Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lịch sử. Hiển thị tất cả bài đăng

Nhiếp ảnh gia Ma

 Chuyện thời Tây bị đô hộ, nhiếp ảnh gia ma

Khi xưa, mình ở Pháp quốc thì xem truyền hình tây hay có vụ tranh cãi giữa người Pháp, người ta hay hỏi “ông hay bà làm gì trong thời gian bị Đức quốc xã chiếm đóng”. Vấn đề là trong thời gian Đức quốc xã chiếm đóng thì có phân nữa nước Pháp, hợp tác với quân đội chiếm đóng, do thống chế Pétain lãnh đạo mà người Pháp hay gọi chính quyền Vichy. Chính quyền này vẫn cai quản Việt Nam đến khi mấy ông người Nhật đánh chiếm. 

Đường Rivoli, gần viện bảo tàng nơi mình đi học mỗi ngày phải đi qua

Nhưng sau cuộc chiến thì đa số người Pháp đều vỗ ngực tự xưng mình thuộc thành phần kháng chiến quân với đại tá De Gaulle từ Luân Đôn. Nghe người Pháp kể là sau khi được quân đội mỹ giải phóng thì có một vài người nằm trong tổ chức kháng chiến, nên được người thân hay bạn bè năn nỉ, báo cáo là họ cũng có giúp đỡ kháng chiến nên cả nước pháp đều thành viên của kháng chiến chống Đức quốc xã.  Chỉ có mấy cô, mấy bà có con với lính Đức quốc xã là lãnh đủ. Mình có kể vụ này rồi, sau chiến tranh người ta khám phá ra có đến hơn 200,000 người Pháp lai đức và những thành phần này bị kỳ thị.


Tuần này đọc báo tây bổng thấy tin tức trên báo Le mOnde có câu chuyện ly kỳ trong thời Đức quốc xã chiếm đóng, em xin tóm tắc lại đây. Ai buồn đời, biết pháp ngữ thì theo đường dẫn đọc thêm nhiều chi tiết.


https://www.lemonde.fr/1940-1942-sur-les-traces-du-photographe-inconnu/


Miền Nam Pháp quốc được quản lý bởi chính phủ Vichy nhưng miền bắc Pháp quốc thì bị người đức chiếm đóng. Được biết là dưới chế độ chiếm đóng Đức quốc xã, họ cấm người Pháp chụp hình ảnh hay vẽ viết. Có thể đi tù. 

Giấy tờ của ông Minot

Sau này người ta khám phá nhiều tấm ảnh chụp trong thời gian bị quân đội Đức quốc chiếm đóng do một người Pháp tên Raoul Minot. Ông ta là một nhiếp ảnh viên tài tử, làm việc cho trung tâm buôn bán Le Printemps, và đã lén chụp ảnh thời gian từ năm 1940-1942.

 

Ông Minot là người bán hàng cho tiệm Le Printemps từ năm 1911, sau đó đi quân dịch, trong thời thế chiến thứ nhất. Sau chiến tranh, ông ta trở lại làm việc cho Le Printemps, lập gia đình với một bà đồng nghiệp tên Marthe Bedos, và ngụ tại ngoại ô Paris tại Courbevoie và có một cô con gái tên Jacqueline. Buồn đời ông ta thích chụp hình, rồi trong thời gian Paris bị chiếm đóng, ông ta lén chụp hình với chiếc máy Kodak Brownie, dấu dưới áo khoác, và rửa hình trong phòng tối của Le Printemps, vì có giấy rất hiếm thời tem phiếu Đức quốc xã.


Nhiều bức ảnh của ông ta đã được đánh số và đi kèm với những lời bình luận đầy châm biếm, chế giễu, nhắm vào quân chiếm đóng (một số lời bình sau đó đã bị xóa bỏ). Theo ghi nhận, ông đã bán một số bức ảnh cho Louis Juven, một người có mối liên hệ lỏng lẻo với Phong trào Kháng chiến. Các tác phẩm của ông được đánh giá là một tư liệu hiếm hoi, chân thực và không hề bị sàng lọc về giai đoạn lịch sử này, tạo nên sự tương phản rõ rệt với các bức ảnh chính thức hay ảnh tuyên truyền thời bấy giờ.

