Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tếđịa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Kinh tếđịa. Hiển thị tất cả bài đăng

Tại sao bắt Maduro?

 Tại sao Maduro?


Sáng nay mới thức giấc xem tin tức thì thất kinh. Lực lượng đặc nhiệm của Hoa Kỳ đã bắt sống “tổng thống và phu nhân” Maduro. Nhanh chóng và khó tin. Phải đọc tin tức từ toà Bạch Ốc mới biết là không phải Fake News. Theo hình thì dàn cảnh là DEA bắt ông Maduro được xem là trùm ma tuý.

Lùng bùng từ ngày ông Trump lên kêu Maduro là đứng đầu tổ chức buôn cocaine bú xua la mua. Rồi bắn tàu chở cocaine này nọ nhưng mình tin là chỉ dàn cảnh để săn con mồi khác. Sự thật theo mình vụ Hoa Kỳ can thiệp vào Venezuela không phải ma túy, không phải khủng bố, không phải “dân chủ”. Chính quyền Mỹ đã tuyên bố không can thiệp vào dân chủ hoá các nước nữa, mà quay về với châu Mỹ với chủ nghĩa Monroe vì mấy anh ba tàu xâm nhập khắp nơi ở Nam Mỹ và Trung Mỹ. Ngay khi ông Trump vừa lên ngôi là ông Rubio, ngoại trưởng bay đến Panama, 24 tiếng sau là nước này không cho phép Trung Cộng sử dụng con kênh và để công ty BlackRock điều hành. Có lẻ tân ngoại trưởng Rubio đã nhắc nhở các lãnh đạo xứ này về vụ tướng Omar Torrijos lãnh đạo Panama đã bị rớt máy bay vì không nghe lời mỹ cách đây vài chục năm.


Đọc sách ông Kissinger viết về vụ các ông vua ả rập chơi sang, lên giá dầu khiến dân mỹ phải xếp hàng cả mấy cây số để đổ xăng. Ông Kissinger kêu có thể phải đổ quân chiếm đóng mấy giếng dầu nên đã ký thoả thuận với Saudi Ârabia vào năm 1974. Nước này đồng ý viện trợ cho Việt Nam Cộng Hoà nhưng đã quá trễ.

Tướng Omar Torrijos và cận vệ rớt máy bay như tướng Đổ Cao Trí

Thỏa ước với mấy ông ả rập là bán dầu phải sử dụng mỹ kim nên người ta kêu Petrodollar. Hệ thống petrodollar đã giúp nước Mỹ giữ vị thế cường quốc kinh tế thống trị suốt 50 năm qua sau khi ông Nixon khơi khơi không chịu giữ 35 mỹ kim với 1 lượng vàng như đã ký kết tại hội nghị quốc tế Bretton Wood trước khi thế chiến thứ 2 chấm dứt. Hiệp ước kinh tế toàn cầu này đồng ý sử dùng đồng đô la là tiền chính thức trong các giao dịch thương mại toàn cầu. Nghĩa là anh A ở Á châu muốn bán con búp bê cho anh tây ở Âu châu phải lấy tiền mỹ kim. Nên anh mỹ tha hồ in tiền xài mua hàng rẻ từ bao nhiêu năm nay. Tạo dựng giác mơ Mỹ trên mồ hôi nước mắt của thế giới.


Anh Nhật Bản và Trung Cộng làm ngày chưa đủ tranh thủ làm đêm để sản xuất đồ bán cho anh mỹ. Anh mỹ in tiền qua các trái phiếu trả cho mấy anh này. Hoa Kỳ nay có nợ trên 35 ức mỹ kim, hơn cả GDP hàng năm. Nay anh Nhật Bản và Trung Cộng muốn bán trái phiếu của họ thì kinh tế của Hoa Kỳ sẽ banh ta lông. Lý do đó mà mình lo ngại năm 2026.


Từ từ mấy thập niên qua, chúng ta thấy các nước mạnh khác Hoa Kỳ đã hợp nhau thành lập BRICS, họ giao dịch với nhau không sử dụng đô la. Năm ngoái Venezuela vừa đe dọa chấm dứt nó.


Ông Noriega từng là nhân viên CIA

Mình thấy câu tuyên bố của cựu tư lệnh Bắc Đại Tây Dương, tướng Wes Clark, khi ông ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ. Ông cho biết sau vụ khủng bố 9/11, ông ta được triệu về Ngũ Giác Đài họp. Sau đó có ông tướng khác kêu ông ta vào văn phòng, và trình bày chương trình chiếm đóng 7 nước có đầu hoả ở trung đông. Ngày nay, chúng ta thấy có 6 nước này đã bị bom, chỉ còn Ba Tư là chỉ mới bị bỏ bom sơ sơ và đầu năm nay đã thấy dân tình xuống đường biểu tình này nọ. 7 nước này đều có dầu hoả và không không muốn lệ thuộc vào Hoa Kỳ.


Trường hợp Venezuela thì được xem là nước có dầu hoả nhiều nhất thế giới. Venezuela có 303 tỷ thùng dầu trữ lượng đã được chứng minh, nhiều hơn cả Arabia Saudi, chiếm 20% tổng lượng dầu của toàn thế giới. Các công ty dầu hoả bỏ tiền vào khai thác nhưng ông thần Chavez, chơi khăm, quốc hữu hoá các giếng dầu, xây dựng một xã hội chủ nghĩa khiến mấy ông thần mõ dầu nổi điên, tìm cách hạ bệ, đảo chánh ông này. Có lần quân đội đảo chánh nhưng ông Chavez nói sao đó khiến quân đội theo ông ta. Khiến các công ty dầu hoả Hoa Kỳ nổi điên. Mình nghĩ ông Chavez bị đầu độc chết. Ai ngờ ông Maduro lên ngôi cũng khư khư không chịu thay đổi thế là các công ty dầu hoả càng lúc càng điên nhất là ông thần Maduro chơi trò nộp đơn xin gia nhập BRICS để:


Venezuela đang chủ động bán dầu rẻ bằng nhân dân tệ Trung Quốc, không phải đô la. Năm 2018, Venezuela tuyên bố sẽ “không phụ thuộc vào đồng đô la”. Họ bắt đầu chấp nhận nhân dân tệ, euro, rúp, bất cứ thứ gì TRỪ đô la để bán dầu. Mình đi Peru, CHí Lợi và Á Căn Đình thì thấy dân Venezuela đông như quân Nguyên. Bị cấm vận nên dân xứ này đói, bỏ chạy xứ khác kiếm ăn.


Họ xây dựng các kênh thanh toán trực tiếp với Trung Quốc, bỏ qua SWIFT hoàn toàn và họ đang nắm trong tay đủ lượng dầu để tài trợ cho quá trình phi đô la hóa trong nhiều thập kỷ. Có lẻ vì vậy NATO muốn cho Puchin nhảy vào Ukraina, để bị sa lầy, không cọ cựa được nữa nên đi đong anh Syria. Nay DO Thái chiếm ngọn núi cao nhất cảu Syria, đặt radar để chận các vụ bắn vào xứ họ.

Nên mua cổ phiếu của mấy công ty này


Toàn bộ hệ thống tài chính Mỹ được xây dựng từ năm 1971 trên một thứ duy nhất: Petrodollar. Năm 1974, Henry Kissinger đã đạt một thỏa thuận với Saudi Arabia, bù lại họ sẽ bảo vệ chính quyền của họ. Tất cả dầu mỏ bán trên toàn cầu phải được định giá bằng đô la Mỹ. Đổi lại, Mỹ cung cấp bảo vệ quân sự. Nếu nhìn bản đồ, chúng ta thấy các căn cứ quân đội Hoa Kỳ nằm đầy vùng này, để bảo vệ quyền lợi Hoa Kỳ và các chính quyền của mấy ông ả rập. Nên nhớ mấy mỏ dầu này từng thuộc vào đế chế Ottoman. Anh quốc gây thế chiến thứ 1 để đá mấy ông Thổ Nhĩ Kỳ ra khỏi mấy xứ có dầu. Mình có kể vụ này rồi.


