51 năm nhìn lại Little Sàigòn

 51 năm từ Sàigòn đến Bolsa 

Nếu nhìn lại 51 năm qua, sự ra đi của người Việt tỵ nạn trong lúc hối hả trước ngày 30/4/75 thì phải công nhận như một phép lạ, cộng đồng người Việt đã thành lập lại một Tiểu Sàigòn, được xem là thủ đô của cộng đồng người Việt hải ngoại. 

Phước Lộc Thọ


Ngày hải hùng đó đã khiến chúng ta mất quê hương, chúng ta có thể xây dựng lại một quê hương ở nơi khác. Có nhiều người ra đi trong lúc vội vã không biết gia đình còn sống hay chết. Ngày nay theo thống kê có đến 189,000 người Mỹ gốc việt sinh sống tại quận Cam (Orange COunty). Cộng đồng người Mỹ gốc việt lớn nhất tại Hoa Kỳ. 40% người Việt sinh sống tại thành phố Westminster, 31% ở thành phố Garden Grove.


Có thể nói không có truyền thông như tờ báo đầu tiên Người Việt do ông Đỗ Ngọc Yến thành lập với luật sư Đạt Phan, con ông Phan Huy Quát. Thì có lẻ Little Sàigòn không đông như ngày nay vì các lớp người Việt tỵ nạn tiếp tục sang Hoa Kỳ và đọc báo và dọn về vùng này ở.


Năm 1979, chỉ có 30 business ở phố Bolsa, đến năm 1981 thì có 300 business ở đây rồi đến năm 1984 lên đến 600. Ngày nay, có trên 4,000 business ở trong phạm vi 3 dặm vuông. Người ta tính có trên 280 tiệm ăn, 42 tờ báo việt ngữ, 5 đài phát thanh, 2 đài truyền hình phát các chương trình khắp nơi trên thế giới.


Ở trung tâm Tiểu Sàigòn có Phước Lộc Thọ khiến ai đến đây lần đầu cảm thấy như vào một chỗ nào huyền thoại. Năm 1986, một người sở hữu 1/3 địa ốc ơ Bolsa muốn đặt tên là Asian Town nhưng cộng đồng không chịu và tranh chấp suốt 2 năm liền và đã thắng, khu vực này được đề bảng Little Sàigòn trên xa lộ để xe quẹo vào. Con đường Bolsa được đấu tranh để bảo vệ bản sắc của người Việt tỵ nạn và nhưng người Việt tỵ nạn đã xây dựng trung tâm cộng đồng người Việt lớn nhất tại hải ngoại. Mình nghe nói là Đài Loan bỏ tiền xây rất nhiều khu phố Bolsa. Sau này có người Việt tư bản đỏ sang đầu tư nữa.


Mọi sự khởi đầu từ ngày 30 tháng 4 năm 1975. Các trực thăng di tản các người Mỹ cuối cùng ở Việt Nam, và cuộc chiến chấm dứt với triệu người vui và hàng triệu người buồn. 130,000 người Việt được người Mỹ di tản khỏi Việt Nam, được xem là cuộc di tản cấp tốc rộng lớn nhất ở thế kỷ 20 trong thời gian rất ngắn. Nghe CIA giải thích là nhờ báo cáo của điệp viên X92, Võ Văn Ba báo trước nên Hoa Kỳ mới có thời gian chuẩn bị cuộc di tản các thành phần có dính dang đến chính quyền và quân đội Việt Nam Cộng Hoà.


người Mỹ không muốn như trường hợp của người tỵ nạn Cuba là dồn về một nơi ở tiểu bang Florida, họ rãi người Việt khắp nơi trên nước Mỹ như 10,000 người ở tiểu bang Florida, 22,000 ở Pennylvania, 51,000 ở Arkansas và 50,000 ở trại thuỷ quân lục chiến Pendleton, tiểu bang California. Hơn 1/3 ở nam Cali.


Vấn đề là người Việt di tản ở trong các trại tiếp cư và đợi ai đó ở ngoài bảo lãnh họ, đúng hơn người Mỹ vì dạo đó rất ít người Việt ở Hoa Kỳ. Đa số là sinh viên du học. Các giáo phận công giáo tham gia, và các nhà thờ tin lành. Họ đưa người Việt đến các thành phố như Westminster, Garden Grove, Santa Ana,…nhưng khu vực không sang trọng, đúng hơn là nghèo. Lý do là tiền thuê nhà rẻ.


Rồi làn sóng tỵ nạn thứ 2 đến, từng năm 1979-1985, các thuyền nhân đến đảo ở đông Nam Á, được phỏng vấn đi mỹ. 800,000 người Việt tỵ nạn đến định cư tại Hoa Kỳ. Nghe cao uỷ tỵ nạn cho rằng 50% người vượt biển nằm lại trong lòng đại dương. 1000 người mỗi tháng tại Quận Cam.


Rồi làn sóng thứ 3 đến qua chương trình Orderly Departure Program (ODP), đoàn tụ gia đình.


Làn sóng thứ 4 cuối thập niên 1980 đến 1990, các tù nhân chính trị, cải tạo được Hoa Kỳ thâu nhận. Các làn sóng nhập cư người Việt đều đọc báo người Việt và các báo khác ở Bolsa, giúp họ dọn về định cư tại Quận Cam.