Vào tháng 11 năm 1942, một kẻ mật báo đã tố giác Minot. Lực lượng cảnh sát Pháp cộng tác với quân chiếm đóng (thuộc các "Lữ đoàn Đặc biệt") đã tiến hành điều tra; ông bị bắt ngay tại nơi làm việc vào ngày 8 tháng 2 năm 1943. Cảnh sát đã tịch thu hàng trăm bức ảnh, cuộn phim cùng chiếc máy ảnh của ông từ căn hộ chung của hai vợ chồng. Minot và người vợ tên Marthe sau đó đã bị thẩm vấn (riêng ông bị Gestapo thẩm vấn). Ông bị giam giữ tại Nhà tù Fresnes, sau đó bị chuyển đến trại tập trung Royallieu-Compiègne.


Vào ngày 20 tháng 4 năm 1943, ông bị trục xuất đến trại tập trung Mauthausen (mình có viếng nhà tù này khi đi du lịch ở Áo Quốc); sau đó bị chuyển sang Buchenwald (nơi chuyên dùng cho lao động cưỡng bức), và cuối cùng là Flossenbürg. Năm 1945, trong bối cảnh các cuộc chiến hỗn loạn, ông đã phải trải qua một cuộc "hành quân tử thần". Lực lượng quân đội Hoa Kỳ đã giải thoát ông vào ngày 23 tháng 4 năm 1945, nhưng ông đã qua đời do kiệt sức và bệnh tật vào ngày 28 tháng 4 tại một bệnh viện ở Cham, Đức. Thi hài của ông không bao giờ được tìm thấy. Bà Marthe may mắn sống sót và sau này đã nỗ lực tìm kiếm ông, nhưng vô vọng.


Các bức ảnh của ông Minot vẫn gần như vô danh trong suốt nhiều thập niên, nằm rải rác trong các bộ sưu tập khác nhau (chẳng hạn như một số bức đã được hiến tặng cho Bảo tàng Kháng chiến Quốc gia). Một bước ngoặt quan trọng đã diễn ra vào năm 2020, khi một cuốn album chứa khoảng 377 bức ảnh bất ngờ xuất hiện tại một chợ đồ cũ ở miền Nam nước Pháp. Nhà báo Philippe Broussard của tờ *Le Monde* đã dẫn đầu một cuộc điều tra kéo dài bốn năm; thông qua việc nghiên cứu các tài liệu lưu trữ, hồ sơ nhân sự tại cửa hàng Printemps cùng nhiều manh mối khác, ông đã xác định được danh tính của Minot. Một cuốn sách nhỏ do Printemps phát hành vào năm 1965 từng ghi chú tác giả của một bức ảnh là "M. Minot", và chính chi tiết này đã cung cấp một manh mối quan trọng ngay từ giai đoạn đầu.


Vào năm 2024, loạt bài phóng sự của Broussard (và sau đó là cuốn sách Le Photographe inconnu de l’Occupation, Nhiếp ảnh gia vô danh thời chiếm đóng) đã đưa câu chuyện về Minot ra ánh sáng, trong đó bao gồm cả việc tìm lại được chính bức chân dung tự chụp của ông. Vào ngày 11 tháng 9 năm 2024, chính quyền Pháp đã chính thức truy tặng ông danh hiệu "Mort pour la France" (Người đã hy sinh vì nước Pháp). Giờ đây, những bức ảnh của ông được nhìn nhận như một hành động kháng chiến thầm lặng, những bằng chứng sống động về thời kỳ chiếm đóng, diễn ra vào thời điểm mà hoạt động nhiếp ảnh chuyên nghiệp bị kiểm soát gắt gao hoặc chỉ được phép phục vụ mục đích tuyên truyền.


https://www.lemonde.fr/1940-1942-sur-les-traces-du-photographe-inconnu/


Mình rời pháp đã lâu nhưng không hiểu sao vẫn nấn ná với xứ này. Có lẻ Pháp quốc đã cho mình nền giáo dục từ bé lên đến đại học. Nữa cuộc đời chịu ảnh hưởng bởi văn hoá của pháp. Mình vẫn yêu văn hoá của xứ này.