Thỏa thuận duy nhất này đã tạo ra nhu cầu nhân tạo đối với đồng đô la trên toàn thế giới. Mọi quốc gia trên Trái Đất đều cần đô la để mua dầu. Điều này cho phép Mỹ in tiền không giới hạn, trong khi các nước khác phải lao động để kiếm nó. Nó tài trợ cho quân đội, cho nhà nước phúc lợi, cho thâm hụt ngân sách mà năm nào quốc hội Hoa Kỳ đều tranh cãi mỗi 3 tháng.


Petrodollar quan trọng với bá quyền Mỹ hơn cả hàng không mẫu hạm và có một mô thức rõ ràng đối với những nhà lãnh đạo thách thức nó. Điển hình năm 2000: Saddam Hussein tuyên bố Iraq sẽ bán dầu bằng euro thay vì đô la. Năm 2003, Hoa Kỳ nhảy vào Á Phủ Hãn như răn đe nhưng Sadam Hussein phớt lờ nên bị xâm lược. Dầu mỏ Iraq ngay lập tức quay lại giao dịch bằng đô la. Saddam bị treo cổ. Vũ khí hủy diệt hóa học không bao giờ được tìm thấy vì chúng chưa từng tồn tại.


ông Gaddafi, một fan cứng của Nasser, bắt chước ông ta đá đít ông vua của xứ lybia, lên ngôi, thấy cấp bậc đại uý hèn quá nên tự phong Đại tá như ông ông đại tá De Gaulle, thấy hèn quá nên tự phong làm tướng. Năm 2009, ông đột phá tư duy đề xuất một đồng tiền châu Phi được bảo chứng bằng vàng, gọi là “đồng dinar vàng”, dùng cho giao dịch dầu mỏ. Các email bị rò rỉ của chính ngoại trưởng Hillary Clinton xác nhận đây là LÝ DO CHỦ YẾU cho cuộc can thiệp.


Trích email: : "This gold was intended to establish a pan-African currency based on the Libyan golden Dinar." (Lượng vàng này được dự định để thiết lập một đồng tiền toàn châu Phi dựa trên đồng dinar vàng của Libya.)


Năm 2011: NATO ném bom Libya. Gaddafi bị làm nhục và giết hại. Libya hiện có các chợ nô lệ công khai. “"We came, we saw, he died!" (Chúng tôi đến, chúng tôi thấy, hắn chết!), ngoại trưởng  Clinton cười trước ống kính. Đồng dinar vàng chết theo ông ta.


Và năm nay, ông bà Maduro đang uống champagne vì được hai đàn anh Puchin và Tập cật Bình kêu đừng lo, có các anh đây thằng Mỹ không dám đụng đến sợi lông của em. Cứ tiếp tục bán dầu cho anh thì hải quân mỹ chận bắt chiếc tàu chở dầu cho Trung Cộng, dưới lá cờ xứ khác.


Với lượng dầu GẤP NĂM LẦN Saddam và Gaddafi cộng lại, ông Maduro đang tích cực bán dầu bằng nhân dân tệ và xây dựng hệ thống thanh toán nằm ngoài sự kiểm soát của đô la. Buồn đời ông ta nộp đơn gia nhập BRICS và hợp tác với Trung Quốc, Nga và Iran. Ba quốc gia đang dẫn đầu làn sóng phi đô la hóa toàn cầu. Đây là thách thức petrodollar và bị thay đổi chế độ. Lần nào cũng vậy, lịch sử đã chứng minh.


Stephen Miller (cố vấn an ninh nội địa Mỹ) đã nói thẳng điều đó hai tuần trước:“American sweat, ingenuity and toil created the oil industry in Venezuela. Its tyrannical expropriation was the largest recorded theft of American wealth and property." (Chính mồ hôi, sự sáng tạo và lao động của người Mỹ đã tạo ra ngành dầu mỏ ở Venezuela. Việc tước đoạt độc tài của nó là vụ trộm tài sản và của cải Mỹ lớn nhất từng được ghi nhận.) Việt Cộng gọi là cưỡng chế.


Ông ta không hề che giấu sự thật, tuyên bố rằng dầu mỏ Venezuela THUỘC VỀ MỸ vì các công ty Mỹ đã phát triển, khai thác nó cách đây 100 năm. Theo logic này, mọi tài nguyên từng bị quốc hữu hóa trong lịch sử đều là “trộm cắp”. Nên nhớ, thủ tướng Mosaddegh của Ba Tư, tưởng thiệt khi nghe nói đến dân chủ, ông ta được bầu theo đa số dân chủ thì buồn đời, ông ta quốc hữu hoá các giếng dầu của British Petrolum, nói dùng tiền này để phát triển đát nước thì bị CIA lật đỗ, đưa lên ông Shah tha hồ mua vũ khí của Mỹ.


Vấn đề là ngày nay Petrodollar đã và đang chết. Nga bán dầu bằng rúp và nhân dân tệ kể từ Ukraine. Saudi Arabia công khai thảo luận về thanh toán bằng nhân dân tệ. Iran đã giao dịch bằng các đồng tiền ngoài đô la trong nhiều năm. Trung Cộng xây dựng CIPS, hệ thống thay thế SWIFT của riêng họ với 4.800 ngân hàng tại 185 quốc gia. Mình đi chơi ở Phi châu và Nam Mỹ, và Trung Á thì thấy toàn là tàu khắp nơi.


BRICS đang tích cực xây dựng các hệ thống thanh toán bỏ qua đô la hoàn toàn. Dự án mBridge cho phép các ngân hàng trung ương thanh toán tức thì bằng tiền tệ nội địa. Venezuela gia nhập BRICS với 303 tỷ thùng dầu sẽ thúc đẩy quá trình này theo cấp số nhân. Đó mới là điều cuộc xâm lược này thực sự nhắm tới. Không phải ngăn chặn ma túy. Venezuela chiếm dưới 1% cocaine vào Mỹ. Nghe nói Mễ tây cơ cũng đang muốn gia nhập BRICS.


Không có bằng chứng nào cho thấy Maduro điều hành một “tổ chức khủng bố”. Không phải dân chủ vì chính phủ Trump đã tuyên bố không can thiệp vào nội bộ của mỗi quốc gia, bỏ luôn chính sách dân chủ hoá từ mấy chục năm qua. Mỹ ủng hộ Saudi Arabia hay mấy xứ xung quanh không có bầu cử. Có ông phóng viên đối lập vào toà đại sứ S.A. Rồi bà vợ hay bồ không thấy ông ta trở ra nhưng tổng thống Biden vẫn tươi cười như có bác Biden trong ngày vui đại thắng.


Đây là để duy trì một thỏa thuận 50 năm tuổi cho phép Mỹ in tiền trong khi phần còn lại của thế giới phải lao động vì nó. Nga, Trung cộng và Iran đã lên án đây là “hành động xâm lược vũ trang”. Trung Cộng là khách hàng dầu mỏ lớn nhất của Venezuela. Họ đang mất hàng tỷ đô la. Các nước BRICS đang chứng kiến một quốc gia bị xâm lược vì giao dịch ngoài đồng đô la.


Mọi quốc gia đang cân nhắc phi đô la hóa đều nhận được thông điệp: thách thức đồng đô la và sẽ có kết tương tự. Nhưng vấn đề là thông điệp đó có thể đẩy nhanh phi đô la hóa, chứ không ngăn được nó. Bởi vì giờ đây mọi quốc gia ở Nam bán cầu đều biết điều gì sẽ xảy ra nếu họ đe dọa bá quyền của đô la. Nhất là Trung Cộng ngày nay đã mạnh rồi, ấn Độ thì đi hàng đôi. Có lẻ chiến tranh sẽ xảy ra nhiều nơi như Trung Cộng-Ấn Độ-Pakistan. Hoa Kỳ cứ kêu là hoà bình ở Ukraina, nhưng mình đoán là mỹ muốn Puchin cứ tiếp tục đổ tiền vào cuộc chiến này để không giúp đỡ các xứ khác chống lại mình.