Mấy năm gần đây thì thấy có nhiều người Việt di dân qua đầu tư theo EB-5 hay các chương trình khác. Chúng ta bắt đầu thấy xuất hiện con cháu của những người từng tuyên bố đánh cho mỹ cút nguỵ nhào. Mình có gặp vài người khi họ hỏi mua cái vườn của mình. Có đám chuyên gia giúp họ đầu tư qua Hoa Kỳ để hạ cánh an toàn. Nghe họ kể nằm bắt võng ở đầu Trường Sơn, tự xưng là di dân chớ không hoi ải tỵ nạn.


Khi làn sóng người Việt đầu tiên đến Bolsa thì khu vực này đang chết. Mình nhớ khi mình đến Cali lần đầu tiên thấy nhiều vườn trồng dâu của người Nhật. Các dãy phố lụp xụp Chán Mớ Đời nhưng được cái là đất ở đây rẻ. Không như ngày nay.


Người mở tiệm bán tạp phô Việt Nam đầu tiên là ông Danh Quách nhưng ít khách lắm. Ông ta kể là 3 năm trời ít khách nhưng ổng a vẫn tiếp tục. Theo ông ta thì có lần thị trưởng thành phố và cảnh sát trưởng ghé tiệm ông và nói là cảm thấy không yên lòng về sự có mặt của tiệm ông ta. Người dân địa phương da trắng cảm thấy khó xử. Mình nhớ khi mới dọn về Westminster thì xung quanh là người Mỹ trắng rồi dần dần họ bán nhà bỏ chạy và người Việt dọn đến. Nay chỉ thấy gốc mít xung quanh.


Ông Quách không muốn bỏ đi và có dược sĩ Danh Quách dọn đến mở tiệm thuốc tây năm 1978, rồi tiệm Hoà bÌnh rồi Tân Mai. Rồi năm 1979 có được 30 business của người Việt. Đúng lúc có làn sóng người Việt thuyền nhân định cư tại đây khiến thương mại phát triển, khách đến mua đông như quân nguyên, nói tiếng Việt như người Việt.


Năm 1981, 300 business, 1984, 600 business rồi ông Triệu Phát đến Hoa Kỳ năm 1975, buồn đời mua đất rồi xây Phước lộc Thọ. Năm 1987, cảnh sát Westminster ước lượng mỗi cuối tuần có 20,000 đến 60,000 người đến mua sắm ăn phở ở Bolsa. Cứ ra khỏi xa lộ quẹo vào đường Brookhurst là kẹt xe, người Việt lại lái xe kiểu biết bố mày la ai, bóp kèn in ỏi.


Ở bolsa người Việt đã xây dựng lại truyền thống Tết, như diễn hành, rồi chợ Tết nơi hội tụ người Việt tỵ nạn từ xa về về đây mấy ngày tết để ăn tết với bạn bè và gia đình. Rồi đình chùa mọc lên như nấm. Giúp các con cháu chưa bao giờ biết Việt Nam có thể hoà mình vào không khí tết được tạo dựng lại bưởi cha mẹ ông bà. Với hội chợ tết này nọ hay chợ đêm khi hè đến, giúp người Việt tha hương có thể tìm lại chút gì để nhớ. Mình thấy đắt tiền nên chả bao giờ bò ra thêm kẹt xe.


Tiểu Sàigòn trở thành trung tâm văn hoá của người Việt tỵ nạn khắp thế giới. Các cuốn sách bị cấm tại Việt Nam được sản xuất nhiều như bánh mì baguette mỗi ngày. Các băng nhạc video được thâu dựng rồi bán qua âu châu và Úc Châu.


người Việt bỏ nước ra đi chỉ còn lại ký ức quê hương và đã tạo dựng lại quê hương trên đất nước đã cưu mang họ. Nhưng họ không quên lý do tại sao phải bỏ nước ra đi tìm tự do. Có một ngày mà hàng năm cộng đồng người Việt đều tụ tập lại để tưởng niệm nhưng người dã hy sinh trong cuộc chiến cho tự do và những người đã bỏ mình trên đường vượt biển. Họ đã mua đất để xây đài tưởng niệm chiến tranh Việt Nam (Vietnam warmemorial).


Xét ra thế hệ đầu tiên xây dựng để sống còn còn thế hệ thứ 2 thì xây dựng quyền lực. Năm 1992, ông Tony lâm đắc cử nghị viên của thành phố, người Việt đầu tiên đắc cử. Vào thập niên 1990 cử tri người Việt khá đông nên các đảng không thể làm lơ như xưa. Nhưng cộng đồng người Việt như cộng đồng cuba rất chống cộng. Khi ông John MacCain ra tranh cử tổn thống, có đến kiếm phiếu cũng như Bush cha. 


Theo thống kê thì 53% cử tri ở Tiểu Sàigòn bầu cho ông Trump. Lý do ông ta chống Trung Cộng. Mà người Việt tỵ nạn lại ghét tàu. Họ bảo thủ vì ký ức, những năm tháng dài bị Việt Cộng bỏ tù. Họ bỏ phiếu theo địa chính hơn là các chương trình phúc lợi địa phương.


