng gần Hiệp Tam Kỳ của gia đình thằng Hùng học chung khi xưa. Không ngờ sau này mình cũng làm nghề cho thuê nhà. Chán Mớ Đời. Ai buồn đời thì đọc bài báo Việt Nam kể về gia tộc của ông Bùi Duy Chước.
Ngoài ra khi xưa ở Đà Lạt có nghề bán alpha, lon cho sĩ quan cũng hái ra tiền nhiều. Đà Lạt khi xưa có trường quân đội như Võ Bị, Chiến Tranh Chính Trị, trường Tham Mưu,.. nên có vụ gắn Alpha nên sinh viên Võ Bị khi được gắn Alpha phải ra Đà Lạt mua. Mình không nhớ mấy tiệm nào nhưng chỉ nhớ 2 tiệm Long Hưng của ông Đàng và tiệm Hiệp Thạnh ở số 9 và 11 Duy tân có bán. Mỗi lần sinh viên được gắn Alpha là ra đầy tiệm. Thấy ông Đàng phải may mấy cái ALPHA vào áo này nọ thêm bán lon cho sĩ quan. Không biết có bán mấy loại nhẩn của khoá họ ra trường hay không. Nhỏ quá nên không nhớ nhiều.
Hoàng Ngọc Ánh kể là bố anh ta học nghề và làm cho ông Bùi Duy Chước rồi sau này lập gia đình ra làm riêng, có tiệm Hoàng Ngọc Bửu ở ngay khu Hoà Bình, chỗ đường luồng từ nhà hàng Mekông đi qua. Mình nhớ cạnh tiệm Vĩnh Hưng của ông bà Võ Quang Tiềm, có một tiệm vàng tên Huỳnh Ngọc của ông bà Huỳnh Ngọc Cửu thì phải. Sau này họ dọn về Sàigòn. Có lần con cháu của họ có liên lạc với mình. Mẹ mình thì quen với ông bà chủ tiệm này.
Tiệm Tiến Đạt bán đồng hồ nhưng có thể bán vàng lá này nọ
Người Hoa ở Đà Lạt tuy ít hơn Chợ Lớn nhưng vẫn đóng vai trò quan trọng trong thương mại. Khu Hoà Bình là do người Tàu ở Đà Lạt hùn nhau để tân trang lại sau khi chợ Đà Lạt được xây. Tiệm vàng và Cầm Đồ Bùi Thị Hiếu, có thể nói của người Việt cũng có thể là người Tàu. Vì ông chồng bà Hiếu họ Lâm. Người Hoa họ thường mua bán vàng, đổi tiền, cầm đồ, và kinh doanh đá quý. Nhiều tiệm vàng người Hoa xuất hiện gần chợ vì gắn với mạng lưới thương mại từ Sài Gòn lên cao nguyên. Không biết tiệm Huỳnh Ngọc là của người Tàu hay người Việt.
Ngoài ra tuy ít nhưng có mấy tiệm của người Ấn Độ khi xưa ở khu Hoà Bình nên chắc họ có bán vàng vì người Ấn Độ mê vàng như ăn cà ri nị. Dạo đó còn nhỏ nên không để ý mấy chuyện này.
Tiệm Long Hưng mà khi xưa sinh viên Võ Bị và Chiến Tranh CHính Trị ra đây mua alpha và lon
Sau 1954, Đà Lạt phát triển mạnh: có trường Võ Bị, nhiều trường nội trú, và tầng lớp trung lưu đông hơn. Khi đó các tiệm vàng phát triển nhanh vì nhu cầu: nhẫn cưới, đồng hồ, huy hiệu quân đội, và nữ trang. Nhiều thợ bạc Huế trở nên nổi tiếng trong giai đoạn này nhất là những người gốc gác làng Kế Môn khiến người Huế rất tin tưởng.
Làng Kế Môn thuộc vùng Phong Điền, nay là xã Điền Môn, Huế, được xem là cái nôi nghề kim hoàn của xứ Đàng Trong và của triều đình Huế sau này. Theo sử cũ, làng hình thành từ thế kỷ XIV dưới thời vua Trần Anh Tông. Ban đầu dân làng sống bằng nông nghiệp và đánh cá quanh phá Tam Giang.
Nhân vật quan trọng nhất trong lịch sử nghề là cụ Cao Đình Độ, người được tôn là Đệ Nhất Tổ sư ngành kim hoàn Việt Nam. Tương truyền ông quê ở Thanh Hóa, rất ham học nghề kim hoàn và từng theo người Hoa để học nghề Ngân tượng từ các thợ bạc Trung Hoa. Mình đoán chắc ông ta cũng gốc hoa. Vì khi xưa người ta không dạy nghề cho người ngoại tộc.