Ngày 3 tháng 1 năm 2026: Venezuela bị xâm lược. Maduro bị bắt. Ngày 3 tháng 1 năm 1990: Panama bị xâm lược. Noriega, từng là nhân viên của CIA bị bắt. Cách nhau 36 năm, gần như đúng một ngày, cùng kịch bản, cái cớ “buôn ma túy”. Lý do thật sự: kiểm soát tài nguyên chiến lược và các tuyến thương mại qua kênh Panama. Khi xưa, có nhiều tổng thống Panama bị chết bất đắc kỳ tử vì chống lại Hoa Kỳ. Việt Nam Cộng Hoà đã thấy cảnh của tổng thống Ngô Đình Diệm.


Lịch sử không lặp lại nhưng nó gieo vần. Điều gì sẽ xảy ra tiếp theo: Cuộc họp báo của Trump tại Mar-a-Lago chiều nay sẽ định hình câu chuyện. Các công ty dầu mỏ Mỹ đã xếp hàng sẵn về việc “trở lại Venezuela”. Phe đối lập sẽ được dựng lên như ở các nước khác. Dầu mỏ sẽ lại chảy bằng đô la. Venezuela trở thành một Iraq, một Libya khác.


Có người hỏi Liên Hiệp Quốc làm gì. 5 thành viên chính của LHQ là Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Trung Cộng, và Anh quốc. Một tỏng 5 nước có quyền phủ quyết. Nga đi chiếm đóng các nước khác, thiên hạ bày trò kêu này nọ nhưng rồi Nga phủ quyết là dẹp tiệm. Anh Mỹ đi chiếm đóng xứ khác, thiên hạ lên án nhưng anh mỹ phủ quyết là ngọng,… cho nên đừng nói vớ vẩn chuyện LHQ, chỉ có thằng nào mạnh thì cứ làm theo nhu cầu và quyền lợi của họ. Rồi kêu biết bố mày là ai không.


Phụ nữ Venezuela rất đẹp, đoạt giải hoa hậu hoàn vũ rất nhiều.


Nhưng đây là câu hỏi cần đặt ra: điều gì xảy ra khi Hoa Kỳ không thể ném bom để duy trì sự thống trị của đồng đô la nữa? Khi Trung Cộng có đủ đòn bẩy kinh tế để trả đũa? Khi BRICS kiểm soát 40% GDP toàn cầu và nói “không dùng đô la nữa”? Khi thế giới nhận ra petrodollar được duy trì bằng bạo lực?


Bởi vì cuộc xâm lược này là sự thừa nhận rằng đồng đô la không còn cạnh tranh được bằng chính giá trị của nó. Hy vọng Hoa Kỳ sẽ thay đổi cách vận hành kinh tế cho các thập niên khác, thay vì cứ in tiền trả cho các nước khác, khi mua hàng của họ. Nếu không thay đổi thì khi Hoa Kỳ phải ném bom các quốc gia để buộc họ dùng tiền tệ của mình, thì đồng tiền đó đã đang chết. Có thể không khi thế hệ mình còn sống nhưng chúng ta đã thấy đế quốc Anh đã sử dụng đồng bản anh khi xưa suốt thể kỷ 19 và đã banh ta lông như ngày nay. Hy vọng Hoa Kỳ sẽ thay đổi cách làm kinh tế với thời AI.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

bán bệnh tật là nghề của bác sĩ

 Bán Bệnh Tật: Phơi bày cách ngành dược phẩm khổng lồ biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân

Sống tại âu châu hơn 12 năm nhưng mình chả bao giờ đi khám bác sĩ dù có bảo hiểm y tế nhưng khi sang Hoa Kỳ, sau khi lấy vợ thì đồng chí gái kêu đi khám bác sĩ mỗi năm theo định kỳ thì phác giác ra mình có bệnh đủ thứ trò. Vợ bảo thì phải phục tùng vì phận trai thuyền quyên. Đến khi mình bị gãy chân khi leo núi, nằm trên giường, buồn đời đọc 5 cuốn sách về ung thư thì thất kinh nên từ đó tìm hiểu thêm về y tế vì không thể nào tin hoàn toàn vào bác sĩ của mình vì theo châm ngôn của y sĩ ngày nay là “giúp một bệnh nhân khỏi là mất đi một khách hàng”. Nên mình định nghĩa lại ngày nay lương y như kế mẫu. Một bệnh nhân là một con bò để bác sĩ vắt sữa 3 tháng một lần. Bò nhiều bệnh càng nhiều càng tốt.

Tìm tài liệu đọc thì khám phá ra có nhiều người lương y như từ mẫu, bị hội đồng y khoa rút bằng vì dám nói lên sự thật nên mình càng chới với. Có ông bác sĩ nào ở Úc Đại Lợi bị cấm hành nghề, phải kiện tụng đủ trò mới lấy lại được bằng hành nghề. Lý do là ông ta khuyên bệnh nhân ăn uống cẩn thận thì bị tố là không có bằng dinh dưỡng nên không được khuyên bệnh nhân. Từ đó hay kiếm phim tài liệu và sách đọc về y tế. Rất khó nuốt vì quá khô khan, không như tiểu thuyết, tình yêu vớ vẩn nhưng phải cố gắng vì sự nghiệp cách mạng để tự cứu lấy mình. Hôm nay mình kể về cuốn sách do một người úc đại lợi và một người Gia-nã-đại, viết cách đây 20 năm. Trên Prime của Amazon có khá nhiều tài liệu còn trên YouTube thì hay bị chận.


Năm 2005, cách đây 20 năm, nhà báo y tế Ray Moynihan và nhà nghiên cứu chính sách dược phẩm Alan Cassels đã xuất bản cuốn sách mang tính đột phá khiến các công ty dược phẩm không yêu thích lắm “Selling Sickness: How the World’s Biggest Pharmaceutical Companies Are Turning Us All Into Patients (tạm dịch: Bán Bệnh Tật: Các công ty dược phẩm lớn nhất thế giới đang biến tất cả chúng ta thành bệnh nhân như thế nào). Cuốn sách phê phán gay gắt cách kỹ nghệ dược phẩm mở rộng thị trường đúng theo quy trình, bằng việc quảng bá những trải nghiệm bình thường của con người thành các tình trạng bệnh lý cần điều trị bằng thuốc.


Luận điểm chính của cuốn sách bắt đầu bằng một câu trích dẫn từ một cựu giám đốc điều hành của công ty dược phẩm Hoa Kỳ Merck vào những năm 1970. Ông ấy buồn đời bị vợ la nên kêu rất thất vọng vì thuốc chỉ được bán cho người bệnh và mơ ước được sản xuất thuốc bán cho cả người khỏe mạnh, “bán cho mọi người”, giống như cách công ty Wrigley’s bán kẹo cao su. Chưa đau làm cho chúng bị đau, uống thuốc chúng càng đau thêm. 2 ông Moynihan và Cassels cho rằng tầm nhìn này đã trở thành hiện thực nhờ các chiến lược tiếp thị tinh vi: mở rộng ranh giới của bệnh tật, hạ thấp ngưỡng chẩn đoán và tạo ra nhu cầu ở những nơi trước đây không tồn tại, một quá trình mà họ và nhiều người khác gọi là bệnh hóa (disease mongering).

Các ý tưởng chính: Cách “bệnh tật” được sản xuất và bán ra


Các tác giả cấu trúc cuốn sách dưới dạng một loạt nghiên cứu trường hợp, mỗi chương phân tích một tình trạng bệnh cụ thể và thuốc liên quan để minh họa các chiến thuật mà “Big Pharma” sử dụng:

1.  Mở rộng định nghĩa về bệnh tật: Các công ty dược tài trợ cho các hướng dẫn y khoa và hội nghị đồng thuận nhằm tái định nghĩa những biến thể bình thường (như lão hóa, nhút nhát hay buồn bã) thành các rối loạn. Như Cholesterol khi xưa là chỉ số 356 là được xem là cao ngày nay thì chỉ số xuống còn 200 khiến ai cũng bị dính cả, phải uống thuốc. Các chuyên gia tham gia những hội nghị này thường có mối quan hệ tài chính với ngành công nghiệp, tạo ra xung đột lợi ích. Mình có xem một phim Ý Đại Lợi, nói về các người đi quảng bá thuốc, mua vé máy bay cho bác sĩ kê toa thuốc nhiều đi với gia đình du lịch ở các xứ khác miễn phí, có người lấy tiền bỏ túi.