Nhưng ngày nay, sau khi bám rể vào đời sống Hoa Kỳ, thì có sự rạn nứt trong giới cử tri. Theo thống kê thì cử tri gốc việt dưới 49 tuổi, 65% ghi danh là cử tri của đảng dân Chủ. Lý do là thế hệ thứ hai không trốn thoát khỏi Việt Nam. Họ không bị ở tù cải tạo, tiểu Sàigòn không phải là nơi định cư tạm của họ như thế hệ trước.


Thế hệ con cháu dọn đi các thành phố khác như Irvine, Costa Mesa, Laguna. Thế hệ này là luật sư, bác sĩ, kỹ sư. Họ đã vào dòng chính của Hoa Kỳ.


Đó là bề ngoại bề nổi, mặt bằng của Tiểu Sàigòn, chúng ta thấy tiệm ăn mọc như nấm nhưng nếu nhìn kỹ thì trong khu Tiểu Sàigòn có đến 5  khu mobile homes mà đa số người Việt ở, với tiền thuê đất đắt như vàng. Các người lớn tuổi sinh sống ở đây cho tiện đường mua sắm, nơi mà họ đã cùng nhau tạo dựng. Các người cao tuổi sống nhờ tiền an sinh xã hội. 


Little Sàigòn có hai loại kinh tế. Một kinh tế khiến thiên hạ đến mua sắm và một cố gắng sống chật vật phía sau mặt bằng hoành tráng của Tiểu Sàigòn. 


50 năm nhìn lại, cộng đồng người Việt đã thành công xây dựng qua bao nhiêu làn sóng đến Hoa Kỳ. Chúng ta bỏ lại sau lưng quê hương để xây dựng lại một quê hương thứ hai trên đất mỹ. Nhưng tương lai thế hệ con cháu có thể sẽ không màn đến vì Irvine có tiệm ăn Tàu, việt. Ngày thành phố mình bây giờ bắt đầu có tiệm ăn tàu, Việt Nam, đại hàn mọc lên như nấm. Có lẻ sẽ ít xuống Bolsa nhất là xăng trên $6. Nhưng phải kể là các lớp người Việt đi trước đã bỏ công gầy dựng một trung tâm để chúng ta quay về như viếng lại ký ức của quê hương bỏ lại.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

người Tình Cindy

 Mordechai Vanunu và người Tình Cindy


Nhớ dạo mình làm việc ở Luân Đôn, có lần thiên hạ bàn tán về một ông người do thái bán tin tức cho một tờ báo Times, nói là do Thái có vũ khí nguyên tử rồi sau đó ông ta biệt tăm. Nay mình lò dò vào đọc tin tức của Do Thái thì khám phá ra ông ta bị bắt và dẫn độ về độ Thái và bị lên án 18 năm. Hình như mình có xem một phim tài liệu nói về ông này cũng như cặp điệp viên pháp, giả làm vợ chồng qua xứ  Tân Tây Lang đặt mìn tàu của hội Greenpeace nhưng không thành và bị bắt. Năm ngoái đến xứ Tân Tây Lan mình có bò lại bến tàu nơi cặp tây đầm điệp viên tây bị bắt.


Mordechai Vanunu sinh năm 1954 tại Marrakech, Morocco, trong một gia đình Do Thái có 11 người con. Năm 1963, gia đình ông di dân đến Israel và định cư tại Beersheba, miền nam đất nước. Thời đó ở Algeria xứ bên cạnh đuổi cổ dân Tây dân gốc do thái ra khỏi nước họ nên có lẻ vì vậy mà gia đình ông này và các người Do Thái dọn về Do Thái cho lành. Mình nghe nói là ở maroc trước kia các người đạo hồi, công giáo và do thái sống yên vui với nhau dưới thời tây cai trị nhưng khi mấy xứ này bắt đầu dành độc lập thì không còn anh em với nhau nữa. Đánh nhau chí choé. 


Giống như mọi công dân Israel, ông hoàn thành nghĩa vụ quân sự. Sau đó, ông học triết học và địa lý tại Ben-Gurion University. Chính tại đây, ông bắt đầu đặt ra những câu hỏi lớn về chính phủ, công lý và đạo đức.


Năm 1976, ông làm việc tại Trung tâm Nghiên cứu Hạt nhân Negev, gần Dimona, một cơ sở lớn giữa sa mạc. Israel luôn tuyên bố đây là cơ sở nghiên cứu hòa bình và chưa bao giờ chính thức xác nhận hay phủ nhận việc sở hữu vũ khí hạt nhân.


Trong 9 năm làm kỹ thuật viên hạt nhân, ông Vanunu vận hành hệ thống xử lý plutonium nằm sâu dưới lòng đất, sau nhiều lớp cửa an ninh. Ông tận mắt chứng kiến: Israel đang sản xuất vũ khí hạt nhân. Không phải vài quả mà có thể hàng chục, thậm chí hàng trăm. Hoàn toàn bí mật với thế giới, kể cả Liên Hiệp Quốc.