Khoảng cuối thế kỷ XVIII, trong thời loạn Trịnh – Nguyễn rồi Tây Sơn, ông mang gia đình vào Thuận Hóa tìm đường lập nghiệp. Khi đi ngang vùng Ô Lâu gần Kế Môn, gia đình gặp nạn trên sông và được dân làng cứu giúp. Có lần mình đọc tin tức trên trang nhà của làng Kế môn thì được kể là ông Cao Đình Độ chạy giặc vào Nam thì đi ngang qua làng Kế mÔn thì thuyền ghe bị đắm chi đó nên chọn làng Kế mÔn làm quê hương thứ 2.
Rồi sau này mới được vua triều đình Nguyễn tuyển vào nội cung. Khi sinh sống ở làng Kế Môn thì ông ta truyền nghề cho một vài người nhưng làng nghèo quá nên chả làm ra tiền đến khi được triều đình kêu vào cung thì làm ăn khấm khá nên dân làng Kế môn mới bắt đầu bỏ nghề làm ruộng, học nghề thợ bạc mong sau này vào triệu nội để làm việc kiếm ăn. Sau đó có người vào Đà Lạt, có người đi Nam vang làm ăn,.. Từ đó, nghề kim hoàn lan khắp nơi nhờ người làng Kế Môn. Dân làng này học nghề thợ bạc để kiếm ăn ở xứ người.
Con trai ông là Cao Đình Hương tiếp tục phát triển nghề và được tôn là Đệ Nhị Tổ sư. Hai cha con trở thành biểu tượng của giới thợ bạc miền Trung. Điều đặc biệt là nghề kim hoàn Kế Môn không chỉ làm trang sức đơn thuần. Người thợ phải học: luyện kim, kéo chỉ vàng bạc, chạm trổ, hàn, tạo hoa văn rồng phụng, và kỹ thuật filigree (đan chỉ kim loại cực mảnh). Nghề được giữ rất kín. Nhiều bí quyết chỉ truyền trong họ tộc hoặc cho con rể được tin tưởng.
Dưới triều Nguyễn, nhiều thợ Kế Môn được tuyển vào “Cơ vệ Ngân Tượng” trong kinh thành Huế để chế tác: đồ dùng hoàng cung, ấn tín, vật phẩm tế lễ, nữ trang cung đình, và đồ bạc nghi lễ. Vì vậy người Huế xưa thường xem thợ bạc Kế Môn là giới nghệ nhân quý tộc thủ công.
Ở Kế Môn hiện nay vẫn còn nhà thờ tổ nghề kim hoàn, mộ tổ, và lễ giỗ tổ nghề hằng năm. Trong lễ tổ, thợ kim hoàn thường cúng: búa, kềm, đục, lò nung, và các dụng cụ nghề. Họ quan niệm làm nghề kim hoàn phải có “đức tay” tức sự trung thực và tinh sạch trong nghề. Vì nghề liên quan vàng bạc nên chữ tín rất quan trọng. Một người thợ gian dối sẽ bị cộng đồng nghề tẩy chay.
“Cơ vệ Ngân Tượng” là một trong những đơn vị thủ công đặc biệt nhất của triều Nguyễn, vừa là xưởng chế tác kim hoàn hoàng gia, vừa là cơ quan phục vụ trực tiếp cho hoàng cung ở kinh đô Huế. Chữ “Ngân tượng” (銀象) thời xưa nghĩa là nghề bạc, thợ kim hoàn, và nghệ nhân chế tác vàng bạc cho triều đình. Còn “Cơ vệ” là đơn vị trực thuộc hoàng cung, có tổ chức gần giống một “xưởng kỹ nghệ hoàng gia” nhưng nằm trong hệ thống nội vụ của triều đình.
Những người được tuyển vào Cơ vệ Ngân Tượng thường đến từ làng Kế Môn, các dòng thợ bạc ở Huế, hoặc gia đình kim hoàn có tiếng trong Đàng Trong. Được vào làm trong Ngân tượng là niềm vinh dự lớn vì nghề được triều đình bảo trợ, lương ổn định, và có địa vị xã hội cao hơn thợ thủ công bình thường. Nhiều kỹ thuật của Cơ vệ Ngân Tượng về sau truyền ra dân gian qua các làng nghề như Kế Môn. Từ đó hình thành mạng lưới thợ kim hoàn đi khắp Huế, Đà Lạt, Sài Gòn, Phnom Penh, rồi sang Mỹ và Pháp sau 1975. Cho nên ra Phước Lộc Thọ mà thấy tiệm vàng là đoán có người làng Kế Môn. Nói cho ngay nay thì nghề thợ bạc cũng không thịnh lắm vì nữ trang họ mua từ Hương cảng hay tàu làm bằng máy, rẻ nên khó mà đo sức lại.
Mình không biết khi xưa ở Đà Lạt có vụ cướp mấy tiệm vàng hay không nhưng nghe nói sau 75 các tiệm vàng hay bị cướp. Có người quen ở Đà Lạt, có tiệm vàng, nghe nói bị cướp 2 lần. Hôm trước, thấy hình ảnh công an niêm phong một tiệm vàng nghe nói nổi tiếng ở Sàigòn rồi họ vác vàng bạc đi. Chán Mớ Đời
Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen
Nguyễn Hoàng Sơn