Ông Minot bị bắt và đày đi trại tù và cuối cùng đã chết mấy ngày sau khi được quân đội Mỹ giải thoát. Mình nghĩ ông ta chỉ chụp hình kiểu tài tử thôi chớ chả có ý chống đối, tham gia kháng chiến gì cả. Rồi bị Tây Gian đi báo Gestapo để lập công như dân cách mạng 30 sau 75. 


Ngày nay, người Pháp muốn rữa nhục, bị quân đội đức chiếm đóng nên muốn tìm các hình ảnh mang tựa đề đối kháng lại quân đội Đức quốc xã. Như vụ Jean Moulin, cầm đầu nhóm kháng chiến ở Lyon, miền nam Pháp quốc rồi cũng bị Tây Gian đi báo cho Gestapo, lập công với quân đội chiếm đóng. Có người kêu chính ông Mitterand là kẻ báo cho Đức quốc xã.


Trong mấy tấm ảnh thì mình nhận ra tấm ảnh ở đường Rivoli, con đường mình đi học mỗi ngày phải đi qua đây, nên ký ức một thời lại ùa về nên viết lại đây để nhớ một thời làm dân tây.


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

Lili Marleen, âm nhạc không biên giới

 Lili Marleen, bài hát lịch sử

Hôm nay bổng nhiên nhớ vụ đi du lịch Đan Mạch khi nghỉ mùa xuân khi còn đi học ở Paris. Tình cờ mình quen 2 cô người Đức tên Klaudia và Ute, dạy hát bài “Lili Marleen”, một bài hát khởi đầu ở Đức quốc trong thời chiến tranh rồi lan đến Phi châu khiến quân sĩ của hai bên chiến tuyến đều yêu mến bài hát này và ngưng chiến không chính thức khi đài phát thanh cho phát thanh bài hát này. Mình chưa bao giờ đi lính nhưng xa gia đình nên dạo ấy nghe đến bài này nhớ nhà kinh khủng.

Marlene Dietrich người đức nhưng lại hát cho lính đồng mình trong thời chiến tranh

Theo kể là vào năm 1915, một bính sĩ Đức quốc tên Hans Leip, viết vài câu thơ khi đang đứng gác ở Bá Linh trước khi được chuyển ra mặt trận phía Nga trong thế chiến 1. Tương tự nhà văn Erick Maria Remarque viết trong Im Westen nichts Neues, Ông ta đặt tên tựa bằng cách ghép tên hai người con gái mà ông ta quen biết Lili và Marleen. Nói về nổi buồn của người lính trẻ gác đêm, nhớ về quê nhà, nhớ hai người con gái ở làng quê.

Nhà thơ Hans Leip, tác giả bài thơ được phổ nhạc 

Năm 1937, ông ta in nguyên bài thơ trong tập thơ của ông ta Die kleine Hafenorgel (“The Little Harbour Organ”) với tựa tên “Das Lied eines jungen Soldaten auf der Wacht” (“The Song of a Young Soldier on Watch”). 

Nhạc sĩ đã đưa bài thơ bất tử

Năm 1938, một nhạc sĩ tên Norbert Schultze phổ nhạc và bài hát nổi tiếng đượm chất buồn của người lính chiến. Thật ra có một bài khác được phổ nhạc trước ông ta nhưng bài này nổi nhất. Năm 1939 một ca sĩ tên Lale Andersen thâu đĩa nhạc dưới tựa “Das Mädchen unter der Laterne”  cô gái dưới bóng đèn nhưng không được thành công lắm. Xin nghe bài do Lili Marlene hát.


https://youtu.be/7heXZPl2hik?si=6Lpu2X_7GZkYRcNS


Trong thời kỳ chiến tranh bài hát này được phát thanh trên đài radio Belgrade vùng quân đức chiếm từ 1941. Bài này bổng nhiên được binh sĩ yêu cầu mỗi ngày ở phi châu rồi từ từ chạy qua bên kia chiến tuyến khiến các bính sĩ của Hoa Kỳ và Anh quốc yêu thích và chuyển ngữ qua anh ngữ mà ca sĩ Marlene Dietrich trình bày được yêu thích nhất.