Dần dần, suy nghĩ của ông thay đổi, mầm mống phản động khơi mào. Ông tham gia các hoạt động chính trị cánh tả, quan tâm đến quyền của người Palestine. Năm 1985, hợp đồng của ông không được gia hạn. Chán Mớ Đời ông ta muốn biến đau thương thành hành động cách mạng. Ông ta đột phá tư duy, ông làm một việc thay đổi cả cuộc đời mình: Mang máy ảnh vào khu vực cấm, Chụp khoảng 60 bức ảnh chi tiết về cơ sở hạt nhân.


Năm 1986, ông rời Israel, đi qua châu Á rồi đến Úc. Tại Sydney, ông cải đạo sang Thiên Chúa giáo. Nói như người thiên chúa giáo là trở về đạo. Ông ta đã lầm đường lạc lối nên nay muốn cách mạng khoan hồng nên  Ông tin rằng mình có nghĩa vụ đạo đức phải nói ra sự thật. Ông liên hệ với tờ The Sunday Times ở London. Các chuyên gia độc lập xác nhận toàn bộ thông tin: Israel có chương trình vũ khí hạt nhân bí mật, Ước tính từ 100–200 đầu đạn


Khi bài báo sắp được công bố, ông ta được một số tiền nên vào bar ăn uống cho vui đời cô lựu thì choáng váng khi một giai nhân xuất hiện. Anh ta nghĩ ông bà nói quả không sai khi có tiền thì mấy cô gái dẫn xác đến nạp thân, lúc ông đói chả cô nào thèm nhìn mặt. Tin tưởng đã phát hiện ra mối tình hữu nghị sông liên sông núi liền núi. 


Cô gái đẹp nức nở là một nữ điệp viên tên “Cindy” (Cheryl Bentov) thua ông ta đến 14 tuổi, tiếp cận ông. Bên tai Cindy thỏ thẻ anh làm em ngưỡng mộ quá, ba má em có căn hộ ở la mã, hay cuối tuần này em nghĩ làm chúng mình bay qua La MÃ để cùng nhau viếng nhà thờ San Pedro. Ông ta nhất trí tưởng đến quỳ lạy chúa cho con lấy được Cindy, mời cô nàng đi ăn ở các tiệm sang trọng của La Mã và ăn gelato ở Trastevere. Thế là ông ta bị dụ sang Rome. Vừa chạy taxi từ phi trường về nhà chưa đầy 5 phút, ông ta chưa kịp đè Cindy xuống giường thì có tiếng gõ cửa. Cindy ra mở và các bác Mossad bước vào đè đầu ông ta và đánh thuốc mê trong giấc mơ bên cạnh em Cindy thơm như múi mít. Ngày 30/9/1986, ông bị đánh thuốc mê, bắt cóc và đưa bí mật về Israel.


Ngày 5/10/1986, bài báo vẫn được đăng. Cả thế giới biết sự thật. Ông  Vanunu bị xét xử bí mật, kết án phản quốc và gián điệp. Năm 1988, ông bị tuyên 18 năm tù. 11 năm trong phòng biệt giam, Một căn phòng 2m x 3m, Không giao tiếp, không con người, chỉ có im lặng nhưng ông không bao giờ hối hận. Chắc con cháu của Trương Bất Hối. Năm 1998, ông được chuyển ra khỏi biệt giam. Amnesty International gọi ông là “tù nhân lương tâm”. Ông được đề cử Nobel Hòa bình 17 lần nhưng chưa từng được trao. Vì DO Thái Lobby rất kiến hiệu ở Na Uy.


Ngày 21/4/2004, ông được trả tự do sau 18 năm. Nhưng… ông vẫn không thật sự tự do. Không được rời Israel. Không được nói chuyện với báo chí nước ngoài. Bị giám sát liên tục. Ông nhiều lần bị bắt lại chỉ vì nói chuyện với phóng viên. Năm 2007, ông bị kết án thêm 6 tháng tù vì… nói rằng ông muốn rời khỏi đất nước. Họ hỏi ông ta đi đâu, chắc là muốn sang đầu quân cho Ba Tư. Ông xin tị nạn ở Na Uy, Mỹ và nhiều nơi khác đều bị từ chối. Chán Mớ Đời 


Israel nói ông vẫn còn “bí mật trong đầu”. Một người rời khỏi cơ sở hạt nhân từ 40 năm trước… vẫn bị coi là nguy hiểm. Ông Vanunu nói:“Tôi không hối hận. Thế giới cần biết sự thật.” Xem như thành phần ngoan cố, không bao giờ cải tạo được.


Một người bình thường.

Một công việc ổn định.

Một cuộc sống có thể yên ổn.


Nhưng ông đã chọn nói ra sự thật. Đổi lại: 18 năm tù, 11 năm biệt giam và hàng chục năm bị hạn chế tự do. 