2.  Hợp tác với bác sĩ và các nhóm bệnh nhân: Các hãng dược tài trợ giáo dục y khoa, hội nghị và các tổ chức vận động bệnh nhân, biến họ thành những người quảng bá (có thể vô tình hoặc cố ý). Các chiến dịch “nâng cao nhận thức” cho bệnh nhân, do các công ty dược phẩm tài trợ, giáo dục công chúng về những tình trạng “chưa được chẩn đoán đúng mức”. Lên mạng, thấy nhiều người không phải khoa học gia hay điều dưỡng viên, tuyên bố bệnh này bệnh nọ khiến người đọc hoang man, đi bác sĩ để xem xét lại. Ngày nay thì AI sử dụng các bác sĩ mà mình từng mua sách của họ rồi bựa ra đủ trò. 

Có một ông cựu bộ trưởng của Hy Lạp, nổi tiếng tỏng vụ Âu châu cứu xứ này khỏi bị phá sản. Ông này là mát-xít mình hay xem phỏng vấn ông ta về tình hình âu châu để hiểu thêm vì ông này có một cái nhìn khác với cộng đồng âu châu. Gần đây có AI làm video, bỏ ông ta lên nói đủ trò. Thiên hạ hỏi ông ta thì ông nói không phải do ông ta làm ra, họ dùng AI nhưng ông ta không làm gì được.

3.  Quảng cáo trực tiếp tới người tiêu dùng: Ở các quốc gia cho phép (như Mỹ), quảng cáo miêu tả những khó khăn đời thường thành các bệnh có thể điều trị, thúc đẩy bệnh nhân yêu cầu bác sĩ kê đơn thuốc cụ thể. Ở âu châu họ cấm được quảng cáo thuốc trên đài truyền hình còn ở Hoa Kỳ thì đủ loại nhưng 35% thời gian nói đến hệ ứng phụ, kêu cơ thể sau khi uống thuốc có hiệu ứng như này như nọ thì báo cáo ngay cho bác sĩ. Nếu họ nói đến hệ ứng phụ nghĩa là thuốc chưa đúng nhưng cứ bán ra đã.

4.  Tạo ra các rối loạn mới: Một số tình trạng gần như được “phát minh” hoặc phóng đại để phù hợp với thuốc mới, chẳng hạn biến sự cáu kỉnh nhẹ thành một rối loạn nghiêm trọng. Những chiến lược này biến những người khỏe mạnh hoặc chỉ gặp vấn đề nhẹ thành bệnh nhân suốt đời, tạo ra hàng tỷ đô la lợi nhuận đồng thời gây nguy cơ điều trị quá mức, tác dụng phụ và làm quá tải hệ thống y tế.


Các nghiên cứu trường hợp chính trong sách, em xin tóm tắc:

•  Cholesterol cao: Việc hạ thấp ngưỡng đã biến hàng triệu người thành “bệnh nhân” cần dùng statin, dù nhiều người có nguy cơ thực sự thấp. Chỉ số từ 240mg/dl còn 200mg/dl như ngày nay thì bố ai cũng bị cao mỡ, cái mất dạy là chúng ta cần mỡ để cơ thể hoạt động. Lá gan sản xuất 80% số lượng mỡ mà cơ thể cần hàng ngày.

•  Trầm cảm và thuốc SSRI: Tiêu chí mở rộng đã bệnh hóa nỗi buồn bình thường, thúc đẩy thuốc chống trầm cảm.

•  Mãn kinh và liệu pháp thay thế hormone (HRT): Được miêu tả như một bệnh thiếu hụt cần hormone dài hạn (sau này được phát hiện làm tăng nguy cơ sức khỏe). Đúng hơn là bệnh ung thư. Khi đồng chí gái đến thời kỳ mãn kinh, may có chị bạn là bác sĩ nói không nên uống. Bác sĩ biết sẽ gây ra bệnh ung thư nhưng bệnh nhân đến là cho toa về uống mệt thở.

•  Rối loạn lo âu xã hội: Sự nhút nhát được tái định khung thành tình trạng suy nhược có thể điều trị bằng thuốc như Paxil.

•  Rối loạn tăng động giảm chú ý (ADHD): Mở rộng sang người lớn, mở rộng thị trường thuốc kích thích.

•  Hội chứng ruột kích thích, loãng xương và rối loạn khó chịu tiền kinh nguyệt: Những vấn đề nhẹ hoặc phổ biến được nâng lên thành cần dùng thuốc.


Các tác giả dựa trên phỏng vấn người trong ngành, bác sĩ, nhân viên tiếp thị và các nguồn học thuật để cho thấy cách những nỗ lực này làm mờ ranh giới giữa bệnh thực sự và các “yếu tố nguy cơ” mang lại lợi nhuận. ông Ray Moynihan, cây bút thường xuyên của BMJ và Lancet, cùng ông Alan Cassels, chuyên gia Canada về chính sách dược phẩm, kết hợp báo chí điều tra với phân tích dựa trên bằng chứng. Tác phẩm của họ đã phổ biến khái niệm “bệnh hóa” và ảnh hưởng đến các cuộc tranh luận toàn cầu về quá trình y tế hóa quá mức.


Hai thập kỷ sau, cuốn Selling Sickness vẫn còn nguyên giá trị trong bối cảnh lo ngại liên tục về ảnh hưởng của ngành dược khoa từ tiếp thị opioid đến các mở rộng hiện đại như ADHD ở người lớn hay thuốc điều trị béo phì. Cuốn sách kêu gọi sự hoài nghi đối với tin tức y tế, hướng dẫn độc lập và việc đánh giá lại điều gì thực sự cấu thành “bệnh tật” trong thời đại y học bị chi phối bởi lợi nhuận. Ở các xứ mà người Mỹ hay đến vào mùa thu để xem lá rụng, người dân địa phương bị nghiện thuốc Opiod.


Một điểm khác như bệnh loảng xương. Đầu thập niên 1990, một công ty dược phẩm chế tạo ra một loại thuốc trị bệnh loảng xương, mà dạo ấy chưa được hiểu rõ lắm. Các đại diện các công ty dược phẩm và bác sĩ  họp nhau tại cơ quan WHO để hội thảo, và quyết định thế nào là xương chắt là bình thường. Họ xếp loại ra sao mà 50% phụ nữ trên 70 tuổi bị bệnh loảng xương. Xem như trong vòng một đêm , 50% phụ nữ trên 70 tuổi thức dậy là có bệnh loảng xuống phải uống thuốc.


Các công ty này tặng miễn phí các y cụ cho các phòng mạch bác sĩ hay nhà thương để khám mật độ xương. Cái mất dạy là sau khi uống thuốc này sau nhiều năm khiến xương của bệnh nhân dòn và dễ gãy hơn. Chán Mớ Đời (còn tiếp)


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

4 mùa chính trị chửi nhau


 4 mùa chính trị

Có ông Đại tá KGB của Liên sô đào thoát lâu rồi vào thập niên 70 của thế kỷ trước và giải thích trong một buổi phỏng vấn khi xưa, nay YouTube mới được tải lên nên xem để nghĩ và suy luận về hiện tình đất nước ngày nay. Phe cực hữu thì sẽ nói đúng rồi còn phe cấp tiến sẽ bài bác. Mình ghi lại đây để các bác xem có đúng như ông ta nói hay không. Nên nhớ giới tinh hoa, đa số là giáo sư trong đại học, vẫn muốn sử dụng chủ nghĩa Mát-xít, để thay đổi xã hội tây phương.


Ông Yuri Bezmenov (tên giả Tomas Schuman), một cựu nhân viên KGB đào tẩu sang Phương Tây năm 1970, đã mô tả chi tiết 4 giai đoạn phá hoại ý thức hệ (ideological subversion) trong các buổi phỏng vấn và bài giảng những năm 1980. Đây là chiến lược chiến tranh tâm lý dài hạn của Liên Xô nhằm lật đổ một quốc gia từ bên trong mà không cần chiến tranh trực tiếp. Ông nhấn mạnh rằng 85% hoạt động KGB tập trung vào “các biện pháp tích cực” (active measures) này, chỉ 15% là gián điệp cổ điển.