Mình gặp cô Klaudia ở Copenhague, đi chơi với cô bạn rồi mình kêu Lili Marleen, hỏi cô tao có biết bài hát này vì cô ta giống Marlene Dietrich khiến cô ta cười, kêu không ngờ có tên a-na-mít biết đến bà hát này. Khi chào hai cô đức mình kêu Wie Einstein, Klaudia Ute. Có liên lạc thư từ nhưng rồi đi Hoa Kỳ nên mình mất tin tức luôn. Xin chép lại bài hát mà cô Klaudia đã ghi trong cuốn tập vẽ của mình:


Vor der Kaserne, vor dem großen Tor

Stand eine Laterne und steht sie noch davor.

So woll’n wir uns da wiederseh’n,

Bei der Laterne woll’n wir steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Unsre beiden Schatten sah’n wie einer aus;

Daß wir so lieb uns hatten, das sah man gleich daraus.

Und alle Leute soll’n es seh’n,

Wenn wir bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Schon rief der Posten: Sie blasen Zapfenstreich;

Es kann drei Tage kosten! – Kamerad, ich komm ja gleich.

Da sagten wir auf Wiederseh’n.

Wie gerne wollt’ ich mit dir geh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen.


Deine Schritte kennt sie, deinen schönen Gang.

Alle Abend brennt sie, doch mich vergaß sie lang.

Und sollte mir ein Leid gescheh’n,

Wer wird bei der Laterne steh’n,

Mit dir, Lili Marleen,

Mit dir, Lili Marleen?


Aus dem stillen Raume, aus der Erde Grund

Hebt mich wie im Traume dein verliebter Mund.

Wenn sich die späten Nebel dreh’n,

Werd’ ich bei der Laterne steh’n,

Wie einst, Lili Marleen,

Wie einst, Lili Marleen.


Những lời ca này đã lột tả nỗi nhớ thương của người lính, khoảnh khắc chia ly dưới ánh đèn của toà canh gác, nỗi sợ hãi trước cái chết, cùng niềm hy vọng đoàn tụ với gia đình, người yêu tựa như một giấc mơ. Khổ thơ cuối cùng mang một vẻ ám ảnh, gần như ma mị, đã gây được tiếng vang sâu sắc trong suốt những năm tháng chiến tranh.


Mò mò thì thấy có bản nhạc này bằng anh ngữ như sau:


Outside the barracks, by the big gate,

There stood a lantern, and there it stands still to this day.

So we’ll meet again there,

We’ll stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


Our two shadows looked like one;

That we loved each other so much, anyone could see at a glance.

And everyone shall see it,

When we stand beneath the lantern,

As we did before, Lili Marleen,

As we did before, Lili Marleen.


The sentry already called: They’re sounding retreat;

It could cost me three days! – Comrade, I’m coming right away.

Then we said goodbye.

How I wished I could go with you,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen.


She knows your footsteps, your lovely walk.

Every evening she burns, but she has long forgotten me.

And if something should happen to me,

Who will stand beneath the lantern,

With you, Lili Marleen,

With you, Lili Marleen?


From the quiet place, from the depths of the earth,

Your loving lips lift me as if in a dream.

When the late mists swirl,

I will stand beneath the lantern,

As I did before, Lili Marleen,

As I did before, Lili Marleen.


Phe quân đội Đức: Ca khúc này đã lột tả một cách hoàn hảo nỗi nhớ quê hương, sự chia ly với những người thân yêu, cùng nỗi u sầu của chiến tranh. Những người lính chiến đấu trên sa mạc, tại Mặt trận phía Đông và khắp các vùng lãnh thổ bị chiếm đóng tại châu Âu đều vô cùng yêu mến bài hát này.