Có những người nói ra sự thật và được trao huy chương. Có những người nói ra sự thật… và sống 11 năm trong một căn phòng nhỏ hơn phòng tắm. Và Mordechai Vanunu đã nói ra sự thật. Và phải trả một giá quá đắt. Ông cụ mình cũng phải trả giá nói lên sự thật và bị bắt nhốt 15 năm cải tạo. Chán Mớ Đời 


Mình nghĩ chắc lúc đó ông ta chưa có vợ con, chớ một khi có vợ con thì họ sống hèn lại, để có thể đi làm để nuôi vợ nuôi con. Còn nói lên sự thật thì vợ con phải gánh chịu hậu quả. Mình làm mình chịu nhưng nếu ông ta có gia đình thì có lẻ không xẩy ra vấn đề này. Xong om


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn 

Hành quyết tại Đà Nẵng

Lâu rồi mình có xem một tấm ảnh trên trang của cựu chiến binh mỹ tại Việt Nam một bức hình hành quyết một Việt Cộng đánh bom ở Đà NẴng nhưng tấm hình quá mờ. Hôm nay tình cờ được xem mấy tấm ảnh đã được họ phục chế nên tải lại, của nhiếp ảnh gia Eddie Adams. Người nổi tiếng với tấm ảnh chụp cảnh tướng Nguyễn Ngọc Loan hành quyết một tên Việt Cộng mới sát hại nguyên một gia đình sĩ quan quân lực Việt Nam Cộng Hoà, gia đình chết hết ngoại trừ một người con trai, sau này làm tướng của hải quân Hoa Kỳ.

Khi xưa ở Đà Lạt mình có thấy họ dựng một bức tường cát gọi là pháp trường để hành quyết ngay khu Hoà Bình, phía bên nhà hàng La Tulipe rouge, chỗ mấy kiosk bán hoa lan và đồ lưu niệm. Ai còn nhớ vụ này vì dạo ấy em còn bé lắm mấy bác. Chỉ nhớ như vậy nhưng không biết ở Đà Lạt có bắn ai hay không. Dạo đó có vụ ở Sàigòn bắn ông Tạ Vinh ở Sàigòn về tội đầu cơ tích trữ. Nghe vợ ông Kỳ kể là họ đem mấy triệu đến cho ông Kỳ nhưng ông ta chê.

Nghe nói ông Việt Cộng đánh bom tên là Lê Độ
Mình nhớ mại mại ở khu Hoà Bình Đà Lạt có một bức tường bao cát kiểu như vậy
Họ đưa ông ta ra sân vận động Chi Lăng, Đà Nẵng, nghe nói có 2000 khán giả. Kinh
Không biết ông Lê Độ này có hô to Bác Hồ Muôn Năm như ông Nguyễn Văn Trỗi. Mình khám phá ra ông Trỗi này là chú họ một anh bạn quen ở làng Thanh Quýt. Chỉ khác nhau là trong họ người theo Việt Cộng, người chống cộng. Anh ta chưa bao giờ về lại Việt Nam từ năm 1972, năm ngoái mình chạy vào làng Thanh Quýt chụp tấm ảnh gửi cho anh ta để nhớ lại một thời ở đây, anh này là nhạc sĩ của bản nhạc “khi tôi chết đừng đưa tôi ra biển”
Bắn xong thì toán hành quyết quay đi
Có tấm ván để khiên cái xác ông Lê Độ đi. Và tấm ra để phủ.để quăng lên xe GMC đi chôn

Bác nào có thêm tin tức vụ này thì cho em xin. Em chỉ biết ngày 4/4/1965, ông Lê Độ được lệnh đánh bom khách sạn Grand ở Đà Nẵng nơi lính mỹ cư ngụ, 11 ngày sau khi được thẩm vấn là cho ra pháp trường. Xem như hôm nay là ngày giỗ thứ 61 của ông Đậu vì bị bắn chết ngày 15/4/1965. Chắc gia đình chắc không ai nhớ hay chết hết rồi. Vì khi ông ta bị bắn là 24 tuổi, chắc chưa vợ chưa con.
Hình trên cho thấy cái radio mà ông Lê Dậu nhét mìn bên trong để đem vào khách sạn nơi bính sĩ mỹ cư ngụ, khuôn mặt chắc bị đánh sưng mặt hết

Mò trên báo Hà Nội thì được biết như sau: “  Vào lúc 15h00 ngày 4 tháng 4 năm 1965, Lê Độ bị phát hiện và bị bắt trong lúc đặt mìn tại Grand Hotel (nay là Khách sạn Bạch Đằng), thành phố Đà Nẵng, nhằm tiêu diệt các sĩ quan và nhân viên Hoa kỳ ở tại khách sạn, . Chỉ hơn 10 ngày sau, ngày 15 tháng 4 năm 1965, Lê Độ được đưa ra xử bắn công khai tại sân vận động Chi Lăng. 


Lê Độ tên thật là Lê Dậu sinh năm 1941, tại Mỹ Thị, nay là phường Bắc Mỹ An, quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng. Các anh em trong gia đình của Lê Độ đều tham gia hoạt động cho Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và đều được nhà nước Việt Nam công nhận là liệt sĩ.

Sau khi bị tử hình ngày 15 tháng 4 năm 1965. Ngày 20 tháng 5 năm 1965, Ủy ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam truy tặng ông Huân chương Thành Đồng hạng II. Năm 1997, Lê Độ đã được Nhà nước Việt Nam truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Hiện nay, tại thành phố Đà Nẵng có trường trung học cơ sở mang tên Lê Độ và một con đường mang tên Lê Độ tại quận Thanh Khê.