Xin tóm tắt những gì ông Yuri Bezmenov giải thích:

1.  Giai đoạn 1: Phi đạo đức hóa (Demoralization) – Thời gian: 15–20 năm
Đây là giai đoạn dài nhất và quan trọng nhất. Mục tiêu là làm suy đồi nền tảng đạo đức, văn hóa và tinh thần của xã hội Hoa Kỳ hay các nước khác ở tây phương. Chúng ta thấy người Mỹ xuống đường chống đối chiến tranh Việt Nam. Mình theo dõi các trang nhà của cựu quân Nhân Mỹ tại Việt Nam thì ai nấy đều kêu chúng ta thất bại không tại chiến trường mà tại Hoa Kỳ. Có 3 tổng thống mỹ đã tránh bị đưa qua Việt Nam như George Bush COn, Bill Clinton và Donald Trump. Nói chung, xứ nào cũng vậy, con nhà giàu thì tránh ra chiến trường. Chỉ có con nhà nghèo được tuyên dương tổ quốc ghi ơn.

  Tác động chính: Giáo dục, tôn giáo, truyền thông, cấu trúc xã hội, quan hệ lao động, pháp luật.

•  Phương pháp: Thâm nhập vào hệ thống giáo dục để dạy thế hệ trẻ những ý tưởng chống lại giá trị truyền thống (ví dụ: coi chủ nghĩa yêu nước là lỗi thời, tôn giáo là mê tín, gia đình truyền thống là lạc hậu). Làm méo mó thông tin qua truyền thông, khuyến khích chủ nghĩa tiêu dùng, nghiện ngập, phân biệt đối xử ngược.

•  Kết quả: Con người mất khả năng đánh giá thông tin đúng sai, không còn tiêu chuẩn đạo đức, dễ bị thao túng. Ông Bezmenov nói rằng đến những năm 1980, giai đoạn này ở Mỹ đã hoàn tất, một người bị phi đạo đức hóa sẽ bác bỏ sự thật dù có bằng chứng rõ ràng. Khi mình sang Hoa Kỳ thì người Mỹ rất chuộng tôn giáo lắm nhưng từ từ họ bớt đi nhà thờ, có lẻ mất niềm tin về các vụ xì-can-đan về các linh mục hay mục sư ấu dâm nhưng cũng có thể xã hội Hoa Kỳ đã được xâm nhập bởi các ý tưởng phá hoại của Liên Xô như ông cựu KGB giải thích. Thật ra thì ông này thuộc dạng cấp thấp trong hàng ngủ KGB nên không thể vội vàng tin ngay. Thường người ta hay lấy tin tức rồi “chia verbe” cho những gì họ tin vào, sẽ mất đi sự bình tỉnh để nhìn rõ vấn đề.

•  Ông Bezmenov nhấn mạnh: “Exposure to true information does not matter anymore” (Tiếp xúc với thông tin thật cũng không còn ý nghĩa). Ngày nay, phải công nhận chúng ta không còn tin vào tin tức do đài truyền hình hay báo chí phát tin. Khi xưa, mình mua báo hàng ngày để đọc hay xem CNN hay Fox nay thì chịu vì không còn hợp quan điểm của mình. Chúng ta chỉ tin vào những tin tức hợp với nhãn quan chính trị, tôn giáo của mình. Ai cấp tiến thì đọc xem tin tức của phe Dân Chủ, ai theo Cộng Hoà thì cứ đọc tin tức MAGA. Rồi đưa lên mạng bú xua la mua. Rất nguy hiểm như con ngựa bị che mắt nên cứ chạy về hướng trước.


2.  Giai đoạn 2: Bất ổn định hóa (Destabilization) (Thời gian: 2–5 năm). Tập trung vào các cấu trúc thiết yếu của xã hội: Kinh tế, quan hệ ngoại giao, quốc phòng, pháp luật và trật tự.

•  Phương pháp: Tạo xung đột nội bộ, khuyến khích các nhóm cực đoan, làm suy yếu chính quyền, gây lạm phát, đình công, bất ổn xã hội. Hồi mình ở Pháp, cứ thấy các đoàn thể lao động đình công mút mùa lệ thuỷ. Nay lên mạng xã hội pháp là cứ thấy chửi bới nhau, có quá nhiều đảng phái. Hoa Kỳ thì mấy năm gần đây có vài nhóm quá khích, nghe nói họ mới bắt được vài tên muốn đánh bom nhân dịp đầu năm nay. Lâu lâu có vụ xả súng bắn ở trường học không biết có phải bị ảnh hưởng bởi những gì ông KGB kể.

•  Kết quả: Xã hội mất khả năng tự bảo vệ, người dân bắt đầu coi kẻ thù là “lựa chọn thay thế” (ví dụ: “Thà đỏ còn hơn chết”). Mình có đọc phỏng vấn của mấy người trẻ ở Đức quốc, họ cho rằng thà để cho Puchin chiếm đóng còn hơn là phải ra trận. Ngày xứ Đức quốc này mà tinh thần yêu nước đã bị hủy diệt. Hôm qua đọc báo, nghe nói dân đức của Đông Đức khi xưa, muốn trở lại thời xưa.


3.  Giai đoạn 3: Khủng hoảng (Crisis), Thời gian: Chỉ 6 tuần
Điểm bùng nổ: Bạo lực, hỗn loạn, sụp đổ kinh tế hoặc chính trị. Năm 1968, ở Pháp có vụ “Mai 68”, được xem là cách mạng văn hoá, sinh viên, học sinh xuống đường bạo động khiến chính quyền của tổng thống Đe Gaulle lung lay, ông ta phải lên đài truyền hình nói sẽ cải cách mới chấm dứt. Thêm hè nên dân pháo ngưng vụ làm cách mạng đi chơi cái đã.

•  Người dân hoảng loạn, kêu gọi “người cứu tinh”, có thể là lãnh đạo độc tài hoặc mời gọi sự can thiệp từ bên ngoài. Chúng ta thấy vụ xảy ra tại Georgia và Ukraine. Gần đây tại Hoa Kỳ, các nhóm AntiFa này nọ xuống đường, đập phá này nọ. Chính phủ Trump cho lính đến dẹp loạn và tuyên bố nhóm Antifa là khủng bố mới thấy trật tự lại. Cho thấy sự cương điều có thể đưa đến chế độ độc tài. Cái này rất nguy hiểm khi chúng ta nghe phái MAGA chửi bới các ông bà toà ra lệnh ngưng dẫn độ người di dân lậu. Nhưng đó là những gì hiến pháp Hoa Kỳ cho phép. Có thể các quan toà chả để ý đến các người di dân lậu bị truật xuất nhưng họ có lợi thế để thiên hạ biết đến. Cho thấy 3 cơ quan chính của Hoa Kỳ có quyền kiểm soát nhau, tránh tình trạng một chế độ độc tài như các nước khác. Phải đưa lên tối cao pháp viện để giải quyết.

•  Đây là lúc có thể xảy ra nội chiến hoặc xâm lược mà không gặp kháng cự mạnh. Chính quyền ra tay nhanh và rất mạnh tay nay chả ai lo nữa.


4.  Giai đoạn 4: Bình thường hóa (Normalization)  (Thời gian: Vô hạn)
Ý thức hệ của kẻ phá hoại trở thành “bình thường mới”.

•  Dập tắt mọi bất đồng, củng cố quyền lực mới. Xã hội ổn định dưới chế độ mới, thường là chủ nghĩa xã hội chủ nghĩa hoặc tương tự. Ngày nay điển hình là nước El Salvador, băng đảng lộng hành, rồi một ông lên cho vào tù hết. Quan toà chống đối, giải thể chức luôn nhưng ít ai nói đến nhưng sự độc tài bắt đầu, bù lại người dân sống không lo âu vì băng đảng nữa.

•  Bezmenov ví dụ các nước Đông Âu sau Thế chiến II: Sau khi Liên Xô kiểm soát, họ gọi đó là “bình thường hóa”. Cứ xem mùa xuân Prague và năm 1956 tại Budapest khi xe tăng của Liên Xô tiến vào hai nước này, bắt nhốt hết những người chống đối. Khi thấy quan tài, người dân lo sợ, hết dám chống đối, từ từ bình thường hoá sự đàn áp của các lãnh đạo cộng sản.