Phe quân đội Đồng minh: Lính Anh, lính Mỹ cùng các lực lượng Đồng minh khác tại Bắc Phi (và sau đó là tại châu Âu) thường xuyên dò đài Radio Belgrade chỉ để được nghe ca khúc này. Họ yêu thích bài hát bất chấp (hay chính vì) phần lời bằng tiếng Đức nên không hiểu nhưng thích. Nhiều người đã mô tả nó là một tác phẩm vô cùng lay động lòng người và gợi lên nỗi hoài niệm sâu sắc.


Nghe kể những cuộc "ngừng bắn" không chính thức thường diễn ra trên chiến trường sa mạc bắc Phi châu, mỗi khi bài hát vang lên, những người lính thuộc cả hai phe đều tạm ngưng giao chiến để cùng lắng nghe.


Sức thu hút mang tính phổ quát của ca khúc này nằm ở phần ca từ giản dị, giàu cảm xúc cùng giai điệu da diết, chạm đến những trải nghiệm chung của nhân loại về nỗi nhớ thương và sự chia ly, bất kể quốc tịch. Có lẻ qua đài phát thanh nên sau này các cuộc chiến tranh họ đều sử dụng đào phát thanh để tuyên truyền như khi xưa ở Việt Nam. Mình đọc đâu đó, nhạc sĩ Tô Hải nghe đài Sàigòn và ngạc nhiên khi nghe nhạc của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, và Phạm Duy,… ông ta không ngờ nhạc sĩ Miền Nam có thể làm nữa già hát hay như vậy.


Dạo mình xem cuốn phim cũ của Dietrich Marlene, nghe cô ta hát với vẽ điệu nghiện thuốc lào nên mê dù dạo ấy chưa rành hiểu đức ngữ. Khi mình qua Thuỵ Sĩ làm việc thì cô Klaudia có ghé thăm vì gần biên giới Tây đức.


Joseph Goebbels cùng giới lãnh đạo Quốc xã tỏ ra không ưa ca khúc này vì cho rằng nó mang âm hưởng "u ám," "bi lụy" và thiếu đi chất quân sự cần thiết. Họ đã tạm thời cấm phát sóng bài hát này và tìm cách trấn áp nó. Tuy nhiên, chính sự phổ biến rộng khắp của ca khúc trong hàng ngũ binh sĩ đã buộc họ phải nhượng bộ, và bài hát tiếp tục được phát sóng trở lại.


Tương tự phía đồng minh cho rằng những ca từ bằng anh ngữ có thể làm giảm tinh thần chiến đấu của binh sĩ nên bắt viết lại như đã được đăng như trên. Mình tìm không ra lời cảu Andersen làm lúc đầu.


Nghe nói thi sĩ Hans Leip sống sót suốt 2 thế chiến và chết năm 89 tuổi ở Thuỵ Sĩ. Ông ta được đem đi trốn qua Thuỵ Sĩ bởi thân hữu vì sợ chính quyền Nazi làm khó dễ vì sáng tác của ông ta như kiểu Trăm Hoa Đua Nở tại miền bắc khi xưa. Ông ta có trở về Hamburg sau chiến tranh nhưng rời Đức quốc vĩnh viễn và sống ở quê hương thứ 2 đến khi qua đời.


Người ta có hỏi ông ta là hai người phụ nữ có thật hay không thì được trả lời. Đó là hai người con gái ông ta biết ở Berlin, Lili phụ bán hàng rau còn Marlene là con gái một bác sĩ nhưng nhiều cô gái đức kêu họ chính là nhân vật khiến thi sĩ Leip làm nên những bài thơ để đời. Ông Leip cho biết không bao giờ gặp lại hai cô gái ngày xưa từ khi ông ta ra mặt trận năm 1915.


Còn nhạc sĩ Norbert Schultze bị cấm sáng tác sau thế chiến thứ 2 vì ông ta là đảng viên của NAzi. Ông ta làm nghề làm vườn và thợ hồ. Đến năm 1948 thì được phép hành nghề lại nên có làm nhiều nhạc phẩm để đời. Nói cho ngay mình không thích nhạc đức lắm.


Viết tới đây thì mình nhớ thời trước 75, nhạc của Việt Nam Cộng Hoà “Nhạc Vàng” so với nhạc của Hà Nội cùng thời gian mà người ta gọi là “Nhạc Đỏ” với những ca từ như mùa ra trận đẹp lắm thấy thất kinh. Có lẻ nhờ vậy mà Hà Nội đã thắng.