Mình mò thêm tin tức trong Nghiên Cứu Lịch sử thì có thêm vài tấm ảnh nên tải lên đây.




Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Ngày tàn của đế quốc thẻ tín dụng tại âu châu

 Ngày tàn của đế quốc thẻ tín dụng tại âu châu

 

Đi du lịch, mình hay sử dụng thẻ tín dụng vì tiện, không bị bắt phải trả giá hối đoái này nọ. Vấn đề là thẻ American Express ít được chủ tiệm chấp nhận. Lý do công ty tài chánh lấy tiền huê hồng rất nhiều so với thẻ Visa và Master do đó muốn xài American express thì phải vào các tiệm hay khách sạn sang. Chán Mớ Đời 


Lý do mình thích American Express vì lỡ có lộn xộn, chỉ cần báo cho công ty thì họ lo hết mọi chuyện còn thẻ khác thì mình phải cong lưng ra làm thủ tục đủ trò. Nói chung thì đi khắp thế giới, thì đa số đều nhận thẻ tín dụng, giúp mình khỏi lo đem theo tiền mặt vì rất ngại bị móc túi hay mất,..


Thẻ tín dụng khiến giúp cho các ngân hàng Hoa Kỳ kiếm thêm nhiều tiền vì đứng ở giữa khách hàng và tiệm. Xài trước rồi cuối tháng tính sổ, giúp buôn bán nhanh chóng. Một phụ nữ nổi cơn lên mua cái áo, hay cái ví, cà thẻ rồi tính sau. Không thích thì trong vòng 30 ngày có thể đem trả lại. 


Mình nhớ có thẻ tín dụng đầu tiên đâu năm 1988 với ngân hàng BNP. Dần dần quen sử dụng thẻ tín dụng, không xài tiền mặt nữa. Trước đây mình có mua cổ phiếu TenCent. Nghe nói bên tàu bây giờ họ xài Alipay này nọ, không dùng thẻ tín dụng. Về Việt Nam thì thấy thiên hạ chuyển tiền qua tài khoản, tương tự ngày nay ở Hoa Kỳ họ sử dụng Vemo và Zelle để chuyển ngân từ trương mục của mình. Không phải tốn tiền cò.


Có cuộc cách mạng âm thầm về tài chánh tại âu châu. Đó là cái nút với nhãn hiệu “pay by Bank”. Có thể xem là một nút bấm để trang trải kinh phí nhưng trên thực tế là tấn công hạ tầng cơ sở tài chánh của Hoa Kỳ.


Có lẻ nên bán các cổ phiếu của Visa. Hoa Kỳ nay họ sử dụng Vemo và Zelle rất nhiều để chuyển tiền. Chúng ta đang sống trong thời buổi mọi việc đang thay đổi nhanh chóng. Phải cập nhật hoá sự hiểu biết về công nghệ. Thế hệ mình bắt đầu lơ tơ mơ. Sáng nay gặp anh bạn, anh ta nói khi xưa thấy mấy ông già chạy xe lạng quạng, nay đến phiên mình chạy lên lề đường đủ trò. Chán Mớ Đời các bạn học xưa đang tính tổ chức một cuộc hội ngộ trên zoom cho các đồng môn khắp thế giới mà đa số chới với. Thậm chí ông thần ở Việt Nam được xem là tiến bộ nhất cũng kêu chỉ thêm nên phải thử vài lần co các người chính, để huấn luyện lại các nhóm khác hay sử dụng một cái cho 4-5 người cho chắc ăn. Lại có người bắt đầu quên trước quên sau.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Chuyến bay Air Việt Nam định mệnh và ý chí của sự sống còn

 


Chuyến bay định mệnh và ý chí của sự sống còn


Lâu rồi hình như mình có đọc bài của ai kể là khu vực vùng Phan Rang Nha Trang Khánh Hoà có một vùng dễ bị rớt nhiều maý bay nên ông ta không dám bay vào vùng này. Hôm nay nhận được một bài của một ông thần quen trên mạng, gửi cho một bài kể về một cô gốc Hoà Lan, làm việc ngân hàng ở Hương Cảng, đi chơi ở Việt Nam với bạn trai để tạo những kỷ niệm đẹp lãng mạn thì chiếc phi cơ của hãng hàng không Việt Nam chắc máy bay của Nga vì năm 1992, bị rời trên đường bay đến Cam Ranh. Cả máy bay chết hết chỉ có cô ta sống sót. Kinh. 



Năm 1992 là năm em về Việt Nam lần đầu sau khi nghe tin ông cụ ra trại cải tạo. Chỉ đi máy bay đến Sàigòn thôi còn đi xe thuê bao lên Đà Lạt. Nhưng lần sau mới đi máy bay lên Đà Lạt cho nhanh vì ngồi xe mất cả ngày.