Ngày nay, bên Trung Cộng, có phong trào của giới trẻ là nằm lì, không muốn lao động. Thứ nhất là họ bị thất nghiệp khá nhiều nghe đâu 30%. Một cách im lặng chống lại chỉ thị của nhà nước. Hay cách đây 35 năm, sinh viên xuống đường biểu tình, họ cho xe tăng ra cán và bắn chết đám biểu tình khiến thiên hạ sợ nên im luôn. Hôm trước, mình có xem phim tài liệu khi ở Đài Loan, có video xét xử ông tướng nào không tuân lệnh cho lính bắn vào dân, bị nhốt ngay đưa ra toà,…

Ông Bezmenov cảnh cáo rằng quá trình này diễn ra công khai, nhưng xã hội được KGB nhắm thường không nhận ra cho đến khi quá muộn. Lời ông vẫn được tranh luận ngày nay, một số coi là tiên tri, số khác cho là phóng đại thời Chiến tranh Lạnh. Ai buồn đời thì xem đường dẫn. Mình đọc vài còm thì có một còm của một người ngoại quốc, cho biết họ đã từng sinh sống tại Hoa Kỳ và ngày nay cho rằng đã quá trễ để Hoa Kỳ thay đổi. Liên Sô đã thành công dù đã thua cuộc chiến tranh lạnh nhưng cuộc chiến tranh chính trị thì đã thắng, tuy trễ hơn. Tương tự khi xưa Việt Nam Cộng Hoà bị thua tại Hoa Kỳ, khi người Mỹ không còn chấp nhận kéo dài cuộc chiến. Không muốn viện trợ Việt Nam Cộng Hoà nữa.


 https://youtu.be/0fx1BYwCwCI?si=7XTiGIraGh7Sl8ne

Ai buồn đời thì xem ông giáo sư tại MIT, mình theo dõi ông ta khá lâu tuy thiên tả nhưng để hiểu thêm vấn đề. Chính sách tại Hoa Kỳ, và sự lũng đoạn của chính quyền với người Mỹ. Nên đọc và xem thuyết trình cả hai phía để có một nhận định riêng cho mình.

https://youtu.be/hZnuc-Fv_Tc?si=4VS_DCAlvyqpP5jg


Ví dụ hiện đại về giai đoạn Demoralization (Phi đạo đức hóa). Theo ông Yuri Bezmenov, giai đoạn Demoralization là giai đoạn dài nhất (15-20 năm), nhằm làm suy đồi nền tảng đạo đức, văn hóa, giáo dục và truyền thông của xã hội. Mục tiêu là làm con người mất khả năng phân biệt đúng-sai, bác bỏ sự thật dù có bằng chứng rõ ràng, và trở nên dễ bị thao túng. Ông nhấn mạnh rằng giai đoạn này tập trung vào giáo dục (thay đổi thế hệ trẻ), tôn giáo (làm suy yếu niềm tin), truyền thông (méo mó thông tin), và cấu trúc xã hội (gia đình, quan hệ lao động). Lý dị là một điểm yếu trong cái móc xích tạo dựng một xã hội lành mạnh. Bao nhiêu gia đình đổ vỡ nên khó có một xã hội đồng nhất.


Ông ta có nói đến ngày nay, nếu nói đến trại cải tạo thì người Mỹ trẻ khó tin và sự việc. Tương tự giới trẻ ngày nay ở Việt Nam chưa bao giờ nghe đến hơn 1 triệu người quân nhân, công chức của Việt Nam Cộng Hoà bị đày trong các tù cải tạo. Ngoại trừ gia đình nào có cha ông bị đi tù.


Ngày nay, nhiều người áp dụng mô hình của Bezmenov vào các hiện tượng xã hội ở Mỹ và phương Tây, coi chúng là ví dụ của Demoralization. Thật ra đây là quan điểm chủ quan, thường từ góc nhìn bảo thủ, và bị chỉ trích là phóng đại hoặc áp dụng sai lý thuyết Chiến tranh Lạnh vào thay đổi xã hội tự nhiên. Dưới đây là một số ví dụ thường được nhắc đến:

1.  Thay đổi trong giáo dục và trường học

•  Nhiều ý kiến cho rằng chương trình học hiện đại nhấn mạnh “tư tưởng thức tỉnh” (woke culture), lý thuyết giới tính (gender theory), và lý thuyết chủng tộc phê phán (critical race theory), làm suy yếu giá trị truyền thống như yêu nước, gia đình hạt nhân, và đạo đức Judeo-Christian. Qua âu châu mình thấy bạn bè khi xưa, rủ mình đi nhà thờ này nọ, nay chả thấy họ đi lễ hay đọc kinh cảm ơn thiên chúa đã cho bữa ăn hằng ngày. 30% giới trẻ không đi nhà thờ.

•  Ví dụ: Các cuộc tranh cãi về sách giáo khoa dạy về lịch sử Mỹ như “dự án 1619” (nhấn mạnh vai trò nô lệ), hoặc chương trình giáo dục giới tính từ sớm, được coi là làm thế hệ trẻ nghi ngờ lịch sử và giá trị quốc gia.

•  Bezmenov từng nói giáo dục là “nền tảng” của giai đoạn này, vì nó ảnh hưởng đến một thế hệ đầy đủ.


2.  Suy giảm niềm tin vào truyền thông và sự thật

•  Hiện tượng “tin giả” (fake news), phân cực truyền thông xã hội (social media polarization), và mất lòng tin vào báo chí chính thống. Nhiều người bác bỏ sự thật dù có bằng chứng (ví dụ: tranh cãi về bầu cử 2020 hoặc vaccine COVID), giống câu nói nổi tiếng của Bezmenov: “Exposure to true information does not matter anymore.” Vụ này rất nguy hiểm vì chúng ta cứ tiếp tục ăn những thức ăn mình thích, từ từ sẽ bội thực. Như bà viết diễn văn cho tổng thống Reagan nói, bà ta phải đọc hai bên để có tinh thần ổn định, tìm được chỗ đứng ở giữa. Nếu không sẽ trở thành bò đỏ và bò vàng. Chả ai nghe ai.

•  Mất lòng tin vào chuyên gia và tổ chức (theo khảo sát Edelman Trust Barometer 2025, người dân tin doanh nghiệp hơn chính phủ về sự thật). Vụ này thì mình hết tin vào chính phủ khi họ loan tin này nọ.


3.  Thay đổi văn hóa xã hội và gia đình

•  Khuyến khích chủ nghĩa cá nhân cực đoan, phân chia giới tính/giới tính sinh học, và suy yếu cấu trúc gia đình truyền thống (tỷ lệ ly hôn cao, sinh ít con). Mình không có tài liệu nên không rõ vụ này nhưng tự do cá nhân, tài chính, luật lệ phổ biến, bảo vệ người phụ nữ nên đàn ông phải chu cấp nên đưa đến ly dị dễ dàng. Trung Cộng ngày nay ra luật mới, phụ nữ khi ly dị chồng Không được chia tài sản, hy vọng người đàn bà sẽ suy nghĩ kỹ lại trước khi đâm đơn ly hôn.

•  Phong trào LGBTQ+ và “woke culture” được một số coi là làm suy đồi đạo đức truyền thống, tạo xung đột nội bộ (ví dụ: tranh cãi về quyền transgender trong thể thao hoặc giáo dục). Vụ này thì khá phức tạp nhưng cần suy nghĩ chính chắn trước khi phán quyết.

•  Suy giảm vai trò tôn giáo: Nhiều người trẻ ở Mỹ không theo tôn giáo nào (nones), coi tôn giáo là “mê tín”.