Việt Nam có câu chuyện về nhạc sĩ Nhật Ngân bị bắt khi vượt biên  vào tù sợ nên khịa tên giả nhưng rồi từ từ thiên hạ cũng tìm ra chân tích. Chủ trại tù là ông Năm Nghĩa cho vời nhạc sĩ lên văn phòng và thả về vì nghe nói trong thời chiến phe cũng cũng nghe bài “Xuân này con không về” mà khi xưa mình có nghe ông Duy Khánh hát và ông cụ mình hay mở khi xưa mỗi lần xuân về. Sau này ra hải ngoại mỗi lần Tết đến là mình nhớ đến bài hát này.

Mình có tập Hồng Gia với nhạc sĩ Nhật Ngân rồi có lần đi ăn kỵ bên vợ lại gặp nhạc sĩ, hình như vợ có bà con chi bên đồng chí gái. Sau nghe nói bị ung tư qua đời  


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn 

người Việt giúp người vô gia cư

 Giúp người vô gia cư


Thấy mỗi ngày có một chị gốc Việt Nam, nấu ăn rồi chở ra những nơi có người vô gia cư để biếu cho họ ăn qua ngày khiến mình nhớ đến ông Arnold Abbott, sống tại Fort Lauderdale, Florida, đã phát thức ăn cho người vô gia cư suốt 20 năm trời. 

Mình thấy chị này mỗi ngày nấu ăn rồi chở ra các khu có người vô gia cư để phát cho họ ăn qua bữa. Một tấm lòng Nhân Hậu, đáng kính 

Sau khi bà vợ qua đời, ông ta thành lập một tổ chức vô vụ lợi mang tên Love Thy Neighbor vào năm 1991. Ông ta muốn tưởng nhớ người phối ngẫu bằng cách nấu và tặng thức ăn cho người khác. 


https://fb.watch/Ga6VUl_g3y/?mibextid=wwXIfr


Năm 2014, thành phố này ra cái luật cấm phát thức ăn nơi công cộng. Luật bắt buộc phải có nhà vệ sinh, nơi rửa tay và được phép của chủ nhà. Và phải cách xa khu Dân cư. Ông Abbott không tuân theo luật thành phố này và bị phạt mệt nghỉ. Ông ta có thể bị đến $500 và ở tù 60 ngày. Ông ta qua đời ngày 22 tháng 2 năm 2019 ở tuổi 94. 

Nhà hảo tâm Arnold Abbott phát thức ăn mỗi ngày cho người cần suốt 20 năm

Nhưng câu chuyện về cuộc đời ông vẫn còn sống mãi. Mỗi đĩa thức ăn ông phục vụ, mỗi bàn tay ông nắm giữ, mỗi nụ cười ông trao tặng đều sống mãi trong lòng những người ông đã từng tiếp xúc. Ông đã chứng minh rằng lòng tốt mạnh hơn nỗi sợ hãi, và làm điều đúng đắn có thể trường tồn hơn bất kỳ luật lệ nào. Cuối cùng, Arnold đã cho đi nhiều hơn cả thức ăn. Ông đã cho đi hy vọng. Ông đã cho đi tình yêu thương. Và ông đã để lại cho tất cả chúng ta một bài học quý giá mà chúng ta không thể nào quên. Quan tâm đến nhau là món quà lớn nhất mà chúng ta có thể trao tặng thay vì chửi nhau để tự nâng cao giá trị nhân phẩm và trí thức của mình.


https://youtu.be/eLdxgPT0Lt8


Nếu ai ở vùng của chị Thuỷ Giang thì xin ghé lại chào chị ta, một tấm lòng đáng kính, vị tha của người Việt không bao giờ hỏi ai biết mẹ mày là ai không. 


https://youtu.be/8OrywCT6Cao?si=6L3inKtT9VrLOZqU


Sơn đen nhưng tâm hồn Sơn trong trắng, nhà Sơn nghèo dang nắng Sơn đen 

Nguyễn Hoàng Sơn