Nếu chúng ta từng cảm thấy chuyến đi của mình “toang” vì chuyến bay bị trễ, khách sạn hết phòng, cà phê nguội ngắt giọt đáng thì nên đột phá tư duy, hít một hơi sâu và nhớ đến câu chuyện của cô Annette Herfkens. Bởi vì vào năm 1992, kỳ nghỉ lãng mạn với mối tình hữu nghị sông liền sông ở hương Cảng nơi cô ta làm việc với một ông cùng sở của cô không chỉ “trục trặc” mà là trục trặc ở cấp độ khá đặt thù với rừng rậm sinh tồn dù chưa bao giờ qua một kỳ huấn luyện của lực lượng đặc biệt. Bằng cách nào đó, cô vẫn sống sót. Không chỉ sống sót, mà còn với một sự bình tĩnh đến mức khiến phần còn lại của chúng ta trông như sẽ hoảng loạn chỉ vì mất Wi-Fi 5 phút.

Câu chuyện của cô, được kể trong Turbulence: A True Story of Survival, bắt đầu như nhiều bi kịch vĩ đại khác: bằng tình yêu. Annette và người bạn trai Willem đang trên đường đến Việt Nam cho một kỳ nghỉ nâng cao tình yêu đôi lứa đáng lẽ phải rất đẹp. Để đánh dấu mối tình hữu nghị với tính cách lãng mạn như trong xi-nê với nhìn hoàng hôn, bãi biển, có thể thêm vài ly cocktail hơi mắc tiền. Nhưng thay vào đó, nhờ sự kết hợp “hoàn hảo” giữa thời tiết xấu và sai sót con người, chiếc máy bay của họ, Vietnam Airlines Flight 474, quyết định “làm quen” với một sườn núi. Hình như sương mù. Có chiếc trực thăng của quân đội Việt Nam bay đến vùng này để tìm kiếm chiếc máy bay nhưng cũng rớt luôn, do đó mình nhớ có nghe ai nói đến vùng này đã có vấn đề trước 75. Ai nhớ thì cho em xin lý do. Em nghe vụ này trên 40 năm nên không nhớ rõ lý do.


https://en.wikipedia.org/wiki/Vietnam_Airlines_Flight_474


Thông thường, khi gặp tai nạn máy bay, đa số mọi người sẽ… không sống sót. Được cái là máy bay rớt trên các ngọn cây nên sự đụng chạm tương đối bớt mạnh hơn là chạm đất. Nhưng cô Annette, rõ ràng, đã không nhận được thông báo đó từ PA, của tiếp viên trưởng la đeo mặt nạ oxy gì vào như mỗi lần máy bát sắc ất cánh là thấy tiếp viên hàng không cứ ra hiệu kéo dây thòng xuống.. 


Có lẻ chưa tới số hay thánh Phao Lồ không cho vào cổng thiên đường nên trở lại nhân thế. Chiếc máy bay này nhỏ, 3 động cơ nghe nói đâu có 23 hành khách và phi đoàn có 6 người. Mình nhớ có lần bay từ Boston qua Ottawa, đi máy bay hai chong chóng khiến mình thất kinh. Máy bay cũ khi xưa hành khách đi được xem là sang nhưng sau khi ngồi Boeing 747 thì thấy sợ.

Máy bay trên đường đáp xuống phi trường, đụng cây nên phi công mất tay lái không lên lại được và tuông luôn. Khi cô tỉnh dậy giữa rừng, bị thương, xung quanh là xác máy bay và quan trọng nhất không hề có đồ cấp cứu. Nghe nói có vài người sống sót bị thương nặng nhưng cứu họ đến trễ nên họ qua đời luôn, ngoài trừ cô này. Chấn thương của cô rất nghiêm trọng: gãy xương, tổn thương nội tạng, và đủ đau đớn để khiến bất kỳ người bình thường nào cũng muốn nằm xuống và “diễn sâu” lần cuối. Nhưng cô Annette đã làm một điều rất bất ngờ. Cô không la hét. Không hoảng loạn. Thậm chí cũng không độc thoại về số phận.


Thay vào đó, cô nghĩ: “Được rồi. Bước một: đừng chết.” Hóa ra, đây là một chiến lược cực kỳ hiệu quả. Ý chí muốn sống rất quan trọng, muốn vượt qua để tồn tại sống còn. Sáng hôm qua mình cho mọi người tập Trạm Trang Công 30 phút, nhưng họ đứng hết 30 phút. Tại vì khi chúng ta tôi luyện ý chí mạnh thì khi đau ốm, sẽ có ý chí vượt khỏi để chữa bệnh còn nếu không thì sẽ buông xuôi. Mình thấy nhiều người bệnh đến Đông Phương Hội nhờ Khoa chữa bệnh nhưng rồi họ không chịu tập tành gì cả để tạo dựng lại sức mạnh, cứ thích mì ăn liền. Kiếm thuốc tiên như Tần Thuỷ Hoàng. Rồi bỏ cuộc.


Trong tám ngày, cô Annette nằm lại trong rừng Việt Nam, không thể đi lại, sống nhờ nước mưa mà cô khéo léo hứng được bằng các mảnh vỡ của máy bay. Nhịn đói 8 ngày thì được nhưng cần nhất là uống nước. Mình hay nhịn đói 12 ngày nhưng bắt buộc phải uống nước. Trong khi đa số chúng ta còn vật lộn lắp tủ IKEA dù có hướng dẫn, thì cô lại thiết kế được một “hệ thống cấp nước sinh tồn” ngay giữa hiện trường tai nạn. Chỉ riêng điều này thôi cũng xứng đáng nhận bằng kỹ sư danh dự.