4.  Phân cực chính trị và mất đoàn kết quốc gia

•  Xã hội Mỹ chia rẽ sâu sắc về các vấn đề như di cư, biến đổi khí hậu, quyền súng, dẫn đến người dân không còn đồng thuận về giá trị cốt lõi. Một số áp dụng Bezmenov để nói Mỹ đang ở giai đoạn cuối Demoralization hoặc chuyển sang Destabilization. Có thể Nga của Puchin tiếp tục gây ảnh hưởng bằng cách mua ảnh hưởng, cũn gcos thể Trung Cộng cũng sử dụng chính sách này để làm suy giảm Hoa Kỳ như bán rẻ Fentanyl cho nhóm buôn ma tuý của Mễ tây cơ để đầu độc giới trẻ Hoa Kỳ. Chúng ta thấy con trai của đạo diễn phim “Harry meet Sally” bij nghiện ngập, xin tiền để mua ma tuý, không được nên giết cả cha lẫn mẹ.

•  Nhiều nhà sử học và chuyên gia coi Bezmenov phóng đại vai trò KGB (ông chỉ là nhân viên cấp thấp, không phải lãnh đạo). Lý thuyết của ông bị dùng để giải thích mọi thay đổi xã hội là “âm mưu cộng sản”, trong khi thực tế là do tiến bộ tự nhiên, công nghệ, và bất bình đẳng kinh tế.

•  Không có bằng chứng cụ thể về kế hoạch subversion hiện đại từ Nga/Trung Quốc theo đúng 4 giai đoạn, dù có “active measures” như disinformation trên mạng xã hội.


Có tin này mình đọc nhưng kiểm chứng. Ai biết thì cho mình xin. Họ nói về người Tàu mua các trường học tư của Hoa Kỳ khắp 19 tiểu bang.


Chinese owned groups have been buying up schools across the United States, including Spring Education Group with ownership of 240 schools across 19 states. 


They're funded by a Chinese investment firm whose CEO has been described as, quote, an ardent Chinese nationalist.”


“They're not here to make money. They're not invest to make money. They're here to take over American education and turn our classroom into the little red classroom and our education into American education with CCP characteristics — Communism is the solution to the problems that capitalism created in America. That is what they want, and that is very, very dangerous”


Mình xin phép mở ngoặc để Giới thiệu về Dự án 1619, gây tranh cãi rất xôi động.


Dự án 1619 (The 1619 Project) do Tạp chí The New York Times (NYT) khởi xướng, được ra mắt vào tháng 8 năm 2019. Dự án nhằm tái định lại khung lịch sử Mỹ bằng cách đặt hậu quả của chế độ nô lệ và đóng góp của người Mỹ da đen vào trung tâm của câu chuyện quốc gia. Tên gọi lấy từ năm 1619, đánh dấu 400 năm kể từ khi những người châu Phi bị bắt làm nô lệ đầu tiên đến thuộc địa Virginia (lúc đó là thuộc địa Anh). Hôm qua thấy video clip của ông bác sĩ da đen, từng làm bộ trưởng nhà cửa dưới thời ông Trump kỳ trước, kêu nô lệ có từ ngàn xưa. Đó là lịch sử, chúng ta không thể nào lấy lịch sử, buộc con cháu chúng ta phải trả nợ sự việc cách đây mấy trăm năm. Dự án được hình thành bởi nhà báo Nikole Hannah-Jones, với sự tham gia của các nhà văn, nhà thơ và nghệ sĩ chủ yếu là người Mỹ gốc Phi, nhằm nhấn mạnh góc nhìn từ cộng đồng da đen. Nó được hỗ trợ bởi Trung tâm Pulitzer và một nhóm sử gia từ Viện Smithsonian để nghiên cứu và kiểm chứng sự kiện.

Mục tiêu chính là kể lại lịch sử chế độ nô lệ Mỹ một cách chân thực, thường bị bỏ qua hoặc bóp méo trong giáo dục phổ thông, và khuyến khích thảo luận công khai về di sản của nô lệ hóa đối với xã hội hiện đại. Hannah-Jones đã nhấn mạnh rằng dự án không phải là lịch sử thay thế mà là cách nhìn toàn diện hơn về nguồn gốc nước Mỹ. 

Chuyện này mình đồng tình vì lịch sử Hoa Kỳ được giảng dạy không đúng lắm. Họ không nói đến người da đỏ bị bắt gửi về âu châu làm nô lệ. Dạy cho chúng ta biết sự thật, còn bắt trả nợ cho hậu duệ của người nô lệ thì mệt.

Dự án bắt đầu với một ấn bản đặc biệt 100 trang của Tạp chí NYT vào ngày 18/8/2019, bao gồm 10 bài luận, một bài luận ảnh, và các tác phẩm thơ ca cùng tiểu thuyết. Các chủ đề chính bao gồm các chế độ nô lệ ảnh hưởng đến các khía cạnh của xã hội Mỹ hiện đại:  

•  Dân chủ và lý tưởng lập quốc: Bà Nikole Hannah-Jones lập luận rằng lý tưởng dân chủ của Mỹ là “giả tạo” khi được viết ra, và người Mỹ da đen đã đấu tranh để biến chúng thành sự thật. Dân chủ nhưng người Mỹ da đen không được lấy người da trắng, hay ăn chung ngồi chung trên xe buýt. Ban đầu, bài viết cho rằng một lý do chính khiến thuộc địa Mỹ cách mạng là để bảo vệ chế độ nô lệ. Chủ nghĩa tư bản: Matthew Desmond mô tả chủ nghĩa tư bản Mỹ tàn bạo bắt nguồn từ đồn điền nô lệ, nơi lao động cưỡng bức và bạo lực tạo nền tảng cho kinh tế hiện đại. Họ quên nói đến là chính tư bản mới tạo ra sự phát triển liên tục, nuôi người dân ăn no. Mình có kể chủ nghĩa tư bản khởi đầu từ bên Hoà Lan, khi họ bắt đầu gửi các tàu đi kiếm các nguyên liệu ở các nơi xa. Còn sự bạc đãi, đàn áp nhân công này nọ thì chúng ta đã thấy xuất hiện từ cổ đại. Khi người la mã chinh phục được xứ nà thì bắt làm nô lệ.

•  Y tế và phân biệt chủng tộc: Linda Villarosa thảo luận về các huyền thoại về sự khác biệt sinh học giữa các chủng tộc, được dùng để biện minh cho nô lệ và vẫn tồn tại trong y khoa ngày nay. Âm nhạc và văn hóa: Wesley Morris khám phá cách âm nhạc da đen như Jazz, Blue đại diện cho sự tự do nghệ thuật, trong khi Khalil Gibran Muhammad nói về lịch sử đường (sugar) như “vàng trắng” thúc đẩy nô lệ. Giao thông và phân cách: Kevin Kruse liên hệ tắc nghẽn giao thông ở Atlanta với di sản phân biệt chủng tộc. Nói cho cùng thì nếu không có nô lệ làm nền tảng cho sự phát triển, khai phá nong nghiệp thì có lẻ Hoa Kỳ sẽ không giàu mạnh như ngày nay.

•  Chăm sóc sức khỏe: Jeneen Interlandi giải thích lý do Mỹ thiếu chăm sóc y tế phổ quát là do chính sách sau Nội chiến nhằm loại trừ người da đen. Hệ thống tù tội: Bryan Stevenson liên kết sự tàn bạo trong tù tội với nỗi sợ hãi người da đen từ thời nô lệ. Cái này mình không đồng ý vì lực sử kể rằng khi họ cho đào con kênh ở Louisiana thì họ thích mướn dân di cư từ Ái Nhĩ Lan, lý do là nếu mướn nô lệ htif khi mọt nô lệ bị bệnh hay tai nạn chết thì họ phải đền cho chủ người nô lệ $300, tỏng khi người di dân Ái Nhỉ Lan thì chả đền gì cả, chỉ đem đi chôn, rồi mướn người khác.

•  Khoảng cách giàu nghèo: Trymaine Lee thảo luận về khoảng cách tài sản do phân biệt đối xử, redlining (phân biệt địa lý), và cướp đoạt. Mình thấy rõ vấn đề như luật GI Act, nhằm giúp các cựu chiến binh, được mượn tiền đi học hay mua nhà không cần tiền đặt cọc. Chỉ có 5% người da đen được hưởng các phúc lợi của chương trình này. Các ngân hàng không cho mượn tiền khi họ mua nhà trong khu vực đa số có người da đen ở hoặc cho vay tiền lười cao hơn. Có thể văn hoá người da đen không suy nghĩ như người da trắng. Ngược lại, mình đọc nhiều sách của một giáo sư đại học, người da đen. Ông này, cho biết khi còn trẻ là một người theo chủ nghĩa mát xít, nay ông ta theo bảo thủ và lên tiếng cho rằng đảng Dân CHủ sử dùng chiêu bài người da đen để hưởng lợi, và khiến người da đen nạn nhân hoá họ và chỉ trông mong được đền bù vì cha ông khi xưa la nô lệ. Ông ta cho biết sinh viên học sinh da đen khi xưa rất giỏi nhưng từ khi Civil Act được ra đời thì có sự tụt hậu và gia đình người da đen bị banh ta lông. Mình có kể trên bờ lốc. Rất dài để tóm tắc lại đây.

Ngoài ra, Dannielle Bowman nói về các địa điểm buôn nô bị lãng quên, và thơ ca của Clint Smith về Hành trình Giữa (Middle Passage). Dự án còn bao gồm phần đặc biệt trên báo chủ nhật với Smithsonian về buôn nô xuyên Đại Tây Dương, và bài viết về thể thao chuyên nghiệp.

Từ năm 2019 đến 2025, dự án đã mở rộng đáng kể: 

•  Chương trình giáo dục: Trung tâm Pulitzer phát triển chương trình giảng dạy miễn phí cho trường học, với kế hoạch bài học cho các cấp độ khác nhau. Hàng ngàn bản tạp chí được phân phối đến trường học, bảo tàng và thư viện. Nhờ đó mà mình mò được tài liệu về lịch sử Hoa Kỳ trung thực hơn. Chúng ta thấy họ phá tượng của tướng Robert Lee và chống đối lá cờ miền nam này nọ là từ dự án này.

•  Podcast: Series âm thanh “1619” trên podcast The Daily, sau đó trở thành series riêng vào năm 2020.

•  Sách: Năm 2021, xuất bản The 1619 Project: A New Origin Story (mở rộng các bài luận thành sách dài), và sách thiếu nhi The 1619 Project: Born on the Water của Hannah-Jones và Renée Watson. Ai buồn đời thì nên kiếm đọc.

•  Phim tài liệu: Tháng 1/2023, Hulu phát hành series 6 tập do Hannah-Jones sản xuất, thắng giải Emmy cho Phim tài liệu xuất sắc năm 2024.

•  ai buồn đời muốn tìm hiểu thêm thì theo dõi đường dẫn các hội thảo như “Live at the Smithsonian” và tài liệu giáo dục tại 1619education.org.

Dự án nhận được nhiều lời khen từ giới truyền thông và học thuật vì đã làm nổi bật vai trò trung tâm của nô lệ và phân biệt chủng tộc trong lịch sử Mỹ. Nikole Hannah-Jones nhận Giải Pulitzer cho Bình luận năm 2020 nhờ bài luận mở đầu, được ca ngợi vì đã thúc đẩy cuộc trò chuyện công khai về nô lệ. Viện Báo chí Arthur L. Carter của Đại học New York xếp nó vào top 10 tác phẩm báo chí thập niên 2010-2019. Các nhà phê bình như Alexandria Neason (Columbia Journalism Review) và Ellen McGirt (Fortune) gọi nó là “sâu sắc” và “cần thiết” để sửa chữa câu chuyện nguồn gốc Mỹ.  Các chính trị gia Dân chủ như Kamala Harris khen ngợi nó là “cuộc tính toán mạnh mẽ”.

Dự án trở thành trung tâm của “cuộc chiến lịch sử” ở Mỹ, bị chỉ trích từ cả cánh tả và hữu. Các sử gia như Gordon S. Wood, James M. McPherson, Sean Wilentz, Victoria E. Bynum và James Oakes gửi thư cho NYT năm 2019, khen ngợi nỗ lực về nô lệ nhưng phản đối các tuyên bố như Cách mạng Mỹ nhằm bảo vệ nô lệ, cho rằng thiếu bằng chứng và thay thế hiểu biết lịch sử bằng ý thức hệ. Khi xưa, mình học lịch sử mỹ thì nói là nội chiến vì muốn bãi bỏ chế độ nô lệ nhưng trên thực tế là không. Mình có kể rồi. Họ tranh luận rằng không có thuộc địa nào bày tỏ lo ngại về việc Anh bãi bỏ nô lệ năm 1776, vì phong trào bãi nô chưa tồn tại.

Các phê bình khác bao gồm: Xem 1619 là “nguồn gốc thực sự” của Mỹ, bỏ qua nô lệ sớm hơn (như năm 1526 ở Florida) và nô lệ giữa người bản địa. Bóp méo lịch sử chống nô lệ, kinh tế nô lệ, và vai trò của Abraham Lincoln (bị miêu tả như ủng hộ chủ nghĩa da trắng thượng đẳng). Tư tưởng thiên vị, xóa nhòa lịch sử chống nô lệ và bóp méo nô lệ như đặc trưng duy nhất của Mỹ hoặc tư bản. 

Cánh hữu chỉ trích mạnh mẽ: Newt Gingrich gọi là “tuyên truyền”, Ted Cruz so sánh với “tuyên truyền”, Donald Trump thành lập Ủy ban 1776 năm 2020 để thúc đẩy giáo dục yêu nước (bị Biden hủy năm 2021).  Đến năm 2021, 27 bang Mỹ giới thiệu dự luật cấm sử dụng trong trường học, như Florida dưới thời Ron DeSantis cấm qua luật chống lý thuyết chủng tộc phê phán. Ông thần thống đốc Florida, có lẻ sẽ ra tranh cử vào năm 2028 nên dạo này thấy ông ta lên đài khá nhiều. Ông ta kêu gọi bỏ đóng thuế điền địa. Cái này thì mình nhất trí. Nhưng thành phố lấy tiền đâu để trả chi phí. 

Biên tập viên Jake Silverstein bảo vệ dự án năm 2019, từ chối sửa chữa lớn và gọi nó là “dịch vụ công chúng đáng khen”. Năm 2020, NYT chỉnh sửa bài của Hannah-Jones để thêm “một số thuộc địa” thay vì “các thuộc địa”, và xóa cụm “hiểu 1619 là nguồn gốc thực sự” khỏi trang web mà không ghi chú.  Hannah-Jones giải thích trên Twitter rằng chỉnh sửa là nhỏ, và dự án không thay đổi nội dung chính. Các lãnh đạo NYT như Dean Baquet và A.G. Sulzberger ủng hộ nó giữa tranh cãi nội bộ.

Tóm lại, các ví dụ trên là cách nhiều người theo MAGA áp dụng lý thuyết Bezmenov vào hiện tại, coi chúng là dấu hiệu xã hội đang bị “phi đạo đức hóa”. Mình nghĩ phức tạp hơn nhưng có ông mỹ tên Gus Hall, tổng thư ký đảng cộng sản Hoa Kỳ, đã từng ra tranh cử tổng thống Hoa Kỳ, đạt được trên 1 triệu phiếu. Ông ta tuyên bố sẽ không tranh cử nữa vì đảng Dân Chủ Hoa Kỳ sẽ thực hiện chương trình của đảng cộng sản Hoa Kỳ. Chán Mớ Đời 


Chúng ta bị dẫn dắt bởi truyền thông do giới cầm quyền nắm giữ nên cứ tha hồ đọc Fake News rồi chửi nhau cho có vẻ dân chủ. Chán Mớ Đời 


Mình nghĩ một quốc gia thường được thành lập dựa trên một huyền thoại như Việt Nam về con rồng cháu tiên, Nhật Bản là con của thái dương thần nữ,…Hoa Kỳ thì được xây dựng dựa trên nền Cộng Hoà và lịch sử được viết bởi kẻ thắng cuộc nhưng dần dần hậu thế sẽ đặt câu hỏi và tìm sự thật. Tương tự Việt Nam được thống nhất sau năm 1975, nhưng ngày nay người ta bắt đầu tìm tòi về Việt Nam Cộng Hoà, đặt lại câu hỏi về ngọn đuốc cách mạng, văn hoá đồi trụy,…


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 


Nguyễn Hoàng Sơn