Nhưng điều đáng nể nhất không phải là thể chất mà là tinh thần. Cô Annette mô tả trạng thái tâm trí của mình như một sự bình tĩnh kỳ lạ, gần như kiểu “làm việc chuyên nghiệp”. Không kịch tính, không hoảng loạn kiểu phim ảnh. Mình nghĩ khi nhịn đói thì neuron của cô ta làm việc hăng say nên bình tỉnh. Người ta giải thích khi xưa, tổ tiên chúng ta đi săn, khi đói thì mới đi săn và lúc đó tâm trí rất sáng suốt để có thể săn thú được. Mình nhớ nhịn đói độ ngày thì 8 trở lên thì tinh thần rất sáng suốt. Chỉ là những quyết định nhỏ, rõ ràng, hợp lý. Cô không nghĩ về toàn bộ thảm kịch (bao gồm cả mất mát người cô yêu). Thay vào đó, cô thu nhỏ thế giới của mình lại thành những nhiệm vụ đơn giản:


Uống đủ nước.  

Giữ tỉnh táo.  

Sống đến cơn mưa tiếp theo.  


Đây có lẽ là danh sách “to-do list” căng thẳng nhất trong lịch sử. Trong lúc đó, khu rừng thì đóng vai một chủ Airbnb ngoài trời cực kỳ khó chịu. Nóng, ẩm, côn trùng, đặc biệt là muỗi, mà với sự nhiệt tình của chúng, rõ ràng đã chờ sẵn một “bữa tiệc banker châu Âu”. Không biết có vắc ở vùng này hay không chớ dạo mình đi Sơn Đoòng thì có hai người bị vắc bu như vắc. Vậy mà cô Annette vẫn chịu đựng được. Không thuốc chống muỗi. Không đồ ăn vặt. Không podcast truyền động lực. Chỉ có ý chí sống và một quyết tâm rất… không muốn chết một cách lãng xẹt tỏng rừng già Việt Nam.


Điều làm câu chuyện này đặc biệt không chỉ là việc cô sống sót mà là cách cô sống sót. Không có cảnh chạy xuyên rừng như phim hành động, không đánh nhau với thú hoang, không dựng bè bằng dây leo rồi phát biểu truyền cảm hứng. Chiến lược của cô đơn giản hơn nhiều:


Làm ít lại. Nghĩ rõ ràng. Đừng làm tình hình tồi tệ hơn.


Chính xác là điều ngược lại với phần lớn chúng ta. Nếu bị thả vào rừng, nhiều người sẽ ngay lập tức thử làm điều gì đó hoành tráng nhưng sai lầm như cố đi bộ với xương gãy hoặc hét cho đến khi mất nước. Cô Annette thì khác. Cô tiết kiệm năng lượng như một nhân viên ngân hàng kỳ cựu né tránh những cuộc họp không cần thiết. Có thể nhờ làm ngân hàng.


Sau tám ngày, đội cứu hộ cuối cùng cũng tìm thấy hiện trường. Và ở đó họ tìm thấy người sống sót độc nhất là cô. Gần như kiệt sức, nhưng rõ ràng vẫn còn sống. Chúng ta có thể tưởng tượng sự bối rối của đội cứu hộ: “Chúng tôi đến để tìm thi thể… sao lại có người chưa chịu ‘hợp tác’ với hoàn cảnh thế này?”


Sự sống sót của cô thật sự phi thường. Bác sĩ kinh ngạc. Về mặt thống kê, logic, thực tế thì cô không nên sống. Nhưng cô đã sống.


Phần cuối của Turbulence nói về một điều không kém phần khó khăn: sống tiếp sau khi đã sống sót. Cô Annette phải đối mặt với mất mát, hậu chấn tâm lý, và cảm giác tội lỗi của người sống sót. Nay cô ta sống ở New York, có con. Cuốn sách không né tránh điều đó. Nhưng từ đó, cô rút ra một bài học mạnh mẽ:


Con người mạnh mẽ hơn họ nghĩ, đặc biệt khi họ ngừng hoảng loạn và bắt đầu suy nghĩ. Vì vậy, lần tới khi cà phê của chúng bị pha sai, điện thoại hết pin, hay chuyến bay bị hoãn, hãy nhớ đến cô Annette Herfkens giữa rừng. Không thức ăn. Không trợ giúp. Xung quanh là thảm họa. Nhưng vẫn bình tĩnh nghĩ: “Được rồi. Cố gắng đừng làm mọi thứ Chán Mớ Đời hơn.”


Hóa ra, sống sót không phải là người mạnh nhất hay nhanh nhất. Mà là người, khi mọi thứ sụp đổ, vẫn có thể bình tĩnh nói: “Ừ… đừng làm mọi thứ te tua thêm nữa.” Tinh thần lạc quan sẽ giúp chúng ta vượt qua những trở ngại trước mắt vì sau cơn mưa trời lại sáng. Vấn đề là mưa rơi đến bao giờ. Chán Mớ Đời 


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn